Anh em K1 tại Houston họp mặt chào đón K1 Vỏ đăng Ngọc

Nhóm Khóa 1 SQ/CSQG họp mặt tại tư gia Lê Quang Phú, lúc 12 giờ ngày 29-7-2012,nhân dịp đồng khóa Võ Đăng Ngọc từ Nam Cali đến Houston.

Xin cam on anh Vinh da post hinh chung ta len cho anh em khoa 1 coi cho thay minh bay gio ra sao – thoi oanh liet nay dau !

 Tham va chuc tat ca anh em minh khoa 1 luon vui khoe va hanh phuc – hanh phuc thiet chu*/ khong phai hanh phuc nhu Co` Tem/ noi :-) :-) .

  Chung toi nhung anh em khoa 1 tai Houston chuan bi don tiep ban Thoa sap den day .

 Vo chong le Quang Phu .

Thành thật cám ơn các bạn, nhất là anh chị Phú, đã cho bọn mình những niềm vui gặp gỡ nhau, hàn huyên gợi lại những ngày vui của thuở “Còn thời lên ngựa bắn cung” và tuổi già “Hết thời xuống ngựa luợm thun bắn ruồi” hiện nay.

Vợ chồng Võ Đăng Ngọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Anh em K1 tại Houston họp mặt chào đón K1 Vỏ đăng Ngọc

Happy Birthday Tháng Tám

Căn Nhà Nhỏ thân mến gởi đến các bạn dưới đây có ngày sinh trong tháng Tám lời Cầu chúc Sức Khỏe, An Lành và Hạnh Phúc nhất.

Xin lỗi các bạn TSV vì tháng nầy mình không có danh sách của quý bạn.

Phan đại Quang           01.08.43
Đào thanh Phong        01.08.44
Lê thế Viên                    01.08.46
Lâm minh Sơn             02.08.45
Huỳnh Diễn                  05.08.43
Ma văn Lợi                    05.08.44
Trần hoàng Lương      08.08.43
Trần thị Kim Hạnh     09.08.41
Nguyễn thành Quang 10.08.44
Lý mũi Liềm                  12.08.45
Phạm văn Bé                 15.08.44
Lâm hung Dũng           18.08.42
Trần ngọc Điều             20.08.43
Trần văn Ân                   24.08.42
Phạm văn Xuân            25.08.42
Phùng hồng Thánh      25.08.42
Phạm văn Chu               25.08.44
Lê văn Thao                   30.08.44
Nguyễn đắc Thành       31.08.43


Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Birthday Tháng Tám

Những Món Quà Quí Báu Mừng Sinh Nhật CNN

Ngày 2 tháng 8 tới đây, CNN ra mắt các bạn vừa tròn được một năm. Tuy chưa được hoàn hảo lắm nhưng cũng đã được các bạn thân thương ghé thăm và ban cho những lời khen tặng khích lệ. Đặc biệt có nhiều bài thơ hay đoản văn nói lên tình cãm của chúng ta đối với mái trường Học Viện và sự gắn bó thân thưởng giữa chúng ta khi tuổi đã già.

Trước khi thưởng thức các tác phẩm do các bạn gởi tới, xin quý Niên Trưởng và tất cả các bạn cho tôi gởi lời cám ơn sự quý  mến và thông cảm của quý vị với CNN. Và xin nhận nơi đây lời cầu chúc Sức Khỏe, Bình An, Hạnh Phúc  của chúng tôi.

– Mở đầu là bài thơ của anh K1 Nhữ đình Toán

Mừng Căn Nhà Nhỏ hôm nay,
Đã tròn một tuổi đến ngày thôi nôi.
Bạn bè Khóa 1 tôi ơi,
Vào đây hội ngộ nói lời yêu thương.
Những ngày lưu lạc tha hương,
Cùng nhau ôn lại chặng đường đã qua.
Buồn vui Học Viện chan hòa,
Biết bao kỷ niệm thật là khó quên.
Nhờ Căn Nhà Nhỏ thân quen,
Tưởng như ngày cũ tình thân thuở nào.

 K1 Nhữ Đình Toán

– Ngay sau đó có một anh, mà theo anh ta nói thì xưa nay chưa làm thơ nhưng chúng tôi nhận thấy ý thơ của anh ta rất dồi dào nhất là tình cãm của anh dành cho  anh em chúng ta.
Đó là K1 Trần Quốc Nại.

Ban Vinh thân mến ,
Tôi K1/TSV Trần Quốc Nại , vì không bỏ tật bon chen nên năm 1972 trở lại Học viện nhập khóa 6/BTV nên năm 1975 bị tù đến 8 cuốn rưỡi lịch ,giận quá vượt biển 14 ngày cho bỏ ghét ,may mắn thay, không những không chết mà còn được đến bến bờ tự do đảo Palawan, Philippines tháng 8 năm 1985 rồi đến Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đúng 4 giờ chiều ngày 20/12/1986 và được định cư theo diện tỵ nạn Cộng Sản tại San Jose California từ đó đến nay. Xin được ra mắt quý bạn K1 và xin được hân hạnh vào CNN để cùng nhau thì thầm trên quãng đường về ước mong hâm nóng lại tình nồng K1 đã bao năm xa cách , đã bao năm thăng trầm , đã bao năm cay đắng ngọt bùi , đã bao năm trăng trở ước mơ…một Việt Nam không Cộng Sản. Thưa quý bạn K1 Nhữ Đình Toán đã góp bài mời quý bạn hãy mau mau, hãy mạnh dạng , hãy hăng hái , hãy dành chút thời gian quý báu còn lại của đời mình , về đây , về CNN ,vè mái ấm K1, về vườn hoa CNN như những cánh hoa tươi đang mĩm cười dưới bầu trời quang đãn ban mai. Bản thân tôi K1 Trần Quốc Nại , chưa một lần viết văn, chưa một lần làm thơ, dốt ơi là dốt , nhưng nói đến mái ấm K1/CNN tự nhiên tôi muốn có chút tâm ý mong góp chút rộn ràng trong gia đình CNN của chúng ta vậy.

Học Viện sáu sáu bảy lăm,
Vừa tròn tuổi hạt chín năm tan hàng ,
Thầy trò lưu lạc bốn phương,
Mỗi người một nẽo khó lòng tìm nhau,
Biết bao gian khổ thương đau,
Luôn luôn mong mỏi có ngày đoàn viên,
K1 là khóa đầu tiên,
Cả Nam lẫn Nữ tính liền năm trăm,
Trải qua cuộc chiến thăng trầm ,
Năm trăm đứa đó nay đà bảy mươi,
Đứa thì ngồi đó đang cười,
Trong nhà dưỡng lão không người viéng thăm,
Đứa còn kẹt lại Việt Nam,
Sống đời chật vật tay làm hàm nhai,
Kể sao cho hết chuyện dài,
Chi bằng chấp nhận một vài khó khăn,
Bỏ qua ba cái lăn nhăn,
Về cùng K1 đang cần nguồn vui,
Bạn Vinh, bạn Toán, bạn Ngưu,
Lập Căn Nhà Nhỏ đón chào bạn ta,
Tính ra đã một năm qua,
Nhưng người tham dự thật là quá khiêm,
Mau mau bỏ hết nổi niềm,
Về nhà K1 để tìm gặp nhau,
Lòng ta mong lắm bạn ơi,
Vui vầy sum họp cuộc đời nở hoa./-

K1 Trần Quốc Nại

– Rất hân hạnh chào đón bạn đem hoa thơm trồng vào vườn hoa CNN. Nhìn thấy hoa xinh thì anh chị em K1 sẽ thấy ấm lòng thêm. Chắc chắn sẽ còn có nhiều bạn bắt chước TQN. Đâu chỉ cần thơ hay mới được lên khuông. Những câu chuyện hằng ngày chúng ta ngồi uống caphê với nhau, nói ba điều bốn chuyện, chuyện tiếu lâm ( nhưng đừng tục lắm, vừa vừa cho vui), giữa anh chị em chúng ta thiếu gì chuyện. Thì đó chính là hoa thơm của CNN vậy. Lâu nay mấy chị còn e dè chưa trổ tài, nhưng tôi biết có nhiều chị viết cũng hay lắm…thì lần nầy hảy cho bọn mày râu chúng tôi  một chút ân huệ đi, mong thay.
Một lần nữa cám ơn bạn TQN và chúc bạn luôn luôn vui , khỏe và hạnh phúc.

Vinh

– Bạn K1 Đoàn Ngọc Nam cũng thường có bài đăng trong CNN. Hôm nay anh có bài chúc mừng như sau:


Căn nhà nho nhỏ xinh xinh
Một mình đảm trách chúng mình được vui
Bỏ công mò mẫn lui cui
Cũng nhờ có nó rèn trui tuổi già
Không quên cám ơn gọi là
Đồng môn gắn bó chúng ta một thời
Khóa Một Học Viện ai ơi
Ra trường mỗi đứa mỗi nơi khắp vùng
Tan hàng lâm cảnh khốn cùng
Xứ người hội ngộ thủy chung vui mừng
Thông tin nội bộ đặc trưng
Vui buồn đều biết quá chừng là mau
Hôm nay ghi nhớ lấy ngày
Có Căn Nhà Nhỏ kinh qua năm dài
Đồng lòng chúng ta trổ tài
Đông người góp sức sánh vai vững bền.

K1. Đoàn Ngọc Nam

– Bạn K1 Tống Phước Kiên vào những dip đặc biệt thường có bài cho CNN, nhân dip CNN được một năm bạn TPK có một bài thật dài đầy ắp tình thầy trò, bạn hữu. Và theo tôi nghĩ, mỗi lần TPK viết đoản văn hay làm thơ thì y như ý tưởng và tình cãm cứ theo ngòi bút mà tràn ra. Phải nói rằng TPK là người đa cảm. Mời quý niên trưởng và các bạn đọc bài sau đây.

Thấm thoắt mà một năm đã trôi qua kể từ ngày Hội Ngộ 45 năm Học Viện CSQG/VNCH tại San Jose vào đầu tháng 7 năm 2011. Biến cố nầy để lại trong tâm khảm tôi những ấn tượng sâu đậm mà chắc chắn sẽ không bao giờ phai.

          Đây là lần đầu tiên tôi được một lần trùng phùng với quý thầy và các bạn đồng khóa,đồng môn sau 45 năm dài kể từ ngày rời cổng trường Học Viện năm 1966. Thời gian ấy đủ dài với bao vật đổi sao dời để chúng ta xát quyết thêm cái giá trị nhân bản của chế độ tự do dân chủ VNCH cùng sứ mệnh bảo quốc an dân của chiến sĩ Miền Nam trong đó có lực lượng CSQG của chúng mình. Và chúng ta cũng có quyền hãnh diện về những năm tháng bị trả thù nghiệt ngã trong ngục tù cộng sản sau ngày VNCH bị bức tử 30-4-1975.Trong ngày tiền Đại Hội K1 ông cựu Viện Trưởng TRẦN MINH CÔNG nói rằng: “Không phải tôi đánh giá cao các bạn mà chính VC đánh giá cao các bạn bằng những năm dài tù tội,không những năm mười năm mà có nhiều bạn bị khổ sai biệt xứ đến 17 năm ròng…”

    Suốt 4 ngày Đại Hội từ bữa tiệc thân mật do các anh chị em K1 ngụ tại San Jose tổ chức tại nhà hàng King Crab cho đến cuộc du ngoạn tại San Francisco trước lúc chia tay, ôi chao vui thật nhiều nhưng cũng có một chút ngậm ngùi với những thầy những bạn vĩnh viễn không còn hội ngộ cùng chúng ta.
        Tôi hết sức xúc động nhìn ông cựu phó Viện Trưởng PHẠM CÔNG BẠCH ngồi trên chiếc xe lăng về tham dự ngày Hội Ngộ. Ông cố gắng hết sức để nói để cười với đám học trò thân yêu ngày trước đến nỗi sau Đại Hội ông phải nhập viện mất mấy ngày.
       Những niềm vui hôi ngộ thật quá nhiều không sao kể hết,song có một niềm vui khiến tôi xúc động đến rưng rưng nước mắt. Sau bài diễn văn phát biểu trong ngày Đại Hội,ông cựu Viện Trưởng TRẦN MINH CÔNG đảo mắt nhín quanh hội trường rồi đưa tay vẫy chào toàn thể cựu SVSQ của mình trước khi rời khán đài. Trong khoảnh khắc ấy, NGUYỄN VĂN SÁO kéo ĐỔ THÁM và tôi đến đón ông thầy để chào hỏi. Chưa kịp mở lời chào thì ông đã ôm quàng cả ba đứa nhảy dựng lên, nhảy tưng tưng, vừa nhảy ông vừa nói như reo: “SÁO,KIÊN và ĐỔ THÁM của Đà Nẵng vẫn còn sống đây nè. “Cử chỉ và lời nói ấy không những nói lên tình cảm của một người thầy, một cấp chỉ huy đối với những đứa học trò, những thuộc cấp cũ mà còn là tình thương của một người anh đối với những đứa em đã cách biệt lâu ngày.
      Sau khi tốt nghiệp tại Học Viện nhóm anh em chúng tôi được phân phối về Ty CSQG thị xã Đà Nẵng gồm có Lê Việt Hằng, Võ Công Châu, Lê Văn Quế, Hà Trọng Lô, Nguyễn Hữu Nhật, tôi, Nguyễn Văn Sáo, Lê Thành Quang, Nguyễn Thị Máy, Huỳnh Mãng, Đổ Thám. Chúng tôi thật ấm lòng khi về trình diện ông Trưởng Ty TRẦN MINH CÔNG. Gặp được ông Chỉ Huy Trưởng đầu đời cảnh nghiệp của mình là thầy cũ từ Học Viện thì cảm giác
đầu tiên là an tâm, chắc chắn ông sẽ chỉ dạy những điều mà trong kho tàng kinh nghiệm của chúng tôi chỉ là con số O to tướng.
     Phục vụ dưới trướng ông TRẦN MINH CÔNG một năm, chúng tôi bịn rịn tiễn ông thầy về giữ chức vụ Trưởng Ty CSQG Quận Nhì Sài Gòn. Người kế nghiệp chức vụ Trưởng Ty lại là ông thầy PHẠM CÔNG BẠCH.
    Những bài học trong Học viện chỉ là lý thuyết suông nên khi rời mái trường ai cũng phập phồng lo lắng như chim non lìa tổ. Nhóm anh em K1 được phân phối về phục vụ tại Ty CSQG Thị Xã Đà Nẵng có chỗ dựa về tinh thần nơi hai ông thầy là một may mắn hiếm có.
                                   Bèo hợp rồi bèo tan,
                                   Cuộc vui nào cũng tàn.
        Thầy xưa bạn cũ ngậm ngùi chia tay nhau sau một ngày du ngoạn ở San Francisco. Mà chuyến đi du ngoạn nầy cũng có điều đáng nhớ. Lần đi lượt về đều có những niềm vui bất ngờ vỡ òa trên xe bằng những tiết mục văn nghệ tự phát nào đơn ca, hợp ca, ngâm thơ, vọng cổ…mà đặc biệt là cách kể chuyện của Đinh Văn Hạp khiến người nghe khó quên. Sau một đoạn anh ngưng lại và nói lớn”vỗ tay”, cả xe vỗ tay rào rào xen lẫn tiếng reo hò. Tuổi đời đã bước qua ngưỡng cửa “cổ lai hy” thế mà giọng kể cứ oang oang chứng tỏ nội lực của anh vẫn còn sung mãn. Thảo nào mà anh em có người nói đùa “còn đèo bồng”, thậm chí Nhữ Đình Toán
còn trêu “đêm bảy ngày ba” nữa chứ.
        Những niềm vui hội ngộ tưởng sẽ đi vào hoài niệm, bỗng nhận được email của K1 Nguyễn Công Vinh, anh trân trọng kính mời quý thầy, các bạn đồng khóa, đồng môn vào thăm”CĂN NHÀ NHỎ”mà anh đang gầy dựng. Nhiều thân hữu đã nhiệt tình góp mặt trong căn nhà ấy như Lê Hữu Nghĩa, Phan Quang Nghiệp, Nguyễn Hữu Nhật, Nhữ Đình Toán, Phan Tấn Ngưu, Đoàn Ngọc Nam, Nguyễn Ngọc Kính…
    Căn nhà của Nguyễn Công Vinh tuy nhỏ nhưng cũng có nhiều hoa lá, văn thơ nhạc đều có đủ. Những sáng tác của bạn bè gởi đến CNN tuy không điêu luyện như những nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp nhưng gia đình K1 lại trân quý vì đó là những nhịp tim của chính mình.
    Nhờ nó mà tôi bắt gặp những hình ảnh thân quen của các thầy, các bạn trong những lần hội họp khắp đó đây trên quê hương thứ hai nầy.
    Mỗi tháng chủ nhân thân mời toàn thể gia đình K1 vào CNN để mừng sinh nhật của một số anh chị em và nghe một bản nhạc Happy Birthday do chủ nhà sưu tầm gởi tặng.
    Thỉnh thoảng cũng nhận được một vài phân ưu, cáo phó. Lẽ thường tình của đời người “hữu sinh hữu tử” mà.

Cầu nguyện cho bạn bè, thân hữu thanh thản rời bỏ cuộc đời ô trọc về hưởng an lạc nơi quê thật của mình bên kia thế giới. Rồi ai cũng qua bến ấy một lần.
    Thành thật cảm ơn chủ nhân CNN đã không quản ngại thì giờ và công sức để xây dựng và trang trí cho ngôi nhà để cho đại gia đình K1 lui tới thăm gặp lẫn nhau.

                                   HAPPY BIRTHDAY TO CNN
                                                   July 2012

                                         TỐNG PHƯỚC KIÊN

– Bạn Vinh thân,

Nhân dịp kỷ niệm một năm CNN ra đời, ĐNN gởi bài thơ họa TTHL/CSDC/DALAT, nay có phần dẫn nhập, để anh em CS thông cảm với bọn mình, cái nghịch lý là qua CSDC chỉ vì bắ súng dỡ, đáng lẽ ra bắn giỏi mới tuyển chọn qua DC mới đúng chứ!

Đoàn Ngọc Nam

Dẫn nhập:
Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Dã chiến Đà Lạt là một trong nhiều cơ sở huấn luyện của ngành Cảnh Sát Quốc Gia. Nơi đây qui tụ một lực lượng hùng hậu Sĩ Quan Cảnh Sát, lên đến hàng trăm Sĩ Quan, xuất thân từ Khóa 1 và 2 của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, Việt Nam Cộng Hòa. Anh em về đây phục vụ ngành huấn luyện, qua một thời gian thử thách, chu toàn mọi nhiệm vụ được giao phó, để rồi được thuyên đến khắp bốn Khu, mang theo đầy đủ ý chí, xả thân phục vụ trong nhiệm vụ mới một cách hăng say, đạt thành tích cao trong mọi lãnh vực. Nhờ có Căn Nhà Nhỏ của Khóa 1 HV/CSQG,  phổ biến bài thơ “Trúc Mọc Bờ Sông” của Kiều Diệu Hương và bài họa “Đà Lạt Quê Người” của K1 Thanh Hoàng, nên bài họa Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến được thành hình, như một kỷ niệm trong thời gian phục vụ 7 năm nơi đây. Thân tặng các bạn đồng nghiệp và các bạn đã từng học căn bản dã chiến, cũng như tu nghiệp cấp trung đội, tại TTHL/CSDC/DALAT. Mong các bạn xem đây như một món quà tình nghĩa, chú trọng phần ý, bỏ qua phần niêm luật, chỉ vì tay ngang tập làm thơ, nên không sao tránh khỏi trật đường rầy, múa riều qua mắt thợ.             

            Trung Tâm Huấn Luyện 
          Cảnh Sát Dã Chiến Đà Lạt

            Việt Nam Đà Lạt có Anh Đào
            Trung Tâm Huấn Luyện một vì sao
            Nơi đây thử thách rèn ý chí
            Dã Chiến an dân giúp đồng bào
            Bốn Khu qui về “Lò Luyện Thép”
            Thầy Trò gian khổ nêu chí cao
            Vận nước đến hồi như thế đó
            Còn đâu oai hùng thuở năm nào?

           K1 Đoàn Ngọc Nam

           

 

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những Món Quà Quí Báu Mừng Sinh Nhật CNN

Thơ K1 Trần Quốc Nại_ Tâm Tình K1

Bạn Vinh thân mến ,
Tôi K1/TSV Trần Quốc Nại , vì không bỏ tật bon chen nên năm 1972 trở lại Học viện nhập khóa 6/BTV nên năm 1975 bị tù đến 8 cuốn rưỡi lịch, giận quá vượt biển 14 ngày cho bỏ ghét, may mắn thay, không những không chết mà còn được đến bến bờ tự do đảo Palawan, Philippines tháng 8 năm 1985 rồi đến Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đúng 4 giờ chiều ngày 20/12/1986 và được định cư theo diện tỵ nạn Cộng Sản tại San Jose California từ đó đến nay. Xin được ra mắt quý bạn K1 và xin được hân hạnh vào CNN để cùng nhau thì thầm trên quãng đường về ước mong hâm nóng lại tình nồng K1 đã bao năm xa cách, đã bao năm thăng trầm, đã bao năm cay đắng ngọt bùi, đã bao năm trăng trở ước mơ…một Việt Nam không Cộng Sản.

Thưa quý bạn K1 Nhữ Đình Toán đã góp bài mời quý bạn hãy mau mau, hãy mạnh dạng, hãy hăng hái, hãy dành chút thời gian quý báu còn lại của đời mình  về đây, về CNN, về mái ấm K1, về vườn hoa CNN như những cánh hoa tươi đang mĩm cười dưới bầu trời quang đãn ban mai. Bản thân tôi K1 Trần Quốc Nại, chưa một lần viết văn, chưa một lần làm thơ, dốt ơi là dốt, nhưng nói đến mái ấm K1/CNN tự nhiên tôi muốn có chút tâm ý mong góp chút rộn ràng trong gia đình CNN của chúng ta vậy.

Học Viện sáu sáu bảy lăm,
Vừa tròn tuổi hạt chín năm tan hàng ,
Thầy trò lưu lạc bốn phương,
Mỗi người một nẽo khó lòng tìm nhau,
Biết bao gian khổ thương đau,
Luôn luôn mong mỏi có ngày đoàn viên,
K1 là khóa đầu tiên,
Cả Nam lẫn Nữ tính liền năm trăm,
Trải qua cuộc chiến thăng trầm ,
Năm trăm đứa đó nay đà bảy mươi,
Đứa thì ngồi đó đang cười ,
Trong nhà dưỡng lão không người viéng thăm,
Đứa còn kẹt lại Việt Nam,
Sống đời chật vật tay làm hàm nhai,
Kể sao cho hết chuyện dài ,
Chi bằng chấp nhận một vài khó khăn,
Bỏ qua ba cái lăn nhăn,
Về cùng K1 đang cần nguồn vui,
Bạn Vinh bạn Toán bạn Ngưu,
Lập Căn Nhà Nhỏ đón chào bạn ta,
Tính ra đã một năm qua,
Nhưng người tham dự thật là quá khiêm,
Mau mau bỏ hết nổi niềm,
Về nhà K1 để tìm gặp nhau,
Lòng ta mong lắm bạn ơi,
Vui vầy sum họp cuộc đời nở hoa./-

K1 Trần Quốc Nại (7/2012)

Rất hân hạnh chào đón bạn đem hoa thơm trồng vào vườn hoa CNN. Nhìn thấy hoa xinh thì anh chị em K1 sẽ thấy ấm lòng thêm. Chắc chắn sẽ còn có nhiều bạn bắt chước TQN. Đâu chỉ cần thơ hay mới được lên khuông. Những câu chuyện hằng ngày chúng ta ngồi uống caphê với nhau, nói ba điều bốn chuyện, chuyện tiếu lâm ( nhưng đừng tục lắm, vừa vừa cho vui), giữa anh chị em chúng ta thiếu gì chuyện. Thì đó chính là hoa thơm của CNN vậy. Lâu nay mấy chị còn e dè chưa trổ tài, nhưng tôi biết có nhiều chị viết cũng hay lắm…thì lần nầy hảy cho bọn mày râu chúng tôi  một chút ân huệ đi, mong thay.

Một lần nữa cám ơn bạn TQN và chúc bạn luôn luôn vui , khỏe và hạnh phúc.

Vinh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ K1 Trần Quốc Nại_ Tâm Tình K1

Đố Vui- Tìm bạn

Bạn Đứng Ở Đâu?

Bạn K1 Đinh văn Hạp vừa gởi cho CNN một tấm hình chụp năm 1966 gồm 27 SVSQ Biên Tập Viên K1 và nhờ post lên với câu đố nhờ các bạn tìm Đinh văn Hạp đứng ở đâu trong tấm hình nầy. Mong các bạn dỡ lại ký ức xem có mình hoặc bạn mình trong nầy không. Hình đã được ghi số từ 1 đến 27, các bạn cho biết số 1, 2 … là ai, để xem ai nói đúng ai nói sai nhé.

Nguyễn công Vinh đoán:
số 4 là Đinh văn Hạp (hai tay thường khuynh khuynh ra) 
số 13 là Nguyễn đức Xứng

số 14 là Nguyễn công Vinh

Bạn Đinh văn Hạp thì cho rằng:

K1/Hap —Hang dung giua—tinh tu ben trai “K1/Nguyen ngoc Kinh “Co tem”, hien o Houston TX.Thu ba la K1/Ma van Loi, truoc lam voi TV Bi o khoi DB. Hien o Tay Duc. K1/Hap dung hang giua tinh tu ben trai qua ..thu 4….! ok. Sir…1

Tôi đoán số 15 là Hạ sĩ Hạp.

      N/Loi

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đố Vui- Tìm bạn

Về Đặc San Phượng Hoàng 2013

   

TỔNG HỘI CẢNH SÁT QUỐC GIA VNCH

                                        (The Federation of South VietNam Police Associations)

                          BAN BIÊN TẬP  ĐẶC SAN PHƯỢNG HOÀNG
                   9565 Mc.FADDEN Ave WESTMINSTER CA 92683
                                                          – o0o –
                                                                                        Số : . 74. / TH.CSQG

            Nơi nhận :       – Các Hội và Liên Hội Cảnh Sát Quốc Gia
                                     – Các Đại Diện Tổng Hội.

            Đồng kính gởi :   Hội Đồng Cố Vấn – Hội Đồng Quản Trị

            Trích yếu :   V/v  thời hạn gởi bài vở, tin tức và hình ảnh sinh hoạt
                                   cho Đặc San Phượng Hoàng Xuân Quý Tỵ 2012.

       Theo thông lệ hàng năm, Đặc San Phựong Hoàng Xuân Quý Tỵ cũng sẽ được thực hiện và phát hành đến tất cả Chiến Hữu Cảnh Sát Quốc Gia ở phắp mọi nơi. Do đó, để giúp cho các Hội địa phương dễ dàng ấn định lịch trình tổ chức những buổi họp mặt Tất niên hoặc Tân niên Âm lịch, cũng như để tránh sự chậm trễ cho một vài đơn vị, xin các nơi nhận:
  1) Phổ biến rộng rãi đến tất cả các Chiến hữu để đóng góp bài vở cho Đặc San. Bài được viết dưới mọi đề tài và mọi thể loại: văn, thơ, nhạc, ký sự .v.v. . , nhưng tốt nhất là những đề tài viết về Lực Lượng và con người CSQG, từ trước, sau năm 1975…và cho đến hôm nay.
 2) Bài vở, tin tức và hình ảnh sinh hoạt, thành phần Ban Chấp Hành …mẫu quảng cáo v.v…có thể gởi trực tiếp cho Tổng Hội hoặc tập trung tại các Hội, Liên Hội địa phương để gởi tiếp sau.
3) Đặc biệt, theo ý kiến của một số Niên Trưởng và Chiến Hữu CSQG ở khắp nơi, Đặc San Phượng Hoàng năm nay sẽ hân hạnh tiếp tục đăng tải những bài viết về “công cuộc chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam trong hơn 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước, kể cả những thế hệ tiếp nối sau này, trước và sau 1975”để có thể vạch trần phần nào tôi ác của đảng Cộng sản Việt Nam, những kẻ bán nước buôn dân hiện nay cho ngoại bang phương Bắc.
    4) – a/ Thời hạn chót để gởi về Tổng Hội là ngày 25 tháng 11 năm 2012 (nhằm ngày 12 tháng 10 năm Nhâm Thìn)
        – b/ Khi gởi bài hoặc tài liệu về cho Tổng hội, xin các nơi cho biết số lượng báo cần được phân phối để tiện việc in ấn.
 5) Để dễ dàng cho Ban Biên Tập và tránh những sự sửa chữa ngoài ý muốn, xin quý Chiến Hữu nên gởi bài qua E.mail hoặc được đánh máy trong những USB hay CD (tuy nhiên những Chiến Hữu không có điều kiện đánh máy, Tổng Hội vẫn sẽ phải giúp như mọi năm). Có thể gởi bằng:
          a) Bưu điện: Tổng Hội CSQG: 9565 Mc Fadden Ave –         Westminster CA 92683
  b) E.mail :    – anquantran@socal.rr.com – nguutphan7592@yahoo.com
                          – toan_nhu91@yahoo.com

            Rất mong các đơn vị hết lòng hỗ trợ và hợp tác với Tổng Hội.
 Trân trọng.

 Westminster , ngày 20 tháng 7 năm 2012
TM. TỔNG HỘI CSQG/VNCH
TỔNG HỘI TRƯỞNG                                                                                                                                                                       PHAN TẤN NGƯU

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về Đặc San Phượng Hoàng 2013

Lá THư Tổng Hội

TỔNG HỘI CẢNH SÁT QUỐC GIA VNCH   

                                           Federation of South Vietnam Police Associations
                             9565 Mc FADDEN Ave  WESTMINSTER  CA  92683
                                        Tel : (714)775.0251  &  (714)839.9189
                    E.mail anquantran@socal.rr.com & nguutphan7592@yahoo.com
                                                         – o0o –
                                                                                   Số : . 75. /TH.CSQG

THƯ TỔNG HỘI

Thưa quý Niên Trưởng và Quý Chiến Hữu,

Đã 2 tháng kể từ sau Đại Hội Tổng Hội kỳ thứ 6 (26 tháng 5 năm 2012) qua đi, từ niềm vui là chúng ta đã tổ chức được một Đại Hội khá đầy đủ và đã qui tụ được một số đông các Niên Trưởng và Chiến Hữu ở các địa phương xa về dự trong cùng một thời điểm đặc biệt là bầu lại các chức vụ điều hành Tổng Hội cho nhiệm kỳ 2012- 2015, trong dịp kỷ niệm 40 năm Ngày Truyền Thống Cảnh Sát Quốc Gia VNCH (1-6-1972 & 1-6- 2012).

            Chi hơn 2 tuần sau đó, Tổng Hội nhận được thư gia nhập Tổng Hội của “Hội Thân Hữu Cựu CSQG/VNCH vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận”, mà trước đây, Tổng Hội đã có những sự tiếp xúc, trao đổi nhiều vấn đề cần thiết giữa đôi bên. Từ lâu nay, Hội này đối với Tổng Hội cũng như các Hội CSQG khác, chỉ là những người bạn song hành, vẫn hợp tác và trợ giúp nhau trong những nhu cầu cần thiết, chỉ chưa có cùng chung một mái nhà là Tổng Hội CSQG.

            Trong phạm vi nhỏ hẹp của một gia đình, chúng ta có một niềm hy vọng mới trong tương lai, có lẽ không chỉ riêng trong Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia mà thôi. Rồi đây, mọi người sẽ có được một tiếng nói chung, một đường hướng hợp nhất trong công cuộc đấu tranh vì Tự Do và Dân Chủ cho quê hương. Có như vậy, chẵng những tạo được sức mạnh tại hải ngoại, m à quan trọng nhất, là tạo được niềm tin cho toàn dân quốc nội để họ sẽ dám cùng đứng lên lật đỗ bạo quyền bán nước, bán dân.

            Từ lâu nay, khi có dịp đến với các Hội địa phương hoặc qua những thư từ liên lạc nhau, chúng tôi đều trình bày rõ về trách nhiệm của người Chiến Sĩ CSQG trong giai đoạn đấu tranh mất còn hiện nay, mà mục tiêu tối thượng là phải bảo vệ Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam trước họa ngoại xâm phương Bắc. Từ đó, chúng tôi chỉ kêu gọi thiện tâm thiện chí của mọi người, sẽ làm bất cứ những gì mà trong phạm vi khả năng có thể làm được. Song song đó, chúng ta đừng bao giờ quên rằng, tập thể cộng đồng người Việt tại hải ngoại vẫn là mục tiêu mà bọn cộng sản luôn nhắm tới. Chúng luôn tìm mọi cách để gây chia rẽ, nghi kỵ và phân hóa giữa các cá nhân, trong mọi tổ chức, mọi đơn vị, để từ đó chúng mới thao túng theo ý muốn, là sẽ nhuộm đỏ cộng đồng người Việt dưới mọi hình thức. Với những kinh nghiệm không ít của người Chiến Sĩ CSQG trong suốt cuộc chiến trước 1975, Tổng Hội cầu mong anh em chúng ta nên suy nghĩ kỹ trước những hiện tượng, những sự kiện đang xảy ra tại các địa phương, để chúng ta có những quyết định thích hợp nhất.

Thực trạng đất nước hiện nay, không cần viết hết ra đây, chúng tôi nghĩ quý Niên Trưởng và quý Chiến Hữu cũng đã rõ. Giặc ngoại xâm phương Bắc đang ngày càng bành trướng, ngang nhiên lấn chiếm quê hương như chỗ không người, trong khi bọn cầm quyền chỉ biết đàn áp, bóp nghẹt những tiếng nói bất khuất, những tiếng kêu gào vì Tự Do, Dân Chủ của bao Dân oan, bao Chiến sĩ Dân Chủ thấp cổ, bé miệng. Cuộc chiến này là cuộc chiến của toàn dân, không phân biệt trong hay ngoài nước. Tổng Hội cầu xin mọi người đừng thờ ơ, vô cảm!

            Với tinh thần hăng say, tích cực trong mọi hoạt động, Tổng Hội hy vọng chúng ta sẽ cùng góp phần nào đó công sức cho cuộc chiến mới. Được như vậy, là chúng ta đã góp công trả lại danh dự cho biết bao chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc trước và sau năm 1975.

            Trân trọng.

                                                                                                            Westminster ngày 20 tháng 7 năm 2012

                          TM. TỔNG HỘI CSQG
             CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
                         TRẦN QUAN AN

        

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lá THư Tổng Hội

Tin Tức về NT La văn Chung

Lâu nay anh em chúng ta nghe tin Niên Trưởng La văn Chung bị bệnh nặng nhưng không biết rỏ như thế nào, ngay đến Ban chấp hành Hội TT CSQG tiểu bang Washington muốn đi thăm nhưng cũng chưa tìm ra địa chỉ.

Dip may trong đêm văn nghệ tại chùa Cổ Lâm có sự đóng góp của Ban Ca Nhạc Dân Tộc  Seattle mà anh La văn Chung là một trong các thành viên sáng lập. Khi các ca nhạc sỹ ngồi vào vị trí , mình đưa mắt tìm thì thấy anh ngồi đó, tim mình hồi hộp như sắp gặp lại người tình xưa. Mình vác ống kính, len lỏi giửa đám đông đang chờ xem văn nghệ để đến gặp anh. Mình dẫn ông bạn tên Ký , Phó Hội Trưởng Hội TT CSQG WA đi với mình. Đến bên anh, mình chào ảnh và hỏi “Anh có khỏe không” Anh không biết mình nhưng nhận ra Ký. Mình hỏi hai ba câu nhưng anh trả lời không rỏ, hình như cái lưởi của ảnh cuốn lại đụng vào trên nóc họng, chỉ phát ra tiếng ú ớ. Nét mặt anh tỏ ra mừng rỡ lắm nhưng tội không nói ra lời vì sau khi bi cơn stroke cách nay mấy tháng. Thấy tội quá nên mình không hỏi gì thêm chỉ xin anh chụp vài tấm hình. Tuy vây, anh cũng lên sân khấu cùng với các nhạc sĩ khác  hòa tấu một bài cổ nhạc. Đây vài tấm hình mới nhất của NT La văn Chung

                                           NT La văn Chung và K1 NCV

                        NT La văn Chung và Chiến hữu CSQG Nguyễn Hữu Ký

Muốn liên hệ gọi điện thoại hỏi tham anh cũng rất khó , do đó phải qua một vài người bạn. Trước hết mình được một chị tên Thu trong ban văn nghệ Cổ nhạc cho hai số điện thoại của chỉ để liên lạc: (253) 874-3037 (H) hoặc (253) 226-7722 (cell).Hôm sau mình gọi cho chị Thu và được biết địa chỉ hiện nay của anh La văn Chung như sau:

La Văn Chung
8717 Apt.# 3 Holly Dr.
Everette, WA 98208

Đi I-5 North  vào Exit 186 ( dành riêng cho các bạn ở Seattle)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Tức về NT La văn Chung

K1 LHN_ Quà Sinh Nhật cho CNN_ My Enemy, My Friend

Bạn Vinh thân ,

Tui có một món quà sinh nhật cho CNN , một bài viết ngắn bất ngờ về buổi họp để giới-thiệu quyển sách My Enemy , My Friend của ông Tướng Không Quân Mỹ Dan Cherry .

  Hôm 17 tháng 07 vừa qua , ông Tướng Dan Cherry có dẫn ông phi-công Việt-Nam Nguyễn-Hùng-Mỹ ( hổng chắc tui bỏ dấu đúng tên Hùng-Mỹ ) đến hãng Goodrich , nơi tui làm , để giới thiệu và bán quyển sách nói trên . Tui nghĩ chắc là trước và sau Goodrich cặp đôi cựu phi-công Mỹ-Việt  nầy còn đến nhiều nơi khác để quảng-cáo bán sách . Lúc đầu tui quyết-định hổng tham dự buổi quảng-cáo sách nầy vì hổng muốn gặp VC làm gi . Nhưng giờ chót tui chợt nghĩ , tại sao mình hổng tham-dự để hỏi móc vài câu chơi . Thế là tui ghi tên vào giờ chót .

 Phái-đoàn nầy tới hãng vào lúc tui và các bạn VN đang ngồi ăn trưa . Khi họ đi xuyên qua phòng ăn để vào trong thì tụi nầy thấy có vài người Mỹ ( chắc có ông Tướng Mỹ trong đó ) , một người đàn ông VN nhỏ con vừa gầy vừa già , đầu bạc ( chắc là người phi-công VN Nguyễn-hùng-Mỹ ) , một người đàn bà VN ( chắc là thông-dịch ) và một người to con , vai u thịt bắp , mặc áo thun , đầu trọc lại đeo sợi dây chuyền to tổ bố , có vẻ ngổ-ngáo ( chắc là vệ-sĩ ) .  Các bạn biết hôn , tụi nầy chỉ đoán trúng có mỗi người đàn bà thông-dịch . Còn hai ông phi-công thì tụi nầy đoán trật-lất . Ông già ốm hổng phải là Nguyễn-hùng-Mỹ mà chính là ông Tướng Không Quân Mỹ Dan Cherry . Ông nầy nhỏ con và nét mặt lại giống người VN nên tụi nầy đoán lầm . Còn người to con , tưởng là vệ-sĩ lại chính là Nguyễn-hùng-Mỹ .

 Buổi họp được bắt đầu lúc 01 giờ . Phòng ăn lúc bấy giờ đã được dọn dẹp để sắp xếp lại thành phòng họp . Một cái màn hình to được thả xuống từ trần nhà để chiếu phim . Sau lời giới-thiệu của ông Giám-Đốc hãng là phần phát-biểu của hai người phi-công Mỹ và Việt . Ông Tướng Dan Cherry nói trước . Khi ông nói tới đâu thì có hình ảnh chiếu tới đó . Những hình ảnh nầy đã được chuẩn-bị rất công phu . Nhất là khi tả lại trận không chiến trên bầu trời Bắc-Việt thì họ dùng phim được làm theo kiểu Dog Fight . Trong đó diễn-tả tỉ-mĩ từng vị-trí của mỗi chiếc phi-cơ tham chiến . Phim cho thấy chiếc MIG-21 của Nguyễn-hùng-Mỹ đã lọt vào tầm ngắm của chiếc F-4 Phantom do Dan Cherry lái . Dan Cherry đã bắn lần lượt 4 phát hỏa-tiển nhưng chiếc MIG-21 đều lạng qua hướng khác né khỏi . Điều nầy đã khiến Dan Cherry vừa tức giận vừa phục tài của phi-công MIG-21 ( cũng vì vậy mà sau nầy Dan Cherry mới qua VN để xin gặp Nguyễn-hùng-Mỹ ) . Nhưng cuối cùng thì Dan Cherry cũng bắn trúng  và làm cháy chiếc MIG-21 khiến Nguyễn-hùng-Mỹ phải nhảy dù thoát hiểm . Ngoài ra , những hình ảnh khác cho thấy chuyến đi VN của Dan Cherry để tìm Nguyễn-hùng-Mỹ . Trong đó Dan Cherry ăn cơm tại nhà Nguyễn-hùng-Mỹ , ẳm cháu nội của Nguyễn-hùng-Mỹ , ngồi xe gắn máy do Hùng-Mỹ lái….Đại khái là những hình ảnh cho thấy hai cựu thù đã gặp lại nhau và trở thành bạn .

 Sau Dan Cherry là phần thuyết-trình của Nguyễn-hùng-Mỹ . Ông nầy hổng nói được English nên nói bằng tiếng Việt và cô thông dịch dịch lại . Nguyễn-hùng-Mỹ hổng tả lại trận không chiến với Dan Cherry mà tả lại một trận khác , trong đó y bắn cháy một chiếc F-4 của Mỹ . Nguyễn-hùng-Mỹ nói chuyện một hồi có vẻ cao-hứng nên đã nói một câu mà tui cho là nói hớ , không chuẩn-bị trước . Đó là hắn dịch last name của ông Cherry sang tiếng Việt . Hắn bảo chữ Cherry bên tiếng Việt có nghĩa là Anh-Đào đồng thời cũng có nghĩa là Dê-Cụ . Điều nầy khiến cô thông-dịch lúng-túng hổng dám dịch qua tiếng Mỹ . Cô ta phải cầu cứu hỏi cử-tọa xem có ai là người VN nhờ dịch dùm chữ Dê Cụ qua tiếng Mỹ . Tui và một vài người đưa tay lên . Nhưng cuối cùng thì cô ta hổng dám nhờ ai mà phải dịch né rằng đó là một cái nick name của người Việt . Ông Tướng Mỹ cũng gục gật rằng ồ ai cũng có cái nick name . Tui nghĩ sau lần nầy , cô thông-dịch thế nào cũng nhắc-nhở Nguyễn-hùng-Mỹ .

 Sau phần thuyết-trình là phần hỏi đáp . Tui chỉ chờ có thế . Vì đã chuẩn-bị sẳn rồi nên khi ông Tướng Dan Cherry vừa hỏi ai có câu hỏi là tui đưa tay lên liền . Vì chưa ai kịp đưa tay nên ổng chỉ tui . Tui ra khỏi chỗ ngồi và bước lên phía trước chỗ cái bụt thuyết-trình . Sau khi chào ông Tướng và cử-tọa , tui hơi mất bình-tĩnh nên đứng lặng trong mấy giây hổng nhớ mình cần nói cái gì . Sau đó là tui vào ngay phần câu hỏi mà quên đi phần nhập-đề . Tui đã dự-định sẽ nói vài câu cám ơn ông Tướng Dan Cherry vì đã từng chiến-đấu cho nước VNCH của tui mấy chục năm trước rồi mới vô câu hỏi . Nhưng khi lấy lại bình-tĩnh thì tui đã quên nói lời nhập-đề cám ơn nầy mà vô thẳng câu hỏi . Các bạn biết tui nói gì hôn ? Tui nói là :

– Today I have two questions . One for Mr General Dan Cherry and one for Mr Nguyen-hung-My .

Ông Tướng bảo :
– Yes ! Go ahead !
Tui hổng chắc mình nói tiếng Mỹ trúng hôn , nhưng cũng phan đại là :
– My question for you is how can you make sure that Mr Hung-My is exactly the one that you chased and shot many years ago in North Vietnam .

Ý tui muốn hỏi là làm sao ổng biết chắc ông Hùng-Mỹ đúng là cái người mà ổng đã đuổi bắn nhiều năm trước ở Bắc VN . Ổng khen good question rồi trả lời . Khi ổng trả lời , nói thiệt tui nghe hổng nổi hết , nhưng cũng hiểu đại-khái là ông tin người đó đúng là ông Hùng-Mỹ , qua những hình ảnh , nói chuyện và vết thương trên cánh tay của ông Hùng-Mỹ . Dĩ-nhiên là câu trả lời này hổng thuyết-phục . Vì VC có thể chọn ra một người với những hình ảnh đầy đủ để đưa ra cho ông Tướng Mỹ . Nhưng mục-đích câu hỏi của tui hổng phải nhằm cho ổng trả lời , mà chỉ nhằm muốn nói rằng Nguyễn-hùng-Mỹ chắc gì là người xưa của ổng thôi .

 Trong khi tui vừa đặt xong câu hỏi cho ông Tướng Dan Cherry , thì cô thông-dịch đã kề tai nói nhỏ với Nguyễn-hùng-Mỹ , chắc là để dịch lại câu hỏi , thì lập tức Nguyễn-hùng-Mỹ đứng lên đi ra ngoài . Cô thông-dịch đưa Nguyễn-hùng-Mỹ ra ngoài rồi mới trở lại chỗ ngồi . Hắn hổng nghe ông Tướng trả lời và cũng hổng chờ câu hỏi cho hắn .

 Sau khi trả lời câu hỏi xong , ông Tướng Dan Cherry nói với tui là Hùng-Mỹ bị bệnh nên đã ra ngoài và hỏi rằng ông ta có thể trả lời thế cho ông Nguyễn-hùng-Mỹ được hôn . Tui lắc đầu và nói chắc là không , nhưng tui cũng muốn thử , tui sẽ hỏi bằng tiếng Việt và cô thông-dịch sẽ dịch cho ông . Ông Tướng gật đầu . Tui mới nói bằng tiếng Việt :

– Tổng-Thống Nga Plutin nói rằng ai tin vào chù-nghĩa cộng-sản là người hổng có cái đầu và ai làm theo chủ-nghĩa cộng-sản là người hổng có trái tim . Còn ông Tổng-Bí Thư Đảng Cộng-Sản Nam-Tư Milovan Djilas thì nói rằng lúc 20 tuổi mà ai hổng theo cộng-sản là hổng có trái tim , và đến 40 tuổi mà hổng từ bỏ cộng-sản là hổng có cái đầu . Câu hỏi của tui là ông Nguyễn-hùng-Mỹ và những người trong Trung-Ương Đảng CSVN liệu có cái đầu hôn khi mà họ cứ khư-khư ôm lấy chủ-nghĩa cộng-sản .

 Cô thông-dịch tái mặt , dịch lại nho nhỏ cho ông Tướng Mỹ nghe . Thấy vậy tui phản-đối và yêu cầu nói lớn lên cho mọi người đều nghe . Ông Tướng Mỹ hỏi tui câu hỏi nầy có cần nói puplic hay chỉ cần nói riêng với ông Hùng-Mỹ . Tui trả lời là nói lớn cho mọi người nghe . Cô thông-dịch buộc lòng phải dịch lớn cho mọi người . Sau đó thì ông Tướng Dan Cherry nói mấy câu , thú thiệt tui nghe hổng hết , nhưng đại-khái là kẻ thù đã xa xưa rồi . Rồi ổng nói sẽ chuyển lại câu hỏi cho ông Nguyễn-hùng-Mỹ . Tui cám ơn và về chỗ ngồi . Buổi họp được tiếp-tục với những câu hỏi của những người khác , toàn là người Mỹ . Tui cũng hổng biết họ hỏi cái gì và câu trả lời là gì . Cuối cùng là phần bán sách . Lúc đó tui hổng có mua . Qua ngày sau nghĩ lại tui thấy đáng lẻ mình nên mua một cuốn .

LHN

 Người Mỹ  sao họ dễ tin và dễ coi kẻ thù xưa là bạn một cách dễ dàng ? Trái lại người Việt mình thì mối thâm thù với Cộng Sản sao khó quên quá chớ đừng có bảo là trở thành bạn của nhau ?
Nghiệp K1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 LHN_ Quà Sinh Nhật cho CNN_ My Enemy, My Friend

Trưởng K1_ Thơ Mừng Sinh Nhật CNN

Mừng Căn Nhà Nhỏ hôm nay,
Đã tròn một tuổi đến ngày thôi nôi.
Bạn bè Khóa 1 tôi ơi,
Vào đây hội ngộ nói lời yêu thương.
Những ngày lưu lạc tha hương,
Cùng nhau ôn lại chặng đường đã qua.
Buồn vui Học Viện chan hòa,
Biết bao kỷ niệm thật là khó quên.
Nhờ Căn Nhà Nhỏ thân quen,
Tưởng như ngày cũ tình thân thuở nào.

 N.Đ.T.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trưởng K1_ Thơ Mừng Sinh Nhật CNN

Lời Mời Dễ Thương của K1 Lê Quang Phú

Lời Mời Dễ Thương

Đây là Lê Quang Phú , tự là Gà Tre , gửi lời thăm đến hai bạn và chúc gia đình hai bạn cùng tòan thể tất cả các bạn khóa 1 được vui , khỏe và hạnh phúc  . Ước mong một ngày các bạn khóa 1 qua Houston để chúng tôi khóa 1 bên này được đón tiếp các bạn . Mong lắm thay .

 Le Quang Phu .

Đáp lại mời trên của bạn Lê quang Phú là tin nhắn của K1 Nguyễn năng Thỏa. Vậy các bạn K1 ở Houston chuẩn bị tiếp đón nhé.
CNN

 K1 Nguyen nang Thoa  se ghe Houston  tuan le cuoi thang 10/2012 .Hy vong gap day du cac ban o Houston nhan dip nay.

Than Chuc SUC KHOE & BINH AN.

Thoa

202 281 8649

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lời Mời Dễ Thương của K1 Lê Quang Phú

K1 Nguyễn Hữu Nhật nằm Bệnh Viện

Thăm viếng K1 Nguyễn Hữu Nhật
by Ne Du

Chiều thứ ba, 17/7/2012. Dưới sự hướng dẫn của Tân HT Lê văn Thụy, một số a/e trong BCH Hội AH.LL.CSQG Bắc Cali đã đến Regional Medical Center San Jose để thăm K1 Nguyễn Hữu Nhật. Anh vừa nhập viện hôm qua sau khi 2 chân đau không đi được và một số nơi trên mặt mất cảm giác. Hôm nay chị Nhật cho biết đã bớt mặc dầu còn khó khăn khi ăn. Trong niềm tin vào Ơn Trên xin chúng ta cầu nguyện cho anh sớm bình phục.

Nê Du

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

– Toán và các bạn K1 ở Nam California gởi lời thăm và chúc K1 Ng.~ Hữu Nhật mau hồi phục. Đề nghị 2 bạn Hạp + Nghiệp đại diện các K1 đến thăm và mua tặng K1 Nhật một thùng sữa Ensure cho bạn ta bồi dưỡng. Nếu cần quỹ K1 ở Nam cali tiếp viện Bắc Cali thì xin cho biết để sẽ gởi lên.

Toán 

– Xin cac k1/Bac CA. Thu xep thoi gio tham k1/ Nhut. fONG 2014 REGIONAL Hospital—TREN DUONG jACKSON.

K1 Đinh văn Hạp

– Nê ơi, vì không biết email của anh Nguyễn Hữu Nhật. Vậy nhờ Nê
chuyển lời thăm hỏi đến anh Nhật và gia đình, cùng lời cầu chúc anh sớm bình phục để cùng sinh hoạt với anh em chiến hữu CSQG chúng ta mà anh đã thể hiện tích cực trong thời gian qua.

K3 Đỗ Như Thạch, VA.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Nguyễn Hữu Nhật nằm Bệnh Viện

Bác đến nhà chơi_ K1.Nguyễn chính Minh

BÁC  ĐẾN  CHƠI  NHÀ

 “Đã bấy lâu nay bác đến nhà
Trẻ thời đi vắng chợ thời xa “
Nguyễn Khuyến

Thứ bảy 7-14-2012, Lê hữu Nghĩa một mình lái xe 6 tiếng đến chỗ tôi lúc chiều tối. Tay bắt mặt mừng. Nghĩa gầy, trán hói , râu tóc bạc trắng. Mừng thì rất mừng mà cũng không tránh khỏi ngậm ngùi.

Buổi tối, Nghĩa nước lạnh, tôi bia Corona ngồi kể chuyện xưa. Lần trước tôi gặp Nghĩa là năm 1985, tại ngã tư Phú Nhuận, khi Nghĩa đang trên đường đạp xe từ Quận 7 về Bình Dương. Đến khuya, câu chuyện chưa muốn chấm dứt nhưng Nghĩa đã mệt mỏi nên đành phải đi nghỉ.

Sáng sớm Chủ nhật, tôi chưa rửa mặt bước xuống phòng khách đã thấy Nghĩa ở đó. Nghĩa bảo dậy sớm quen rồi. Bèn bày bộ đồ trà ra khề khà. Nghĩa lấy camera ra thu hình tôi. Tôi không coi lại cái video đó xem mình ra sao. Đến hôm sau Nghĩa về đến nhà, post lên cho cả Khóa 1 coi, tôi mới thấy mình xấu xí. Thế mà nhiều bạn trông thấy lại mừng.

Chiều Chủ nhật, tôi và Nghĩa lái xe tới nhà Trần ngọc Thạch, cách chừng 45 phút. Nếu không có Nghĩa xuống chơi, tôi không hề biết có một Khóa 1 ở đây và nếu tôi có gập Thạch ở đâu đó thì cũng không biết là bạn K1 mình. Gặp Thạch, thoạt nhìn thấy lạ nhưng đồng thời có cảm giác thân quen. Xưa Thạch ở Hải Cảng, Nghĩa ở Quận 4 gập nhau luôn nên bây giờ vẫn tao mày rào rào. Chị Thạch còn nói : ” Bữa nào tui lên ông Nghĩa quậy một bữa.

Cháu ngoại của Thạch, bé Tâm An 9 tuổi rất xinh xắn dễ thương, đai đen Thái Cực Đạo có hơn chục cái huy chương vô địch. Cô bé giỏi võ thế mà đôi bàn tay mềm mại như bay trên phím đàn. Triệu Minh trong Cô Gái Đồ Long liệu có được như thế không ?

Nghĩa muốn mời 2 cặp vợ chồng Thạch và vợ chồng tôi đi ăn tiệm. Tôi nhất định phản đối, đòi tất cả về nhà tôi để được biểu diễn món Dê xào lăn. Dọn ra, mọi người khen tíu tít. Chẳng biết có ngon thật không, nhưng tôi thấy hài lòng vì chính tay đã làm tất cả : xắt thịt, cắt hành, giã sả, xào nấu.

Đầu tháng 6-2012, Nghĩa đã hát bài Ta Có Còn Yêu tại buổi họp mặt CSQG Minnesota. Thực ra, Nghĩa đã đặt lại lời ca bài Koibi Toyo ( Hận tình trong mưa) và muốn hát chung với Ta Có Còn Yêu thành Liên khúc. Nhưng  không có ai hát chung nên hôm ấy Nghĩa hát một mình. Vì thế tôi đã chuẩn bị in sẵn bài Liên khúc này và cùng hát Karaoke với Nghĩa. Nghĩa và tôi còn hát thêm bài Cho Người Tình Lỡ. Nghĩa dùng hai bài này làm nền cho video tung hình tôi lên mạng.

Sáng thứ hai, chuẩn bị ra về. Có 3 cây mai nhỏ do chị Thạch ươm trồng, cho Nghĩa chiều qua. Nghĩa đòi để lại cho tôi cây lớn nhất. Tôi không chịu, đòi Nghĩa phải mang đi cây lớn nhất. Nhưng cuối cùng tôi phải chịu thua. Hai “ thằng” lúi húi loay hoay bứng cây mai ra một đồ đựng nhỏ, ém đất cho đầy, bưng ra xe. Xong, Nghĩa cười, nói : “Thôi, bye. Hẹn gập lần tới ở Đại Hội 50 năm Học Viện.”

“50 năm”. Tôi thấy mơ hồ quá, biết có hay không. Tôi lặng lẽ bắt tay Nghĩa, lòng bùi ngùi.

NCM
tháng 7-2012

  

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bác đến nhà chơi_ K1.Nguyễn chính Minh

Đây K1. Nguyễn chính Minh.

 Mời các bạn Khóa I ngắm nghía dung nhan mới nhất của Nguyễn-chính-Minh , Trần-ngọc-Thạch và Lê-hữu-Nghĩa 

-Rất vui mừng được nhìn thấy dung nhan bạn hiền một thời vang bóng, một thời tài hoa Nguyễn Chính Minh. Hôm nay tuy đã gần bảy bó mà trông vẫn còn đẹp trai lắm và cũng rất vui khi được nhìn hình của Bà Chị Minh, tuy chưa được hân hạnh gặp mặt nhưng qua hình ảnh thì thấy Bà Chị  tướng rất sang, trí thức, mặt sáng như trăng rằm, tốt tướng lắm.Rất mừng cho bạn Minh. Kính gởi lời thăm và chúc hai Ông Bà mạnh khỏe hạnh phúc vui vẻ tuổi già.

-Kính lời hỏi thăm và cám ơn hai bạn Nghĩa và Thạch. 

Chúc tất cả vui tươi mạnh khoẻ

Nghiệp K1

 Thăm các ban K1 & Gia Quyến, kính chúc sức khỏe và hạnh phúc.

SVSQ Nguyễn năng Thỏa ,danh số 21 ,Tiểu Đội 1,Trung Đội 1, Đại Đội 101 trình diện  Viện Trưởng,Viện Phó, Qúi vi Giảng Viên, các Cán bộ và toàn thể SVSQ/HVCSQG/VNCH & Đại Gia Đình CSQG.

Rất mừng được tái ngộ ông hàng xóm  K1 Nguyễn Chính Minh ,sau 37 năm  xa cách không tin tức. Rất mong các bạn khác như K1 Trần Đình Sum, K1 Nguyễn Thanh Lâm, K1 Nguyện Minh Đường……. lâu lâu cũng cho anh em chiêm ngưởng dung nhan Mùa Đông ??? kẻo lo có dịp bất thường gặp nhau khỏi bỡ ngỡ ???

Cám ơn và nhớ các bạn nhiều.

Tạ ơn Chúa Kito
Đội ơn Đức Trinh Nữ Maria
Cám ơn Qúi Huynh Đệ Tỉ Muội
Xin cho nhau NỤ CƯỜI
Cầu chúc nhau SỨC KHỎE
Xin chúc nhau HẠNH PHÚC ,

 Phero  Thỏa
202 281 8649

Hi Thỏa,

 Sao lâu nay im hơi lặng tiếng thế. Có khỏe không?

Thăm Thỏa – Ngọc.

Thân

Ngưu- Ánh

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Đây K1. Nguyễn chính Minh.

Viên Ngọc Nát _ Hồi Ký Vương Mộng Long -K20


“Người yêu nước có thể bị giết.
Nhưng tinh thần ái quốc của một dân tộc thì bất diệt.”

                                                           (Vương Mộng Long)

Giữa năm 1978, toán bốn người cựu sĩ quan của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, tù cải tạo ở Trại 4, Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái, vượt ngục lần thứ nhì, nhưng bị thất bại. Đại Úy Lê Bá Tường chết trong rừng. Còn lại Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ, Đại Úy Trần Văn Cả và tôi (Thiếu Tá Vương Mộng Long) bị bắt đưa về tạm giam ở Đoàn 776 Yên-Bái.

Ngày đầu, một vệ binh còn rất trẻ tên Lời đã thẳng tay nện một báng súng A.K vào mặt tôi, một cái răng gãy. Tên vệ binh Cộng-Sản trẻ tuổi này đã nặng tay với tôi, vì hắn vừa tìm thấy trong ba-lô của tôi một bài thơ “phản động”. Chưa hả giận, hôm sau y trở lại. Tôi bị quật thêm một báng súng vào ngực, gãy một cái xương sườn.
Qua ngày thứ tư thì chúng tôi bị đưa xuống phà để về Trại 9 bên hồ Thác Bà, Xã Cẩm-Nhân, Yên-Bái. Hai bạn đồng hành của tôi, Thiếu Tá Trụ và Đại Úy Cả bị nhốt trên nhà kho của trại. Tôi không rõ họ bị đối xử ra sao. Còn tôi là người cầm đầu cuộc vượt ngục này, nên bị tách riêng, giam trong nhà kỷ luật, sát với hàng rào khu cưa xẻ thợ mộc. Tôi bị cùm cả hai chân, còng cả hai tay.
Khi ấy đang mùa hè, trong hầm nóng nực, muỗi như trấu, bất kể đêm, ngày. Da mặt, da cổ, da tay chân của tôi trở nên sần sùi vì muỗi đốt.
Tôi được phát hai cái ống nứa lồ ô dựng gần chân nằm. Một ống nứa để đại tiểu tiện, một để chứa nước uống. Tay bị còng, chân bị cùm, vấn đề đi đại, tiểu tiện quả là một cực hình. Nhưng vì bụng đói liên miên, nên vấn đề đại tiện cũng khó xảy ra thường xuyên.
Cũng do biên bản bàn giao lại từ Đoàn 776, nên từ hôm về Trại 9, ngày nào tôi cũng trải qua một trận đòn hội chợ, kéo dài trên, dưới hai tiếng đồng hồ. Tôi bị bắt đứng giữa phòng trực trại, bốn góc phòng là bốn vệ binh. Tôi bị đánh chuyền tay từ góc này sang góc khác, xoay tròn quanh phòng. Má bên trái vừa lãnh một cú đấm chưa kịp cảm thấy đau thì má bên phải đã lãnh cú đấm tiếp theo. Những đợt máu mũi phọt ra ồng ộc tràn trên má và trên ngực tôi chỉ làm cho những tên vệ binh trẻ tuổi hăng tiết thêm. Trọng lượng thân tôi thời này còn chừng trên ba mươi ký lô là cùng. Những cú đấm móc tận lực làm cho tôi có cảm tưởng như là đang “bay” từ góc nhà này, sang góc nhà khác. Sau mỗi tiếng “hự!” máu tôi lại trào ra như xối. Không biết máu từ mồm tôi hay từ phổi tôi phun qua hai lỗ mũi thành vòi? Mặt tôi bầm tím sưng vù, đôi mắt híp lại, nhìn một vật hóa hai. Sau khi bị hàng chục cú đá cật lực vào bụng dưới, cứt đái trong bụng tôi cứ tự do tuôn ra quần. Tôi cố nín, cũng không nín được.
Lãnh những trận đòn thù như thế này, tôi mới thấm ý câu hăm he của tên sĩ quan an-ninh Trại 9, “chúng ông sẽ đánh cho mày té đái, vãi phân”.
Nhiều lần tôi bị đánh mửa mật xanh, mật vàng mà vẫn chưa được tha; đến lúc tôi mềm như sợi bún, vệ binh mới kéo tôi ra vứt ngoài cửa phòng trực. Có hôm cả giờ sau trực trại mới cho người kè tôi về nhà giam.
Chắc nhiều bạn tù thấy cảnh tôi nằm rũ như cái xác không hồn nơi góc sân phơi sắn khô, nên một người được tha về Ban-Mê-Thuột đã đến nhà ông bà nhạc của tôi kể lại rằng tôi trốn trại và bị vệ binh đánh chết rồi!
Khi nhận tin này, ông anh vợ của tôi lo quá, vội đề nghị với bà mẹ vợ tôi, “Đừng nói cho con Loan hay tin chồng nó chết. Nghe tin này nó không sống nổi đâu! Nó mà chết thì đàn con nó sẽ bơ vơ…”
Những ngày không bị dẫn lên “khung” để lãnh đòn, tôi nằm chờ thời gian trôi qua.
Một tia nắng xuyên khe mái nứa, in một đốm sáng trên nền nhà. Nhìn vị trí đốm nắng di chuyển, tôi biết giờ giấc. Chấm nắng bắt đầu xuất hiện trên vách nhà hướng Tây vào lúc kẻng giải lao thứ nhứt của trại (khoảng chín giờ sáng) rồi từ từ di chuyển dần về hướng đông. Khi tiếng kẻng báo giờ điểm danh chiều (khoảng năm giờ chiều) thì chấm nắng tới giữa vách hướng Đông, thế là hết một ngày!
Hàng ngày, tù nhân của nhà bếp đem cho tôi một bát sắn khô nấu nhão nhoét. Anh ta phải để bát sắn nơi cửa buồng giam; tiếp xúc với người đang bị cùm là điều cấm kỵ!
Khi người tù đưa cơm rời bước, đàn gà của trại vội tranh giành nhau những mẩu sắn trong tô. Tới giữa trưa, tên bộ đội trực trại mới đến mở cửa hầm giam cho tôi ăn bữa cơm tù độc nhất trong ngày. Nhiều khi, tô sắn tới tay, tôi chỉ thấy một mớ bầy hầy đất cát và vài cọng sắn khô cỡ ngón tay. Tôi đói tới run chân, run tay, đói ngủ không được.
Hình như không có “chế độ” ẩm thực nào áp dụng cho những trường hợp tù cải tạo vượt trại. Có hôm tôi được một củ sắn lớn cỡ cườm tay, dài một gang. Cũng có ngày tôi được hai củ khoai lang luộc nặng chừng nửa ký. Thường xuyên, thực đơn cho tù trốn trại là một tô cháo sắn phơi khô rắc muối.
Từ lâu lắm rồi, không nghe ai nhắc tới hai chữ “nhân quyền”. Trong thời gian tôi bị cùm ở trại này thì, cứ cách hai hay ba tiếng đồng hồ, một tên bộ đội đi tuần tra lại ghé kiểm soát tình trạng khóa, chốt, còng, cùm một lần. Trong bóng tối, để chắc chắn rằng tôi còn sống, anh ta thường “tiện tay” khện cho tôi một cái bạt tai hay một báng súng để nghe tôi la lên oai oái vì đau.
Đêm nào nghe thấy tiếng chân nhiều người đi tuần, lòng tôi lại phập phồng,… biết đâu?… rất có thể, người ta sẽ ập vào, hè nhau đè tôi xuống, bịt miệng, khóa tay tôi, tròng một sợi dây thòng lọng vào cổ tôi, rồi lôi thân tôi lên xà nhà, như cách đây hai năm họ đã làm, để giết một anh tù vượt ngục bên Trại 4. Những cái chết như thế sẽ được thông báo là “tù tự tử”, thật đơn giản.
Một ngày, khi vệt nắng vừa chấm chân vách tường hướng Tây, từ bên sân của đội cưa xẻ, sát hàng rào có tiếng người nhắn sang, tôi nhận được đó là tiếng thằng bạn thân Vũ Văn Bằng,
” Long ơi! Thợ mộc được lệnh đóng ba cái áo quan. Chắc tụi mày sẽ bị xử bắn. Trưa mai tao sẽ đem cơm cho mày. Mày có nhắn gì cho gia đình thì nói với tao, tao sẽ thư cho gia đình tao, rồi chuyển cho gia đình mày. Tao cứ tưởng tụi mày đã đi thoát, không ngờ…” Rồi nó nấc lên, nghẹn ngào…
Thằng Bằng cũng là dân Bắc-Kỳ Di Cư như tôi. Chúng tôi thân thiết sáu năm cùng lớp Trung Học Trần Quí Cáp. Sau khi tốt nghiệp Tú Tài 1, nó tình nguyện đi Khóa 63 A Sĩ-Quan Không-Quân.
Thiếu Tá Vũ Văn Bằng là Trưởng Phòng Quân-Báo Sư Đoàn 6 Không-Quân. Mỗi lần từ tiền đồn về thăm Pleiku, tôi thường gặp nó.
Nằm trong cùm, nghe tiếng khóc của người bạn đồng môn, lòng tôi chạnh nhớ ngôi trường đã đào tạo tôi thành người.
Tiếng thày hiệu trưởng Tăng Dục, ngày đầu Đệ Thất, còn đâu đây,
“Trường chúng ta được hân hạnh mang tên Trần Quí Cáp. Cụ Trần là một vị anh hùng ái quốc. Thầy mong muốn các em chăm chỉ học hành, để sau này thành đạt, ra giúp nước, làm rạng danh cho trường.
Hôm ấy có một vị khách, vốn là một giáo viên, bạn của thày hiệu trưởng, tới thăm và nói chuyện. Vị khách này là thân sinh ra anh Phạm Phú Nhàn, người ngồi bên cạnh tôi.
Ông khách mở đầu bài diễn văn bằng một câu mà tôi nhớ cả đời,
“Tụi mi nhớ đây! Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành. Nếu tụi mi không chăm chỉ học hành thì suốt đời tụi mi chỉ là những cục cứt xái mà thôi!”
Sau đó ông già dài dòng kể về lý lịch và cuộc đời người anh hùng ái quốc Trần Quí Cáp, qua đấy, chúng tôi biết cụ Trần vì yêu quê hương, yêu đồng bào, nên đã bị cầm tù, bị đưa lên đoạn đầu đài.
Tôi lớn lên, tự hào và hãnh diện là một đứa con của cụ Trần. Tôi cứ nhớ mãi hai danh từ “viên ngọc nát”‘ và “cục cứt xái” mà ông bố anh bạn học của tôi đã đem ra ví von trong câu truyện khuyên nhủ tụi nhỏ. Tháng Năm năm 1908 cụ Trần Quí Cáp đã bị đưa ra pháp trường, xử trảm ngang lưng. Ngày đó khóc bạn, cụ Phan Bội Châu đã viết,
“Ngọc toái bất ngõa toàn, tam tự ngục hàn, sơn hải khấp Hồng khinh nhi thái trọng, thiên thu luận định, nhật tinh huyền.” (Phan Bội Châu)
Dịch:
Ngọc nát vẫn hơn ngói lành, nhà tù ba chữ, núi biển khóc Thái Sơn nặng, lông hồng nhẹ, bàn luận nghìn năm, còn thấy sao trời sáng.
Bảy chục năm sau, tháng Năm năm 1978, một người vì yêu đất nước, yêu đồng bào cũng đang nằm chờ giờ ra pháp trường.
Hai người, tôi và cụ Trần Quí Cáp, tuy sinh ra không cùng thế kỷ, nhưng đã phạm cùng một tội: “Tội mất nước” (Phan Bội Châu) 
Thế mới biết, những người yêu nước có thể bị giết, nhưng tinh thần ái quốc của một dân tộc thì bất diệt. Trưa nay nghe tiếng khóc của thằng bạn, tôi thở dài, “Thôi thế cũng là xong! Cứ coi như một lần ra trận…” Mười hai năm lửa đạn, vào sinh ra tử, tôi đã không ngừng cố gắng để hoàn thành phần nào ước vọng của thày tôi ngày đầu Đệ Thất. Là đệ tử của cụ Trần Quí Cáp, tôi đã noi gương cụ, cống hiến trọn đời tôi cho tổ quốc.
Tiếc thay, đất nước tôi đã tới thời mạt vận, nên tôi đành chấp nhận những tai ương giáng xuống số phận mình.
Đêm hôm đó tôi thức trắng. Tôi nằm im, nhắm đôi mắt lại, mường tượng ra trong trí, từng khuôn mặt của những người thân. Trước hình ảnh mỗi người, tôi lẩm nhẩm nhắn nhủ lời vĩnh biệt. Lần lượt, tôi chia tay với mẹ tôi, rồi tới vợ tôi, cùng ba đứa con gái. Đến lúc phải tưởng tượng ra khuôn mặt thằng con út thì óc tôi quay mòng mòng. Tôi không làm sao vẽ ra trong trí khuôn mặt của thằng con. Nó sinh ra ba tháng sau ngày Miền Nam sụp đổ, lúc đó tôi đã ở trong tù rồi.
Trưa hôm sau thằng Bằng năn nỉ anh bạn tù trưởng bếp để nó thay anh ta đem phần ăn một ngày sắn khô cho tôi. Nó đứng ngoài cửa buồng giam, miệng cười hô hố,
– Long ơi! Chiều hôm qua, sau khi đóng xong ba cái áo quan, về lán tao không ngủ được. Tao buồn, tao thương mày, tao khóc suốt đêm. Sáng nay tao mới biết, Trại 7 có năm thằng chết đuối vì bị chìm mảng khi đi chặt nứa. Nhưng Trại 7 chỉ có hai cái áo quan, nên tụi tao phải đóng thêm ba cái nữa. Thế mà tao cứ ngỡ là áo quan để dành cho ba đứa tụi mày… Thằng Bằng chưa dứt lời đã có tiếng vệ binh quát tháo,
– Anh kia! Đem cơm cho “phạm” xong là phải đi ngay. Lớ ngớ ở đây tôi cho một báng súng bây giờ. Lúc đó vệt nắng nằm ngay giữa nền nhà, đúng Ngọ! Anh bạn Thiếu Tá Vũ Văn Bằng vừa báo cho tôi một tin vui. Như vậy là, ít nhứt tôi cũng còn sống thêm một, vài ngày nữa!
Nhưng vừa cảm thấy vui đó, lòng tôi lại chùng xuống ngay. Bởi vì, suy nghĩ lại, thì đó cũng là một tin rất buồn, vì tôi vừa mất năm đồng đội. Mai đây, ở một nơi xa xôi nào đó, trong Nam, sẽ có năm gia đình đau khổ vô cùng khi được báo tin này.
Chuyện ra pháp trường của tôi đã không xảy ra. Hôm sau chúng tôi bị chuyển trại. Ba người bị trói quặt hai tay ra đàng sau. Thêm vào đó là một sợi thừng được buộc vào cánh tay phải của tôi, luồn qua lưng anh Trụ, tới cánh tay trái của anh Cả. Đi hướng nào, chúng tôi cũng bị dính chùm.
Hai khẩu A.K kèm chúng tôi rời Trại 9 vào giờ tù tập họp đi lao động. Những khuôn mặt hốc hác vì đói khát của đồng đội đang hướng về phía chúng tôi. Có đôi bàn tay gầy guộc đưa lên má vội vàng quệt nước mắt.
Chúng tôi bị dẫn đi một vòng quanh chợ Cẩm-Nhân để cho dân địa phương coi mặt. Cũng may, lần này dân chúng chỉ đứng nhìn theo ba người tù bị trói một cách tò mò, không có ai chạy theo ném đá hay đả đảo, sỉ nhục chúng tôi như thời 1976.
Năm 1976, sau khi bị bắt vì tội vượt ngục lần đầu từ Trại 3, tôi và Thiếu Tá Đặng Quốc Trụ đã bị trói ngoặt cánh khuỷu, rồi bị dẫn riệu qua đây để dân địa phương bày tỏ lòng căm thù “Ngụy Quân ác ôn”. Chúng tôi bị ném đá sưng đầu, sưng cổ.
Cùng thời gian đó, toán bị bắt bên kia sông Hồng, về qua đây cũng bị dân đánh đập tơi bời, Thiếu Tá Hồ Văn Hòa gãy xương sườn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm sưng vù hai má, Thiếu Tá Trần Tấn Hòa dập mũi.
Riêng toán đi từ Trại 4 là bị “chiếu cố” kỹ càng nhứt: Đại Úy Nguyễn Tấn Á bị đánh bằng đòn gánh, xệ vai trái, Thiếu Tá Chu Trí Lệ bị quật lọi cẳng chân, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đông bị đấm lòi mắt. Không những thế, ba anh này còn bị nhốt trong chuồng trâu, bị dân quân nắm tóc, dúi mặt vào hố phân trâu bò nhiều đợt, xém chết ngạt.
Trong hai năm bị giam giữ ở đây, chúng tôi có nhiều dịp đi lao động “vần công” với các hợp tác xã nông nghiệp của dân địa phương. Qua những lần tiếp xúc ấy, người dân có lẽ đã nhận ra rằng, những sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa không phải là những kẻ “ác ôn” như họ từng nghe chế độ Bắc-Việt tuyên truyền. Dần dà, dân chúng nơi này đã nhìn chúng tôi với đôi mắt khác xưa. Càng ngày, dân trong vùng càng tỏ ra thân thiện với chúng tôi hơn.
Rời chợ Cẩm-Nhân, vệ binh dẫn chúng tôi nhắm hướng Lũng Ngàn: thế là chúng tôi về lại Trại 4! Tháng Tám năm 1976 tôi đã bị cùm ở buồng giam Trại 4 hơn ba tháng trời. Rồi cũng từ nơi này, đầu năm 1978, tôi lại xuất phát cuộc vượt ngục lần thứ hai.
Nay bị đưa trở lại nơi đây để chấp cung thì quả là điều đáng sợ đối với tôi.
Cũng như ở bên Trại 9, hai bạn tôi bị nhốt trên ban chỉ huy. Còn tôi bị cùm riêng trong nhà kỷ luật nơi góc trái cổng trại, sát hàng rào, bên bờ suối.
Vừa đặt chân vào phòng giam, tôi đã nhìn thấy một cái cùm mới cáo cạnh. Cái cùm chân này tinh vi và chắc chắn hơn cái cũ nhiều.
Trước đây, năm 1976, chân người bị cùm có thể duỗi dài thoải mái, hai chân sát đất trong buồng giam. Lần này cùm làm bằng hai tấm ván ghép, mỗi tấm được khoét hai nửa vòng tròn vừa cổ chân. Sau khi gác hai cổ chân tù nhân lên hai hình bán nguyệt của tấm ván dưới, cai tù sẽ kéo sập tấm ván trên xuống và khóa chốt. Thế là, tù nhân chỉ còn cách nằm ngửa, vắt hai chân lên cao 45 độ. Chân người bị phạt sẽ lòi ra ngoài ô cửa sổ đầu hồi. Lính canh không phải đi tới cửa buồng giam, mà chỉ cần bước qua cổng chính là đã nhìn thấy đôi chân người có tội rồi. Sau này tôi mới biết, cái cùm đó được hoàn thành chỉ vài ngày trước khi chúng tôi bị giải về đây. Người vẽ kiểu cùm là viên Thượng Úy Việt-Cộng tên Xuyên, Chính Trị Viên của Trại 4. Người tù thợ mộc được giao nhiệm vụ đóng cái cùm lại là một cựu Hải Quân Thiếu Tá VNCH, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp của tôi.
Còng tay là một cặp khoen sắt rèn số 8 vừa sát với cổ tay. Khóa của nó là loại khóa cửa, lớn bằng bàn tay, nặng chừng một ký lô. Cái khóa này đè trên ngực làm cho tù nhân khó thở vô cùng.
Ngay buổi chiều đầu tiên, tôi đã bị tên vệ binh Lê Văn Tưởng tới “hỏi thăm sức khỏe”.
Vệ binh Lê Văn Tưởng và vệ binh Hồ Ngọc Thắng, biệt danh “Thắng Bo” là hai hung thần của Trại 4. Thấy bóng dáng hai tên này từ đàng xa, anh em bạn tù đã run rồi.
Tên Tưởng ló đầu bên cửa sổ đầu hồi, đôi mắt chớp chớp, miệng cười cười,
– Anh Long ơi! Mạnh khỏe chứ?
– Thưa anh bộ đội, tôi vẫn khỏe.
– Người ta đồn, nửa đường, máy bay lên thẳng của Mỹ đến đón, nhưng các anh thích đi bộ cho khỏe chân, nên mới bị bắt lại, có đúng không?
– Tôi không biết chuyện này anh bộ đội ạ!
– Mình “nhớ” anh muốn chết! Anh có “nhớ” mình không?
Tôi lặng thinh.
– Anh đi vắng mấy ngày? Anh nhỉ?
– Tôi trốn sáu mươi bốn ngày.
Tên bộ đội gỡ cái băng đạn A.K ra khỏi súng, nhoài người qua cửa sổ,
– Sáu mươi tư ngày! Kỷ lục đấy!
Hắn dơ cao cái băng chứa đầy đạn A.K gõ xuống hai chân đang bị cùm của tôi, rồi lớn tiếng dõng dạc đếm,
– Một!…Hai! …Ba!… Bốn!…
Sống của cái băng đạn giáng trên xương ống quyển làm cho tôi thót tim. Tôi la lên,
“Ối!… Ối!…Ối! …”
Thấy tôi đau líu lưỡi, Tưởng cười khoái trá. Nó cười bằng miệng, và cười cả bằng đôi mắt,
– Anh Long đi vắng sáu mươi tư ngày. Tôi khổ vì anh sáu mươi tư ngày. Tôi sẽ gõ chân anh sáu mươi tư lần để anh nhớ! Mười hai! Mười ba! Mười…
Tôi đau đến chảy nước mắt, đau nhảy nhổm, đau quằn quại, giẫy đành đạch.
Vệ binh Lê Văn Tưởng vẫn tỉnh bơ, mặt không đổi sắc, tay nó dơ lên, giáng xuống, đều đều…
Ống chân tôi sưng lên, rồi tóe máu. Mắt tôi bắt đầu hoa, tai tôi ù như sắp điếc đặc.
Đau quá, tôi điên tiết, ngồi bật dậy. Tôi dơ hai tay có cái còng lên cao, nện một phát thẳng cánh, trúng cổ tay thằng mất dạy.
Bất ngờ bị một cú đau điếng, nó buông rơi băng đạn. Mặt nó đổi sắc thành màu tím. Nó nghiến răng, rít lên,
– Tiên sư cha nhà mày! Ông cho mày biết tay. Từ nay mày chỉ còn nước bò thôi, hết đi được nữa rồi! Con ơi!…
Nó cúi xuống rút con dao găm đeo trên dây lưng. Một tay nó cầm bàn chân phải của tôi, tay kia dí mũi dao vào nhượng chân. Chỉ một giây đồng hồ nữa là gân nhượng chân tôi bị cắt! Tôi sẽ thành phế nhân!
– Ngừng tay ngay!
Tiếng quát của ai đó làm cho tên khát máu chùn tay, mũi nhọn của con dao găm vừa chạm lớp da khuỷu chân tôi thì ngừng lại. Người vừa quát là cán bộ Vấn.
– Đồng chí có nhiệm vụ gì ở đây? Sao lại định cắt gân chân người ta?
– Thủ trưởng ơi! Thằng này hỗn láo quá! Nó chửi tôi. Tôi phải dạy nó một bài học.
Cán bộ Vấn nghiêm giọng,
– Chuyện gì cũng phải báo cáo với cấp trên. Đồng chí không được tự tiện.
Hung thần họ Lê đi vòng sang cửa chính, khom mình lượm cái băng đạn. Nó lườm lườm nhìn tôi với đôi mắt căm hờn,
– Tiên sư cha mày! Số mày còn may lắm đấy!
Tôi cũng nghiến răng, trợn mắt, nhìn ngay mặt nó,
– Tổ mẹ mày! Đồ con chó!
Cán bộ Vấn ra lệnh,
– Đồng chí Tưởng ra khỏi đây ngay! Từ nay, nếu không phải phiên trực, tôi cấm đồng chí léo hánh tới đây.
Chờ cho tên Tưởng qua khỏi cổng, cán bộ Vấn mới bước tới sát cửa phòng giam, nhỏ giọng nói với tôi,
– Chuyện đâu còn có đó. Anh Long yên chí nằm nghỉ đi, đừng lo nghĩ gì cả.
Viên Trung Úy Cộng-Sản tên Bùi Văn Vấn này là dân Hải-Dương. Anh ta làm quản giáo ở đây từ ngày mới lập trại.

Đêm tháng Năm, muỗi vo ve…
Ngoài rào có tiếng chân người lội lõm bõm dưới nước; chắc đó là ông già Khê người dân tộc Tày? Đêm nào già Khê cũng đi cắm cần câu cá dọc theo con suối.
Nhà của già Khê nằm sát rào Trại 4. Trước khi trốn trại, mỗi lần tôi đi ngang qua rào, ông cụ tốt bụng này thường dúi cho tôi một gói ớt hiểm, kèm với lời dặn dò,
“Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, nhớ mỗi ngày làm một quả ớt hiểm để chống sốt rét, ngã nước!”
Có ánh đèn pin loang loáng, rồi tôi nghe già Khê lớn tiếng hỏi người nào đó,
– Làm gì mà ngồi đây thế? Thấy hết hồn… tưởng ma!
Người kia trả lời,
– Suỵt! … Suỵt!… Cháu… ngồi …chơi…
Tiếng người này nhỏ nhí, nhưng tôi vẫn nghe được đó là tiếng vệ binh Đèo Văn Thắng. Trại 4 có hai vệ binh tên là Thắng. Đèo Văn Thắng người Cao-Bằng, hiền như bụt nên chúng tôi gọi là “Thắng Phật”. Tính nết “Thắng Phật” trái ngược hẳn với “Thắng Bo” Hồ Ngọc Thắng người Bắc-Thái rất độc ác dữ dằn. Gặp điều không vừa ý, “Thắng Bo” đánh tù không nương tay. Chữ “Bo” là từ chữ “Porteur” tiếng Pháp, có nghĩa là “phu khuân vác”. Biệt danh của hai vệ binh tên Thắng đều do anh em tù Trại 4 đặt ra, và truyền miệng với nhau.
Già Khê lại lớn tiếng thắc mắc,
– Ngồi chơi mà chong súng như canh kẻ trộm? Có báo động hử?
– Không…không…cháu ngồi chơi mà…
– Ừ! thôi nhá! Có rảnh vào nhà rít điếu thuốc lào rồi hãy về…
– Vâng…vâng…
Sau đó tôi nghe mấy tiếng “Thịch! Thịch! Thịch!…” trên nền đất, có lẽ già Khê đang dậm dậm gót chân vài cái cho ráo nước?
Rồi tiếng chân bước xa dần, đêm trở lại với mớ âm thanh hỗn độn của ếch nhái, côn trùng…
Tôi đang thiu thiu sắp ngủ thì có bóng người bước vào. Người đó vỗ nhè nhẹ bên hông tôi,
– Dậy! Dậy mau! Ban chỉ huy trại thấy anh tiến bộ nên xét tha cho anh về lán đấy!
Tên vệ binh cúi xuống lấy chìa khóa mở còng tay cho tôi, rồi y đi vòng ra ngoài đầu hồi tháo chốt cái cùm chân.
Bất ngờ nghe lệnh được tha về đội lao động, tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ.
Tôi chưa đứng vững, tên bộ đội đã thúc giục,
– Đi mau! Anh lên “khung” gặp trực trại, ký giấy tha rồi về lán cho sớm!
Tôi thấy ngoài trời tối đen như mực, nên chùn bước,
– Tối thế này làm sao thấy đường mà đi? Mọi đêm, các anh dẫn tôi đi đâu cũng có cái đèn bão mà?
– Hôm nay chỉ lên ký cái giấy thôi, cần gì đèn với đóm?
Linh tính báo cho tôi biết, hình như có điều gì không ổn, nên tôi vội ngồi bệt xuống bực cửa,
– Tôi không đi đâu! Muốn tôi đi, phải có đèn, đi không đèn thì vệ binh gác trên chòi sẽ bắn tôi chết!
Tên bộ đội thấy tôi ngồi ì ra trước thềm, bèn rút túi, lấy ra một khúc nến. Y bật quẹt đốt nến lên, trao cho tôi,
– Đây! Đèn đây, anh cầm lấy rồi đứng lên đi đi!
Tôi ù lì,
– Nếu anh đưa cái đèn bão, tôi sẽ cầm đi ngay. Cây nến này ra gió là tắt liền, tôi không đi đâu!
Tức quá, nó quát ầm lên,
– A! Cứng đầu hả? Anh không đi, tôi điệu anh đi!
“Huỵch! Huỵch!”
Bị hai cái báng súng đánh vào vai, đau lắm, nhưng vẫn không nao núng, tôi cứ ngồi ôm chặt cây cột cửa không chịu buông.
Sau cùng, thằng vệ binh đành quàng khẩu súng ngang vai để hai tay nó được tự do nắm cổ áo tôi, lôi ra cửa. Biết mình không đủ sức vật nhau để cướp súng, tôi đành ôm cánh tay kẻ thù, nhe răng cắn tới tấp. Đau quá, nó đành buông tôi ra. Tay xoa chỗ bị cắn, miệng nó chửi,
– Đồ chó cắn càn!
Tôi la lên,
– Anh muốn bắn tôi phải không? Bắn thì bắn bây giờ đi! Tôi không ngu mà bước ra cổng cho anh bắn đâu! Tôi biết tỏng… tòng… tong… âm mưu của anh rồi!
Hình như câu nói đó làm cho tên vệ binh chạm nọc, nó ấp úng,
– Ấy! Ấy! Tôi không bắn anh đâu! Mà sao anh biết? Ơ …ơ …ơ…
Bộ dạng bối rối của thằng cai tù kèm với câu “Mà sao anh biết?…” khiến tôi suy ra ngay,
“Đúng rồi! Tụi nó gài cho mình không đèn đóm đi ra cổng để giết mình! Mấy thằng bộ đội chong súng ngoài kia đang ngồi phục kích chờ bắn mình chứ đâu phải ngồi chơi?”
Thấy chết đến nơi, tôi đánh nước liều, chõ mồm về hướng các lán tù, tôi gào lên,
– Anh em ơi! Người ta giết tôi! Anh em ơi! Chúng nó bắt tôi đi ra khỏi rào để bắn tôi! Anh em ơi! Cứu tôi với!
Ngay từ lúc đôi bên giằng co, đã có vài người tù ở Lán 1 và Lán 5 ló đầu ra theo dõi. Nghe tiếng tôi kêu cứu, họ cũng hét ầm lên,
– Không được giết người! Không được giết người!
– Chúng nó giết tù! Anh em ơi! Chúng nó giết tù! Anh em ơi!
Tiếng la lớn nhứt tôi nghe được, rõ ràng là tiếng của Đại Úy Phạm Xuân Độ.
Gặp cảnh bất ngờ, tên bộ đội đứng ngẩn người, không biết xử trí ra sao.
Bỗng có ba tiếng súng chỉ thiên phát ra từ chòi gác ngoài cổng trại. Rồi một tốp bộ đội ôm A.K chạy túa vào sân. Tên trưởng toán vệ binh thét lớn,
– Tù làm loạn hả? Vào lán! Đóng cửa lại! Đứa nào lớ ngớ ngoài hiên chúng ông bắn bỏ mẹ! Nghe chưa?
Có tiếng lên đạn, “Cà róch!… Cà rách!…”
Tôi bị tống năm, sáu báng súng vào ngực, vào lưng, rồi bị đẩy vào nhà kỷ luật trở lại. Hai phút sau, còng, cùm khóa xong. Vệ binh tản mát dần. Cảnh vật lại yên tĩnh như không có gì xảy ra.
Trại tù đèn tắt tối thui, nhưng tôi yên tâm nhắm mắt ngủ, vì tôi tin tưởng rằng qua khe vách liếp của các lán tù, thế nào cũng có vài đôi mắt đang theo dõi sự an nguy của tôi.
Sáng hôm sau, trước khi nghe tiếng kẻng xuất trại lao động, có bốn, năm người bị gọi lên trình diện cán bộ an ninh của trại, trong số này có anh Phạm Xuân Độ. Đại Úy Biệt Động Quân Phạm Xuân Độ là một người đàn em trong đơn vị tôi. Tôi và Độ thân nhau như anh em ruột.
Khi đi ngang qua nhà giam, Độ lớn tiếng, cốt cho tôi nghe,
“Thái Sơn ơi! Đàn em không bỏ đại ca đâu! Đại ca ơi!”
Tôi ngồi nhìn theo bóng chú Độ, lòng bồn chồn, thấp thỏm không yên.
Chừng một tiếng đồng hồ sau, nhóm tù dính líu tới vụ lộn xộn đêm qua được thả về. Ngang qua chỗ tôi ngồi, Độ lại phát thanh bổng,  “Thái Sơn ơi! Chỉ có một tờ kiểm điểm, không nhằm nhò gì.”
Nghe vậy, tôi mới thấy lòng nhẹ nhõm, hết lo âu.
Mấy cái báng súng đêm trước đã khơi động những chấn thương cũ trong thân thể tôi. Tôi chợt thấy ngực mình đau nhói một cách kỳ lạ.
“Bục!…Bục!…Ục!…Ục!…”
Ruột gan tôi như đang lộn lạo, sôi sùng sục. Có một vật gì tròn tròn, mềm mềm như cái bong bóng đang tìm đường chui qua cổ họng tôi để thoát ra ngoài.
“Ộc!…Ộc! Phè!…Phè!…” Máu từ ngực tôi vọt qua hai hàm răng, văng tung tóe trên đùi và trên nền ván gỗ.
Tôi ói máu liên tục. Lúc này, trước mắt tôi chỉ còn những đốm sao chớp chớp, lập lòe. Rồi tất cả tối sầm lại, đen đặc. Tôi gục đầu hôn mê trên chiếc còng tay…
“Lai tỉnh đi Long! Long ơi!… Lai tỉnh đi Long!…”
Tôi mở mắt ra, thấy mình đang nằm thoải mái trên nền đất nhầy nhụa, hôi tanh, tay không còng, chân không cùm. Ông thầy thuốc Nam của trại một tay bóp miệng cho tôi thở, tay kia không ngừng giựt giựt mớ tóc mai bên thái dương tôi.
Cán bộ Nghiễm trực trại, đang đứng trước cửa theo dõi. Thấy tôi mở mắt tỉnh lại, y buột miệng,
– Tưởng đi luôn rồi chứ!
Sau đó y ra lệnh cho tên lính gác,
– Dẫn nó ra suối!
Thế rồi, sau nhiều ngày ủ mình trong bộ quần áo kaki đầy máu me, cứt đái hôi thối, tôi được đi tắm. Sức yếu, hai chân lại đau, tôi đi không nổi, đành phải bò. Tới cổng, tôi níu vào hàng rào đứng lên, cố gắng lần mò từng bước. Có hai anh bạn đánh liều chạy tới đỡ, dìu tôi đi. Thấy thế, vệ binh cũng làm ngơ.
Trong lúc tôi đi vắng, một anh bạn tù bị bắt làm công tác vệ sinh nhà giam với một thúng tro.
Tới suối, tôi tụt hết quần áo, lết nhanh xuống dòng nước mát. Hai tên lính canh đã ghìm súng ngồi sẵn trên bờ. Cán bộ Nghiễm ra điều kiện,
– Anh Long có mười phút tắm gội. Cấm không được lặn!
Tôi bỏ ngoài tai lời đe dọa, cứ gục đầu xuống uống đầy một bụng nước, rồi lặn ngụp, vò đầu vò tai. Những con cá lòng tong bu vào gặm nhấm lớp da phủ vảy máu mủ chưa khô trên ống quyển. Lúc đầu, răng cá làm cho những vết thương chân của tôi thật là đã ngứa. Sau đó máu tươm ra, tôi bắt đầu cảm thấy xót, thấy đau.  Buổi chiều, trực trại sai hai bạn tù kè nách đưa tôi lên phòng làm việc. Tôi phải viết hai tờ tự kiểm, phải thành tâm hối hận về hành động trốn trại vừa qua để xin ban chỉ huy trại khoan hồng.
Tôi nại cớ hai tay bị cùm, bị đánh, đã tê dại, không cầm bút được. Thế là một anh bạn gốc Không Quân đang ngồi tỉa bắp trên kho bị điệu vào ghi chép tờ tự khai cho tôi. Tôi nói anh bạn muốn viết gì thì viết, rồi tôi nhắm mắt ký bừa, không cần đọc lại. Lúc nộp hai tờ tự kiểm cho cán bộ, hình như anh ta đã ghi lộn họ Vương của tôi thành họ… Nguyễn thì phải?
Trong thời gian chờ cán bộ của Nha Quân-Pháp Bộ Quốc-Phòng Cộng-Sản từ Hà-Nội về chấp cung, tôi không được đi ra ngoài. Mọi sinh hoạt tiêu, tiểu đều ở ngay chỗ nằm. Hằng ngày, ông thầy thuốc Nam của trại có nhiệm vụ đi vứt cứt đái cho tôi. Biết tôi bị nội thương, ông ta lén dấu cho tôi vài viên xuyên tâm liên. Ông thầy thuốc này cũng là tù cải tạo. Tù mắc bịnh gì ông ta cũng cho uống xuyên tâm liên! Từ thời ông ta đảm nhận công tác y tế của trại, tôi chưa thấy ai chết vì xuyên tâm liên cả.
Ngày Chủ Nhật, trại được nghỉ lao động. Hai cổng trước sau đều bị khóa. Tên lính gác trên chòi cao ngồi ngủ gà ngủ gật. Các bạn tù túa ra sân, người thì tay chân bận bịu với ca cóng trong việc nấu nướng, kẻ tụ họp đánh cờ, vài anh khác mải mê tập thể dục, dưỡng sinh. Có bóng người lạng qua cửa nhà cùm. “Vèo!…Vèo!…Độp!…Độp!…” vài cục đường thẻ và mấy củ khoai lang luộc được quăng vào nhà kỷ luật.
Hai củ khoai bay tuốt vào góc phòng, ngoài tầm tay với. Còn hai cục đường vì nhẹ, nên rơi nơi bục cửa, tôi chụp lẹ, rồi đưa ngay vào mồm.
Oái oăm làm sao! Cục đường trong miệng lại nằm kẹt ngay chỗ cái răng đã bị tên Lời đập gãy, tôi đau điếng người! Cả hàm răng tê tái, cứng đờ, cục đường nằm trong họng mãi không chịu tan.
Hai ông bạn tù vừa ném đồ ăn cho tôi, một ông là Hải Quân Thiếu Tá Trần Văn Căn, bạn cùng lớp Trần Quí Cáp, người thứ nhì là Đại Úy Vương Thành Lân Khóa 19 Võ-Bị.
Lâu ngày mới thấy chất ngọt, nước dãi trong mồm tôi tiết ra ào ào, nuốt không kịp.
Tới trưa hôm đó mới khổ! Tôi chưa kịp cởi quần đã bị “Tào Tháo” đuổi, bắt tại chỗ! Tay còng, chân cùm, tôi đành nằm chịu trận.
Chờ mãi, tôi mới thấy bóng dáng ông thầy thuốc Nam trước cửa nhà bếp. Tôi lên tiếng gọi, rồi mắc cỡ, nói với ông ta rằng vì bị trúng gió, tôi đã “bĩnh” ra quần.
Ông lang sốt sắng chạy vội lên gặp cán bộ trực trại. Tôi được “chiếu cố” cho ra suối tắm rửa lần nữa.
Hai ngày sau, vào lúc xế chiều, cán bộ Vấn xuất hiện. Đứng chân trong, chân ngoài ngạch cửa, anh ta dặn dò,
– Ngày mai có người từ trên Bộ xuống chấp cung. Tính mạng của anh coi như an toàn rồi đấy! Tôi cũng mừng cho anh. Có điều là cần kín miệng.
Nói vừa xong câu, anh ta vội vàng xoay lưng, bước đi


Chín giờ sáng ngày hôm sau, tôi ngồi đối mặt với một thượng úy của Nha Quân-Pháp Cộng-Sản. Công tác chấp cung xảy ra đúng ba ngày.
Ngày thứ nhứt…
Tay nhấn cái nút “Play” màu trắng, đồng thời với cái nút “Record” màu đỏ của chiếc cassette để trên bàn, tên cán bộ bắt đầu cuộc thẩm vấn,
– Trong thời gian ở Trại 4 này, cán bộ và chiến sĩ của trại có làm điều gì trái với chính sách của đảng và nhà nước khiến cho anh và các trại viên khác bất mãn không?
Tôi thoáng nghĩ,
“Phủ bênh phủ, huyện bênh huyện, mình có nói ra những hà khắc, bất nhân của cán binh trại này, chưa chắc hắn ta đã làm được điều gì thay đổi. Mà không chừng, tố cáo những gì mình chứng kiến, có khi còn mang vạ vào thân…”
Hai bàn tay xếp trên đùi, tôi tránh đôi mắt người đối diện,
– Thưa cán bộ, tôi thấy rằng ở trại nào thì chế độ cũng như nhau. Tôi không có điều gì để khiếu nại cả.
– Vậy thì, nguyên nhân nào đã khiến anh vượt trại?
– Tôi trốn trại là để đi tìm tự do.
– Sao lại phải đi tìm? Bao giờ học tập xong, anh sẽ được trả tự do thôi!
Ngẩng đầu lên, thấy vẻ mặt người sĩ quan Cộng-Sản không có nét gì là giận dữ, tôi đánh bạo,
– Thưa cán bộ. Cán bộ có thể cho tôi biết, đến bao giờ thì khóa học của tôi mới chấm dứt?
Thừ người ra một phút, viên thượng úy nhịp nhịp cái bút chì trên mặt bàn,
– Cái ấy cũng tùy, một năm, vài ba năm, tùy nơi các anh…
Lúc đó mắt tôi chợt nhìn thấy trong góc phòng một cái giá súng, trên đó dựng bốn khẩu A.K của vệ binh. Một ý nghĩ thoáng qua,  “Hai giây đồng hồ để nhảy từ đây tới cái giá súng. Một giây chụp khẩu A.K. Một giây kéo cơ bẩm. Hai giây vượt qua cửa sổ. Một phút sau có mặt trong vườn sắn. Lính canh trên chòi gác không thể quan sát được phía sau vườn sắn. Phải tốn ít nhất là năm phút, vệ binh mới tập họp xong. Chỉ cần năm phút phù du ấy là ta đã lên tới Lũng Ngàn rồi!”
Tiếng gõ nhịp bút chì chợt ngừng thình lình. Tôi liếc mắt thấy vẻ mặt hơi thất sắc của tên cán bộ. Hình như hắn ta đã thấy mắt tôi đang dán vào cái giá súng?
Y vụt xô ghế, đứng dậy,
– Thôi anh về nghỉ, ngày mai ta làm việc tiếp.
Tôi chột dạ, nhưng cũng không tỏ vẻ bối rối. Phải chống hai tay lên ghế lấy đà, tôi mới từ từ đứng lên được. Lúc này tôi chợt sực tỉnh: sức tôi yếu quá! Tôi đứng còn khó khăn, nói chi tới chuyện chạy, nhảy, leo trèo?
Ngày thứ nhì…
Bước vào phòng trực, tôi không còn thấy cái giá súng A.K trong góc nhà nữa. Bên ngoài cửa sổ thấp thoáng bóng vệ binh ôm súng, rảo bước đi qua, đi lại.
Chờ cho tôi ngồi xuống ghế, viên sĩ quan quân pháp chỉ tay vào một cái bịch giấy dày cộm trên bàn,
– Tôi đã có toàn bộ hồ sơ quân bạ của anh Long ở đây. Đầy đủ hết! Từ bản tướng mạo công vụ, cho tới từng cái giấy phạt, giấy khen, huy chương, khai sinh, giá thú … không thiếu bất cứ thứ gì. Nếu không tin, anh có thể tự tay kiểm tra lại, xem tôi nói có đúng không?
Rồi y rút ra đưa cho tôi mấy tờ huy chương và bản tướng mạo công vụ của tôi. Thoáng nhìn thôi, tôi đã biết đó là thứ thật.
Thấy tôi có vẻ không hứng thú với việc đọc mớ giấy tờ kia, hắn từ tốn cất chúng vào bao trở lại, rồi gật gù,
– Hôm nay chương trình sẽ là nghe vài cuộn băng.
Cuộn băng thứ nhứt dài nửa giờ ghi lại phiên tòa ngoài trời, cách đây không lâu, xử một anh tù cải tạo tên Phê (?) trốn trại ở đâu dưới Vĩnh-Phú hay Thanh-Hóa gì đó. Tiếng loa vang vang lời kết tội phát ra từ miệng một “cải tạo viên”, có lẽ là trật tự hay thi đua,  “Tên ngụy quân này đã ngoan cố vượt trại, không chịu học tập! Đề nghị xử tử!”
Hàng chục người khác nhao nhao tán đồng,
“Đồng ý! “…”Nhất trí!”…”Đồng ý!”…”Nhất trí!”…
Một người nữa phát biểu,
“Thằng này đã cướp súng bắn lại cán bộ! Phải xử tử nó ngay!”
Đám đông lại thét gào,
“Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…
Một ý kiến khác,
“Chúng tôi không an tâm học tập khi tên ác ôn này còn sống và tiếp tục quấy rối chúng tôi…”
Khán giả dường như đã say máu,
“Xử tử nó đi!”…”Xử tử nó ngay!”…”Xử tử nó!”…”Xử tử!”…
Đa nghi cách mấy tôi cũng không thể nói cuộn băng này là giả tạo được! Rõ mồn một, đấy là tiếng nói, tiếng la, tiếng hét của đồng đội tôi. Tôi không thể nghe lầm: Đồng đội của tôi đang tranh nhau đòi giết bạn mình!
Là một tù nhân sắp ra tòa lãnh án, tôi không mảy may sợ hãi cái chết, nhưng những tiếng la hét của những người đồng ngũ lại làm cho tôi đau đớn vô cùng.
Cuộn cassette dài có nửa giờ, vậy mà tôi cảm như mình đang trải qua một cuộc tra tấn dài vô tận. Ngón đòn cân não đã có hiệu quả! Lòng đau như cắt, hai lá nhĩ lùng bùng, đầu tôi choáng váng như muốn nổ tung vì những tiếng thét đầy man rợ,
“Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…”Xử tử!”…
Cuộn băng ghi âm chấm dứt không có đoạn kết của phiên tòa. Viên thượng úy xoi mói nhìn vào mặt tôi, như tìm đọc phản ứng của tôi, rồi y bồi theo một câu, như phát đạn ân huệ,
– Anh Phê bị xử bắn rồi đấy anh Long ạ!
Thấy tôi ngồi lặng thinh, hắn ta nói nhỏ,
– Tôi không cần hỏi thêm anh về lai lịch hay thành tích nữa làm gì. Chúng tôi có đủ tài liệu và hồ sơ để xác định tội trạng của anh rồi. Tuy nhiên, tôi cũng mạnh miệng bảo đảm rằng, tội của anh chưa đến mức bị xử tử hình. Tin tôi đi!
Sau khi được uống một bát nước lạnh, tôi tiếp tục ngồi nghe cuộn băng thứ nhì, cuộn băng ghi lời phát biểu của hai vị đại tá bị Cộng Quân bắt tại mặt trận Ban-Mê-Thuột.
Cuộn băng chót là một buổi học tập, phê bình, kiểm thảo của một nhóm sĩ quan cấp tướng và đại tá.
Qua hai cuộn ghi âm vừa rồi, tôi nhận ra giọng nói của những vị tôi đã từng dưới quyền, đã từng thân thiết. Vẫn giọng nói xưa, nhưng những lời tôi nghe được lại như từ miệng ai đó, tôi chưa từng gặp, chưa từng tiếp xúc bao giờ!
Trong cơn bão tố cuồng điên, con thuyền quốc gia của dân tộc tôi chìm nhanh quá! Giữa biển khơi không thấy bến bờ, những người sắp chết đuối thấy vật gì bồng bềnh trước mắt, cứ ngỡ rằng đấy là một cái phao, đâu ngờ đó chỉ là đám bọt nước mà thôi!
Thực tình, từ ngày mất nước, tôi chưa bao giờ có ý oán trách bất cứ ai, kể cả các cấp chỉ huy và bạn đồng ngũ của tôi. Tôi chỉ thấy xót thương cho bạn bè mình, và buồn cho số phận của chính mình.  Người cán bộ xếp dọn đồ nghề, rồi nói câu chấm dứt buổi thẩm cung,
– Thôi! Mai ta tiếp tục anh Long nhé!
Tôi khập khiễng trên đoạn đường từ ban chỉ huy trại về buồng giam, sau lưng là một họng A. K.
Ngày chấp cung thứ ba…
Viên thượng úy xoa xoa hai bàn tay vào nhau,
– Hôm nay chủ đề trao đổi giữa chúng ta sẽ là: “Quốc-Gia và Cộng-Sản.” Tôi sẽ không đánh đập anh đâu. Đừng e ngại, sợ sệt, cứ việc phát biểu một cách công tâm. Tôi cho phép, và khuyến khích anh nói thật lòng mình, về những gì anh cho là sai, là đúng của hai chế độ. Mục đích chuyến công tác của tôi lần này chỉ có thế!
Tôi ngồi ngẩn mặt ra. Thật là ngoài mức tưởng tượng! Tôi đã một lần nếm mùi cái “kinh nghiệm thương đau” của kẻ bị tra khảo vì tội trốn trại rồi, nên tôi biết, trong thời gian chấp cung, tù vượt ngục nào cũng bị đánh cho tới bò lê, bò càng, cả tháng sau, thân mình còn ê ẩm.
Tôi nghĩ lần này cũng lại bị đánh, bị buộc tội trối chết, rồi phải tỏ ra ăn năn, hối lỗi những việc mình đã làm, sau cùng là ký bản cam kết, hứa hẹn sẽ không còn tái phạm nữa…vân vân. Ấn nút cho máy ghi âm chạy, thẩm vấn viên hất hàm,
– Theo anh, cuộc chiến tranh vừa qua chính nghĩa thuộc về phe Quốc-Gia hay Cộng-Sản?
Tôi đáp liều,
– Mỗi bên tham chiến có lý lẽ riêng để bênh vực cho chủ trương của phía mình. Người Cộng-Sản có lý của họ, còn chúng tôi, có lý của chúng tôi.
Người hỏi cung lắc đầu, nghiêm giọng,
– Anh hãy nói thẳng ra ý kiến của cá nhân anh. Phải là “ý kiến tôi thế này, ý kiến tôi thế kia!” Không được nói quanh quanh, nói chung chung kiểu…”chúng tôi thế này, chúng tôi thế kia…”
Tôi nuốt nước bọt rồi trả lời thẳng thừng,
– Tôi chiến đấu có chính nghĩa vì tôi là người tự vệ, Miền Bắc là kẻ xâm lược.
Hắn ta vội át giọng tôi,
– Anh nói sai rồi! Chúng tôi mới có chính nghĩa vì chúng tôi chiến đấu để giải phóng Miền Nam thoát ách cai trị của ngoại bang.
– Không có ngoại bang nào cai trị Miền Nam cả. Việt-Nam Cộng-Hòa là một nước độc lập.
Y hét lên,
– Độc lập giả tạo! Thực chất Ngụy-Quyền Miền Nam chỉ là tay sai của đế quốc Mỹ.
– Việt-Nam Cộng-Hòa là một quốc gia đồng đẳng với các nước khác trên thế giới. Miền Nam có chính phủ riêng, hiến pháp luật lệ riêng. Tổng Thống và Quốc Hội nước Việt-Nam Cộng-Hòa là do dân bầu lên, có nhiệm kỳ hiến định hẳn hoi, sao lại gọi là tay sai được?
Tôi ngừng lại, chờ xem ý kiến của người đối diện ra sao thì thấy y đã tắt máy.
Ngồi im một lát như để tĩnh tâm, rồi thật chậm rãi, hắn ta ôn tồn trở lại,
– Tôi sẽ không đấu lý với anh nữa. Vì nếu cãi nhau thì anh sẽ ở vào thế yếu, còn tôi ở thế mạnh, không được công bằng. Từ bây giờ tôi chỉ đặt câu hỏi. Anh được tự do trả lời theo ý anh! Như vậy có được không?
Thấy tôi gục gục đầu, hắn nhấn nút cho máy quay, rồi tiếp tục,
– Anh nói rằng Miền Nam là tự do, vậy hãy diễn tả cái tự do đó thể hiện ra sao ngay trong cuộc đời của chính anh.
– Tôi lớn lên trong một chế độ mà trong đó, chúng tôi muốn nói gì thì nói, nghe gì thì nghe, đọc gì thì đọc. Không bị ai nhồi nhét tư tưởng này, tư tưởng kia vào đầu. Ngay như tôi là một thiếu tá, mà suốt mười hai năm quân ngũ tôi chưa bị bắt buộc phải vào dự một buổi học tập chính trị nào cả. Những hiểu biết về Cộng-Sản, hay Tự-Do là do cái vốn kiến thức thu thập từ thực tế và tự tìm hiểu qua báo chí, sách vở. Không ai ép buộc tôi phải tôn thờ chủ nghĩa này, đả phá chủ nghĩa kia.
– Nếu nói rằng Miền Nam tôn trọng tự do tín ngưỡng, thì tại sao lại có những cuộc biểu tình, xuống đường của Cha, Cố, Giáo Dân cũng như của Tăng Ni, Phật Tử?
– Chính vì có tự do nên mới xảy ra những chuyện xuống đường, phản kháng, nếu không có tự do thì toàn dân sẽ câm như hến.
– Anh có là một thành viên của đảng Dân-Chủ không? Nếu một người lính mà không là đảng viên đảng Dân-Chủ thì có bị thiệt thòi gì không?
– Thú thật tôi không để ý đến vụ đảng phái. Tôi không gia nhập đảng nào. Tôi cũng chưa thấy đảng nào công khai gây ảnh hưởng trong đơn vị tôi bao giờ.
– Trong thời gian qua, anh đã có dịp tiếp xúc với dân chúng Miền Bắc, anh có nhận xét gì về nếp sống của dân chúng Miền Bắc không?
Thấy có dịp giải tỏa ấm ức, tôi hứng chí nói một mạch,
– Miền Bắc và Miền Nam khác hẳn nhau. Ở trong Nam, người dân có thể sống theo ý mình muốn. Còn Miền Bắc là một xã hội có quy củ, có khuôn phép. Từ vấn đề cơm, áo, gạo, tiền, nhà cửa, ruộng vườn, cái gì cũng có tiêu chuẩn cả. Cái gì cũng tem phiếu, sổ sách. Hàng còn nằm trong kho quốc doanh có một giá, tới lúc tuồn ra ngoài, nó thành giá khác, đắt gấp chục lần. Lao động xã hội chủ nghĩa thì người này dựa vào người kia. Làm việc hợp đồng, vần công chỉ là chuyện lãng phí nhân lực. Tôi đã thấy có một mảnh ruộng cỡ nửa sào, mà ào xuống mười người, với mười con trâu, và mười cái cày. Họ làm việc chừng một giờ đồng hồ, mà chấm công là một ngày. Thời giờ còn lại, mạnh ai nấy đi canh tác riêng để cải thiện. Lý thuyết là không có quyền tư hữu, tất cả là tài sản chung, nhưng trên thực tế, ai cũng lo mưu cầu lợi ích riêng, vì ai cũng thiếu thốn cả. Có lẽ vì thế mà mấy chục năm nay Miền Bắc vẫn nghèo, không khá lên được.
Tôi thấy kỹ thuật thẩm vấn của người Cộng-Sản có vẻ na ná với kỹ thuật khai thác của Đức Quốc-Xã thời Thế Chiến thứ 2 trong những tài liệu mà tôi đã đọc qua. Thoạt đầu, với đôi ba câu hỏi bâng quơ, tù binh được nói thoải mái thả giàn vài phút. Sau đó, thẩm vấn viên mới ra tay, bằng những câu hỏi dồn dập, tới tấp, loanh quanh, lẩn quẩn một vấn đề, làm cho óc người bị thẩm vấn rối tung lên, không biết đâu mà chống đỡ.
Với những câu hỏi ngoắt ngoéo, viên thượng úy Cộng-Sản đã cố gắng moi móc những gì tôi cất dấu trong đầu về cuộc đời tôi, từ thuở mới di cư, đến khi ngập ngũ, rồi tới ngày rã ngũ.
Trong thời chiến, tôi đã qua lớp Tình-Báo Tác-Chiến Singapore, rồi nhiều năm, đảm nhận chức Trưởng Phòng Quân- Báo của Bộ Chỉ-Huy Biệt Động Quân, Quân-Khu 2, Việt-Nam Cộng-Hòa. Tôi đã thẩm vấn rất nhiều tù binh, và đã hoàn tất nhiều bản cung từ.  Do đó, tôi đủ bản lãnh để luồn lách, tránh né những bí mật liên quan tới sinh mạng những người đã cộng tác với tôi thời trước, như tên tuổi các mật báo viên trong mạng lưới mật báo của Phòng 2 Biệt Động Quân Quân-Khu 2, danh sách các cán binh chiêu hồi đã hướng dẫn các chuyến xâm nhập vào lòng địch của tôi trong thời gian 1972- 1973.
Chỉ sau vài câu hỏi trùng lặp, tôi đã nghiệm ra ngay chủ đề của cuộc “thi vấn đáp” trường chinh hôm ấy là nhằm khai thác tin tức liên quan tới “Vai trò của Chính-Trị và Tôn-Giáo trong Quân-Đội Việt-Nam Cộng-Hòa” Về cả hai lãnh vực trên đây, quả tình, tôi chỉ là một tay ấm ớ, nên người tra hỏi chẳng biết được gì.
Cứ thế, trừ đi cỡ sáu, bảy phút cho hai lần đi tiểu, và khoảng mười phút cho bữa ăn trưa với một củ khoai lang luộc, tôi phải trả lời hàng trăm câu hỏi trong thời gian dài từ sáng sớm tới xế chiều. Tôi không nhớ có bao nhiêu cuộn băng mới đã được thay, mấy lần pin mới được lắp vào máy.
Chấm dứt ngày làm việc cuối cùng, không chỉ người bị chất vấn, mà ngay cả người đặt câu hỏi cũng thấy mồ hôi vã ra đầy mặt.
Người cán bộ châm điếu thuốc lá, rít một hơi, rồi trao nó cho tôi,
– Anh Long ạ! Tôi đã thực hiện công tác phỏng vấn này với một ông sư, một ông cha, một nghị sĩ, một dân biểu, hai cấp tướng, hai cấp đại tá, và ba người cầm đầu đảng phái chính trị. Mỗi anh có nhân cách riêng khi đối diện với tôi. Cũng những câu hỏi ấy nhưng mỗi người trả lời khác nhau. Mỗi anh có lý lẽ riêng. Anh là người tuổi nhỏ nhất và có địa vị thấp nhất mà tôi đã gặp trong công tác này đấy! Bây giờ tôi có một câu hỏi riêng tư với anh. Câu hỏi cuối cùng. Anh có vui lòng trả lời tôi không?
Tôi rít một hơi thuốc dài, nuốt ực vào, ém khói trong phổi, thấy tỉnh táo dần,
– Vâng! Tôi sẽ trả lời cán bộ.
– Nào! Anh hãy thành thật, tuyệt đối thành thật, trả lời tôi: Quan niệm của anh ra sao đối với sự sống và sự chết?
Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt người đối diện, dò chừng. Hình như hắn ta không có âm mưu gì chứa ẩn trong câu hỏi. Tôi hắng giọng, rồi nhỏ nhẹ trả lời, rõ ràng từng tiếng một,
-Thưa cán bộ. Tôi nghĩ, đời tôi bây giờ có sống cũng chẳng thấy vui thú gì, thì nếu chết, tôi cũng coi như là trở về cùng cát bụi.
Tôi không có điều gì phải hối hận hay vướng bận cả.

Viên thượng úy Cộng-Sản đứng lên, bàn tay y xiết bàn tay tôi một cái rất nhẹ, rồi buông ra ngay. Y nói với tôi, nhưng có vẻ như nói một mình,
-Tiếc thay! Anh lớn lên ở Miền Nam. Nếu ngày đó anh không di cư, thì có lẽ, giờ này, những người tầm cỡ như tôi, muốn gặp mặt anh cũng là một điều khó khăn.

Buổi trưa sau ngày hoàn tất hồ sơ thẩm vấn, đầu óc thật thoải mái, tôi nằm im, đón nghe trong gió vọng về những âm thanh quen: tiếng ve sầu rên rỉ trên Lũng Ngàn, tiếng chân trâu kéo gỗ nặng nề qua đoạn đường quanh, tiếng xẻng cạo chảo bên nhà bếp. Gần tôi nhứt là tiếng “kẽo! kẹt!” của loài mọt gỗ đang đục khoét cái cột giữa nhà.
Tôi ngửa cổ nhìn lên nóc tranh, trước mắt tôi là cảnh một con ruồi xanh đang cố gắng một cách tuyệt vọng tìm cách thoát khỏi cái màng lưới nhện. Thân phận tôi giờ đây ví như thân phận con ruồi xanh trên kia, không hơn, không kém. Nhện và ruồi là hai động vật khác loài. Chúng giết nhau để sinh tồn. Còn tôi và những người đang giam cầm tôi lại cùng chủng loại.
Tuần lễ sau, vào giờ cơm chiều, cán bộ Vấn bước vào, ngồi trên bệ cửa, rút bao Cửu-Long ra, bật lửa châm cho tôi một điếu.
Chờ tôi hút xong điếu thuốc lá thơm, anh ta mới mở lời,

– Bà mẹ anh ngày xưa đẹp nhất làng Trác-Châu đó! Anh có biết không?
Tôi trố mắt,
– Cán bộ có lớn tuổi hơn tôi nhiều đâu? Làm sao mà cán bộ biết điều này?
– Ngày anh bị đưa về cùm lần đầu ở trại này, tôi đã đọc qua lý lịch của anh rồi. Tôi biết tên bố mẹ anh và tất cả họ hàng bên ngoại của anh nữa. Nhà tôi ở sát rào nhà cụ Ngãi, ông ngoại của anh. Thời còn là con gái, bà cụ sinh ra tôi là bạn thân của bà cụ nhà anh. Mẹ tôi nói hồi đó mẹ anh có làn da trắng như trứng gà bóc. Mẹ anh không lấy người trong làng, lại đi lấy người làng bên. Sau khi bố anh bị giết, mẹ con anh đã bỏ xứ, ra đi biệt tăm. Không ngờ sau đó gia đình anh di cư vào Nam, và anh đã làm tới chức thiếu tá. Dù gì thì chúng ta cũng là người cùng làng…
Tới lúc đó, tôi mới hiểu lý do vì sao viên sĩ quan Cộng-Sản này lại nương tay với mình.
Cán bộ Vấn thọc tay vào túi, lôi ra một cái phong bì. Mở phong bì, móc cái ảnh cỡ 6×9 cm đưa cho tôi, anh ta nói nhỏ,
– Anh Long có thơ. Nhưng tôi không được phép đưa thơ cho anh. Tôi “diếm” cho anh cái ảnh của vợ con anh. Nhớ giữ kín đừng cho ai biết.
Nói xong câu này, Vấn nhét vào tay tôi một điếu thuốc nữa, rồi đứng lên, lững thững đi về hướng nhà bếp.
Có lẽ cái thư chứa tấm hình đã tới trại trong thời gian tôi tại đào. Trong hình là vợ tôi bế thằng con út ngày nó vừa biết lật. Nay chắc thằng bé đã biết nói, biết chạy rồi?
Ấp cái ảnh vợ con vào lòng, tôi nghe rõ ràng, tim mình đang thổn thức…
Tôi được nhìn thấy mặt bố tôi lần cuối cùng (1946), ngày tôi lên bốn tuổi. Còn thằng con tôi, không biết suốt đời, nó có dịp nào nhìn thấy mặt bố nó hay không?
Từ lúc đó cho tới tối mịt, cứ lâu lâu, tôi lại dở cái ảnh ra xem.

                                                 (Vợ và con trai của VMLong-1975)

Vằng vặc trăng trôi…
Tôi nằm quay mặt về hướng Tây. Cửa chính của phòng giam không bao giờ đóng. Ngoài kia ánh nguyệt chan hòa.

“Tưng!… Tửng!… Từng!… Tưng!…”
có tiếng đờn ghi ta vọng cổ bay sang từ Lán 1. Tiếp đó là một câu hò (hay sàng xê) não nuột,
“Đêm nay trăng sáng…(á!) lung linh, em ngồi trông trăng.
Lòng nhớ thương anh, mà lòng… (ừ!) buồn mông mênh.
Mình cách xa nhau rồi…(à!) Mình mất nhau muôn đời.
Đêm ngồi trông trăng, mà mắt lệ …(ý! à!) tuôn rơi…” 

Tôi không phân biệt được giọng hò này là của ông trung tá con rể bà Bút Trà, hay là của ông đại úy con rể cụ dân biểu Hoàng Kim Quy?
Ánh trăng lùa tiếng đờn tràn qua cửa phòng giam.
“Từng!” …”Tưng!”…”Tứng!”…”Tứng!” …”Tưng!”…
Nhịp đờn bỗng rối rít hẳn lên, quện vào tiếng hát, xoắn lại như con chốt, rồi vút lên thật cao,
” Trời ơi! … Bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn
Nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viễn Bạch Thu … Hà… …Tưng! Từng!…Tưng! Tửng!…Từng! Tưng!… Ư…ưng… ư…ưng…”
      Giữa đêm trăng lạnh, vô tình, khúc “Võ Đông Sơ” đã như mũi dao nhọn, xoáy vào tim người nghe…
Ngày xưa tôi là chúa ghét vọng cổ. Cứ thấy mấy anh kép cải lương “miệt rừng” trong đơn vị vừa cất giọng,
“Biên cương lá rơi, Thu Hà em ơi!”
… tôi lại bấm bụng cười thầm, lỉnh nhanh đi chỗ khác.
Vậy mà giờ đây, giọng ca của mấy ông nghệ sĩ tay ngang cũng làm cho tim tôi xốn xang. Tôi nằm trằn trọc hoài mà không nhắm mắt được. Đêm sao quá dài…

Từ đầu tháng Sáu, sau giờ ăn trưa mỗi ngày, tôi được mở còng cùm vài phút để đi vệ sinh. Chuyện ỉa đái của tôi xảy ra ngay trong vòng rào mà vệ binh cũng phải kè kè đi kèm. Khi tới đầu Lán 11, vì sợ thối nên tên bộ đội đành dừng lại, ôm súng đứng canh, cách nhà cầu chừng sáu chục thước. Mắt nó cứ lom lom theo dõi những người tù trên đường ra nhà xí. Nó soi mói, kiểm soát kỹ càng những ống vầu chứa nước họ xách theo để rửa đít. Nó sợ bạn tù lén lút liên lạc tiếp tế cho tôi!
Bọn cai tù không thể ngờ rằng, trước khi tôi được mở cùm, đã có hai ba anh bạn tới ẩn mình trong cầu tiêu rồi. Họ tranh nhau nhét vào miệng tôi, cục đường, củ khoai, và cả những viên thuốc bổ. Tôi chỉ được phép ở trong chuồng xí có năm phút. Trong năm phút, tôi vừa ăn, vừa đại tiểu tiện, vừa nói chuyện với bạn bè.
Hàng ngày, bạn tù chia phiên nhau giúp đỡ cho ba người đang bị phạt. Các anh Thiếu Tá Hoàng Văn An, Đại Úy Vương Thành Lân, Đại Úy Nguyễn Hữu Quang, Đại Úy Phạm Xuân Độ, và Đại Úy Đỗ Dũng là những người tôi gặp mặt thường xuyên, ngoài ra còn nhiều bạn khác nữa. Họ lo cho tôi vào giữa trưa, và lo cho anh Trụ, anh Cả vào lúc xế chiều. Nếu hôm nào cả trại phải đi lao động suốt ngày, thì các anh trực lán sẽ làm công tác cứu trợ.
Thời gian này người tù mang cơm cho nhà kỷ luật là Nguyễn Hữu Quang, bạn cùng khóa Võ-Bị của tôi. Những khi có dịp thuận tiện, anh Quang thường lén lút ém thêm phần ăn cho người bị giam.    Cũng may những chuyện này không đổ bể. Chứ cai tù mà biết được thì các bạn tôi chỉ có nước vào cùm!
Trong cảnh hoạn nạn, tôi đã không bị bạn bè bỏ rơi. Những sự trợ giúp ấy đã khiến tôi tăng thêm sức lực cả về thể chất lẫn tinh thần. “Khốn khó có nhau, là huynh đệ chi binh!” phải gặp cơn nguy biến mới thấy cái cao đẹp của tình đồng đội.
Những tháng tiếp theo, tôi và hai anh bạn bị đưa đi vòng vòng, lần lượt nhốt trong các trại tù quanh vùng Cẩm-Nhân, Yên-Bình. Mỗi khi tới trại mới, ba “cải tạo viên” vượt ngục lại trở thành những cái bao cát cho bọn vệ binh của trại đó thực tập võ nghệ.
Cuối cùng chúng tôi bị dẫn vào Trại 2 trong Tích-Cốc, nhốt chung với một tay “Papillon” của trại này. Anh ta nằm trong căn bìa của nhà kỷ luật, cách tôi một tấm phên.
Ghé mõm sát cái lỗ nhỏ dưới chân vách, tôi hỏi nhỏ,
– Này! Tên gì? Cấp gì?
– Thường! Đại úy!
– Đi lúc nào?
– Sau các cha một tháng.
– Mấy người?
– Bốn.
– Ba ông nội kia đâu?
– Thoát rồi!
– Còn cha? Sao lại nằm đây?
– Mình bị sa ruột, giữa đường đành bỏ cuộc, bị dân quân bắt, dẫn về giao lại cho trại, rồi bị tống vào đây.
– Đã bị chấp cung chưa?
– Rồi!
– Có bị đánh không?
– Tơi bời! Đau lắm các cha ơi!
Mấy ngày sau, người đưa cơm của Trại 2, vốn là một đại úy Biệt Động Quân thì thầm với tôi rằng,
“Một toán vệ binh của Trại 2 đã kêu gọi được ba người bạn của anh Thường ra đầu hàng rồi. Nhưng ngay sau đó, chúng bắn chết hết ba người này, rồi đổ hô là họ bỏ chạy lúc ban đêm!”
Nghe chuyện này, tôi nhớ lại cái đêm trời tối đen như mực cách đó không lâu, nếu tôi nghe lời tên vệ binh, bước ra khỏi cổng để lên ban chỉ huy ký giấy cho về đội lao động, thì tôi đã bị bắn chết rồi!  Cuối năm 1978 có tin Trung-Cộng sắp đánh Việt-Cộng, ba chúng tôi lại bị còng dính vào nhau đưa lên xe, vượt sông Lô, qua đèo Khế, ghé Tân-Trào, rồi chạy một lèo về Trại Phú-Sơn 4, Thái-Nguyên.
Tại đây, vừa được tháo còng ra, tôi đã bị tống vào đội trừng giới số 12 toàn là dân vượt ngục, chuyên làm lò gạch. Đồng cảnh ngộ, nên anh em trong đội này đã thương yêu, đùm bọc lẫn nhau như người thân trong một nhà.
Tháng Ba năm 1979 quân Tầu ào qua biên giới, chúng tôi lại bị còng từng cặp, đưa lên Molotova, chạy một mạch qua thủ đô Hà-Nội về tuốt miệt Hà-Nam, Phủ-Lý.
Trong lúc chờ phà vượt sông Hát, đoàn xe bị dân chúng ném đá tơi bời. Tù chỉ còn nước ôm đầu, úp mặt xuống sàn xe. Thì ra dân chúng tưởng chúng tôi là tù binh Trung-Quốc!
Đến khi biết trên xe là tù cải tạo Việt-Nam Cộng-Hòa thì dân chúng lại đua nhau ném chúng tôi lần nữa! Chúng tôi lại lo ôm đầu, úp mặt. Nào ngờ, lần này đầu cổ, tóc tai lãnh toàn là xôi, đường, kẹo bánh, xu hào, cải bắp!
Quý hóa hơn mọi món quà mà chúng tôi nhận được ngày hôm đó là, lần đầu kể từ khi bại trận, chúng tôi lại được nghe hai tiếng “Hoan hô!” từ miệng của đồng bào tôi.
Dù chỉ có vài tiếng “Hoan hô!” rụt rè phát ra trong đám đông thôi, đã khiến đôi mắt tôi cay xè. Nhìn sang bên, tôi thấy mặt anh bạn chung còng cũng nhạt nhòa nước mắt…
Từ ấy, cứ vài năm một lần, tôi lại bị chuyển sang trại mới, cuối cùng là Z30 D Hàm-Tân. Tới năm 1988 tôi được tha.
Nhớ lại, một ngày mùa đông năm 1965, tôi đã quỳ xuống giữa vũ đình trường Lê-Lợi Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam để tuyên thệ rằng sẽ đem xương máu mình bảo vệ tổ quốc, phục vụ đồng bào. Sau khi đứng lên, tôi trở thành một sĩ quan Biệt Động Quân. Qua bao nhiêu năm xông pha nơi chiến trường, rồi trầm luân trong tù ngục, tôi vẫn ghi tạc trong lòng một lời khuyên,
“Thà làm một viên ngọc nát, chứ không làm một viên ngói lành!”

Vương Mộng Long Seattle, tháng 3 năm 2012

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Viên Ngọc Nát _ Hồi Ký Vương Mộng Long -K20

Mấy ngày chủ nhân Căn nhà nhỏ ở Nam Cali

Lâu nay anh chị em ở Nam Cali biết K1 Huỳnh Vĩnh Hưng có vợ nhưng dấu kỹ lắm. Hội họp cũng đi một mình, tiệc tùng cũng chỉ mình một . Nhưng vừa rồi nhân dịp NCV hội ngộ các bạn nhất là các bạn K1, có lẽ thấy mình từ xa đến mà có dẫn vợ theo nên Hưng cũng mạnh dạn dẫn vợ ra trình diện. CNN liền lấy máy hình ra chụp lia lịa. Quí vị nào chưa được hân hạnh biết bà Hưng thì đây vài tấm hình xem cho biết để ra đường nếu có gặp thì biết mà chào chị Hưng.

Mình về Cali dự Đại Hội trường xưa và đây là hình của mình mặc quốc phục xách lồng đèn cho ra vẻ ông cụ trong khi mấy bà già (60-70) múa.

Mình cũng đi San Diego thăm  Cựu Trung tá Phạm khắc Đạt, xếp Hậu Nghĩa của mình, năm nay đã 80 nhưng còn rất khỏe, luôn luôn tươi cười, ngày nào cũng đi đánh quần vợt. Hình nầy mình chụp khi xếp hát tặng mình một bài ca.
Mình cũng ghé thăm Hoàng Tuấn, vùa là bạn học Trần Quí Cáp vùa là đồng môn Học viện. Sức khỏe Tuấn có vẻ không khá lắm. Tuấn có niềm vui của người lớn tuổi khi qua Mỹ đó là giữ cháu cho con đi làm.

Về Cali muốn gặp bạn bè thì nhớ ghé uống Ca phê Lan Hương ( or Hương Lan) vào sáng Chủ nhật. Tại đây mình găp lại K1 Bùi văn Hùng Cựu CHT BCB cảnh sát quận Đúc Hòa.

Và cũng tai đây mình gặp anh Trưởng K1 thân thương của chúng ta.

Ngày 28 tháng 6 là ngày sinh nhật của mình, trước đó gia đình mình có plan đi San Francisco nhưng vợ và con mình đồng ý hủy bỏ để ở lại Nam Cali và tổ chức sinh nhật 70 năm cuộc đời cho mình. Cám ơn các bạn Ngưu, Ánh, Lượng Liềm và vợ chồng Hưng đại diện anh em K1 đến dự tiệc và tặng cho mình chiếc bánh sinh nhật vừa ngon vừa đẹp và có 7 đóa hoa hồng tượng trưng cho ý nghĩa của ngày sinh nhật. Mặc dù ở Cali gần 10 ngày nhưng còn nhiều bạn bè không gặp được, chẳng hạn sáng chủ nhật hai bạn Lượng và Hưng đưa tôi đến thăm chị Thủy Thiên Nga, nhưng chị không có nhà.

Mời xem vài hình ảnh của mấy ngày hội ngộ vừa qua

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mấy ngày chủ nhân Căn nhà nhỏ ở Nam Cali

July Happy Birthday

Mình đi vacation vừa về tới nhà lúc 11:30PM khuya ngày 7/1/12 , liền vội vàng post mục Happy Birthday đến các bạn có ngày sinh trong tháng Bảy. Đặc biệt chúc mừng sinh nhật bạn Huỳnh Vĩnh Hưng sẽ được bà xã tổ chức sinh nhật họp mặt với anh em vào cuối tháng bảy nầy. Nhân đây cũng xin cám ơn bạn Hưng và các bạn Nam Cali đã dành cho chúng tôi những ngày vacation rất vui vẻ và hạnh phúc trong tình Học Viện.
CNN

– Hà Đa Thọ                                (01-7-45)
– Nguyễn Thanh Hoàng          (02-7-47)
– Nguyễn Bá Hùng                    (06-7-42)
– Huỳnh Tỏ                                 (06-7-43)
– Trần Nghĩa Hiệp                     (07-7-45)                    
– Nguyễn Tiến Ích                     (07-7-46)
– Đoàn Ngọc Vỹ                          (08-7-42)
– Lưu Nghĩa Hiệp                       (08-7-43) 
– Nguyễn Bá Phúc                      (09-7-46)
– Tống Văn Thừa                        (09-7-42)
– Võ Văn Thêm                           (10-7-44)
– Trần Thận                                  (15-7-45)
– Đào Ngọc Hồng                        (15-7-43)
– Hà Thị Hạnh                             (16-7-43)
– Đỗ Văn Ngà                               (16-7-44)                      
– Trần Kim Chung                      (17-7-43)
– Quang Văn Hoàng                  (19-7-45)
– Vỏ Thị Tô                                   (20-7-43)
– Nguyễn Thị Cẩm Y                  (20-7-44)                     
– Nguyễn Thanh Minh             (20-7-42)
– Diệp Thị Sáu                             (22-7-44)                      
– Thái Văn Lâm                           (22-7-43)
– Nguyễn Hữu Mão                    (23-7-42)
– Huỳnh Vĩnh Hưng                   (27-7-42)
– Phạm Thị Loan                          (28-7-46)
– Trần Ngọc Bữu                           (28-7-46)
– Phạm Văn Các                            (28-7-45)
– Nguyễn Văn Bi                           (30-7-43)

 Mời các bạn thưởng thức nhạc phẫm

Happy Birthday To You

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở July Happy Birthday

Hội TT CSQG-WA và ngày Quân Lực 19-6

Ngày Quân Lực VNCH  tại Seattle Washington được tổ chức trọng thể vào trưa ngày thứ Bảy 16 tháng 6 năm 2012. Bên cạnh các đoàn thể quận đội VNCH có sự hiện diện của thành phần ban Chấp Hành Hội Tương Trợ CSQG tiểu bang Washington như chiến hữu Chủ Tịch Trần Đờn, Phó Chủ Tịch Nguyễn hữu Ký, Thủ quỷ Nguyễn thi Loan và một số chiến hữu CSQG tại địa phương đến tham dự.
Đặc biệt sau khi chiến hữu Trần Đờn đi dự Đại Hội Tổng Hội CSQG tại Nam Cali về có đem theo bài ca “Lá Cờ Thiêng“, bài ca được ghi nhận là được tán thưởng nhất tại Đại Hội. Chiến hữu Trần Đờn và các chiến hữu trong ban chấp hành Hội TT CSQG WA đã tập dược và trình diễn thành công trong ngày lễ hội Ngày Quân Lực  tại Seattle vừa qua.

 

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội TT CSQG-WA và ngày Quân Lực 19-6

BỐ TÔI, NGƯỜI LÍNH VNCH _ Hải Lê (Internet)

BỐ TÔI, NGƯỜI LÍNH VNCH

Tôi có một người cha già, lại tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “Ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.

Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe , cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim..vv…
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.
Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng  suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triều mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.
Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.
Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa
Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những giòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.
Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở cấp đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.
Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.
“Này Tammy”
Tôi thường trả lời “Dạ, gì thế bố?”
“Bố thương con nhiều.”
“Con cũng thế. I Love You!”
Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắc là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại.)
Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là Chùa Một Cột, Chùa Thiên Mụ, Cầu Tràng Tiền v.v…
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 75, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều, ông là người lính bại trận, nhưng quân lực ấy đã chiến đấu dũng cảm cho tự do, cho hạnh phúc của người dân miền Nam trong suốt 20 năm. Nếu không bị đồng minh bán đứng, cuộc chiến chưa chắc ai thắng ai.
Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.
Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”
Ngày lễ cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần.”
Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đàng sau, những ngày tháng cũ, 68, 70, 71, 72… với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh… Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.
Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, Bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho một cuộc chiến đầy chính nghĩa, bảo vệ quê hương.
Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã trễ! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với giòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, ba thương con nhiều! Vĩnh biệt!”
Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời mãi mãi không còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác, tôi bỏ theo khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thấm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi.
Happy Father’s Day
Mừng Ngày Hiền Phụ
Hải Lê theo Angie Kucer
                                            Image Detail
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BỐ TÔI, NGƯỜI LÍNH VNCH _ Hải Lê (Internet)

Thông Báo của TH CSQG_Về việc thành lập Ban Sử Liệu CSQG.VNCH

TỔNG HỘI CẢNH SÁT QUỐC GIA VNCH
Federation of South Vietnam Police Associations

9565 Mc FADDEN Ave WESTMINSTER CA 92683
Tel
: (714)775.0251 & (714)839.9189
E.mail
: anquantran@socal.rr.com & nguutphan7592@yahoo.com

Số: .71. /TH.CSQG

 

THÔNG BÁO

Về việc thành lập Ban Sử Liệu CSQG.VNCH

 

Hội Đồng Quản Trị Tổng Hội CSQGVNCH trân trọng thông báo cùng quý Niên Trưởng và quý Chiến Hữu:

 Đại Hội Tổng Hội CSQGVNCH kỳ 6 tại Orange County ngày 26 tháng 5-2012 đã chấp thuận đề nghị của Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị về việc thành lập Ban Sử Liệu CSQG.VNCH và cử chiến hữu Thái Văn Hòa phụ trách phần nhiệm này.

Hội Đồng Quản Trị Tổng Hội CSQG-VNCH quyết định:

 – Ủy nhiệm chiến hữu Thái Văn Hòa, Phụ Tá Tổng Hội Trưởng ĐT/Kế Hoạch, phụ trách thành lập Ban Sử Liệu CSQG.VNCH. Chiến hữu Thái Văn Hoà có nhiệm vụ phát hoạ tổ chức, đề cử nhân sự, dự thảo kế hoạch hoạt động để hoàn tất quyển Sử Liệu Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà trong nhiệm kỳ hiện nay của Tổng Hội CSQG.VNCH (2012-2015)

 – Về quy định của Hội Đồng Quản Trị trước đây về tổ chức, nhân sự của Ban Cảnh Sử, nay sẽ do Chiến Hữu Thái Văn Hòa sắp xếp lại và xin quý Niên Trưởng và quý Chiến Hữu vẫn sẵn lòng trợ giúp cho đến khi công tác này hoàn tất.

 Hội Đồng Chấp Hành Tổng Hội CSQGVNCH sẽ hỗ trợ tài chánh, tài liệu, nhân sự cho chiến hữu Thái Văn Hoà hoàn thành nhiệm vụ được giao phó.

 Trân trọng kính báo.

 California, ngày 6 tháng 6 năm 2012

TM. TỔNG HỘI CSQG-VNCH

TRẦN QUAN AN

Bản sao kính gởi:

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

– Hội Đồng Cố Vấn

“để kính tường

– Hội Đồng Chấp Hành

– Các Liên Hội – Hội – Đại diện TH

để tường và yểm trợ

– CH Thái Văn Hòa

để thi hành”

– Hồ Sơ – Lưu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thông Báo của TH CSQG_Về việc thành lập Ban Sử Liệu CSQG.VNCH