Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”

Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”
Mặc Lâm (RFA) 2015/09/05

1052670_562697663776915_300149667-622.jpgKhông có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam
Ngày 9 tháng 1 năm 2007, trong trò chơi “Ai là triệu phú” trên đài Truyền hình VTV3 Hà Nội, do MC Lại Văn Sâm điều khiển, người được mời lên chiếc “ghế nóng” tham dự chương trình là cô Nguyễn Thị Tâm, 27 tuổi, giảng viên trường Đại học Sư phạm thành phố Thái Bình.
Câu hỏi nguyên văn như sau: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng; ai là người không phải anh em ruột với ba người kia?
Cô giảng viên Đại học Sư phạm suy nghĩ một lát rồi nói:
– Tự Lực Văn Đoàn, tôi chưa nghe nói đến bao giờ cả. Hình như đó là một gánh cải lương. Còn Nhất Linh chắc chắn là một nghệ sĩ cải lương. – Riêng Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng… tôi không biết ba ông này có phải nghệ sĩ cải lương như Nhất Linh không.
Vậy chị kết luận ai không phải anh em ruột với ba người kia?
– Tôi đề nghị cho tôi được hưởng quyền trợ giúp, gọi điện thoại cho người thân.
Chị muốn gọi cho ai?
– Cho anh Nam, một bạn đồng nghiệp cũng dạy trong trường. Anh Nam là người đọc rất nhiều sách, kiến thức rất rộng, chắc chắn anh ấy biết.
Phòng máy liên lạc với người tên Nam đang chờ sẵn ở nhà để trợ giúp, “cứu bồ” cho cô Tâm.
Cô Tâm lập lại câu hỏi như chương trình đã hỏi: “Trong tứ trụ của Tự Lực Văn Đoàn…”, “Anh cho em biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, ai không phải là anh em ruột với ba người kia…” Đầu dây có tiếng trả lời rất lớn và dứt khoát, nghe rõ mồn một:
– Hoàng Đạo, Hoàng Đạo không phải là anh em ruột với Nhất Linh, Thạch Lam và Khái Hưng.
– Chắc chắn không anh?
– Chắc trăm phần trăm.
– Ba mươi giây của chị đã hết. Xin chị cho biết câu trả lời.
– Tôi tin vào kiến thức của người bạn đồng nghiệp của tôi. Tôi trả lời, Hoàng Đạo không phải anh em ruột với ba người kia.
– Chị quyết định như thế?
– Vâng, câu trả lời của tôi là phương án B, Hoàng Đạo.
– Sai. Giải đáp của chúng tôi là phương án D, Khái Hưng. Khái Hưng không phải anh em ruột với Nhất Linh, Hoàng Đạo và Thạch Lam. Hoàng Đạo tên thật là Nguyễn Tường Long, sinh năm 1906, em ruột nhà văn Nhất Linh, anh ruột nhà văn Thạch Lam. Như vậy phần thưởng của chị từ năm triệu đồng còn lại một triệu đồng. Nhưng không sao, chúng ta lấy vui làm chính. Xin cám ơn chị đã tham dự chương trình.
Câu chuyện về cô giáo giảng viên trường Đại học sư phạm thành phố Thái Bình thật ra không có gì lạ trong nền giáo dục Việt Nam bởi lẽ chương trình giáo dục không hề có bốn chữ Tự Lực Văn Đoàn mặc dù đây là một nhóm tác giả quan trọng bậc nhất trong nền văn học hiện đại của Việt Nam. Điều làm cho Tự Lực Văn Đoàn bị gạt ra khỏi dòng văn học là chủ trương chính trị của nó. Nguyễn Tường Tam, thủ lãnh của nhóm cũng là một chính khách với quan điểm chính trị đi ngược lại hoàn toàn quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.

Tự Lực Văn Đoàn chủ trương đổi mới văn học, nâng cao dân trí, chống cường quyền phong kiến, bài thực dân, trong đó không quên những người cùng khổ và bị áp bức dưới bất cứ hình thức nào. Sức mạnh của Tự Lực Văn Đoàn bắt đầu từ sự ủng hộ của trí thức tiểu tư sản sau đó lan rộng trong quần chúng bình dân và ảnh hưởng trực tiếp tới nền báo chí An Nam đang có xu hướng hòa nhịp cùng đời sống đô thị.
Chẳng những tại miền Bắc Tự Lực Văn Đoàn bị cấm xuất hiện nhưng sau năm 1975 ngay cả khi hai miền Nam Bắc đã hoàn toàn thống nhất thì số phận của nó cũng không may mắn gì hơn, vẫn bị vùi dập, che giấu và cấm đoán ngay trong từng tù sách gia đình. Những tên tuổi như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng, Hoàng Đạo… hoàn toàn biến mất trong mái trường xã hội chủ nghĩa, mãi tới hơn hai mươi năm sau một vài tác phẩm của họ mới được in lại từ những chiếc máy in của nhà nước với nội dung bị cắt xén cho vừa với tầm nhìn của cách mạng vô sản, vốn bất đồng với các tác giả này.
Aki Tanaka
Vậy mà từ nước Nhật xa xăm, lại xuất hiện những con người yêu văn hóa Việt Nam trong đó Tự Lực Văn Đoàn được nhắc tới như một dấu son của nền văn học Việt.
Một trong những người ấy là cô sinh viên Aki Tanaka.
Từ Tokyo, Aki Tanaka đã lặn lội tới Việt Nam, tìm hiểu về Tự Lực Văn Đoàn với mục đích học chữ Việt để rồi mê đắm nó đến nỗi bỏ hơn 13 năm theo dõi, nghiên cứu, viết tham luận rồi luận án về Tự Lực Văn Đoàn. Aki đã bay sang Hoa Kỳ nơi có khá nhiều tư liệu lẫn thân nhân của các tác giả để từ đó thấy yêu mến thêm nhóm tác giả đặc biệt này.
Mặc Lâm có duyên may gặp Aki Tanaka tại California trong lần cô sang Mỹ tìm kiếm thêm tư liệu về nhà văn Khái Hưng, người mà Aki Tanaka đặc biệt yêu thích. Cuộc phỏng vấn ngắn nhằm mang cô sinh viên người Nhật này tới gần với người Việt Nam hơn bởi cô đáng được người Việt mở lòng ra đón nhận như một người bạn chân thành của văn hóa Việt.
Aki Tanaka, trước tiên cho biết thời gian đầu cô tới Việt Nam:
Aki Tanaka: Khoảng năm 2000 khi sang Việt Nam tôi đã gặp ông Huy Tưởng thì ông ấy nói nếu Aki muốn học tiếng Việt thì nên tìm đọc Tự Lực Văn Đoàn để biết được tiếng Việt chính xác cho nên tôi đã tìm mua các cuốn sách về Tự Lực Văn Đoàn. Ban đầu thì tôi không hiểu hết, chỉ hiểu sơ sơ thôi nhưng mà đã cảm thấy tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn rất hay cho nên tiếp tục mua sách Tự Lực Văn Đoàn. Ước mơ của tôi là muốn nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn nhưng lúc đó cảm thấy là điều thực tế chỉ là ước mơ thôi.
Mặc Lâm: Aki vừa nói là tìm mua những cuốn sách Tự Lực Văn Đoàn trong nước, không biết là sách cũ đã được in từ xưa hay những cuốn vừa được in lại trong nước?
Aki Tanaka: Tôi chỉ mua được sách tái bản thôi lúc đó không để ý là sách của nhà nước in hay sách cũ nó có gì khác nhau hay là sự khác biệt như thế nào cho nên chỉ mua được sách tái bản thôi.
Mặc Lâm: Sau này khi nghiên cứu sâu về Tự Lực Văn Đoàn thì Aki có thấy sự khác biệt nào giữa bản in gốc và bản in đã được in lại sau năm 1975 và nếu có thì những khác biệt ấy có quan trọng không?
Aki Tanaka: Dạ có. Tôi có học với thầy giáo người Nhật thì thầy này sử dụng sách cũ là sách trước 75 còn tôi thì cầm sách tái bản mới. Cuốn tôi thất vọng nhất là cuốn Đời mưa gió. Khi hai người đọc chung với nhau thì chúng tôi phát hiện sách tái bản và sách gốc nó khác biệt nhau. Tôi thấy nếu mình nghiên cứu văn học Việt Nam mà có sự khác biệt quá nhiều như thế này, mà mình là người phân tích mà tài liệu sai thì rất nguy hiểm cho việc nghiên cứu của mình.
Mặc Lâm: Khi Aki sang Mỹ để tìm gặp thân nhân những người trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì Aki đã gặp được ai và câu chuyện gặp gỡ ấy như thế nào?
Aki Tanaka: Hai năm trước có một buổi hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn tại Mỹ lúc đó gia đình con cháu của nhóm Tự Lực Văn Đoàn tập họp lại cho nên lúc đó tôi gặp được nhiều người nhưng lúc đó tôi không có dịp nói chuyện nhiều với họ. Tháng Ba năm nay tôi có dịp thăm riêng ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của ông Khái Hưng và Nguyễn Tường Thiết là con trai út của ông Nhất Linh. Tôi đã thăm được hai người này.
Mặc Lâm: Về ông Nguyễn Tường Thiết là con ruột thì đã đành rồi riêng về ông Nguyễn Tường Triệu là con nuôi của Khái Hưng thì Aki có nắm vững những nhận định hay lời kể lại của ông Triệu có chính xác và phù hợp với những gì Aki tìm hiểu không?
Aki Tanaka: Aki cũng biết được sơ sơ thôi vì lúc ông Khái Hưng mất thì ông Triệu còn rất nhỏ cho nên ông Triệu không biết gì nhiều. Tuy nhiên ông Triệu có cung cấp một số tài liệu cho Aki.
Mặc Lâm: Trong khi nghiên cứu Tự Lực Văn Đoàn và có dịp gặp gỡ hay thông qua tư liệu thì tác già nào trong nhóm làm cho Aki ấn tượng và yêu thích nhất?
Aki Tanaka: Tôi rất thích ông Khái Hưng. Lý do ông là người có tư tưởng sâu sắc nhất trong Tự Lực Văn Đoàn cho nên đọc tác phẩm của ông thì thấy rất hay.
Mặc Lâm: Nhưng rất nhiều người cho rằng ông Nhất Linh là người lãnh đạo của nhóm và là linh hồn của Tự Lực Văn Đoàn … Aki thấy thế nào về tác phẩm của ông?
Aki Tanaka: Theo tôi thì Nhất Linh là một người hành động, ông có cái ý tưởng cách mạng tuy nhiên so với ông Nhất Linh thì ông Khái Hưng là người suy nghĩ và theo sự tìm hiểu của tôi thì ông Khái Hưng không quan tâm mấy đến chính trị.
Mặc Lâm: Trong một thời gian khá dài sống ở Việt Nam Aki quan sát và thấy giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là sinh viên khoa văn họ có chú ý tới Tự Lực Văn Đoàn hay không?
Aki Tanaka: Tôi thấy họ không chú ý đâu. Tôi nói chuyện với bạn bè đồng nghiệp với cái ý là tôi thích Tự Lực Văn Đoàn nhưng bạn bè đồng nghiệp của tôi lại không biết Tự Lực Văn Đoàn là ai nữa! Bây giờ ở Việt Nam không giảng dạy tác phẩm của nhóm này cho nên không ai biết, không được ai quan tâm đến.
Mặc Lâm: Có một thời gian rất dài Aki đã sang Mỹ tiếp xúc với người viết văn hay hoạt động văn hóa…Aki thấy họ có còn tha thiết khi nói về Tự Lực Văn Đoàn nữa hay không hoặc thời gian đã quá lâu khiến họ dần dần quên Tự Lực Văn Đoàn luôn, không giống như cách đây 40 năm?
Aki Tanaka: Do tôi tiếp xúc với nhiều người làm văn nghệ cho nên họ thường bảo rất còn quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn và họ muốn bảo tồn tác phẩm của nhóm này cho con cháu để sau biết được việc làm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn cho đời sau. Tôi cảm thấy như vậy
Mặc Lâm: Aki cũng có bạn bè người Nhật yêu mến văn hóa Việt Nam trong số họ có ai nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn như Aki hay không?
Aki Tanaka: Thầy cũ của tôi đã nghỉ hưu rồi ông ấy hồi trước cũng có nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn trong trường đại học của tôi và ông cũng đã dạy Tự Lực Văn Đoàn cho sinh viên Nhật. Nhưng bây giờ vị giáo sư mới không quan tâm tới Tự Lực Văn Đoàn nên không dạy nữa cho nên sinh viên không biết gì về Tự Lực Văn Đoàn nữa
Mặc Lâm: Một lần nữa xin cám ơn Aki Tanaka rất nhiều và hy vọng những công trình nghiên cứu của Aki về Tự Lực Văn Đoàn sẽ mang lại nhiều kết quả mong đợi.

Nguồn: RFA (Đài Á Châu Tự Do)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Aki Tanaka – Một người bạn của “Tự Lực Văn Đoàn”

TRƯỜNG XƯA BẠN CŨ

image001K1 DO THAM_0002

Hàng trên, từ trái sang phải: Cố VT Đàm Trung Mộc, PVT Lê Sơn Thanh, Đào Thị Điệp, Phạm Thị Chích, Trần Chính, Dương T Nguyệt Ánh, Võ Thị Tuyết, Bùi T Khánh Hòa (đã chết), Võ T Tố, Kim Hạnh, Lý Mũi Liềm Hàng dưới, từ trái: Ng. Năng Thỏa, Phan Hữu Nghi, Phạm V Bé, Ng Đắc Thành, Ng Thanh Quang, Nhữ Đ Toán, Đinh V Hạp, Ng Gia Hân, Phan Kỷ Niệm, Lâm v Quận (đã chết) , Hồ Đắc Biên, Phạm v Bổn, Ng Ngọc Kính (Cò Tém), Phạm v Chu , Ng V Hoàng, Phan Tấn Ngưu, Hồ Xỹ Báu (đã chết), Ng V Trai

Các bạn K1 về thăm Trường cũ (Học Viện CSQG/Trại Lê Văn Duyệt) chụp hình kỷ niệm với Thầy VT Đàm Trung Mộc và Phó VT Lê Sơn Thanh (hình chụp năm 1967)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TRƯỜNG XƯA BẠN CŨ

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 (tiếp)

Sept BdayNhân dịp có nhiều phe ta sinh vào Tháng Chín, CNN đã sưu tầm được một bài thơ “Mừng Sinh Nhật Tháng Chín” phổ biến đến các bạn và đã được nhiều bạn họa lại rất hay:

image001Xướng:

Năm nào tháng chín, mẹ sinh ra
Thấm thoắt thoi đưa, tuổi đã già
Má hóp da mồi, mưa gió nhuộm
Vai sờn tóc bạc, tuyết sương pha
Giao lưu bạn hữu, tai còn thính
Xướng hoạ thơ ca, mắt chửa loà
   Vui cảnh điền viên, bên cháu chắt
  Chăm vườn hòe quế, nở đầy hoa !
(không rõ tác gỉa)

Họa 1: MẸ
Mười ngày chín tháng mẹ sinh ra
Mài miệt nuôi con cho tới già
Khó nhọc công lao không thể tính
Hao mòn sức lực coi như pha
Nên người khôn lớn chân mòn mỏi
Đỗ đạt thành tài mắt đã lòa
Sung sướng vui mừng tâm mãn nguyện
Chu toàn bổn phận miệng đơm hoa .
TQN.

Họa 2: MONG CON
Chiều chiều lững thững bước dần ra
Trước ngõ liêu xiêu bóng mẹ già
Nhìn núi mây mờ màu xám nhạt
Ngắm đồng lúa chín sắc hồng pha
Con đi chiến đấu, đời còn khổ
Mẹ ở chờ mong, mắt đã lòa
Mai mốt hòa bình mừng họp mặt
Cuộc đời tươi sáng ngát hương hoa.
Cóc Huế TPK

Họa 3: MẸ THĂM CON
Sáng sớm đi làm trại gọi ra
Xa xa bóng dáng một bà già
Bước đi xiêu vẹo thân còm cõi
Nét mặt ưu sầu tóc tuyết pha
Tù tội mịt mù đầu cũng bạc
Ngày về vô định mắt mờ loà
Khi con được thả không còn mẹ
Ra viếng mộ phần một bó hoa
Cóc QT-TP

Họa 4: CẢNH GIÀ
Tháng chín năm nào mẹ đẻ ra
Nay con tuổi đã tới hồi già
Da nhăn tóc rụng phô đầu hói
Bụng phệ lưng còng lộ cốt pha
May quá xem hoa gai chẳng chích
Cũng hên ngắm cảnh mắt chưa lòa
Ban ngày săn sóc khu vườn nhỏ
Đợi tối xem quỳnh chợt nở hoa
ĐNN
Họa 5: THÁNG CHÍN MÙA THU
Tháng Chín mùa thu đã bước ra,
Vi vu gió thổi rặng thông gìa.
Lá cành xơ xác màu phai nhạt,
Cây cỏ tiêu điều sắc úa pha.
Ngắm cảnh hữu tình tim lỗi nhịp,
Nhìn trời mê mải mắt như lòa.
Vườn chiều hoang vắng chim về tổ,
Một đóa quỳnh hương ngát cánh hoa
CX/NĐT
Họa 6: CHÀO ĐỜI
Tháng chin chào đời mở mắt ra
Bao nhiêu tuổi đã thở than già
Răng nguyên phải lúc xương còn gậm
Nướu cứng đúng thời gân chẳng pha
Nhấm nháp đôi ly cho đỡ khát
Nhâm nhe mấy chén đủ say loà
Con tim lỗi nhịp chân chao đảo
Mở cửa hang bồng ngắm nhũ hoa.
CÓC NÚI – NHA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 (tiếp)

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 PQN

Happy Sept bday

Ngày 13/9/2015 là ngày sinh nhật thứ 73 của Cóc Khô Phan Quang Nghiệp, nhân dịp này bạn ta đã làm một bài thơ tự mừng sinh nhật mình như sau:

MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9
Tháng Chín nầy sinh nhật bảy ba
Được làng Đường Cóc chúc thăng hoa
Tình thời chinh chiến càng son sắt
Nghĩa buổi lưu vong vẫn đậm đà
Gặp gỡ tha hương mừng sống sót
Chia niềm viễn xứ tủi thân già
Thất tuần sở đắc tuỳ tâm dục? *
Bạc tóc còn lo chuyện nước nhà !!
Cóc Khô Phan Quang Nghiệp
(Sinh Nhật Tháng 9-2015)
*Thất thập nhi tuỳ tâm sở dục

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG SINH NHẬT THÁNG 9 PQN

K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

K1 TN Buu

Đại gia K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

Theo tin từ  Bắc California, “đại gia” K1 Trần Ngọc Bửu từ Việt Nam  viễn du Mỹ quốc đã ghé lại San Jose thăm các bạn bè K1 từ hôm 9/9/2015. Ngày 13/9 vừa qua, các bạn K1 tại San Jose đã có một bữa tiệc hội ngộ với “đại gia” Bửu tại nhà K1 Đinh Văn Hạp. Nhân dịp này, Trưởng Khóa 1 kiêm Phụ tá “dám đốc” CNN Toán Nhữ đã điện thoại thăm hỏi đại gia và được biết, mặc dù bạn ta phải gỡ gần 9 cuốn lịch nhưng vì bị rắc rối về hộ khẩu nên vẫn bị rớt Hát Ô như bạn Nguyễn Văn Suốt của chúng ta. Nhưng khác với K1 Suốt, K1 Bửu may mắn hơn, sau khi thi rớt H.O. phải ở lại nhưng nay đã trở thành một “big skin” không như bạn Suốt. Chúc mừng bạn ta.

TN Buu den My

Riêng về bạn Suốt, theo lời bạn Bửu, K1 Suốt hiện nay bị bệnh thoái hóa khớp cột sống nên đi lại rất khó khăn, chỉ quanh quẩn trong nhà, ít đi đâu xa.

Nhân dịp hội ngộ K1 Bửu, K1 Nguyễn Hoài Ân tức Cóc Núi đã làm ngay một bài thơ chúc mừng bạn ta và ngay sau đó, bài thơ đã được các bạn ta họa lại rất hào hứng.

BẠN TÔI
           Bạn chốn phương xa đến viếng tôi,
     Gặp nhau dạ luống thấy bồi hồi.
               Lem nhem đôi mắt long tròng kính,
Lác đác nếp nhăn vẽ nét môi
  Ông tạo trớ trêu trò phỉnh gạt,
        Trời xanh bướng bỉnh tóc hoa rồi.
        Ngành xưa dáng dấp đâu còn nữa
Gặp lúc tuổi già tủi phận thôi.
CÓC NÚI – NHA
Các bài họa:

MỪNG GẶP LẠI
Biến cố bảy lăm trên nước tôi
Nhân dân cả nước phải bồi hồi
Tự do mất hết đành câm miệng
Thống nhất mà đâu dám hở môi
Chống đối đưa đi không vướng bận
Im hơi ở lại chẳng yên rồi
Giang san tan nát làm trăm mảnh
Gặp lại mừng vui có vậy thôi .
TQN
TRI KỶ ĐẾN THĂM
Lâu ngày tri kỷ đến thăm tôi
Trò chuyện huyên thuyên được một hồi
Dưới bếp vợ hiền lo chế nước
Trên nhà khách khứa đỡ khô môi
Nghẹn ngào quá khứ đang quay lại
Hy vọng tương lai đã hết rồi
Khúc cuối cuộc đời cần bạn hữu
Tủi buồn cô quạnh sớm đi thôi
Cóc QT
CỐ NHÂN
Thử hỏi bạn hiền có nhớ tôi?
Xa nhau những muốn cố nhân hồi.
Tao phùng rượu nhắp tê đầu lưỡi,
Gặp mặt trà chiêu ngọt khóe môi.
Nhắc lại thuở xưa còn hoa mộng,
Tiếc hoài quá khứ đã xa rồi.
Thời gian điểm bạc trên làn tóc,
Bóng nước qua cầu lặng lẽ thôi.
Cóc Huế TP
ĐẠI GIA & CHÂN DÀI *
Đại gia đa dại cũng như tôi ?
Dính chấu “ta liêm” biết mấy hồi !
Khe suối chui đầu rêu cả tóc ,
Đào tiên múp hột nhớt đầy môi .
Lỗ then tạo hóa còn mơn mởn ,
Cái trụ càn khôn tét bét rồi .
Tật khoái chân dài e khó bỏ ,
Tới chừng nào chết mới chừa thôi .
LHN

* Đại gia Trần-ngọc-Bửu đăng bảng tuyển chân dài.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Trần Ngọc Bửu viễn du Mỹ Quốc

Ý Kiến về Ngày Tổ Chức 50 Năm HVCSQG

ga tre

Ý kiến của 2 con Gà Tre

về Ngày Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG:

“Kính thưa quý niên trưởng và các chiến hữu ,

Chúng tôi – hai con gà tre Houston – xin hoan hô quý niên trưởng, quý chiến hữu đã cho chúng tôi một tiếng thở ra nhẹ nhõm cả lòng. Bấy lâu nay khi cuộc họp lần vừa qua quý vị quyết định ngày 3, 4, 5 tháng bảy (2016) làm chúng tôi rất lo lắng, sẽ khó mà tham dự được vì những lý do hết sức thực tế: vé máy bay sẽ không là 300 mà sẽ là 600, 700 đô cho một vé, khách sạn sẽ không còn chỗ ….. khó khăn mọi bề ! . Chúng tôi cảm thấy buồn, lo ! 

   Nhưng bây giờ thì rất vui rồi. Hoan hô quý niên trưởng và các chiến hữu .

  Chúng tôi sẵn sàng có mặt . 

Kính chúc quý niên trưởng và các chiến hưu nhiều sức khoẻ và hạnh phúc .

   Gà Tre Lê Quang Phú

    & Gà mái tre htko .”

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ý Kiến về Ngày Tổ Chức 50 Năm HVCSQG

Về Việc Tổ Chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

Thưa các bạn K1,

Vừa qua, vào lúc 9g30 sáng chủ nhật 13/9/2015, tôi có tham dự một buổi họp gồm đại diện nhiều Khóa tại Nam California để bàn về việc tổ chức Kỷ Niệm 50 Năm Học Viện CSQG. Trong buổi họp này, tôi đã được đề cử làm thư ký và đã có bản tường trình cùng những hình ảnh của K1 Võ Thiệu chụp như sau:

“Kính thưa Quý NT và các bạn cựu HVCSQG:

Là thư ký của buổi họp tôi xin bổ túc bản tường trình của anh Võ Thiệu thêm những chi tiết sau:

– Tiếp theo buổi họp vào tuần trước (6/9) để bàn v/v tổ chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG phải hoãn lại vì số SV cựu HV hiện diện qúa ít, buổi họp hôm nay CN 13/9/15 mục đích để thảo luận tiếp v/v bầu cử Trưởng BTC và chọn ngày tổ chức.

– Buổi họp đã bắt đầu vào lúc khoảng 9g30 dưới sự chủ toạ của các NT Trần Quan An, Trần Quang Nam, Phan Trung Chánh và Ngô Bá Phước; cùng với sự hiện diện của khoảng gần 30 nam nữ cựu SV các khóa (nhiều nhất là các K1, K2, K3, K6 và một vài bạn thuộc các khóa khác)

– Sau phần tuyên bố lý do buổi họp của NT Trần Quan An (chủ nhà), anh Phan Tấn Ngưu (K1), đại diện TH/CSQG, người triệu tập buổi họp, đã cho biết,trong buổi họp lần trước, mọi người dự kiến sẽ tổ chức vào ngày Lễ Độc Lập HK July 4th, 2016. Tuy nhiên, sau khi thông báo ngày này trên các Diễn Đàn CSQG online thì đa số đều không tán thành ngày này vì những trở ngại như gía vé máy bay, khách sạn cao và khó mua vé; thêm nữa vấn đề an ninh trong ngày lễ lớn di chuyển rất bất tiện, và ngày lễ July 4th cũng là ngày họp mặt của nhiều gia đình, v.v… Vì những lý do đó, anh Ngưu đề nghị nên dời lại ngày kỷ niệm 50 Năm HVCSQG 1 tuần hay 2 tuần sau ngày lễ July 4th hay một ngày nào khác tùy mọi người quyết định. Sau phần thảo luận sôi nổi, mọi người đã biểu quyết bằng cách giơ tay 24/28 đồng ý chọn ngày 17/7/2016 là ngày tổ chức 50 Năm HVCSQG.

– Qua phần bầu cử trưởng Ban Tổ Chức. Có 3 người được để cử là: Anh Nguyễn Doãn Hưng K6, anh Phan Tấn Ngưu K1 và anh Nguyễn Ngọc Tiến K3. Kết qủa: anh Nguyễn Doãn Hưng được đa số tín nhiệm vào chức vụ Trưởng BTC. Các anh Ngưu và Tiến tuy không đắc cử nhưng được mọi người đề cử làm Phó BTC, phụ tá cho anh Hưng.

– Chi tiết v/v tổ chức ĐH 50 Năm HVCSQG như thế nào sẽ được BTC mời thêm đại diện các Khóa tham gia và sẽ có những buổi họp kế tiếp để thảo luận chi tiết sau.

Trân trọng thông báo,

Nhữ Đ. Toán K1

Mời các bạn xem một số hình ảnh do K1 Võ Thiệu làm phó nháy:

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về Việc Tổ Chức Kỷ Niệm 50 Năm HVCSQG

CÁI ĐÓI TRONG TÙ_Thơ Nguyễn Phiến

tu cai tao copy           

Cái Đói Trong Tù
Cái đói trong tù, đói trầm kha
Đói xanh máu mặt, đói vàng da
Bụng đói cồn cào, kêu ọc ạch
Chân tay bủn rủn, mắt tóa hoa

Cái đói bù tóc, đói ù tai
Tứ chi co cụm sụm đôi vai
Bứơc đi không vững thân xiêu vẹo
Đói không điều khiển nổi chân tay

Cào cào, châu chấu, rau tàu bay
Mối rừng, rắn, chuột, trái cây dầu
Tìm đựơc loại gì ăn thứ đó
Lâu ngày tuyệt chủng tù trắng tay

Đói mà không có lá rau rừng
Không còn tìm thấy một côn trùng
Cái đói hãi hùng trùm tâm tưởng
Đói cả trong mơ, đói chập chùng

Triền miên đói khổ mấy năm trời
Đói chẳng bao giờ đựơc nghỉ ngơi
Ngày ngày bị cưỡng bức lao động
Cái đói trong tù, đói chết thôi

Trăm nghìn cái chết đến trong đời
Cái càng dai dẳng, càng khổ hơn
Cận kề chết đói, tận cùng khổ
Nhiều người trải nghiệm, chẳng riêng tôi
NGUYỄN PHIẾN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÁI ĐÓI TRONG TÙ_Thơ Nguyễn Phiến

NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

(Hình  do K1 Phạm Văn Toán cung cấp)

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI

NGẬM NGÙI 48 Năm Trước, 48 Năm Sau

IMG_1101_resized

48 năm trước (1966), K1 Nguyễn Văn Trung (người đứng thứ 3 từ bên phải), trước 1975 phục vụ tại TTHL/CSDC/ĐàLạt, sau đổi về Khối Tiếp Vận/BTL.CSQG

IMG_9348_resized

Nguyễn Văn Trung (cùng vợ) 48 năm sau (2014), hiên đang định cư ở tb Louissiana

image001

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGẬM NGÙI 48 Năm Trước, 48 Năm Sau

SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI_Toàn Như

Saigon H.O.

Tuần báo Sống # 213 ngày 04/9/2015

SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI
• Toàn Như
Cuốn phim tài liệu “The Last Days in Vietnam” (Những Ngày Cuối Cùng ở Việt Nam, đạo diễn Rory Kennedy, một hậu duệ của dòng họ Kennedy) kể về những ngày cuối cùng hỗn loạn trong những ngày tàn của cuộc chiến Việt Nam vào tháng Tư năm 1975. Trong số những hình ảnh của những ngày cuối cùng u buồn đó có cảnh hàng chục ngàn người đang tìm cách trốn thoát khỏi miền Nam bằng mọi cách trước khi quân cộng sản tràn đến. Tôi không nằm trong số những người may mắn ra đi trong những thước phim đó, nhưng những hình ảnh này đã gợi lại trong tôi ký ức về những ngày cuối cùng của chính mình trước khi rời khỏi Việt Nam ra đi theo chương trình H.O.

Trong phim “The Last Days in Vietnam” có một cảnh thật cảm động. Khi chiếc chiến hạm chở đồng bào di tản đến gần bờ biển Phi Luật Tân, mọi người Việt, gồm cả quân và dân, đứng trên boong tàu đã nghẹn ngào hát bản quốc ca VNCH lần cuối cùng trong khi lá cờ vàng ba sọc đỏ từ từ hạ xuống. Tôi đã nhìn thấy những khuôn mặt đẫm lệ đang cất cao lời hát “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng…”. Cảnh tượng đó làm cho tôi nhớ đến những ngày ở Bangkok, Thái Lan. Trong khi chờ đợi làm thủ tục nhập cảnh vào Mỹ theo diện H.O., chúng tôi đã được xem một cuốn phim tài liệu về một cuộc diễn hành Ngày Quân Lực ở Sài Gòn trước 1975. Lúc đó, lần đầu tiên sau mười sáu năm tôi mới được nhìn lại lá cờ vàng qua màn ảnh nhỏ, chỉ như vậy thôi mà tôi đã rưng rưng xúc động, nói gì những người trên chiếc chiến hạm kia…

Vào giữa thập niên 1980, ở Sàigòn và có lẽ ở cả nhiều nơi khác tại Việt Nam, đã có những tin đồn rằng, những cựu tù nhân chính trị cộng sản, tức những người từng bị cộng sản bắt đi “học tập cải tạo”, thực chất là đi tù, sau tháng Tư 1975, sẽ được phép xuất cảnh đi định cư tại Mỹ theo một sự thỏa thuận hay thỏa hiệp giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng.

Tôi cũng như các bạn cựu tù cải tạo khác rất phấn khởi trước tin đồn trên. Mọi người phấn khởi vì hy vọng nhờ đó có thể thoát khỏi một cảnh sống tù túng đầy rẫy những âu lo có thể bị bắt lại bất cứ lúc nào mặc dù đã được trả tự do sau nhiều năm bị tù đày trong những trại cải tạo. Hầu hết các cựu tù cải tạo sau khi được thả về đều rất chật vật trong cuộc mưu sinh. Họ hầu như không thể xin vào làm việc ở bất cứ một cơ quan nào. Một số phải sống bằng nghề đạp xích lô, buôn bán chợ trời, hoặc về quê làm ruộng, làm rẫy, v.v… Cho nên, tin đồn đã như một cái phao cứu sinh, một niềm hy vọng giúp họ được đổi đời, dù chưa biết cuộc sống mới ở một nơi xứ sở xa lạ sẽ như thế nào, nhưng ai cũng nghĩ chắc chắn sẽ được hít thở một bầu không khí tự do.

Cá nhân tôi, sau gần bảy năm bóc lịch ở trong nhà tù Chí Hòa mới được thả về. Tôi bị bắt bị ghép vào tội “ngụy quân, ngụy quyền trốn học tập cải tạo” mặc dù mình chẳng hề trốn tránh đi đâu cả. Do lệnh “trình diện học tập” dành cho các sĩ quan cấp đại úy quân đội và cảnh sát không cùng một ngày nên bọn “cách mạng ba mươi” vì muốn lập công đã chỉ điểm cho an ninh phường đến bắt tôi vì tình nghi tôi là một đại úy trốn trình diện học tập. Mặc dù tôi đã giải thích ngày trình diện của tôi chưa đến vì tôi là đại úy ngành cảnh sát, nhưng vì chủ trương của VC là “thà bắt lầm hơn bỏ sót” nên tôi vẫn bị chúng bắt giam vào khám Chí Hòa.

Sau gần bảy năm “nằm ấp” ở Chí Hòa, tôi đã được trả tự do. Nhưng dù được trả tự do, cuộc sống hàng ngày của tôi cũng chẳng được tự do. Hết trình diện lại báo cáo, hết họp tổ đến họp phường; lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị công an hạch hỏi. Vào mỗi thứ hai hàng tuần, tôi phải đến trình diện cái gọi là “Ủy Ban Quản Lý Người Học Tập Cải Tạo Trở Về” để báo cáo những công việc mình đã làm trong tuần. Báo cáo này phải được ghi chép vào một cuốn sổ trình cho tên cán bộ chủ tịch ủy ban là tên phó chủ tịch Phường phụ trách. Tuy nhiên, tôi chỉ báo cáo một cách chung chung những công việc hàng ngày chả có gì đặc biệt. Như, buổi sáng đưa con đi đến trường, buổi trưa đến trường đón con về, thời gian còn lại là những công việc lặt vặt như dọn dẹp nhà cửa, rửa chén, lau nhà, dạy kèm con học ở nhà, hay phụ vợ buôn bán lặt vặt mưu sinh (bán chợ trời), v.v… Nghĩa là toàn những công việc linh tinh, vô thưởng vô phạt.

Có lẽ việc báo cáo của tôi như vậy, có cũng như không, nên khoảng hai tháng sau, tên cán bộ phụ trách đã nới lỏng việc trình diện cho tôi. Thay vì bắt tôi phải báo cáo mỗi tuần một lần, hắn đã ra lệnh cho tôi chỉ phải báo cáo mỗi tháng một lần. Thế nhưng, hàng tháng tôi vẫn bổn cũ soạn lại, vẫn báo cáo công việc hàng ngày chẳng khác gì hơn những sinh hoạt thường nhật mà tôi đã báo cáo trước đó. Sau mấy tháng như thế, có lẽ thấy báo cáo của tôi chẳng khai thác được gì, nên một hôm tên cán bộ này đã nói, “Thôi từ nay anh không phải trình báo cáo nữa”. Tuy nói thế, nhưng hắn lại thòng thêm câu, “Nhưng anh có thể đến báo cáo – bất cứ khi nào – có gặp những việc bất thường”. Mặc dù hắn đã ra lệnh như vậy, nhưng tôi chẳng bao giờ trở lại gặp hắn.

Mãi hai năm sau, để chuẩn bị cho tôi được “xả chế, trả quyền công dân”, tôi phải đến dự một buổi họp tổ dân phố để họ lập biên bản trình lên Phường, lên Quận. Xui cho tôi là cái tổ dân phố nơi tôi ở có nhiều cán bộ VC và tổ trưởng lại là một tên cán bộ phường. Lý do vì khu vực tôi ở trước đây là khu có nhiều căn nhà của những sĩ quan, viên chức chế độ cũ đã di tản năm 1975 nay bị bọn VC chiếm ngụ. Trong buổi họp, một tên cán bộ đã phê bình tôi không đi họp tổ nên họ không biết gì về tôi để báo cáo. Những tên khác cũng nói, chúng cần có một thời gian để tìm hiểu thêm về tôi trước khi có ý kiến. Sau buổi họp, có người đã mách tôi, muốn được “xả chế” thì phải biết cái “thủ tục đầu tiên” (tức đâu tiền hay chung tiền) cho tên tổ trưởng dân phố. Thế là tôi phải “biết điều” lo lót cho hắn để hắn viết cho một cái biên bản khác.

Sau đó, để tránh bị làm khó dễ và bị ép phải đi kinh tế mới, tôi đã xin làm thiện nguyện viên cho Hội Chữ Thập Đỏ (tức Hội Hồng Thập Tự, theo cách gọi của VC). Vào đầu thập niên 1980, mọi sinh hoạt của người dân vẫn còn bị VC kiểm soát chặt chẽ chứ đừng nói gì với những người cựu tù cải tạo. Đó là lý do tôi phải xin làm việc bán thời gian (nửa ngày) cho Hội Chữ Thập Đỏ không lương, chỉ thỉnh thoảng được cấp cho một ít nhu yếu phẩm, để có tấm lá chắn làm việc cho nhà nước. Nửa ngày còn lại tôi phụ với vợ buôn bán quần áo cũ ở chợ trời An Đông và dạy kèm thêm Anh Văn cho mấy em học sinh trung học ở gần nhà. Nhưng việc dạy học cũng chẳng được bao lâu, một hôm tôi đang dạy học thì tên công an khu vực đến hỏi tôi có giấy phép dạy học của Phòng Giáo Dục Quận không. Dĩ nhiên là tôi không có. Không muốn bị rắc rối thêm, tôi đành phải dẹp cái lớp học này.

Khi những tin tức về việc tái định cư các cựu tù cải tạo lan truyền ở Sàigòn, tôi và các bạn tù rất náo nức hy vọng. Mọi người ai cũng mong đó là sự thật để được thoát ra khỏi cảnh tù túng dưới chế độ cộng sản. Biết bao nhiêu những tin đồn được rỉ tai nhau hàng ngày chẳng biết hư thực thế nào. Nơi phát xuất ra những tin đồn loại này nhiều nhất là ở bãi cỏ công viên phía trước Sở Ngoại Vụ Thành phố (Bộ Ngoại Giao VNCH cũ), phía trước Dinh Độc Lập, gần nhà thờ Đức Bà. Thỉnh thoảng tôi cũng đến đây để nghe ngóng tin tức. Ở đây, các anh em cựu tù thường tụ tập thành từng nhóm để bàn tán truyền tai nhau những tin tức thu lượm được. Vì không có một thông cáo chính thức nào về chương trình này, nên những tin đồn tha hồ được thêu dệt. Nào là tin từ đài VOA, đài BBC. Nào là tin đáng lẽ việc ra đi này đã được thực hiện từ trước ngày 30-4-1975, giống như cuộc di cư của đồng bào miền Bắc sau hiệp định Genève năm 1954. Hay, việc ra đi này để đổi lại, Hoa Kỳ sẽ nới lỏng cấm vận cho Việt Cộng và từ từ đi tới tái lập bang giao. Thậm chí còn có tin đồn, các cựu tù khi đến Mỹ còn được truy lãnh lương tính từ năm 1975 cho đến nay. Mặc dù đa số đều nghĩ, đó chỉ là tin vịt cồ, nhưng cũng có một vài người vẫn nuôi một ảo tưởng nghĩ rằng biết đâu đó là sự thật để tự an ủi mình.

Mãi đến khoảng giữa năm 1989, chương trình tái định cư các cựu tù cải tạo sau được gọi là chương trình H.O. mới bắt đầu chuyển động. Nhưng vẫn không có thông cáo chính thức nào về việc này được đưa ra cho đến khi một số cựu tù bổ túc hồ sơ bảo lãnh (ODP), lúc đó họ mới biết mình đã được chuyển vào danh sách HO1, HO2… Mặc dù vậy, mọi người vẫn còn bán tín bán nghi. Đa số vẫn còn dè dặt chưa dám xúc tiến nộp hồ sơ vì chỉ sợ bị gài bẫy, rồi tiền mất mà tật mang, nghĩa là vẫn chẳng được đi đâu cả. Chính vì biết tâm lý này nên công an VC đã bày ra cơ quan Trung Tâm Dịch Vụ Xuất Cảnh để thâu gom những dịch vụ về việc nộp đơn xin xuất cảnh theo diện cựu tù cải tạo. Trụ sở của trung tâm này nằm trên đường Võ Tánh, đối diện ngay cổng Bộ Tư Lệnh CSQG/VNCH (Tổng Nha Cảnh Sát) cũ.

Sau nhiều ngày “điều nghiên” cho chắc ăn, mãi đến cuối năm 1989, tôi mới mang hồ sơ của mình tới trung tâm này nộp. Lúc đến nơi tôi mới thấy nhiều người cũng đến nộp đơn khá đông. Mọi người nộp đơn phải đóng một số tiền lệ phí khá lớn khoảng 200.000 đồng tiền Hồ cho mỗi đầu người trong gia đình cộng thêm một vài phụ phí linh tinh khác. Gia đình tôi bốn người gồm vợ chồng và hai con đã tốn mất gần một triệu.

Khoảng sáu tháng sau, gia đình tôi nhận được giấy mời đi bổ túc hồ sơ ở văn phòng (quản lý xuất nhập cảnh ?) nằm ở góc đường Nguyễn Du và Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng 8) đối diện với vườn Tao Đàn. Theo rỉ tai của những người đi trước, để việc bổ túc hồ sơ được dễ dàng thuận lợi thì nhớ “bồi dưỡng” cho tên cán bộ phụ trách một bao thuốc lá ba số 5. Có người vì chủ quan hay vì không biết chuyện này nên đã phải ra về, đi tới đi lui bổ túc nhiều lần mà vẫn chưa xong việc. Nghe nói vậy, nên trước khi vào trình giấy tờ, tôi đã ghé sạp bán thuốc lá lẻ của một bà ngồi trên lề đường phía trước văn phòng. Bà bán thuốc lá đưa cho tôi một gói thuốc lá 555 có vẻ đã cũ, tôi nói bà đổi cho gói khác nhưng bà nói: “Cậu mua thuốc mang vào cho cán bộ bên trong phải không? Không sao đâu. Nó vào trong rồi chiều nó cũng ra lại đây thôi.” Tôi hiểu ý bà muốn nói gì nên trả tiền mua gói thuốc đó. Quả nhiên, khi vào gặp tên công an phụ trách, trong lúc y đang xem hồ sơ, tôi để gói thuốc lá 555 lên bàn và nói: “Mời cán bộ hút thuốc.” Nói là mời nhưng gói thuốc lá của tôi vẫn còn nguyên chưa xé bao. Tên công an vẫn lầm lỳ, mặt lạnh như tiền, không nói gì và cũng không ngẩng đầu lên. Hắn lấy tay lẹ làng gạt gói thuốc lá vào trong ngăn kéo bàn đã mở sẵn mà tôi nhìn thấy đã có sẵn mấy gói thuốc lá 555 ở trong. Trong khi đó hắn gỉa bộ kiểm soát những giấy tờ tôi mang theo xem đã đầy đủ chưa một lúc rồi nói tôi đã bổ túc giấy tờ đầy đủ, có thể ra về.

Thế rồi, sau nhiều lần bổ túc hồ sơ ở nhiều chỗ khác, rồi khám sức khỏe, chụp hình, lăn tay, phỏng vấn tôi mới nhận được giấy báo hồ sơ của tôi đã được chấp thuận để chờ ngày lên đường. Nhưng trước khi để được lên đường, tôi còn phải trải qua nhiều thủ tục cũng nhức đầu không kém. Nào là phải có giấy không thiếu nợ ngân hàng. Ngân hàng VC còn nợ tôi thì có chứ tôi nào có vay mượn gì của ngân hàng VC đâu mà thiếu nợ. Trước 1975, tôi có khoảng mấy trăm ngàn đồng tiền VNCH trong sổ tiết kiệm của ngân hàng Việt Nam Thương Tín chưa kịp rút ra nhưng nay VC nói họ không có trách nhiệm gì về số tiền này. Trái lại, đối với những ai có vay mượn tiền của ngân hàng trước 1975 thì chúng lại nói, chúng là người tiếp quản ngân hàng nên chúng có quyền truy thu những món nợ đó. Đúng là lưỡi không xương. Có những người trước đây chỉ vay nợ khoảng vài chục ngàn tiền cũ nay chẳng hiểu chúng tính toán làm sao đã bị kết toán nợ lên đến mấy trăm triệu đồng. Dĩ nhiên, những người này phải “chạy chọt” chứ làm sao họ có đủ số tiền lớn như vậy để thanh toán. Hơn nữa, dù có nợ hay không có nợ ngân hàng như tôi thì ai cũng phải chi một khoản tiền mới có được tấm giấy chứng nhận không thiếu nợ ngân hàng.

Một loại giấy tờ khác rắc rối nữa là giấy xác minh không vướng bận về vấn đề nhà đất. VC đưa ra một quy định vô lý là cấm mua bán, sang tên chủ quyền nhà đất đối với những người xuất cảnh nguyên là những sĩ quan chế độ cũ: từ cấp Thiếu tá trở lên cho các sĩ quan quân đội và từ cấp Trung úy trở lên cho các sĩ quan cảnh sát. Tôi là một sĩ quan cảnh sát cấp đại úy nên phải giao căn nhà của chúng tôi ở chúng cư Minh Mạng/Q.10 – Saigon cho chúng; đã thế, chúng còn bắt tôi phải làm đơn xin nhà nước quản lý giùm căn nhà này vì vắng chủ (một kiểu tịch thu nhà thật tinh vi). Thiệt là tức. Không những vậy, chúng còn truy thu, bắt tôi phải nộp tiền thuế thổ trạch cho căn nhà này kể từ khi chúng được xây cất cho đến nay. Thiệt là một điều vô lý nữa vì nhà chúng cư, mà lại ở trên lầu như nhà của tôi, thì làm gì có đất đâu mà phải nộp thuế thổ trạch. Nhưng thôi, coi như “thí cô hồn” cho chúng, tôi nghĩ vậy. Thế là tôi lại phải tốn mất mấy chục ngàn tiền thuế thổ tả này cho chúng.

Để tránh bị trục trặc vào giờ chót, tôi đã nhờ một văn phòng dịch vụ lo trước các giấy tờ liên hệ. Lúc các giấy tờ đã xong, hai ngày trước khi lên đường, tôi hẹn sẽ giao chìa khóa nhà cho phường rồi đến ở tạm nhà chị tôi chờ đến ngày ra phi trường cho chắc ăn. Tuy nhiên, trước khi giao nhà cho phường, tôi đã tháo gỡ hết những cửa sắt, bóng đèn, ổ điện trong nhà đem bán ve chai hay cho người nhà cho bõ ghét. Đến ngày hẹn, hai tên cán bộ phường đến nhà tôi để nhận chìa khóa. Chúng hỏi:

– Nhà sao không có bóng đèn và ổ điện sao hư hết rồi?
Tôi nói:
– Đây là nhà của chúng tôi, chúng tôi nhờ nhà nước quản lý giùm trong thời gian chúng tôi đi ra nước ngoài. Nó như thế nào thì các anh cứ tiếp nhận như vậy. Hôm nay, tôi chỉ có nhiệm vụ giao chìa khóa cho các anh thôi. Còn các giấy tờ liên hệ tôi đã được cấp đầy đủ rồi.

Hai tên cán bộ hơi bị quê, biết không thể làm khó dễ gì được tôi nên quay sang nói chúc chúng tôi lên đường may mắn.

Hai ngày cuối cùng tôi đến ở nhà chị tôi, hầu như tôi không ngủ được. Đêm nào chị và em tôi cũng thức ngồi nói chuyện với vợ chồng tôi đến tận nửa đêm. Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm và dặn dò nhắn nhủ nhau đủ điều.

Buổi chiều cuối cùng trước ngày đi, tôi mượn chiếc xe đạp của em tôi đạp vòng quanh qua mấy con đường trong thành phố như để nhìn lại Sài Gòn một lần chót. Tôi đạp xe loanh quanh mà chẳng biết mình đi đâu. Đường phố về chiều xe cộ vẫn tấp nập. Tôi chậm rãi đạp xe dọc theo đường Công Lý, qua Dinh Độc Lập, hướng về Nhà Thờ Đức Bà, rồi rẽ theo con đường Duy Tân nhìn lại ngôi trường đại học cây dài bóng mát… Những con đường xưa, phố cũ đã ghi dấu bao nhiêu kỷ niệm trong tôi rồi sẽ chỉ còn là dĩ vãng. Sài Gòn ơi, thôi gĩa từ bạn nhé, chưa biết đến bao giờ ta mới gặp lại nhau.

Sáng ngày hôm sau chúng tôi chính thức ra phi trường Tân Sơn Nhất để ra đi, cảnh chia tay chị em tôi thật là bịn rịn. Lúc chúng tôi phải bước vào phòng cách ly để đi ra sân bay, chị tôi rưng rưng nắm tay tôi chúc tôi lên đường bình an. Qua cửa sau của phòng cách ly, chúng tôi bước ra sân bay để đi ra máy bay. Tôi không dám quay đầu lại vì tôi sợ tôi sẽ xúc cảm đến khóc khi thấy chị tôi đang đứng khóc nhìn theo chúng tôi. Tôi biết từ nay tôi sẽ xa chị, người chị cả thương yêu của tôi. Và cả cái đất nước này, chỉ trong chốc lát nữa thôi, tôi sẽ xa rời nó mà chưa biết đến bao giờ mới trở lại.

Trong lúc đi đến chiếc máy bay đậu ở đằng xa, tôi bỗng thấy một ông trung niên đang bước lên cầu thang máy bay. Khi đến trước cửa máy bay, người đàn ông này đã quay đầu lại nhìn về phía phòng khách phi trường, rồi bất ngờ ông quỳ xuống chắp tay lạy ba lạy trước khi bước vào bên trong khoang máy bay. Tôi không hiểu, ông lạy gĩa từ đất mẹ, hay ông lạy cám ơn trời đất đã cho ông được thoát ra khỏi cái “thiên đường” cộng sản này.

Khi chiếc máy bay vừa cất cánh, từ trên cao nhìn qua khung cừa sổ, tôi thấy Sài Gòn của tôi ở dưới đang lùi dần, nhỏ dần rồi mất hút. Bỗng dưng nước mắt tôi ứa ra; buồn bã, tôi nhủ thầm, Sài Gòn ơi, ta xa nhau từ đây !
TOÀN NHƯ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN, H.O. VÀ TÔI_Toàn Như

HOA MÀU ĐẤT_Thơ Thanh Hoàng

ThanhHoang

K1 Ng.~ Thanh Hoàng

HOA MÀU ĐẤT

Thương quá thương !!! Hoa màu đất quê mẹ
Đẹp vô vàn trân quý mãi trong tôi !!!
Giờ nhìn lại lòng không khỏi bồi hồi
Vì màu áo trọn cuộc đời tận hiến !
Nhớ năm nao, ngày giã từ Học Viện
Bộ Cảnh phục Dã Chiến khoác vào người
Rất hào hùng phong cách tuổi đôi mươi !
Gót giày lê khắp bốn vùng chiến thuật
Chí nam nhi quyết kiên cường bất khuất
Tuổi thanh xuân, tuổi uy dũng, hiên ngang
Bầu nhiệt huyết đầy khí phách tiềm tàng
Nguyện sắt son vẹn câu thề : “sát Cộng” !!!

THANH HOÀNG
(CA 16-12-2013)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HOA MÀU ĐẤT_Thơ Thanh Hoàng

Bài ca Vu Lan_ Nhớ Ơn Cha

Hôm nay để cho công bình, mình mời các bạn thưởng thức 3 bài ca Vu Lan nói về ân nghĩa của người Cha.

Mến chúc các bạn và gia đình một mùa Vu Lan đầy hiếu hạnh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài ca Vu Lan_ Nhớ Ơn Cha

Happy Birthday September

Happy birthday september

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday September

Vu Lan- Thơ Phương Trúc NHA

vu lan

Mùa Vu lan trở về trong nức nở
Con nhớ song thân vạn thuở nào quên
Ơn dưỡng nuôi con chưa kịp báo đền
Thì cha mẹ  lên đường về tiên cảnh. 

Cõi hồng trần song thân rày xa lánh
Về non tiên đức hạnh được thăng hoa
Con chấp tay cầu nnguyện đấng Di Đà
Xin đưa rước mẹ cha qua Giác ngạn. 

Ngõ sanh tử, sáu đường mau sớm cạn
Nẽo luân hồi hàng vạn cũng tiêu tan
Chốn âm ty chói rạng giống Phật đàng
Cảnh địa ngục cũng tiêu tan biến mất. 

Mùa Vu lan từ khi cha mẹ mất
Con đi chùa lễ Phật chỉ một mình
Nhìn trời cao trăng sáng rọi lung linh
Như cha mẹ đang trộm nhìn con trẻ. 

Nhớ cha mẹ trong nỗi buồn đơn lẽ
Cài hoa hồng màu trắng thế khăn tang
Ước chi cha mẹ còn mãi thế gian
Để con được áo tràng cài hoa đỏ. 

Hạnh phúc thế gian mấy ai hiểu rõ
Đời vô thuòng đau khổ, trộn niềm vui
Vâng lời mẹ cha con gượng tươi cười
Dù con biết cha mẹ ngày kia sẽ mất. 

Ơn cha mẹ vô vàn, cao chất ngất
Giọng song thân phảng phất khó ai quên
Ân nghĩa kia con chưa được báo đền
Con dâng kính đoá hồng lên cha mẹ.

      Phương trúc – NHA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vu Lan- Thơ Phương Trúc NHA

Bản tin K1 từ San Jose

BẢN TIN K1 TỪ BẮC CALIFORNIA

Phóng viên của CNN có biệt danh là Tề Thiên dùng  thiết bảng huơ một vòng diệt tà ma (mấy thằng ăn cơm QG thờ ma CS) rồi bay lên trời đứng một chân trên đám mây trắng, tay trái cầm thiết bảng, tay phải che trước trán, nhìn xuống quan sát trần gian, rồi bay về San Jose gọi phone khẩn cấp cho CNN báo cáo những tin buồn vui như sau:
1. Tin không vui: Bạn K1 NGUYỄN VĂN SUỐT ở Việt Nam đang bị bệnh nặng và nằm liệt giường một chỗ. Và nghe đâu anh em K1 Bắc CA đang có dự tính bỏ uống cà phê sáng một bữa để giúp cho bạn Suốt. Hoan hô anh em K1 Bắc CA.
2. Tin Vui: Nguồn tin chắc nịch cho biết K1 TRẦN NGỌC BỬU sẽ sang Hoa Kỳ thăm chơi và có mặt tại San Jose vào ngày 10 tháng 9 tới đây. Hy vọng sẽ có một hôm hội ngộ với K1 Bắc CA.
3. Tin bất ngờ: Vừa rồi BH đưa tin Chị Hai Hạnh cạo đầu đi tu, mà còn nói nguyên văn:
DAY LA HINH ANH CHI 2 HANH XUONG TOC DI TU…NHUNG KHONG BIET TU CO DUOC KHONG ??? DANG TRONG THOI GIAN THU THACH..BH....”IMG_9299IMG_4773
Nhưng tin cuối cùng được biết, nhân mùa Vu Lan năm nay, chị Hai Hạnh sang Canada dự khóa tu học tại Tu viện Tây Thiên của thầy Thích Pháp Hòa. Trong khóa tu nầy có chương trình TU XUẤT GIA  GIAO DUYÊN dành cho Phật tử nào phát tâm làm tăng ni thử trong một thời gian 2-3 ngày hay một tuần. Người tu xuất gia giao duyên cũng cạo đầu, mặc áo cà sa giống như quý Tăng Ni. . . Nhưng sau khi hết thời gian đó thì trở lại cuộc sống bình thường ngoài xã hội, cũng chồng chồng, vợ vợ, con con, cũng đi làm kiếm sống, cũng ăn uống như xưa không có gì thay đổi. Chị Hai Hạnh đang phát tâm làm chuyện đó. Tuy là tu thử nhưng cũng rất đáng được kính phục vì chị Hai Hạnh dám hy sinh mái tóc của mình ít ra cũng 4-5 tháng nữa mới mọc ra được như xưa.
Tề Thiên tường trình từ San Jose

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bản tin K1 từ San Jose

Truyện Vui thời xã nghĩa

canh sat cuoi

Truyện Vui thời xã nghĩa

Đây là chuyện một anh bị công an giao thông VC thổi còi chận lại biên phạt kể lại rằng:

– Hôm trước em bị công an giao thông bắt. Em xuống xe hét to: “Mày biết tao là ai không mà mày dám thổi? Mày thổi tao thì mày còn sống đấy, chứ tao mà thổi mày là mày chết mẹ mày rồi.” Chúng nó tưởng em là con ông cháu cha hay cấp lớn hoặc là thanh tra cải trang nên tha. Khi em lên xe nổ máy rồi chúng mới dám khép nép lại hỏi: “Thế anh công tác ở bên nào ạ?” Em trả lời nhanh: “Tao thổi kèn đám ma”; nói xong, em rú ga chạy mất tích.

(Truyện CNN sưu tầm trên facebook : FB.com/haynhucnhoi)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Truyện Vui thời xã nghĩa

Hình cũ Khóa 1 (tiếp)

Thêm hình cũ Khóa 1

Tiếp tục sưu tầm những hình cũ K1, CNN vừa nhận được thêm một tấm ảnh cũ của K1 do bạn Bửu Hồng gởi tới. Theo bạn Bửu Hồng, tấm ảnh này đã từ lâu nằm giấu mình trong một cuốn album cũ của một người thân trong gia đình, nay tình cờ mới tìm thấy. Đây là hình các bạn trong tiểu đội của K1 Bửu Hồng trong một lần đi bãi tập ở Thủ Đức.k1 OLD PIC

Từ trái qua phải: Hàng đứng: Vinh (biệt danh Trư Bát Giới), Vũ Tiến Lộc (còn ở VN), Nguyễn Văn Thống (đã chết), Nguyễn Hữu Trí (Trí Vọng cổ, chết 2011), Nguyễn Hữu Hải – Hàng ngồi: Nguyễn văn Chuyên (đã chết), Lưu Diệu Nam (Đạo Dừa), Nguyễn Văn Trung (Trung Dái Dừa), Nguyễn Thanh Tòng, Bửu Hồng (Khỉ Đột Tề Thiên)

Ghi thêm: Những bạn nào còn giữ những tấm hình cũ của K1 xin tiếp tục gởi về cho CNN để post lên cho mọi người cùng xem để nhớ lại những kỷ niệm của những ngày xưa thân ái dưới mái trường cũ HVCSQG.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hình cũ Khóa 1 (tiếp)

MỘT THỜI HỘI AN_thơ ĐNN

Hoi An copyMột Thời Hội An

Đã lâu lắm chưa về thăm Phố Cổ
Một lần đi chưa chắc có ngày về
Chinh chiến qua rồi lại phải xa quê
Cảnh chiến bại ngác ngơ nhìn đồng đội

Tổ Quốc ôi chúng con xin tạ lỗi
Trách nhiệm chưa tròn hổ thẹn núi sông
Thân viễn xứ vẫn luôn hẹn với lòng
Ngày nào đây quay về thăm chốn cũ

Hôi An đã một thời ươm mộng ủ
Tim năng động in sâu hình bóng yêu
Âm thanh xứ Quảng vang vọng về chiều
Tiếng guốc khua hòa theo lời rao gọi

Đây chùa Âm Bổn rêu phong mái ngói
Ván Chùa Cầu phai nhạt trước cuồng phong
Bến Bạch Đằng sóng nước vỗ mênh mông
Ngồi câu cá nhìn theo thuyền trôi dạt

Đò sang ngang khách mang về thơm ngát
Món Cao Lầu mì Quảng nối bến bờ
Giờ tan trường kẻ lãng tử ngẩn ngơ
Ước làm gió nương theo tà áo trắng
*
Góc sân trưa phượng vĩ buồn yên lặng
Mỗi lần hè về lớp trước lần qua
Mái trường xưa tâm khảm vẫn chưa nhòa
Quá khứ một thời khơi nguồn thương nhớ
ĐOÀN NGỌC NAM (15/8/2015)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỘT THỜI HỘI AN_thơ ĐNN

SÀI GÒN TẠP PÍN LÙ

image002

SÀIGÒN TẠP PÍN LÙ Là Cái Gì ?

Tạp ghi: TOÀN NHƯ

Tình cờ tôi có được cuốn sách “Sài Gòn Tạp Pín Lù” của tác gỉa Vương Hồng Sển mua ‘on sale’ ở một quầy bán sách báo trong một chợ ở Westminster. Sách đã cũ như của một người nào đã đọc. Thấy cuốn sách có cái tựa khá lạ cộng thêm cái tên tác gỉa cũng khá nổi tiếng nên đã làm tôi tò mò muốn xem nó viết gì trong đó. Thế là tôi đã mua nó với cái gía rẻ chưa tới 10 đô la. Sách này xuất bản ở trong nước đã khá lâu, từ năm 1992, nhưng bản mà tôi có, mới tái bản năm 2005.

Vương Hồng Sển qua nét vẽ của họa sĩ Tạ Tỵ (1963)

Cái tên Vương Hồng Sển tôi đã nghe biết từ lâu, từ trước năm 1975; nhưng tôi chỉ biết đại khái ông là một học gỉa đồng thời cũng là một nhà sưu tầm đồ cổ nổi tiếng ở miền Nam. Ông đã có một số sách đã xuất bản nhưng thú thật tôi cũng chỉ nghe danh chứ chưa có dịp đọc một cuốn sách nào của ông. Vì vậy, khi thấy cái tên tác gỉa là Vương Hồng Sển thì tôi cũng háo hức muốn đọc thử xem ông viết cái gì trong đó mà ông lại nói là “Sàigòn tạp pín lù”. Tôi nghĩ chắc là ông viết đủ thứ hầm bà lằng về Sài Gòn, thế nên mình cũng nên đọc để tìm hiểu và nhớ về một nơi chốn mà mình đã từng sống và làm việc ở đó.
Nhờ đọc cuốn sách này nay tôi mới biết thêm, Vương Hồng Sển còn có nhiều bút hiệu khác như Anh Vương, Vân Đường, và Đạt Cổ Trai. Ông sinh ngày 27 tháng 9, 1902, tại Sóc Trăng. Ông là người Việt gốc Minh hương (gốc lai Tàu); nhưng ông mang trong người tới ba dòng máu Việt, Hoa, và Khmer vì cha ông là người Hoa, còn mẹ ông là người Việt gốc Khmer. Theo lời ông, đáng lẽ ông có tên là Vương Hồng Thạnh hay Vương Hồng Thịnh, nhưng khi đi làm giấy khai sinh người giữ sổ lục bộ lại nghi nhầm là Sển theo cách phát âm tiếng Triều Châu, quê hương gốc của dòng họ ông, nên ông mới có tên là Vương Hồng Sển. Ông từng theo học tại trường trung học Chasseloup Laubat [sau này đổi tên là Jean Jacque Rousseau, và sau cùng là trường trung học Lê Quý Đôn (thời VNCH và sau 1975)]. Sau khi đậu bằng Brevet Elémentaire (tương đương Trung học đệ I cấp), ông làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939-1943). Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ (chức vụ tương đương Giám Đốc) Viện Bảo Tàng Quốc Gia VNCH (trong Thảo Cầm Viên) tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964. Ông mất tại Sài Gòn năm 1996, thọ 94 tuổi.
Sự nghiệp văn học của ông Vương Hồng Sển cũng khá đồ sộ với hàng chục tác phẩm đã xuất bản trước và sau năm 1975, trong số đó có một số sách khá nổi tiếng như Thú Chơi Sách (1960), Sài Gòn Năm Xưa (Tập I, II – 1960; Tập III – 1992), Hồi Ký 50 Năm Mê Hát (1968), Phong Lưu Cũ Mới (1970), Thú Chơi Cổ Ngoạn (1971), Hơn Nửa Đời Hư (1992), … Ông là một trong một số ít những tác gỉa sống và làm việc trọn đời dưới chế độ cũ nhưng vẫn được chế độ mới (VC) cho in và xuất bản khá nhiều sách ở trong nước sau năm 1975.
Trở lại cuốn sách “Sài Gòn Tạp Pín Lù” phải nói là lúc đầu khi có sách tôi rất háo hức muốn đọc ngay để xem ông viết những gì về Sài Gòn, nhất là để mong tìm lại những hình ảnh về một Sài Gòn xưa mà tôi chưa biết. Với một giọng văn bình dân của một người miền Nam, Vương Hồng Sển đã viết “Sài Gòn Tạp Pín Lù” như một người kể chuyện nói lan man chuyện này qua chuyện nọ chẳng có một thứ tự nào như chính ông đã thú nhận. Ông tự bạch, những chuyện ông kể về “Sài Gòn Năm Xưa” ông viết theo kiểu ‘vô hà trật tự” nên nó lộn xộn, nhớ đâu viết đó, không theo một thứ tự lớp lang nào. Chính vì vậy, nên ông đặt tên cho nó là ‘Sàigòn tạp pín lù’, hay nôm na, theo ông, là “Sài Gòn thập cẩm, Sài Gòn tào lao, Sài Gòn ba lăng nhăng, ai muốn hiểu sao cũng được”.
Thực ra “Sài Gòn Tạp Pín Lù” không chỉ ‘vô hà trật tự’ mà còn lẩm cẩm và lủng củng nữa. Vì ‘vô hà trật tự’ nên nhiều ý tứ tác gỉa cứ lập đi lập lại, chẳng có đầu có đuôi gì cả. Tôi đã rất thất vọng khi đọc cuốn sách. Có thể ông viết cuốn sách này khi ông tuổi đã cao nên có phần nào lẩm cẩm. Sách được xuất bản lần đầu năm 1992, lúc đó ông Vương Hồng Sển đã là một cụ gìa 90 tuổi rồi nên việc ông có lẩm cẩm, viết lách “vô hà trật tự” thì cũng là điều dễ hiểu. Có những chuyện ông đã viết ở phần trên, nhưng rồi ông lại lập lại chuyện đó ở chỗ khác. Có thể nhà xuất bản đã in sách của ông chẳng qua chỉ vì cái tên Vương Hồng Sển đã nổi tiếng, nhiều người biết đến.
Về nội dung, sách “Sài Gòn Tạp Pín Lù” của Vương Hồng Sển được chia làm hai phần. Phần đầu là tự truyện của một phụ nữ lưu lạc ở Pháp kể lại chuyện đời mình bôn ba khắp chốn từ ở trong nước ra đến hải ngoại. Lồng trong câu chuyện là những chuyện tả về Sài Gòn năm xưa mà người phụ nữ này muốn đóng góp để bổ túc cho những tập sách ‘Sài Gòn Năm Xưa’ của ông đã xuất bản trước đó mà bà cho rằng còn thiếu sót. Phần sau là phần tác gỉa viết tiếp về “Sài Gòn Năm Xưa” coi như là tập III tiếp theo sau hai tập sách mà ông đã xuất bản trước đó. Như vậy, toàn bộ “Sài Gòn Tạp Pín Lù” chỉ là một sự tiếp nối về những tập sách “Sài Gòn Năm Xưa” của ông mà thôi.
Tôi chưa đọc những cuốn “Sài Gòn Năm Xưa” của Vương Hồng Sển nên không biết ông đã viết những gì trong những tập sách trước đó. Nhưng đọc qua “Sài Gòn Tạp Pín Lù” tôi nghĩ, có lẽ tôi cũng không cần tìm đọc những cuốn này làm chi thêm nữa. Mặc dù có tò mò với cái tên Vương Hồng Sển và cái tựa của cuốn sách nhưng tôi cũng chẳng mấy hứng thú đọc hết cuốn “Sài Gòn Tạp Pín Lù” của ông, một cuốn sách “tào lao” như ông đã tự nhận. Tôi lại càng bực mình hơn khi đọc tới những chỗ khi đề cập đến chế độ cũ Việt Nam Cộng Hòa ông luôn luôn viết một cách ‘sách mé’ đầy miệt thị. Như khi nhắc đến thời kỳ đệ I và đệ II Cộng Hòa trước 1975, ông viết là “đời Diệm đến đời Thiệu” hay “cái chế độ tiêu tùng ông Thiệu”. Nhắc đến đồng tiền của VNCH thì ông gọi là “tiền Diệm” hay “tiền Thiệu”. Khi đề cập đến những người Việt hải ngoại thì ông viết là “những người bỏ chạy”, “bọn bỏ chạy”; trong khi ông lại tâng bốc gọi bọn VC là “các bậc đàn anh vô đây giải phóng”,… Khi đọc đến những chữ này, tôi thật tình không hiểu nên liệt ông Vương Hồng Sển vào loại người gì. Vô ơn hay phản phúc? Càng đọc càng thêm bực mình, vậy thì đọc thêm nữa làm gì cho … lên máu.
Trong khi các văn thi sĩ, ký gỉa miền Nam sau 1975, hoặc bị bắt đi “cải tạo” vì tội làm “biệt kích cầm bút”, hoặc bị gác bút chỉ vì là người đã từng cầm bút dưới chế độ cũ, thì ông Vương Hồng Sển lại may mắn thoát được cảnh này. Không những vậy, ông vẫn còn được VC cho viết và cho xuất bản và tái bản nhiều sách của ông thì qủa là ông qúa được chế độ mới ưu ái nên ông mới nịnh bợ họ như thế.
Trong khi đó, nhìn vào tiểu sử của Vương Hồng Sển, người ta thấy ông là người được nuôi dưỡng lớn lên ở miền Nam và được chế độ miền Nam đãi ngộ khá ưu đãi so với tài năng. Học lực của ông chỉ có bằng Brevet Elémentaire, tức tương đương với Trung Học Đệ Nhất Cấp (lớp 9 ngày nay), vậy mà ông đã được cử giữ chức Quyền Quản Thủ hay Giám Đốc Viện Bảo Tàng Quốc Gia suốt trong thời Đệ I và Đệ II Cộng Hoà cho đến khi ông về hưu năm 1964. Nên nhớ, ông sinh năm 1902, năm 1964 ông đã 62 tuổi, như vậy ông đã được chế độ VNCH ưu ái lưu dụng ông thêm tới 7 năm sau khi đến tuổi về hưu theo qui định 55 tuổi của VNCH. Như vậy không phải là ông đã qúa được ưu đãi sao? Thế mà rất tiếc, sau 1975, ông đã sớm trở cờ xun xoe nịnh bợ những người chủ mới, còn mỗi khi nhắc đến chế độ cũ ông lại nhắc đến với một thái độ thiếu nghiêm túc, rẻ rúng. Tôi đã đọc đâu đó những lời phê phán ông là kẻ hợm hĩnh, kiêu căng, không chính trực; và nặng nề hơn, là kẻ phản bội, vô ơn (với VNCH) và ăn cháo đá bát; nay qua cuốn sách này tôi mới thấy những lời chỉ trích đó không phải là vô căn cứ. Phải chăng Vương Hồng Sển gốc là một ông Tàu lai (người nước lạ), đã có sẵn máu Đại Hán trong người, không phải là người Việt chính hiệu, nên ông mới phản phúc và phách lối tự cao tự đại như vậy.
Ngoài ra cũng không thể phủ nhận, nhờ vào những năm tháng làm công chức cao cấp của VNCH (Quyền Quản thủ Viện Bảo Tàng Quốc Gia) mà Vương Hồng Sển đã tạo dựng được một sự nghiệp văn chương và một ngôi nhà thuộc vào loại cổ ở quận Bình Thạnh / Thị Nghè, Sài Gòn. Trong ngôi nhà này có rất nhiều cổ vật quý hiếm. Chắc chắn những cổ vật đó một phần có được cũng là nhờ vào chức quyền của ông dưới thời VNCH, chứ chẳng lẽ chúng tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Theo đánh gía của các nhà chuyên môn, ngôi nhà và những cổ vật của ông có gía trị lên tới hàng triệu đô la theo thời gía hiện nay. Trước khi Vương Hồng Sển đang sống bỗng chuyển qua … từ trần năm 1996, ông đã để lại một di chúc hiến tặng ngôi nhà và toàn bộ cổ vật của ông cho nhà nước (CSVN) với yêu cầu dùng nó làm thành một viện bảo tàng (chắc là viện bảo tàng cổ vật) mang tên ông. (Hiến thì cứ hiến chứ sao lại đòi phải mang tên mình, thiệt là đã chết mà vẫn còn háo danh). Thế nhưng, đến nay hơn 20 năm đã trôi qua kể từ sau ngày ông mất, viện bảo tàng mang tên Vương Hồng Sển vẫn không thấy hình thành. Nhà nước CSVN có lẽ thấy nó cũng chẳng mấy hấp dẫn hay ăn khách nên cũng chẳng mặn mòi với nó. Nghe nói nơi này hiện nay đã trở thành một nơi buôn bán cà phê và quán bán ốc, còn các cổ vật của ông thì nay đã bị thất tán gần hết (không biết chúng trôi dạt về đâu). Thật tiếc là ông Vương Hồng Sển đã không còn sống trên cõi đời này để nhìn thấy những người mà ông trân quý gọi họ là “các bậc đàn anh vô đây giải phóng” của ông đã trân quý những di sản về văn hóa của ông như thế nào.
TOÀN NHƯ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN TẠP PÍN LÙ