Thư Chúc Mừng của Tổng Hội

Thu chuc mung cua Tong Hoi

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Chúc Mừng của Tổng Hội

Happy Birthday in June

Mặc dầu mình có công việc phải đi xa vài tuần, nhưng mình cũng chuẩn bị sẵn thiệp Chúc Mừng Sinh Nhật tháng Sáu cho các bạn.

Các bạn có sinh nhật vào cuối tháng sáu thì chờ mình về sẽ gởi sau.

HAPPY BIRTHDAY!

Slide1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday in June

K1 Bắc Cali San Jose dự cúng 100 ngày Đổ Thám

Thưa Qúy bạn.    Sáng nay, Chủ nhật/ 17/5/15  luc 11.30 đai diện các k1/ Vùng Bắc CA gồm :

     -K1 Phan quang Nghiệp  -K1 Phạm văn Bổn  -K1 Nguyễn Hoài Ân  K1Võ Lâu  K1 B.Hồng  K1 ĐVHạp đã tới  tư thất của Gia Đình  K1 Đỗ Thám tại  Gilroy nam Sạnjose để cúng 100 ngày cho  K1 ĐỖ THÁM. Chị Thám còn khỏe mạnh, ở với  gia đình con trai lớn, chị vẫn còn đi làm cho một hãng điện . Chi vui với công việc đang làm, chăm lo các cháu . Cúng 100 ngày cho Thám, tất cả con , cháu dâu ,rể thân tộc, ban be đều tề tựu đông đủ..  Sau khi cúng mọi người  dùng cơm gia đình do chính các con gái . con dâu nấu rất ngon các món chay và mặn…!!..Môt điều đặc biệt là…các con, dâu , rể cháu đã tiếp khách rất ân cần…vui vẻ , thoải mái…!!..Bố Thám mất…chúng quây quần bên  Mẹ…chăm lo cho Mẹ…!

    Con gái lớn nói :  ” Bác Hạp, có sinh hoạt gì của Cảnh Sát…nhớ cho con biết….ở đâu con cũng chở Mẹ con đi…!!..”

      Thắp nhang cho Thám…. thương Bạn vô vàn…!!..bao năm chiến tranh…tù đày…tỵ nạn…định cư…khó khăn nào rồi cũng qua đi…!!  Đúng lý ra , thời gian này…là lúc  Bạn được hưởng…những gì đang có…!! Nhưng không..!! bỏ lại tất cả…lặng lẽ ra đi…cho tới nay đã 100 ngày….!!  Mưu sự tại nhân….nhưng,..thành sự tại …Thiên..!!  Đinh mệnh đã an bài…!!…Phái đoàn K1/ BắcCA  dời Gilroy lúc 2pm.

Cám ơn GiaĐình K1/ Thám  đã dành cho phái đoàn sự tiếp đãi thân tình, vui vẻ..!!

       Đinh văn Hạp tường trình:

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Bắc Cali San Jose dự cúng 100 ngày Đổ Thám

Đời Học Sinh_ NCV

image001

TQC Nguyễn Công Vinh

IMG_0001Học xong lớp đệ tứ tại trường trung học Trần Cao Vân – Tam Kỳ thì đám học trò nhà quê chúng tôi được ra trường tỉnh học. Năm đó ở Tam Kỳ chưa có đệ nhị cấp nên một số phải ra Đà Nẵng hay theo cha mẹ dời đi các tỉnh khác, còn lại đa số chúng tôi đều ra học tại trường Trung Học Trần Quí Cáp Hội An.

Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ đặt chân đến Phố Hội nên không biết nó ra sao. Trước khi vào năm học mới, vài thằng bạn cùng lớp ở quê tôi rủ nhau ra Hội An chơi cho biết. Từ Hà Lam Thăng Bình, bọn tôi đi xe đạp dọc theo Quốc lộ số 1 ra Vĩnh Điện rồi rẽ phải xuống Hội An. Đến chùa Cầu, chúng tôi dừng lại ngắm nhìn tượng mấy chú Chó và Khỉ ngồi giữ hai bên đầu cầu. Sau đó, chúng tôi đạp xe đi thẳng xuống đường Cường Để. Điểm lôi cuốn chúng tôi nhất là hai tiệm sách Bình Minh và Nhất Tiếu. Đứa nào cũng mua vài quyển sách Toán Lý Hóa lớp đệ Tam đem về học trước (dân học gạo mà). Đạp lanh quanh mấy đường phố, cái gì đối với chúng tôi cũng đều mới lạ. Thấy mấy anh thanh niên đánh bóng bàn chúng tôi dừng lại xem. Mê quá, trong quê tôi chưa bao giờ có trò chơi nầy. Tôi bèn nảy ra ý nghĩ mua vài trái banh mang về, rồi lấy gỗ hay bìa cứng làm vợt rủ mấy đứa bạn đánh trên bộ ván mít cũng được. Thế là tôi đem về quê tôi cái trò chơi đó cho tụi con nít chúng tôi chơi. Sau nầy, môn bóng bàn được phổ biến rộng rãi, nhưng có ai biết chính thằng Vinh tui là người đầu tiên đem môn thể thao nầy về quê hương Thăng Bình.

Rồi năm học đến, tôi từ giã mẹ và mấy em để ra tỉnh học. Cha tôi mất khi tôi vừa học xong lớp đệ Ngũ, ông để lại cho tôi một cái cặp da và bây giờ nó là vật quý giá đối với tôi. Sách vở và vài bộ đồ bỏ vào trong cặp theo tôi suốt cuộc đời học sinh. Nhà tôi ở chợ Hà Lam, từ đó xuống bến xe chừng nửa cây số, tôi xách chiếc cặp da đi trước, mẹ tôi đội nón lá đi theo sau miệng lúc nào cũng cười tươi, nhất là khi có người hỏi, “Đi đâu đó chị Dinh”; mẹ tôi trả lời, “Đưa thằng Dinh đi học” (quê tôi thường gọi tên người cha hay mẹ bằng tên của đứa con đầu. Tôi tên Vinh nên bà con gọi cha tôi là anh Vinh, gọi mẹ tôi là chị Vinh). Mẹ tôi vui lắm, mà không vui sao được khi con của bà là một trong số mấy đứa học trò đầu tiên ở quê ra tỉnh học.

Hành trang của tôi gồm vài ký gạo và 5- 10 đồng mẹ cho đem theo đi học. Đến Hội An việc đầu tiên là kiếm chỗ ở trọ. Tôi may mắn được một chị nhà ở gần khu Công Chánh cho trọ học. Tôi gởi chị hết số gạo và tiền để nhờ chị lo cơm nước. Nhà chị rất nghèo nhưng chị lúc nào cũng vui vẻ lo giúp cho chúng tôi như người chị lo cho mấy đứa em. Chúng tôi không phải trả tiền nhà hay bất cứ tiền gì khác.
Học sinh con trai chúng tôi phần lớn có khiếu về toán nên tôi chọn học ban B. Học Ban B oai lắm, đi lúc nào ngực cũng ưỡn lên vì trên túi áo có thêu bảng tên “Đệ Tam B2” màu xanh rất nổi. Có lẽ nhờ học ban B mà ba bốn tháng sau tôi được người quen giới thiệu đi làm gia sư, một nghề không khác chi làm đầy tớ, kẻ giúp việc để trông coi, nhắc nhở mấy đứa nhỏ học bài, giúp mấy đứa nhỏ làm bài tập, dạy cho tụi nhỏ làm toán….Có vài đứa bạn gia đình khá giả nhưng cũng chịu khó đi làm gia sư như chúng tôi để kiếm them tiền. Các bạn ấy chỉ đến dạy mỗi tối vài giờ xong rồi về, cuối tháng chủ nhà cho ít tiền. Còn tôi thì được ăn ở lại luôn trong nhà người chủ, nên hàng tháng về quê không phải cõng gạo ra nữa. Làm gia sư là thế đó, bỏ công sức và kiến thức ra, đổi lấy miếng cơm, để đi học. Nghề gia sư lý tưởng, cao đẹp lắm chứ, nhưng bọn tôi ít khi chịu nhận hai chữ gia sư, gọi thế nghe cổ lỗ sĩ quá, nhà quê quá. Chúng tôi thường gọi là Précepteur cho nó oai, cho ra vẻ Tây một chút. Làm gia sư, nếu gặp được chủ nhà tử tế nhân hậu coi mình như con em thì được thoải mái hơn. Nhiều bạn có phước gặp được gia đình quý mến, được trò yêu nhất là học trò gái, nên có nhiều trường hợp gia sư sau nầy trở thành con rể trong gia đình mới hay chứ. Còn bạn nào vô phước gặp được chủ nhà khó khăn, coi mình như người làm, thì cuộc sống quả là vất vả. Nhưng thành thật mà nói bọn học trò nghèo chúng tôi rất biết ơn những gia đình nầy, dầu sao cũng nhờ có họ mà cha mẹ chúng tôi đỡ vất vả, việc học hành của chúng tôi mới được thăng tiến. Năm Đệ Tam, tôi dạy kèm cho hai cậu bé nhỏ hơn tôi 5-6 tuổi, ở với bà nội. Bà già làm nghề trồng hoa nên bận rộn suốt ngày, còn cha mẹ hai cậu nhỏ đi làm công chức tận ngoài Huế lâu lâu mới về. Mỗi đêm, cơm tối xong tôi bắt đầu kèm cho hai em học từ 2 đến 3 tiếng đồng hồ, chờ cho chúng thuộc bài mới cho đi ngủ, sau đó tôi mới có thì giờ lo cho mình. Tôi được bà chủ dành cho một chỗ ngủ, sâu trong một góc nhà đủ chỗ để nằm, nên rất chật vật. Hội An lúc bấy giờ điện đóm còn hạn chế, gặp mấy ngày trời nóng mà nằm trong góc tối om nầy với ngọn đèn dầu leo lắt thì làm sao mà học đây. Mấy đứa bạn cùng trang lứa với tôi rủ nhau ra ngoài nhờ ánh đèn đường để học. Đường khuya vắng vẻ, không xe cộ, không người qua lại, ngoài trời về đêm mát dễ chịu, và ánh đèn đường sáng trưng. Đó chính là nơi học tập lý tưởng của chúng tôi. Bầy thiêu thân bay đầy trên đầu, thỉnh thoảng vài con cà cuống xẹt qua xẹt lại và đâu đây tiếng gõ lốc cốc của người bán phở dạo vọng lại, làm cho buổi học của chúng tôi thêm vui. Thường thì bọn tôi chia nhau mỗi đứa một trụ điện. Đứa nào cũng có sẵn trong túi vài ba viên phấn trắng, phấn màu và lấy mặt đường nhựa làm bảng đen để viết, để vẻ, để làm bài. Nhiều bài học, bài toán, hình học được vẽ trên mặt đường trông rất đẹp mắt. Sáng hôm sau xe cộ và khách bộ hành đi qua đi lại xóa mờ đi, để rồi tối hôm sau chúng tôi có chỗ học tiếp . . .
Lấy kinh nghiệm từ năm trước, qua năm Đệ Nhị, trước ngày khai giảng chúng tôi qua trường Nam Tiểu học sát bên trường Trần Quý Cáp nhờ giáo viên ở đó hỏi xem có gia đình nào cần người dạy kèm không. Ngày hôm sau tôi được một gia đình nhà trên đường Trần Hưng Đạo nhờ tôi đến dạy kèm cho một em học sinh lớp Nhứt. Gần đó có bạn Lê Bá Mỹ và Trần văn Đằng người cùng quê cũng đang làm gia sư nên anh em chúng tôi thường lui tới chơi thân với nhau. Cố gắng thi lấycho được bằng Tú Tài I nên chúng tôi học hành rất căng. Tôi không có đủ tiền mua sách nên thường đến các bạn mượn về học. Trong số đó có bạn Trần văn Phát (tên Phát, nhưng họ thì có thể đã quên) người Hoa. Nhà của ba mẹ Phát một mặt hướng ra đường Bạch Đằng (bờ sông), một mặt mở ra đường Nguyễn Thái Học. Những gia đình nầy mỗi năm đến mùa mưa lụt, nước sông dâng lên ngập đến ba con đường, nên phải dùng ghe đi lại trong nhà.
Trong lớp, tôi là cậu học trò nhà quê, rụt rè ít nói, không giống như thằng Vạng, thằng Viết (dân Bắc Kỳ) phá trời không sợ thiên lôi. Một hôm trong giờ toán, thầy Tuệ ra một bài phương trình bậc hai. Nhiều đứa còn ngậm bút thì tôi làm xong rồi. Thằng bạn ngồi bên thúc, “Mầy lên đi, mầy lên đi”. Thầy Tuệ thấy thế bèn gọi tôi lên và tôi đã giải bài toán đó một cách gọn ghẽ. Thầy biết tôi thiếu sách vở nên vài tháng sau thầy về thăm gia đình ở Saigòn rồi đem ra cho tôi một chồng sách cũ của thầy. Nhờ những quyển sách nầy mà tôi đậu Tú tài I ngay trong lần thi đầu tiên. Ơn nầy tôi không bao giờ quên. Đầu năm 1989, cựu học sinh Trần Quý Cáp Hội An tổ chức họp mặt lần đầu tiên (tôi nghĩ thế) tại Sàigòn. Vừa ở tù cải tạo ra nên tôi chỉ đứng từ xa nhìn vào chứ không dám lại gần. Tôi cố đến gặp thầy, lòng tôi rất mừng, nhưng thầy thì đã quên tôi, vì sau 26 năm lìa xa trường củ và với 13 năm trong lao tù cộng sản, cậu học trò ngày xưa nay đã tàn tạ rồi.

Trở lại câu chuyện gia sư. Tôi ở nhà nầy được ba bốn tháng thì bỗng dưng xuất hiện hai đứa con gái, một đứa lớn hơn tôi mấy tuổi, còn đứa kia thì nhỏ hơn năm sáu tuổi. Hai đứa con gái nầy chắc là chị em với nhau, cháu con của bà chủ quê ngoài Quảng Trị, bả đem tụi nó về để lo cơm nước trong nhà. Mỗi khi tôi học bài hay dạy cho cậu học trò của tôi thì hai đứa thường lần mò đến hỏi han chuyện nầy chuyện nọ, trêu ghẹo . . . Chết, tôi nghĩ, thế nầy thì không học hành gì được rồi, mà tôi cũng không thể nói cho ông bà chủ biết. Thôi thì tự tìm cách lánh xa là thượng sách. Tôi nhờ mấy đứa bạn tìm cho chỗ khác, tụi bạn cười chê tôi ngu, đồ nhác gan, mèo chê mỡ . . . Nhưng thấy tôi quyết tâm nên tụi nó thông cảm nên cố gắng tìm cho tôi một chỗ mới. Giữa năm học mà tìm một chỗ để dạy quả thật là khó, nhưng ở hiền gặp lành, cuối cùng bạn bè cũng giới thiệu cho tôi một chỗ gần Ty Công Chánh, cách chỗ tôi dạy năm trước chừng 100 mét. Trước khi về quê ăn đón Xuân cùng gia đình, tôi nói dối với ông bà chủ sau Tết tôi không trở lại, vì mẹ tôi bảo để thời gian học thi . Ông bà chủ cứ nài nỉ tôi trở lại, nhưng tôi nói cám ơn và giới thiệu cho một người bạn khác đến thay tôi.

Về quê ăn Tết, Nội giao cho tôi lau bộ lư đồng, dọn dẹp sữa soạn bàn thờ Tổ tiên , lo nhang khói trang nghiêm ba ngày Tết. Có tôi, không khí trong nhà trở nên ấm cúng hơn. Ngày Xuân bà con tới thăm, thấy tôi ai cũng hỏi, “Thằng Dinh học đâu con?”, tôi chưa kịp trả lời thì cô tôi, thím tôi đã dành nhau nói, “ Hén hẹc ở Hội En chứ hẹc ở mô”. Mấy đứa con gái lấy cớ đến chơi với em gái tôi, cũng thập thò e thẹn bắt chước gọi tôi bằng anh Hai . Còn tôi thì quá u mê, chỉ biết có học với hành mà không biết để ý đến đứa nào. Hết Tết, trước khi trở lại trường, Bà Nội cho vài cái bánh tổ, vài hộc bánh nổ, Bà dặn đem theo làm quà cho chủ nhà. Mẹ tôi lại đội chiếc nón lá đi bộ theo sau tôi, đưa tôi xuống tận bến xe và chờ cho đến khi xe lăn bánh bà mới lủi thủi quay về. Nhìn bóng dáng mẹ xa dần mà lòng thương mẹ vô ngần . Và đây chính là động lực để tôi trở thành đứa học trò chăm chỉ.

Từ bến xe Hội An, tôi đi bộ ngang qua Khổng Miếu để tới nơi ở mới. Nắng Xuân chan hòa khắp nơi, những con chim sẻ nhảy tung tăng trên các cành cây trứng cá. Những chậu hoa vạn thọ vàng rực, hoa thược dược đủ màu còn nguyên trước mỗi căn nhà sau ba ngày Tết. Con đường nầy tôi vẫn thường đi qua nhưng hôm nay hình như dài hơn, bước chân tôi trở nên líu quýu vì trong tôi hình như đang có sự nôn nao, hồi hộp đợi chờ. Trước Tết tôi đã có đến để làm quen, nên khi vừa tới thì cô học trò chờ sẵn mời tôi vào. Năm nay, học trò của tôi không phải là các cậu con trai ngủ gà ngủ gật mỗi khi học bài, mà là hai cô gái xinh đẹp. Cô chị học lớp Đệ Ngũ, đứa em học lớp Đệ Thất. Cả hai rất quý mến tôi, coi tôi như người anh có lẽ vì trong nhà chỉ có ba mẹ con, không có con trai. Việc dạy kèm của tôi không bị gò bó, không nhất thiết mỗi đêm 2 giờ như những chỗ khác mà chỉ khi nào cần thì các em hỏi, tuy vậy cũng rất bận. Cô chị nhan sắc rất dễ thương nên ong bướm thường lui tới. Nhiều khi đang dạy nửa chừng thì phải ngưng vì có bạn trai đến…. Xin được tạm gọi tên em là Hội để nhớ về Phố Hội. Trong số ong bướm lui tới có thằng bạn cùng lớp, hắn là người giới thiệu tôi đến đây, hắn thường dặn tôi: “ Mầy canh chừng giùm tau, có đứa nào ngắm nghía Hội thì cho tau biết”. Bạn bè chơi độc thiệt, ý hắn muốn ám chỉ mình chứ gì. Nhưng tôi không giận hắn vì tâm trí tôi đâu có nghĩ đến chuyện gái trai lúc nầy. Cứ mỗi lần thằng bạn mò đến thì tôi tìm cách rút lui, nhường không gian ấm cúng ấy lại cho hắn cùng cô học trò xinh xắn của tôi, còn tôi ôm sách ra cột đèn ngoài đường làm bạn với mấy con thiêu thân.

Hè 1962 tôi thi đậu Tú tài I, bà chủ nhà và hai em mừng lắm muốn tôi ở lại luôn ba tháng hè để kèm thêm vì năm tới Hội vào đệ Tứ rồi. Nhưng tôi đã hứa với em gái tôi sẽ về quê mở lớp luyện thi đệ Thất cho nó và bạn của nó. Nói đến lớp dạy hè nầy, tôi không thể nào quên được những kỷ niệm đẹp và thơ ngây hồi đó. Có khoảng 18-19 đứa học trò, đa số là con gái, mà con gái ở tuổi này thì thích làm dáng, nũng nịu hơn là học. Đứa nào cũng hỏi, “Anh Hai, học phí bao nhiêu anh Hai?” thú thật tôi ngu lắm, hay xấu hổ khi ai hỏi đến tiền, thích dạy cho vui thôi mặc dù gia đình tôi không khá giả gì. Tôi nói, “chưa học mà đòi trả tiền, rủi rớt hết thì sao.” Tụi nó cười và càng hỏi tới. . .Gần 20 đứa học trò đều thi đậu vào đệ Thất. cha mẹ mấy em vui mừng lắm khen tôi dạy giỏi ( nhưng thực ra các em đã giỏi sẳn rồi). Họ đến nhà cám ơn tôi, cho tôi tiền, có người cho mấy cặp đường bát, có người đem cho cặp gà. Tôi mắc cở không nhận. Mẹ tôi cười nói: Mấy cô Chú cho, con nhận đi để mua sách mà học.
Mấy tháng hè ở quê thật là vui, vì vừa được làm người lớn đối với bọn con gái, vừa được mẹ cưng chiều. Cha tôi mất sớm để lại cho mẹ tôi gánh nặng vì phải tảo tần nuôi sáu đứa con. Tôi là đứa lớn nhất, là anh Hai của năm em. Tôi chưa giúp được gì cho mẹ và các em mà lại được mẹ thương nhiều hơn. Ngày nào mẹ cũng mua hàng cho ăn như thịt heo luộc ăn với bánh tráng đập, cá nục hấp quấn bánh tráng, hoặc một bát nước hến bóp bánh tráng nướng bỏ vào . . . các món ăn dân dã không cầu kỳ nhưng ngon làm sao, bây giờ nhắc lại vẫn còn thấy nhớ và thèm.

Có bằng Tú tài I, bạn bè nhiều đứa nghỉ học để chọn cho mình con đường binh nghiệp. Trong số các bạn từ Tam Kỳ ra có bạn Hà Như Tốn, người bạn rất thân với tôi. Tốn gia nhập vào trường Sĩ Quan Thủ Đức. Ra trường, mang cấp bậc Chuẩn úy và được đưa về một đơn vị tác chiến. Năm, sáu tháng sau tôi được tin như sét đánh, Cố Thiếu úy Hà Như Tốn đã hy sinh trong một cuộc hành quân đụng độ với Việt Cộng tại một tỉnh miền Trung, bỏ lại vợ và đứa con gái. Mẹ con chị Tốn hiên nay đang định cự tại một tiểu bang miền Đông Hoa Kỳ.

Mùa hè qua mau, mẹ tôi cũng với chiếc nón lá đó dịu dàng đi sau tôi đưa tôi đi như mọi lần. Nhờ có tiền dạy hè nên sách vở cho năm đệ Nhất tôi sắm cũng đầy đủ hơn. Năm nay tôi dạy kèm cho một gia đình người quen trước đây khi tôi học ở Tam Kỳ. Gia đình nầy được thuyên chuyển ra làm việc ở Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Nam, thuê nhà ở đường Nguyễn Thái Học gần Chùa Cầu. Ông bà biểu mấy thằng con lớn rủ tôi về ở trong nhà để tiếp tục làm gia sư cho mấy đứa vì trước đây đã dạy cho mấy em ở Tam Kỳ rồi. Ông bà thương tôi như con trong gia đình, lo cho tôi cái ăn cái mặc, còn cho tiền tiêu và tiền dẫn mấy em đi ciné. Tôi nhớ mỗi bữa ăn, đến chén cơm thứ ba thì bà chủ đơm thật đầy đưa cho tôi và dặn “ăn cho no có sức mà học, sắp là Ông Tú rồi đó”. Nhà có cả thảy 7 đứa nhưng dạy 5 đứa nhỏ là chính, còn hai thằng lớn khi nào bí thì mới nhờ đến tôi. Bọn nhỏ rất quý tôi coi tôi như người anh trong gia đình. Nhờ đó việc học của tôi rất thuận lợi. Bạn cùng lớp có thằng tên Trương Duy Hào. Hắn lùn hơn tôi một chút. Tôi ở đầu trên, hắn ở đầu cuối đường Nguyễn Thái Học . Mỗi buổi sáng, hai đứa hẹn gặp nhau rồi cùng đi thật nhanh tới trường không ai theo kịp. Ngày nào cũng vậy vui ơi là vui. Năm nay chúng tôi không học với thầy Tuệ mà học toán với thầy Kiên người Hội An. Sau khi chúng tôi xa Hội An một thời gian thì được tin thầy Lưu Chí Kiên (lúc bấy giờ là Giám đốc Sở Học Chánh tỉnh Quảng Nam) đã bị tử nạn máy may trên đường công tác vào Sài Gòn.

Đúng là ông bà ta đã dạy “có công mài sắt, có ngày nên kim”. Mùa hè 1963 tôi đã lấy được mảnh bằng Tú Tài II. Có được kết quả nầy, ngoài sự chịu khó học hành của bản thân, tôi cũng phải tri ân các bậc làm cha mẹ có tấm lòng nhân hậu đã giúp đỡ cho tôi suốt gần 3 năm trời ở tại cái thành phố cổ kính và hiếu học Hội An nầy.

Sau đó tôi ra Huế học. Lúc bấy giờ tình hình chiến sự từ Bến Hải đến Cà Mâu càng ngày càng khốc liệt, ngày nào cũng có người thương vong. Quốc lộ 1 từ Hà Lam ra Vĩnh Điện, Đà Nẵng, luôn bị VC đào bới tan nát, đặt mìn, đắp mô, hằng ngày giết chết biết bao sinh linh của người dân vô tội. Thấy không thể tiếp tục học được nữa nên mấy năm sau tôi và vài người bạn như Nguyễn Đức Xứng , Võ Lâu, đều là học sinh Trần Quý Cáp… thi vào lớp Sĩ quan Khóa I Biên Tập Viên Học Viện CSQG. Ra trường, tôi chọn ở lại trong Nam làm việc, nên ít khi về quê. … Có một lần mẹ viết thư báo cho tôi biết tin tức về Hội, cô học trò xinh đẹp của tôi ngày nào. Mẹ nói Hội có vô nhà thăm mẹ mấy lần, lần nào cũng ở lại chơi ba bốn hôm. Hồi tôi còn ở nhà, có vài lần tôi dẫn Hội về Hà Lam chơi nên Hội và mẹ tôi quen biết nhau. Mẹ nói Hội có chồng Sĩ quan Thiếu Úy Trung Úy gì đó ( không phải anh bạn cũ của tôi) nhưng không may chồng của Hội đã hy sinh, mồ chôn trong nầy nên thỉnh thoảng Hội vào thăm mộ chồng, và ghé lại thăm mẹ tôi, ở chơi ba bốn ngày. Hội thấy mẹ tôi đơn chiếc, các em tôi còn nhỏ nên xin với mẹ tôi được ở lại để chăm sóc bà thay cho tôi. Nhưng . .. .

Từ ngày vào Nam làm việc cho đến ngày đen tối 30 tháng Tư 1975, tôi chưa có dịp nào trở lại thăm Phố Hội, cũng như chưa có lần nào trở về để nhìn lại mái trường xưa, ngôi trường Trần Quí Cáp thân yêu của tôi ngày nào, cũng không được thêm tin tức gì về Hội. Mỗi khi nhắc đến Hội An hay nói đến tên trường Trần Quí Cáp là như gợi dậy trong tôi những nơi chốn thân thương, những con người thân thiện đã cho tôi nhiều ân tình và kỷ niệm êm đềm của một thời từng là một cậu học sinh nghèo đệ nhị cấp.
TQC Nguyễn Công Vinh

Ghi chú: Tất cả tên các nhân vật trong truyện là thật, ngoại trừ tên Hội là ảo.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đời Học Sinh_ NCV

Happy Mother Day K1

Mother Day

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Mother Day K1

Mừng Sinh Nhật Tháng 5

Happy Birthday tháng 5

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng Sinh Nhật Tháng 5

Lễ Tưởng Niệm và Vinh Danh CSQG Quảng Ngãi

Kỷ niệm tháng Tư đen, kính mời quý NT và các bạn xem video lễ tưởng niệm và Vinh Danh các Chiến sĩ CSQG tại Quảng Ngãi đã hy sinh trong cuộc chiến chống công tổ chức tại Houston Texas
https://youtu.be/850-3iDNg3U?t=88

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lễ Tưởng Niệm và Vinh Danh CSQG Quảng Ngãi

Hận Tháng Tư Đen_ Thơ Trần Pháp

image001

Tháng Tư là tháng hoang tàn,
Cộng quân tràn xuống, xóm làng khổ đau
Cha con chồng vợ xa nhau
Người kinh tế mới, kẻ sau bức tường

Tháng tư tan nát phố phường
Mất nhà mất cửa ruộng nương không còn
Con thơ nằm khóc nỉ non
Bo bo không đủ mẹ còn sữa đâu

Tháng tư cha nhỏ lệ sầu
Đứa ra biển cả đứa sâu trong rừng
Mẹ già vợ yếu con cưng
Không nơi nương tựa ghé lưng chỗ nào

Tháng tư mẹ phải kiếm rau
Cha đi mót sắn chia nhau đở đần
Còn dư cho cháu một phần
Phần kia còn lại để dành ngày mai

Tháng tư dân chúng thở dài
Cơm ăn phải độn sắn khoai đa phần
Áo quần thiếu vải che thân
Thuốc men chẳng có bệnh nhân lìa đời

Tháng tư xác nỗi ngoài khơi
Thân đã nuôi cá mẹ thời chẳng hay
Đêm đêm mẹ nguyện mong thay
Cho con tui được có ngày tự do

Tháng tư Việt Cộng ăn no
Đồng hồ cửa sổ radio rò rè
Của cải chúng chất đầy xe
Nối đuôi từng tốp chạy về Bắc phương

Tháng tư ngoài Bắc bỏ vườn
Từng đoàn lũ lượt tìm đường vô Nam
Bỡi vì nghe tiếng đồn ran
Miền Nam giàu có gấp ngàn quê ta

Tháng tư tù đi Bắc xa
Xuống bến Tân Cảng quê cha bỏ lìa
Bo bo cả võ mấy thìa
Mỗi ngày ba lạng phải chia cho đồng

Tháng tư vợ phải nuôi chồng
Từ Nam ra Bắc bế bồng nhau đi
Xa xôi cách trở sơn khê
Lâu lâu một chuyến khó bề thường xuyên

Tháng tư lao động đảo điên
Non cao Bắc Việt leo triền đẳn cây
Có kẻ thay trâu kéo cày
Người thì phát rẩy mai rày trồng rau

Tháng tư đày đọa gian lao
Bạn bè bỏ xác đồi cao mộ phần
Nhắm mắt chẳng có người thân
Cô đơn một xó trong phòng cách ly
Mẹ cha con vợ biết gì
Thân tù đày đọa đến khi hơi tàn
Xác nằm chuột bọ lang thang
Mắt không ai vuốt khăn tang ai thờ

Tháng tư nước mắt tràn bờ
Dân Việt xa giờ biết mẹ đau thương
Ly hương bốn chục năm trường
Lối mòn phục Quốc con đường tự do
Trần Pháp

                 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hận Tháng Tư Đen_ Thơ Trần Pháp

Việc Đến Phải Đến _ TQN

VIỆC ĐẾN PHẢI ĐẾN

Cuồng phong nỗi dậy khắp quê hương,
Tức nước cùng nhau ào xuống đường,
Dân chúng bom xăng quăng tứ phía,
Công an té khói chạy vô phương,
Vĩnh Tân rượt đuổi loài gian ác,
Móng Cái phản công bọn bạo cường,
Ám khí tà quyền gây oán hận,
Hào quang chính nghĩa dựng tình thương./-
Trần Quốc Nại

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Việc Đến Phải Đến _ TQN

Viết Trang Sử Buồn_TPK

image001Quồc-hận-30-tháng-4

Tháng tư vận nước nổi trôi
Hậu phương tiền tuyến bồi hồi xốn xang
Lệnh trên ban xuống đầu hàng!
Quân nhân vất súng bàng hoàng lệ rơi
Miền nam no ấm tuyệt vời
Tự do hạnh phúc nay thời còn đâu?
Sa trường mưa nắng giải dầu
Máu xương tủi hận thảm sầu hởi ôi!
Bao năm dẫm nát núi đồi
Giữ gìn đất nước cho người Miền Nam
Dù cho thịt nát xương tan
Cũng không lùi bước trước đàn hồ ly
Đánh cho nón cối suy vi
Mậu Thân,An Lộc còn chi giặc hồ
Bởi vì tay bị trói gô
Nên bầy cộng phỉ tự do cướp thành
Giang sơn tổ quốc tanh bành
Xác dân tan nát đầu gành cuối thôn
Đoàn người chạy giặc chiều hôm
Bắc quân rãi pháo còn hơn diệt thù
Oán hờn mãi đến thiên thu
Hận loài cướp nước độc như hổ hành
Gương xưa để lại rành rành
Thành mất tướng chết theo thành tướng ơi!
Thân trai đã nguyện một lời
Phù trì xã tắc suốt đời kiên trung
Hiên ngang khí phách anh hùng
Xin đem thân xác tế cùng núi sông
Tướng Nam,Tướng Vỹ,Tướng Hưng,
Tướng Hai,Tướng Phú,chết không đầu hàng
Binh nhì cho đến sĩ quan
Bao người tuẩn tiết viết trang sử buồn!!!

Tống Phước Kiên
Tháng tư đen 2015

                                

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Viết Trang Sử Buồn_TPK

Nhạc Phẫm: “Chỉ Vì Tháng Tư Đen”_ Nhạc và Lời Lê Hữu Nghĩa

Bài hát Chỉ Vì Tháng Tư Đen để nhắc nhở và khắc ghi tội ác của đảng CSVN đối với tổ quốc và dân tộc Việt Nam .
Nhạc & Lời 2 : Lê-hữu-Nghĩa
Lời 1 : Con Gà Què

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhạc Phẫm: “Chỉ Vì Tháng Tư Đen”_ Nhạc và Lời Lê Hữu Nghĩa

VỀ HỒI ỨC CỦA MỘT CỰU SĨ QUAN CIA TẠI SÀIGÒN_ TOÀN NHƯ

VỀ HỒI ỨC CỦA MỘT CỰU SĨ QUAN CIA TẠI SÀIGÒN
(Tháng 4/1975)
TOÀN NHƯ

Trong bất cứ một cuộc chiến tranh nào, kể cả chiến tranh Việt Nam, các tin tức tình báo đóng một vai trò rất quan trọng. Sách Binh Thư Tôn Tử đã từng viết “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng”. “Biết” ở đây là biết những tin tức tình báo về bên phía đối phương để có những kế hoạch hành quân thích ứng hiệu qủa. Trong chiến tranh Việt Nam, ngoài các cơ quan tình báo của VNCH, Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA) của Hoa Kỳ cũng thiết lập một mạng lưới tình báo qui mô với hàng trăm nhân viên tại Việt Nam. Văn phòng chi nhánh CIA này đã đóng góp một phần không nhỏ trong mọi hoạt động về quân sự cũng như dân sự tại VN. Vì tầm mức lớn lao của nó nên người đảm nhận chức vụ Trưởng chi nhánh CIA tại VN cũng rất quan trọng. Chính vì lý do đó, William Colby (1920-1996), một trong những người từng là trưởng văn phòng CIA tại VN sau đã được bổ nhiệm trở thành Giám Đốc CIA tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn (1973-1976).

Từ năm 1973 đến 1975, Richard W. Hale (1926-2009), một sĩ quan cao cấp nhiều thâm niên của CIA, đã được cử đến công tác tại Việt Nam. Trong bài tự thuật của ông “FIRSTHAND ACCOUNT OF A CIA OFFICER IN SAIGON (nguồn Historynet.com)” , ông đã kể về những ngày tháng cuối cùng của ông ở VN rằng, (xin trích):

“…Vào đầu năm 1973, tôi đã làm việc với cơ quan (CIA) được 23 năm, hơn một nửa thời gian đó tôi làm việc ở hải ngoại tại vùng Nam Á, Trung Đông và Phi Châu. Năm 1971, tôi đã từ chối đảm nhiệm chức vụ trưởng một chi nhánh để đi học Trường Cao Đẳng Hải Quân tại Newport, tiểu bang Rhode Island. Lớp học gồm có 100 sĩ quan Hải Quân cao cấp và 100 sĩ quan Bộ Binh, Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, cùng với hàng chục sĩ quan tình báo dân sự đến từ Bộ Ngoại Giao, Cục Tình Báo Trung Ương (CIA), Cục Tình Báo Quốc Phòng (DIA) và Cục An Ninh Quốc Gia (NSA).

Khi tôi trở lại Langley, tôi đã làm việc như một phụ tá đặc biệt để giết thì giờ, nôn nóng chờ đợi một công việc thích hợp đang trống ở Phi Châu, nhưng tôi lại được giao công tác ở Sàigòn. Tôi đã theo dõi các biến cố ở Việt Nam, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến việc tình nguyện…   

Vợ tôi và tôi đến Sàigòn vào ngày 16 tháng Sáu, 1973. Cơ quan đã có một cơ sở tạm riêng ở Sàigòn tại Khách sạn Duc. Nó có một phòng ăn và một cái hồ bơi nhỏ trên sân thượng. Có một vài người độc thân sống ở đó toàn thời gian, nên công dụng đầu tiên của nó là làm chỗ ở tạm cho các nhân viên đến và đi, và cho những nhân viên từ những cơ sở từ bên ngoài đến để tham vấn hay để vui chơi, giải trí và mua sắm…”

Khi ông Richard W. Hale đến Sàigòn vào giữa năm 1973 thì chiến tranh Việt Nam trên nguyên tắc đã chấm dứt theo hiệp định Paris 1973. Nhiệm vụ của ông là theo dõi các sĩ quan trong các phái đoàn Ủy Hội Quốc Tế  về Kiểm Soát và Giám Sát (UHQT) được lập ra theo tinh thần hiệp định Paris. Đặc biệt, ông không chỉ theo dõi mà còn có nhiệm vụ lung lạc và tuyển mộ những sĩ quan trong các phái đoàn Ba Lan và Hung Gia Lợi làm việc cho CIA. Qua công tác này, ông mới nhận ra rằng, những sĩ quan Ba Lan có vẻ không nhiệt tình lắm với chủ nghĩa cộng sản. Có lẽ vì vậy mà sau này, Ba Lan đã trở thành nước cộng sản đầu tiên ở Đông Âu sụp đổ, kéo theo toàn khối cộng sản Đông Âu tan rã như một hiệu ứng domino tiếp theo sự sụp đổ của Liên Bang Sô Viết vào cuối thập niên 1980’s. Ông kể, (trích):

“Tôi được chỉ định công tác tại cơ sở Sài Gòn. Cơ sở có hai tiểu ban là Liên Lạc và Nội Vụ. “Bill J.,” trưởng cơ sở, muốn tôi đứng đầu một tiểu ban mới đặc trách về Ngoại Vụ nhắm vào một mục tiêu mang tính cơ hội là các thành viên Ba Lan và Hung Gia Lợi trong Ủy Hội Quốc Tế  về Kiểm Soát và Giám Sát.

Khi hòa ước được ký vào tháng Giêng năm 1973, Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát (UHQT) được thành lập để giám sát cuộc đình chiến với hai phái đoàn cộng sản và hai phái đoàn trung lập. Lúc tôi đến, các phái đoàn trung lập là người Ba Tư (Iran) và Nam Dương. Mỗi phái đoàn gồm khoảng 200 thành viên, tất cả có thể là các sĩ quan quân sự và hiện dịch.

Đây dường như là một dịp tốt nhất để tuyển mộ một số kẻ bỏ ngũ tại chỗ, tôi đã chuẩn bị báo cáo lại cho cơ quan sau khi họ trở về lại Hung Gia Lợi và Ba Lan. Chúng tôi không mong có những sự bỏ ngũ hoàn toàn, và quả thực đã có một số từ chối…

Một trong những địa điểm khá tốt để tiếp xúc trao đổi tin tức với các đối tượng của chúng tôi vào những ngày chủ nhật là ở cái hồ bơi dài khoảng 50 mét ở Tân Sơn Nhứt, nơi tụ tập của những sĩ quan trong UHQT. Một lần ở hồ bơi tôi đã có một cuộc cãi cọ dữ dội với một viên thiếu tá Hung Gia Lợi, người mà chúng tôi đã sưu tra ra y là một thành viên của AVH, cơ quan tình báo Hung giống như KGB của Sô Viết. Một trong những khiếu nại vô lý của sự tuyên truyền Cộng Sản cho rằng, “Có 10,000 lính Mỹ  hiện đang ở trong một trại bí mật ở đồng bằng Cửu Long, sẵn sàng lộ diện để giúp QLVNCH nếu họ gặp khó khăn.” Khi viên thiếu tá Hung Gia Lợi vừa phun ra cái luận điệu đó, tôi đã nổi điên lên. Tôi nói, đối với VC và quân Bắc Việt thì họ mới có thể hành hạ dân của họ như  thế, và tôi hỏi hắn: Ông có nghiêm chỉnh nghĩ rằng binh lính Hoa Kỳ có thể ẩn dấu được không? Những binh lính Hung Gia Lợi có thể nào chịu đựng được theo cái kiểu cô lập giả dụ đó không? Ở đâu cho những chiếc máy bay tiếp tế chuyên chở nặng? Rồi còn các hồ bơi, quân nhu, cửa hàng Quân Tiếp Vụ, v.v. … Hơn nữa, bởi vì UHQT được tự do đi lại bất cứ nơi nào ở Việt Nam, tại sao phái đoàn của y không nêu sự vi phạm hòa ước này ra?

Tôi không có câu trả lời ngoài những lời eo xèo, nhưng phái đoàn Hung Gia Lợi lại phàn nàn với Tom Polgar, trưởng văn phòng, về tôi. Khi Tom kể lại chuyện đó, tôi kể lại câu chuyện với ông mà chẳng cần phải xin lỗi. Tại sao bọn Hung Gia Lợi lại phàn nàn với Tom Polgar, người mà mọi người ở Việt Nam đều biết là một viên chức CIA cao cấp ở đó? Họ chỉ giả định rằng tôi làm việc cho Polgar, có lẽ vì sự ngụy thức của chúng tôi sơ sài qúa. Cũng may chưa có ai tố cáo chúng tôi là CIA. Tôi đoán rằng điều đó cũng tương tự như chúng tôi đã truy ra họ là những sĩ quan AVH.

Tôi có thể kết luận sau một năm tôi làm cái công việc này là, dù chúng tôi trước đây chưa tiếp xúc với người Ba Lan, chúng tôi đã khám phá ra rằng cái vỏ ngoài cộng sản của họ rất sơ sài. Đã có nhiều người xin tình nguyện làm việc cho chúng tôi đến nỗi chúng tôi phải từ chối một số và chỉ nhận một số chọn lọc. Những người Hung Gia Lợi lại là một vấn đề khác. Dù sau cùng chúng tôi cũng có một số thành công giới hạn, nhưng tôi phải nói rằng những anh chàng (Hung) này là những người cộng sản trung kiên nhất. Tôi vẫn tự hỏi làm sao họ thích ứng được với cái thực tại mới hậu Sô Viết sau này.”

Là một sĩ quan cao cấp của chi nhánh văn phòng CIA tại Sàigòn nhưng dường như ông Xịa này cũng không nắm vững tình hình an ninh tại Việt Nam sau ngày hiệp định Paris về VN đã được ký kết. Chẳng thế mà ông đã tỉnh bơ đưa vợ con đi du ngoạn Nha Trang để suýt bị chết vì đạn pháo kích của VC. Mặc dù hiệp định Paris là nhằm tái lập hòa bình cho VN, nhưng trên thực tế, những cuộc giao tranh sau đó vẫn liên tục xảy ra do sự cố tình vi phạm của phía cộng sản Bắc Việt. Ngoài ra, ông Xịa này cũng có vẻ đầy thiên kiến với chính phủ VNCH nên trong nhận định, phê phán, ông đều chê trách, đổ lỗi cho Miền Nam, in hệt những luận điệu xuyên tạc của những kẻ phản chiến tại Hoa Kỳ, (trích):

 “Khi những người tù binh cuối cùng của chúng ta được thả vào tháng 3 năm 1973 thì tất cả các tùy viên quân sự Mỹ (military attachés), ngoại trừ 50 người, đã được lệnh rút đi. Việt Nam đã trở thành tin tức cũ. Người Mỹ dường như đã quên cái sự kiện rằng QLVNCH đã tổn thất trung bình 1000 binh lính một tháng trong những cuộc đụng độ với VC  trong năm 1973 và 1974. (Ghi chú: Mới đầu năm 1973 mà ông Xịa này đã đưa ra con số tổn thất của VNCH trong năm 1973, 1974 (?). Không biết con số tổn thất này ông lấy ở đâu ra, phải chăng từ cái đài BBC hay đài Giải Phóng của VC? Nên nhớ, ngay cả trong Tết Mậu Thân, VC đồng loạt mở nhiều cuộc tấn công lớn trên cả nước  mà QLVNCH cũng không có con số tổn thất cao như thế)...

Khi con trai tôi đến thăm vào mùa hè năm 1974, chúng tôi đã bay ra Nha Trang để bơi lặn (snorkeling). Khi chúng tôi vừa lái xe đến nhà khách của tòa lãnh sự thì có mấy qủa đạn hỏa tiễn B-40 nã vào thành phố. Một qủa đã rơi ngay xuống đường cách chỗ chúng tôi chỉ khoảng 50 thước, để lại một cái hố sâu khoảng 1 foot và rộng khoảng 2 foot. Con trai tôi đã hơi ngỡ ngàng vì nó vẫn tưởng rằng chiến tranh đã qua rồi…”

Vào tháng 12 năm 1974, quân đội Bắc Việt đã mở một cuộc tấn công thăm dò đầu tiên vào tỉnh Phước Long. VNCH đã phản đối và kêu cứu nhưng Hoa Kỳ vẫn làm ngơ. Sau khi Phước Long thất thủ, sự việc càng trở nên nghiêm trọng hơn, khi vào đầu tháng Ba 1975, VC tấn công thị trấn Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac, ở ngay giữa Vùng II. Lại một lần nữa, Ban Mê Thuột thất thủ, lần này Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh di tản khỏi Pleiku để tái phối trí lực lượng. Nhưng cuộc di tản đã diễn ra trong hoảng loạn trên những con lộ tồi tệ hướng ra biển; và sau đó đã kéo theo kế tiếp những sự di tản của các đơn vị và các tỉnh ở miền Trung, bỏ lại rất nhiều vũ khí và trang thiết bị vì không còn đạn được, nhiên liệu và phương tiện vận chuyển.

Trước tình hình lộn xộn như vậy, nhất là sau khi Huế và Đà Nẵng sụp đổ vào cuối tháng 3/1975, viễn ảnh VNCH bị sụp đổ là điều không tránh khỏi nên người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã bắt đầu chuẩn bị chuyện “tháo chạy” cho các nhân viên tòa đại sứ Hoa Kỳ, trong đó có cả các nhân viên văn phòng CIA tại Việt Nam. Vợ của ông Xịa Hale là một trong những người đầu tiên xin trở về Mỹ vào đầu tháng 4/1975, (trích):

“Huế sụp đổ ngày 25 Tháng Ba, và Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai của Việt Nam thất thủ ngày 2 Tháng Tư. Người Miền Nam Việt Nam di tản luôn luôn cho rằng đáng lẽ họ đã giữ được nếu Hoa Kỳ cung cấp cho họ thêm trang thiết bị. Tôi có một ấn bản của tờ báo Sao và Sọc (Stars and Stripes, tuần báo của quân đội Mỹ) ngày 1 Tháng Tư năm 1975, liệt kê những trang bị đã bỏ lại ngay tại Huế và Đà Nẵng gồm: 60 xe tăng M-48, 255 xe bọc thép, 150 khẩu đại bác 105 ly, 60 khẩu đại bác 155 ly, 600 xe tải và hàng trăm súng M-16, đại liên và tiểu liên. Tổng số trang thiết bị bỏ lại ở Vùng I và Vùng II trị gía khoảng 1 tỷ Mỹ kim bao gồm cả một nửa số máy bay F-5, trực thăng và các máy bay khác của Miền Nam Việt Nam. (Ghi chú: Ông Xịa này quên một điều, những trang thiết bị này không có đạn dược và nhiên liệu thì chúng cũng chỉ là một đống sắt khổng lồ vô dụng.)

Lúc bấy giờ, lệnh khởi hành cho vợ tôi đã được chấp thuận, nhưng ngay lúc đó tòa đại sứ thúc đẩy các người phụ thuộc nên ra đi trước và cấp vé cho họ ngay tại chỗ. Vợ tôi ra đi miễn cưỡng trên chuyến bay của hãng Hàng Không Pan American ngày 3 Tháng Tư.”

Ngày 8/4/1975, tên phi công phản loạn Nguyễn Thành Trung của Không Quân VNCH đã lái chiếc phản lực cơ F5-E bỏ bom Dinh Độc Lập. Là một sĩ quan cao cấp của CIA ở VN vậy mà ông Hale lúc đó cứ tưởng đó là hành vi bất mãn của người phi công đối với TT Thiệu. Mãi 25 năm sau ông Xịa này mới biết tung tích thực của tên phi công phản loạn này là một VC nằm vùng thì thật là qúa dở. Cho nên, có thể nói hoạt động tình báo của CIA cũng chưa hẳn là ghê gớm như nhiều người vẫn tưởng. Hale viết, (trích):

 “Một tin hấp dẫn tiếp theo xảy ra là vào Thứ Ba, ngày 8 Tháng Tư, một chiếc oanh tạc cơ F-5E của Không Quân Việt Nam đã gầm rú ngoài đường phố ngay trước văn phòng chúng tôi rồi thả hai trái bom 500 cân Anh ngay phía trước gần dinh tổng thống. Vì nhận ra mình đã trật mục tiêu, viên phi công đã lượn trở lại, khiến cho tôi có đủ thời gian để ra ngoài tò mò quan sát chuyện gì đã xảy ra. Hắn sà xuống đường chỉ cách khoảng 50 bộ và thả nốt hai trái bom 500 cân Anh xuyên qua mái dinh. Mục tiêu của viên phi công là giết Tổng Thống Thiệu, nhưng vì trái bom không trúng lúc đầu đã khiến cho ông Thiệu có đủ thời gian để xuống hầm chống bom.

Trong suốt 25 năm, tôi vẫn có ấn tượng rằng việc làm của viên phi công đơn giản chỉ vì hắn chán ngấy sự bất lực của Tổng Thống Thiệu. Mới đây tôi mới biết rằng Thiếu Úy Nguyễn Thành Trung thực ra là một người nằm vùng của Bắc Việt từng được huấn luyện ở Căn Cứ Không Quân Kessler ở Biloxi, Miss. Y nhận lệnh từ VC thả hai trái bom đầu xuống dinh và hai trái bom kế xuống tòa đại sứ. Toà nhà tòa đại sứ khá kiên cố, nhưng tòa nhà ở phía trước cơ sở (CIA) Sài Gòn lại là loại nhà tiền chế, với kiểu kiến trúc giống như một cái hộp quẹt (diêm). Lúc đó chúng tôi không biết là mình đã may mắn. Trung sau đó còn chỉ đạo một cuộc không kích vào Tân Sơn Nhứt ngày 28 Tháng Tư với 5 chiếc Cessna A-37 cưỡng đoạt của Phi Đoàn Phi Long. Khi tôi viết những dòng này, Trung đang là một phi công cao cấp của Không Quân Việt Nam (KQ Việt Cộng).”

Hai tuần lễ cuối cùng trước ngày 30/4/1975, các nhân viên tòa đại sứ Mỹ cũng như CIA đều hầu như không làm việc gì ngoài việc chuẩn bị lên đường về nước. Mặc dù đã có lệnh của Tướng Westmoreland từ trước đến giờ vẫn còn hiệu lực là các nhân viên dân sự ở VN không được phép mang vũ khí, nhưng hầu như họ đều bất tuân lệnh. Ai cũng cất giữ một vũ khí trong mình để phòng thân do tình hình bất an ở Việt Nam. (trích):

“Sau khi vợ tôi đã rời khỏi, lúc nào tôi cũng mang theo khẩu súng 38 ly và thêm một ít đạn dự phòng. Tôi còn có một khẩu colt 45 trong xe hơi, và một khẩu súng trường M-2 ở nhà, và còn thêm súng lục và súng tiểu liên trong ngăn kéo an toàn ở văn phòng. Cảm thấy hơi bối rối về việc này, vào ngày đầu tiên tôi đi bộ đến văn phòng của Bill J. và vén cái đuôi áo của tôi lên cho thấy cái khẩu súng. Bill phá lên cười và đứng dậy, rút ra một khẩu Browning 9 ly từ trong túi quần.

Lại còn lạ lùng hơn: Tôi là tâm điểm tiếp xúc chính của nửa tá sĩ quan tùy viên Bộ Binh, Hải Quân và Không Quân làm việc ở cái văn phòng đối diện cái sân từ chỗ chúng tôi. Người sĩ quan tùy viên Bộ Binh đến gặp tôi và yêu cầu tôi thu xếp cho họ được mang súng (colt) .45. Họ đang di chuyển khắp Sàigòn – Gia Định để nắm giữ tình hình nên không được thoải mái nếu không có một sự bảo vệ nào đó. Tôi thật khó xử vì văn phòng chính của họ ở tận Tân Sơn Nhứt không có vũ khí cho họ. Tôi chuyển lời yêu cầu của họ tới vị Trưởng Văn Phòng để xin giấy phép từ ông đại sứ. Sau đó tôi dẫn các sĩ quan tùy viên đi xuống phòng an ninh của chúng tôi để họ ký nhận số súng .45 cần thiết với đầy đủ đạn dược.”

Cũng trong hai tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư, 1975, trong khi chiến sự đang lan dần đến cửa ngõ Sàigòn thì ông bạn đồng minh Hoa Kỳ, dĩ nhiên trong đó có các nhân viên CIA, cũng bắt đầu chuẩn bị cho cuộc “tháo chạy” bằng cách đốt hồ sơ và lần lượt lên đường về nước. Rõ ràng Hoa Kỳ đã biết trước sự sụp đổ của VNCH, người bạn mà họ từng nhận là một đồng minh thân thiết của họ. Trong phần cuối của bài tự thuật về những ngày cuối cùng ở Sàigòn, ông Xịa Richard W. Hale đã viết, (trích):

“Hai tuần lễ cuối cùng tôi không nhớ chính xác lắm, nên tôi sẽ không cố gắng ghi lại ngày tháng xảy ra. Trận chiến duy nhất mà Quân Lực VNCH  chiến thắng trong toàn bộ sự kiện đã rệu rã là ở Xuân Lộc cách Sài Gòn 40 dặm. Đây là một chiến thắng hoàn toàn ngắn ngủi, vì những binh sĩ khá hơn có thể đã được điều động về để bảo vệ vành đai Sài Gòn. Họ đã ngăn chặn được quân đội Bắc Việt và Việt Cộng trong 10 ngày, nhưng rồi quân Bắc Việt đã vượt qua họ. Sư Đoàn 18 cùng với 3000 Biệt động quân và Nhảy dù – một nửa lực lượng trừ bị cho Sài Gòn – đã từ từ bị loại.

Trở lại cơ sở, được sự chấp thuận của trưởng cơ sở, tôi đã ra chỉ thị rằng tất cả các hồ sơ phải, hoặc là tiêu hủy (nghiền cắt hoặc đốt cháy), hoặc ngay lập tức chuyển về Langley. Mỗi sĩ quan trưởng lưới có thể giữ lại một bìa hồ sơ dầy không qúa 1 inch cho những tài liệu thật thiết yếu cho công tác của mình. Có một vài sự phản đối, nhưng tôi biết hầu hết các sĩ quan trưởng lưới đều tuân lệnh, vì đã có vài trường hợp các văn phòng hay cơ sở ở Phi Châu đã bị tràn ngập trong những cuộc nội chiến và những hồ sơ an toàn để lại đầy những tài liệu đã phân loại. Trở lại thập niên 1950s, chúng ta đã có những trái lựu đạn mối để đề phòng trường hợp khẩn cấp, nhưng cái đó nay đã trở thành lỗi thời. Tôi đã quyết định rằng nếu quân đội Bắc Việt chiếm Sài Gòn, chúng sẽ không thể tìm thấy những hồ sơ của cơ sở (CIA) Sài Gòn….”

Cuối cùng, ngày 21/4/1975, mười ngày trước khi Sàigòn thất thủ, Richard W. Hale đã được lệnh lên đường về nước. Cho đến giờ phút đó, ông vẫn còn nghĩ sẽ có một giải pháp nào đó cho Việt Nam để ông có thể quay trở lại. Thật không thể tưởng tượng được, đến giờ phút đó, ông Xịa này vẫn còn có suy nghĩ như thế. Không biết ông vờ hay ông ngây thơ, hả ông CIA Richard W. Hale? :

“Cuối cùng đến ngày 21 tháng Tư, cơ sở (CIA) Sàigòn chỉ còn 15 người. Bill J. nhìn tôi và nói: “OK, Dick, bây giờ đến lượt anh. Chúng ta có quá nhiều xếp và không có đủ lính tráng. Anh ra đi ngày mai.”

Tôi đã định phản đối, nhưng rồi bật cười. Đáp lại việc Bill và Monty đang cau mày, tôi nhắc họ là tôi đã từ chối từ cả hai tuần rồi và bây giờ cũng vậy. Nhưng rồi tôi nói OK, chúc họ may mắn và trở về nhà thu xếp đồ đạc vào một cái va li nhỏ.

Do đó, mặc dù tôi dự tính di tản bằng trực thăng, buổi sáng hôm sau, một trong những người thư ký còn lại của tôi cùng với một sĩ quan trưởng lưới và tôi được chở tới Tân Sơn Nhứt do người chồng của người thư ký lái. Chúng tôi mang theo những khẩu súng colt .45 trong cái túi giấy màu nâu để đề phòng bất trắc. Khi đến phi trường chúng tôi giao cái túi lại cho người tài xế và chúc anh may mắn. Cả ba chúng tôi lên chiếc máy bay China Airlines cuối cùng rời khỏi Tân Sơn Nhứt. Cô thư ký bồn chồn lo lắng cho anh chồng, nhưng cuối cùng anh ta cũng an toàn rời khỏi bằng một trong những chiếc trực thăng.

Tôi trải qua hai ngày ở Hồng Kông, rồi cùng bè bạn tới tòa tổng lãnh sự để xác nhận, rồi sau đó bay tới Honolulu, nơi con trai tôi đang theo học đại học. Tôi chờ đợi ở đó với một hy vọng xa vời là tình hình ở Việt Nam có thể được ổn định, trong trường hợp nào đó để tôi có thể quay trở lại. Lúc  Sàigòn thất thủ, tôi buồn rầu tiếp tục cuộc hành trình tới Hoa Thịnh Đốn.”

TOÀN NHƯ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở VỀ HỒI ỨC CỦA MỘT CỰU SĨ QUAN CIA TẠI SÀIGÒN_ TOÀN NHƯ

Chúc Mừng Sinh Nhật

Căn Nhà Nhỏ mến chúc bạn Trần Đình Sum và các bạn dưới đây có một ngày sinh nhật  vui vẻ và tràn đầy hạnh phúc cùng với người thân trong gia đình và  bạn hữu.

Slide2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Mừng Sinh Nhật

Sáu bài thơ Quốc Hận_ K1

Mien Nam ngay ay

image003

Ngày ấy Miền Nam thắm sắc hương
Muôm hoa nở rộ dọc ven đường
Hậu phương an lạc đời trăm ngã
Tiền tuyến truy lùng giặc tứ phương
Nổ lực xây nên nền dân chủ
Quyết tâm đạt tới mức hùng cường
Nào ngờ vận nước lâm nguy biến
Đứt gánh giữa đường thật thảm thương

TPK

IMG_4458

image001

Bốn chục năm trường xa cố hương,
Phố xưa còn đó những con đường.
Như chim vỡ tổ đi muôn hướng,
Tựa bóng mây ngàn bay tứ phương.
Nung nấu sục sôi niềm quốc hận,
Quyết tâm tranh đấu dạ kiên cường.
Ngày về xứ Việt đang chờ đợi,
Vàng bóng cờ bay thỏa nhớ thương.

NĐT

image002Một ngày phục quốc lại quê hương
Cộng sản trốn chui khắp nẻo đường
Hà Nội cờ vàng bay phất phới
Sài Gòn sọc đỏ rợp ngàn phương
Ba đình đốt xác tên hồ tặc
Đất Việt mồ chôn lũ bạo cường
Con cháu Rồng Tiên mừng họp mặt
Lạc Long nòi giống đượm tình thương.

NHA

image001

Bốn chục hạ sầu thắp mấy hương ?
Sài Gòn đổi chủ mất tên đường
Hằn sâu ký ức ngày di tản
Nhớ mãi trong lòng kiếp viễn phương
Mơ ước cờ vàng về phất phới
Cầu mong dân tộc giữ kiên cường
Vùng lên quét sạch phường vô lại
Danh dự nước nhà hết tổn thương

Trần Pháp 

image002Về đây ta gặp lại quê hương
Phất phới vàng bay khắp nẻo đường
Tiếng hát Tự do hòa một nhịp
Bài ca Dân chủ vọng muôn phương
Hòa bình kiến tạo người no ấm
Độc lập ngăn đe kẻ bạo cường
Phố xá bừng vui như thủa trước
Giữa lòng đất mẹ ngát yêu thương.

NCM

image002

Bốn chục năm rồi xa cố hương .
Từ ngày bỏ đất mẹ lên đường .
Thời gian rỉ máu đời vong quốc ,
Cuộc sống tan hồn kiếp viễn phương .
Xứ lạ ra đi luôn khắc khoải ,
Trại tù ở lại vẫn ngoan cường .
Lạc loài thế giới thân chùm gởi ,
Chẳng phút giây nào vơi nhớ thương .
LHN

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sáu bài thơ Quốc Hận_ K1

Khóc Trung Tá Nguyễn Văn Long_ Thơ Hữu Nguyễn Việt Thường

image001long1

 

BÀI TƯỞNG NIỆM CHIẾN SĨ VNCH
TRUNG TÁ CSQG  NGUYỄN VĂN LONG 

Ôi tháng Tư, phút cuối.  Mặt trời !!!
Màu Cờ, xương máu, uổng oan rồi.
Đường xá rung lên, bao chân vội.
Bến Tàu ràn rụa, những ra khơi.
Dưới chân Tượng Lính buồn trên phố,
Có Hồn Uy Dũng dõi xa xôi.
TRUNG TÁ LONG hào hùng tuẩn tiết,
Cảnh Sát Quốc Gia khóc một người.

Nguyễn Việt Thường
Rochester, MN

Kính chúc Ban Điều Hợp luôn vững vàng lập trường, hào hùng khí thế, giương cao Sự thật, Bảo vệ Cờ Vàng, tranh đấu Cho Nhân Chủ, Dân Chủ và Tự Do.    -TN.

( CNN trích từ mail của Ban Điều Hợp)

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khóc Trung Tá Nguyễn Văn Long_ Thơ Hữu Nguyễn Việt Thường

Thơ Quốc Hận của NHA

image001

Tháng tư nhớ lại cảnh đau thương
Chợ búa, thành đô khắp phố phường
Máu đỏ chảy loang dường bể cả
Xương chồng ngày ấy biến thành non.

Tháng tư máu lệ chảy tuôn tròn
Nhà cửa tan hoang mẹ khóc con
Vợ lại nhớ chồng xa biệt xứ
Con thì thương bố khóc nỉ non.

Tháng tư “cải tạo” nộm bày ra
Cán chính, quân dân bị phỉnh mà
Lừa gạt đầu môi qua chót lưỡi
Cơm tiền một tháng được về nhà.

Về nhà không thấy, thấy Sơn La
Rừng rú trại tù nhốt chúng ta
Giá rét, lạnh căm mền chẳng ấm
Đêm về buốt lạnh đến phồng da

Thảm cảnh vì đâu chúng tạo ra?
Ấy phường cộng sản lũ điêu ngoa
Lảnh lịnh Nga, Tàu lòng khát máu
Không tình, dứt nghĩa, giết dân ta.

Cố tình xáo thịt lại nồi da
Khiến vợ xa chồng, con mất cha
Đạo lý luân thường quây đảo lộn
Người rừng, loại nộm oái tinh ma.

Tháng tư dân Việt lắm oan khiên
Nam, Bắc, lẫn Trung khắp các miền
Gạo độn bo bo đầy cát sạn
Vải theo tiêu chuẩn ló già hồ.

Tháng tư sáng mắt bọn nằm vùng
Dấu diếm cán binh cúi phục tùng
Dành dụm cơm tiền nuôi bác đảng
Ngày nay điền sản chúng gom thu.

Tháng tư gợi lại nỗi niềm đau
Nghĩ đến lòng ta ruột héo xào
Nao nức ngày về quê chốn cũ
Van trời phù hộ được toại nào.

Tháng tư dân chúng đợi chờ mong
Phất phới cờ vàng khắp núi sông
Cờ đỏ, sao vàng tan biến mất
Ta về dựng lại giống Tiên Rồng.

NHA
image001

Ngồi buồn nhớ lại bốn mươi năm
Chẳng khóc mà sao lệ tuôn dầm
Thảm trạng tang thương ngày mất nước
Xa lìa đất Việt mối tình thâm.

Ông Tạo gây chi tuồng nghịch cảnh
Cho loài lan sói hám buôn danh
Thành người chiến thắng gieo tang tóc
Giúp kể bạo tàn múa vuốt nanh.

Nghĩ đến giận thầm Kissinger
Miền Nam hấp hối nó lập lờ
Cái tên mũi két, thằng phù thủy
Bán đứng miền Nam với giá hờ.

Quốc hội Hoa Kỳ cũng a dua
Các tên phản chiến lũ chó hùa
Làm ra đạo luật tên ”Khê chéc”
Cấm viện miền Nam chết tức thì.

Ông Ford Tổng Thống chẳng ra chi
Thời thế xoay chìu đội mũ ni
Nixon từ chức lên thay thế
Nên bỏ dân ta chịu thảm sầu

Tong Tong nông cạn chẳng chiều sâu
Làm “nủng” Hoa Kỳ chẳng vị đâu
Rút bỏ Cao Nguyên gây hỗn loạn
Quân dân hốt hoảng rối như bầu.

Bốn chục năm rồi đã trôi qua
Nghĩ về nước Việt dạ xót xa
Cuối đời vẫn muốn về quê tổ
Gởi nắm xương tàn cạnh mẹ cha.

Hỡi ai chống cộng chớ phân ra
Cùng chung lý tưởng vốn một nhà
Hợp quần nhau lại gây sức mạnh
Chớ có phân chia rẽ ruột rà.

Nặng tình đất tổ với quê cha
Bỏ hết việc riêng đó mới là
Khác nhau đường lối chung lý tương
Sát vai, đâu cật cứu sơn hà.

Nằm vùng thân cộng lũ ranh ma
Ta hãy thẳng tay vạch mặt ra
Mươn danh tôn giáo làm từ thiện
Lắp lửng Ti Vi để tuyên truyền

Hỡi ai tỵ nạn vì cộng sản
Chớ có vãng lai đến quán hàng
Tẩy chay bọn chúng cho tận gốc
Việt Nam sẽ được cảnh huy hoàng.
NHA


Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Quốc Hận của NHA

Phan Tấn Ngưu Phân Ưu cùng GĐ Nguyễn Văn Dương

Thưa chị Dương và quý vị,

Nghe bạn Dương bị bệnh đã mấy tháng nay, tôi không ngạc nhiên về sự ra đi của anh. Mấy hôm nay tôi hay liên tưởng những kỷ niệm mà tôi đã có với bạn Dương trong thời gian cùng phục vụ tại BCH/ CSQG tỉnh Tây Ninh, nhưng trong phạm vi nhỏ hẹp của một email, tôi không thể ghi lại hết những điều đó.
Nhân dịp dự Tân Niên của Hội CSQG Bắc Cali, tôi không thể không đến thăm bạn tại bệnh viện và tôi đã được vui với bạn trong những khoảnh khắc cuối đời. Sự can đảm của bạn trong lúc chuyện trò và những nụ cười khi chỉ Mrs Dương Nguyệt Ánh để đùa, chị là Tư Lệnh của F/ĐB Tây Ninh … Trên đường trở về Nam Cali, Nguyễn Văn Dương là một trong những đề tài mà chúng tôi luôn nhắc đến, kể cả những kỳ niệm lúc ở Tây Ninh mà ít người được biết, chỉ có “Có Ngưu” mới biết mà thôi.
Nghĩ đến bạn Dương, tôi cám ơn bạn đã cho tôi thêm cách suy nghĩ về sự sống và sự chết của đời người.

Chia buồn cùng chị và gia quyến.

Phan Tấn Ngưu

PTN phan uu  Dương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phan Tấn Ngưu Phân Ưu cùng GĐ Nguyễn Văn Dương

Phân Ưu của K1 Bắc cali

Phân Ưu của K1 Bắc CA-N v Duong

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu của K1 Bắc cali

Phân Ưu- K3 Nguyễn văn Dương

Phân Ưu Nguyễn văn Dương K3

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu- K3 Nguyễn văn Dương

Vợ thăm tù cải tạo

image001

Đường xa vạn dăm lắm quan san,
Vượt suối trèo non chẳng oán than.
Lặn lội thăm chồng 11233203-tam-tit-5tù cải tạo,
Tảo tần phận gái nỗi khiên oan.
Chợ trời xuôi ngược trong thành phố,
Buôn bán loanh quanh giữa xóm làng.
Ngày đó vượn về hô giải phóng,
Xẻ đàn tan nghé thật bàng hoàng.

Cóc Xanh_NĐT

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vợ thăm tù cải tạo