Tin Buồn K1 Lê Tấn Quan Vừa Qua Đời

NHỮNG LỜI PHÂN ƯU của Đồng Môn K1:

* NG. THANH HOÀNG & Gia đình:

Được tin buồn đồng môn Lê Tấn Quan vùa mới qua đời. Xin thành thật chia buồn cùng chị Nguyễn Thị Bé và tang quyến. Nguyện xin Ơn Trên sớm đưa linh hồn anh về hưởng phúc trường sinh ở cõi vĩnh hằng !!!               

 * Gđ Tống Phước Kiên:

Thành thật chia buồn cùng chị Nguyễn Thị Bé và tang quyến. Nguyện cầu cho hương linh của Lê Tấn Quan được nghỉ yên trên chốn vĩnh hằng

* Nguyễn Hoài Ân:

Thành kính phân ưu cùng chị Quan và toàn thể tang quyến. Nguyện cầu hương linh anh an nghỉ nơi cõi Vĩnh hằng

* Huỳnh minh Thanh:

Thành thật chia buồn với chị Quan cùng toàn thể tang quyến. Nguyện cầu hương linh Bạn Lê tấn Quan sớm được vãng sanh nơi cõi Vĩnh hằng.
Thành kính phân ưu

* Hoàng Tuấn:

Chị Bé thân mến,
Lâu ngày không gặp, không biết tin chị và Quan. Nay biết thì Quan không còn nữa. Biết nói gì đây ?. Xin cầu chúc hương hồn Quan được an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Thành kính phân cùng chị và tang quyến.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Buồn K1 Lê Tấn Quan Vừa Qua Đời

Hội Ngộ AC K1-Lê Quang Phú ở Little Saigon

Chiều ngày 30/11/2019, vào lúc 5:30PM tại nhà hàng Royal Capital Seafood Restaurant tại Little Saigon, Nam CA, các anh chị K1 tại Little Saigon đã có một buổi tiệc chào đón AC Lê Quang Phú từ Houston (TX) đến thăm Nam CA. Dưới đây là những hình ảnh do phó nhòm Võ Thiệu ghi lại:

https://photos.app.goo.gl/LLQYYzFAyMseJmt1A

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Ngộ AC K1-Lê Quang Phú ở Little Saigon

Giới thiệu sách “Their War”

Their War

Từ trái sang phải: Tác giả Julie Phạm, nhà văn Phạm Quốc bảo, GS Quyên Di

Ba mươi phút hội luận giới thiệu cuốn “Their War” của tác giả Julie Phạm vừa diễn ra vào chiều Chủ Nhật, 10 Tháng Mười Một, 2019, tại Langston Hughes Performing Arts Theater, Seattle, tiểu bang Washington.

“Their War” là cuốn sách tóm tắt bằng Anh Ngữ về đề tài chiến tranh Việt Nam mà Julie Phạm được chấm ưu hạng ra bậc cử nhân sử tại UC Berkeley năm 2001, để nhận được học bổng tiến sĩ sử tại Đại Học Cambridge, Anh Quốc, năm 2008. Tháng Bảy vừa qua, cuốn “Their War” được Amazon in và phát hành.

Với cuốn sách này, cô Julie Phạm nói về cuộc chiến tranh ấy và giương danh cuộc chiến đấu hào hùng của người lính VNCH.

Chương trình giới thiệu sách được minh họa bằng những ca khúc xoay quanh chủ đề cuộc chiến tranh Việt Nam đã thu hút đông đảo các đối tượng khách tham dự: Khách nói tiếng Anh gồm người bản xứ, nhiều bạn trẻ người Mỹ gốc Việt và các sắc dân Á Châu khác. Khách nói tiếng Việt gồm đồng hương người Việt và các cựu chiến binh Việt Nam.

Nhà văn/Giáo Sư Quyên Di, từ California sang, là người điều hợp tổng quát chương trình. Nhà văn Phạm Quốc Bảo, nguyên chủ bút nhật báo Người Việt ở California, là người đặt câu hỏi xoay quanh nội dung tác phẩm. Và cô Julie Phạm, tác giả “Their War,” trả lời các câu hỏi.

Cách đặt câu hỏi khéo léo và các câu trả lời thẳng thắn của tác giả tập sách được khán giả theo dõi với nhiều hứng thú và cũng làm sáng tỏ thêm về ý nghĩa, nội dung tác phẩm.

Tác giả “Their War” cho biết, tác phẩm trình bày trung thực nội dung của 40 cuộc phỏng vấn, trò chuyện với các cựu chiến binh đủ mọi cấp bậc đủ mọi binh chủng của miền Nam Việt Nam, họ từng tham dự nhiều trận chiến trên khắp các chiến trường. Vì thế, không có việc xét đoán đúng sai, phải trái hoặc biện minh cách này cách khác cho cuộc chiến ấy. Tất cả họ thực sự có cơ hội lên tiếng và trực tiếp thể hiện lên tiếng nói của họ về “Cuộc Chiến Của Họ,” như tên gọi của tác phẩm.

Trả lời câu hỏi về sự quay lưng của đồng minh lớn Hoa Kỳ dẫn đến việc kết thúc chiến tranh Việt Nam mà miền Bắc là “bên thắng cuộc,” tác giả “Their War” cho biết cô ghi nhận nguời Mỹ “loại bỏ” VNCH đến hai lần. Lần đầu, họ cam kết không bỏ rơi miền Nam nhưng rồi lần lượt rút quân về nước, cắt đứt mọi viện trợ và không một phản ứng nào khi Bắc Việt xé bỏ hiệp định chấm dứt chiến tranh năm 1973 để tiến chiếm miền Nam. Lần thứ hai, qua việc giới truyền thông Hoa Kỳ không nhắc nhở gì đến quân đội VNCH hoặc rất mờ nhạt như thể đấy là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt chứ quân đội miền Nam thì vắng mặt.

Với tập sách “Their War” ấy, Julie Phạm muốn trả lại sự công bằng và danh dự cho người lính VNCH, trả lại tính trung thực và sự thật cho lịch sử và cũng trả lại niềm hãnh diện, nỗi tự hào cho thế hệ trẻ người Việt một khi các cháu hiểu được, hiểu rõ và hiểu đúng về cuộc chiến tranh Việt Nam và cuộc chiến đấu anh dũng của người lính miền Nam thế hệ cha ông mình.

Julie Phạm không phải là người đầu tiên làm công việc ấy, thế nhưng cô là một trong số rất ít những người trẻ, rất trẻ đã làm công việc ấy; và hơn thế nữa, đã đi vào dòng chính qua tác phẩm bằng Anh Ngữ để thêm sức phổ biến và ảnh hưởng nhiều đối tượng người đọc.

Julie Phạm, cô không nói nhiều về những việc mình làm; thế nhưng, có một câu nói của cô đã thực sự làm nhiều người cảm động. Cô nói rằng, “Việc làm này đã mang tôi lại gần bố tôi hơn, đã cho tôi hiểu được bố tôi hơn, và càng yêu bố hơn.”

Giờ đây cô đã hiểu được bố mình hơn, một ông bố vốn chỉ sống lặng lẽ trên quê hương thứ hai của người Việt tị nạn. Và, cô cũng hiểu được những người bạn của bố mình hơn, là những đồng đội, những chiến hữu xưa từng chiến đấu bên nhau. Những người lính năm xưa ấy, một số đã lìa đời, một số tóc đã điểm sương hay đã bạc trắng mái đầu, vẫn đang sống lặng lẽ ở quanh đây.

Những người cựu chiến binh ấy, và những hy sinh thầm lặng ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng.

Trong ý nghĩa đó, những tác phẩm, những cuốn sách mang đến cho người đọc những nhận thức đúng đắn về cuộc chiến tranh Việt Nam và về cuộc chiến đấu can trường của người lính VNCH, như tập sách “Their War” của tác giả Julie Phạm, vẫn luôn được đón nhận với lòng trân trọng.

 (Lê Hữu)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Giới thiệu sách “Their War”

Tạ Ơn- Thơ Nguyễn Phiến

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tạ Ơn- Thơ Nguyễn Phiến

Tạ Ơn Hoa Kỳ_ Thơ Trần Quốc Bảo

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tạ Ơn Hoa Kỳ_ Thơ Trần Quốc Bảo

HAPPY THANKSGIVING 2019

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HAPPY THANKSGIVING 2019

Diễn Văn của Bộ Trưởng Quốc Phòng HK 20/11/2019 tại Hà Nội

Ngày 20 tháng 11 năm 2019

Hà Nội, Việt Nam

Xin chào các bạn!

Tôi xin cảm ơn Ngài Giám đốc Nguyễn Vũ Tùng và Học viện Ngoại giao Việt Nam đã dành thời gian đón tiếp tôi hôm nay. Học viện Ngoại giao Việt Nam từ lâu đã là một trong những học viện uy tín nhất tại Việt Nam và đã đào tạo ra nhiều thế hệ lãnh đạo cho đất nước. Hôm nay, tôi rất vinh dự và vui mừng khi được nói chuyện với các bạn về tầm nhìn của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Trong một tuần vừa qua, tôi đã công du đến Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines và bây giờ là Việt Nam. Tôi đã thảo luận với các đối tác ASEAN về các mối đe dọa đối với sự ổn định của khu vực Đông Nam Á. Và tôi đã tham gia Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+). Trong hầu hết các buổi nói chuyện tôi tham gia, có một chủ đề luôn xuất hiện một cách nhất quán, đó là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Trật tự quốc tế này đã tạo điều kiện gây dựng nền an ninh và sự thịnh vượng cho các nước Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong nhiều thập niên, nhưng trật tự này hiện đang phải chịu sức ép. Do vậy, chủ quyền của nhiều quốc gia độc lập và giàu lòng tự hào ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang bị đe dọa.

Tình hình địa chính trị hiện nay gợi cho chúng ta nhớ tới một câu chuyện mà nhà sử học Athen mang tên Thucyides đã kể lại cách đây hơn hai thiên niên kỷ trong Chiến tranh Peloponnese. Mùa hè năm 416 TCN, cường quốc hải quân Athen điều lực lượng đến quốc đảo Melos độc lập với yêu sách công dân trên đảo này phải đầu hàng và cống nạp cho Athen, nếu không chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự diệt vong. Các nhà lãnh đạo Melos lý luận rằng họ giữ trung lập trong cuộc chiến giữa Athen và Sparta và do đó họ là bên “đúng”.

Không cảm thấy thuyết phục, người Athen không muốn lãng phí thời giờ vào việc thảo luận khía cạnh đạo lý của vấn đề. Theo cách nhìn nhận của người Athen, tranh luận lý lẽ cho hành động xâm lấn của họ chỉ có ý nghĩa khi các bên là đối thủ có sức mạnh tương đương. Trong trường hợp này, Melos là nước nhỏ, và theo lô-gíc của người Athen, thì không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải phục tùng để tránh nạn diệt vong. Trong tuyên bố tổng kết rõ nhất quan điểm về thế giới của người Athen, họ lý giải cho hành động của họ và nói rằng “kẻ mạnh làm điều họ có thể làm, kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu”.

Đối thoại Melos, cũng là tên của câu chuyện được kể lại, thường được sử dụng làm chủ đề nghiên cứu tình huống trong lĩnh vực chính trị thực dụng ở các đơn vị học thuật như tại Học viện Ngoại giao Việt Nam đây. Câu chuyện của Thucydides giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc về quan điểm “kẻ mạnh là kẻ đúng” trong quan hệ quốc tế. Ngày nay, hầu hết các nơi trên thế giới đều coi quan điểm này là cổ hủ và đi ngược lại với các nguyên tắc mà chúng ta kỳ vọng các quốc gia có trách nhiệm sẽ tuân thủ. Kiểu hành xử này đi ngược lại nguyên tắc của hệ thống chúng ta đã cùng nhau xây dựng và hưởng lợi trong 70 năm qua. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á đang ngày càng phải chịu sự cưỡng ép và dọa nạt thông qua nhiều cách thức, trực tiếp thách thức những nền tảng cơ bản của một trật tự dựa trên luật lệ, rộng mở và tự do.

Những gì chúng ta đang chứng kiến ở Biển Đông là một ví dụ tiêu biểu cho hành vi ứng xử này. Thời kỳ hòa bình lâu dài đã tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ở gần như mọi quốc gia châu Á đang phải nhường chỗ cho một phong cách ứng xử kiểu Trung Quốc, vi phạm quyền chủ quyền của các nước khác. Gần đây nhất, chúng ta được chứng kiến cách ứng xử này với các nước Malaysia, Philippines và Việt Nam khi các hoạt động khai thác dầu khí đã diễn ra từ rất lâu quanh khu vực Bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị quấy rối. Kết hợp với hoạt động tôn tạo và quân sự hóa các tiền đồn có tranh chấp ở Biển Đông, các nỗ lực đơn phương của Trung Quốc nhằm khẳng định yêu sách hàng hải bất hợp pháp đang đe dọa khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng của các nước khác, làm suy yếu sự ổn định của thị trường năng lượng khu vực và gia tăng rủi ro xung đột.

Những hoạt động cưỡng ép như vậy đang gây ra tổn hại kinh tế cho các nước Đông Nam Á vì chúng cản trở các nước tiếp cận nguồn tài nguyên hiđrôcacbon chưa được khai thác có giá trị ước tính 2,5 nghìn tỉ đô-la. Trong một số trường hợp, các nước ASEAN đã bị ép buộc phải hợp tác thông qua các liên doanh với chi phí cắt cổ để khai thác các nguồn tài nguyên đường đường chính chính thuộc về họ theo luật pháp quốc tế. Hoa Kỳ kiên quyết phản đối hành vi dọa nạt của các bên yêu sách nhằm khẳng định yêu sách lãnh thổ hay hàng hải, và chúng tôi kêu gọi chấm dứt các hành động bắt nạt và phi pháp đang ảnh hưởng tiêu cực đến các nước ASEAN ven biển.

Hành vi ứng xử như vậy hoàn toàn trái ngược với tầm nhìn của Hoa Kỳ về một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, trong đó tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ, đều có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng trong hòa bình và ổn định. Tầm nhìn của chúng tôi dựa trên sự hợp tác và các nguyên tắc bền vững, bao trùm và được đón nhận trong toàn khu vực. Những nguyên tắc này bao gồm: tôn trọng chủ quyền và độc lập của tất cả các nước; giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; thương mại và đầu tư tự do, công bằng và có đi có lại, bao gồm bảo vệ tài sản trí tuệ; và tuân thủ luật lệ và nguyên tắc quốc tế, bao gồm tự do hàng hải và hàng không.

Mục tiêu của chúng tôi là để cho tất cả người dân được sống trong thịnh vượng, an ninh và tự do; cho tất cả các nước được tự do triển khai hoạt động thương mại và thực thi chủ quyền; và giữ cho các vùng biển và các tuyến đường thuỷ mà nền kinh tế của chúng ta dựa vào rộng mở với tất cả.

Tôi xin nhắc lại với những người bạn ở Hà Nội rằng, mặc dù bờ Tây của Hoa Kỳ nằm cách xa nghìn dặm nhưng chúng ta kết nối với nhau thông qua Ấn Độ Dương, các liên kết kinh tế vững mạnh và quan hệ gần gũi Việt-Mỹ. Hoa Kỳ là quốc gia nằm trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Chúng tôi có lợi ích chiến lược và kinh tế lâu dài ở khu vực và có sự cam kết đối với sự tiếp tục ổn định và thịnh vượng ở đây. Thông qua hợp tác chặt chẽ với các đồng minh và đối tác như Việt Nam, chúng tôi sẽ cạnh tranh quyết liệt để thúc đẩy tầm nhìn của chúng tôi và chống lại những nỗ lực nhằm hạn chế quyền tự chủ và tự do lựa chọn.

Cần lưu ý rằng, tầm nhìn bao trùm của chúng tôi mở rộng đến tất cả các nước, bao gồm cả Trung Quốc. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo đuổi mối quan hệ mang tính xây dựng, hướng đến kết quả với Bắc Kinh và tìm kiếm các lĩnh vực hợp tác và điểm tương đồng vì lợi ích của chúng ta. Tuy nhiên, Hoa Kỳ sẽ không ngại ngần vạch mặt chỉ tên và chống lại những hành vi cưỡng ép khi chúng tôi nhìn thấy chúng. Bằng cách đứng bên nhau chống lại các thách thức đối với an ninh và sự thịnh vượng chung, chúng ta có thể chứng minh được sự quyết tâm chung và ngăn chặn xung đột trước khi nó xảy ra. Đây chính là lý do vì sao việc tăng cường các mối quan hệ đồng minh và phát triển những quan hệ đối tác mới là nội dung trọng yếu trong Chiến lược Quốc phòng của Hoa Kỳ.

Quan hệ ngày càng phát triển giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là một ví dụ điển hình. Chúng tôi cam kết mở rộng mối quan hệ chiến lược này bằng cách tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm, như an ninh hàng hải, hoạt động gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Điều này bao gồm việc trang bị cho Việt Nam năng lực cần thiết để bảo vệ chủ quyền và các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tiếp tục lớn mạnh. Ở khía cạnh này, tôi rất vui mừng được thông báo việc Hoa Kỳ sẽ chuyển giao chiếc tàu tuần tra thứ hai cho Cảnh sát Biển Việt Nam trong năm tới. Chiếu tàu này là một biểu tượng cụ thể nữa đại diện cho mối quan hệ đang ngày càng vững mạnh của chúng ta.

Sự hợp tác này không chỉ tăng cường an ninh cho Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung mà còn xây dựng lòng tin và sự tôn trọng lẫn nhau, tạo ra sự hòa hợp giữa nhân dân hai nước. Cần lưu ý rằng điều này sẽ không thể thực hiện được nếu như không có nền tảng vững chắc của sự hợp tác chặt chẽ trong các vấn đề khắc phục hậu quả chiến tranh và hỗ trợ nhân đạo. Những nền tảng này bao gồm các nỗ lực tẩy rửa ô nhiễm đi-ô-xin và loại bỏ vật liệu chưa phát nổ, cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Việt Nam trong các hoạt động tìm kiếm quân nhân mất tích của Hoa Kỳ. Trong bối cảnh chúng ta đang cùng nhau xây dựng một tương lai tích cực, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thúc đẩy những nỗ lực này để chúng ta có thể vinh danh những chiến sĩ đã hy sinh và đang mất tích.

Nói rộng hơn, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đang thực hiện các bước đi để thúc đẩy một cơ cấu an ninh có sự kết nối trong toàn khu vực, giúp đề cao một trật tự dựa trên luật lệ có nền tảng là pháp luật quốc tế. Hoạt động này sẽ ngăn chặn sự hung hãn và giúp cho tất cả các nước có cơ hội phát triển thịnh vượng. Chúng tôi tin tưởng rằng ASEAN đứng ở trung tâm của nỗ lực này, và tôi cũng nhấn mạnh quan điểm này tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng ở Bangkok cách đây hai ngày. Trên thực tế, chiến lược của chúng tôi cũng phù hợp với Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó nhấn mạnh vai trò trung tâm và vai trò lãnh đạo của ASEAN trong tăng cường hợp tác khu vực.

Hoa Kỳ và ASEAN chia sẻ nhiều giá trị chung, và chúng tôi sẽ làm việc chặt chẽ với nhau để thúc đẩy các nguyên tắc đề ra trong Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Chúng tôi rất mong đợi được nhìn thấy Việt Nam đảm nhiệm vai trò chủ tịch ASEAN trong năm tới, đây là cơ hội để xây dựng sự đồng thuận trong khu vực nhằm giải quyết các thách thức chung đối với chủ quyền, đặc biệt ở Biển Đông.

Trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục biến lời nói thành hành động. Đầu năm nay, chúng tôi đã tổ chức diễn tập hàng hải ASEAN-Hoa Kỳ lần đầu tiên, tại sự kiện này Hoa Kỳ tổ chức huấn luyện với các nước đối tác để tăng cường năng lực tập thể nhằm bảo vệ an ninh hàng hải. Chúng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ các nỗ lực của các đồng minh và đối tác, đặc biệt là Việt Nam, để đảm bảo tự do hàng hải và cơ hội phát triển kinh tế trong toàn khu vực.

Chúng tôi cũng sẽ duy trì sự hiện diện quân sự thường lệ ở Biển Đông để chứng minh sự nghiêm túc trong cam kết của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không chấp nhận các nỗ lực nhằm khẳng định các yêu sách hàng hải phi pháp gây tổn hại đến các nước tuân thủ pháp luật. Quân đội Hoa Kỳ sẽ tiếp tục cho máy bay, tàu thuyền và lực lượng hoạt động ở bất kỳ đâu luật pháp quốc tế cho phép, và chúng tôi sẽ khuyến khích các nước khác khẳng định quyền lợi của mình theo cách tương tự. Các hoạt động Tự do hàng hải vẫn là cấu phần trung tâm chứng minh vai trò lãnh đạo của chúng tôi trong việc duy trì trật tự dựa trên luật lệ.

Tóm lại, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cam kết hoàn toàn đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Chúng ta phải tiếp tục hợp tác để duy trì một môi trường tự do và rộng mở dựa trên các nguyên tắc hỗ trợ cho quyền lợi của tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, cũng như Việt Nam đã từng phải trải nghiệm thực tế, thật đáng tiếc tầm nhìn dựa trên sự hợp tác, tin tưởng và tôn trọng này không được tất cả các nước chia sẻ. Cưỡng ép, hung hãn và dọa nạt, những công cụ quản lý, điều hành đáng ra nên bị bỏ lại quá khứ, ngày nay vẫn đang tồn tại mạnh mẽ. Nhưng cách đây gần 2.000 năm, Hai Bà Trưng đã chứng minh cho nhà Hán thấy rằng Việt Nam là một đất nước, cũng giống như Hoa Kỳ, sẽ không bao giờ chấp nhận cách tiếp cận “kẻ mạnh là kẻ đúng” trong quan hệ quốc tế.

Cùng nhau, chúng ta có thể chống lại hành vi này. Khi đồng lòng nỗ lực, chúng ta có thể thực thi các nguyên tắc ứng xử quốc tế có trách nhiệm. Khi kiên định trong quan hệ đối tác, chúng ta có thể đảm bảo rằng một trật tự tự do và rộng mở sẽ thắng thế.

Quyết tâm gìn giữ môi trường rộng mở và tự do này của Hoa Kỳ có nguồn gốc sâu xa và chỉ càng trở nên lớn mạnh hơn mỗi khi phải đối diện với những nỗ lực nhằm làm nó suy yếu. Cùng chung tay với các đồng minh và đối tác để bảo vệ các nguyên tắc và giá trị giúp cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thịnh vượng, chúng ta sẽ đảm bảo được rằng hòa bình, thịnh vượng và an ninh sẽ được duy trì cho nhiều thế hệ tương lai.

Cảm ơn các bạn. Tôi rất nóng lòng muốn được thảo luận với các bạn.

# # #

Bản dịch được cung cấp có tính tham khảo và chỉ bản gốc chính thức bằng tiếng Anh mới có giá trị chính xác.

Nguồn bản dịch và bản gốc tiếng Anh: ĐSQ Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Nguồn: FB Nguyễn Ngọc Chu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Diễn Văn của Bộ Trưởng Quốc Phòng HK 20/11/2019 tại Hà Nội

Ông Sư Nhà Quê_Vũ Văn Quý

thich-thanh-long-2 “Tưởng niệm cố Hòa Thượng THÍCH THANH LONG –
một cựu Tù Nhân Chính Trị – nhân giỗ mãn phần 28 năm ( 29/11/1991 – 2019).”

BÀI CA KINH HÒA BÌNH
* VŨ VĂN QUÝ

Tôn giáo nào cũng có những vị chân tu – những đấng lành thánh – suốt đời hiến thân cho lý tưởng thiêng liêng cao cả của mình đã chọn. Nhiều vị đã cùng sống chết với tha nhân, chết cho đạo pháp và trở nên hiển thánh được đời đời sùng bái tôn thờ. Tấm lòng vị tha chan chứa tình người của họ tỏa ra vô biên không vị kỷ, không đóng khung hạn hẹp ở lằn ranh tôn giáo. Biết bao công đức của họ được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác được kể lại bằng những câu chuyện đầy cảm kích.

Cách nay gần 3 thập niên trên tờ  Đất Mẹ số 38 (Đất Mẹ là tờ báo nguyệt san Công Giáo) chúng tôi đã viết dưới đề tựa ” Nén Hương Cho Hòa Thượng THÍCH THANH LONG” ngay sau khi ngài viên tịch tại Sài Gòn. Từ sau ngày ấy đến nay, nhiều báo Việt ngữ tại Hoa Kỳ cũng có những bài viết về ngài, điểm đáng chú ý là những tác giả này đa số là những tù nhân chính trị người Công Giáo trong đó có một số các vị linh mục đang có mặt tại Hoa Kỳ, những người đã một thời sống cùng với cố hòa thượng ở các trại tù từ Nam chí Bắc, tất cả đều tỏ lòng tôn kính, ngưỡng mộ.

Tang lễ cố Hòa Thượng THÍCH THANH LONG ngày 29 tháng 11 năm 1991 được mô tả như một đám rước hết sức trọng thể. Đoàn người tham dự đã phủ kín con đường dài 5 cây số từ cổng Chùa Giác Ngạn đường Trương Minh Giảng Sài Gòn tới Nghĩa Trang Bà Quẹo không chỉ gồm các đoàn thể Phật tử, các thiện nam tín nữ mà có mặt đủ mọi thành phần tôn giáo cũng như rất đông đảo các cựu Tù nhân Chính trị.

Trước năm 1973, Hòa Thượng mang cấp bậc Trung Tá làm Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo cho đến khi thương tọa Thích Tâm Giác đi Nhật bản trị bệnh thì Hòa Thượng mới lên làm Giám Đốc và cũng được thăng cấp Đại Tá tuyên úy từ dạo đó.

Ngày 13/6/1975 bị việt cộng bắt đi cải tạo và đem ra Bắc. Đến ngày 12 /9/1987 được tha trở về lại Chùa Giác Ngạn Sài gòn và mãn phần tại đây.

Ngược dòng thời gian gần 3 thập niên, năm ấy cũng vào mùa thu (1982), trại cải tạo Hà Tây tiếp nhận thêm khoảng 80 tù nhân chính trị (TNCT) từ trại tù Thanh Phong chuyển đến. Đa số thành phần thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị gồm các ngành Tâm Lý Chiến, An Ninh Quân Đội và Tuyên Úy của Quân Lực VNCH.

Trại Hà Tây có tất cả 12 buồng giam. Số TNCT mới đến bị nhốt trong buồng số 7. Buồng này rất kín cổng cao tường, bao quanh chằng chịt kẽm gai vì trước đó được dùng để nhốt các tù hình sự có trọng án nên được canh gác cẩn mật. Việt cộng coi những TNCT này là những đối tượng cực kỳ nguy hiểm. Khoảng một tháng sau khi thanh lọc kỹ càng  thì việt cộng mới mở cửa cho các linh mục tuyên úy ra ngoài lao động, tuy vậy buồng 7 vẫn chưa được ra sân lớn tập họp điểm số như các buồng khác. Đội Tuyên Úy lúc này do linh mục Nguyễn Quốc Túy (*) – cha Túy là cựu Thiếu Tá Biệt Động Quân, một mẫu người trẻ năng nổ, ứng phó thần kỳ đã được các vị tu sĩ cử ra đứng mũi chịu sào để điều động đội này xử trí với những thủ đoạn thâm độc của việt cộng. Công việc chính của đội tuyên úy lúc đó là đào đất đắp đường và kéo xe thay thế trâu bò.

Lần đầu tiên tôi được cha Túy mời dự bữa cơm trưa thân mật tại sân buồng 7. Có khoảng chục người trong đó có linh mục Khổng Tiến Giám bào đệ của linh mục Khổng Tiến Giác tuyên úy Bộ Tổng Tham Mưu, linh mục Nguyễn Văn Thịnh cựu giám đốc nha tuyên úy Công giáo, các mục sư Xuân, Điểu Huynh và các đại đức Tâm, Khuê, Tùng và hòa thượng Long. Ngoài đội tuyên úy chỉ có tôi và Đại tá Trần Mộng Chu nha Quân Pháp. Hầu như không phân biệt tôn giáo và cấp bậc, tất cả các vị tuyên úy đều xem hòa thượng Thích Thanh Long như một người anh cả và xưng hô một cách chung chung là thầy Long. Mỗi khi nhắc đến thầy Long thì mọi người đều nói về thầy với niềm sủng ái trọng vọng.

Thoạt đầu khi chưa giới thiệu từng người trong bữa tiệc, tôi ghé vào tai cha Túy hỏi có phải người ngồi trước mặt cha là Thầy Long không thì cha lắc đầu. Cung cách bề ngoài và bộ quần áo mới màu đà còn tươi của vị này làm cho tôi lầm ông với hòa thượng Long. Rồi cha chỉ cho tôi người ngồi đối diện với tôi.

Vóc gầy gò, dong dỏng cao, da ngăm ngăm, hàm răng nhỏ và đen huyền, tóc cạo dúng tiêu chuẩn sư tăng nhà Phật, mặc bộ đồ cũ đơn sơ, khuôn mặt hiền hậu nhưng khắc khổ, toát ra vẻ chân tu như thánh Găng Đi nhất là cặp mắt sáng, sâu, đen láy, rất ít nói nhưng quan tâm lắng nghe mọi người xung quanh. Đó là người ngồi đối diện với tôi. Người đó chính là Thầy Long. Tôi nhìn ông khẽ cúi đầu và ông nhìn tôi với đôi mắt hiền từ trìu mến. Ông đã trao cho tôi một nụ cười thật kín đáo.

Tháng 3/1983, trại Hà Tây sắp giải thể và chuyển hết các TNCT về Nam Hà. Các vị Tin Lành và Phật Giáo được phân tán về các đội lao động. Riêng các tuyên úy Công Giáo chờ phương tiện chuyển ngược về Thanh Phong.

Năm 1985, tôi và thầy Long bị giam chung tại Nam Hà và chính thời gian này tôi được biết thầy nhiều hơn. Có những người đã biết và nói rằng trước ngày di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, thầy đã trụ trì tại một ngôi chùa ở một làng tại tỉnh Nam Định và được đông đảo tín hữu mến mộ. Nhiều đêm tâm sự với thầy trong buồng giam, tôi cố gợi chuyện để biết thêm nhưng thầy là người điềm đạm khiêm tốn chỉ kể với tôi là thầy xuất gia đầu Phật từ lúc 12 tuổi. Quyết tâm tu hành, không muốn vương vấn nợ trần, thầy đổi tên là Nguyễn Văn Long và hầu như hoàn toàn không ai biết được tên thật và quê quán của thầy. Thầy thuộc nhiều địa danh ở Nam Định, khi tôi kể chuyện liên quan đến những vùng Cổ Lễ, Cổ Ra, Văn Tràng, Trực Ninh, Nam Trực, Quần Phương, Lạc Quần v.v. thì bỗng nhiên đôi mắt thầy rực sáng lên và có vẻ thích thú. Tôi đoán có lẽ thầy đã trải qua thời thơ ấu tại một trong những địa danh này chăng?

Thầy nói năm 16 tuổi, thầy chỉ lén về nhà nhìn mặt thân phụ của mình từ trần rồi lại lặng lẽ ra đi. Lý tưởng của thầy là Phật pháp, tình yêu của thầy là tha nhân, thân bằng quyến thuộc của thầy là Phật tử. Thầy có một cuộc sống vô cùng mộc mạc, đơn sơ, đức độ, lúc đi tu cũng như lúc ở tù. Thầy thường nói với tôi : “Tù cũng là tu”. Thầy luôn tự nhận mình là một “Ông Sư Nhà Quê“.Vốn có một tâm hồn thanh tịnh như đóa sen nở trên mặt hồ không gợn sóng lúc nào cũng toát vẻ chân tu khiến người bàng quan thấy thầy là cõi phúc. Đúng như vậy!

Trong thời kỳ đói khát, tù nhân chưa được gia đình tiếp tế thăm nuôi đã có kẻ lấy chiếc lon ghi gô đựng nước uống của thầy nhét đầy thịt heo đánh cắp của trại, lúc bị phát giác không ai dám nhận. Cuối cùng để tránh phiền lụy cho một số người, thầy không ngần ngại đứng ra nhận chiếc lon đó là của thầy mặc dù ai cũng biết thầy ăn chay trường và ai là kẻ ăn trộm lúc bấy giờ. Khi nào trại cho tù nhân chút ít thịt để “bồi dưỡng”, thầy thường nhường cho các anh em đau ốm bệnh hoạn.

Đến khi được thăm nuôi tiếp tế, Phật tử khắp nơi đến thăm thầy hầu như hàng tuần. Những quà tiếp tế, thầy đem chia cho các bạn tù. Quần áo chỉ giữ 2 bộ. còn bao nhiêu cũng đem cho hết. Thầy thường xuống bệnh xá thăm viếng những người đau ốm và đem quà bánh thuốc men  xuống cho họ. Thầy rất quan tâm đến những “con bà phước” (*) bị bỏ quên trong trại. Một vài trường hợp điển hình:

– Anh Khương, Phó Quản Đốc Trung Tâm Cải Huấn Côn Sơn – một người Công Giáo – bị địch bắt ngay trong lúc còn đang mặc sắc phục và bị việt cộng đánh nhừ tử. Hậu quả của những trận đòn thù khiến anh Khương trở thành bại liệt toàn thân và á khẩu. Anh bị mất liên lạc với gia đình từ ngày bị bắt. Gần 13 năm, anh mới bập bẹ nói được một tiếng “dôi, dôi” như đứa trẻ mới học nói. Thầy Long đã đích thân chăm sóc đút cơm, tắm rửa cho anh như một người thân, đặc biệt là khi trại đọc lệnh tha có tên anh nhưng anh không biết về đâu và không thể đi được một mình. Chính thầy Long đã giúp anh một số tiền và nhờ đại đức Tâm được tha cùng một lượt với anh Khương về trước tìm kiếm thân nhân của anh ở tận miền Tây để ra đón anh.

– Anh Nguyễn viết Tân, Đại tá hải quân QLVNCH bị toàn thân bất toại và bệnh nặng trong lúc mọi người ai nấy đều lo cho bản thân mình và tình thương giữa con người đã trở nên mệt mỏi thì thầy Long cũng chính là người tình nguyện chăm sóc anh Tân cho đến khi anh được người nhà ra đón kịp  về rồi chết.

Một trường hợp khôi hài khác là ở trong trại có một anh tên Nguyễn Huệ, “vô tông tích” tự xưng là trung tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 23B (?). Có một thời gian anh ta bị giam chung với các tướng lãnh QLVNCH nhưng sau việt cộng phát giác “tướng Nguyễn Huệ”  chỉ là một tên khùng  và bị đuổi ra. Thấy thầy thương người và dễ dãi, “tướng Nguyễn Huệ” thường hay chạy theo quấy quả xin xỏ cơm và thuốc lào. Hễ trông thấy anh ta là thầy tủm tỉm cười, thầy không hề tỏ vẻ khó chịu và còn đi kiếm thuốc lào cho anh ta, tuy thầy chẳng bao giờ hút thuốc.

Tù nhân được tha dần nhưng vẫn còn tồn đọng một số khá lớn trong đó có các đại đức Tâm, Khuê, Xuân, Tùng, Trí, Bình, Ngự, Học, Diệu v.v. Mỗi lần thầy Long được thông báo có thăm nuôi thì các vị này đã sắm sẵn bao bị và tận tình giúp đỡ thầy. Thầy thường nói : ” Hôm nay tôi lại có thánh Veronica đến thăm nuôi “. Đây cũng là dịp thầy tập họp các tu sĩ Phật giáo ở trong trại tù để phân công đi thăm viếng bệnh nhân hoặc cắt cử họ đến tụng kinh và cầu siêu mỗi khi có người tạ thế.

Vào các dịp lễ Noen hay Tết âm lịch, thầy cũng dành dụm chút gạo, đậu xanh, đường tán và khởi xướng việc nấu chè ăn chung cả buồng mang niềm vui nhỏ bé đến cho mọi người và còn dốc hết “hầu bao” giúp các anh em nghèo đói nhất trong trại.

Thầy rất thích nghe tôi đánh đàn và kể chuyện cuộc đời thánh Phanxicô Khó Khăn (Francis 0f Assisi) nhất là những câu hát ý nghĩa thâm thúy trong Kinh Hòa Bình. Cứ vào mỗi sáng sớm Chủ Nhật được nghỉ lao động, trong khi tất cả mọi người còn nằm trong mùng thì thầy đã đánh thức tôi và khẽ nói : “Ông Quý ơi ! Dậy cho anh em nghe đàn đi !” Thế rồi âm thanh của chiếc đàn gỗ tự tạo ở trong tù của tôi nhè nhẹ vẳng ra tiếng thay lời trong âm giai cung Mi buồn ” Lạy Chúa từ nhân, xin cho con…..” hầu như không làm cho ai khó chịu cả.

Tấm lòng cao quý của thầy sáng như ngọn đuốc trong trại tù tăm tối, không những đối với các bạn tù chính trị mà còn lan tỏa  đến cả những tù hình sự giam chung cùng trại.

Như một tấm huy chương vô giá mà trên cõi đời này không thể đem ra so sánh được, thầy đã đối diện với bọn cai tù khát máu, trước họng súng AKA mà không hề nao núng và không sợ chết. Thầy đã được các vị tuyên úy Công Giáo ca ngợi vì đức bác ái và lòng hỉ xả, quên mình và chấp nhận những gì bất hạnh xảy đến. Trong cuốn AKA và Thập Giá của linh mục Phan Phát Huồn, Dòng Chúa Cứu Thế trang 107-108 kể chuyện đám tang của Cha Nguyễn Văn Bản, Dòng Đa Minh, tuyên úy Tổng Y Viện Cộng Hòa chết tại trại giam Yên Bái. Sau khi chôn cất, việt cộng bắt các tù nhân cải tạo lên lớp hội thảo đển lên án và làm nhục người đã chết. Chúng vu cáo cho Cha Nguyễn Văn Bản là một tên ác ôn côn đồ, chạy theo Mỹ Ngụy giết hại đồng bào, một tên có nợ máu đối với nhân dân, một tên lường gạt vv.. Nghe tên Nha cán bộ việt cộng lải nhải nhục mạ một người đã khuất mà người đó vốn là một người đạo đức gương mẫu, không dằn nổi sự bất bình, thầy Long đã đứng lên bênh vực bằng một giọng ôn tồn nhưng cương quyết :

” Tôi được biết Linh Mục Bản ngoài xã hội cũng như ở trong trại cải tạo là một con người đạo đức, được mọi người kính nể…” Tên việt cộng hống hách nạt nộ:

” Anh im mồm ngay. Anh Bản đã bị nhà nước cách chức linh mục của anh ta từ ngày anh bước chân vào trại cải tạo, còn anh, anh đừng có hòng đem cái bọn cha cố vào đây mà hù dọa cách mạng…”  nhưng thầy Long đâu có chịu im cho. Đợi cho tên việt cộng vừa dứt lời thì thầy Long nói tiếp:

” Nếu linh mục đều như cán bộ nói thì làm sao dân chúng tin tưởng và kính mến họ. Mặc dù  cán bộ đã cấm các trại viên gọi các linh mục là Cha và tự xưng mình là con, trại viên nào không tuân thì sẽ phải xử lý, nhưng thưa cán bộ, có ai chấp hành lệnh đó không? Trái lại, đối với công chức nhà nước, trước mặt họ gọi là cán bộ nhưng sau lưng họ gọi bằng thằng việt cộng thì cán bộ nghĩ sao?“

Như một con hổ bị trúng đạn, hai mắt hắn đỏ ngầu giận dữ, nhảy chồm tới nhìn trừng trừng vào thầy Long, quát thật lớn văng cả nước miếng vào mặt người đối diện và hắn ra lệnh:

“À anh này hỗn thật, yêu cầu các đồng chí đem cùm tên này cho tôi, biên bản sẽ làm sau.“

Thầy Long vẫn tiếp tục nói một cách hùng hồn cho đến lúc lính cảnh vệ việt cộng mang AK xông tới còng hai tay ông, ông không tự bênh vực cho mình, ông vẫn bình thản đưa hai tay cho chúng còng để chúng đem đi. Đây thật là hình ảnh một con chiên hiền lành đứng trước kẻ xắn lông mình mà không nói lời than trách như đã được diễn tả trong Kinh Thánh. (Cv.8.32-33).

Cuối năm 1987, thầy Long được tha về. Cởi bỏ chiếc áo chàm cải tạo, thầy lại khoác chiếc áo màu đà. Từ khi trở về Chùa Giác Ngạn, thầy không giữ chức trụ trì như trước, thầy sống trên căn gác xép tại góc vườn nhưng hàng ngày rất đông người đến thăm viếng và ngôi chùa được trùng tu lại trở nên đẹp đẽ khang trang hơn cũng nhờ uy tín và sự quan tâm của thầy. Hầu như ai cũng cảm mến gương hy sinh, lòng can đảm, tánh cương trực của thầy Long. Có những vị Linh Mục không đi cải tạo mà chỉ nghe tiếng thôi cũng muốn đến thăm thầy Long tại Chùa Giác Ngạn. Tôi hỏi Cha Vũ Ngọc Trân, Chánh Xứ Chu Hải tỉnh Phước Tuy, cha nghĩ thế nào khi đến thăm Hòa Thượng Thích Thanh Long tại Chùa Giác Ngạn? Cha đã trả lời một cách không dè dặt: ” Tôi nghĩ Chúa sẽ thưởng công cho bất cứ ai biết khao khát trọn lành, thương người và giúp đỡ bênh vực người. Chúa nói kẻ nào giúp đỡ người đều có công trước mặt Ta. Tôi nghe các cha tuyên úy đi cải tạo về có nói nhiều về ông. Tôi cũng mến mộ ông và việc tôi đến thăm cơ sở một tôn giáo khác đâu có gì làm suy giảm đi lòng kính mến Chúa nơi tôi đâu. Nếu nói đó là một hình thức trao đổi văn hóa thì cũng chẳng sao!” (Cha Đa Minh Vũ Ngọc Trân cũng đã qua đời tại Xứ Chu Hải Bà Rịa ngày 24/2/1992).

Trong thời gian chưa mắc bệnh ung thư nơi xương tọa, phương tiện chính của thầy trong thành phố là “xe đạp ôm”. Thầy thường ngồi trên “poọc ba ga” phía sau để cho một chú tiểu chở đi. Người ta thấy thầy xuất hiện ở nhiều nơi và tình thương của thầy dường như vẫn đặc biệt dành cho bạn tù cải tạo còn trong trại giam hoặc đã được tha về. Khi biết có ai đi xuống trại Z30D thì thầy cũng nhắn lời thăm hỏi, có đôi lúc  thầy gửi một cần xé chôm chôm hoặc vài thùng mì gói xuống phân phát cho anh em chưa may mắn được về xum họp với gia đình. Khi nghe tin có người vừa mất, bất luận ở đâu, không phân biệt tôn giáo, nơi cầu siêu hay chốn làm phép xác, tại chùa hay nhà thờ thánh thất, thầy cũng đều có mặt để phân ưu với gia đình người quá cố, thầy không ngần ngại đến vì “nghĩa tử là nghĩa tận”. Tôi đã gặp thầy và cùng đứng chung với thầy dưới gốc cây xoài trước tượng đài Đức Mẹ trong khuôn viên Nhà Thờ Ba Chuông để chờ tiễn đưa linh cữu của cố Trung Tá Nguyễn Thủy Chung và cố Trung Tá Nguyễn Anh Ly mất vào những năm 1989-1990.

Rất nhiều cựu TNCT nay đang có mặt tại Hoa Kỳ hoặc định cư rải rác trên khắp thế giới vẫn nhắc đến thầy Long. Ký giả Lô Răng tức cố Trung Tá Phan Lạc Phúc và Trung Tá nhà văn Hoàng Ngọc Liên, Ký giả Vũ Ánh… cũng có những bài viết rất sâu sắc về thầy.

***

Tôi chẳng có tư cách gì và cũng chẳng dám đưa ra nhận xét nào để “phong thánh” cho một con người mà tôi quen biết trong một thời gian hạn hẹp. Dưới nhãn quan của một tín đồ Công Giáo, dù sao tôi cũng chỉ là một chứng nhân với biểu kiến riêng, tôi xem Hòa Thượng Thích Thanh Long là một tấm gương rất tốt lành, đáng kính và đáng tôn vinh mà thời đại ngày nay thắp đuốc giữa ban ngày đi tìm cũng khó kiếm. Một người đã hy sinh tất cả để trọn đời đi theo con đường giống như của thánh Phanxicô Khó Khăn tác giả bài ca KINH HÒA BÌNH đã đi.

Thầy Long luôn đề cập KINH LỤC HÒA trong Diệu Pháp Liên Hoa cho các đệ tử. Chính vì thế mà thầy rất thích KINH HÒA BÌNH của thánh Phanxicô lúc ở trong tù thì sau này tôi mới nghiệm ra vì nó ẩn chứa những điều uyên thâm sâu xa nói về đức bác ái và lòng từ bi cũng giống như KINH LỤC HÒA. Tôi không ngờ thầy Long lại là một người bạn tri âm của tôi và ngày nay mỗi khi dạo nhạc hát lên bài ca KINH HÒA BÌNH tôi lại nhớ đến thầy.

Từ cõi bên kia, tôi tin rằng thầy đang mỉm cười và chăm chú lắng nghe tôi hát:

“Lạy Chúa từ nhân,  Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người,   Lạy Chúa xin hãy dạy con như khí cụ bình an của Chúa,  Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…

Tôi sẽ nhớ thầy mãi mãi cùng với bài ca KINH HÒA BÌNH trong tiếng tơ đồng của cung Mi buồn.

 * VŨ VĂN QUÝ

(*) Cha Nguyễn Quốc Túy hiện nay làm cha xứ Tân Thái Sơn tại Sài Gòn.

(*) Con bà phước: tù nhân mồ côi, không người thăm viếng, thiếu thốn.

(Nguồn: thuvienhoasen.org)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | 1 bình luận

Lễ phủ cờ cho cố trung úy Văn Đình Thảo- Cựu SVSQ Khóa 3 HV-CSQG

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lễ phủ cờ cho cố trung úy Văn Đình Thảo- Cựu SVSQ Khóa 3 HV-CSQG

Tang lễ cố Trung Úy CSQG/VNCH Văn Đình Thảo – Cựu SVSQ Khóa 3 Học Viện

Cố Trung Úy CSQG Văn Đình Thảo sau khi tốt nghiệp Khóa 3 Học Viện CSQG/VNCH, anh được thuyên chuyển về phục vụ tại BCH/CSG/ tỉnh Quảng Trị, nơi địa đầu giới tuyến với chức vụ Đại Đội Trưởng CSDC. Sau ngày mất nước , anh và gia đình sang định cư tại thành phố Seattle tiểu bang Washington, nhưng ít khi tham gia sinh hoạt chung nên bản thân tôi cũng không được biết thì anh đã ra đi. Hôm nay trong tang lễ, với tư cách là khóa đàn anh, tôi mạo muội đại diện cho anh chị em đồng môn Học Viện có lời chia buồn cùng gia đình tang quyến và cùng niệm Phật cầu cho hương linh bạn đồng môn K3 Văn Đình Thảo sớm được vảng sanh Cực Lạc Quốc.
Một số các bạn Khóa 3 đã đến thăm viếng và tham gia Lễ phủ cờ cho cố trung úy CSQG Văn Đình Thảo.
Ngày mai lễ di quan và hỏa táng lúc 2 giờ. Mong các bạn Học Viện dành thì giờ đến tiển đưa bạn ta về bên kia thế giới.

Mời các bạn một số hình ảnh lễ tang và phủ cờ cho cố Trung Úy CSQG Văn Đình Thảo sáng nay.

https://photos.app.goo.gl/rg8WUxBdsaA23HhWA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tang lễ cố Trung Úy CSQG/VNCH Văn Đình Thảo – Cựu SVSQ Khóa 3 Học Viện

ĐNH Cám Ơn Anh Dallas (TX) P2

Video Clip do K1 Phạm văn Toán thực hiện

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐNH Cám Ơn Anh Dallas (TX) P2

ĐNH Cám Ơn Anh Dallas (TX) P1

Video Clip do K1 Phạm Văn Toán thực hiện

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐNH Cám Ơn Anh Dallas (TX) P1

An American’s Point of View

Người chuyển: Tuyen Dinh

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở An American’s Point of View

MỘT NGÀY, MỘT NĂM VÀ MỘT ĐỜI NGƯỜI

binh-an-550x367

🌹 Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn.

🌹 Một năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu.

🌹 Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi.

🌹 Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn, cho nên chúng ta phải học cách trân trọng, trân trọng tình thân, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình yêu, tình vợ chồng, tình phụ mẫu, tình đồng loại …

🌹 Vì một khi đã lướt qua , thì khó có thể gặp lại.

❤ ️ Sau 20 tuổi, thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng.

❤ ️ Sau 30 tuổi, thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao.

❤ ️ Sau 40 tuổi, thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau, học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

❤ ️ Sau 50 tuổi, thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.

❤ ️ Sau 60 tuổi, thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau.

❤ ️ Sau 70 tuổi, thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi.

❤ ️ Sau 80 tuổi, thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.

❤ ️ Sau 90 tuổi, thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện ấy nữa.

❤ ️ Sau 100 tuổi, thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì.

👉 CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY, KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU…

👉 NHÌN RA, HIỂU ĐƯỢC, THẤU HIỂU RỒI, CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ …

👉 TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ ĐÃ CÓ VÀ ĐANG CÓ….

(Nguồn Facebook)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỘT NGÀY, MỘT NĂM VÀ MỘT ĐỜI NGƯỜI

KHẨU HIỆU_Ng. Thành Trung

Image result for khẩu hiệu cartoon

  • Nước Mỹ không có những khẩu hiệu như: “Hoa Kỳ muôn năm” hay: “Washington vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta”…, vậy mà vẫn là cường quốc số 1 thế giới, lớp lớp thế hệ người dân Mỹ suốt 243 năm qua vẫn yêu quý vị tổng thống đầu tiên của họ; Cũng không có “tinh thần ngày 1/5 bất diệt”, dù ngày quốc tế lao động sinh ra từ nơi đây; Không có gì là “bách chiến, bách thắng và vô địch muôn năm”, vì mọi thứ (kể cả chân lý) đều có thể thay đổi theo thời gian…

  • Singapore không cần khẩu hiệu: “Dân chủ, công bằng, văn minh” nhưng đất nước thịnh vượng, sạch đẹp, an bình, luật pháp nghiêm minh, tham nhũng gần như không tồn tại. Thủ Tướng Lý Quang Diệu được coi là người hùng, là ân nhân của đất nước này, nhưng đi khắp Singapore không có bất cứ tượng đài hay quảng trường nào mang tên ông…

  • Nhật không có phong trào: “Học tập và làm theo Nhật Hoàng”. Nhưng người dân trung thành và phụng sự Tổ Quốc hết mình; sống giản dị, nhân văn, có trách nhiệm, làm việc chăm chỉ đến lúc chết.

  • Pháp cũng không có: “Hoàng Đế Napoleon vĩ đại”, dù ông ta đã từng chinh phục cả châu Âu.

Đơn giản, vì tại các nước văn minh, việc ai nấy làm, họ coi đó là bổn phận đương nhiên vì lợi ích quốc gia; mọi thứ đều công khai, minh bạch, phân định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm…, nên không cần những khẩu hiệu sáo rỗng, với lời lẽ đao to búa lớn, bịp bợm, mị dân. Họ nói ít, làm nhiều, giá trị của mỗi người được nhìn nhận qua kết quả công việc và đóng góp cụ thể cho xã hội. Đặc biệt, họ không có thói quen tự ca ngợi, tâng bốc lẫn nhau, mà ngôn ngữ hiện đại gọi là “tự sướng”… Khi qua đời, dù danh nhân, vĩ nhân đều không ồn ào, khoa trương, kể lể công trạng; nấm mồ của họ chẳng hơn dân thường bao nhiêu…Hình như là quy luật, ở những nơi càng dân chủ, văn minh, thịnh vượng thì khẩu hiệu lại càng ít.

Nguyễn Thành Trung

(Nguồn: tvvn.org)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở KHẨU HIỆU_Ng. Thành Trung

Họp Mặt tại Bắc Cali. Chào đón chị Nguyễn thị Bông ghé thăm.

Các bạn ta ơi,
Ngày Chủ Nhật hôm qua, anh chị em đồng môn Khóa 1 vùng Bắc Cali đã về họp mặt tại tệ xá K1 Đinh Văn Hạp mừng đón phu nhân cố đồng môn K1 Nguyễn Ngọc Bé chị Nguyễn Thị Bông từ Oregon đến thăm San Jose do vợ chồng K1 Nguyễn Văn Vinh đưa đón. K1 Hạp tuyên bố lý do họp mặt và lời chào mừng thật thân thương đến chị Nguyễn Thị Bông với một tràng pháo tay nồng ấm từ vợ chồng K1 Đinh Văn Hạp, vợ chồng K1 Võ Quang Lâu, vợ chồng K1 Nguyễn Hữu Nhật , vợ chồng K1 Bửu Hồng , vợ chồng K1 Trần Quốc Nại , vợ chồng K1 Nguyễn Văn Vinh , vợ chồng K1 Huỳnh Minh Thanh , và K1 Phan Quang Nghiệp , K1 Nguyễn Hoài Ân , K1 Nguyễn Văn Hải. Rồi mọi người nâng chén chúc nhau sức khỏe và trò chuyện vui vẻ mãi đến 7.30PM mới lưu luyến chia tay hẹn ngày gặp lại.
TQN xin báo cáo.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Họp Mặt tại Bắc Cali. Chào đón chị Nguyễn thị Bông ghé thăm.

ĐI ĂN PHỞ_DODUYNGOC

Pho Dau(HNPD): Tui là tín đồ của Phở. Mà phải là Phở Bắc kia. Phở Hoà, Phở Lệ, Phở Phú Vương tui chê. Tui chỉ ăn Phở Dậu. Tui chơi Phở Dậu đã gần năm chục năm nay, từ hồi tui xấp xỉ hai mươi cho đến giờ đã gần bảy chục, chỉ gián đoạn mấy năm đi Tây. Cũng là loại tín đồ ngoan đạo đấy chứ.
Hồi xưa nó chưa gọi là Dậu. Hồi đó chỉ là một quán phở nhỏ lợp tôn, trên có chừa một khoảng trống lớn, nắng dọi vào làm thành một vệt ánh sáng mà mấy cha nhiếp ảnh rất mê. Luồng sáng dọi xuống trên người hai bà cụ với làn khói xanh từ bếp củi bay lên rất là nhiếp ảnh. Người bán là hai bà cụ già, nên tui gọi là Phở bà cụ. Ngày trước dân văn nghệ thường ăn sáng ở đây. Tui thường gặp hoạ sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, Đỗ Quang Em, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn….
Thời đó Ông Nguyễn Cao Kỳ đang làm quan to, cũng thường ghé ăn, cũng chẳng tiền hô hậu ủng gì, chỉ đi ăn với vợ là bà Tuyết Mai, có lúc đi với bạn, có khi đi một mình, nên giang hồ gọi là Phở Ông Kỳ. Ở ngoài sân có cây trứng cá, nên lại có người kêu là Phở cây trứng cá. Sau 75, khu này gọi là khu phố bốn nên gọi là Phở Khu phố bốn. Chủ nhân cho dựng bảng đặt tên là Phở Dậu. Hồi đó ở hẻm bên cũng có quán phở gà rất ngon, chủ là một bà sồn sồn người Bắc di cư tên Lan nên gọi là Phở Bà Lan. Gà ngon, nước phở ngọt đằm, khách cũng đông. Nhưng rồi bà mất vì bệnh, quán dẹp tiệm luôn.

Và bây giờ quán phở Dậu có thể gọi là quán phở đắt khách nhất của Sài Gòn. Khách cứ đông nườm nượp, nhất là ngày thứ bảy và chủ nhật. Kiếm chỗ ngồi hơi khó. Đúng là Phở Dậu giờ không còn ngon và có mùi vị như xưa, nhưng khách thì tăng lên bội phần.

Phở Dậu không có rau, chỉ có bát hành tây xắt mỏng. Cũng không có tương đen, chỉ có tương Bắc cay màu đỏ. Phở Dậu ngon nhờ nước. Nước phở ở đây trong và thanh, là nước hầm xương, những khúc xương dài lóc
hết thịt được đun từ hôm trước thoang thoáng mùi quế với hồi, nhạt thôi, tinh ý lắm mới ngửi thấy. Có thể cho điểm cao nhờ nước phở. Bánh cũng được, không nát, không dày quá. Thịt thì không ngon như ngày xưa, có lẽ bò bây giờ chất lượng không bằng. Lát nạm xảm không thấy chất thịt, vè vụn và dai. Ăn phở bò thì phải có gầu, nhưng gầu bây giờ trắng nhách, không có màu vàng như hồi xưa, miếng gầu ngày cũ nhai sần sật mà không dai, béo mà không ngậy, nhai miếng gẩu thấy sướng mồm. Giờ nhai gầu như nhai miếng thịt bị cắt ngược sớ, miếng gầu như kẹo cao su, chẳng thấy ngọt mà cứ nhờn nhợt trong miệng, đành phải nhả.
Nghe kể hồi mới di cư ở ngoài Bắc vào, gia đình này ở bên bến tắm ngựa ở Huỳnh Tịnh Của bây giờ, chưa biết làm ăn gì thì được một người quen dạy cho cách nấu phở. Sau đó dọn về xóm chuồng ngựa dưới dốc đường Công Lý gần Yên Đổ, sau mới về đây. Ông chủ bây giờ là đời thứ hai.
Nhân viên lo việc hầm xương, cứ bốn giờ sáng ông vào nêm nếm theo bí quyết của mẹ truyền lại. Ông bà chủ này buôn bán thế này mấy chục năm nay, khách khứa như thế, hẳn là giàu. Nhưng ông bà rất giản dị và gần gũi. Ông ra vào kiêm luôn việc điều hành xe cộ của khách. Ông này có trí nhớ rất đặc biệt. Khách đi xe máy chỉ ghé ăn vài lần là ông nhớ số xe. Chẳng sai bao giờ. Do tánh tình bình dân và gắn bó, vui vẻ với khách nên khách nào cũng quý ông. Khách ở xa về ông nhớ mặt, chuyện trò thân mật, khách quen lâu không ghé, ông hỏi thăm. Khách thích ghé quán vì phở ngon nhưng cũng ưa ghé vì cái tình giao hảo ấy.

Mấy chục năm ăn phở mỗi sáng ở đây, tui thành như người nhà. Hồi còn trẻ, khoẻ, ngày nào cũng ăn. Giờ có tuổi, lại bị Gout nên mỗi tuần chỉ ghé một hai lần. Có nhiều khi tui bỏ thuốc lá, nhưng cứ theo thói quen tui chưa ăn xong thì đã có người mang bao thuốc ba số để lên bàn, thế là rút một điếu. Ăn tô phở xong mà chưa có điếu thuốc cũng chưa gọi là hoàn tất bữa ăn. Thế là hút. Hê..hê thành ra mang tiếng bỏ thuốc lá cũng vài chục lần mà không bỏ được. Ăn lâu năm nên cũng quen mặt nhiều khách cũng ăn thường xuyên giống tui. Gặp nhau cười chào mà chẳng biết tên gì. Mà cũng lạ lắm nghe. Khách ăn thường xuyên cũng thường chọn một chỗ thường xuyên, đôi khi chỉ xê xích vài chiếc ghế. Khách ngồi ngoài sân thì luôn luôn ngồi ngoài sân. Khách ngồi gian giữa cũng luôn ngồi gian giữa. Khách ngồi nhà bên thì cũng luôn chọn nhà bên để ngồi. Như một thói quen. Lại biết cách ăn của từng người. Có người mang theo chai giấm tỏi, có người không ăn hành, có người nhiểu bánh, có người ít, có người thêm béo có người nước trong. Lâu ngày tui nhớ hết, gần năm mươi năm còn gì, nửa thế kỷ chứ ít sao.

Ăn lâu một quán đôi khi cũng chán, nên khi nghe ai nói có quán phở nào ngon là đi tìm ăn thử, nhưng rồi cũng châu về hợp phố, làm như đã quen cái mùi cái vị đó rồi, thấy chỗ nào cũng chẳng vừa lòng. Tui có anh bạn chơi Piano nổi tiếng, cũng thuộc loại ghiền phở ở đây, cũng là
khách thường xuyên. Đi trình diễn ở nước ngoài, vừa xuống máy bay, hành lý cồng kềnh nhưng bao giờ cũng ráng kêu taxi đến đây chơi một tô trước khi về nhà vì nhớ quá he..he.

Mấy hôm rồi có người giới thiệu một quán phở ở Cao Thắng, anh ta khen ngon nên tui có ý định đến ăn xem thử. Sáng nay rú xe đến đấy. Thứ bảy mà quán vắng hoe. Chỉ có một bàn có khách là một đôi nam nữ còn trẻ.
Tui ngồi kế bàn đấy. Phải công nhận quán sạch sẽ, bàn ghế, đũa muỗng ngăn nắp. Bước vào quán có mùi phở, đã xứng cho một sao. Tui quan niệm quán phở phải có mùi phở. Cái mùi ngậy chút của hồi, của quế, của gừng nướng quyện với mùi bò. Đương nhiên là thoang thoảng thôi chứ không nồng nặc như quầy thịt bò ngoài chợ. Nhưng phải có mùi phở, cái mùi nhè nhẹ thoang thoảng ấy đánh thức cái khứu giác của người ăn, gợi cho họ cái cảm giác thèm được thưởng thức. Rau, ớt, chanh được để trong dĩa trắng tinh có lớp nhựa mỏng bọc ngoài. Lại nghe bảo tương ớt tự nhà làm. Tui cho thêm một sao nữa. Ở đây có món đặc biệt là phở đuôi bò. Cũng hay, thay đổi thử xem thế nào? Tui gọi một tô phở đuôi bò.
Phở chỉ nên ăn thịt chín, bắp, nạm, gầu, vè. Phở mà ăn thịt tái là sai cách rồi, nhưng nhiều người thích thế.

Đôi nam nữ bàn kế bên vừa nhận hai tô phở đã bắt đầu hành trình trang bị. Cả hai xịt tương đỏ, rồi chơi luôn tương đen. Sau đó là động tác vặt rau, rồi trút cả dĩa giá trụng. Nhìn quanh, anh chị chơi luôn mấy muỗng tỏi ngâm dấm. Xong nhìn quanh xem còn thiếu gì không. À! Nước mắm thêm vài ba giọt rồi vắt vào miếng chanh. Tô phở bây giờ tú hụ, như nồi lẫu thập cẩm nhìn là hết muốn ăn. Cái thanh cảnh của người thưởng thức phở như tui bỗng ngao ngán cho cách ăn của họ. Ăn thế thì
còn chi là phở. Tui quan niệm người biết ăn phở là khi tô phở bưng ra, nghi ngút khói, người ăn hít cái mùi thơm của phở, sau đó dùng muỗng múc một muỗng nước phở, húp để đánh gia nước phở ngọt ngon, mặn nhạt thế nào, lúc ấy mới nêm nếm theo ý mình. Cách ăn này cũng dùng cho hủ tíu, mì, bún nước ….chứ ăn mà bỏ đủ thứ vào một tô như nồi cám lợn thế kia thì mất mẹ cái thú thưởng thức thi vị món ăn rồi.

Tô phở đuôi bò của tui được bưng ra, cũng vừa thôi, không lớn lắm, được đựng trong bát sành có vẽ men xanh, nhìn cũng bắt mắt. Có bốn khoanh đuôi bò mỏng. Nước phở cũng tạm, không thể gọi là ngon, nhưng chắc có nêm bột ngọt. Đuôi bò mềm nhưng không nhũn, thịt cũng tạm, có thể cho thêm một sao nữa. Bánh phở dày quá, thiếu cái nuột nà khi cho trôi vào cổ họng.
Nhìn chung là mới ngưỡng trung bình, tô phở chưa có gì xuất sắc. Quẩy làm theo kiểu Bắc kỳ, nho nhỏ và cứng, phải ngâm trong nước lèo một lát mới mềm để ăn. Xin thêm ớt và gọi ly trà đá. Phục vụ nhanh, lễ phép, tui cho thêm nửa sao. Tổng cộng được ba sao rưỡi. Tức là trên trung bình một chút. Điểm đặc biệt ở quán này là trên tường dán một bảng công khai các gia vị sử dụng từ địa chỉ rau sạch, hãng nước mắm sử dụng cho đến chai nước suối và những gia vị với tên nhãn hàng.
Người khách vào đây có thể biết rõ mình đang được phục vụ bởi các nhãn hàng nào, đó cũng là điều hay khi các hàng quán bây giờ có nhiều quán toàn sử dụng các loại gia vị và rau, nước chấm rẻ tiền hoặc không tên.
Tui cho thêm nửa điểm về sự minh bạch này của chủ quán. Thế nhưng, khi tính tiền, tui lại trừ đi nửa điểm vì tính giá khá cao, không xứng với chất lượng của tô phở. Giá một tồ phở đuôi bò với bốn khoanh mỏng leo lét mà tính 85.000 đồng là chưa hợp lý. Giờ thì tui hiểu nguyên nhân quán vắng. Quán không có khách vì giá cao. Điểm cuối cùng còn lại là ba điểm rưỡi. Chưa ưng ý.

Thế là sẽ vẫn quay về với Phở Dậu. Đi loanh quanh lại về chốn cũ hê..hê

DODUYNGOC

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐI ĂN PHỞ_DODUYNGOC

K1 Hội Ngộ ở Houston/TX_YouTube

Vừa qua bạn Toán Phạm nhân dịp trên đường đi đến Dallas (TX) để làm phóng sự về Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh tại Dallas đã ghé lại Houston gặp gỡ một số bạn K1 tại đây. Dưới đây là video clip do bạn Toán Phạm ghi lại  buổi gặp gỡ này:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Hội Ngộ ở Houston/TX_YouTube

Góc nhìn của một “thùng nhân”_St

Inline image

Đôi lời : Đây là lời kể rất chân thật của một người trong cuộc, được một trang Facebook đăng và Thụy My đã biên tập lại cho dễ đọc. Mời bạn đọc theo dõi để biết được phần nào những truân chuyên trên con đường vượt biên từ Việt Nam sang Anh.

(Ghi chú thêm của CNN: Từ “thuyền nhân” (boat people) nay “tự điển vượt biên” lại có thêm một từ mới là “thùng nhân” (container people) để chỉ những người vượt biên bằng xe kéo container.)

…Mình đi một tháng. Con đường đi là bay từ Việt qua Nga, xong tập trung ở một nơi nào đó ở Nga và đi chuyển sang biên giới Latvia. Ở đó 14 người sống trong một ngôi nhà bỏ hoang trong rừng giữa thời tiết lạnh, ngôi nhà sau khi Tây chở đến và bỏ vào đó khóa cửa lại. 

Ăn ngủ i* đái trong nhà đó, nước đánh răng không có thì đừng nói tắm. Mỗi ngày nó vác cho xô mì tôm, nó bỏ vào xô sơn ấy. Lúc đầu nó cho mấy cái bát tiện lợi để ăn. Ai cũng nghĩ ngày nào cũng thế. Ăn xong vứt, hôm sau nó chỉ mang cho xô mì tôm, thế là không có bát ăn, bèn đi tìm lấy lại hoặc cắt vỏ chai nhựa làm bát. Ăn xong mỗi người làm vốc bécberin uống.
Ở trong nhà đó gần hai tuần. Mọi điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, đói rét hôi thối vì sinh hoạt trong cái nhà tồi tàn. Xong được nó chỉ đến nơi mới chả biết ở đâu. Được tắm nhưng không có nước nóng. Lạnh buốt da thịt, ăn mì tôm, bánh mì. Đêm đó nó cho một tốp 7 người đi vượt biên sang nước khác trong đó có mình. 

Mới đầu nó cho ngồi xe, xong gần biên giới xuống đi bộ lội qua đầm lầy. Bùn lút ngang người, bơi trong bùn với cái bụng đói rét lạnh, kiệt sức anh em đi cùng dìu nhau. Gần đến nơi thì thằng Tây bảo bị động lại phải bơi bùn lại (nghĩ đến cảnh quay lại hai giờ đồng hồ chắc chết). Thằng Tây nó quay lại thằng nào theo thì theo, không theo nằm đó mà chết. 

Bò theo nó về, đến nhà nằm vật ra cả, vừa đói vừa mệt, hai cái chân rã rời. Nằm hai ngày thì nó chở đi đường khác, đến nơi ở mới là cái chuồng bò. Ăn ngủ cùng bò và cứt bò. Hôm sau nó đem đi vượt biên sang nước khác (lần này là chạy để sống), một thằng Tây dẫn đường nó nói cái đ** gì ấy chả ai hiểu mẹ gì.
Đại khái kiểu như nó cầm cái điện thoại Nokia đen trắng chỉ mở màn hình cho sáng, tốp 14 người chạy theo nó trong rừng luôn phải sát nó và nối theo nhau (rừng dày tối đen như mực cách một mét không thấy gì luôn). Một tay che trước mặt và cắm đầu chạy để khỏi va vào cành cây rách mặt hoặc nó đâm vào mắt. Lạc không được kêu la vì nó bảo có thằng đi sau để nhặt những ai không có sức chạy. Nó nói vậy chứ thằng nào mà lạc thì chỉ có chết. 
Chạy ba giờ trong rừng cảm giác như chân không nhấc nổi, đi theo bản năng sinh tồn và khát khao sống sót. Gần đến biên giới chó nó sủa như gì, cứ tưởng nó thả cho ra đuổi. Ai nấy cắm đầu chạy. Gần đến nơi tập kết nó cho nghỉ ăn bánh mì. Lạnh, đói, mệt (lạnh đến nỗi đái không nổi, đái ra máu luôn ấy). 
Ra đến đường thì nó cho lên xe chạy về nơi tập kết (chỗ này ăn ở ngon hơn), xong ngày sau chia ra để đi một cái xe ô tô bốn chỗ có cốp sau. Nó nhét ba thằng nằm trong cốp, ba thằng nằm ở ghế sau lái phủ chăn. Chạy không biết mấy tiếng để vào Ba Lan. Mình nhỏ nằm cốp, đau, mỏi, buồn đái mà nó không cho dừng xe. Đến được nơi tập kết xuống xe, mỗi thằng đứng góc mà 15 phút mới đái được. Rồi từ Ba Lan chia quân sang Đức, Pháp. Ai đi Đức thì đi, ai qua Anh thì đi. Mình ngồi xe đi sang Pháp. 
Qua Pháp ở nơi lán trại như chuồng vịt (chắc mọi người thấy trên tivi rồi), ở đó có cai là Việt. Trại tập trung đó đủ các nước trên thế giới để chờ qua Anh. Ở đây đi và sắp xếp nhảy công là do Tây đảm nhiệm hết, cai Việt chỉ là gom người, chỉ đạo ai đi hay ở, và nhận quân nhận tiền ở Việt Nam. 
Đêm đến nó chở tốp bao nhiêu người đó để ra cảng biển, nơi tập trung xe công sang Anh. Nó xem xét biển số hoặc xác định xe nào sẽ đi Anh và nó bẻ khóa rồi cho người vào. Công lạnh hay công không lạnh, công chở hàng hay không chở nó cũng tống người vào. Nó không cần biết là mình sống hay chết, hoặc xe này chính xác sang Anh hay không. Đó là sự may rủi, ai không lên hay làm ồn thì nó đánh đập cho ợ cơm. 
Có xe nó chẳng đi sang Anh mà nó lại đi Bỉ, Đức hoặc về Pháp. Đen cho anh nào lên xe đó, lại phải đi quay lại bãi bằng nhảy tàu trốn vé hoặc đi taxi, nhưng may là còn sống và không bị bắt. Mà mấy ông cảnh sát nó bắt rồi nó cũng thả, vì nó biết là người vượt sang Anh nó không giữ – mà giữ cũng không hết được người đông quá. Mình ở Pháp mấy ngày, thì đêm đi nhảy công (lúc này mình đang đi gói “cỏ“ nên đêm đến là cứ đi nhảy công bẻ khóa trộm ấy).
Mình nói sơ qua, đoạn đường đi từ Việt Nam sang nước thứ hai là Nga thì người Việt đón, còn các đoạn sau là do người bản xứ ở nước sở tại mình đến. Hầu như giáp biên giới đều là người nông thôn hay sắc tộc, chỉ có người địa phương mới biết đường băng rừng như dân tộc thiểu số ở Việt Nam. 
Khi đi mình mang khoảng 200 đô, mang theo một điện thoại cục gạch, và sim hòa mạng quốc tế. Lúc ở Nga thì được dùng điện thoại, llúc đến trại tập trung ở biên giới thì bị mấy thằng Nga ngố bịt mắt nó thu hết. Nó bảo để nó biết ai giấu điện thoại nó đấm không trượt cái nào (nó làm thật đó, bọn mafia Nga mà). 
Hôm xe chở mình đi từ Ba Lan cùng với 7 người, 2 người đi Đức và 6 anh em đi Anh. Xe chạy sang Đức trút 2 người xuống ở chợ Đồng Xuân, Berlin, Đức. Xe chạy tiếp sang Pháp. Đến Pháp là đêm, thằng lái trút người xuống, anh em tự liên lạc với người đón (điện thoại mua ở Ba Lan, thằng người Việt ở Ba Lan mua cái cục gạch mà nó lấy của mình 100 đô). Gọi cho người nhận hàng ra rước mấy anh em  về lán (cái lều vịt). 
Mình đi gói “cỏ“ 350 triệu vào giữa năm 2015, nên tập trung ở trại Calais Pháp. Lúc mình ở đó thì có mấy trại xung quanh đó nữa nhưng chủ trại khác nhau (bọn Tây này bắn nhau giành trại như phim hành động). Nếu đi gói VIP thì ở trên thành phố Paris của Pháp, được ở hôtel hoặc chung cư, được check in sang chảnh các nơi. Còn mình đi cỏ thì nằm lán (lều vịt). 
Ăn uống thì anh em  góp tiền cho cai Việt mua gạo, đồ ăn. Về chia nhóm ra nấu. Lúc này nhóm mình 6 người nhập với mấy người nữa là trại có hơn 20 người, toàn dân miền Trung. Ở đó chia nhóm hay chia tốp để nhảy công, và xoay vòng đêm nay nhóm này nhảy thì đêm sau nhóm khác. (Nhảy công hoặc xe tải hay xe tải nhỏ, thường là xe công, công nó đậu ở bãi hoặc nghỉ dọc đường, các bạn có xem thời sự chắc biết cảnh nó nhảy công như thế nào). 
Ở đây mấy thằng cai cũng đòi thu điện thoại, mịa mấy thằng này là những thằng ở Đức hay Ba Lan qua làm cai nhận tiền và thu người, còn sắp xếp xe đi với bẻ khóa là mấy thằng Tây. Cũng có lúc mấy người Việt đi vượt biên mấy cả mấy tháng hoặc cả năm, nằm ở bãi không  đi được cũng làm cai cho chủ Việt ở Pháp. 
Đêm thứ ba, nhóm 6 anh em đi cùng mình được sắp xếp nhảy công. Hôm đó đi ra bãi đỗ xe ở cảng, mấy anh em xuống xe là thằng Tây lôi bỏ ven đường quốc lộ (tránh lộ) giống như chơi trốn tìm. Tưởng có mỗi nhóm mình ngoài cảng, ai dè ngoài đó gần trăm mạng ở cái trại khác đi nhảy công. Tây có ta có, đông như sắp đánh đồn địch ấy, nằm im, sát vệ đường. Mấy thằng Tây đi vào bãi xem xét tình hình và kiếm xe. Nếu có xe thì nó ra báo. Đêm đó nằm đến gần sáng không  đi được nên anh em  lại về.
Mình ở Pháp khoảng một tuần gì đó thì sang Anh nên cũng ít chuyện hơn. Ở đây ăn uống OK nhưng khổ nỗi lạnh, quần áo có mang được theo đâu (vượt biên mà). Chạy dọc đường vứt hết chỉ mặc trong người bộ đồ, trong ba lô có thêm bộ nữa, có cả củ sâm mang theo đi đường lấy sức. Ở đây quanh quẩn và trong bãi đánh bài quỳ cho khuây, đêm đến ngóng tin mấy tốp đi nhảy. Sáng mà chưa thấy ai về tức là đã nhảy được xe, và chờ tin đã sang Anh hay lạc trôi sang nước nào rồi – vì xe thì biển số Anh thật nhưng nó đang chở hàng đi Pháp hay đi Bỉ, Đức…hay hàng quay về Anh. 
Có hôm tốp nhảy rồi thì sáng ra nó bảo xe chở hàng lên Paris, thế là lóc ngóc đi tàu về hoặc taxi (taxi mất khối bạc nhưng cũng phải về, thằng cai trả tiền, hôm sau nó tính vào gói đi, ở nhà phải bắn tiền cho chủ đầu nậu ở Việt Nam. Gói đi đa số là đi đến đâu đóng tiền đến đó. Ví dụ : Làm thủ tục lúc đầu 50 triệu bao gồm vé sang Nga. Sang đến Ba Lan đóng tiếp (sang đến đây là 50% đường). Đến Pháp đóng thêm tiền (đến đây là 90%), sang đến Anh là ở nhà chồng nốt tiền. 
Ở đây bọn Tây nó rất là OK với người Việt vì người mình là món hàng ngon nhất, tiền đi bọn nó được ăn nhiều hơn mấy nước khác (như Syria, Albani và các nước Trung Đông đang xảy ra chiến tranh chạy loạn), nói chung nó tôn trọng người Việt mình. Ở trại có đánh nhau bắn nhau, thằng nào đến giành bãi là bắn nhau, xác nó ném xuống hồ – sống không  ai biết, chết thì cá ăn. Người mình chả có tiếng nói ở bãi, chỉ có tiền. Nó được nằm ngủ trong các container. Còn mình nằm lán. Mãi sau nó thu xếp cho một cái công để ở. Mà vẫn hãi ở chỗ đêm đến mấy thằng Tây nó uống rượu hút cỏ phê phê nó vác súng ra chơi, nó bốc một thằng dí súng vào đầu cũng té đái. 
Ở được mấy hôm thì nhóm mình lại nhảy công. Đêm đó đi cũng 6 anh em, ra nằm bãi được lúc thì thằng Tây lôi ra đường bảo có một xe, xe này là xe tải chở mấy cái ô tô con bên trên xe, không phải công, trên xe đó chở mấy con xe con mới để qua Anh. Thằng Tây trèo lên bẻ khóa của ô tô con, nó bẻ 3 xe cho 4 người lên nằm trong xe con đó. Đen cho mình là mình đứng sau xếp hàng mà (mình đứng thứ 5 nên không lên được). Đêm đó 4 người đi lọt sang nằm bãi biển a lô sang cười.
Đen cho mình, không thì hôm đó qua sớm rồi. Xong cho 4 người thì nó bảo rút về. Về lán báo cáo với cai là đi được 4 người, đêm anh em  tám chuyện bảo chắc là sang được nếu xe sang Anh vì xe đó ngon không  bị kiểm tra, lại được nằm trong xe như đi “VIP“. Hôm sau mình được đi tiếp, ghép vô với mấy nhóm khác (nhảy cỏ thì đêm nào cũng nhảy, hên xui ai qua được thì qua). 
Sáng hôm sau nghe cai bảo anh em đi thì nhớ mang quần áo cho nhiều vì lỡ gặp công lạnh thì mặc cho ấm (thế mới nói nhảy công lạnh là chuyện bình thường nhé). Sáng ra mình đi ra cổng xem có ai vứt quần áo cũ ngoài cổng trại không thì hốt về mặc và chia cho anh em. 
Ở đây người bản xứ hay mang quần áo với cơm cho những người trong trại. Cứ thứ Bảy là người trong hội nhân đạo (có sơ người Việt) mang đồ ăn đến chia cho mọi người, có hoa quả, bánh kẹo, bánh mì, và đem ô tô đến chở mọi người đi tắm nước nóng. Vì trại không có nước nóng, có mỗi cái giếng khoan tắm lạnh thấu mụ nội. Họ mang cơm đến thì mang tô bát ra xếp hàng cùng với Tây đi lấy đồ ăn (nhìn như gì gì ấy hay lắm, mình có chụp cái ảnh đó mà mất tiêu điện thoại). Cơm Tây nấu không  tài nào ăn được, gạo nó luộc sượng sượng, chan với cái nước gì lợm không ăn nổi. Chỉ ra lấy bánh mì và quần áo mặc thôi.
Đêm tiếp theo mình nhảy công. Tốp đi lần này có cả Tây ta lẫn lộn, tốp mình đi 10 người, và cả Tây thì không rõ. Địa điểm đến là một bãi đỗ xe khác không  gần cảng, đêm tối lò mò nhưng cũng biết nó gần cánh đồng thì phải. Ra đó nằm bẹp xuống đất chờ mấy thằng Tây đi ngắm và chọn xe, anh em  lại gặp người Việt ở trại khác cũng ra đây để nhảy. Hóng được chuyện là hôm qua có bắn nhau bên trại đó, một thằng Tây ngỏm (trại nó bắn nhau giống như kiểu tranh giành địa bàn ấy). 
Đợi được một lúc thì thằng Tây của trại mình ra kêu có xe và đi vào. Quần áo mình mặc dày – hai quần, áo thì bốn, năm lớp vì nghe những người ở đó bảo nhảy gặp công lạnh rét lắm, chứ có biết công lạnh như thế nào đâu. Vào bãi xe mấy thằng Tây nói xì xồ gì đó, đại khái là đi nhẹ nói khẽ cười duyên. Đứng chờ sau xe nó bẻ khóa mở công. Mở ra thì gặp công này là công trống không có gì. 
Một thằng Tây trèo lên trước và một thằng quỳ xuống (quỳ một chân ấy), còn chân kia nó làm bậc cho người dẫm lên để trèo lên công vì công không nó sẽ rung lắc, sợ thằng lái nếu nó còn nằm trên đầu xe nó nghe thấy. Đen cho một anh Việt trèo ầm ầm lên nó nóng mặt, lên thùng rồi nó lôi xuống đấm đá uỳnh uỳnh hự với hạ hạ, nghe xót hết ruột (nó đập ác lắm vì lên như vậy lộ hết). Đến lượt mình lên nhẹ nhàng không, chứ người có mẩu nó đấm cho thì ốm luôn. 
Lên xe hết mà cũng chẳng đếm bao nhiêu mạng, cái công không mà chứa tầm hơn 20 mạng gì đó. Vào hết nó đóng công bên trong không được ho he gì hết ai ở đâu nằm yên đó không bị lộ. Chừng một tiếng gì đó, bên ngoài nghe xì xào gì không biết. Nếu nó nói tiếng Việt thì hiểu. Được lát yên ắng thì nghe tiếng xe nổ máy, chờ mãi không thấy chạy. Nhưng lại thấy tiếng máy và gió lạnh vào công. Ai cũng run lên lạnh gì vãi nồi. Được lúc lại tắt rồi mở, lại tắt rồi mở mà xe đ** chạy. Bên trong thì im thin thít, không một tiếng ho hay tiếng thở vì sợ lộ mà. Chờ mãi chờ mãi, khoảng thời gian đó lâu kinh khủng. 
Chờ đến sáng luôn thì bên ngoài lại nghe tiếng người nói rôm rả hơn và tiếng lạch cạch mở cửa xe. Lúc cánh cửa mở ra thì thấy thằng Tây nó nhe răng cười, phía sau có hai xe cảnh sát Pháp. Nó ra hiệu xuống xe hết. Rồi thằng cảnh sát nói cái gì đó cho thằng Tây đi trong nhóm (cứ tưởng quả này bị tóm, ai dè nó thả ra hết và chỉ đường cho về trại). Lúc đi về mấy anh em  kháo nhau là đi theo mấy thằng Tây trong trại để nó dẫn đường về. Rồi lại kháo nhau cảnh sát nó không  thèm bắt vì nó biết và hiểu quá nhóm này làm cái gì và muốn nhảy công đi đâu. Nó quá quen với cái cảnh này rồi nên nó không còng.
Đi bộ từ bãi đỗ xe về trại mất khoảng hai giờ. Nhưng vẫn còn may hơn là nhóm Tây khác cũng ở trong trại, đêm đó nhảy vào công lạnh chở cá, đi được đoạn lạnh không  chịu nổi đạp thùng (lúc này mình cũng chưa hình dung cái công lạnh là như thế nào). Nghe cai của mình kể lại, đêm cả nhà kia kéo thêm đứa bé khoảng 5 -6 tuổi gì đó cùng đoàn đi, có mang cả chăn phòng thân nữa, nhưng lạnh quá không ai chịu nổi mới đạp thùng. Anh em  lúc đó không hình dung được sự nguy hiểm của công lạnh, nên cứ tiếc hùi hụi, bảo là công ngon, đi chắc chắn lọt (vì công lạnh nó không kiểm tra). 
Mình nghĩ hôm nay mình sẽ không  nhảy tiếp vì đêm qua mới nhảy và sáng đi bộ về mệt nên không nhảy nữa (nhảy cỏ thì thời điểm đó lúc nào cũng nhảy, nhảy chán thì thôi). Khi nào bắt đầu đêm đi nhảy là mình gọi về nhà báo cáo cho người nhà biết, và cũng gọi để cho bố mẹ thắp hương phù hộ cho lọt. Về đến trại mình gọi cho bố mẹ báo cáo là không lọt, rồi bảo mình sẽ đi “VIP“ nên nói vói bố mẹ là chuản bị thêm tiền để sẵn sàng đi VIP nếu có xe. Đi “VIP“ theo như mình biết lúc đó là sẽ ăn rơ với cánh lái xe, thông đồng với nó để nó chở mình đi. Bằng cách nào thì mình sẽ nói sau đây, còn có cách khác mình không rõ nhé ! 
Mình gọi về báo bố mẹ như thế, vì trước đó mình cũng dặn cai là để em một suất đi “VIP” nếu có chuyến. Đi VIP thì số tiền sẽ đắt gấp đôi cả số tiền mình đi. Tức là tổng mình đi sẽ mất 700 triệu. Chiều hôm sau mình đang ngủ thì cai bảo “Có xe VIP, em có đi không“ mình bật dậy, nói “Em đi luôn“, cai bảo “ Thế gọi về nhà chuẩn bị tiền đi’’. 
VIP là sang đến nơi chồng luôn hoặc bắt chồng trước, cũng vì vội quá, mình gọi báo gấp nên bố mình cũng khó xoay tiền. Cũng thương con nên bố mẹ bảo cứ nhảy đi đi, bố mẹ xoay được ngày mai con sang là có đủ. Rồi mình báo cai, xong chuẩn bị đồ lên xe. Nói đồ cho vui chứ có méo gì đâu ngoài bộ quần áo đang mặc, một cái điện thoại Samsung ghẻ mua được từ người trong lán để vào mạng, lúc ở trại này bố mình có chuyển cho người nhà cai ở Việt Nam thêm 200 đô để mình ở đây có tiền chi tiêu, và cai ở bên này đưa tiền cho mình. 
Mình chuẩn bị đi thì cai bảo có thằng nó lại giành đi chuyến này nó bảo mình nhường, nhưng đen cho nó là nó đang đi chơi ở trên Paris nên không về kịp. Thế là mình lên xe ô tô với thằng Tây cùng với một thằng em trong trại ra chỗ hẹn, để đi VIP. Ra chỗ hẹn thằng Tây đưa tiền luôn cho lái xe (không biết là bao nhiêu) và nói gì đó, hai anh em  lên hai xe công, được nằm trên cabin. Nằm trên gác trong cabin lái xe, và nó ra hiệu im lặng, ra hiệu không được đi vệ sinh. Mình nằm trên xe im thin thít. 
Xe qua cửa kiểm tra ngon lành và lên phà sang Anh. Sang đến nơi, biết xe đang chạy ra khỏi phà thì mình mừng lắm. Thằng lái chở mình đến điểm hẹn rồi thằng Tây khác đón mình về nhà nó để chờ đường dây đến đón và trao tiền (trao tiền mới thả người). Ngày sau có người đón mình và mình được người quen đón về, ở và học nail, sau này là cái nghề mình kiếm tiền. 
Mình là người rơm không  giấy tờ. Câu chuyện về hành trình mình sang Anh chỉ có vậy. Có những người làm visa bay sang một nước nào đó thuộc châu Âu, rồi từ đó đi tàu hoặc xe qua Pháp, và từ Pháp qua Anh. Đường từ Pháp qua cũng có nhiều hình thức chứ không  hẳn là nhảy công. Có thể là xe bạt hoặc các loại xe khác. Khi biết sang được đất nước Anh có thể bị bắt ngay tại cảng và bị trả về Pháp, hoặc vào sâu được vào nội địa thì đập xe cho tài xế biết để nhảy xuống và trốn, liên lạc với người thân. 
Có thể sang bị bắt đưa vào trại tị nạn, có người già trốc rồi cũng khai là trẻ con để được Tây nuôi ăn học và sau này có giấy tờ. Đa số sau này toàn khai trẻ con và xin tị nạn chính trị, tôn giáo. Có những con đường lòng vòng tận Trung Đông, đêm nằm nghe tiếng súng, đi bộ, cưỡi ngựa trên những con hẻm cheo leo vách đá. Có những con đường ở Châu Âu, mùa đông biết bao người bỏ mạng trong rừng, chết mất xác. Cũng có những con đường bay thẳng vào Anh và trốn. Nói chung muôn vàn muôn vẻ, khổ có sướng có. Và có những người sang đây rồi cũng bỏ mạng, bệnh tật, hoặc đi bar sàn sốc thuốc chết (đi bar bên này năm nào cũng một, hai mạng).
Và lời cuối mình nói là câu chuyện của mình do chính mình trải qua, không có mục đích gì khác. Chỉ mong các bạn đọc và biết được phần nào đó thôi. Một lần nữa mình mong các bạn đừng đem câu chuyện đi đâu cả. Mình không muốn chuyện gì xảy ra với mình. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe hết câu chuyện này. Chúc các bạn vạn sự như ý.

KHUYẾT DANH

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Góc nhìn của một “thùng nhân”_St

Lại Nói Về Tiếng Việt Điên Khùng! (Đào Văn Bình)

Lại Nói Về Tiếng Việt Điên Khùng!

Đào Văn Bình

Tiếng Việt điên khùng là tiếng Việt bí hiểm, kiểu cọ, rắc rối… viết ra không ai hiểu gì cả. Ngoài ra lại có nạn trình độ tiếng Việt quá kém, không phân biệt được nghĩa của các chữ mà cả ngàn năm nay, trẻ nhỏ, bà già trầu ai cũng hiểu…thế mà ngày nay NGUOI TA  lại chẳng hiểu mà cứ viết bừa.

–Hầm và đường hầm. Chẳng hạn họ gọi “hầm Thủ Thiêm”, “hầm Hải Vân”. Hầm (trench, bunker) là một khoảng trống đào dưới đất để ẩn mấp (hầm trú ẩn) hoặc cất dấu vũ khí, tài nguyên. Thí dụ: Hầm chứa vũ khí, hầm chứa lương thực. Còn đường hầm (tunnel) là con đường đào dưới đất để di chuyển. Thí dụ: Đường hầm xuyên qua Đèo Hải Vân hay Đường Hầm Đèo Hải Vân. Báo VOV ngày 19/10/2019 viết, “Đi ngược chiều trong hầm chui, 2 thanh niên chết thảm.” Đường Hầm Tam Hiệp mà lại gọi là “hầm chui” đúng là ngu dốt, viết bậy.

-Bãi nhiệm và miễn nhiệm. Bãi là bãi bỏ. Còn miễn là không phải, không cần. Thí dụ: Miễn lễ, miễn thuế, miễn chiến bài, miễn tội, miễn dịch… Báo VOV trong nước viết, “Lý do bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến bị miễn nhiệm”. Viết như vậy hoàn toàn sai, mà phải viết, “Lý do bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến bị bãi chức/bãi nhiệm.”

-BBC tiếng Việt ngày 15/10/2019: “Ứng dụng tuyên truyền của TQ theo dõi hành vi người dùng.” Tôi đố người Việt trên toàn thế giới hiểu được tiêu đề này nói gì. Đây là loại tiếng Việt điên khùng nặng.

-Báo VOV (Đài Tiếng Nói Việt Nam) ngày 18/10/2019: “Đoàn cán bộ báo chí Lào thăm VOV, tìm hiểu kinh nghiệm đa phương tiện.” Tôi đố người Việt trên toàn thế giới hiểu được tiêu đề này nói gì.

-Báo VOV (Đài Tiếng Nói Việt Nam) ngày 19/10/2019:  “Xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản trong xây dựng nông thôn mới”. Câu văn quá bí hiểm. Tôi xin người Việt trên toàn thế giới giải nghĩa giúp tiêu đề này nói gì. Thế mà báo VOV được chính phủ khen là tờ báo tiêu biểu, gương mẫu cho cả nước. Thật quái đản!!!

–Hoàn thành biến thành “hoàn thiện”. Trong nước bây giờ tiếng Việt quá kém cỏi, không phân biệt được thế nào là “hoàn thành”, thế nào là “hoàn thiện”. Xây xong một cây cầu, một ngôi chùa, một trung tâm thương mại… là “hoàn thành” hay “hoàn tất”, không phải là hoàn thiện. Hoàn thiện là làm cho tốt đẹp, thí dụ: “Hoàn thiện nhân cách con người”. Thiện có nghĩa là tốt, giỏi như thiện nhân, thiện xạ, thiện lương, thiện nam tử, thiện nữ nhơn.

-“Hoạt động trong khuôn khổ của hiệp định” biến thành “Hoạt động trong hiệp định khung”. Làm gì có cái gọi là “hiệp định khung”? Dịch như thế vừa dốt tiếng Anh, vừa ngu tiếng Việt.

-BBC tiếng Việt ngày 19/10/2019: “Cú ngã” của thứ trưởng và “trí thức tinh hoa” gặp khó”. Rơi  từ lầu tám xuống đất chết sao có thể gọi là “cú ngã”. Trình độ tiếng Việt như thế mà cũng đòi cầm bút. Ngoài ra cách chấm câu cũng không rành. Một câu trong đoạn văn có dấu trích dẫn (“) thì phải dùng dấu (‘) chứ không thể dùng dấu (“).

-BBC tiếng Việt ngày 7/7/2019: “Asanzo, Big C, Vingroup có khổ vì tâm lý dân tuý ở VN?” Xin BBC tiếng Việt cho biết “tâm lý dân túy” là gì? Có thể người viết cũng chẳng hiểu mình viết gì. Theo tự điển tiếng Anh, “ Populism” mà trong nước gọi là “Chủ Nghĩa Dân Túy”  được định nghĩa như sau : A political approach that strives to appeal to ordinary people who feel that their concerns are disregarded by established elite groups. Như vậy Populism là một phong trào, một khuynh hướng chính trị hướng về tầng lớp bình dân thay vì giành địa vị lãnh đạo hoặc thiên về giai cấp ưu tú giống như Mặt Trận Bình Dân (Front populaire) của Pháp năm 1936 tranh đấu để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp công nhân. Như vậy Populism có thể tạm dịch là phong trào bình dân, phong trào quần chúng, chủ nghĩa hướng về dân đen.

–Đường tiểu ngạch. Báo VOV ngày 22/10/2019 viết,   “Phượng sẽ từ Thái Lan về Việt Nam thăm gia đình theo đường tiểu ngạch”. Viết như thế này chẳng ai hiểu “đường tiểu ngạch” là gì cả. Thực ra nó chỉ là “các ngõ ngách ở biên giới” thay vì đi đường chính.

-Báo VOV ngày 22/10/2019: “Sân bay Long Thành – Hạ tầng “khủng” kích bất động sản Đồng Nai.” Đố toàn dân Việt Nam hiểu tiêu đề này nói gì. Đúng là tiếng Việt ngu dốt và điên khùng!

–Bức xúc. Hiện nay tôi đã đọc biết bao lần hai chữ “bức xúc” thậm chí nghe các ông “chống cộng” ở hải ngoại này bắt chước nói “bức xúc” mà thực sự tôi vẫn chưa hiều “bức xúc” là gì? Phải chăng là bực bội, bực tức, bị dồn nén, bị bức bách? Nếu đúng vậy thì tại sao không dùng mà lại dùng một chữ lạ hoắc khiến ít ra dăm ba triệu người Việt không hiểu nghĩa của nó ra làm sao.

Vậy thì tôi lạy các ông ký giả BBC và VOV thôi đừng viết nữa kẻo lâu rồi sẽ biến Việt Nam thành một dân tộc có tiếng nói khác hẳn với tổ tiên, khác hẳn với đồng bào xa quê mà vẫn còn giữ được tiếng Việt truyền thống. Ngôn ngữ bất đồng khiến chia đôi hay chia ba dân tộc. Nhớ lại ngày 30/4/ 1975 khi nghe Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam ra thông cáo yêu cầu Quân-Cán-Chính VNCH ra trình diện để “học tập cải tạo” cả Miền Nam ai cũng nghĩ rằng tới một trung tâm, trại nào đó nghe giảng về chính sách mới một tháng rồi cho về. Nào ngờ “học tập cải tạo” là đi tù “mút mùa Lệ Thủy”, không xét xử, không bản án.

Thật là kinh hoàng khi mà chính người Việt Nam khi về thăm quê bây giờ phải đem theo một thông dịch viên mới có thể hiểu “người Việt mới” trong nước nói gì. Đúng là thảm họa văn hóa!

Đào Văn Bình

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lại Nói Về Tiếng Việt Điên Khùng! (Đào Văn Bình)