Giỗ 100 Ngày Mất K1 Phạm Văn Cư

Giỗ 100 Ngày Mất K1 Phạm Văn Cư

(Tường trình của TK-1): Vào lúc 11 giờ sáng Thứ Bảy ngày 22/12/2018, gia đình bạn K1 Phạm Văn Cư đã làm lễ giỗ  kỷ niệm 100 ngày mất của bạn Cư tại Chùa Điều Ngự, TP Westminster, Nam California. Đông đảo các anh chị cựu K1/HVCSQG đã đến dự cùng một số thân hữu các Khóa bạn và Hội AH/CSQG Nam California. Cùng hiện diện tại đây còn có ông bà NT Trần Quan An (Chủ Tịch HĐQT/TH/CSQG) và ÔB NT Ngô Bá Phước (Cựu LĐT/LĐSV/HVCSQG). Sau buổi lễ cầu siêu và lễ xả tang của gia đình bạn Cư, mọi người đã được chị Trần Thị Nga, phu nhân của cố K1 Phạm Văn Cư, mời dự một bữa tiệc chay ngay tại hội quán của Chùa.

Dưới đây là một số hình ảnh do phó nhòm K1 Võ Thiệu ghi lại:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Giỗ 100 Ngày Mất K1 Phạm Văn Cư

Thiệp Giáng Sinh và Năm Mới_ToanNhu

Thiep Giang Sinh 2019

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiệp Giáng Sinh và Năm Mới_ToanNhu

Chia Buồn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chia Buồn

Sài Gòn bây giờ_BS Đỗ Hồng Ngọc

Image result for con gái Saigon bây giờSAIGON BÂY GIỜ!

Saigon bây giờ không thấy có người đẹp nữa! Xưa ra đường cứ thấy người ta vừa chạy xe vừa… ngoái đầu lại nhìn. Bây giờ ra đường người con gái nào cũng trùm kín mặt, mang vớ dài tay, găng tay kín mít, áo khoác sùm sụp, đầu đội mũ bảo hiểm, chỉ chừa hai con mắt lom lom qua kính bảo hộ… !
Ở trên cao nhìn xuống người người dày đặc, từng luồng từng luồng cuồn cuộn trôi đi, lâu lâu cụng mũ bảo hiểm một cái rồi mạnh ai nấy đi, cứ như đàn kiến. Đi bộ trên đường nhiều khi gặp người chào hỏi thân thiện mà chẳng biết ai là ai, đến lúc như chợt nhớ ra họ mới gỡ khẩu trang cười lỏn lẻn. May thay, con gái Saigon bây giờ tuy che mặt mà lại hở đùi! Họ mặc quần short thật ngắn ra đường bất kể sáng trưa chiều tối. Nhờ đó mà cũng có thể nhìn ra người đẹp! Có điều hơi nguy hiểm cho giao thông công cộng vì đường sá không thông thoáng như xưa.

Áo dài thì khó mà tìm thấy nữa rồi- trừ trên sân khấu và sàn diễn thời trang. Con gái vì thế mà không còn yểu điệu, dịu dàng, tha thướt nữa. Ngay cả những ngày lễ tết, ở đường hoa Nguyễn Huệ rực rỡ vậy mà cũng khó tìm thấy một tà áo dài.

Mọi người trở nên hấp tấp, vụt chạc, căng thẳng hơn bao giờ hết. Cái lý do vì sao mất áo dài rồi phải trùm kín mít cả người như vậy thì ai cũng biết. Bụi khói mù trời. Không khí hừng hực. Môi trường đô thị ngày càng xấu đi. Cây xanh tàn rụi. Cao ốc vùn vụt bốc lên!

Saigon bây giờ béo phì ngày càng tăng! Một sự phồn vinh thực chớ không phải giả tạo. Béo phì nhanh nhất ở phụ nữ và trẻ con. Các chuyên gia dinh dưỡng la ơi ới, báo động hoài mà chẳng ai thèm nghe. Nghe chi cho mệt. Các cửa hàng fastfood cứ mọc ra như nấm. Ai cũng biết fastfood tới đâu, béo phì, tim mạch, tiểu đường, huyết áp… theo tới đó. Mà bệnh tật càng tăng thì… càng tốt chớ sao. Thuốc men, thực phẩm chức năng, quảng cáo ồn ào thì kinh tế càng phát triển. Thức ăn thức uống toàn hương liệu, hoá chất, bột nêm các thứ làm cho chuyện bếp núc trở nên đơn giản. Cứ xem TV thì biết. Người nào người nấy già trẻ lớn bé mặt mũi bóng lưỡng, hí hửng chụp giựt nước uống thức ăn, nhảy nhót mừng vui tưng bừng mọi nơi mọi lúc!

Saigon bây giờ cận thị quá trời! Trẻ con nứt mắt đã cận thị. Mẫu giáo tiểu học cận thị tùm lum. Tiệm kiếng mở ra tràn ngập, góc nào cũng có. “Chỗ nào rẻ hơn trả lại tiền!”. Ấy cũng nhờ vi tính, game online, TV… các thứ ngày càng hấp dẫn. Thế giới nhỏ trong lòng bàn tay. Trẻ con sướng như tiên. Đồ chơi trên trời dưới biển khắp hang cùng ngõ hẹp. Lâu lâu kêu có hóa chất độc hại. Khi biết thì mọi thứ đã muộn rồi. Kể cả thuốc “cam” nổi tiếng một thời nay gây ngộ độc chì không thuốc chữa. Lạ là người ta vẫn cứ tin và vẫn cứ nhắm mắt uống càng! Các loại sữa “thông minh” dành cho trẻ con ngày càng nhiều, khiến các bà mẹ không muốn cho con bú sữa mình nữa. Rõ ràng các thế hệ trước đây không được uống sữa thông minh nên có vẻ kém… thông minh!

Saigon bây giờ loãng xương hơi nhiều. Đi ngoài đường thấy người ta lố nhố, tụ tập, tưởng gì, hóa ra đang túm tụm đo xương! Có người tử tế, vì sức khỏe cộng đồng, đem máy đo mật độ xương ra ngoài đường đo cho ông đi qua bà đi lại. Ai cũng loãng xương kẻ ít người nhiều! Sau đó ai cũng mua một vài hộp sữa, một vài loại thuốc chống loãng xương là xong.

Saigon bây giờ đua nhau sửa sắc đẹp. Ai cũng sửa được, không cần phải học. Ai cũng nên sửa, từ cô hoa hậu đến ca sĩ, người mẫu, cô hàng xén, anh doanh nhân. Bơm vú bơm mông, cắt mắt, xẻ mũi, chẽ cằm rào rào. Ai cũng thành người mẫu ca sĩ Hàn quốc. Nhan sắc rộ lên khiến các nhà thơ bí không còn làm thơ được nữa!

Saigon bây giờ trẻ con bỗng dậy thì sớm. Không dậy thì sớm cũng uổng! Mọi thứ kích thích cứ rần rật chung quanh. Phim ảnh, internet, sách báo… các thứ. Thức ăn thức uống béo bổ các thứ. Khí hậu nóng lên. Tỷ lệ phá thai vị thành niên tăng một cách đáng ngại. Tình trạng vô sinh cũng nhiều. Ly dị cũng mau. Người ta đua nhau mổ đẻ cho đúng giờ hoàng đạo. Trẻ sanh non, suy hô hấp, thiếu dưỡng khí não, lớn lên tâm thần cũng bộn!

Tóm lại, sức khỏe cộng đồng ở Saigon bây giờ có nhiều điều đáng suy gẫm. Sài Gòn đẹp lắm nay còn đâu…!
Bs.Đỗ Hồng Ngọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sài Gòn bây giờ_BS Đỗ Hồng Ngọc

Bản tin nội bộ

Tin nội bộ
Trước hết báo cho các bạn tin vui  rằng mình trở lại làm việc trong Căn Nhà Nhỏ được rồi. Hôm Thansgiving thằng con trai mua tặng cho Ba cái Laptop HP và hôm nay đã cái đặt xong MO chính thức, không sợ bị ông Bill Gate quấy rầy nữa
Sau đây là tin K1.
Cả tuần nay bạn K1 Trần Vĩnh Trường ở Texas có gọi phone hỏi mình về trường hợp của Cố K1 Trần Trung Tiến sau khi ra trường đi về đâu. Theo SVL sau khi tốt nghiệp thì bạn Trần Trung Tiến số TT 38 và Trần Vĩnh Trường số TT45 được bổ nhiệm về Khối CSĐB. Bạn Trần Vĩnh Trường thắc mắc sao hai đứa cùng về KĐB và số thứ tự rất gần nhau mà Trường không biết. Mình không biết giải thích như thế nào vì cho đến bây giờ mình chưa một lần gặp lại hai bạn nầy.
Trường có gọi phone cho Phan Hữu Nghi hỏi, nhưng bạn Nghi nói cũng không biết. Do đó bạn Trường hỏi tới hỏi lui mình hoài.
Sở dĩ như vậy, là vì bạn Trần vĩnh Trường hằng tuần đi đến sinh hoạt tại Hội Cao Niên, tại đây Trường gặp người anh của Trần Trung Tiến. Anh này cho biết Trần Trung Tiến bị VC giết ngay trong 3 tháng đầu đi tù cải tạo, vì trốn trại vượt biên. Trước đó TTT làm phụ tá ĐB ở tỉnh nào đó. Trường hỏi mình, mình cũng không biết. Người anh của cố K1 Trần Trung Tiến muốn biết các thời gian phục vụ của em mình trước 1975 để làm tiểu sử.
Vậy các bạn nào có làm việc chung với Trần Trung Tiến hay quen biết với TTT xin vui lòng cho biết để theo yêu cầu của một người anh.
Riêng bạn Trần Vĩnh Trường lâu nay không thấy sinh hoạt, xin anh trưởng K1 ghi tên bạn Trường vào email group để bạn ấy theo dỏi sinh hoạt của anh chị em chúng ta.

truongvtran44@gmail.com

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản tin nội bộ

Chê Cali_Huỳnh Ngọc Chênh

Chê Cali_FB Huỳnh Ngọc Chênh

SF Bridge

Tâm lý mọi người nói chung, khi đến nơi giàu sang tốt đẹp hơn quê nhà thì khen hết lời, khen để học tập. Đó là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên người Việt sống trong chế độ cộng sản, thì việc khen chê phải có định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhớ hồi năm chín mấy của thế kỷ trước, lúc ông phó thủ tướng Trần Đức Lương mới đi thăm Mỹ về, tui phỏng vấn ông ta về nước Mỹ. Ông vô tư khen nước Mỹ nhiều thứ lắm, nhưng sau đó chợt nhớ ra, ông tự chấn chỉnh lại, “nhưng nước Mỹ cũng có nhiều cái xấu lắm”, tui hỏi cụ thể xấu cái gì thì ông lúng túng nói chung chung, nó bóc lột công nhân ghê lắm, nó tự do dân chủ quá trớn nên xã hội luôn mất ổn định…

Cũng vào thập niên 90, tui có mặt trong đoàn nhà báo đi thăm Hàn Quốc do anh Võ Như Lanh, tổng biên tập TBKTSG làm trưởng đoàn. Từ trong quê mùa của những năm 90, thấy Hàn Quốc, ai cũng choáng ngợp, đi đến đâu, thấy cái gì cũng khen ngất trời. Khen nhiều đến mức mà một nhà báo tiến bộ như anh Lanh cũng thấy không ổn, anh chấn chỉnh: khen nhiều rồi, bây giờ chúng ta phải tìm ra cái chi xấu, cái chi thua VN để chê. Vậy mà cả đoàn nhà báo gần 10 người, trong ba ngày còn lại không tìm ra một cái gì xấu, cái gì thua VN để chê. Cuối cùng tui bông phèn một câu rất mất quan điểm lập trường: Thằng Hàn quốc tệ hơn VN là không chịu để cho Triều Tiên giải phóng.

Bây giờ tui qua Cali ở gần một tháng, mới khen phở Cali ngon và khen chuyện quản lý chăm sóc trẻ con tốt đã bị nhiều người Việt XHCN, cháu ngoan bác Hồ nhảy bổ vào chửi bới, đ*t mẹ thằng bu càng nịnh Mỹ, khen cả cứt Mỹ cũng thơm hầu xin xỏ suất tị nạn hoặc lợi lộc gì đó.

Chừ tui sợ quá, bằng tự điều chỉnh, tìm cách chê Cali đây.

Thời tiết, đất đai và thổ nhưỡng Cali tệ hơn VN rất nhiều. Bay từ San Francisco xuống Los Angeles, nhìn xuống thấy cả một vệt đất khô cằn, núi đồi trùng điệp phủ toàn một màu vàng khô của cỏ cháy hoặc của đất đá trơ cằn, mỏi mắt tìm một chút màu xanh không thấy.

Khi máy bay hạ thấp xuống mới thấy được cây xanh trong các khu dân cư và trong các thành phố. Trái với VN, bay ra khỏi thành phố là thấy màu xanh ngút ngàn.

Cali mưa ít, phía tây tiếp giáp với sa mạc nên thiếu nước trầm trọng. Hầu hết đồi núi đều khô trọc, nơi nào có rừng thì phần lớn là các loại cây có dầu như thông, tùng, sồi và cây gì đó rất giống cây bạch đàn…không khí lại rất khô nên cháy rừng xảy ra thường xuyên dù không bị đốt. Ngược lại ở VN ta rừng bị cố ý đốt liên miên nhưng cũng chỉ cháy chút chút rồi tự tắt chẳng cần phải cứu chữa khổ sở như ở Cali.
Chủng loại cây đã ít mà chủng loại chim thú càng ít hơn VN. Tuy nhiên số lượng của chúng thì nhiều vô cùng. Chim ở đây thịt rất dỡ nên không ai thèm bắt ăn. Ngỗng, ngan, vịt trời, le le mập ú tràn ngập các hồ nước, công viên, có lẽ thịt nó tanh lắm và máu nó hôi hơn ngỗng vịt ở VN nên không bị bắt làm món tiết canh. Tự dưng rất tự hào khi nhớ đến lời ngài phó thủ tướng tiến sĩ kinh tế Vương Đình Huệ khi ngài cho rằng vịt trời là mũi nhọn xuất khẩu đặc sản của VN.

Con người ở Cali bị khó dễ mọi điều, bị cấm đoán đủ thứ như cấm uống rượu bia nơi công cộng, cấm hành hạ thú cưng và gia súc, cấm cả việc đụng chạm đến chim muông đến cả con sò con ốc, viên đá vô tri. Hôm qua tui mới đến chơi ở bãi biển Laguna và Dana Point, thấy có biển cấm to đùng cắm ngay bên mỗi cổng xuống biển với nội dung: Không dắt chó xuống biển, không dẫm đạp nghêu sò và tất cả các loại sinh vật biển, không nhặt lượm võ nghêu sò ốc hến, không nhặt sỏi đá, không thay đổi vị trí của các viên đá sạn… Vì thế mà nhà cầm quyền Mỹ rất tệ khi đã bắt phạt một vị đường đường đại sứ Việt Nam chỉ vì vị nầy vô tư mò ốc trên suối để cải thiện.

Cali rất thiếu bê tông, hầu hết nhà cửa phải làm bằng gỗ và vật liệu tổng hợp đã đành đến các ao hồ sông suối ngay trong lòng thành phố cũng hiếm khi được kè bê tông hoành tráng như Hồ Tây của Hà Nội. Các khu hoang dã thì để dưới mức hoang dã, đường đất quanh co, cây cối mọc nghiêng ngã lộn xộn, um tùm. Nơi nào buộc phải làm đường bê tông để du khách đi lại cho dễ thì hai bên đường trồng cây cối lau lách lên um tùm che khuất người với chim thú bên trong, thỉnh thoảng lắm mới bố thí cho người một chỗ nhòm chim thú hai bên đường bằng cách cắt thấp cây cỏ một ô chừng vài mét. Hồ Tây và các bờ sông vào thành phố ở VN sạch tưng, đố hòng tìm thấy một bụi lau sậy hoang dã… làm bẩn cả mắt.

Đất đai Cali rộng hơn VN nhưng toàn đất hoang đồi trọc, dân số thì ít hơn rất nhiều lại không thuần và ngoan như dân VN.

Dân Cali là một tập hợp hổ lốn phức tạp gồm da trắng, da đen, da vàng, da đỏ… đến từ mọi phương trời, ngôn ngữ thì hầm bà lằng gồm tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Tàu, tiếng Việt… Hì hì, lại không có tiếng Mỹ, thế có ốt dột không.

Dân Cali không ngoan vì họ chẳng sợ thằng nào kể cả thống đốc hay tổng thống và cũng chẳng thằng nào sợ họ. Họ chỉ sợ mỗi pháp luật, đứng trước pháp luật thằng nào cũng như thằng nào, cũng xanh mặt, thun cu kể cả thằng tổng thống. Nghe ngài Trump đang bị thế. Ngược lại dân VN tuy ngoan ngoãn nhưng rất anh hùng, chẳng sợ pháp luật, chỉ sợ thằng lãnh đạo cấp trên và thằng chí phèo thôi.

Dân số Cali chỉ gần 40 triệu, đất đai cằn cỗi, tài nguyên không nhiều, nhưng nó làm ra tiền khủng khiếp, GDP nó đứng thứ 6 toàn cầu nghĩa là nó chỉ thua 5 nước Mỹ, Tàu, Nhật, Đức, Anh mà thôi. Điều đó chẳng tốt lành gì, vì của cải đó phần lớn do bóc lột người lao động mà ra. Chỉ 40 triệu người mà làm ra lượng của cải khổng lồ đứng thứ 6 thế giới thì cường độ bóc lột, vét kiệt tâm sức người lao động đến mức cùng cực như thế nào khó mà kể siết. Do vậy nhận định của ngài Trần Đức Lương hoàn toàn không sai.

Nhà cầm quyền tư bản Cali nói riêng và nước Mỹ nói chung, rất lạnh lùng và vô ơn. Viết bài bưng bô ca ngợi nó bao nhiêu nó cũng chẳng thèm biết ơn tặng cho người viết phong bì hoặc ưu tiên cho một chút lợi lộc nào đó như ở VN. Ngược lại, nói xấu nó hay nói xấu làm mất uy tín lãnh đạo của nó, nó cũng rất vô cảm, chẳng thèm care.

Do vậy tui viết bài chê Cali này là nhằm phục vụ cái sướng cho các vị cháu ngoan bác Hồ, những con người mới xã hội chủ nghĩa, mong các vị tha thứ mà cho tui một suất trở về VN quê hương an toàn.

PS: Tui chỉ quanh quẩn Cali nên chỉ dám chê Cali, tui mà đi hết nước Mỹ thì phải biết, tui chê không còn manh giáp nào.

FB Huỳnh Ngọc Chênh
15-12-18

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chê Cali_Huỳnh Ngọc Chênh

Ăn Gì Để Ngăn Ngừa Ung Thư_YouTube

Ăn gì để ngăn ngừa ung thư?

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ăn Gì Để Ngăn Ngừa Ung Thư_YouTube

Mặc Cảm Của Sự Dốt Nát – Nguyễn Liệu

Mặc Cảm của Sự Dốt Nát_Nguyễn Liệu

Năm 1976, chấm dứt chiến tranh, Bác Sĩ Tôn thất Tùng, một bác sĩ giỏi, học tại Pháp, kẹt trong kháng chiến, rồi phải phục vụ cho Việt Cộng, đã mạnh dạn viết bài báo đề nghị bác sĩ Việt Cộng được đào tạo trong chiến tranh, phải thi và học lại. Nếu không học lại hoặc học mà thi không đậu, thì không cho hành nghề vì không đủ tiêu chuẩn của một bác sĩ. Tôn Thất Tùng, một đảng viên Cộng Sản, cũng phải đợi gần 80 tuổi mới liều mạng nói một sự thật mà đã cắn răng chịu đựng gần hết cuộc đời. Bởi vì chính ông đã chứng kiến đã đào tạo những đảng viên trung kiên, dốt nát trong 6 tháng trở thành bác sĩ y khoa, đáng lẽ phải đào tạo từ 6 năm đến 15 năm sau khi tốt nghiệp trung học..Tại sao không gọi y tá mà phải gọi bác sĩ. Đó là đặc điểm của….Dốt nhất, nghèo nhất, ít suy nghĩ nhất, ngu nhất, là những yếu tố căn bản của đảng viên trung kiên Cộng Sản. Mac và Engels quan niệm, con người ngu nhất, nghèo nhất là con người trung thành nhất. Giai cấp bần cố nông, công nhân thấp nhất, là giai cấp tiên phong của đảng cộng sản, ngoài ra là những giai cấp phản động, muốn dùng chúng phải cải tạo chúng theo giai cấp tiên phong.Từ ngày có đảng Cộng Sản Việt Nam, người có học bị xem là kẻ thiếu trung thành, kẻ phản bội, cho nên lãnh tụ Mao Trạch Đông quá mặc cảm dốt nát đã nói thẳng thừng “trí thức không bằng cục phân”. Câu nói đó trở thành một nguyên lý cho đám cán bộ lãnh đạo Cộng Sản. Câu nói của Mao Trạch Đông đó làm cho người lãnh đạo Cộng Sản tự tin rằng mình có giá trị, có bản lĩnh, có đạo đức cách mạng vô sản, vì mình không phải là trí thức, tức mình hơn cục phân. Nhiều lần tôi đã nói, nếu Hồ Chí Minh là một trí thức như cụ Phan Châu Trinh, như Nguyễn Thế Truyền,… thì không bao giờ được làm bí thư của đảng Cộng Sản Đông Dương. Thiếu bằng cấp, dốt nát, là một lợi khí tốt để cho Hồ Chí Minh bước lên nấc thang lãnh đạo đảng Cộng Sản.

Tôi, người viết bài này, đã chứng kiến trước mặt, cái cảnh thê thảm của người lỡ có bằng cấp, muốn được đảng tin không biết làm sao xóa bỏ cái lỡ hiểu biết của mình. Cố nhiên họ một mặt không dám đọc sách, nhất là sách ngoại ngữ, vì giai cấp bần cố nông, bọn ăn mày ăn xin ngoài chợ, không làm chuyện đó. Hình thức thì có phần dễ, họ ăn mặc rách rưới, để thân thể cho dơ dáy, ngồi cạnh họ phải có mùi hôi của dân lao động chân chấm tay bùn. Ngôn ngữ rất khó, họ sợ hai chữ lãng mạn của lớp tiểu tư sản. Ví dụ họ không dám nói “trăng đẹp, hoa hồng đẹp, Tây Thi đẹp…” mà thường nói cho nhiều người nghe “ đống rơm của bác đẹp quá, các luống cày đẹp quá, hố ủ phân tuyệt đẹp. Bác (Hồ Chí Minh) cầm cây cuốc đẹp quá, chú Đồng nhỗ cỏ đẹp quá…chị nuôi bản lĩnh quá, đẹp quá, chị du kích đứng gác đẹp quá v.v…Bởi vậy Chế Lan Viên mới viết “Một lỗ hầm chông đẹp hơn vạn đoá hoa hồng”, Tế Hanh viết “Năm nay anh trồng cây bưởi góc nhà”. Tôi chắc chắn trên 100% những người có học, không cần nhiều, cỡ lớp đệ tứ niên ngày xưa trở lên, nếu kẹt trong chế độ Cộng Sản từ 1945 đến 1975 đều ít nhiều phải đóng kịch như thế (Các thầy Hoàng Tuỵ, Lê Trí Viễn, Nguyễn Thiện Tụng, Phan Thao (con cụ Phan Khôi), Trần Tế Hanh… đã qua thời kỳ cố lột xác như thế. Nếu không lột xác thì không được vào đảng). Sau năm 1975, hết chiến tranh, Cộng Sản về thành, nhất là thành phố Sài Gòn. Đám cán bộ trung cấp và cao cấp từ Bắc vào, từ núi xuống, từ bưng biền ra, chới với trước nép sống có văn hóa của người dân miền Nam, chế độ cũ. Sự ngớ ngẩn dốt nát lố bịch của đám cán bộ đó đã làm cho dân chúng miền Nam khinh khi, và đã có nhiều chuyện tiếu lâm ngày nay vẫn còn truyền. Từ chỗ học tập làm cho giống lớp bần cố nông để vào đảng, nay cũng những cán bộ đó học tập làm cho giống lớp tiểu tư sản, lớp có tiền, lớp trí thức. Bắt chước cách ăn mặc của lớp tiểu tư sản thì dễ, chỉ cần trước hết, liệng ném cái nón cối, bỏ hẳn đôi dép đế xe hơi gọi là đôi dép bác Hồ (đế xe hơi làm đôi dép nguyên là của cu li kéo xe, người đổ thùng cầu tiêu,… họ quá nghèo, không có tiền mua đôi giày, nên lượm đế xe hơi bỏ làm giầy, và những người này là trung kiên của đảng cộng sản, là cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản sau đó. Cụ Hồ bắt chước họ, cho giống họ, nên dùng đôi dép đó chứ Hồ Chí Minh không sáng chế ra đôi dép đó, thế mà gọi là dép bác Hồ bác cũng nhận bừa, không cần đính chính, đó cũng là tính chất của…).

Họ, cán bộ Cộng Sản, xa lánh ngay lớp bần cố nông nghèo đói. Ngày trước cán bộ Cộng Sản nếu kể lai lịch cha mẹ ông bà có người đói, người làm mướn, người ăn xin ăn mày, thậm chí có người chết đói, thì họ rất hãnh diện vì họ thuộc thành phần tốt nhất, vô sản nhất, lành mạnh nhất, trung kiên nhất. Ngày đó nếu cán bộ nào có cha mẹ, bà con, ông bà, là người khoa bảng, làm quan, thì xem như kẻ phản bội. Bởi vậy dù cố gắng tới mức nào, Phạm Tuyên con quan Thượng Thư Phạm Quỳnh, Bùi Tín con cụ Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn, Hoàng Tụy con cháu Tướng Hoàng Diệu, nhiều lắm là làm nhạc sĩ , làm báo, làm giáo sư khoa học, không bao giờ được vào hàng ngũ cán trung kiên của đảng. Từ ngày họ bắt chước người tiểu tư sản người trí thức thì họ cố tập cho ra lớp người này. Về ăn mặc, nói năng, kiểu cách ăn chơi, tiêu tiền, lễ nghi v…v.. dù sao cũng dễ bắt chước nhất là bắt chước sự ăn chơi sa đọa thì rất dễ. Nhưng bắt chước có trình độ hiểu biết thì thật là khó, gần như vô vọng.Để khắc phụ sự khó khăn đó, đảng chủ trương cho học tại chức, học không cần đến trường, học không cần đọc sách, học không cần làm bài, và một năm có thể ghi danh vài ba lớp. Phải cần 12 năm để học hết trung học, đảng cho học hai năm hết trung học. Bằng cử nhân bằng tiến sĩ cũng vậy cũng học tại chức. Phe chiến thắng mà bị dân chúng chê dốt, đó là điều đau khổ nhất của Việt Cộng. Đó là lý do bằng tiến sĩ mọc lên như nấm. Thêm vào đó, phong trào thi đua tham nhũng phát triển mạnh. ‘Ngành ngành tham nhũng, người người tham nhũng’, thì bằng cấp không cần ghi danh chờ thời gian nữa, mà có ngay, nếu có số tiền quy định. Cán bộ Cộng Sản, nhà cửa có rồi, xe cộ có rồi, tì thiếp có rồi, bỏ nón cối, bỏ áo lãnh tụ, bỏ đôi dép Bác Hồ, ăn mặc kiểu tân tiến, kiểu Mỹ, tiệc tùng, uống rượu, cà phê, uống trà, nhảy đầm, theo kiểu bọn quý phái phong kiến ngày xưa… Nhưng còn thiếu trình độ học vấn để nông dân, dân lao động không khinh bỉ “dốt mà làm sang” nên phải có mảnh bằng. Đã mua thì chịu tốn mua thứ cao nhất tốt nhất, và do đó bằng tiến sĩ đảng bán đắt như tôm tươi. Một đề nghị thực tế. Tôi hoàn toàn đồng ý với đảng Cộng Sản ồ ạt sản xuất bằng cấp để đánh tan thành kiến “Cộng Sản là bần cố nông”. Trước năm 1954, dân chúng ở Quảng Ngãi có ý khinh thường đám cán bộ đảng thường nói “bọn bcn, tức bọn bần cố nông”. Không riêng gì ở Việt Nam ở Cuba, Bắc Hàn ngày nay tiến sĩ bác sĩ đầy đường đầy sá, không làm gì cho hết. Bởi vì học rút ngắn thời gian, hạ thấp chương trình, và ưu tiên cho đảng viên không có thì giờ đi học và không biết chữ, hoặc biết sơ sơ, nhưng cần có bằng tiến sĩ. Để khỏi gây tác hại cho dân chúng, tôi đề nghị, đảng không nên khuyến khích đảng viên cán bộ đảng nhận bằng tiến sĩ về y học, khoa học. Vì hai loại này có thể đưa đến chỗ giết người vì không thực học.

Tôi còn nhớ rất rõ năm 1984, ra khỏi tù tôi về Sài Gòn. Con tôi bị sốt tôi nghi là sốt xuất huyết tôi đem vào Bịnh Viện Nhi Đồng. Theo lời khuyên chân thành và khẩn cấp của dân chúng, tôi thức trắng đêm bên giường bịnh, để canh chừng bác sĩ. Lúc đó Bịnh Viện Sài Gòn có hai loại bác sĩ, một loại của chế độ cũ còn lại, một loại tập kết mới về, loại Bác Sĩ Tùng đã cảnh cáo cho dân chúng biết. Tôi canh chừng nếu bác sĩ tập kết về khám bịnh hoặc chích thuốc cho con tôi, thì lập tức tôi cản không cho, và tôi cũng canh chừng nếu đứa nhỏ không sống được tôi phải bảo vệ xác chết của nó cho được toàn vẹn, đó là lời khuyên của đồng bào miền Nam.

Cấp bằng tiến sĩ không gây tác hại cho dân chúng, nên chọn những loại như văn chương nghệ thuật, phong tục, v..v… càng viễn vông càng mơ hồ càng tốt. Tôi rất phục TÔ HUY RỨA, TIẾN SĨ DỐT NHẤT Ở VIỆT NAM biết thân phận mình nên không chọn tiến sĩ y khoa hay tiến sĩ cầu cống, cũng không chọn tiến sĩ kinh tế, tiến sĩ luật, tiến sĩ giáo dục… vì những thứ này dễ lòi đuôi chuột khi đụng đến thực tế. Ông chọn tiến sĩ “xây dựng đảng”, không làm hại người nào. Đảng nên xem bằng tiến sĩ như phẩm hàm cửu phẩm bát phẩm ngày xưa triều đình cho các viên chức đúng tiêu chuẩn. Những chức này không làm hại người nào, chỉ để gọi danh xưng mà thôi. Người ta thường gọi tiến sĩ về ngành gì ví dụ ông Nguyễn Văn A tiến sĩ kinh tế, ông Nguyễn Văn B tiến sĩ toán học v..v…Những tiến sĩ này vô hại nên phát cho đảng viên: Tiến sĩ văn chương thơ Bác, tiến sĩ ca dao kháng chiến, tiến sĩ mưa phùn gió Bấc,Tiến sĩ cá thài bai,tiến sĩ buổi chiều vàng, tiến sĩ đồng lúa chín…..Tôi ví dụ như vậy để các ông tiến sĩ không làm cho dân chúng lo lắng. Bởi vậy khi tôi nghe đảng ra quyết tâm phấn đấu trong 10 năm nữa sẽ đào tạo 20 ngàn tiến sĩ, tôi tin tưởng việc này đảng làm được và làm hơn có thể đưa lên gấp 10 tức 200 ngàn tiến sĩ.

Nguyễn Liệu

(Nguồn: TVVN.org)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mặc Cảm Của Sự Dốt Nát – Nguyễn Liệu

Nỗi Lòng với tiếng hát “Gà Mái Tre” HTKO

Cầu mong cho  ” Gà Mái Tre” sớm bình phục.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nỗi Lòng với tiếng hát “Gà Mái Tre” HTKO

Get Well Soon

 Nghe tin chị Huỳnh thị Kim Oanh hiền thê của bạn Lê Quang Phú bị b ệnh phải vào bệnh viện điều trị. CNN mến chúc chị Oanh sớm hồi phục sức khỏe. Chúc bạn Phú chân cứng đá mền để  giúp đở vợ trong những phút giây này.
NCV và gia đình

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Get Well Soon

Gà Mái Tre Kim Oanh nhập bệnh viện

(Bản tường trình của K1 Lê Phát Minh từ Houston/TX): Hôm nay (14/12/2018) k1 Lê Phát Minh và bà xã Ngọc Lệ cùng k1 Nguyễn Ngọc Kính đã vào bệnh viện Memorial Herman Khu Medical Central Houston thăm chị Kim Oanh (còn có biệt danh là Gà Mái Tre), phu nhân k1 Lê Quang Phú, vừa giải phẫu gan, kết quả tốt – Đang trong thời gian tịnh dưỡng (Rehabilitation).
Chúc chị Kim Oanh sớm bình phục để anh chị em cùng nhau thực hiện một chuyến du lịch bằng Du Thuyền giống như tháng 4 năm 2015.

Nhân dịp này, CNN cũng xin gởi đến Chị Kim Oanh GMT những lời chúc tốt lành nhất và cầu mong Chị mau sớm hồi phục.

 

Image may contain: 4 people, including Lisa Lê, people standing

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gà Mái Tre Kim Oanh nhập bệnh viện

Người Đưa Thư_Nguyên Nhung

Image result for santa mailmanNgười Đưa Thư

Thời gian mới định cư ở Hoa Kỳ, khi đến cư ngụ khu chung cư nhiều người Việt tôi đã thấy ông ta. Đó là người đưa thư, có bộ râu hung hung xồm xoàm viền quanh miệng, khiến thoạt nhìn người ta thấy ông có nét một ông già Santa Claus mỗi mùa Giáng sinh. Nụ cười hiền, đôi mắt xanh mông mênh màu biển, ông là người đều đặn mang niềm vui cho đám cư dân sống ở chung cư, đa số mới từ Việt Nam sang , thường ngóng những cánh thư ở quê nhà.
Ông ta trạc độ ngoài năm mươi, dáng dấp khỏe mạnh, khó đoán tuổi cho chính xác vì bộ râu xồm xoàm đó. Mỗi buổi chiều, khi chiếc xe của Bưu Điện chạy vào con dốc đầy ổ gà, nơi đặt mấy thùng thư đã thấy có người đứng đợi. Đa số là người già, không biết làm gì cho hết ngày, đi lấy thư cũng là một cái thú. Ông ta bỏ thư vào từng hộp thư của mỗi nhà trong xóm, xong lái xe đi, không quên giơ tay vẫy mấy đứa trẻ đang chơi đùa trên khoảng sân trống.
Mãi cho đến một hôm, trời mùa đông lại mưa tầm tã, tôi thấy người đưa thư ngừng xe trước cửa căn chung cư, rồi chạy ào vào hiên gõ cửa, đưa cho tôi một lá thư. Lá thư của người bạn học từ Việt Nam gửi sang, đề trúng tên người gửi và địa chỉ “zip-code”, nhưng thiếu số nhà của căn chung cư, không hiểu sao ông ta lại biết là của tôi. Chính vì thế mà tôi biết ông đọc được tiếng Việt, lại còn quen cả tên của người nhận thư, rồi vì sợ thư không đến tay người nhận, thay vì trả lại cho Bưu Điện, ông mang thư đến thẳng nhà tôi.
Hôm ấy trời bão rớt, mưa suốt từ sáng đến chiều chưa ngớt, bầu trời xám xịt khiến mùa Đông càng có vẻ rét mướt. Tôi cảm động nhận lá thư từ tay ông, nhìn ông ướt át trong chiếc áo mưa màu vàng, những bụi mưa còn đọng trên mái tóc đã ngả bạc với bộ râu hung hung viền quanh miệng. Ông hỏi, bằng tiếng Việt:
” Xin lỗi, có phải tên cô không?”
Tôi ngạc nhiên, vì lần đầu nghe ông ta nói tiếng Việt, chực nhớ lại bà con trong khu chung cư, gặp nhau ngoài thùng thư vẫn hay nói chuyện này nọ về xứ Mỹ và người Mỹ, có lẽ ông đã nghe được cả. Tôi nhận đúng là tên mình, rất cảm kích vì tấm lòng của người đưa thư. Ái ngại khi thấy mưa vẫn như trút nước, rặng cây ven đường như mờ mịt đi dưới màn mưa trắng xóa. Tôi hỏi ông, bằng tiếng Anh:
” Ông có vội lắm không? Mời ông vào nhà chơi, mưa lớn quá.”
Ông nheo đôi mắt xanh nhìn trời, cười hiền hậu, nói một câu thành ngữ tiếng Anh:
” It’s raining. . . cats and dogs…”
Đoạn ông ta nói bằng tiếng Việt:
” Mưa lớn quá, giống như mưa ở Việt Nam.”
Tôi mở to mắt nhìn ông thán phục:
” Ông nói tiếng Việt giỏi quá, ông học ở đâu vậy?”
Người đưa thư giơ tay vuốt những giọt mưa trên tóc, trên mặt, giọng thoáng một niềm vui, thật xa vời:
” Từ Việt Nam. Tôi đã từng ở Việt Nam, cách đây ba mươi năm. Việt Nam luôn ở trong trái tim tôi.”
Tôi mỉm cười, một câu xã giao mà người Mỹ nào cũng học qua, nhưng sao ở người đàn ông này, tôi không thấy sự giả dối. Một lần nữa, tôi mời ông vào nhà , không khách sáo, trước khi bước vào căn phòng ấm, ông tháo đôi giày để ngoài cửa, giọng dí dỏm:
” Người Việt thường cởi giày trước khi vào nhà, có phải vậy không?”
Ngạc nhiên vì câu hỏi của ông, một người Mỹ hiểu cả thói quen của người Việt, thật là hiếm, như vậy ông ta chắc phải tha thiết với xứ sở của tôi nhiều lắm, tự nhiên tôi thấy có cảm tình với ông. Như hai người đồng hương đã lâu không gặp nhau, ông thổ lộ:
” Tôi nhớ Việt Nam nhiều lắm, nhớ “người” Việt Nam lắm…”
“ Người Việt Nam” ở đây thì nhiều lắm, sao ông lại nói câu ấy với nhiều cảm xúc trong ánh mắt mà tôi có thể nhìn được. Rồi đưa mắt nhìn khắp căn phòng được bài trí theo kiểu Á Đông, ông dừng lại một bức tranh trên tường vẽ cảnh mùa Xuân, con ngõ nhỏ với hai hàng mai nở vàng thật đẹp. Ông thảng thốt reo lên, giọng lơ lớ:
” Đấy có phải là hoa mai?”
Tôi gật đầu, cảm phục một người Mỹ biết nhiều về xứ sở của mình:
” Ồ! Ông cũng biết hoa mai? Nó là loại hoa biểu tượng cho mùa Xuân ở quê hương tôi, và chỉ nở vào mùa Xuân.”
Ông gật đầu, đôi mắt xanh thoáng một nét bâng khuâng, nhìn theo những sợi mưa nghiêng nghiêng đan nhau trong khung trời mờ tối:
“Tôi biết, vì cô ấy tên Mai, Mai là tên người yêu của tôi, cô học trò bé nhỏ…” Hình như ông xúc động, yên lặng để dấu đi nỗi buồn. Tôi cũng ngạc nhiên không ít, khi khám phá ra mối tình của người đưa thư, một mối tình có lẽ rất đẹp mấy chục năm trước vẫn ấp ủ trong trái tim ông, từ những ngày trẻ tuổi.
Buổi chiều mưa hôm đó, một chiều mưa trên xứ người, nghe câu chuyện tình của người đưa thư, tự nhiên tôi cảm thấy dâng lên trong lòng một nỗi buồn rất Việt Nam, cả cái không khí lãng đãng một chút ngậm ngùi theo từng giọt mưa rớt xuống hàng hiên ẩm ướt. Trong khi chờ mưa ngớt hạt, người đưa thư bồi hồi kể tôi nghe chuyện tình của ông ba mươi năm trước..
* * *
David sinh trưởng ở Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California. Vùng đất phì nhiêu màu mỡ có rất nhiều cánh đồng trồng rau và trái cây, đủ cung cấp cho hầu hết các tiểu bang của Hoa Kỳ. Sinh ra trong một gia đình đông anh em, cả nhà sống trong một trang trại trồng hoa quả vùng ngoại ô, David có bản chất một người đồng quê rất hiền lành và thật thà, yêu thiên nhiên.
Học hết Trung Học, David rời gia đình đến Nam Cali để tiếp tục việc học. Sau bốn năm Đại Học, vốn bản tính hiền lành, thích làm việc thiện, David tình nguyện sang Việt Nam làm công tác giáo dục và thiện nguyện. Do đấy, chàng có một thời gian dài đến gần bốn năm phục vụ trong các trung tâm Việt Mỹ, dạy tiếng Anh cho những người Việt trẻ tuổi.
Lúc ấy David còn trẻ lắm, mới hai mươi hai tuổi. Trước khi sang Việt Nam, chàng được học tiếng Việt sáu tháng, cho nên lúc đến Việt Nam chàng đã bập bẹ nói được những câu xã giao thông thường với người bản xứ. Năm David tới Việt Nam, chiến tranh đang thời kỳ leo thang, nhưng ở thành phố tương đối người dân vẫn sống trong yên bình, chưa nhìn thấy bao nhiêu sự đe dọa của chiến tranh. David chỉ ở Sài Gòn một thời gian ngắn, sau đó được đưa về Cần Thơ. Chính nơi này, thành phố thơ mộng ven bờ sông Hậu, đã khiến David lúc quay về Mỹ, mang theo một vết thương lòng.
David đã có dịp đi lại mấy lần trên nẻo đường mang nhiều sắc thái miền Tây Nam Phần, đó là quốc lộ 4. Những cánh đồng lúa bát ngát, những vườn cây xanh, những mái tranh nghèo khuất sau hàng dừa rủ bóng trên giòng sông đục ngầu phù sa, lắc lẻo nhịp cầu tre bắc ngang sông rạch. Chàng thích nhất những chuyến phà qua sông Hậu Giang, nhất là khi chiều về, vài cọng hoa lục bình màu tím lênh đênh trên sóng nước. Phong cảnh Việt Nam thật lạ lẫm, mới mẻ nhưng gần gụi biết bao, không hiểu sao khi nhìn thấy miền đồng bằng sông Cửu Long lần đầu tiên, David đã cảm thấy yêu mến vùng đồng bằng, êm ả như vùng quê nơi chàng sinh trưởng, dù mỗi nơi đều có nét khác biệt nhau.
Vì là nhân viên dân sự, David may mắn chỉ ở thành phố, không đối diện với chiến tranh như những người lính Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam, và cũng không hề giao tiếp với giai cấp phụ nữ bám theo đoàn quân viễn chinh. Cho nên, những ngày dạy học tại Trung Tâm Việt Mỹ, David thật thơ ngây khi lần đầu tiên trong đời, chàng đã trao trái tim mình cho cô bé Việt Nam, Mai là một cô học trò rất chăm chỉ, ngoan hiền trong lớp học căn bản của Trung Tâm này.
Mai đẹp lắm, ít là dưới mắt của David, một vẻ đẹp Á Đông rất ưa nhìn. Mái tóc đen mượt, đôi mắt đen láy như hai hạt nhãn, nét ngây thơ dịu dàng của cô con gái Á Đông khiến con tim chàng trai Mỹ mới biết yêu lần đầu, đã thổn thức vì nhớ thương. Như câu ca dao Việt Nam,”Yêu ai yêu cả đường đi lối về”, David cũng yêu cái mênh mông của dòng sông Cửu Long, yêu hàng dừa lơi lả nơi bến sông, nhìn những đợt sóng nhấp nhô vào những buổi hoàng hôn, David tưởng như nó chuyên chở bao nhiêu tình tự dân tộc, hiền hòa, vui tươi và đầy thiện cảm.
Mỗi buổi sáng, David say sưa ngắm nhìn những tà áo trắng bay bay như những cánh bướm, trên chiếc xe đạp thong thả của đám nữ sinh mỗi buổi đến trường. Cả thành phố dậy lên sức sống, người ta đi lại đông đảo, đàn bà xách giỏ đi chợ, vài chiếc xe chất đầy rau quả, những đứa trẻ con ngoan ngoãn đi học với nhau, chiến tranh hình như chưa hiện diện nơi đây. David có được những tháng ngày thật tuyệt vời với công việc của mình, một biệt thự xinh đẹp tọa lạc trên con đường trung tâm thành phố.
Năm ấy Mai độ mười bảy tuổi, tư chất thông minh cộng thêm nét ngây thơ của cô bé mới lớn, đã chinh phục trái tim ông thầy trẻ tuổi. Cách biểu lộ tình cảm của mỗi dân tộc có khác nhau, David không hề dấu diếm tình yêu của mình với cô gái trẻ, trong khi Mai cố tình né tránh, dù nàng rất có cảm tình với ông thầy vừa đẹp trai, lại rất hiền hậu nữa. Sau nhiều lớp ở Trung tâm Việt Mỹ, Mai là một học sinh xuất sắc được chọn là người phụ giáo cho những lớp học vỡ lòng, trong thời gian này hai người cùng làm việc chung, David càng thấy gần gũi nàng hơn.
Với bản tính thẳng thắn của người Mỹ, David tỏ tình và đề cập với Mai về chuyện hôn nhân, chàng nghĩ nó rất đơn giản như bao cuộc hôn nhân trên xứ sở chàng. Nhưng điều làm cho David đớn đau hơn cả, không ngờ Mai đã từ chối kết hôn với chàng, nguyên nhân chỉ giản dị là không cùng chủng tộc, cha mẹ nàng coi đấy là điều không thể chấp nhận, dù David là một chàng trai học thức. David không hiểu tại sao Mai không quyết định được chuyện hôn nhân của mình, dù rằng Mai cũng cảm thấy mình yêu thương chàng trai Mỹ tóc vàng, mắt xanh hiền lành ấy. David thắc mắc thì Mai chỉ im lặng thở dài, rồi cho chàng biết những gia đình Việt Nam bảo thủ, không bao giờ chấp nhận chuyện con cái kết hôn với người ngoại quốc.
Sống ở Việt Nam khá lâu, ăn những món ăn Việt Nam, học được cách cư xử của người Việt, David hoàn toàn chấp nhận tất cả những đòi hỏi theo phong tục, tập quán người Việt nhưng vẫn bị từ chối. Thật sự chàng không thể nào hiểu nổi dân tộc này, trong cái thân thiện bên ngoài hình như họ vẫn dấu kín những thành kiến bí ẩn, có lẽ đã ăn sâu vào gốc rễ trong tâm hồn họ. Không lấy được Mai, nhiều lúc thất vọng đến chán chường, David còn muốn tìm cái chết để quên đi hình bóng diễm kiều của cô gái Việt. Cuối cùng, bị khủng hoảng tinh thần, David không thể tiếp tục làm việc, với ý nghĩ một ngày nào đó Mai thuộc về người khác. David được hồi hương trước thời gian ấn định, lúc chia tay, lần cuối cùng gặp nhau, Mai đã khóc và nói với chàng : ” Nếu không được kết hôn với anh, em sẽ không bao giờ lấy ai nữa.”

* * *
Câu chuyện tình của người đưa thư tưởng đến đấy là hết, bất ngờ David hỏi tôi:
“Tại sao dân tộc cô lại có cái nhìn khe khắt như thế? Một tình yêu khác chủng tộc có phải là điều tội lỗi?”
Tôi bối rối nhìn ông, không làm sao cắt nghĩa cho ông hiểu. Đúng, tình yêu tự nó đâu có gì tội lỗi, nhưng dưới con mắt lệch lạc của những người có nhiều thành kiến, họ vẫn không chấp nhận. David lại nói tiếp:
” Ba mươi năm nay tôi vẫn không quên điều đó, vẫn tìm tòi văn hóa Việt, và tôi hiểu tại sao dân tộc Việt Nam không tiến lên được. Trong một vấn đề giản dị đó, họ đã không có cái nhìn rộng rãi, thì những vấn đề lớn hơn, họ cũng khó mà thay đổi.”
Tôi thở dài nói với David:
“Tôi nghĩ không chỉ người Việt Nam chúng tôi mới có quan niệm thiển cận như thế, ngay những người Mỹ, cũng đâu có thích con cái họ lấy một người không cùng sắc tộc với mình. Hơn nữa người Việt Nam lấy chữ hiếu làm đầu, cho nên ít khi chống đối lại cha mẹ, và họ chấp nhận điều ấy như là một thứ định mệnh đã đặt để, ông thông cảm cho. Nhưng thưa ông, đấy chỉ là những suy nghĩ của thời gian đó, bây giờ mọi điều đã thay đổi. . .”
Giọng David đều đều như tiếng mưa rơi ngoài hiên, ông nói:
“Cô có biết tôi đã đau khổ biết bao nhiêu khi không lấy được Mai, tôi đâm ác cảm với tất cả người Việt vì lối suy nghĩ của họ. Khi về nước, lâu lắm tôi vẫn không quên được người con gái ấy, rồi lại nhớ đến câu nói cuối cùng của Mai nói với tôi, tôi không nghĩ rằng Mai đã thực hiện được. Khi đất nước cô bị rơi vào tay Cộng Sản, tôi vẫn hy vọng là sẽ gặp Mai trong đám người Việt di tản sang Hoa Kỳ, nếu cô ấy chưa lấy ai thì trên xứ sở này không ai cấm cản Mai kết hôn với tôi cả”.
Tôi ngắt lời David:
“Ông có gặp lại cô ta không?”
David gật đầu, đôi mắt xanh chợt buồn, để rồi lại toát ra một tia nhìn ấm áp:
“Có, tôi đã gặp lại Mai, nhưng bấy giờ tôi là người dừng lại, vì Mai đã là một nữ tu đang săn sóc cho đám trẻ mồ côi đem từ Việt Nam sang. Lần này tôi thực sự cảm thấy mình không có quyền theo đuổi con người cao quý đó. Mai đã hy sinh tình yêu, tuổi xuân để phục vụ cho một nghĩa vụ cao cả hơn, đấy là tình nhân loại. Tôi vẫn yêu Mai, nhưng không có quyền giữ lấy nàng làm của riêng, khi nhìn thấy bản chất cao đẹp trong tâm hồn nàng.”
Giọng ông ta chợt bùi ngùi:
“Đồng thời tôi cũng hiểu được ý nghĩa lời nói của Mai, khi đã khóc và nói với tôi câu nói cuối cùng trước khi chia tay nhau. Nàng là người con gái Việt Nam thuần túy có những suy nghĩ theo tính cách của dân tộc nàng, nhưng trong tình yêu, tôi hiểu nàng cũng yêu tôi, thích hợp với đời sống và việc làm của tôi, nhưng vẫn không dám chống đối lại cha mẹ. Để rồi cuối cùng cô đã chọn con đường ấy, con đường phục vụ cho tha nhân.”
Đôi mắt xanh buồn buồn của người đưa thư lại hướng về bức tranh có những bông mai vàng óng ả treo trên tường, thật dịu dàng ông nói tiếp:
” Từ đấy, tôi muốn mình cũng như Mai, làm một điều gì đem lại niềm vui cho mọi người, dù rất nhỏ nhoi. Nếu không hỏi cô, có lẽ lá thư này sẽ bị trả lại cho người gửi, bạn cô mất đi một niềm hy vọng, và ngay cả cô cũng mất niềm vui được đọc một lá thư. Bao nhiêu năm rồi tôi có nhiều cơ hội để tìm một việc làm tốt hơn, nhưng tôi vẫn vui thích với nghề nghiệp hiện tại, khi nghĩ mình đã đem đến cho mọi người những gì họ chờ đợi, nhất là trong những muà Lễ, Tết. Tôi cũng hiểu rằng từ miền đất xa xăm nghèo khổ kia, họ đã phải tiết kiệm như thế nào mới có đủ tiền để gửi một lá thư cho người phương xa.”
Tôi cảm động nghe ông ta nói, tự thấy xấu hổ với mình khi chính tôi có lúc đã rất hững hờ với những lá thư từ bên nhà gửi sang, cũng chỉ vì sợ phải giúp đỡ. Ngược giòng thời gian, tôi như nhìn thấy mình trong quá khứ, trong lúc cùng cực vẫn trông chờ một niềm hy vọng, vậy tại sao tôi lại không có được tấm lòng như người đưa thư này. Lúc ấy, nhìn đôi mắt xanh của ông ta, chòm râu hung hung viền quanh mặt, trông ông hiền hậu và dễ thương như ông già Noel đem niềm vui cho trẻ con mỗi mùa Giáng Sinh. Tôi nói với ông rất thành thật:
” Tôi cám ơn ông, một người Mỹ rất có tình với quê hương tôi, dân tộc tôi, dù trước kia ông đã bị đau khổ vì sự suy nghĩ của họ.”
Mưa đã ngớt, chưa tới sáu giờ mà trời mùa Đông đã tối xầm lại. David đứng dậy, ông còn phải trở về Bưu điện, đem theo những lá thư người trong chung cư nhờ ông gửi giùm. Ông chào tôi rồi mang đôi giày vào chân, mỉm cười nhìn những bóng đèn màu chớp tắt trên cây Giáng Sinh ở góc phòng. Tôi nhìn theo người đưa thư bước ra đường, lòng dâng lên một niềm ấm áp cho dù đang là mùa Đông ở xứ người. Câu chuyện của David đã làm tôi suy nghĩ. Tình yêu muôn thuở vẫn chỉ là Tình yêu, nhưng vượt lên trên đó, nó có một sứ mệnh thật cao cả khi người ta nhìn ra cái đẹp của nó, và sống với cái đẹp của tình yêu.
Giờ này, ở một nơi nào đó trên đất Mỹ, Mai, cô gái Việt Nam năm xưa, có lẽ nay đã đứng tuổi, vẫn hăng say phục vụ tha nhân trong lãnh vực của cô. Không biết cô có hiểu rằng, chính tình yêu của cô đã làm cho David, người đưa thư quen thuộc của khu chung cư, cũng đang đi con đường của người ông yêu tha thiết năm xưa, cũng với mục đích đem niềm vui đến cho mọi người. Giá tất cả thế nhân đều nghĩ đến nhau với một tấm lòng như thế, thì có lẽ chiến tranh đã chấm dứt từ lâu trên trái đất.
Nguyên Nhung
Mùa Giáng Sinh

Nguồn: https://www.trieuthanhweeklymagazine.com

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Đưa Thư_Nguyên Nhung

Phong thủy và Phụ nữ (sưu tầm trên Internet)

Khi Bill Gate được phỏng vấn:
Quyết định thông minh nhất của ông là tạo ra các phần mềm hay các công việc từ thiện?

baomai.blogspot.com

Câu trả lời của Bill  Gate:
Ðều không phải, mà quyết định thông minh nhất đó là tìm người phụ nữ phù hợp để kết hôn.

Người phụ nữ quyết định hạnh phúc của thế hệ trước, vui vẻ của thế hệ này và tương lai của thế hệ sau.
Nếu bố bạn lấy nhầm vợ, thì tuổi thơ của bạn sẽ là chuỗi ngày đau khổ.
-Nếu bạn lấy nhầm vợ, thì cả cuộc đời bạn khổ.
-Nếu con trai bạn lấy nhầm vợ, thì tuổi già của bạn sẽ sống trong đau khổ.
-Lấy được người phụ nữ tốt, thịnh vượng 3 đời.
-Lấy phải người phụ nữ không tốt, lụi bại 6 đời.

Phong thủy 

baomai.blogspot.com
Phong thủy tuyệt vời nhất cho ngôi nhà chính là người phụ nữ
.

Nếu bạn đang có một hiền thê tức là ngôi nhà của bạn có phong thủy tuyệt vời rồi đó.
Phong thủy quan trọng nhất của gia đình chính là người phụ nữ.
Người ta thường nói: “Ðàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” để nhấn mạnh đến vai trò của người phụ nữ trong việc vun đắp hạnh phúc gia đình.
Theo phong thủy học, người phụ nữ tâm lương thiện sẽ mang tới cho gia đình rất nhiều phúc đức.
Trong tiếng Trung chữ “ 安 ” nghĩa là “bình an” có ý nghĩa vô cùng sâu sắc.
Từ này được ghép thành từ hai bộ thủ: Ở trên là bộ miên “ 宀 ” tức là mái nhà, ở dưới là bộ nữ “ 女 “, tức là người phụ nữ.
Ý nghĩa là có người phụ nữ ở trong nhà thì sẽ mang đến sự yên bình.
Cổ ngữ có câu: “Thê hiền phu an”, có thể giải thích sâu hơn cho chữ này.

.baomai.blogspot.com
Nữ chủ nhân tâm lương thiện, sẽ mang đến cho gia đình và hậu thế vô tận phúc đức, tránh mầm tai vạ cho con cháu; nếu như người phụ nữ mang độc niệm, hành vi không hợp, bất hiếu, dâm loạn, sẽ làm cho gia đình mất đi an bình, không chỉ có nguy hiểm cho bản thân, còn có thể làm loạn gia tộc, cho nên cổ nhân nói “nữ nhân tốt sẽ thịnh vượng ba đời, nữ nhân xấu sẽ hoại ba đời” (là chỉ người vợ).
Người phụ nữ có cách ăn mặc gọn gàng sạch sẽ, trong nhà thường chỉnh tề; người phụ nữ ăn mặc lôi thôi, trong nhà thường loạn bát nháo, tâm trạng cũng sẽ không tốt; người phụ nữ tính toán chi li, bụng dạ hẹp hòi, sinh sự từ việc không đâu, trong nhà sẽ vĩnh viễn không ngày nào yên bình, ‘gà bay chó chạy’; người phụ nữ  hào phóng, thông tình đạt lý, trong nhà tất nhiên tài vận tràn đầy, già trẻ đều khỏe mạnh.

baomai.blogspot.com

Trời sinh người phụ nữ chính là giữ vai trò thủy, “thủy tính” chính là trong phong thủy trong nhà; người phụ nữ có “thủy tính”, là có tướng vượng phu.
Muốn biết người phụ nữ mệnh tốt hay xấu, chính là xem “thủy tính” tốt hay không.
“Thủy tính” trong sạch, nhu hòa, có thể làm thay đổi nhân tâm, bồi bổ chỗ khuyết; “thủy tính” bị ô nhiễm đục ngầu, sẽ làm tổn thương gia đình.
Luận theo Kinh Dịch – Phong thủy, người phụ nữ quá mạnh mẽ, thường gây tai hoạ, bởi vì “thủy tính” của người phụ nữ thường nhu mì.
Nam nhân coi trọng “thủy tính” khi chọn vợ thì thường dễ phát tài làm giàu, bởi vì khi đó âm dương hợp nhất, mượt mà thông suốt; nam nhân luôn cần sự bổ khuyết của “thủy tính”, mới có thể đem số mệnh bừng bừng phấn chấn, mượn phong thủy chuyển vận may (thủy là nước, ý là nhu mềm).

baomai.blogspot.com

Hậu đức tải vật, hậu đức nuôi gia đình; người phụ nữ là thủy, tính tình như nước thì mới có thể chịu tải được sự phát đạt của gia đình.

Cô gái tốt không phải do sắc đẹp, mà là tâm sắc; thê tử tốt, không phải tướng mạo, mà là tâm mạo.
Mệnh chuyển theo tâm, vận sinh theo tâm. Người phụ nữ có đức hạnh, tuổi càng lớn, càng có phúc tướng; nữ tử không đức hạnh, tuổi càng lớn, tướng càng xấu.

Vậy nên nói: Nam nhân là cột trụ, là bộ khung chính của ngôi nhà; mà người phụ nữ là phong thủy của ngôi nhà, là vận số của ngôi nhà!

NAM GIANG TỬ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phong thủy và Phụ nữ (sưu tầm trên Internet)

Đợi Một Vì Sao_ Thơ Giáng Sinh của Tống Phước Kiên

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đợi Một Vì Sao_ Thơ Giáng Sinh của Tống Phước Kiên

Nỗ lực cả một đời, rốt cuộc là vì điều gì?_ Minh Vũ

nolucNỗ lực cả một đời, rốt cuộc là vì điều gì?

Câu hỏi rất hay, nhưng thực sự để hiểu được nó lại không phải là chuyện dễ dàng. Rất nhiều người khi sa cơ lỡ vận, tới phút cuối đời mới chợt hiểu ra mình sống vì điều gì. Câu hỏi cho vấn đề này, có lẽ rất nhiều người trong chúng ta đang truy tìm đáp án.

1- Vợ (chồng) có phải là của bạn không? Không phải!

Vợ chồng dù ăn cùng mâm, ở cùng nhà, tối ngủ chung giường, có thể đồng cam cộng khổ, vui buồn có nhau. Nhưng sau cùng cũng có lúc chia tay, có thể đồng sinh nhưng không thể đồng tử, trăm năm sống đến bạc đầu có nhau, tất cả cũng chỉ là mơ ước.

2- Con cái có phải là của bạn không? Không phải!

Bố mẹ và con cái tuy là có quan hệ huyết thống, nhưng đó cũng chỉ là mối quan hệ mang tính “đoàn thể”. Hiếu đạo, hy vọng, chăm sóc lẫn nhau v.v… những điều ấy tạo nên một gia đình vui vẻ. Nhưng sau cùng, khi bạn bước sang thế giới bên kia, con cái cũng chỉ có thể tiễn bạn đi chứ không có khả năng đưa bạn trở lại.

3-Tiền tài có phải là của bạn không? Không phải!

Bạn ra sức, nỗ lực kiếm tiền, sau rồi lại nghĩ cách tiêu đi. Cho dù tài khoản ngân hàng của bạn có bao nhiêu tiền, đó cũng chỉ là vật ngoài thân, sinh không đem đến tử không đem đi.

4- Nhà cửa, xe cộ có phải là của bạn không? Không phải!

Tuy bạn không ngừng nỗ lực để có được những thứ đó, nhưng khi bạn ra đi… tất cả trở về con số không

Vậy rốt cuộc điều gì mới là của bạn?

1- Thân thể: Chỉ có thân thể mới trước sau không rời xa bạn, nó đồng hành cùng bạn từ lúc bắt đầu cho tới lúc bạn vĩnh biệt thế gian; chỉ có thân thể mới có thể bảo hộ cho bạn, làm tất cả vì bạn, mãi đến khi sức cùng lực tận.

Nếu thân thể của bạn càng khỏe mạnh, nó giúp bạn đi càng xa, khám phá càng nhiều chân trời mới.

Nếu như thân thể không còn, sinh mệnh của bạn cũng sẽ hết, vì vậy, bạn cần phải trân trọng nó. Đây là thứ duy nhất thuộc về bạn, là báu vật vô giá. Vậy hãy yêu thương nó, bảo vệ nó, thỏa mãn nhu cầu của nó bằng cách rèn luyện, nghỉ ngơi, dinh dưỡng, phòng bệnh, chữa bệnh, tâm lý… dù một chút cũng không được lơ là.

2- Sức khỏe: Thân thể khỏe mạnh thì cuộc sống của bạn mới có chất lượng, sinh mệnh mới được kéo dài.

Không có một cơ thể khỏe mạnh, đồng nghĩa với không có gì cả.

Cho nên chúng ta sống được một ngày, cũng là một ngày phúc phận, cần phải trân quý chính mình.

3- Tinh thần: Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh đổi sức khỏe để lấy vật ngoài thân.

Bi ai lớn nhất của đời người là dùng hạnh phúc để đổi lấy phiền não.

Lãng phí lớn nhất của đời người là dùng thời gian để giải quyết những phiền phức do chính mình tạo ra.

Và tất cả những điều này đều xuất phát từ ý nghĩ và tinh thần của bạn. Bởi vậy, trên thế gian không có gì quý hơn một sức khỏe dồi dào và một tinh thần mạnh mẽ. Bảo vệ chúng cũng chính là bảo vệ chính mình, hãy trân quý những gì bạn đang có.

Thời kỳ mới, con người có tiêu chuẩn mới.

1- Người thông minh: Sống vui sống khỏe, sống trẻ sống cởi mở, sống yêu đời

2- Người ngốc nghếch: Sống gấp, sống giận, sống buồn tẻ, sống lo âu.

3- Người lạc quan: Yêu thể dục, yêu thể thao, yêu vận động.

4-Người vui vẻ: Hay cười, hay nói, hay hát ca.

Chúng ta không có thân thể, sức khỏe, tinh thần… mọi thứ sẽ là không.

Minh Vũ

(Nguồn: Đại Kỷ Nguyên: DKN.TV)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nỗ lực cả một đời, rốt cuộc là vì điều gì?_ Minh Vũ

Phở Cali_Huỳnh Ngọc Chênh

Related imagePHỞ CALI

 * HUỲNH NGỌC CHÊNH

(Cảm nghĩ của một người từ trong nước)

Tui đi ăn phở từ Sài Gòn đến Hà Nội, rồi chừ qua Cali, thấy phở Cali là ngon nhất.
Nói các bạn SG, HN đừng buồn, chứ phở Cali ngon thật sự. Trước hết do bò Mỹ ngon lại rẻ, xương bò lại càng rẻ hơn, nên nước lèo nấu chắc chắn phải ngon thôi mà không cần thêm hóa chất.
Cái ngon nó đến còn do từ cảm giác an toàn vệ sinh nữa. Vệ sinh an toàn thực phẩm ở Mỹ được quản lý và kiểm tra chặt chẽ, thêm vào đó các nhà hàng cũng lo tự canh giự nghiêm ngặt vì nếu để ra sơ sót khách hàng ăn vào bị gì thì bị kiện đến lúa đời.
Ông chủ một tiệm phở nổi tiếng ở nam Cali kể với tui, để xin giấy phép mở tiệm phở phải qua bao nhiêu khâu kiểm tra. Khu để xe, hệ thống thoát nước thải, khu nhà bếp, khu vệ sinh… tất tất đều qua kiểm tra đúng tiêu chuẩn ngay từ khâu mới xây dựng. Nói tóm lại, khi bước vào nhà hàng ăn uống nói chung và tiệm phở nói riêng, khách hàng hoàn toàn yên tâm ăn uống mà không phải thắc thỏm lo ngại điều gì.
Cảm giác an toàn nầy đem lại sự ngon miệng của tô phở Cali.
Thứ 7, CN và các ngày lễ hầu hết tại các tiệm phở khách hàng phải xếp hàng chờ đến lượt. Khách hàng đến đăng ký vào tờ giấy trươc cửa rồi đứng ngoài chờ, không ai được phép tự ý bước vào trong quán, dù ngoài trời đang nắng gắt hay mưa dầm, lạnh cóng.
Trưa nay thứ 7, tui ra tiệm phở 79. Vào đăng ký, thấy trên tui còn 10 số thự tự đang chờ. Kiên nhẫn chờ hơn nửa tiếng mới đến lượt gọi vào. Bàn 4 chỗ nhưng chỉ mình tui ngồi. Kế tiếp tui có nhóm 2 người vẫn không được gọi vào để xếp cùng bàn với tui. Nhóm khách nào ngồi theo bàn nấy không ghép chung. Số bàn và ghế ngồi đã đăng ký trong giấy phép không được kê thêm ra dù quán còn trống chỗ và khách hàng đông đúc phải chờ.
Phải kể lể ra dài dòng như vậy để thấy rằng đất nước người ta quản lý nghiêm minh đến từng việc nhỏ, như việc bàn ghế trong quán ăn, việc nhồi nhét thêm khách, và người dân từ chủ doanh nghiệp đến khách hàng đều tự giác tuân thủ quy định và luật lệ.
Nhìn qua nhìn lại thấy chủ quán là người Việt, phục vụ là người Việt, khách hàng hơn 80% là người Việt, tóm lại là người Việt tất, nhưng sao họ nghiêm túc và văn minh như thế. Quán đầy khách các bàn mà sao im lặng, không nghe tiếng nói lớn, không tiếng khua thìa muỗng ầm ỉ, không nghe tiếng khạc nhổ, không thấy ai xỉa răng trong bàn ăn…Quất trồng ở phương Nam thì ngọt, qua phương Bắc thì chua, còn người Việt ở trong nước thì chua, qua đây thì ngọt.
Thật ra là do luật pháp, do cơ chế, do cơ quan công quyền quản lý nghiêm túc. Người tứ xứ hầm bà lằng đến đây là vào khuôn ngay, ai lơ mơ là vào đồn cảnh sát rồi ra tòa ngay tắp lị, chỉ sau 24 giờ tạm giam.
Nói thêm, nhiều người cứ tưởng nước Mỹ tự do là muốn tự do làm gì cũng được. Không hề như vậy. Quán ăn không có giấy phép bán bia mà bán bia là bị phạt nặng, có giấy phép bán bia mà không có giấy phép bán rượu lại cho khách uống rượu mang vào cũng bị phạt. Trẻ con chưa đến tuổi trường thành không được sai đi mua bia rượu cho bố mẹ. Người lớn không được uống bia rượu nơi công cộng. Lần đầu qua Mỹ, tui cầm lon bia uống trong phi trường liền bị bảo vệ đến nhắc nhỡ, phải vất lon bia vào sọt rác. Ăn nhậu trước mặt tiền nhà riêng cũng bị phạt, đó được xem là nơi công cộng. Do vậy hầu hết nhà Mỹ đều có sân vườn sau, ăn nhậu tại đây mới không vi phạm.
Để có sự nghiêm minh như thế thì bộ máy công quyền phải tuyển toàn người nghiêm minh, để tuyển được công chức nghiêm minh thì phải có cơ chế tuyển dụng nghiêm minh, phải có giám sát của xã hội dân sự và lực lượng đối lập… nghĩa là phải có dân chủ.
Phở Cali ngon, ngoài do thịt bò ngon, nước lèo ngon, còn do có mùi vị dân chủ trong tô phở nữa.

Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh Blog
Ảnh tui chụp: Khách hàng đứng chờ đến lượt bên ngoài một quán phở ở Westminter, CA

Image may contain: one or more people and outdoor
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phở Cali_Huỳnh Ngọc Chênh

CÂU CHUYỆN HAI VỊ TỔNG THỐNG_Nguyễn Thượng Vũ

CÂU CHUYỆN HAI VỊ TỔNG THỐNG

Nguyễn Thượng Vũ

Thưa các anh chị

Hôm nay xin phép chia sẻ với các anh chị câu truyện của hai vị Tổng Thống, một vị già 94 tuổi, vừa qua đời và 1 vị trẻ 41 tuổi, hãy còn sống.

Hai vị đó là Tổng Thống H.Bush và Tổng Thống Macron.

Bush 1Tổng Thống H Bush qua đời, 8 tháng sau khi bà Barbara Bush, vợ ông ta chết, sau hơn 70 năm chung sống.

Trong đời tôi cũng thấy nhiều trường hợp như vậy, khi thấy ngưởi vợ thân yêu qua đời sau 50-60 năm chung sống thì người chồng mất hết tất cả nghị lực tiếp tục cuộc sống nữa và cũng ra đi.

Trong cuộc đời của mình, tổng thống H Bush đã trải qua bao nhiêu cuộc thăng trầm, bao nhiêu lần suýt chết, bao nhiêu lần vinh quang.

Ông ta cũng hiểu là bao nhiều giầu sang, vinh nhục, tiền tài, danh vọng , vào lúc cuối cuộc đời thì cũng không còn quan trọng nữa.

Cái quan trọng là sống thật tình với chính mình, với lòng thương chân thành với những người khác, kể cả súc vật sống chung quanh trong nhà mình.

Khi ông chết đi, con chó của ông cảm thấy quá đau thương, không chịu rời xa quan tài ông.

Bush 2Trước khi TT Bush qua đời, ông để lại di mệnh cho gia đình là phải mời ông bà TT Trump tới tham dư tang lễ.

Trong mùa tranh cử, ông Trump đã đả kích Jeff Bush con trai ông rất nhiều, vì Jeff Bush có 1 địa vị lấn áp tất cả ừng cử viên Cộng Hoà khác, kể cả Trump.

Ông Trump đã thành công khi cho dân chúng Mỹ chấp nhận những lời chỉ trích diễn tả Jeff Bush là cậu con nít, không có kinh nghiêm, không có tài năng làm Tổng Thống Hoa Kỳ, và Jeff Bush thất bại, bị loại ngay trong những tháng đầu và tự ý rút ra không ứng cử nũa.

Sự đả kích của ông Trump hết sức tàn nhẫn và cũng hết sức hữu hiệu.

Tổng Thống H Bush hiểu là khi tranh cử, người ta dùng các lời lẽ “chính trị” không đẹp để tô mầu lên các địch thủ của mình, để loại bỏ địch thủ.

Khi ông H Bush ra ứng cử trong thập niên 80, người đối thủ quan trọng nhất của ông là Ronald Reagan, ông Bush đả chê Reagan là dùng các thủ thuật “phù thuỷ” để mê hoặc dân chúng Mỹ về kế hoạch kinh tế của Reagan “woodoo economics”.

Tuy vậy, ngay sau khi được lựa chọn làm ứng cử viên Tổng Thống Cộng Hoả, ông Reagan đã mời H Bush làm ứng cử viên Phó Tổng Thống của mình và H Bush nhận lời ngay.

Cũng vì vậy, trước khi qua đời TT H Bush đã không hề thù giận ông Trump đã dùng lời lẽ nặng nề để đả kích con trai mình.

Ông đã để di mệnh căn dặn TT W Bush phải mời TT Trump tới tham dự tang lể của mình.

Hành động quân tử này khác hẳn với phong cách một thượng nghị sĩ khác, qua đời cách đây vài tháng đả không những không mời TT Trump tới dự tang lễ, mà lại còn báo cho nhiều cơ quan báo chí, TV , Truyền Thông khắp thế giới là ông ta cấm không cho TT Trump tới tham dự tang lễ.

Tôi rất thích thú và ấm lòng khi thấy TT Trump kính cẩn, đứng nghiêm, chào theo kiểu nhà binh, quan tài của vị cưu Tổng Tư Lệnh quân lực Hoa Kỳ.

TrumpNhìn hai bức hình quan tài với con chó trung thành và cái chào vinh biệt của kẽ đi sau, tôi hiểu tại sao có những người làm Tổng Thống và có những người không bao giờ làm được Tổng Thống.

Nghĩa Tử là Nghĩa Tận, nếu sau khi tôi chết, những kẻ thù địch của tôi, lại thắp nén hương và nghiêng mình vinh biệt trước quan tài của tôi thì tôi vui mừng lắm, chứ không bao giờ nghĩ đến việc cấm ai tới dự tang lễ cả.

Người Trung Hoa ngày xa xưa hay có lời doạ nạt con cái bất hiếu, bất nghĩa là sau này khi cha mẹ qua đời sẽ không cho phép trở về quấn khăn tang, thắp hương đi theo quan tài nữa.

Không ngờ tục lệ mà người Trung Hoa cũng đã quên cả thế kỷ nay rồi, vẫn còn lưu lạc sang bên Hoa Kỳ này.

Ông Tổng Thống thứ 2 mà tôi nhắc tới đây , hãy còn sống. Ông mới có 41 tuổi mà thôi.

Ông Macron là người rất thông mình, rất tài giỏi.

Nếu không thông mình tài giỏi thì làm sao thắng cử được làm Tổng Thống nước Pháp sau khi nhẩy vào chính trị không tới 2-3 năm.

Nhưng ở đời có những người khôn quá, hoá dại.

Ông Macron làm Tổng Thống nước Pháp, nghĩa là trách nhiệm của ông là bảo vệ nước Pháp, làm đủ mọi cách để đưa nước Pháp tới vinh quang, thịnh vượng, mang an toàn kinh tế xã hội cho người dân.

Một trong những việc tuyên bố đầu tiên của TT Macron là mình định ông là một người globalist , một công dân của hoàn cầu chứ không hẳn là một người nationalist, phục vụ tiên quyết cho quốc gia Pháp.

Ông gọi các người theo chủ nghiã nationalism là “Traitor” kẻ phản bội.

macronGần đây ông quyết định tăng thuế về Xăng, Nhớt để bắt các người đi xe hơi hay dùng xăng nhốt để chạy máy trong kỹ nghệ, trong công thương mại, phải trả tiền cao lên rất nhiều,

Luật tăng giá xăng , nhớt là một gánh quá nặng đối với người dân Pháp trung lưu và nghèo.

Giá xăng tăng thì tất cả vật giá các hàng hoá, các đồ ăn, các máy móc kỹ nghệ, giá xe hơi, xe đạp đều tăng lên vì phải cần xăng nhớt mới sản xuất được các sản phẩm đó.

Mọi người thuộc giới nghèo và trung lưu biểu tình phản đối, thì ông TT Macron tuyên bố với báo chí, truyền thông rằng đó là một thiểu số côn đồ, du thủ, du thực bạo động, phá hoại, làm hại an ninh công cộng.

Cái buồn cười là TT Macron tăng thuế không phải vì ngân quỹ thiếu tiền, ông tăng thuế vì ông không muốn mọi người dùng xăng nhớt vì ông nghĩ là có hại cho toàn thế giới.

Khi tôi đang viết dòng chữ này thì TT Macron vừa ra lệnh thu hồi luật tăng giá xăng nhớt vì ông thấy phản ứng của quần chúng quá thiệt hại cho an ninh quốc gia, kinh tế quốc gia.

Tăng thuế trong khi ngân quỹ quốc gia không cần thêm tiền, tăng thuế vì ông tin vào việc ông có thể ép dân chúng Pháp phải theo triết lý của ông và không dùng tối đa xăng nhớt nữa.

Đối với tôi, đó là khôn quá hóa dại.

Một kẻ đang nhiên thành Tổng Thống, nắm quyền hành trong tay. Họ tự coi là họ có quyền áp đặt cách suy nghĩ của họ trên toàn dân.

Việc này , nếu dùng phương ngữ của học giả Huỳnh Văn Lang, phải gọi là sự cường điệu của chính quyền. “The arrogance of power”.

Một vài suy nghĩ nông cạn, nếu thấy quá ngu si, xin các anh chị tha thứ.

Rất thân mến

Nguyễn Thường Vũ

(Nguồn: bacaytruc.com)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÂU CHUYỆN HAI VỊ TỔNG THỐNG_Nguyễn Thượng Vũ

Thắng Làm Vua, Thua Làm Giặc_Đặng Diễm Bích Chi

Thắng Làm Vua, Thua Làm Giặc_Đặng Diễm Bích Chi

Trước giờ vẫn nghe câu “Thắng làm vua, thua làm giặc” và “Kẻ thắng viết nên lịch sử”, nhưng chưa từng thấm thía nó như lúc này!
Ngày còn cắp sách đến trường, mỗi thứ hai đứng chào dưới “cờ tổ quốc”, gào lên cùng lũ bạn “… cờ in máu chiến thắng” mà không biết rằng lá cờ ấy cũng có thấm máu của người thân mình, những dòng máu bị rẻ khinh, không được thừa nhận!
Khi người ta cố nhồi nhét hình ảnh về một đấng lãnh tụ vĩ đại, toàn năng vào đầu óc non trẻ của tôi, tôi đã không kháng cự, chỉ đôi lúc tự hỏi một cách lén lút  “Thật là có con người như thánh sống thế ư?”. Bởi vì đôi khi những gì họ nói trước sau bất nhất. Họ chẳng bảo “Không có gì tuyệt đối và toàn vẹn” đấy sao? Hay có ngoại lệ?

Ngày đó ngây thơ đến mức nằm trong phòng đọc bài học lịch sử oang oang, không ngừng mắng chửi “ngụy”, “tay sai”, mà không nhớ rằng ba mình từng khoác áo lính của Việt Nam Cộng Hòa!

Khi người ta dạy cho tôi phỉ báng những người lính “ngụy”, coi khinh họ như nhưng kẻ không có lương tâm, những kẻ bán rẻ tổ quốc, những con người máu lạnh, giết người không gớm tay.

Thì tôi, đã thấy những người lính sa cơ ấy rất hiền lành, là những người cha, người chồng mẫu mực, những người nông dân không ngại vất vả ngoài đồng.
Thì tôi, thấy trong ánh mắt họ một nỗi đau bất lực vì không bảo vệ được tổ quốc của mình!

Thì tôi, thấy họ loay hoay tìm cho gia đình mình một con đường tươi sáng khác để đi. Họ không ngồi đó và khóc cho một quá khứ tươi đẹp đã mất, đã bị cướp mất!
Tôi đã thấy họ dạy con họ yêu tổ quốc, yêu cội nguồn, và trân trọng tình thân! (xin đừng đánh đồng như cái cách người ta đang giả vờ tự lừa dối nhau, tổ quốc không bao giờ nên hiểu là “người chiến thắng”, và “người chiến thắng” cũng không phải là tổ quốc, nếu như hôm nay tôi nói tôi chẳng có chút cảm tình nào đối với “người chiến thắng” thì không có nghĩa là tôi không yêu đất nước của tôi).

Tôi đã thấy họ tìm được một cuộc sống tốt đẹp hơn nơi đất khách, nhưng cái nhìn của họ vẫn hướng về nơi này một cách khắc khoải. Bởi lẽ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp họ đã bị đẩy đi xa quá xa nơi họ được sinh ra và lớn lên, nơi còn có những người thân còn ở lại! Họ có thể trở về, nhưng họ sẽ không trở về, tôi biết thế, không phải vì họ chê cố hương nghèo khó!

Khi người ta nói họ là những kẻ “vong quốc”, tôi sẽ lắc đầu bảo rằng không phải, họ là những người “vọng quốc” (luôn luôn hoài vọng về tổ quốc của mình).

Khi người ta bảo rằng họ ở bên kia bờ biển đang tìm mọi cách phá hoại an ninh quốc gia, thì tôi lại tin rằng, họ đã bày tỏ một nỗi thất vọng khôn xiết về cách “trị quốc” của “kẻ thắng”, họ đang bày tỏ niềm xót thương với những số phận đang ngày ngày tìm đến nhau trong niềm an ủi và hi vọng, dù là nhỏ nhoi. Họ đang cất lên tiếng nói giúp những những người mà họ nghĩ rằng “thấp cổ bé họng”.
Không có triều đại nào vĩnh viễn, thì sao cứ mãi lừa mị nhau về cái gọi là “muôn năm”?
Khi người ta gọi bác tôi, ba tôi và anh tôi là “giặc” thì tôi vẫn cứ tự hào về họ, những người đàn ông Việt Nam đúng nghĩa!

Khi người ta gọi họ là “ngụy” thì tôi vẫn vô cùng kính trọng và yêu thương họ! Bản chất không nằm ở tên gọi và lịch sử cũng không thuộc về kẻ chiến thắng!
Tôi sẽ ngẩng cao đầu vì là cháu, con và em của họ!”
Đặng Diễm Bích Chi

(Trích từ Blog của một bạn trẻ ở trong nước – Bài do Lê Hữu Nghĩa chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thắng Làm Vua, Thua Làm Giặc_Đặng Diễm Bích Chi

Sài Gòn, Quán Cà Phê Và Tuổi Lang Thang_Nguyễn Mạnh An Dân

Sài Gòn, Quán Cà Phê Và Tuổi Lang Thang
* Nguyễn Mạnh An Dân

Anh em nào có ở Đại học xá Minh Mạng những năm 66 – 67; đã từng lê la ngồi ngắm đất trời ở Ngả Sáu Chợ Lớn, chỗ cái quán cóc ngay góc đường Minh Mạng – Nguyễn Tri Phương; từng ít nhiều là thân chủ có ký sổ dài hạn với chú Tàu con phì lũ, xin nhận một lời nhắn: “Hồi đổi đời mấy anh tứ tán muôn phương hết, ba bốn cuốn sổ đầy gật những con số em không lấy được đồng nào nhưng em không buồn; nhớ lại những ngày vui cũ mà rầu thúi ruột. Ước gì có được không khí hồi đó, con người hồi đó; mấy anh đi ra đi vào, hớn hở kể chuyện tán đào, rầu rĩ ôm gối thất tình, nồng nhiệt tính chuyện lấp biển dời sông, bàn tán tính đường trốn lính, cái gì cũng ồn ào bộc trực, thoải mái tự nhiên, không màu mè rào đón, không kiểu cách đóng trò gì cả, sống đã thiệt. Vui kiểu đó em bán cà-phê cho mấy anh ký sổ hoài cũng được”.

image.png

Đầu năm 1980, giữa rừng già Bình Long tôi đã tình cờ gặp lại người chủ, người bạn nhỏ này. Tôi là tù cải tạo, bạn khổ sai kinh tế mới, cả hai đều thảm như nhau nhưng đều có chút rộn ràng nhịp thở khi nhắc lại những chuyện mới đó nhưng như đã lâu lắm rồi. Người bạn nhỏ đã nói với tôi những lời ấm áp, không nguyên văn thì cũng đúng ý như đã ghi ở trên và tôi muốn gởi những lời này đến các bạn như một kỷ niệm chung và tôi cũng muốn mượn dịp này để nói về cà- phê Sài Gòn, ngày đó.

Bạn đã uống cà-phê nhiều, bạn biết mà, muốn pha một ly cà- phê tuyệt vời đâu có khó: Cà-phê Sẻ loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà- phê Mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hã? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngaỵ Bạn muốn có vị Rhum, thì Rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút Bretain vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan mới đã đời, thú vị phải không? Thì đó, bạn đã có đủ hết những gì bạn cần sao không tự pha ra mà uống, lại cứ đòi đi uống cà- phê tiệm, dị hợm không?
 
image.png
Nói vậy chứ tôi biết, tôi không trách bạn đâu. Cà- phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà- phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người cà- phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà- phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà- phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn đi với tôi, quanh quanh Sài Gòn làm vài ly chơi. Dĩ nhiên là tưởng tượng, cả bạn và tôi đều biết, đã xa rồi, biền biệt lắm rồi, ngày đó.
Tôi xin bắt đầu từ giữa thập niên 60, những năm đầu tôi sống ở Sài Gòn và cũng là giai đoạn đất nước thực sự có những trở mình to tát; những cơn lốc kinh hồn; những bùng vỡ vượt mọi giới hạn; những xô đẩy, mời gọi đầy lôi cuốn và cũng nhiều cạm bẫy.
Niềm vui và nỗi hy vọng về một vận hội mới sau biến cố 1963 qua nhanh theo với sự yểu tử tất yếu của những người đã nhân danh một cuộc cách mạng, nhưng là thứ cách mạng nửa vời, có khả năng đả phá nhưng lại thiếu bản lãnh và tâm lực để xây dựng, kiến tạo; rồi chỉnh lý, tái chỉnh lý; chính quyền quân nhân; chính quyền dân sự; Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế và các tỉnh miền Trung; Phong Trào Nhân Dân Tự Quyết ở Đà Nẵng; Phật Giáo đưa bàn thờ xuống đường; Thiên Chúa Giáo biểu dương lực lượng ở chỗ này chỗ khác; người Mỹ đổ bộ càng lúc càng đông , theo với nó là các Snack Bar, gái làm tiền và sự phá sản nghiêm trọng của nhiều giá trị luân lý và đạo đức. Chiến trường càng lúc càng khốc liệt, càng áp gần và đã trở thành một nỗi ám ảnh dai dẳng; một cơn ác mộng thường trực. Đủ thứ chiêu bài, đủ thứ lý thuyết mới mẻ và lôi cuốn được nhân danh, được nhắc đến…
Như vậy đó, Miền Nam Việt Nam những năm giữa thập niên 60; như vậy đó, tuổi trẻ Việt Nam lột xác: phải biết lớn ra, phải tự già đi trước tuổi của mình. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó đã thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ dường như tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không còn, cũng không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng đầu tiên trong đời được nhấp vào và dù muốn hay không, tuổi trẻ đã thực sự bị chi phối, và phải thường xuyên đối diện với những bất hạnh của dân tộc mình; những thảm kịch của thân phận mình và quán cà phê trở thành cái nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng. Thông cảm giùm đi, tập làm người lớn mà.
 
image.png

Những ngày mới vào Thủ Đô, tôi ở Đại học xá Minh Mạng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Trong suốt nhiều tuần lễ đầu tiên tôi đã dè dặt khi đi lại và lúc nào cũng lẩm nhẩm câu “thần chú” bạn bè mớm cho: Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên và mường tượng ra một “lá bùa” như một thứ kim chỉ nam khả dụng. Hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Dĩ nhiên nếu tính từ Đại học xá, Phan Thanh Gian được hiểu như bao gồm cả khúc Minh Mạng nối từ Ngã Bảy đến Ngã Sáu Chợ Lớn và Phan Đình Phùng phải cộng thêm khúc Lý Thái Tổ rẽ phải đến Ngả Bảy hay rẽ trái đến Trần Hoàng Quân để về Ngã Sáu.
Về sau, khi đã khá quen quen, lá bùa được vẽ lớn thêm ra: Từ Phan Thanh Giản rẽ phải theo Lê Văn Duyệt sẽ đến phố chính Lê Lợi, nhà sách Khai Trí, chợ Bến Thành, rẽ trái lên Hòa Hưng, Bảy Hiền; từ Phan Thanh Giản rẽ phải ở Hai Bà Trưng sẽ đến bến Bạch Đằng, rẽ trái sẽ qua cầu Kiệu, Ngã Tư Phú Nhuận; cũng từ Phan Thanh Giản rẽ trái ở Đinh Tiên Hoàng sẽ đến rạp Casino Dakao, Lăng Ông Bà Chiểu và hướng ngược lại là trường Văn Khoa. Cứ như thế, cái xe Gobel hai số cọc cạch, nổ bành bạch như máy xay lúa, trung thành như một người bạn thân thiết tha tôi đi khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.
 
image.png

Những ngày này tôi là khách thường trực của quán Cà-phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà- phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà- phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà- phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó, việc của bạn là uống vậy thì đừng táy máy đụng vào làm hư cà- phê của tôi. Cà- phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và chờ. Yên tâm đi, đừng nôn nóng gì cả, bạn sẽ có cà- phê ngon để uống mà. Ông chủ sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường cho bạn, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà- phê như vậy mới là cà- phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Nhiều người mới đến lần đầu không biết, cà- phê bưng tới là tự lo liệu cho mình đều bị chỉnh ngay: Ông nôn nóng mở phin lỏng như vậy nước chảy ào ào còn gì là Thu Hương! Ông bỏ đường ngọt như ăn chè vậy còn gì là Thu Hương! Ống klhuấy cốp cốp kiểu đó cà- phê sẽ chua lét là ông giết Thu Hương rồi! “Thằng cha” này rắc rối thật nhưng là sự rắc rối có thể hiểu được, thông cảm được miễn là cà- phê ngon. Mà cà- phê Thu Hương ngon thiệt, ngon lắm.

Trong lãnh vực kinh doanh quán cà- phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà- phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua, từ dưới Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc lên; từ Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Hội Việt Mỹ lại; từ Huỳnh Thị Ngà, Nguyễn Công Trứ, Vương Gia Cần, Võ Trường Toản, Thư Viện Quốc Gia tới, quanh quanh khu Tân Định, Dakao cả mà. Cũng có người từ xa hẹn nhau đến nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm, “ông” nào “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng với nào là “Hố Thẳm Tư Tưởng” của Phạm Công Thiện; Cho Cây Rừng Còn Xanh La” của Nguyễn Ngọc Lan; “Nói Với Tuổi 20” của Nhất Hạnh và vân vân…

 
image.png

Ở Thu Hương dĩ nhiên là có thể “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” hay nhiều thứ giải khát khác; tuy nhiên, phần lớn là nhâm nhi ly cà- phệ Thu Hương nổi tiếng như vậy; ông chủ điệu như vậy, dù rành hay không cũng phải ráng tỏ ra sành điệu với người ta chứ! Lại còn phải cố bậm môi kéo Basto xanh cho có vẻ phong trần. Cứ như thế mà trầm ngâm suy tư, rì rào tâm sự; đốt bao tử, đốt phổi và đốt thời gian. Nghĩ lại thật phí phạm và đáng tiếc nhưng hồi đó thì không thấy như thế. Phải như vậy chứ sao! Thời chiến mà, buổi nhiễu nhương mà!
Ngày đó tôi thường ngồi Thu Hương với VCT, một người bạn đang học năm cuối ở trường Y Khoa, anh là người rất mê giáo sư Trần Ngọc Ninh, coi ông là một nghệ sĩ tài hoa, một tay dao bậc thầy trong ngành giải phẫu và vẫn thường say sưa kể việc thầy Ninh có thể cầm lưỡi dao lam khẻ vào tập giấy quấn thuốc và cho biết trước là sẽ rạch đúng mấy tờ. Bạn tôi đúng là người trời sinh ra để làm thầy thuốc, anh muốn xoa dịu mọi khổ đau và không chịu được những điều tàn nhẫn, thô bạo. Hồi sinh viên LKSN (?) té lầu chết ở trường Y Khoa, báo đăng nói là tai nạn nhưng không biết từ đâu bạn tôi khẳng định đây là một vụ ám sát, thanh toán lẫn nhau và anh đau đớn, tức giận lắm. Người với người, chả lẽ không còn cách nào để có thể đối với nhau phải chăng hơn hay sao? Câu hỏi này theo anh rất lâu; anh ra trường, làm y sĩ tiền tuyến, ở lại với thương bệnh binh ngày thành phố di tản và vào tù. Đến lúc này anh đã có câu trả lời cho điều ám ảnh nhiều năm trước: Không phải không có cách mà là dường như người ta không cần và cũng không muốn phải chăng với nhau. Đau thật, nỗi đau quặn thắt tim gan.
 
image.png

Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may Thiết Lập, vậy bạn có biết cà-phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó chéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung Tâm Thực Nghiệm Y Khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng không biết do ai đặt, gọi riết thành quen chứ thực sự dường như quán không có bảng hiệu, và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.
Cà- Phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn, đặc biệt là loại nhạc “mệt mỏi” cỡ “đại bác đêm đêm… ” hay “đàn bò vào thành phố… ” đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà- phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút – đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.
Đến Hồng không chỉ có nghe nhạc về quê hương, chiến tranh và thân phận; ở đây còn có thể đọc về những điều đó. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà-phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ.
 
image.png

Hồi Nguyễn Đăng Trừng chuẩn bị ứng cử vào Tổng Hội Sinh Viên, ban tham mưu của anh ta thường gặp nhau ở cà-phê Hồng và khi Trừng thành chủ tịch, Đặng Tấn Tới phụ trách tờ Nội San Sinh Viên, mặc dù lúc đó đã có trụ sở ở số 4 Duy Tân, rất nhiều anh em cũng vẫn thường kéo nhau đến cà-phê Hồng. Những ai hồi đó nhỉ? Đông lắm và vui lắm; vui và có ý nghĩa vì dường như tất cả đều muốn làm một điều gì. Tôi nói dường như bởi vì, nhiều năm sau thực tế đã chứng minh là không phải chỉ có những người đến với phong trào sinh viên vì nhiệt huyết và lý tưởng, muốn một miền Nam tốt hơn, muốn bảo vệ hữu hiệu và xây dựng đất nước hoàn hảo hơn mà còn một số khác, dù không nhiều, đến với chủ tâm lợi dụng, coi phong trào như một cơ hội để phục vụ cho những ý đồ đen tối mà họ đang theo đuổi.
Say này, khi đã đắc thời, người côïng sản vẫn thường hãnh diện nhắc đến phong trào sinh viên, coi đó như là sản phẩm của họ. Ai cũng biết là không phải như vậy. Thật tội nghiệp cho những người cứ phải giả vờ như không biết; cứ phải ra rả như cái máy lặp đi lặp lại những điều mà chính họ cũng biết là không có thật.
Tôi đã đi quá xa rồi phải không? Xin lỗi, cho tôi được mượn cơ hội này để nói về tuổi trẻ của chúng ta một chút, tôi đang trở lại với cà-phê Hồng đây. Hồng là ai? Tôi không biết, quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó, Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và đều ít nói, ít cười; cái kiểu ít nói ít cười làm chết người tạ Còn cái dáng đi nữa, bạn còn nhớ không? Làm ơn nhắc giùm để tôi tả cho chính xác đi, khó quá. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có những lời hát khó giải thích nhưng dễ cảm nhận như “vết lăn, vết lăn trầm” hay “vết chim di” gì đó có lẽ có thể mượn để hình dung ra dáng đi của mấy cô chủ cà-phê Hồng; nó nhẹ lắm, êm ái thướt tha lắm và cũng lặng lờ khép kín lắm. Chính cái vẻ lặng lờ vừa như nhu lệ thẹn thùng, vừa như kênh kiệu kiêu sa, vừa lãng đãng liêu trai đó đã làm khổ nhiều trái tim trai trẻ lắm, rất nhiều.
 
image.png

Giữa những năm 80, sau nhiều năm bầm dập ở nhiều trại giam khác nhau, tôi về lại Sài Gòn và có nhiều lần đi qua đi lại ở đường Pasteur. Cà-phê Hồng không còn, dãy phố nhỏ buồn thiu, im lìm và trống vắng như nét ảm đạm chung của toàn thành phố một thời rộn rã của chúng tạ Đối diện nơi quán cũ, gần cuối bờ thành Viện Pasteur là một bãi rác khổng lồ, ruồi nhặng đen gật và mùi hôi thối nồng nặc, trùm tỏa; ở đó, hàng trăm ông lão bà cụ; hàng trăm trẻ em trai gái tranh nhau giành giật, đào móc từng chút sắt vụn, từng mảnh nhỏ nylon. Tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Anh em ta có bao giờ tự thấy là dường như mình đã đắc tội, đã phụ lòng, đã không làm hết, đã không cố gắng đủ để bảo vệ cho những gì cần bảo vệ, giữ gìn hay không? Và những người bên kia, có bao giờ nghĩ lại và tự hỏi họ đã nỗ lực để đạt đến điều gì? có xứng đáng cà cần thiết không? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào? Ai có thể trả lời được về số phận của những con người nhỏ nhoi trong nổi tan tác chung của cả một dân tộc!
Viện Đại Học Vạn Hạnh mở cữa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý: Hào quang của phong trào Phật giáo đấu tranh từ nhiều năm dồn lại, cùng với những tên tuổi chính trị Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Hộ Giác… ,những cổ thụ văn hóa Minh Châu, Mãn Giác, Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tôn Thất Thiện… đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân nhất.
 
image.png

Ở Sài Gòn, ngoài viện Đại Học Vạn Hạnh và các trường Bồ Đề, Tổng vụ Giáo Dục và Thanh Niên thuộc Giáo Hội Phật Giáo còn nhiều cơ sở trực thuộc khác như cư xá Quảng Đức ở đường Công Lý, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở chùa Ấn Quang… , nói chung là dân Vạn Hạnh có nhiều chỗ để lui tới, để “dụng võ” lắm; tuy nhiên, dường như “tổng đàn” của Vạn Hạnh không nằm ở những nơi chốn “thâm nghiêm” này, nó đặt tại một tiện cà-phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó chéo về phía chợ Trương Minh Giảng.
Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Chừng đó là quá đủ, quá đạt để phe ta tụ lại: Các anh chị em thuộc khối Văn Thể Mỹ của thầy Phạm Thế Mỹ tấp vào nói chuyện văn nghệ; nhóm làm thơ trẻ Nguyễn Lương Vỵ, Võ Chân Cửu -lúc đó đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo Khởi Hành – ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ; những “chuyên viên xuống đường trong sáng” chụm đầu lại để bàn kế hoạch; những “chuyên viên lợi dụng xuống đường” cũng chụm đầu lại để bàn quỷ kế và đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau ở Nắng Mới.
Đại học Vạn Hạnh có một phân khoa mà bên Văn khoa không có: Phân khoa báo chí. Vạn Hạnh còn có một lợi thế như là một sự ưu đãi đặc biệt vì nhu cầu giáo dục là phân khoa sư phạm thi tuyển và được tăng một tuổi theo luật động viên. Vì lẽ đó anh em đến với Vạn Hạnh đông lắm; không khí ở Vạn Hạnh hào hứng và sôi nổi lắm. Mỗi lần có đợt tranh đấu, xuống đường, ngày Vạn Hạnh chạo rạo, đêm Quảng Đức không ngủ, sáng Nắng Mới không có chỗ ngồi. Vạn Hạnh như một lò lửa, một điểm nóng, một trung tâm. Tiếc thay đàng sau những nhiệt tình trong sáng; những lý tưởng vô cầu là những bóng đen rình rập, những nanh vuốt hờm sẵn.
Hình như Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh, sống theo Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nó chứng kiến cảnh Nguyễn Tổng cởi áo thầy tu, đi tiếp thu một trường Trung học; Nguyễn Lương Vỵ bỏ bộ mặt hiền thi sĩ đóng vai mặt lạnh ở phòng giáo dục Phú Nhuận; Võ Như Lanh xông xáo từ Thành Đoàn qua báo Tuổi Trẻ; Trần Bá Phương làm chúa một trại giam, gọi đẹp đẽ là hiệu trưởng trường giáo dục lao động và còn nhiều lắm, kẻ thù mai phục và bạn bè bạc bẽo trở cờ; tất cả thành một bầy kên kên nhởn nhơ trên nỗi khổ của anh em, nỗi đau của cả dân tộc.
Ngày tôi về lại Sài Gòn sau nhiều năm phải xa, cà-phê Nắng Mới không còn; Đại học Vạn Hạnh biến thành một cư xá sinh viên, áo thun quần lót treo la liệt từ trên xuống dưới, quang cảnh vừa đìu hiu vừa bát nháo nhìn thấy mà đứt ruột. Nghe nói núi sách của thư viện bị lấy hết, đốt sạch. Thầy Minh Châu dời lên một Phật học viện nhỏ trên đường Võ Di Nguy gần Trung Tâm Tiếp Huyết; thầy Quảng Độ bị quản thúc đâu đó tuốt ngoài Bắc; thi sĩ, thầy Bùi Giáng lang thang ngạo đời ở đầu phố cuối chợ; không lâu sau đó Đại Đức Tuệ Sĩ, Trí Siêu lần lượt bị bắt. Vạn Hạnh không còn gì, thật sự không còn gì. Những con người cũ tứ tán muôn phương. Cái nơi chốn đầy sức sống và niềm tin ngày nào giờ tiêu điều buồn bã như giòng kinh nước đen uể oải dưới chân cầu Trương Minh Giảng.
Mấy năm trước đây tôi có được đọc một bài báo, nội dung của nó cũng thường thường không có gì đặc biệt lắm; tuy nhiên bài báo có nhắc đến một chi tiết làm tôi ngẩn ngơ nhiều ngày. Tác giả đã nói về một quán cà-phê thân quen: Quán chị Chi ở Dakao. Thật ra đây không phải là quán cà-phê mà là quán trà; mà thật ra có lẽ cũng không thể gọi là quán trà mà chỉ có thể nói là chỗ uống trà ở nhà chị Chi mới hoàn toàn đúng. Bạn hãy tưởng tượng giùm tôi cái khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp hát Văn Hoa Dakao, ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè; ở đó không có cái ồn ào náo nhiệt như ngoài Trần Quang Khải, khúc đổ về Tân Định, cũng không có cái tập nập mắc cửi của đoạn Lê Văn Duyệt hướng về Lăng Ông; nó trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy bực tam cấp xi măng, mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường. Quán chị Chi ở một trong những ngôi nhà này. Làm sao để nhận ra. Không biết, tôi đã nói là không phải quán xá gì cả mà, chỉ là tới nhà bà chị uống trà chơi vậy thôi và đã là nhà bà chị thì phải tự biết chớ, cần gì hỏi. Phòng khách- được gọi là quán- chị Chi nhỏ lắm, chắc độ chín mười thước vuông gì đó, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Nhà không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà”. Giang sơn của chị Chi chỉ có vậy và chị mở “tiệm”. Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo trên đài địa phương hay đọc giới thiệu trên báo chợ báo bán gì cả, mà hoàn toàn do thân hữu chuyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà-phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho vài hốp nước nhỏ. Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi- nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm vô cùng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm.
 
image.png

Đến với chị Chi có cái thú vị là được hưởng một không khí thân mật, thoải mái như đang ngồi trong nhà của mình; điều thích nữa là không bao giờ phải bận tâm đến chuyện tiền bạc gì cả; muốn đến lúc nào cứ việc đến, không có tiền thì chỉ cần ngồi cười cười, chị Chi sẽ nói giùm cho bạn điều bạn khó nói: “cuối tháng chưa lãnh măng đa phải không? Uống gì nói chị lấy”. Chưa hết đâu, khi đã thân, đã thành “bạn của chị Chi”, hai lần mỗi năm vào khoảng trước Giáng Sinh và hăm ba ông táo về trời bạn sẽ được chị Chi kêu “đến chị chơi”. Đến chị chơi có nghĩa là đến uống trà mà không phải trả tiền và nếu gặp lúc chị Chi vui và khoẻ, “chơi” còn có nghĩa là có bánh bèo tôm chấy hay bánh hỏi thịt nướng kèm thêm nữa.

Khách của chị Chi không đông, giá nước ở chị Chi không đắt vì vậy chắc chắn chị Chi không sống bằng “cửa tiệm”, chị bán cho vui, bán mà như kêu anh em góp chút tiền cho chị để chị nấu giùm chút nước uống cho vui. Mà quả tình ở chỗ chị Chi vui thật, vui vì những đậm đà tình nghĩa. Hồi đó chị Chi đã khá lớn tuổi, bây giờ sợ chị đã lìa xa chúng ta hoặc nếu không thì cũng không còn đủ sức để nấu nước giùm cho ai được nữa. Quán chị Chi chắc không còn nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị Chi bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ – Tôi nghĩ anh chị em cũng không hẹp lòng gì mà không cho tôi nói lời đại diện này – Cuộc đời chúng ta đẹp vì những niềm vui nho nhỏ không tên; Sài Gòn của chúng ta đáng nhớ vì những dễ thương nho nhỏ không tên. Chị Chi, chị đã cho chúng tôi những niềm vui ấy; chị đã góp cho Sài Gòn một phần của cái dễ thương ấy. Cảm ơn chị.

Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà-phê mới, những quán sau này thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Café Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Đào Duy Từ – gần sân vận động Cộng Hoà có một quán cà-phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa Lạ Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướng của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những bi cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất… Đa La
 
image.png

Ngày khai trương, Đa La đã mời được Linh Mục Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt đến dự và đã chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Chừng đó là đủ chết người ta rồi, dân Đại Học Xá kéo qua, dưới Sư Phạm, Khoa Học lên; Y Khoa; Phú Thọ xuống; cả Petrus Ký, Chu Văn An nữa là đủ bộ, quanh quanh khu Ngã Sáu chấm Đa La và dồn tới. Những ngày đó Đa La đông vui lắm, nó trở thành một chốn tụ tập hết sức văn nghệ; nó đã chứng kiến sự nở hoa của nhiều mối tình và cũng chia xẻ sự héo tàn của nhiều mối tình khác, nó có thể tiếp tục buồn vui với những người bạn trẻ như thế nếu như đất nước không có những đột biến to tát: Biến cố Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy người chết ngay tại thủ đô Sài Gòn; rồi tổng công kích đợt hai; rồi tổng động viên lần thứ nhất năm 1968; quân sự học đường; tổng động viên lần thứ hai 1972; tất cả những điều đó đã làm thay đổi rất nhiều nhịp sống chung và tác động sâu xa đến suy nghĩ và hành động của từng con người. Đa La vắng dần những người khách cũ, lưa thưa có thêm những người mới với dáng vẻ ủ dột trầm ngâm hơn, lác đác những bộ đồ vàng quân sự học đường, những bộ đồ phép Thủ Đức, những bộ đồ lính thứ thiệt của nhiều quân binh chủng vội đến, vội đi. Đa La lần lượt nhận được tin tức về nhiều người bạn cũ không bao giờ còn trở về; Đa La tiếp tục có thêm nhiều buổi cà-phê cuối cùng để tiễn những người đến lượt ra đi. Đa La không vui và những người bạn của Đa La cũng không vui bởi vì cả đất nước không vui, cả dân tộc đang muộn phiền.
Đa La còn đến lúc nào? Đóng cửa bao giờ tôi không biết, có điều là đã có thời Đa La giống như một tri kỷ của nhiều người, nó cũng buồn, cũng vui, cũng hy vọng, cũng rã rời, cũng phấn chấn, cũng mệt mỏi, cũng khóc, cũng cười, cũng muốn ngoan ngoãn xây dựng, cũng thích tung trời phá phách, cũng tỉnh, cũng điên, nói chung là nó chung chịu với bạn bè những tháng ngày nhiều chuyện, dễ thương lắm và đáng nhớ lắm, một chút Sài Gòn.
Hồi đã vào Thủ Đức tôi còn rất nhiều dịp để ngồi cà-phê Hân, đường Đinh Tiên Hoàng. Thật ra phải nói tôi bị bắt buộc phải ngồi ở đó vì thời gian trong quân trường tôi thuộc loại con bà phước; gia đình ở xa, người yêu thì mặc dù đã quen từ thời còn ở tỉnh nhỏ quê nghèo những cũng vẫn chưa qua được giai đoạn “mặt ngoài còn e”, cuối cùng tôi chỉ còn bạn bè. Hồi đó mỗi lần đi phép, xe quân trường sẽ thả xuống và đón về ở khu Mạc Đĩnh Chi, gần Hội Việt Mỹ; tuy nhiên dạo đó tình hình sôi động lắm, quân trường lúc cắm trại, lúc xả phép, không chắc lúc nào có thể về được vì vậy tôi chỉ có thể nhắn chung chung là “đón tao ở Hân”, phòng hờ có trục trặc gì thì bạn bè kể như đi uống cà-phê chơi với nhau, đỡ sốt ruột. Tôi thật sự vui mừng và cảm động, chưa bao giờ tôi đến Hân mà không có người chờ, cũng chưa bao giờ tôi chờ ở Hân mà không có người đến. Bạn bè! Biết nói sao cho đủ cái nghĩa đặc biệt của hai chữ ấy.
 
image.png

Hân là quán cà-phê thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự chính trị, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy tốt lắm, đáng trân trọng lắm chứ; tuy nhiên, dường như có một chút gì rất xa, rất lạ với một người lính. Thật tình tôi chỉ là một người lính bất đắc dĩ, lệnh tổng động viên giới hạn tuổi ở đại học, ông tướng Đạm không ký giấy hoãn dịch nữa thì trình diện; tôi rời Sài Gòn cũng chưa được bao lâu, ở Thủ Đức thì cũng chỉ mới là lính tập sự, lính sữa; đã có tối nào nhìn toán tiền đồn lầm lũi đi vào đất địch để phục kích, để lấy tin đâu mà hiểu được nỗi cô đơn; đã có đêm nào trùm poncho ghìm súng ngồi dưới mưa giữa vòng vây quân địch đâu mà biết được cái cảm giác trống vắng, khiếp hãi; đã bao giờ ôm thân thể thủng nát của một đồng đội rạp người dưới làn đạn thù, nhìn máu chảy cho đến hết đâu mà hiểu được nỗi bi uất, tuyệt vọng; vậy mà tôi đã tự nhân danh là một người lính để cảm thấy xa lạ, lạc lõng với Hân, với Sài Gon. Kỳ cục không? Cảm giác của tôi lúc ấy lạ lắm, khó nói lắm; nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ, để phân tích điều gì, tôi đang đi phép mà, cho tôi nghỉ một chút, chơi một chút dù cả lúc chơi, lúc nghỉ tôi đều bị cái cảm giác lạ lạ, khó nói kia ám ảnh. Sau này, Nhà văn Thế Uyên có viết một quyển tạp bút tựa là “Mười ngày phép của một người lính” tôi đọc và thấy nhẹ nhàng thơ thới lắm; đại khái tác giả đã nhân danh một người lính mà đặt vấn đề với những con người, những cách sống, nói chung là với một hậu phương mà ông cho là bất xứng. Tôi nhẹ nhõm vì ông Thế Uyên đã nói giùm tôi cái mà tôi gọi là cảm giác khó nói ở trên.
(Đoạn sau đây lẽ ra không có trong bài viết này, nhưng tôi vừa nhắc đến nhà văn Thế Uyên với một cách nói được hiểu như là một sự mến mộ vì vậy nên tôi xin phép nói thêm vài đều trong cái ngoặc đóng này. Đúng, có một thời gian rất dài tôi mến mộ Ông Thế Uyên. Tôi mê Thế Uyên từ truyện ngắn “ Những Kẻ Thuộc Bài”. Đại khái chuyện muốn nói là mỗi chúng ta đều học được từ sách vở, học đường, tôn giáo và nhiều nguồn giáo dục khác những điều tốt đẹp; thật đáng buồn, thực tế không giống như những gì ta được dạy. Trong cuộc đời có quá nhiều những kẻ không thuộc bài, có quá nhiều những ngụy quân tử, nói rất đúng bài vở nhưng chính họ lại làm khác và Thế Uyên nhân danh một người thuộc bài, phê phán về điều đó. Tôi đã từng có lúc bạo gan nghĩ là mình cũng thuộc loại thuộc bài nên hết sức thông cảm và chia xẻ nỗi buồn của Thế Uyên, ủng hộ Thế Uyên. Về sau Thế Uyên lập nhà xuất bản Thái Độ, lại đúng nữa, xã hội của chúng ta quả là có nhiều vấn đề cần tỏ thái độ và tôi lại tiếp tục ủng hộ Thế Uyên dù tôi chưa bao giờ gặp gỡ hay quen biết gì với ông. Tôi giữ một tình cảm rất đặc biệt về Thế Uyên cho đến năm 1979. Hồi đó các trại tù đã được thăm nuôi và tôi được bạn bè lén lút gởi cho tờ báo Đứng Dậy hay Đối Diện gì đó của nhóm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan; trong tờ báo này có một bài viết của Thế Uyên, anh ta kể về một cái Tết ở trại giam Kàtum. Nhà văn lớn có khác, tả tết thì đúng là tết, có thịt cá bánh trái ê hề, có cà-phê thuốc lá vui vẻ, có giọng nói tiếng cười “ hồ hởi phấn khởi”, có những khuôn mặt rạng rỡ tin yêu, có các cán bộ khoan hòa nhân ái như những nhà tu; đặc biệt là cảm tưởng sung sướng xúc động của tác giả khi được đứng nghiêm chào lá cờ máu trong ngày đầu năm. Tôi đọc bài báo mà buồn lắm, buồn ghê gớm lắm. Tôi biết là trong hàng ngũ những kẻ không thuộc bài đã có thêm một người và tôi tự buộc mình phải quên hai chữ Thế Uyên đi, thật đau lòng nhưng phải quên, nhất định).
 
image.png

Tôi xin trở lại với cà-phê Hân và xin làm ơn bỏ qua một bên cái cảm giác xa lạ của riêng tôi. Hân vốn tự nó là một nơi chốn hết sức đáng yêu và chắc chắn là một nơi chốn rất đáng nhớ của nhiều người. Về sau, ở đối diện với Hân người ta mở thêm quán cà-phê Duyên Anh ( Không biết nơi này có liên quan gì với nhà văn Duyên Anh hay chỉ là tên đặt bởi một người chủ ái mộ nhà văn này). Hai tiệm cà-phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, cả hai đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Thống Nhất – Cường Để và các anh em bên khu Đài Phát Thanh, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị hướng Phan Đình Phùng, Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ mỉm cười và sẽ thấy rất gần gũi, rất thân thiết.
Tôi vừa mời các bạn đi thăm một vòng mấy quán cà-phê mà chắc nhiều anh em trong chúng ta từng quen biết, từng có những gắn bó thế này hay thế khác. Tôi xin ngừng ở đây nhưng anh em có thể tiếp tục đến những nơi chốn kỷ niệm khác của riêng mình. Tôi biết anh em đều là những người nặng tình cho nên tôi tin là mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, mỗi cổng trường đều thấp thoáng bóng hình của tuổi nhỏ, của quê xưa. Tôi xin nhắc là anh em nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kiếng cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối với nhau cũng rất đẹp. Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, tặng tất cả những ai còn có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở đâu đó, nơi quê nhà. 
 
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sài Gòn, Quán Cà Phê Và Tuổi Lang Thang_Nguyễn Mạnh An Dân

Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Huế

Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Huế
Nguồn fb Chiến Sĩ Cộng Hoà
Chuẩn tướng Loan ở Huế sau biến cố Mậu Thân năm 68.
Cộng quân chiếm Huế 22 ngày. Huế thật sự ngưng tiếng súng vào sáng ngày 26 tháng giêng âm lịch của năm Mậu Thân. Huế trong cảnh đổ nát, điêu tàn đầy xác người đã sình thối. Huế nhiều mồ chôn tập thể trong thành phố.
 
– Huế đói.
– Huế lạnh.
– Huế cơ cực.
– Huế có quá nhiều người Huế, tỵ nạn ngay trong thành phố Huế.
– Huế với những trại tỵ nạn, trong đó, đầy những trẻ thơ, góa phụ, ông bà già đang đói, đang run rẩy vì trời Huế quá lạnh.
– Huế với những tiếng khóc tức tưởi.
– Huế với những tiếng nấc và giòng nước mắt nghẹn ngào của thiếu phụ, của cha, của mẹ, của anh, của em, của bạn bè gần xa.
– Huế với những tiếng thét kinh hoàng, thất thanh, vút tận trời xanh mỗi khi tìm ra thân xác thân nhân mình đã sình thối.

Cố đô Huế, sau 26 ngày bị VC chiếm đóng là thế đó. Đã có 5.327 thường dân vô tội bị sát hại tàn bạo nhất thế kỷ, cùng với 1.200 thường dân bị chúng bắt dẫn đi mất tích.
Huế đang trong tuyệt vọng thì Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, đến Huế cùng với những chiếc phi cơ C.130 của Không Quân, chất đầy những phẩm vật tiếp cứu khẩn cấp cho đồng bào Huế.
Cầu không vận của Không Quân đã được thiết lập giữa Sài Gòn – Huế, hàng tấn vật liệu xây cất như tôn, xi măng đã được chở ra Huế. Với hơn 100 nhân viên Cảnh sát, 200 đồng bào tình nguyện do Ông làm “cai thầu”.
Chỉ trong 16 ngày, đã hoàn tất khoảng 500 căn nhà, mái lợp tôn, vách bằng đủ mọi thứ có được, hầu hết là ván ép. Như vậy có chỗ cho 500 gia đình trú ngụ tạm thời, không phân biết họ là ai.
Trong suốt 16 ngày xây cất, hầu hết thì giờ Thiếu tướng Loan đều có mặt, ông cũng xắn tay áo, tay cầm búa cầm đinh, miệng đốc thúc y như là một “cai thầu” thứ thiệt.
Mười sáu ngày sau, ngày khánh thành khu Trại Tình Thương cho đồng bào tỵ nạn Huế. Thiếu Tướng Loan đứng khoanh tay ngay cửa chính, mọi người đi ngang trước mặt ông đều cất tiếng:

– Cám ơn Thiếu Tướng.
– Cám ơn Ông Tướng.
– Cám ơn “Ôn”. (Tiếng Huế Ôn là ông).

Ông vẫn đứng im lặng, ngắm nhìn họ bằng ánh mắt trìu mến, không nói năng.
– Huế tan nát không còn nhà mà về, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan hối hả xây dựng ngay trại tỵ nạn Tình Thương cho dân Huế nương náu.

** Trong các tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa và có lẽ ngay cả trong lịch sử, hình như chỉ có mỗi Tướng Loan, chính tay Ông xây chỗ ở cho dân chúng và xả thân chiến đấu như những khinh binh.
– Ông đã tìm về với họ, về với Huế, về với cố đô đầy ắp những kỷ niệm thời niên thiếu của Ông.
Với một tấm lòng và một trái tim mở rộng và che chở họ.
Việt cộng lại tấn công vào Sài Gòn trong đợt II, Ông bị địch bắn gãy chân.
– Những người dân khốn cùng mà ông đã cứu giúp, cả mấy trăm người trong trại tỵ nạn đã bật khóc thành tiếng. Những dòng nước mắt ràn rụa của góa phụ, của ông già, của bà lão đã tuôn trào ra tiếc thương ông.
Lẫn trong những tiếng khóc nghẹn ngào, có tiếng la lớn của một cụ già:
Ông trời ơi! răng người nhân đức như ông mà lại gặp nạn.
Những giọt nước mắt và tiếng thét lớn của cụ già là những lời cám ơn chân thành nhất của họ, là tình yêu của người dân Huế đối với ông, mà họ đã ấp ủ trong lòng từ lâu lắm rồi, đối với ân nhân của họ.

** Thiếu Tướng Loan, hỏi Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên – Huế (Ông Nguyễn Phúc Liên Thành):
– Bao nhiêu anh em tử trận?
– 150 người, Thiếu Tướng.
– Anh nói với Trưởng phòng hành chánh, lập thủ tục khẩn cấp, tuyển dụng “vợ” của 150 anh em tử trận vào nữ Cảnh Sát, ngành Đặc Biệt để họ có lương tiền nuôi nấng con cái của họ.

Chỉ có 04, 05 ngày hồ sơ tuyển mộ, hồ sơ xin trợ cấp tử tuất, đã làm xong.
Thật tình, đây là một cuộc tuyển mộ độc nhất vô nhị, chưa thấy trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Vì hầu hết các bà quả phụ đều chỉ biết đọc mà chẳng biết viết một chữ nào cả.
Đó là trái luật, bất hợp pháp nhưng lại hợp với lòng nhân đạo, thương người, và nhất là cá tính yêu mến và lo lắng cho thuộc cấp, cho dân chúng của Ông.
Độc nhất chỉ có Thiếu Tướng Loan là người tuyển mộ nữ nhân viên cảnh sát kiểu như thế này. Ngày mà những “nữ cảnh sát viên” nhận việc, Thiếu Tướng Loan đích thân đến gặp họ trong một hội trường lớn của BCH/CSQG Thừa Thiên – Huế. Hội trường đông kín với khăn áo sô của 150 quả phụ, với trẻ thơ theo mẹ, nhỏ nhất là 02 tháng tuổi, lớn nhất là 05, 10 tuổi..
Quang cảnh đượm màu tang chế. Tất cả im lặng và chờ đợi Thiếu Tướng Loan lên tiếng.
Ông chia buồn cùng họ, giọng nói nhỏ nhẹ, nghẹn ngào.
Trong hội trường chợt có những tiếng khóc thút thít. Bất chợt Ông quay mặt đi, nhiều người thấy có chút ngấn lệ trong mắt Ông.
Cuối cùng Ông cất tiếng nói to hơn:
– Ngày hôm nay tôi tuyển “quý bà” vào lực lượng cảnh sát, để “quý bà”, “quý cô” có đồng lương nuôi nấng các cháu. Kể từ ngày hôm nay, “quý cô”, quý bà” là “(nữ Cảnh sát viên) của Ty Thừa Thiên – Huế”.
Nhiều tiếng cám ơn “Ôn” trong đám đông cùng với tiếng khóc, có lẽ họ đã quá xúc động trước tấm lòng nhân hậu của Ông.
Ông chợt đến gần một quả phụ đang bồng con và hỏi cô ta:
Bây giờ bà là “Nữ Cảnh Sát” rồi đó, bà muốn làm gì? Thưa Ôn, cho em làm chi cũng được, em đi chợ, nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa.
Ông cười và nói lớn để mọi người cùng nghe:
– Cảnh sát không có việc đi chợ nấu ăn, thôi các bà về, hằng tháng đến Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên – Huế lãnh lương. Mọi người ra về, Ông nói riêng với Trưởng Ty Cảnh Sát:
Mi cố gắng lo cho họ đàng hoàng, sức tao chỉ có thể giúp họ ngang đó.
Ông đã đem sinh mạng và danh dự của đời Ông, hy sinh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ sinh mạng cho đồng bào, để rồi Ông phải gánh chịu những đau đớn về thể xác và những oan khiên, nghiệt ngã về tinh thần. Đời sao quá bất công và phũ phàng.

Xin Ông hãy an nghỉ ngàn thu!!!
Cõi đời phiền muộn này, Ông đã dứt áo ra đi.
Nhưng Ông không thể đem theo là lòng thương tiếc, sự kính trọng của rất nhiều chiến hữu và đồng bào đối với ông.
Lịch sử kính trọng Ông, đó là điều vĩnh cửu và bất tận.
 
Nguồn fb Chiến Sĩ Cộng Hoà
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tướng Nguyễn Ngọc Loan và Huế