Bài phát biểu của K1 Phan Tấn Ngưu trong lễ Kỷ Niệm 45 năm Học Viện CSQG

 

Bài phát biểu của cựu SVSQ K1 Phan Tấn Ngưu trong ngày Kỷ Niệm 45 năm Học Viện CSQG 3-7-2011 tại  San Jose California.

Trong Ngày Kỷ Niệm 45 năm ngày thành  lập Học Viện CSQG, cựu SVSQ K1 PHAN TẤNNGƯU đại diện tập thể cựu SVSQ bày tỏ lập trường trước hiện tình Đất Nước.

(trích từ Gia Đình CSQG)

          Thưa các bạn đồng môn Học Viện CSQG

         Hơn 3 thập niên đã hết thời chinh chiến, nhưng sao lòng người vẫn còn quá nỗi điêu linh. Với nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân, dù không được thực thi toàn vẹn, nhưng mỗi chúng ta cũng đã có được sự an ủi là đã đóng góp tất cả công sức, kể cả xương máu của anh em mình, trong công cuộc ổn định tình hình và bảo vệ cuộc sống cho mọi người dân, từ thành thị cho đến thôn quê. Những hình ảnh của toàn cảnh miền Nam, cho đến ngày 30-4-1975 đã in sâu vào trong ký ức của mỗi chúng ta, để khi ngày nay phải xa cách nó, chúng ta mới thấy được phần nào cái giá trị của những sự hy sinh của tất cả Quân Cán Chính VNCH, của Lực Lượng CSQG, mà trong đó, những SVSQ của Học Viện CSQG là một nhân tố không thể không nhắc đến.

       Từ những tin tức nhận được hàng ngày trên khắp thế giới, kể cả ở Việt Nam, cùng với sự tìm hiểu riêng của mỗi người, chúng ta mới thấy được đất nước lại đang đứng trước một đại họa ngoại xâm, mà tên cướp nước lại là đồng bọn với kẻ bán nước, hiện đang thống trị đất nước và dân tộc Việt Nam thân yêu. Bây giờ chúng ta phải tự hỏi, là làm sao để cứu nước, cứu dân! Đã lâu lắm rồi, cả gần 80 triệu người ở trong nước cũng như ở ngoài nước đã có cùng một câu hỏi và cũng chỉ có cùng một câu trả lời:  Đó là “phải lật đổ chế độ cộng sản!”

     Cuộc chiến hôm nay phải là cuộc chiến của toàn dân, mà động lực chính là sự nỗi dậy của người dân quốc nội, là thành phần bị chà đạp dưới sự cai trị đầy bất công, vô đạo suốt 36 năm qua. Gần đây nhất, có lẽ chúng ta cũng đã thấy được người dân quốc nội đã đồng loạt tổ chức xuống đường, chống bọn Trung cộng cướp nước, từ những ngày đầu tháng sáu vừa qua. Ban đầu, với mục đích chỉ chống bọn cướp nước và đến một lúc nào đó, với sự kết hợp toàn dân đã và đang chống bất công, chống tham nhũng, chống những kẻ ác. v.v…như hiện nay, sẽ là một mãnh lực, một cơ hội cho nhân dân ta đánh đuổi bọn tà quyền cộng sản. Tình hình hiện nay ở Việt Nam có được, là kết quả của những cuộc cách mạng chống độc tài thành công ở các nước vùng Bắc Phi và chính đó là nhân tố đang kích thích lòng yêu nước, dám chấp nhận tù đày, kể cả sự chết chóc để nổi lên lật đổ bạo quyền.

    Người dân quốc nội đã làm được như vậy, ở hải ngoại chúng ta phải làm gì? Đây là vấn đề chúng ta phải biết và phải tự hỏi mình. Việc bảo vệ Tổ Quốc, không chỉ của riêng một tổ chức, một lực lượng nào mà là của của tất cả mọi người, từ trong nước cho đến hải ngoại. Trong nước đã dám hy sinh, vì có biết bao người đang bị cầm tù, bị hành hạ, kể cả bị thủ tiêu… chỉ vì dám nói lên nguyện vọng chính đáng hầu dành được sự tự do, sự công bằng, cũng như dành được quyền làm chủ vận mệnh của chính mình, một thứ quyền đã được quốc tế công nhận, thì tại hải ngoại, ít nhất chúng ta phải làm sao cho xứng đáng với những sự hy sinh đó.

                Đã đến lúc chúng ta không thể thờ ơ trước sự tồn vong của Tổ Quốc Việt Nam, một Tổ Quốc mà chính chúng ta, những người Sinh Viên Sĩ Quan của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã cùng với Quân Lực VNCH phải đổ xương máu để bảo vệ nó, bảo vệ từng tấc đất, từng con sông và cho từng hơi thở của người dân.

       Giờ đây, trước mặt mọi người, trước những vị đã một thời lãnh đạo mái nhà Học Viện CSQG, tôi xin quý anh chị em có mặt cũng như không có mặt hôm nay, hãy thông báo cho nhau được biết tâm tình này để cùng nắm tay nhau, cùng nguyện hy sinh hơn nữa, hãy đoàn kết nhau như anh em một nhà và luôn nghĩ rằng, những gì chúng ta đang, sẽ làm hôm nay và mai sau, tất cả chỉ vì Tổ Quốc Việt Nam!

                Thưa các bạn,

                Lời thề “Tận Trung Báo Đền Tổ Quốc” mà chúng ta đã hơn một lần lập lại trong những lễ mãn khóa luôn sẽ là kim chỉ nam cho tất cả chúng ta trong bước đường chông gai sắp tới, khi quyết cùng với toàn dân cứu nước và xây dựng nước !

                Trân trọng kính chào quý vị và các bạn.

K1 Phan Tấn Ngưu

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài phát biểu của K1 Phan Tấn Ngưu trong lễ Kỷ Niệm 45 năm Học Viện CSQG

Bài Nhận Định Tình Hình Đất Nước Của K1 Lê Phát Minh

 Chọn Hướng Đi Đúng Mới Bảo Vệ Được Tổ Quốc

K1 Lê Phát Minh

(Trích từ Gia đình CSQG)

Chúng ta thử tìm hiểu nguyên nhân nào Trung Cộng càng ngày càng bộc lộ hẳn ý đồ muốn biến Biển Đông thành sở hữu chủ riêng của họ bất chấp sự công bằng và luật quốc tế về biển, mà 119 quốc gia đã ký kết ngày 10 tháng 12 năm 1982, trong đó có Trung Cộng và Việt Nam (1).
I. Vì Sự Sống Còn Của Chế Độ Trung Quốc
Sau cuộc chiến Hoa Việt năm 1979 và trước áp lực tranh chấp biên giới với Liên Sô, ông Đặng Tiểu Bình và thành phần lãnh đạo nhà cầm quyền Trung Cộng, nhận chân hệ thống tổ chức quân đội và thiết bị quân trang, quân dụng, vũ khí của họ đã lỗi thời; nếu không kịp thời canh tân và trẻ trung hóa hàng ngũ quân đội thì không đủ sức đương đầu với Liên Sô và giữ vị thế một siêu cường vùng Đông Nam Á Thái Bình Dương trước sự tiến bộ về mọi lãnh vực của các quốc gia Tây Phương. Nhưng muốn hiện đại hoá quân đội, cần có một ngân sách rất lớn, nhưng với tiềm năng kinh tế hiện hữu, không thể nào đáp ứng. Hoa Kỳ thay đổi chính sách ngoại giao đối với Trung Cộng và muốn giúp quốc gia này có thể vươn lên đứng thế đối nghịch lại Liên Sô. Hoa Kỳ dành nhiều dễ dãi cho du sinh của Trung Cộng đến học các trường Đại Học danh tiếng cũng như lãnh vực mậu dịch cũng được dành cho mọi sự ưu đãi. Nhân cơ hội này, thành phần lãnh đạo đảng cộng sản Trung Quốc quyết định thay đổi tư duy, tầm nhìn, thể hiện qua lời tuyên bố của ông Đặng Tiểu Bình: “Không cần biết Mèo Trắng hay Mèo Đen, chỉ cần biết con mèo nào bắt được chuột mà thôi”. Và với quan niệm này, nhà cầm quyền Trung Cộng đã quyết định chuyển đổi nền kinh tế tập trung trong xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường, kết quả đã giúp nền kinh tế Trung Cộng phát triển nhanh chóng như chúng ta đã thấy ngày nay.
1. Mất Quân Bình Xã Hội Trong Tiến Trình Phát Triển Kinh Tế.
Tiến trình phát triển kinh tế, nhờ vào khối nhân công khổng lồ vô tận, vừa cần cù vừa dễ bảo, đáp ứng được sự cạnh tranh trên thị trường nhân công, cho phép giá thành sản xuất hàng hóa Trung Cộng thật thấp, thừa sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, đem về cho Trung Quốc một khối lượng ngoại tệ khổng lồ. Đồng thời cũng tạo ra sự mất quân bình xã hội, sự cách biệt giàu nghèo giữa người có thế lực và dân thường, giữa dân thị thành với dân thôn quê, nhứt là giữa những tỉnh Miền Nam và vùng Duyên Hải với các tỉnh nằm sâu trong nội địa, sự cách biệt này quá lớn (2). Nếu đem so sánh mức sống trung bình của dân Bắc Kinh, và thị dân các tỉnh miền Nam và vùng duyên hải với mức sống trung bình của nông dân ở Quý Châu, Tây Tạng, Tân Cương, giống như so sánh mức sống của người dân Âu Châu với dân ở Phi Châu không phải là quá đáng.
Trong cuộc họp hàng năm Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc ngày Thứ Sáu 15 tháng 10 năm 2010 vừa qua tại Bắc Kinh, đưa ra kế hoạch 5 năm về kinh tế để có thể nâng cao nếp sống người dân ở nông thôn. Bởi đảng Cộng Sản Trung Quốc đang lo ngại trước sự bất mãn càng ngày càng nhiều của mọi tầng lớp dân chúng và ngay trong nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc, vì nếp sống cách biệt giữa nghèo và giàu càng lớn và tệ nạn tham nhũng là nguyên nhân chính góp phần cho sự bất mãn. Chính vì vậy mà có hiện tượng Ôn Gia Bảo mà thế giới đã bàn tán trong thời gian gần đây. Thủ Tướng Ôn Gia Bảo nhận thấy có thể sẽ có một cuộc  nổi loạn nếu không kịp thời cải cách chính trị, bằng không công trình cải cách kinh tế sẽ tan theo mây khói. Ông Ôn Gia Bảo đã công khai kêu gọi Cải Cách Tự Do Dân Chủ và phải chấm dứt cai trị bằng nghị quyết, sắc lệnh của thời kỳ tiền cách mạng, mà nhà cầm quyền phải tuân thủ theo hiến pháp và luật pháp, không một ai có thể đứng trên pháp luật.
Trung Cộng với diện tích hiện hữu  3.696.100 dặm vuông, chỉ bằng diện tích lãnh thổ của Hoa Kỳ, nhỏ hơn Canada và Nga (3). Trên thực tế dân Trung Cộng chỉ sống trên  46% lãnh thổ, phần còn lại là núi non hay sa mạc, mặc dù với lãnh thổ rộng lớn như vậy cũng chỉ cho phép dân số tối đa có thể từ 700 triệu đến 800 triệu để người dân có một nếp sống tương đối mà thôi. Trong khi đó dân số Trung Quốc hơn 1.3 tỷ, chiếm gần 1/5 nhân số thế giới, vượt quá khả năng đáp ứng nhu cầu của tài nguyên thiên nhiên mà đất nước Trung Hoa có.
Giải quyết vấn đề nhân mãn trước nguồn tài nguyên thiên nhiên giới hạn, nhà cầm quyền Trung Cộng áp dụng các chính sách cưởng bách gia đình chỉ có một con, nhưng kế hoạch này phải tới một thế kỷ sau mới đem lại kết quả. Để giải quyết tức thời nạn nhân mãn họ đã âm thầm di dân và giải quyết vấn đề thất nghiệp qua các công trình thầu xây dựng hay mướn đất, mướn rừng dài hạn tại những quốc gia Phi Châu hay các nước láng giềng để biến những công nhân của họ trở thành cư dân quốc gia sở tại, suốt mấy chục năm qua, nhưng ngày nay đã bị phản đối khó mà tiếp tục thực hiện âm mưu của họ (4).
2. Vì Nhu Cầu Sống Còn
Với mô hình phát triển kinh tế của Trung Cộng hiện tại dựa vào dân số đông đúc như là nguồn tài nguyên phát triển kinh tế, chú trọng về số lượng sản xuất hàng hóa thông thường hơn là nặng về phẩm chất, do đó đòi hỏi một số lượng nguyên liệu và nhiên liệu khổng lồ mà bản thân đất nước họ không đủ, cho nên lệ thuộc nhiên vật liệu nhập cảng rất lớn, nhứt là dầu hỏa, nhu cầu càng ngày càng gia tăng.
Thấy được các khuyết điểm này, giới lãnh đạo Trung Cộng muốn chuyển đổi từ nền kinh tế sản xuất thiên về số lượng, sang phẩm chất. Nhưng trước hết phải đầu tư vào lãnh vực giáo dục, nâng cao kiến thức khoa học, kỹ thuật, và cần phải có một kinh phí thật lớn và lâu dài. Tuy nhiên, điều này họ có thể khắc phục được, nhưng lực lượng lao động phổ thông (lao động tay chân hơn là trí óc) không được xử dụng sẽ dẫn tới nạn thất nghiệp cao, có thể gia tăng lên tới 200-300 triệu người, lại là một vấn nạn nghiêm trọng, làm bất ổn xã hội có thể đưa đến sụp đổ chế độ.
Đó là những khó khăn mà nhà cầm quyền Trung Cộng đang đương đầu, không giải pháp nào trọn vẹn, được cái này thì mất cái kia, hơn nữa mô hình kinh tế hiện tại đem lại nguồn ngoại tệ lớn lao cho họ. Giải pháp để sống còn duy nhứt trong hiện tại là tiếp tục giữ mô hình kinh tế hiện hữu và xử dụng sức mạnh quân sự giành hết nguồn tài nguyên Biển Đông, nơi có trữ lượng dầu hỏa, khí đốt và nguồn hải sản khổng lồ, có thể giải quyết các khó khăn mà họ đang gặp phải. Chính vì vậy trong những ngày gần đây, nhà cầm quyền Trung Cộng bất chấp luật quốc tế về biển, tự nới rộng lãnh hải, theo hình lưởi bò hay đường ranh giới lãnh hải 9 điểm, vẽ sát vào bờ biển các quốc gia nằm ven biển, chiếm gần 80% diện tích Biển Đông.
Qua các sự kiện vừa nêu trên, cho chúng ta thấy rõ nhu cầu thiết yếu và ý đồ của Trung Cộng trong việc tranh chấp tại Biển Đông, để người Việt Nam chúng ta lựa chọn giải pháp thích nghi và hữu hiệu hầu bảo vệ vẹn toàn biển đảo và quyền lợi kinh tế trên Biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam kể cả về lịch sử và luật pháp quốc tế.
II. Trước Thế Cờ Quốc Tế Tại Biển Đông Việt Nam Phải Làm Gì Trong Bối Cảnh Hiện Tại
Với sự thành công trong công cuộc cải cách kinh tế đã đem lại nguồn ngoại tệ khổng lồ, giúp cho nhà cầm quyền Trung Cộng đủ tài chánh, tiếp tục hiện đại hoá quân đội như mong muốn.
Theo nhận định của giới phân tích quân sự và tình báo cho biết trong vòng một năm tới, sự tranh chấp vùng Biển Đông sẽ trở nên tồi tệ hơn khi Trung Cộng hoàn tất việc sản xuất 8 tiềm thuỷ đỉnh nguyên tử có khả năng mang hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử với tầm đạn đạo xuyên lục địa,  hăm dọa đến nền an ninh lãnh thổ Hoa Kỳ. Và sự phân tích của chuyên viên Ngũ Giác Đài Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ qua không ảnh và tình báo, gần đây cho biết Trung Cộng đang xây cất đường hầm trong sườn núi tại đảo Hải Nam, cao 60 feet (18.288 meters) có thể chứa 20 tiềm thủy đỉnh nguyên tử và trong năm 2010 có thể cho hạ thủy 5 tiềm thủy đỉnh nguyên tử loại 094 có khả năng mang 12 hỏa tiễn JL-2 mang đầu đạn nguyên tử.
Ngoài ra Trung Cộng đã mua lại hàng không mẫu hạm của Nga để tân trang cũng như mô phỏng theo đó để đóng thêm ít nhứt 5 hàng không mẫu hạm trong vòng 5 năm đến 10 năm tới (5).
Với tham vọng muốn biến Biển Đông thành của riêng của mình, Trung Cộng chủ trương dùng sức mạnh tạo áp lực trong vấn đề tranh chấp và chính vì vậy đã có một vài đụng chạm với Hoa Kỳ trên Biển Đông, như trường hợp xảy ra vào tháng 7 năm 2001, khi phi cơ thám thính EP-3 của Hoa Kỳ thực hiện chu kỳ quan sát trên không phận quốc tế gần đảo Hải Nam bị chiến đấu cơ Trung Cộng lên khuấy nhiễu gây tai nạn đã phải đáp khẩn cấp xuống phi trường tại Hải Nam.
Và những đụng chạm nho nhỏ khác trên vùng biển đảo Hải Nam trên hải phận quốc tế sau này, bắt đầu từ 4 tháng 3 năm 2009, phi cơ và tàu đánh cá Trung Quốc lởn vởn bám sát tàu USNS Victorious  thăm dò lòng biển của Hoa Kỳ trên vùng hải phận quốc tế gần đảo Hải Nam, đến ngày 8 tháng 3, 5 tàu đánh cá Trung Quốc bao vây tàu thăm dò lòng biển USNS Inpeccable Incident trong vòng 2 tiếng đồng hồ, khi thuyền trưởng tàu thăm dò Hoa Kỳ báo động và cầu cứu, sau đó tàu hải quân Trung Quốc đến giải tỏa. Sau sự việc quấy nhiễu này, chính quyền Hoa Kỳ phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc đồng thời cho chiến hạm đến hộ tống các tàu thăm dò lòng biển suốt lộ trình công tác, để tỏ rõ thái độ quyết tâm của Hoa Kỳ vì đây là hải phận quốc tế.
Ngoài ra, Trung Cộng đã tổ chức cuộc tập trận bằng đạn thật trong vùng biển Đông Hải gần đảo Kawasaki của Nhựt trong 5 ngày kể từ 30 tháng 6, như là một hành động khiêu khích Hoa Kỳ. Trong cuộc tập trận này Trung Cộng đem ra thử nghiệm loại hỏa tiễn đạn đạo có tên là “Sát thủ của hàng không mẫu hạm” (Aircraft Carrier Killer).
Ngày 28 tháng 6 năm 2010, 2 ngày trước khi Trung Quốc bắt đầu tập trận, Hoa Kỳ đã điều động 3 tiềm thủy đỉnh lớn và tối tân nhứt trong Đệ Thất Hạm Đội, trong thời kỳ còn chiến tranh lạnh các loại tiềm thủy đỉnh này mang 16 hoả tiễn Trident với đầu đạn nguyên tử, nhưng ngày nay được tối tân hóa mang hoả tiễn Tomahowk, mang đầu đạn có sức tàn phá mạnh và chính xác bất cứ địa điểm nào trên đất liền mà Radar địch không thể phát hiện được. Đó là các tàu USS Michigan, được điều tới Pusan, Nam Hàn; tàu USS Ohio tới Vịnh Subic của Phi Luật Tân; và tàu USS Florida tới Diego Garcia trong Ấn Độ Dương. Đây là một dấu hiệu nữa cho thấy Hoa Kỳ đang kiên quyết duy trì vị thế thống lĩnh về quân sự ở Châu Á. Và Hoa Kỳ muốn chuyển thông điệp cho Bắc Kinh và các nước khác, kể cả đồng minh lẫn không đồng minh. (6)
Cũng như trong cuộc họp với các Ngoại Trưởng khối ASIA tại Hà Nội, trong tháng 7 vừa qua Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, khẳng định “lợi ích quốc gia” của Mỹ ở Biển Đông, sẽ không đứng ngoài cuộc tranh chấp, Hoa Kỳ phản đối bất kỳ quốc gia nào sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực ở vùng biển quan trọng này.
III. Kết Luận
Hơn hai thập niên qua, trước sự lấn hiếp của Trung Cộng trong việc tranh chấp biên giới trên đất liền và biển đảo. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, trong thế yếu đã phải chủ trương giải quyết bằng đường lối ngoại giao mềm dẻo. Nhưng kết quả chỉ bị thua thiệt, như trường hợp hiệp ước Vịnh Bắc Việt, dân tộc Việt Nam mất hàng nghìn dậm vuông lãnh hải. Trên đất liền mất hàng nghìn cây số vuông trong đó có thác Bản Dốc, dù nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cố ngăn cấm nhân dân không cho xúc phạm đến Trung Quốc để lấy lòng, cầu mong Trung Cộng thương tình không lấn hiếp.
Những ngư dân Việt Nam tại vùng đánh cá Vịnh Bắc Việt là nạn nhân thường xuyên bị trấn áp, bắn giết của hải quân Trung Cộng, với mục đích làm cho ngư phủ Việt Nam không dám đến đánh cá hầu giành độc quyền cho ngư phủ Trung Quốc. Mặc dù CSVN và Trung Cộng đã ký kết hiệp ước công nhận vùng đánh cá chung giữa ngư dân hai nước.
Riêng khu vực  biển Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, trong vòng tranh chấp, tàu Trung Cộng lấn áp ngư dân Việt Nam qua nhiều hình thức, ngăn cấm đánh cá, đụng chìm tàu, tịch thu cá cùng các phương tiện đánh cá và giam cầm ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc mạng, v.v…
Qua các sự kiện và hành động của Trung Cộng cho chúng ta thấy vì nhu cầu sống còn, Trung Cộng không thể nhân nhượng vì tình hữu nghị hay đàn em chịu thuần phục mà nương tay.
Hiện tại Hoa Kỳ có nhu cầu bảo vệ quyền lợi chiến lược quân sự và kinh tế vùng Đông Nam Á Thái Bình Dương nên phải đứng thế đối nghịch trước tham vọng bành trướng của Trung Cộng, đây là cơ hội giúp cho các quốc gia Biển Đông trong đó có Việt Nam. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải ý thức trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc, phải đặt quyền lợi tổ quốc trên quyền lợi đảng, đừng vì sợ diễn biến hòa bình mà bỏ qua cơ hội họp tác, đồng minh với Hoa Kỳ và cũng là cơ hội tạo sự đoàn kết toàn dân ở hải ngoại và quốc nội cùng nhau bảo vệ tổ quốc.
Bởi trong quá khứ nhà cầm quyền và đảng Cộng Sản Việt Nam đã bỏ qua nhiều cơ hội bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ và quyền lợi kinh tế:
a. Nếu năm 1978 đừng quá kiêu căng của kẻ thắng trận đòi Hoa Kỳ bồi thường chiến tranh, mà chỉ yêu cầu Hoa Kỳ viện trợ tái thiết thì đã bình thường hóa bang giao, không bị Trung Cộng phỏng tay trên. Và cuộc chiến tranh Hoa-Việt không xảy ra vì có Hoa Kỳ đứng đàng sau (7)
b. Bình thường hóa Thương Mại với Hoa Kỳ sau 4 năm thương lượng, dự trù được ký kết trong phiên họp thượng đỉnh các quốc gia Thái Bình Dương tại Tân Tây Lan năm 1998, khi Tổng Thống Clinton đến đây, nhưng giờ chót phái đoàn Việt Cộng không đến, coi như bỏ lỡ cơ hội được Hoa Kỳ đề bạt Việt Nam vào WTO từ năm 2000, và Việt Nam có nhiều cơ hội đón nhận đầu tư nhiều quốc gia Tây Phương thay vì họ đầu vào Trung Cộng.

Qua thời gian dài trong 3 thập niên qua, Trung Cộng ra sức gây thiện cảm với các quốc gia Đông Nam Á qua chính sách kinh tế và ngoại giao. Nhưng khi Trung Cộng muốn dùng sức mạnh quân sự biến Biển Đông thành của riêng mình, khiến cho các quốc gia Đông Nam Á thấy bộ mặt thật của Trung Cộng, nên họ đã phải tìm chổ dựa làm đối lực chống lại sự hung hăng, ngang ngược của Trung Cộng nên ngã hẳn về Hoa Kỳ. Và Hoa Kỳ cũng có nhu cầu về quyền lợi kinh tế và chiến lược vùng Đông Nam Á Thái Bình Dương, do đó họ không thể nhượng bộ ý đồ bành trướng của Trung Cộng và sẳn sàng hỗ trợ cho các quốc Đông Nam Á Thái Bình Dương,“ qua lời tuyên bố của bà Clinton tại Hà Nội trong tháng 7 vừa qua. Cũng như cuộc hợp thượng đỉnh giữa Tổng Thống Hoa Kỳ và nguyên thủ các quốc gia trong khối ASIAN tại New York nhân dịp tham dự phiên họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ngày 24 tháng 9 vừa qua với bản thông cáo chung 25 điều. Đặc biệt điều 18 khẳng định tầm quan trọng của ổn định và hòa bình khu vực, an ninh hàng hải, không cản trở thương mại và tự do hàng hải theo những quy định liên quan được sự đồng thuận của luật pháp quốc tế, gồm Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) và những điều luật hàng hải quốc tế khác, đồng thời giải quyết hòa bình các tranh chấp.
Và mới đây Hoa Kỳ tái khẳng định lập trường về Biển Đông trong cuộc họp cấp Bộ Trưởng Quốc Phòng các quốc gia trong khối ASEAN mở rộng tại Hà Nội vừa kết thúc ngày 14 tháng 10 năm 2010 vừa qua. Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Robert Gates tuyên bố: “Các bên tranh chấp cần được giải quyết một cách hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc cưỡng chế, thông qua quá trình hợp tác ngoại giao, và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Hoa Kỳ luôn luôn thực hiện quyền của chúng tôi và ủng hộ quyền của các nước quá cảnh và hoạt động trên vùng biển quốc tế. Điều này sẽ không thay đổi, cũng như cam kết của chúng tôi tham gia vào các cuộc diễn tập và các hoạt động cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, cũng sẽ không thay đổi”

Điều này cho Trung Cộng hiểu rõ không thể tiếp tục xử dụng luật rừng xanh, hung hăng dùng cường lực nước lớn bắt nạt, cưỡng ép nước bé bất chấp luật pháp quốc tế, nếu họ không muốn bị cô lập. Vì vậy chúng ta thấy Trung Cộng đã xuống giọng, không còn hung hăng như trước đây và trong phiên họp các viên chức, Trung Cộng không lập lại cụm từ “Biển Đông là quyền lợi cốt lõi của họ”, và Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng, Lương Quang Liệt cũng đã tuyên bố: “Trung Quốc đang chuẩn bị hợp tác với các quốc gia về an ninh khu vực và cũng khẳng định việc phát triển quân sự chỉ để tự vệ, không là mối đe dọa các quốc gia láng giềng”. Dù lời tuyên bố này có thực tâm hay không, nhưng cũng cho thấy Trung Cộng đã thấm đòn.
Qua sự kiện này cho chúng ta thấy sự quy lụy, yếu hèn của CSVN không làm cho Trung Cộng thương tình mà nương tay mà còn là một yếu tố khuyến khích cho Trung Cộng lấn ép thêm. Thể hiện qua việc nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam trong quá khứ đã không dám phản đối trước ác tâm của hải quân Trung Cộng bắt giam, cướp bốc ngư dân Việt Nam trên vùng biển tranh chấp (Hoàng Sa và Trường Sa), đòi tiền chuộc mạng hay đụng chìm tàu, mà nhà cầm quyền CSVN cũng không dám nêu đích danh tàu Trung Cộng mà gọi là tàu lạ. Trong khi đó chính quyền Phi Luật Tân, mặc dù quân đội của họ cổ lỗ sĩ hơn Việt Nam, nhưng Phi Luật Tân bảo vệ được ngư dân của họ và còn bắt và xử phạt ngư phủ Trung Cộng khi những ngư phủ Trung Cộng đánh cá trong hải phận Phi Luật Tân, bởi chính quyền Phi Luật Tân thể hiện quyết tâm bảo về chủ quyền lãnh hải của mình dù Trung Cộng phản đối nhưng không dám vượt qua giới hạn.
Nhưng gần đây, trước phiên họp Bộ Trưởng 10 quốc gia khối ASEAN và 8 quốc gia được mời trong đó Hoa Kỳ, Trung Cộng, Nhựt Bổn, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi, Nam Hàn, Nga và Ấn Độ tại Hà Nội. Lần đầu tiên Bộ Ngoại Giao CSVN đã triệu Đại Sứ Trung Cộng đến và đưa công hàm phản đối và buộc nhà cầm quyền Trung Cộng phải thả vô điều kiên 9 ngư dân Việt Nam bị bắt giữ tại vùng biển gần đảo Hoàng Sa ngày 11 tháng 9 vừa qua. Kết quả ngày 12 tháng 10, phía Trung Cộng cho biết họ đã phóng thích ngư dân Việt Nam. Qua sự kiện này, cho thấy khi nhà cầm quyền có quyết tâm bảo vệ công dân của mình,  dù là tiếng nói của một nước nhược tiểu, kẻ thù không thể làm ngơ bởi còn công luận quốc tế.
Riêng hành động của những công dân, sinh viên, thanh niên nam nữ Việt Nam thể hiện lòng yêu nước lên tiếng chống đối hành động xâm lăng của Trung Cộng đối với biển đảo lại bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp giam cầm, hành động này vô hình chung khuyến khích kẻ thù Trung Cộng không tương nhượng trong vấn đề tranh chấp biển Đông bởi họ thấy CSVN quá nhu nhược và sợ hải trước quyền lực của họ.

Và trong điều 4 của thông cáo chung cuộc họp thượng đỉnh tại New York giữa Tổng Thống Hoa Kỳ và lãnh đạo của các quốc gia khối ASEAN, các quốc gia này cũng khẳng định sẽ hợp tác với Hoa Kỳ giải quyết các vấn đề nhân quyền, giáo dục, v.v… Điều này Hoa Kỳ cho các quốc gia trong khối ASEAN biết rằng cần cải thiện vấn đề nhân quyền sẽ giúp cho chính phủ Hoa Kỳ dễ dàng họp tác và hỗ trợ các quốc gia này về mọi mặt trong đó có lãnh vực quốc phòng, vì sự đồng tình của Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ. Trái lại, nếu các quốc gia trong khối ASEAN tiếp tục vi phạm nhân quyền, dù chính phủ Hoa Kỳ có muốn hỗ trợ cũng bị Quốc Hội ngăn cấm.
Vì vậy nhà cầm quyền CSVN phải thức tỉnh, ý thức đặt quyền lợi Tổ Quốc lên trên quyền lợi đảng Cộng Sản, nắm lấy cơ hội này, chấp nhận chế độ tự do dân chủ để trở thành đồng minh của Hoa Kỳ và cũng là cơ hội tạo sự đoàn kết quốc gia dân tộc, cùng nhau chống ngoại xâm.

Houston, ngày 16 tháng 10 năm 2010

K1 Lê Phát Minh

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Nhận Định Tình Hình Đất Nước Của K1 Lê Phát Minh

Bài Thơ Từ Biệt của K1 Hà Thị Hạnh

Anh Vinh thân mến,

Như đã hứa, tôi gởi tiếp cho anh bài thơ xem như tạm thay thế bài viết về cuộc đời tôi, mấy anh đọc cho vui.

Được thư bạn tôi bồi hồi khôn tả,
Sao bạn lành hiểu quá rõ lòng tôi,
Việc ghi ra quá khứ của đời tôi,
Không khó mấy nhưng không còn được phép.

Lúc xưa ấy tôi thường hay ghi chép,
Chép chép ghi ghi nghỉ sẽ mãn nguyền,
Lòng bồi hồi ghi chép liên miên,
Bờ bến đến sẽ là “vùng đất hứa”.

Như bạn biết tôi không làm được nữa,
Đất hứa nào đã từ chối “nạp dung tôi”
Cuộc đời tôi đành phải buông trôi,
Theo năm tháng với tuổi đời chồng chất.

Thời gian ấy … không gian nầy bất tất,
Làm tôi đau, tủi, nhục triền miên,
Nhân quả chi tôi ôm hết ưu phiền,
“Được” ở lại quê hương sao buồn tủi.

Đầu bạc trắng chân đau gối mõi,
Tinh thần suy thân xác chẳng hơn gì,
Sống lạc lõng còn nhọc thân nhục chí,
Đến một lúc tôi giật mình tỉnh trí.
À ra thì ta còn mỗi một con đường,
Con đường nầy không xuống suối trèo non,
Không rừng rậm hay biển to sóng cả,
Đường tôi chọn êm đềm không buồn bả,
Không hơn thua danh lợi bạc tiền,
Không giàu nghèo cao thấp đua chen,
Chỉ thuần nhất nâu sòng dưa muối.

Đã qua rồi những khoảng đời buồn tủi,
Tự tâm mình thay đổi cho mình,
Phải tự cứu bản thân như cứu lửa,
Xin các bạn yên lòng đừng thương (xót) nữa,
Tôi bây giờ không là tôi của trước đây,
Lòng thảnh thơi như gió đưa mây,
Mây trôi mãi tìm về không gian cũ,

Lời tạm biệt đến ĐỒNG MÔN NAM NỮ,
Một ngày nào đoàn tụ, hay chỉ mơ?!
Vẫn chờ !!

Hạnh Hà Tấn Dung

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Thơ Từ Biệt của K1 Hà Thị Hạnh

Thư Cám Ơn và Từ Biệt của Hà Thị Hạnh

Tâm Tình Với K1 Hà Thị Hạnh

From: Vinh Nguyen
Saturday, 3 September, 2011, 12:40 PM

Chị Hà thị Hạnh quý mến. Khi hôm xem một đoan video do Nghĩa thâu ở nhà chị, thấy chị ngập ngừng khi nói đến tên của những người bạn cũ của mình.Tôi làm gấp  slideshow nầy mong đến với chị để an ủi chị trong lúc trống vắng vì thiếu bạn bè. Nay được biết chị sắp xuống tóc đi tu giống như chuyện tình Lan và Điệp. Đúng ra tôi không gởi mail nầy đến chị để chị không bị một sự vấn vương nào trên bước chân về cỏi tịnh. Nhưng lở rồi, chị xem lại lần nữa những khuông mặt thân thương mà chị đang cố nhớ, để rồi mỗi khi chắp tay hướng về Đấng Giác Ngộ trên con đường tu Phật chị hảy cầu nguyện cho bạn bè của chị trong đó có chúng tôi luôn được an lành trong quảng đời còn lại. Mến chúc chị luôn tinh tấn tu học và sớm đạt được ý nguyện của mình.

Chị vào website của Gia đình K1 để xem nhé:

 

From: bala ha
To: Vinh Nguyen
Sunday, September 4, 2011 1:10 AM

Vinh than men ,
Toi that vui va xuc dong voi viec lam cua anh cho tat ca khoa trong do cung co toi. May man co anh Nghia ve VN ghe nha tham , toi co noi viec lam sap toi cua toi…anh ay thay nen luu lai mot vai hinh anh sau cung cua toi truoc khi toi re vao loi khac  . Rat cam on anh Vinh da cho toi thay va chac chan dung ten cac ban nu…nhung hinh anh nay cung se nam trong goi hanh trang toi mang theo vao cua Phat( trong tam ma thoi), Khong phai doi den vao chua toi moi cau nguyen dieu lanh cho ban be, ma toi da lam cong viec nay hang dem 4 nam nay roi, vao moi lan toi le Phat. That su , doi toi la nhung khuc quanh that gat, phai co gang lam moi dat den su Binh An hom nay. Nghia cu dum boc cua cac ban cho toi lam toi vuong van khong.it…toi dang phai thang minh de chuyen su ray rut nay sang mot cach den dap on cac ban cach khac …co le chi co toi biet dieu nay thoi. Toi da xuat gia hom qua 3\9\11.Long toi rat thanh than, cac ban chuc lanh cho toi de toi
di duoc den noi toi muon. Than chuc Vinh va cac ban luon An Lanh, thuan loi trong cuoc song.
Toi phai mo lai hinh ngay dai hoi 45 nam de tim hinh cua anh Vinh cho biet mat.
Bat HanhHa (Thich nu Tan Dung)

From: Vinh Nguyen
To: “bala ha”
 Monday, 5 September, 2011, 1:53 PM

Nam mô A Di đà Phật,

Kính thưa Ni Cô Thích Nữ Tấn Dung

Kính thưa chị Hà Thị Hạnh

Vinh rất xúc động khi được mail hồi đáp của chị. Vinh cầu chúc cho chị gặp được nhiều duyên lành nơi cửa Phật.

Mặc dầu chị đã xuống tóc để trở thành một Ni Cô ngày hôm qua, nhưng Vinh xin chị thêm một điều. Chị bỏ thêm ít thì giờ viết lại cuộc đời của chị  sau năm 1975 đến nay đã trải qua những thăng trầm như thế nào. Và cuối cùng xin chị có lời chào tạm biệt các bạn bè K1, những người luôn luôn nhớ thương chị và mong cho chị được bình yên nơi quê nhà. Chị cố gắng nhé, tôi chờ những giòng chữ thân thương của chị để gởi đến các bạn của mình.

Vinh

From: bala ha
To: Vinh Nguyen
Monday, September 5, 2011 8:48 PM

Anh Vinh men,

Đọc thư anh tôi mới chắc chắn được một điều , thư ” Tạm biệt cả khóa “của tôi trước ngay tôi “xuất gia” đúng 1 tuần, đã không đến được với Ban Đại Diện K1 chúng ta. Cái điều tôi lo lắng nhất lai xảy ra…Những ngày ấy tôi rất lo thư lac…( ly do bên VN bao đường dây cap quang dưới biển bi đứt, thư từ ra nuoc ngoai bi truc trac), thư đến tôi nhận binh thường nhưng thư đi của tôi không đến được ai cả…mãi đến ngay cuối cùng (2/9) hon 10 gio đêm tôi goi đại cho anh Hoàng cầu viện anh ấy tim hiểu xem sự việc…Thôi thi mot chut truc trac nho ngoai y muon, rat may cac anh van biet duoc lối rẽ cua tôi mặc dù không được như ý tôi sắp xếp…chuyện này cũng dẫn đến hậu qủa không nhỏ với tôi. Anh Vinh biết không nếu thư đến đúng như dự định thì tôi đã làm cái việc “TẠ TỪ ” các ban đúng lúc mot cách phải NGHĨA phải TÌNH…Nhưng lời chào tạm biệt sau khi rẽ lối rồi thi không có ý nghĩa ìi hết phải không anh Vinh? Thứ đến thời gian “xuất gia ” tôi đã được nghe những lời giao huấn của SƯ PHỤ tôi,  những điều được và khong được làm của một người TU mới vào chùa như  tôi, lại là NỮ nữa thì có nhiều điếu cấm hơn là nam rất nhiều. Thế nên tôi phải đành thất lễ ” không thể ” viết những gì anh đã gợi ý cho tôi. Tôi chỉ làm được là viết lại lời TỪ BIỆT với cac bạn .Tôi sẽ viết lại lá thư bi lạc mất, nó đã  nằm trong đầu tôi đến từng dấu chấm phết …

   

Thân gởi các anh: Anh Nghiệp, Anh Tóan, Anh Ngưu, Anh Hồng…cùng tất cả ĐỒNG MÔN( Nam Nữ ).
Tôi xin dùng nickname mà anh Nghiệp đã cho tôi ” Bat Hanh” để thay lời cám ơn anh Nghiệp vậy nhé.
Các bạn thân mến, hôm nay “Bat HanhHa” tôi gởi thư này đến cac ban để nói lời “Tạm biệt” các bạn ( chưa đi vùng 5 đâu, chỉ mới 4,5 ). Sức khỏe tôi hiện tại bình thường, sẳn còn khỏe và còn sáng suốt, với sự đồng ý tuyệt đối cua gia đình, tôi thực hiện ngay ý nguyện đã có từ cái ngày vượt qua con bệnh hiễm nghèo( 2007), Các ban đã chung tay hỗ trợ kịp lúc, kéo được tinh thần và thể xác tôi qua  cơn suy sụp tưởng chừng như đã không vượt nổi. Có được ngày hôm nay, nghĩa cữ đùm bọc, sự  thể hiện tình Đồng Môn của các bạn đã làm tôi thật sự xúc động bấy lâu nay mỗi lần tôi nhớ đến. Tôi không biết làm gi để đền đáp. 

 Lý do chính đáng về lời Tạ Từ hôm nay hy vọng không làm các bạn lo lắng…Ngày 3/9 tới đây tôi vào chùa xuất gia học đạo, có nghĩa là tôi đã rẽ sang một hướng khác của đời mình với sự đồng ý của gia đình, mong các bạn cũng vui lòng chúc lành cho tôi và không thot lên câu ( xin phép đạo văn một chút) ” Ngày mai trong đám gìa nua ấy, Có kẽ vào chùa bỏ bạn xưa”! Tôi đã từng lạc đàn rất lâu, vừa nhập lại được, mừng vui chưa trọn vẹn, sự  biến dich của cuộc đời bắt phải nói lời chia tay. Cái điều lớn nhất đời tôi, du duyên nợ đã đến xin các bạn tha thứ, tôi không thể chậm trể nữa e không kip.”Bat Hanh Ha ” tôi có sơ sót điều gì xin cac bạn xóa bỏ hết cho tôi( nhất là các chị em gái của tôi, bấy lâu nay mình không thư riêng nhau nhưng các chị, các bạn luôn ở trong tim tôi). Tôi đắn đo mãi mới thư này cho các bạn,  tôi nghĩ nếu âm thầm ” bỏ cuộc chơi” thi thật ” vô tình, vô ơn” lắm, mong cac bạn thông cãm cho lá thư dài dòng một lần chót này thôi. Không biết quy tắc nhà chùa ra sao, việc gi được, không được làm tôi chưa nắm rõ…nếu còn duyên chúng ta sẽ gặp lại ( trên email). Thân chúc các bạn và  gia đình luôn khỏe mạnh an lành. Nhờ các anh BDD chuyển lời tôi kính chào tạm biệt các thầy, chúc các thầy sống lâu khỏe mạnh , để mãi là chỗ dựa tinh thần cho các Bạn. Xin chào Tạm biệt.

Tôi sẽ gởi cho anh Vinh một bài thơ ngắn tạm thay thế bài viết dài về đời mình mà lúc này tôi không còn được phép làm điều đó nữa.

Bat HanhHa

 

 

Đăng tải tại Tâm Tình K1, Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Cám Ơn và Từ Biệt của Hà Thị Hạnh

Chuyện thật người thật của K1 Phan Quang Nghiệp

NHỮNG HỘI NGỘ KỲ THÚ  :

(Chuyện thật, người thật do người trong cuộc Phan Quang Nghiệp kể.)

  

HỘI NGỘ LẦN THỨ NHẤT: CON TRAI TỈNH ỦY VC BÌNH ÐỊNH. ÂN HAY OÁN? BẠN HAY THÙ ?

Sau 30.4.75 tôi bị 17 năm tù khổ sai biệt xứ, bị đày ải từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam.đến  năm 1992 mới được thả ra. Ngày 13 tháng 8 năm 1993 gia đình tôi được cho tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ, tiểu bang California, thành phố Santa Clara Hay tin  tôi từ Việt Nam mới qua, nhiều người Việt Nam trong cùng  apartments ghé qua thăm hỏi chúng tôi,  trong đó có Ông Huỳnh Khoa được biết là một người từng hoạt động Việt Nam Quốc Dân Ðảng ở Ðà Nẵng và hiện là một nhà hoạt Ðộng Cộng Ðồng Việt Nam ở San Jose. Ông Huỳnh Khoa rất mến tôi khi biết tôi quen biết nhiều vị lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Ðảng như Ông Võ Trạng ở Quảng Ngãi, Ông Nguyễn Hữu Thời ở Bình Ðịnh, đặc biệt là Cụ Nguyễn Ðình Lương  (Quảng Nam) mà tôi có dịp giúp đở trong 17 năm ở tù chung. Biết  tôi có thời gian làm việc ở Bình Ðịnh thì vội khoe với tôi  là ông ta có một chàng rể cũng là người quê hương Bình Ðịnh, anh ta là một Kỷ Sư điện tốt nghiệp ở Mỹ và đang làm việc cho một hãng Mỹ lớn lắm. Nó giỏi lắm,  Ông Huỳnh Khoa không ngớt khoe chàng rể quí cho tôi và sai một người con trai về gọi anh Hoan (tên chàng rể quí) qua gặp tôi nói chuyện chơi. Anh Hoan qua gặp, chào hỏi tôi  : “ Chú ở Việt Nam mới qua ?”. Với giọng Bình Ðịnh thân thương mà đã lâu lắm rồi mới được nghe lại. Tôi nghĩ xa xôi nửa vòng trái đất mà gặp được một người gần như đồng hương thì cũng vui, có nhiều chuyện để nói.Thôi thì cũng tạm coi như là “ tha hương ngộ cố tri ”đi…nhưng sự thật còn đi xa hơn thế:

-Tôi hỏi : Cháu ở Bình Ðịnh vậy chứ ở Xã nào Quận nào?

-Chưa kịp trả lời tôi thì anh Hoan vội đứng lên chào Bà Xã tôi vừa mới bước ra là “Thưa Cô, Em là học trò cũ của  Cô ở Trường Trung Hoc Cường Ðể Qui Nhơn đây.”Và tôi cũng nhớ ra hình như có gặp em này  trong quá khứ ?

 -Trở lại nói  chuyện vơí tôi, anh Hoan nói quê  ở xã Phước Lý,Quận Tuy Phước Tỉnh Bình Ðịnh.

-Tôi hỏi tiếp: Vậy chứ cháu ở xóm nào ? Chú cũng biết nhiều nơi ở xã này.

– Hoan  không trả lời thẳng câu hỏi của tôi mà lại nói rằng “nếu cháu nói tên của Ba cháu thì Chú biết liền! – Cháu là con của Ông TÁM VINH đây .”

– À, ..tôi đã nhớ ra rồi. Anh nầy là con một Tỉnh Ủy VC Bình Ðịnh ra hồi chánh vào giờ chót ở Qui Nhơn. Tôi có chụp một tấm hình màu Polaroid lấy liền lúc đó cảnh Cha conTámVinh đoàn tụ, cảnh trước Trường Trung Học Cường Ðể Qui Nhơn .Tấm hình đẹp lắm và tôi đã sử dụng nó trong một công tác tình báo sau nầy.Tôi phán một câu chắc nịch là: “ như vậy cháu phải là họ VÕ?”

– “Dạ vâng, cháu tên là Võ Ngọc Hoan”

-“Vậy giờ Ba cháu hiện ở đâu  mạnh giỏi không?” Tôi không giám hỏi còn sống hay chết?

– Hoan nói: “Đó cũng là điều mà cháu muốn hỏi chú ? Như vậy là Chú cũng chẳng có  tin tức gì về Ba Cháu từ sau ngày 30.4.75. Nhưng mà gặp được Chú đây Cháu rất mừng và xin Chú viết giấy xác nhận cho cháu về trường hợp của Ba Cháu để Cháu bảo lãnh đứa em  hiện còn bị kẹt bên Ðảo.

Rồi anh H. kể tiếp : “Thưa Chú sau ngày “giải phóng” gia đình cháu khổ lắm. Mấy người cộng sản ở tù về, hay nhảy núi về,bọn Cộng Sản Bắc Kỳ vô  họ tìm đến  nhà cháu hạch hỏi về Ba cháu đủ thứ như hiện giờ Ba cháu ở đâu ?Tiền bạc kinh tài cho Cách Mạng để đâu ?Tiền bạc  Mỹ Ngụy tưởng thưởng để đâu?.Chữi bới chúng cháu tại sao không chạy theo Mỹ Ngụy mà còn ở lại ? Muốn tiếp tục âm mưu chống phá “Cách Mạng” nữa hay sao? Ðồ phản bội…Chúng đàn áp đánh đập , phân biệt đối xử rất khắc nghiệt với gia đình chúng cháu, luôn cả bà con giòng họ nội ngọai của chúng cháu..Chúng cháu chịu không nỗi nên đã tìm cách vượt biên, dù chết dù sống gì cũng phải ra đi xa lánh cái cảnh địa ngục trần gian nầy..May mà vượt biên được, thật may mắn quá”.

-Tôi nghe mà thật bùi ngùi thương cảm. Những người như chúng tôi dù bị trả thù tàn nhẫn khốc liệt cách mấy( như cá nhân tôi bị tù 17 năm khổ sai biệt xứ chịu đủ mùi xà lim, tra tấn, cùm kẹp, bỏ đói bỏ khát..)thì cũng đành chấp nhận, dù sao thì mình có sức chơi thì có sức chịu. Chỉ tội nghiệp là tội nghiệp cho những nạn nhân oan ức như gia đình anh H. đây, họ có tội gì ? Tại sao Cộng Sản có thái độ giận cá chém thớt ? trả thù hèn hạ như vậy? Nếu như ngày trước lúc đương quyền mà tôi cũng đối xử với gia đình một Cán Cộng cao cấp đang hoạt động , đang gây nhiều tác hại tại địa phương(trường hợp như gia đình của anh H. đây) giống như bọn Cộng Sản đã làm sau nầy, thì bây giờ còn mặt mũi nào mà ngồi nói chuyện  vui vẻ như thế nấy.Vợ tôi dạy những người con của VC như anh H. đây cũng như mọi người khác không cần biết lý lịch, không hề có một phân biệt đối xử nào. Hai tên Võ Tấn Danh và Võ Tấn Lợi ở An Nhơn Bình Ðịnh quăng hai trái lựu đạn hôm cắm trại liên trường ở sân vận động Qui Nhơn (9/1/1972) cũng là hai đứa học trò trường Cương Ðể mà cha chúng là VC và đã móc nối xúi dục chúng gây tội ác!!

Nghĩ tội nghiệp cho những gia đình giống như gia đình anh H. đây. Suốt thời niên thiếu Cha đi theo Việt Cộng, gia đình sống trong vùng Quốc Gia, mặc dù phía Quốc Gia họ không làm gì có tính cách đàn áp hay phân biệt nhưng thật sự thì chính họ tự cảm nhận chẳng giống ai. Bạn bè cùng trang lứa tụi nó có Cha, Anh là Quân Ðội VNCH. Chúng nó tỏ ra rất tự hào và thích thú mỗi khi có một bài hát mới ca ngợi tình anh lính chiến. Chúng hát theo say sưa. Những người như H. làm sao thông cảm và thưởng thức được những bài ca bất hũ đó.Trái lại những người như Ba  H. thì gắn liền với hình ảnh giựt mìn xe đò, vãi lựu đạn vô trường học, rạp hát v.v… H. là con của bọn khủng bố? lầm lũi đi về mà chẳng dám có bạn bè. Ðên khi Ba H. ý thức được sai lầm ra chiêu hồi, thì sự đoàn tụ chẳng được bao lâu, chưa kịp vui cho thỏa thì Chính Quyền Quốc Gia sụp đổ.  Cộng Sản đối xử tàn tệ còn hơn với kẻ thù là Quân Ðội Công Chức Chế Ðộ cũ.Tiếp tuc cuộc sống cô đơn giữa chợ đời….

-Tôi rất vui vẻ làm các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của anh H. Với tư cách là một cựu Thiếu Tá Phụ Tá Ðặc Biệt Tỉnh Bình Ðịnh , chứng nhận một người dân oan bị trả thù hèn hạ, bị bách hại bởi Cộng Sản để xin được tị nạn Cộng Sản. (Các Bạn thấy không : sau 18 năm mất nước không còn lon lá chức vụ gì mà  tôi vẫn còn làm việc !!!, mặc dù làm việc  không lãnh lương)

Tôi nói chuyện tiếp với anh H:

Việc Ba cháu ra hồi chánh vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến (cuối năm 1974 ) ít nhiều gì cũng có sự tác động của chú và của những người phe chú. Bây giờ cháu có oán trách gì chú không? bởi vì nếu vào những ngày đó mà Ba cháu không ra hồi chánh, thì  chỉ 3 tháng sau khi chiếm được Miền Nam thì Ba cháu là Tỉnh Trưởng, Thị Trưởng và cháu là con ông cháu cha(nói theo VC là Con Cháu Các Cụ Cả), tha hồ mà nhà cao cửa rộng xe cộ nghinh ngang tiền bạc ngập đầu quyền hành sinh sát muốn gì được nấy trong cái cảnh luật rừng“luật là tao, tao là luật, Ðảng là tao ,tao là Ðảng “ như Sáu Búa Lê Ðức Thọ  nói  mà cháu nghe thấy sau nầy đó. Cộng Sản Việt Nam hiện nay mạnh ai nấy cướp giật, bóc lột nhân dân cho đầy túi tham không đáy. Một lần nữa chú hỏi thật cháu là cháu có oán trách gì Chú ? cứ nói nghe chơi..Mình đang ở trong một xứ sở Tự Do mà !.

-Anh H vội cải chính:

-Dạ không đâu! dạ không đâu! Thưa chú, anh lặp lại hai lần. Nhờ vượt biên trót lọt  được qua đây sớm nên cháu có điều kiện tiếp tục học hành đến nơi đến chốn. Bây giờ có bằng cấp cao có vợ đẹp con sang, xe cộ, nhà cửa, đầy đủ tiện nghi và lương cháu cũng  khá. Hiện tại tuy không bằng ai nhưng xét cho cùng thì mình cũng thuộc tầng lớp Trí Thức và Trung Lưu trong Xã Hội Hoa Kỳ này. Chưa kể mình được hưởng bao nhiêu là phương tiện văn minh tiên tiến nhất trên thế giới, về vật chất cũng như tinh thần…Không!! Cháu không ân hận và trách móc ai hết. Cháu chĩ cám ơn Trời Phật cho cháu được cái may mắn như ngày hôm nay…Còn giàu có bằng cách bán nước từng phần hay ăn cắp, ăn cướp của của nhân dân theo kiểu Cộng Sản Việt Nam bây giờ cháu không ham đâu và chắc gì bền chú ơi!!..Cháu chỉ ân hận là bây giờ tụi cháu sung sướng về vật chất cũng như được hưởng mọi thứ tự do dân chù trên quê hương thứ hai này, mà không biết số phận của Ba cháu hiện nay ở đâu sống chết như thế nào? Cháu không giúp đỡ gì được cho Ba Cháu.    Cháu đã cố ý tìm kiếm hỏi thăm tin tức từ mười mấy năm nay mà vẫn biệt vô âm tín.

TỈNH ỦY VIỆT CỘNG TÁM VINH :

-Cháu H biết về Ba cháu chắc không nhiều ?-Tôi tiếp tục nói chuyện với Kỷ Sư H -Bởi vì khi Ba cháu nhảy núi hoạt động Việt Cộng thì cháu còn nhỏ quá. Nhưng trái lại đồng bào buôn bán dọc theo đường Gia Long, Lê Lợi, Phan Bội Châu Võ Tánh hay ở dưới Chợ  Qui Nhơn như Dân Lợi, Phước Tân, Phước Tấn, Tân Thích vv thì không lạ gì cái tên Ðoàn Hữu Trác, hay Tám Vinh mà  họ  thường thấy ký tên trong các tờ Công Khố Phiếu Kháng Chiến, các Biên Nhận Ðóng Thuế ,Thu Tiền hay Tiếp Tế cho “Cách Mạng”.Tuy họ  không biêt Ba Cháu là ai nhưng sau nhiều vụ nổ mìn như ở khách sạn Việt Cường, Lầu Bà Ðệ ( tức Khách Sạn Thanh Bình của Thân Mẫu Nhà báo Huỳnh Lương Thiện – Mõ SF- ), Bar Tuyết Trắng, rạp ciné Trưng Vương giết hại nhiều người dân vô tội , nhất là sau vụ  VC vãi lựu đạn trong sân vận động Qui Nhơn hôm học sinh liên trường tổ chức cắm trại, chính mắt cháu thấy đó, làm thày giáo và học sinh vừa chết vừa bị thương hơn 200 người, trong đó chú còn nhớ  có  Thầy Tạ Quang Khanh bị thương nặng và vợ là Cô Ðặng Thị Bạch Yến chết tại chỗ… Họ sợ những người như Ba cháu, cho nên mỗi lần thấy người của Ba cháu từ trên núi xuống lẻn vào Qui Nhơn hăm dọa đòi tiền là họ mau mau lo đóng cho xong. Chú cũng vậy, qua tin tức tình báo chú biết Ba cháu tên thật là Võ Tôn Chứng hay Võ Chứng hay Ðoàn Hữu Trác hay Tám Vinh, sanh quán Xã Phước Lý Quận Tuy Phước Tỉnh Bình Ðịnh, là một Tỉnh Ủy Viên, đương chức Bí Thư Huyện Ủy Huyện Tuy Phước Tỉnh Bình Ðịnh. vừa mới được biên chế làm Bí Thư Thị Uỷ VC Qui Nhơn.Thỉnh thoảng Chú cũng truy bắt được nhiều tổ chức hạ tằng cơ sở VC, một vài đường dây giao liên hay năm ba cơ sở  đặc công hay kinh tài cho VC, nhưng không dễ gì bắt được Ba cháu..Phải nói rằng Ba cháu là một cán cộng có tài, hoạt động rất đắc lực nếu so với cán cộng Nguyễn Phụng Khuông bí danh Biên Cương người quán Bồng Sơn  Bí Thư Thị Ủy Qui Nhơn trước Ba cháu bị bọn chú bắt và sau đó bị VC giết trong trận Tết Mậu Thân ở Qui Nhơn thì ba cháu không bằng, nhưng ba cháu thuộc hạng giỏi của Cộng Sản Bình Ðịnh. Không biết vì lý do vượt trội hơn người khác mà nhiều người đố kỵ như tên Hoà trên tỉnh uỷ, tên Nguyễn Ðấu ở Thị Ủy tên này muốn tranh chức BT Thị Ủy với Ba cháu,tên Cường, tên Vương ỡ Thị Ðội, ngay cả tên Nguyễn Trung Tín Bí Thư Tỉnh Ủy cũng không thích Ba cháu ??.Chú cũng  có tin tức là vì tụi nó nghi Ba cháu có gì mờ ám trong số tiền bạc kinh tài trong Nội Thị Qui Nhơn đưa ra.??Ngoài ra chú cũng được tin là Ba cháu phỗng tay trên tụi nó : có quan hệ ái tình với một nữ cán cộng ở Thôn An Cửu xã Phước Hưng ,cơ sở mà bọn Tỉnh Ủy VC thường lén lút về du hí, giải quyết sinh lý, cho nên lũ nó căm giận ba cháu và kết tội ba cháu là hủ hóa.vv…

TRAO ÐỔI THƯ TỪ VỚI TÁM VINH

Chú nhớ vào khoảng hạ bán niên năm 1973 trong khi gởi thư tuyên truyền, phát triển cơ sở, Ba cháu có gởi thư móc nối một cựu công chức Việt Nam Cộng Hòa đã nghỉ hưu tên là Nguyễn Cao Bằng.  Ông này hay về thôn Huỳnh Giản Xã Phước Hòa  Quận Tuy Phước làm ruộng lúa, mà cái thơ lại lọt vào đường giây của chú. Chú có nhiều  Cán bộ đường dây nội tuyến trong hàng ngũ VC Bình Ðịnh. Những thư từ tài liệu gì gởi qua những đường dây nầy chú đều photocopy trước khi cho gởi đi và theo dỏi. Nhờ đó mà biết được nhiều tổ  chức cơ sở và chủ trương của VC. Riêng trường hợp Ông Nguyễn Cao Bằng  là  một cán bộ Quốc Gia từng làm việc chung với chú, không thể nào là một cơ sở VC được, nên chú không cho gởi đi mà giữ lại để tương kế tựu kế. Chú đã mạo danh Ông ta gởi thư trả lời cho Ba cháu. Chuyện nầy chú cũng có bàn với Cố Vấn Mỹ và họ cũng đã đồng ý.Trong thư từ qua lại chú  gởi cho Ba cháu mang  tên Ông Nguyễn Cao Bằng, đứng trên lập trường Quốc Gia Dân Tộc mà lên án cả Cộng Sản lẫn Tư Bản. Chẳng hạn như   từ hơn bốn ngàn nămVăn Hiến đến nay Tổ Tiên ta có theo một chủ nghĩa nào đâu mà vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Cho nên theo Ông N.C.B. thì những ai cầm súng AK 47 hay AR15 cũng đều là tay sai ngoại bang và đều có tội với Tổ Quốc. Lên án gắt gao những thế lực ngoại bang từ Nga Tàu đến Pháp Mỹ  gieo rắt chiến tranh cho Quê Hương Việt Nam. Cho Ba cháu biết rằng hiện nay đa số nhân dân Việt Nam họ không theo Mỹ và cũng không ưa gì “Cách Mạng ”.Trong Hiệp Ðịnh Ba Lê cũng minh định thành phần thứ ba đó. Ở Qui Nhơn thành phần thứ ba nầy đông lắm và họ vẫn sinh sống bình an. Họ chỉ cầu mong sao cho thật sự hòa bình cho dân tình bớt khổ…Riêng Ông Ta NCB sau hàng chục năm làm công chức sáng vác ô đi tối vác về (thời nào thì cũng cần có những ngươì công chức lo ba cái giấy tờ cho dân), bây giờ già rồi lo chăm ba đám ruộng nương kiếm sống qua ngày, không đụng chạm đến ai, chỉ xin hai chữ bằng an. Chú cứ lập luận theo kiểu hàng hai đó nhằm lung lạc ba cháu .Có lẽ những thư từ qua lại mang nội dung như thế nầy  đã là một nhân tố  tác động tư tưởng ba cháu khiến ba cháu đã ra hồi chánh sau này..??.

Quả đúng như vậy khoảng cuối tháng 9 năm 1974 trong một đêm mưa to gió  lớn Ba cháu và một cán cộng khác tên Ðinh Truyền Thanh (cái tên nghe ngồ ngộ nên dễ nhớ ) mang đầy đủ vũ khí cá nhân và tài liệu liên quan ra hồi chánh. Chú mừng lắm cho người đi tiếp nhận Ba cháu về Ty Cảnh Sát phỏng vấn. Ngày đó chú ăn ở trong Ty luôn nên vợ chú tức là Cô đây có dịp nấu cơm và gọi mấy ông nhân viên đem xuống cho Ba cháu ăn luôn trong những ngày đầu được phỏng vấn. Ba cháu là một cán cộng  cao cấp nên có rất nhiều tin tức tình báo có giá trị.Trong đó có tin Cộng Sản Bắc Việt chủ trương tổng công kích như hồi Mậu Thân, hay như Mùa Hè 72..Tin tức sốt dẽo VC sắp đánh lớn lan truyền. Ngoài Cảnh Sát Ðặc Biệt có rất nhiều cơ quan tình báo Việt, Mỹ  khác đến phỏng vấn Ba cháu. Cuối cùng thì  người Mỹ họ đem máy bay riêng ra chở  Ba cháu vào SàiGòn để  phỏng  vấn tiếp.

Cháu còn nhớ hôm Chú và mấy người Mỹ chụp hình anh em cháu  đoàn tụ với Ba tại trước trường Cường Ðể không ? Sự việc là Ba cháu có cho chú biết là trong Huyện Ủy Tuy Phước hiện nay có tên Nguyễn Bốn tự Bốn Dẹo đang bất mãn muốn ra hồi chánh. Chú dùng tấm ảnh này để gởi cho tên Bốn Dẹo thấy rằng Ba cháu ra hồi chánh được bình an và được đoàn tụ vui vẻ, khuyến khích Bốn Dẹo hãy mạnh dạn ra hồi chánh. Nhưng hãy hồi chánh tại chỗ chú sẽ thiết lập hệ thống liên lạc bí mật và hãy làm việc cho chú  khoảng sáu tháng  trước khi ra trình diện để cung cấp tin tức tình báo cho chú và chú sẽ trả lương hậu hỉnh cho ông ta, sau này ngày ra hồi chánh với Quốc Gia thì đã có một số vốn kha khá để làm ăn. Sự việc tiến triển rất ngon lành tuy chưa có kết quả cụ thể thì Qui Nhơn đã bỏ chạy….

Riêng Ngành Ðặc Biệt Quận Tuy Phước thì khai thác số tài liệu Ba cháu mang về liên quan đến 15 Chi Bộ VC các xã trực thuộc. Họ đã càn quét truy bắt tất cả gần 200 cơ sở VC với nhiều súng đạn tài liệu… lập hồ sơ truy tố ra tòa án quân sự Nha Trang.Tòa Án chưa kịp xử thì cuối tháng 3/75 Qui Nhơn và Nha Trang thất thủ. Những cơ sở Việt Cộng này họ được tự do ra về và rất hận thù Ba cháu vì nội vụ còn mới mẻ quá. Bọn VC Bình Ðịnh cũng đã tuyên án tử hình vắng mặt Ba cháu, lúc đó chú chưa đi tù nên chú biết rõ việc nầy. Bọn VC Bình Ðịnh cho người vào Nha Trang, Saìgòn tìm kiếm ba cháu rất gắt mà không gặp…….

  Bây giờ  ngồi kể  lại chuyện xưa nhớ lại hồi chiến tranh sao nghe ớn lạnh quá .  Nhưng dù gì thì chuyện cũng đã quá khứ rồi, Chú nghĩ nếu người Mỹ họ có trách nhiệm thì họ phải lo cho ba cháu được an toàn. Ngoài ra Ba cháu là một người thông minh lanh lợi chăc không đến nỗi nào. Nếu Cộng Sản bắt được ba cháu chắc chắn bọn chúng đã đem về Qui Nhơn xử tử để trả thù và răn đe kẻ khác. Chú biết bọn chúng hận thù Ba cháu nhiều lắm vì việc chúng gọi là đầu hàng phản bội đã gây cho chúng nhiều tổn thất Chú nghĩ rằng Ba cháu còn sống lẩn lút đâu đó.Thật tội nghiệp cho Ba cháu. sau bao năm xa cách vừa mới được đoàn tụ với gia đình chưa được mấy hôm thì lại phải chia ly ? …

Hoàng Thiên Bất Phụ Hảo Tâm Nhơn, cháu có lòng tốt chắc chắn Trời Ðất sẽ không phụ lòng. Chúc cháu sớm có tin về Ba cháu.

Sau lần hội ngộ kỳ thú nầy chúng tôi quen thân với nhau. Kỷ Sư H. thường qua lại nhà tôi chơi, chỉ vẻ cho các con tôi những kinh nghiệm học hành trong  các trường Ðại Học Mỹ và cùng với tôi sinh hoạt trong Ban Chấp Hành Hội Tây Sơn Bình Ðịnh Bắc Cali. Cuộc sống của chúng tôi không ngừng thăng tiến …. theo thời gian lặng lẻ trôi,……

HỘI NGỘ LẦN THỨ HAI : TỈNH ỦY VC BÌNH ÐỊNH “TÁM VINH” ANH CÒN SỐNG À ?

 Cuộc Hội Ngộ Kỳ Thú lần thứ hai -(Nếu không có lần hội ngộ nầy thì tôi cũng chẳng viết chuyện nầy)- xảy ra vào cuối năm Ất Dậu (2005) trong một buổi Tiệc Tất Niên của Hội Tây Sơn Bình Ðịnh được tổ chức rất trang trọng tại Nhà Hàng Phú Lâm thành Phố San Jose Tiểu Bang California Hoa Kỳ.Tôi là một trong những  người sáng lập Hội Tây Sơn Bình Ðịnh Bắc Cali nên năm nào tôi cũng tham dự. Ðặc biệt năm nay, trong khi tôi ngồi nói chuyện với vài vị Quan Khách thì có Kỷ Sư Võ Ngọc H.trong Ban Chấp Hành dẫn đến giới thiệu cho tôi một người đàn ông trạc ngoài 70, thấp người ,da dẻ hồng hào khoẻ mạnh, một sự thông minh nhanh nhẹn thể hiện trên cặp mắt sáng quắt và vầng trán cao rộng hơi vồ. Anh H. hỏi tôi:  “ Chú Nghiệp biết đây là ai không ?”.Tôi nhìn người đối diện từ đầu tới chân còn ngờ ngợ cố tìm trong ký ức xem thử còn nhớ ra không ? mà anh H thì làm ra vẻ úp úp mở mở và nét mặt rất vui mừng.Và người ấy thì nhìn tôi cười cười như quen biết và chực ôm lấy tôi (sau này tôi biết là anh H đã nói sơ về tôi cho người ấy biết  rồi)…Tôi nhớ mày mạy nhưng không giám nghĩ đó là sư thật. Thì anh H nói ngay: “Một Tỉnh Ủy Việt Cộng Tỉnh Bình Ðịnh đó!”.Tôi bật ra thành tiếng “TÁM VINH”? Có phải Tám Vinh đó không ? Anh Còn sống à?- rõ ràng là câu hỏi ngớ ngẫn-người ta đang đứng sờ sờ ra đó, mà hỏi Anh còn sống. Nhưng vì lúc đó tôi mừng và ngạc nhiên quá đỗi -Rồi hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau: Một  Trùm Cộng Sản một Tỉnh một thời lại ôm lấy một Trùm Cảnh Sát Ðặc Biệt  Tỉnh một thời, mọi người chung quanh không khỏi ngạc nhiên và đánh nhiều dấu hỏi.?

Câu chuyện thật dài dòng đầy kỳ thú đã 30 năm rồi mà tưởng đâu như mới hôm qua. Hôm sau tôi điện thoại Ông Huỳnh Khoa, yêu cầu chở Ông Sui tức Ông Tám Vinh lên nhà tôi chơi. Sau này chúng tôi mua nhà riêng ở thành phố San Jose không còn ở thuê trong các khu apartments ở thành phố Santa Clara tuy nhiên cũng gần nhau, chỉ cách nhau khoảng 10 phút lái xe..Vợ tôi sửa soạn một bửa cơm đậm đà tình quê hương có mắm thu xay có thịt heo tươi luộc có canh khổ qua có cá nục kho có rau muống luộc…Chúng tôi nắm tay nhau bằng xương bằng thịt mừng mừng tủi tủi. Mừng là qua bao nhiêu tàn ác, chết chóc của chiến tranh chúng tôi không những may mắn còn sống sót mà còn có được một cuộc sống sung túc đầy đủ.Tủi là xa quê hương xa bạn bè xa bà con quen biết. Nơi quê người tỵ nạn nhìn chung quanh đều là  những người dị chủng, khác màu da khác ngôn ngữ, khác tập quán.Với tuổi già như chúng tôi thật càng cô đơn.Sau bửa cơm tôi hỏi Tám Vinh làm cách nào anh thoát được? anh biết là sau 75 cộng sản lên án tử hình anh, găp anh đâu bắn đó? Và làm sao anh qua được Mỹ? làm sao anh gặp được con anh ?

PHỎNG VẤN TÁM VINH LẦN THỨ HAI :
(lần đầu tại BCH/ CSQG Bình Ðịnh )

MỘT CUỘC ÐỜI MAI DANH ẨN TÍCH:

-Một câu chuyện thật khó khăn ly kỳ và nhiều may mắn đã xảy ra cho tôi.Tám Vinh nói:-Từ từ tôi kể anh nghe

“Cuôi tháng 4/75 mấy Ông Cố Vấn Mỹ có cho tôi 50.000 đồng và bảo liên lạc với chính quyền Việt Nam để được giúp đở .Ngày 30.4.75 Sai gòn  “giải phóng” tôi rất lo sợ.Tên Ðinh truyền Thanh càng sợ càng bám riết lấy tôi.Chúng tôi ra Bến Xe Miền Ðông lẫn trốn trong số đồng bào tỵ nạn chiến tranh.Tôi tìm cách bứt tên Ðinh Truyền Thanh ra.Tôi mua 2 vé xe về Qui Nhơn đưa cho Ðinh Truyền Thanh và bảo rằng thôi thì về quê trình diện xin khoan hồng theo như chính sách của chính quyền cách mạng.Trong khi chờ xe chạy, tôi bảo Thanh em chờ qua một chút qua đi mua ít đồ dùng .Tôi lẻn lên xe Vũng Tàu chạy ra Vũng Tàu.Tôi ở đó một tuần kiếm cách vượt biên nhưng không xong.Tôi về lại SàiGòn và đi xuống Miền Tây.Tôi thay tên đổi họ là Nguyễn Thiện Quế làm công nhân khuân vác.Tôi lo chăm chỉ làm việc và lấy lòng mọi người nên ai cũng mến.Tên tổ trưởng công nhân khuân vác thấy tôi có học, viết chữ tốt nên giới thiệu tôi làm giáo viên cho các lớp bổ túc văn hóa dạy cán bộ VC xã ấp và đồng bào mù chữ. Các lớp tôi phụ trách đều đạt tiêu chuẩn tiên tiến được trên Huyện về tuyên dương cho tiền thưởng. Cuộc sống tạm ổn. Một hôm có một Bà Cụ hỏi tôi :” Quế à,tao thấy mầy  như vầy không được đâu” !- Tôi tái mặt nhìn bà già trân trân , không biết mình có lộ ra điều gì không?  Tôi còn đang ấp úng thưa dì…Thì Bà Già nói :Tao thấy mày thui thủi một mình tao thương, muốn có vợ tao làm mai cho!! “Thật hú hồn. .Và Bà ấy làm mai  và được Ông Hương Quản  Huỳnh Văn Hương gả con gái cho. Chúng tôi sống với nhau có được một người con gái năm nay đã gần 30 tuổi có chồng và hai con trai.Tôi nhờ ảnh hưởng gia đình nên cũng biết chút ít về bói toán, phong thủy. Tôi mua sách nghiên cứu thêm và hành nghề thầy bói , coi tử vi, coi chỉ tay, coi ngày giờ tốt xấu coi huyệt mả, nền nhà nơi đào giếng vv. Tôi gíup đở được nhiều người. Và việc đi lại làng trên xóm dưới cũng nhờ đó mà không ai để ý. Kéo dài cuộc sống hai mặt như vậy, bên ngoài nói nói cười cười bên trong ôm ấp một bầu  riêng tư, tôi không ngừng nghe ngóng tình hình….

Ðến năm 1988 Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng Bí Thư có chính sách cởi mở.Tôi hy vọng  N.V.Linh sẽ giống như Goọc Ba Chốp bên Liên Xô .Tôi tính về lại Qui Nhơn…Nhưng sau đó nghe tin Nguyễn Hà Phan bị bắt, đổ tội làm CIA. Và Ðỗ Mười lên nắm Tổng Bí Thư.Tôi thấy tình hình không xong. Tôi rụt lại nằm im chờ đợi. …

Ðến năm Giáp Thân 2004 tôi đã 70 tuổi.(Tôi tuồi Giáp Tuất 1934) nỗi lòng thương nhớ Quê Hương, thương nhớ các con tôi, thương nhớ bà con xứ sở mà đã dày vò tâm trí tôi từ 30 năm nay không còn chịu đựng được nữa. Tôi quyết định tìm gặp lại các con tôi.Tôi suy nghĩ nhiều lắm: Bọn Cộng Sản bây giờ đã có một phần nghiêng theo Mỹ.  Bọn cán bộ địa phương lo làm giàu và không còn hận thù sắt máu như xưa. Hơn nữa tôi đã 70 tuổi rồi …có chết mà mình được gặp lại các con và anh em bà con thì cũng mãn nguyện….

Tháng 8 năm 2004 tôi biết tại Tòa Thánh Cao Ðài Tây Ninh có tổ chức Ðại Hội. Các Chức Sắc Cao Ðài Toàn Quốc về tham dự.Tôi xách cái trắp đựng đồ nghề bói toán lên đường đi Tây Ninh.Tôi đến Tòa Thánh Cao Ðài Tây Ninh, sau một ngày dò la tin tức tôi đã  gặp được một Vị Hiền Tài Ðạo Cao Ðài nói tiếng Bình Ðịnh. Tôi tìm cách tiêp cận làm quen thì được Vị nầy giới thiệu là Hiền Tài Nguyễn Thiện Tâm(?) quê ở Thiết Ðính, Bồng Sơn, Huyện Hoài Nhơn, Tình Bình Ðịnh về dự Ðại Hội Cao Ðài toàn quốc.Vị này khoảng 60 tuổi dáng người mập mạp, gương mặt vuông vức ăn nói chậm rãi đúng là bậc tu hành đạo mạo.Vị Hiền Tài hỏi tôi là Ông Ta có thể giúp được việc gì?Tôi thưa rằng tôi có một nỗi khó khăn dấu kín trong lòng từ 30 năm qua không giám thổ lộ cùng ai. Nó nguy hiễm đến tính mạng  của tôi xin Thầy giúp đỡ cho… Sở dĩ tôi tìm đến Các Vị Tu Hành Ðạo Cao Ðài là vì tôi biết họ rất hiền từ, ăn chay trường và nhất là họ không ưa gì Cộng Sản, tôi nghĩ nếu họ giúp đỡ thì tốt nếu không giúp thì cũng không đến nỗi họ giết mình! Tôi cầm tay Vị này mà kể hết sự tình mà nước mắt thì trào tuông lả chả .Vị Hiền Tài cũng không cầm được nước mắt và hứa sẽ giúp đỡ đến nơi đến chốn.Thế rồi Người lấy giấy bút ra ghi hết những điều cần biết và nhận lá thư tôi viết sẵn cho các con tôi nhờ Thầy trao lại..

Tôi về lại nhà tôi ở Miền Tây mà hồi họp chờ mong.Một tháng rồi hai tháng trôi qua mà không thấy tin tức gì..Tôi nghĩ là chắc việc đã không thành..Bỗng một hôm tôi đang đánh cờ tướng với Ông Bạn hàng xóm thì con gái tôi chạy gọi tôi về có điện thoại.Tôi về nhà thì con gái tôi kể lại có một người gọi từ Qui Nhơn hỏi con có phải em là Nguyễn Thị Lý không ? Có Ba là người Miền Trung không? Con trả lời đúng vậy.Thì anh ấy xin gặp Ba. Con nói ba đi vắng không có ở nhà. Con hẹn 1 giờ sau gọi lại.Tôi nóng ruột quá như vậy là đúng rồi.Tôi bảo con gái tối : “Con bóp điện lại đi” (tức là con gọi điện thọai lại) cái số hồi nãy con có ghi đó, không cần chờ một tiếng đồng hồ đâu. Ðược tin như lửa đốt trong lòng tôi nôn nóng và nghĩ rằng con tôi cũng thế, nó chẳng đi đâu mà ngồi đó đợi điện thoại. Quả đúng như dự đoán bên kia đầu giây là tiếng thằng con trai lớn của tôi:

-Ba hả?,Có phải là Ba thật đó không? Con là  Trung đây.

-Ðúng là Ba đây.Con nghi ngờ là phải thôi, đây là vấn đề hệ trọng , có thể nguy hiễm đến tính mạng. Ba hỏi con có phải con là “thằng Tõ” không?Con có ba anh em, con là cháu ngoại Ông Hương Bộ Thiệp, cháu nội Ông Hương Mục Lưu, Mẹ con tên là Nguyễn Thị Thục tức Minh Thư đã mất năm Mậu Thân, Bác Ba con là Võ Thùy phải không.?Con tin là Ba thật của con đây chưa?

-Ðúng rồi! Ba biết không ? Sáng nay có một Vị Chức Sắc Cao Ðài đến Xã mình hỏi thăm Bác Ba  nói nhờ coi tuổi cho người quen và xin thuốc Nam. Gặp Ba vợ con , ba vợ con nói Bác Ba Thùy nó đã dọn vào Qui Nhơn. Có thắng cháu Ông ta là rễ của tôi, để tôi  sai thằng nhỏ dẫn qua nhà nó nhờ nó chở  vào Qui Nhơn tìm ông Ba Thùy.Gặp Ông ấy con hỏi –“ tìm Bác Ba cuả tôi có việc chi ?chờ tôi thay đồ rồi sẽ chở honda đi, sẵn dịp mua ít đồ dùng”. Ộng thầy Cao Ðài nói “Cháu kêu Ông Võ Thùy bằng Bác, vậy chứ cha cháu đâu?”Con trả lời là “Ba cháu mất tích từ năm 75 “.Ông Thầy Cao Ðài nói “ vậy thì thôi khỏi đi, tôi đến đây để tìm cậu chứ không phải tìm Ông Thùy.”Vậy cậu là Võ Trung ? tên lúc nhỏ là Tỏ, Cha là Võ Chứng?. Sau khi phối kiểm đầy đủ chi tiết, Ông Thầy lấy thư Ba ra, số điện thoại của Ba đưa ra bảo con đọc và ghi chú. Rồi Ông đốt hương trên bàn thờ và nói với con rằng ”nhiệm vụ của Ông ta đã hoàn thành xin cám ơn Trời Phật và xin đốt tất cả giấy tờ liên hệ (sau khi con đã ghi chép ). Ông Thầy dặn con từ nay sẽ không còn ai biết ai nữa, nói xong Ông ta đi mà không ngoảnh mặt lại…..

-Ðúng rồi! đó là Vị Ân Nhân mà chính Ba đã nhờ cậy. Thật cám ơn Trời Phật.

Cha con tôi hàn uyên tâm sự chặp lâu thì con tôi đề nghị là hãy xem như không có chuyện gì xãy ra để tụi con tôi chúng nó tính.Rồi thì con tôi ,cháu tôi bên Mỹ gọi về, rồi thằng H. con tôi bên Mỹ về thăm tôi và nhờ con Bác Ba nó cũng Kỷ Sư Mỹ làm giấy tờ bảo lãnh cho tôi qua Mỹ du lịch. Do đó mà tôi qua được Mỹ.”

Tám Vinh ngồi kể cho tôi  chuyện thật đời mình mà nghe tưởng đâu như chuyện trinh thám. Ông còn cho biết là được con trai và con dâu cho đi du lịch nhiều nơi, thấy nước Mỹ thật vĩ đại quá, đẹp đẻ quá, sung sướng quá.Sung sướng nhất là được đoàn tụ với các con, các cháu. Hạnh phúc nhất là có được cô con dâu (con gái Ông Huỳnh Kh.) một người con gái Huế, hiếu hạnh hiền thục thương kính tôi rất nhiều. Mấy đứa cháu nội cũng quấn quít bên Ông. Cuộc sống thật vui vầy hạnh phúc.

Tám Vinh còn nhờ tôi chứng nhận cho hoàn cảnh của Ông Ta để xin phục hồi lý lịch, xin tị nạn ở lại Mỹ luôn.

Một lần nữa tôi lại nhân danh thiếu tá Phụ Tá Ðặc Biệt Tỉnh Bình Ðịnh chứng nhận hoàn cảnh nguy hiễm đến tính mạng của Ông Võ Chứng như thế nào để xin được khôi phục lý lịch và xin được hưởng quy chế  tị nạn Cộng Sản.Tôi đã làm đầy đủ giấy tờ, nại nhiều nhân chứng Việt, Mỹ biết rõ về việc nầy. Mọi việc tiến triển kết quả  tốt đẹp. Hiện nay ông là một nhà  phong thủy ở  San Jose(Các bạn thấy không sau 31 năm mất nước không còn lon lá chức vụ gì mà tôi vẫn  còn làm việc.Tuy là làm việc không lương.)

        Ra về Ông Tám Vinh ôm cứng lấy tôi rất lâu như ôm một người thân .

        Vợ tôi nói một câu có nhiều ý nghĩa “ Gớm hai ông trước đây đã có một thời rình mò nhau từng bước chực giết nhau, vậy mà nay sao thấy ôm nhau thân mật qúa vậy ?”.

Tôi không biết trả lời sao thật ngắn gọn cho cô giáo có nhiều oán thù với VC nầy?    Tôi vội nói :-Thì … hoà giải hòa hợp Dân Tộc     đó mà !!!

Cầu mong dưới Trời Tự Do của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ nầy. Ông Võ Chứng (đã khôi phục lý lịch ) -mà không còn bí danh nào khác (tức là không còn liên hệ gì với VC ) sẽ có những ngày còn lại của cuộc đời được hoàn toàn hạnh phúc.

    K1 Phan Quang Nghiệp.

Đăng tải tại Tâm Tình K1, Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện thật người thật của K1 Phan Quang Nghiệp

Thăm Bạn của K1 Lê hữu Nghĩa

 Tìm thăm chị Hà-thị-Hạnh.

       Thấy cái hẽm ngắn ngủn , tui biểu thằng Tín (con trai tui) đứng ngoài coi chừng xe để tui vô coi.  Nếu hổng có số nhà thì tui trở ra đi tiếp để khỏi phải quành xe như hồi nảy giờ.  Đứng trước một căn nhà ba bốn tầng có cửa sắt đóng kín,  tui hơi ngần-ngại . Vì trong trí tui vẫn nghĩ là nhà của chị Hạnh hay anh Suốt chắc cũng là thường thường bậc trung thôi chớ không cao cấp như cái nhà nầy . Tui dò lại địa-chỉ lần nữa cho chắc ăn rồi mới ngập-ngừng bấm chuông . Một cậu thanh niên  đi ra hỏi :

          – Bác cần gì ?

Wow ! Câu hỏi nầy đúng là theo kiểu Mỹ rồi. Thay vì hỏi bác kiếm ai thì  cậu ta lại hỏi là bác cần gì. Tui hỏi cầu may chớ trong bụng hổng chắc lắm.

          – Xin lỗi, phải đây là nhà chị Hạnh hôn ?

          – Dạ phải . Chắc bác là bạn của mẹ ?

Mèn ơi ! Hổng dè mình mới gỏ cửa cái nhà đầu tiên là trúng chóc liền . Hên thiệt ! Tui vừa gật đầu vừa nói phải , phải. Cậu thanh-niên mở khóa và mở cửa sắt . Tui vội nói :

          – Tui bỏ xe ngoài đầu hẽm,  để tui ra lấy vô .

Khi hai cha con tui vô tới thì cậu thanh-niên cũng vừa bày xong bộ bàn ghế ngay trong hiên nhà . Một lúc sau thì chị Hạnh từ bên trong đi ra.  Thấy tui chị gật đầu chào.  Tui lên tiếng trước :

          – Phải chị là chị Hạnh hôn ?

Vừa hỏi tui vừa nhìn để tìm một nét quen thuộc nào đó trên gương mặt của chị . Nhưng tuyệt-đối hổng thấy quen chút nào.  Chị Hạnh cũng nhìn tui dò-xét :

          – Phải , tui là Hạnh . Còn anh là…xin lỗi tui …không nhận ra .

Tui muốn phá chị Hạnh một chút nên nói :

          – Hổng phải chị hổng nhận ra, mà chắc là chị cũng hổng biết tui là ai đâu .

Chị Hạnh mở to đôi mắt nhìn tui thắc-mắc . Không để chị suy-nghĩ lâu , tui giải-tỏa :

          – Tui khóa I.  Hồi đó chỉ có 18 người con gái,  còn con trai thì quá đông . Tụi tui biết hết mấy chị chớ mấy chị làm sao biết hết tụi tui được . Cho nên tui mới nói là chị hổng biết tui là ai .

Từ chỗ xa lạ,  nhìn nhau ngờ ngợ nhưng sau khi nghe hai tiếng khóa I thì chị Hạnh vui-vẻ , cởi-mở và thoải-mái hẳn ra như gặp lại người thân.  Hai tiếng khóa I quả thiệt là mầu-nhiệm trong trường-hợp nầy,  nó kết nối hai người xa lạ thành một nhà chỉ trong tích-tắc. Dù không thấy quen nhưng cả hai đều biết đây là gà cùng một đàn,  chim cùng một tổ mà ra,  đã từng có một thời quá-khứ chung với nhau .

Chị Hạnh vừa cười rất tươi vừa hỏi :

          – Mà anh tên gì sao tui hổng nhớ ?

          – Tui là Nghĩa , Lê-hữu-Nghĩa . Chị nhớ làm sao được.  Có khi chị chưa từng nghe qua cái tên nầy nữa là .

Chị Hạnh giới-thiệu cậu thanh-niên đó là con rễ của chị.  Còn con gái của chị là người mới ra chào khách .

Tui giới-thiệu lại thằng Tín con tui . Cậu rễ chị Hạnh để ly cà-phê đá trên bàn cho tui xong liền rủ thằng Tín đi ra ngoài.  Tui vội kêu thằng Tín :

          – Tín , Tín . Khoan đi , chụp cho ba với bác Hạnh mấy tấm hình rồi hãy đi .

Sau đó , hai cậu thanh-niên dắt nhau ra quán cà-phê ngoài đầu hẽm . Còn tui với chị Hạnh ngồi nhắc lại chuyện xưa , chuyện nay.  Chị Hạnh nói về chuyện gia-đình của chị . Nào là chuyện vượt biên bị bắt ; chuyện bị đau bịnh , rồi đến chuyện chị sắp vào chùa qui y trong vài ngày tới . . .Trong khi nói chuyện tui mới có dịp nhìn chị Hạnh kỹ hơn.  Chị Hạnh sức khỏe có vẻ không được tốt lắm nhưng vẫn tươi tỉnh,  hoạt-bát.  Đặc-biệt gương mặt chị vẫn còn nét tuyệt sắc giai-nhân của một thời con gái . Khi nhắc đến những người bạn cùng khóa với những kỷ-niệm ngày xưa thì chị Hạnh hào-hứng , cười vui và linh-hoạt hẳn lên .

           Tui và chị Hạnh nói chuyện cũng lâu , hơn một tiếng đồng hồ,  rất thân tình . Khi đi tui đã có ý-định sẽ biếu chị Hạnh một món tiền nho nhỏ , nhưng bây giờ thì hổng dám nữa,  sợ xúc-phạm người ta . Nói chuyện một hồi lâu tui mới chợt nhớ là nảy giờ quên quay phim , thiệt là uổng , vì nảy giờ câu chuyện rất hào-hứng . Khi tui lấy máy camcorder ra ghi hình thì cũng là lúc chị Hạnh đang hí-hoáy vẽ bản đồ để chỉ đường cho tui đi về .

Từ-giã chị Hạnh tui thấy lòng vui vui.  Vui vì mình vừa làm xong một việc muốn làm . Và vui vì biết sắp tới chị Hạnh sẽ được thong-dong,  thanh-thản theo con đường đã chọn .

           Vừa ra khỏi nhà chị Hạnh , thằng Tín nói với tui :

          – Bác nầy đã lớn tuổi mà còn đẹp quá Ba hả. Chắc hồi đó Ba cũng mê bác nầy lắm phải hôn Ba ?

          – Sao con nghĩ vậy ?

          – Tại vì Ba lòng vòng mấy tiếng đồng hồ dưới mưa để tìm cho bằng được nhà bác . Nên con nghĩ chắc là hồi đó Ba cũng mê bác lắm .

Cái thằng hỏi một câu thiệt là cắc-cớ mà cũng thiệt là có lý nhưng cũng thiệt là trật lất . Tui vừa đề máy xe vừa ngoái đầu lại trả lời :

          – Hổng có đâu Tín . Hồi còn học trong khóa, Ba cũng có mê nhưng hổng phải mê bác nầy,  mà là mê một bác khác

         – Một hình-ảnh xa xưa chợt thoáng hiện ra trong trí tui khi chiếc xe gắn máy từ từ lăn bánh .

Lê Hữu Nghỉa.

( Viết theo yêu cầu của bạn Nguyễn công Vinh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thăm Bạn của K1 Lê hữu Nghĩa

Thơ Thanh Hoàng

Sầu Lên Phím Ngọc

Kính Tặng :
Ni cô đồng môn HÀ THỊ HẠNH vừa mới
cắt tóc quy y tại Việt Nam ngày 3-9-2011.
(Tin của K1 Nguyễn Công Vinh)
T.H.

Hà Hạnh pháp danh : ” Thích Tấn Dung “
Sầu lên phím nhạc  lạc tơ chùng !   
Dâng lời kinh nguyện. Buồn nhân thế
Mặc áo cà sa. Hận gấm nhung 
Rũ bỏ phong trần lòng quyết chí     
Xa lìa cõi tục dạ kiên trung                                                      
Cửa thiền tận hiến trầm, nhang khói                  
Chín bệ tòa sen tỏa mịt mùng

Chín bệ tòa sen tỏa mịt mùng
Quên đời bỉ sắc với không không
Phụ tình cốt  nhục con cùng  mẹ 
Lỗi hẹn  nợ duyên vợ với chồng
Suy gẫm lời kinh thêm tuyệt tác
Trau dồi đạo lý thật tinh thông  
Nương nhờ cửa Phật thề tu luyện
Cứu độ nhân sinh bớt khốn cùng

THANH HOÀNG
(Cali., Thu buồn 2011)

Chăm lo nuôi mẹ,nuôi chồng
Mà quên môi thắm, má hồng nhạt phai !!
(Tặng em.Người bạn đời chung thủy)

T.H.

Xin cám ơn ông Tơ, bà Nguyệt
Ban cho tôi diễm tuyệt cơ duyên
Thật là hạnh phúc vô biên
Bạn đời, đẹp nết ngoan hiền thủy chung !!!
Sống bên nhau vô cùng hạnh phúc
Bỗng quê hương gặp lúc tang thương
Anh cùng bạn hữu lên đường
Khổ sai đày đọa Bắc phương tội tù
Lao động nơi thâm u cùng cốc
Chốn rừng sâu,nước độc xa vời
Tưởng rằng mất xác em ơi !
Nhưng còn sống được nhờ Trời, ơn em
Thương vợ hiền ngày đêm sầu não
Phải bán buôn tần tảo nuôi con
Đời hoa tiều tụy hao mòn
Lo chăm sóc mẹ lại còn cho anh
Sống dè xẻn,để dành có dịp
Đến thời kỳ còn kịp gởi quà
Gíúp anh đỡ khổ cho qua
Tháng ngày đói,lạnh miền xa lưu đày
Lại không quản công dày khó nhọc
Và gian truân đùm bọc thăm nuôi
Mong chồng tù tại miền xuôi
Dễ dàng gặp gỡ hầu nguôi nỗi lòng
Anh chờ đợi trả xong khổ nạn
Để trở về bầu bạn cùng em
Tương lai hạnh phúc vui thêm
Mẹ gìà,con dại ấm êm gia đình
Cho anh xin tạ tình vợ qúy
Phí tuổi xuân tận tụy hy sinh
Cám ơn em đã giữ mình
Thủy chung một dạ trung trinh đợi chờ

THANH HOÀNG
(Cali., cuối Đông 2010)

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Thanh Hoàng

Hình ảnh các Nữ Lưu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia.

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hình ảnh các Nữ Lưu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia.

Hình ảnh ngày xưa – Cựu SVSQ K1

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Đăng tải tại Hình Ảnh | Chức năng bình luận bị tắt ở Hình ảnh ngày xưa – Cựu SVSQ K1

Thơ Toàn Như – Nhữ đình Toán

Những bài thơ viết về bạn bè K1:

*Để tưởng nhớ Trần Chánh Định, cựu SVSQ K1 đầu tiên tử trận tại một quận ven đô Saigon, chỉ 2 tháng sau khi tốt nghiệp.

Mày đó, Định hỡi Định!                                                                                                                Bảng tên đỏ như máu
mang trên ngực hân hoan
buổi sáng và buổi chiều
xếp hàng dọc đứng nghiêm
điểm danh và báo cáo.

Mày đó, Định hỡi Định!
Tiếng còi như dế rúc
nụ cười thật hồn nhiên
chiếc giường sắt lúc lắc
dây kẽm còn giăng ngang.

Mày đó, Định hỡi Định!
Đôi giày bố mòn rách
chạy nhảy ngoài sân cờ
chiếc ca nhôm đã móp
nằm trong góc ba lô
không bao giờ mày biết.

Mày đó, Định hỡi Định!
Chiếc an-pha mới bóc
còn in dấu trên vai
nỗi mừng như chưa dứt
bạn bè đã chia tay.

Mày đó, Định hỡi Định!
Lời cuối sao vội vàng
tiếng kèn sao não nuột
vinh hiển cho đời mày
chiếc quan tài hạ xuống.
(Bài thơ này được K1 NĐT viết năm 1966 trong lúc vẫn còn đang thụ huấn K1 BTV, ngay khi nghe tin K1-TSV Trần Chánh Định  tử trận) – Toàn Như.


(Để tưởng nhớ K1 Huỳnh Mãng, bị tử nạn khi đi đào vàng)

 Thư Việt Nam sáng nay vừa nhận được
Bạn hỏi rằng biết có buồn không?
Thư Việt Nam có tin gì vui được
Mà đọc lên một thoáng bâng khuâng.
Trang thư báo thằng bạn xưa vừa chết
Bởi đói cơm nên ôm mộng tìm vàng
Căn hầm xập vùi giấc mơ khốn khó
Nào thấy đâu những lao động vinh quang.

 Còn nhớ không bao năm trời “cải tạo”
Miệng đói chân run mồ hôi vỡ giọng cười
Nước độc rừng thiêng sao chẳng chết
Mộng đời thường lại giết một đời trai.

 Tôi ở bên này nghe tin dữ
Bạn bè chung khóa có đâu ngờ
Một thằng bạn cũ vừa nằm xuống
Chẳng đợi ngày vui chuyện Hát Ô (H.O.)

 Thôi hãy ngủ yên người bạn cũ
Mộng tang bồng bạn đã vỗ tay reo
Tôi vẫn mải mê đời rong ruổi
Chốn bụi trần ngày tháng cuốn người theo.

 (1993) Toàn Như

 

*Tặng K1 Nguyễn Văn Trai, ngày đầu tiên đến Mỹ (Houston)

Nửa đêm bước xuống thẫn thờ,
Gót tha hương đã đợi chờ từ đây.
Giọt buồn thoáng gợn bờ mây,
Mái xưa nhà đã hôm nay nghìn trùng.
Ngó quanh trời đất lạ lùng,
Nghe mênh mang giữa Houston đợi người.
Bao năm lận đận cho đời,
Dấu trong ký ức một thời chiến chinh.

(11/2001)

TOÀN NHƯ

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Toàn Như – Nhữ đình Toán

Vô Cùng Thương Tiếc

 

Cố Viện Trưởng Học Viện CSQG  Đàm Trung Mộc
Cố Đại Đội Trưởng  Bùi Trọng Nghĩa
Cố Đại Đội Trưởng Nguyễn Ngọc Thơ
Cố Đại Đội Trưởng  Quách Trung Chánh

Và các cố đồng môn K1 Học Viện CSQG

01. Hà Mộng Anh
02. Hồ xỷ Báu.
03. Nguyễn Ngọc Bé
04. Nguyễn Văn Biên
05. Nguyễn Ngọc Cẩn
06. Hồ Đăng Chánh
07. Phan Cháu
08. Lý Thị Chấm
09. Lê Ngọc Châu
10. Võ Công Châu
11. Lê Văn Chương
12. Nguyễn Văn Chuyên
13. Nguyễn Văn Dữ
14. Trần Chánh Định
15. Trần Ngọc Điều
16. Nguyễn Văn Hạ
17. Đỗ thị Hồng Hải
18. Trần Minh Hải
19. Trương Hè
20. Trần Văn Hiển
21. Bùi Thị Khánh Hòa.
22. Nguyễn Thái Hoan
23. Võ Văn Hổ
24. Đinh Công Huệ
25. Lê Thị Hường
26. Lê Văn Kiêm
27. Phạm Phước Kiến
28. Trần Văn Kỷ
29. Nguyễn Linh Khanh
30. Hoàng Khê
31. Nguyễn Văn Khìa
32. Nguyễn Kim Khôi
33. Đinh Văn Lễ
34. Nguyễn Văn Lợi
35. Trần Văn Lư
36. Huỳnh Mảng
37. Lê Quang Minh
38. Ngô đình Mua
39. Huỳnh Thị Năm
40. Lê Thành Nhiên
41. Vũ Văn Nghi
42. Nguyễn Văn Ngọt
43. Nguyễn Quang Nhựt
44. Lê Văn Phi
45. Trần Hữu Phổ
46. Phạm Hồng Phước
47. Đinh Văn Rạng
48. Đoàn Văn Ri
49. Phan Thị Rớt
50. Lê Văn  Sấm
51. Trần Trung Tiến
52. Triệu Tấn Thanh
53. Lý Đức Thạnh
54. Hồ Văn Thắng
55. Nguyễn Văn Thống
56. Lê Đăng Thu
57. Nguyễn Hữu Thượng
58. Nguyễn Hữu Trí
59. Trương Văn Tư
60. Trần Công Văn
61. Trần Văn Việt
62. Nguyễn Đăng Vỹ
63. Phạm Vạn Xuân
64. Lâm Song Xưởng
65. Phan Văn Châm

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Vô Cùng Thương Tiếc

Thơ K1 Nguyễn Thanh Hoàng


(K1 Nguyễn Thanh Hoàng            Tặng em, người vợ hiền yêu qúi)

Bốn mươi năm chẵn vui ngày cưới
Mà tưởng như vừa mới đêm qua
Tình mình êm ấm chan hòa
Đẹp như bươm bướm vờn hoa trong vườn

Bỗng quê hương bị vương tai hoạ
Giặc tràn vào đày đoạ tang thương
Anh cùng chiến hữu lên đường
Gông cùm trực chỉ Bắc phương xa vời
Khắp núi thẳm vùng trời cực Bắc
Chốn thâm sơn lủ giặc tham tàn
Muốn anh nát thịt xương tan
Vùi thây trọn kiếp trên ngàn non cao
Nhưng lòng anh đâu nào có sợ
Thù thua cuộc phải chở về Nam
Không anh em phải đành cam
Bôn ba tìm kiếm việc làm nuôi con
Buồn quạnh hiu mõi mòn trông đợi
Lòng kiên trinh vời vợi u buồn
Mong đàn con dại luôn luôn
No cơm,ấm áo là nguồn an vui
Rồi chung cuộc vận xui đã hết
Anh tù về lê lết tấm thân
Gặp nhau nước mắt rưng rưng
Và lòng thổn thức lệ mừng tuôn rơi

Em hãy nghe những lời thành thật
Về cùng em nao nức hả hê
Anh xin nói với hiền thê:
“Cám ơn em nhé ! Ngày về còn em”

THANH HOÀNG
(Cali. 31-8-2009)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ K1 Nguyễn Thanh Hoàng

Người vẽ Huy Hiệu Học Viện CSQG

 

Một chút kỷ niệm với Học Viện CSQG

Tác giả K1 Nguyễn Tấn Vĩnh

 Nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Học Viện CSQG tôi hồi tưởng lại: Mới đó mà đã 45 năm. Hôm nay tôi hình dung lại từng khuôn mặt bạn bè cùng khóa, kẻ còn người mất, và một vài kỷ niệm đã qua.

Tôi theo học khóa 1-BTV, thuộc Đại Đội 101. Lúc bấy giờ Học Viện có 4 Đại Đội: 101-102 là BTV , 201-202 là TSV và  khoảng 1 Trung Đội nữ BTV+TSV.

Tôi còn nhớ, lúc sắp hàng tại sân cờ Tổng Nha (chưa đổi thành Bộ Tư Lệnh), chỉ có 1 hàng dài theo thứ tự từ cao tới thấp. Cán bộ phụ trách chia làm đôi, đoạn đầu là Đại Đội 101, kế là Đại Đội 102, bên TSV cũng vậy. Tôi ở vị trí 25, còn người cao số 1 là anh Nguyễn văn Quý. Riêng mấy chị nữ BTV và TSV thì ngụ ở trường Trung Cấp bên đường Cộng Hòa.

Do có chiều cao hơn 1,7m nên tôi được chọn vào 1 trong 8 người của toán cầm cờ và vác súng , gọi là Hầu Kỳ. Cán bộ Đại Đội trưởng của tôi là BTV Bùi Trọng Nghĩa. Ông Đại Đội Trưởng chọn  tôi giao nhiệm vụ Sinh Viên vũ khí Đại Đội 101.

Khi mới thành lập Học Viện còn nhiều thiếu sót. Chưa cung cấp đủ quần áo Kaki cho sinh viên mặc. Chúng tôi phải sử dụng các quần áo cũ của khóa sinh căn bản trước đó để lại, cũ, nhàu nát, cái thì lớn cái thì nhỏ. Khi lãnh từ nhà thầu giặt giao cho phải đi tìm cái nào mặc vừa thì đổi lấy hoặc các anh em cùng khóa đổi cho nhau Hôm nào không đổi được thì đành mặc lại bộ cũ thêm cho đến đợt sau trong tuần, không giao cho nhà thầu đi giặt. Đến cả tháng mới phát những bộ kaki mới, cải tiến dần dần.

Khi có quần áo mới thì Tổng Nha gởi phát Huy Hiệu Học Viện, do Sở Nội Dịch vẽ kiểu và in trên vải. Trông cái Huy Hiệu quá thô thiển nên các anh trong Đại Đội, mà điển hình là các anh Thỏa, anh Hoàng, anh Báu và vài anh nữa cùng tôi bàn nhau đề nghị lên Thầy Viện Trưởng Đàm Trung Môc cho thay đổi. Nhiều anh góp ý ngọn lửa trên Huy Hiệu của Tổng Nha trông cứng nhắc, không linh hoạt và nhành dương liễu thì thô. Về cấp hiệu cầu vai sinh viên cũng chưa có. Nhóm các anh em chúng tôi bàn với nhau rằng khi  tốt nghiệp thi mình là BTV/Tập Sự nên đề nghị có đủ 2 gạch BTV hay TSV, ở phía trên thì alfa biểu hiên Sinh Viên. Cuối cùng, Thầy Viện Trưởng đồng ý và xin Tổng Nha thực hiện.

Đang lúc còn chưa có mẫu Huy Hiệu thì có 3 cán bộ cấp Quân Trưởng CSQG vừa mãn khóa quân sự tại trường Bộ Binh Thủ Đức bổ sung về Học Viện là QT Trần Minh Công  làm Liên Đoàn Trưởng ,  QT Phạm công Bạch và QT Trần quan An làm Tiểu Đoàn Trưởng cho 2 Tiểu Đoàn BTV và TSV.

Một buổi chiều, vào giờ học TLC, Liên Đoàn Trưởng Trần Minh Công gọi tôi và bảo nghỉ 2 giờ sau cùng nầy qua hội trường trống không người ngồi vẽ Huy Hiệu. Ông lấy từ trong túi ra một Huy Hiệu trường Bộ Binh Thủ Đức đưa cho tôi và bảo vẽ bằng kích thước nầy. Tôi nhớ lại  góp ý của các bạn trong Đại Đội 101, tôi vẽ 2 mẫu Huy Hiệu. Ở đây cũng nói thêm một chút về ngọn lửa ở huy hiệu: Có ý kiến đề nghị cho ngọn lửa bay vắt ngang lưỡi kiếm như của trường BB Thủ Đức cho có vẻ lả lướt, nhưng có ý kiến cho rằng không cóp của trường BBTĐ và thanh kiếm chọn dài lên cao, như vậy chia đôi hàng chữ Học Viện CSQG ra làm 2 phần. Không nên cắt đôi, vì vậy mà cho lưỡi kiếm thấp xuống để hang chữ Học Viện CSQG liên tục. Cuối cùng trình lên Thầy Viên Trưởng thì được chọn và đưa đi mướn in trên vải (giai đoạn đầu). Sau đó cho dêt thêu lại cho đẹp, không phai màu như lúc in ban đầu. Với viêc làm đó, tôi được  Liên Đoàn Trưởng cho tôi hưởng phép đặc biệt 2 lần. Ôn lai, tôi thường hưởng phép đặc biệt với  lý do là Sinh Viên Vũ Khí Đại Đội, khi thì ân huệ cho toán Hầu Kỳ.

Sau nầy, mỗi khi nhìn lại Huy Hiệu Học Viện CSQG tôi có nhiều cảm xúc vì có sự đóng góp của mình và đó cũng là một kỹ niệm với Học Viện thân yêu của chúng ta.

                                         Houston, ngày 15 tháng 5 năm 2011

                                                    Nguyễn Tấn Vĩnh – K1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người vẽ Huy Hiệu Học Viện CSQG

Thơ Nguyễn hữu Thời

 


Âm Thầm 

Ta đến nơi đây rồi đến đâu  ?

Núi rừng trùng điệp chốn thâm sâu.

Chiều nghe “mểnh” tác bên rừng biếc,

Đêm nhạc côn trùng khúc khổ đau.

Dẫu ở nơi nào cũng thế thôi,

Áo quần rách nát tấm thân còi.

Sớm trưa chiều tối ngày hai bữa,

Sắn với ngô khoai chỉ thế thôi.

Thiên đàng Địa ngục cũng như nhau,

Chủ nghĩa Mác Lê thật nhiệm màu.

Sớm cuốc trên đồi, chiều xuống ruộng,

Trâu còn sứt mũi, huống chi tù.

Hết cuốc lên rừng đốn gỗ về,

Tre, vầu, trúc, nứa bện phên che.

Nắng mưa gió rét đời tăm tối,

Giấc ngủ lưng chừng, tiếng muỗi ve.

Ngày – tháng – năm – Rồi năm tiếp năm,

Bạn bè nằm xuống chốn âm thầm.xa xăm

Buồn trơ vách đá – cầu kinh vội,

Đưa tiễn người về – Lạnh buốt căm

(1978)

Không Lẽ Ta Đi

 Không lẽ ta đi chẳng trở về,

Ôm hờn, nuốt tủi sống xa quê.

Mặc cho lũ Cộng tha hồ múa,

Đầy đọa dân ta sống não nề.

 Không lẽ ta đi, lại trở về

Cúi đầu khuất phục kẻ u mê.

Tôn thờ chủ nghĩa vô nhân đó,

Cam chịu làm thân dưới búa đe.

 Không lẽ ta đi, rồi lãng quên,

Niềm đau dĩ vãng – nỗi ưu phiền.

Bạn Bè ta chết trong tù ngục,

Trong chốn rừng sâu, trong vượt biên.

 Không lẽ ta đi – Rồi phủi tay ,

Chẳng còn trách nhiệm với tương lai.

Với người ở lại ngày đêm đã,

Tiếp nối cha ông để dựng xây…

 Tự do dân chủ, diệt phường nô.

Cương quyết vùng lên dựng lại cờ.

Cuộc chiến trong ta còn tiếp diển,

Bao giờ xóa sạch – Mác – Lê – Hồ.

(1998)

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Nguyễn hữu Thời

Slideshow Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Tin cùa NNS

Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Tin

Đăng tải tại video | Chức năng bình luận bị tắt ở Slideshow Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Tin cùa NNS

Slideshow Nổi Buồn Chim Sáo của NNS

Nổi Buồn Chim Sáo

Đăng tải tại video | Chức năng bình luận bị tắt ở Slideshow Nổi Buồn Chim Sáo của NNS

Slideshow Chia Áo Người Yêu Xa của NNS

Chia Áo Người Yêu Xa

Đăng tải tại video | Chức năng bình luận bị tắt ở Slideshow Chia Áo Người Yêu Xa của NNS

Ngò Tây Giúp Lọc Thận

Năm này qua năm khác, quả thận của chúng ta phải lọc máu bằng cách loại bỏ muối, chất độc và bất kỳ những chất có hại nào vào trong cơ thể của chúng ta. Theo thời gian muối sẽ tích tụ ngày càng nhiều và phải được xử lý lọc bỏ. Chúng ta sẽ làm điều đó bằng cách dùng Ngò tây (Parsley = Petroselium crispum).

Chúng ta mua một bó Ngò tây và rửa thật sạch rồi cắt ra thành những đoạn ngắn cho vào một cái ấm rồi chế nước sạch vào và đem nấu sôi trong thời gian 10 phút, sau đó để nguội và lọc lại, đổ vào một bình sạch và để vào trong tủ lạnh, uống mỗi ngày 1 ly. Hoặc dùng Ngò tây như rau gia vị hàng ngày sẽ thấy muối và các chất độc sẽ bị thải ra khỏi thận qua đường tiểu. Các bạn cũng sẽ nhận thấy nhiều điều khác lạ mà các bạn chưa từng cảm nhận bao giờ.

Rau Ngò tây được biết đến như là một liệu pháp lọc thận tuyệt diệu và lại thiên nhiên nữa.

DS. PHAN ĐỨC BÌNH

Đăng tải tại Sưu Tầm | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngò Tây Giúp Lọc Thận

18 THƯƠNG

Sáng tác của K1 Phan Quang Nghiệp đặc biệc thân tặng cho
Thập Bát Biên Cô Nương

1. Chị Dương Nguyệt Ánh.
Sánh với Phan Ngưu, nhiều người say đắm,
Miệng cười môi thắm, má lúm đồng tiền
Nói chuyện có duyên, thân hình cân đối
Đến khi tù tội, một mẹ hai con
Đau khổ mỏi mòn, thương con thơ dại
Ơn Trời ngó lại, ra Trại Vượt Biên
Kinh hãi Cao Miên, tới Miền Đất Hứa
Cày ngày hai bửa, nuôi dưỡng hai con
Tiếp tế cho chồng, có con làm Bác Sĩ.

2. Chị Nguyễn Thanh Thủy
Gái đẹp Mỹ Tho
Lắm kẻ mộng mơ đào tơ dễ mến
Việt Cộng nghe đến, khiếp vía hồn ma
Nữ Chúa Thiên Nga, tài ba mưu lược
Bảy lăm mất nước, Thủy bị đòn thù
Mút chỉ đi tù, mười ba năm chẳn.

3. Huế đô thầm lặng, hoa hậu xứ thơ
Ôi đẹp như mơ, Nàng Trần thị Hạnh
Mắt huyền đen nhánh, ăn nói dịu dàng
Đẹp nết, đoan trang, tóc dài buông xỏa
Lấy bạn cùng khóa, Nguyễn Quý Coca.

4. Chị Nguyễn Vân Hòa cũng là gái Huế
Thơm tho cành quế, Hoàng Phủ …muốn trèo?
Nhiều chuột nhiều mèo..cao số long đong
Cũng đã có chồng một Ông Hoàng tộc
Thành tâm xin chúc Hạnh phúc vui tươi!!!
Vui tươi cuộc sống.

5. Chị Nguyễn Thanh Phụng, mom móm hiền hiền
Má lúm đồng tiền, trắng da, dài tóc
Hàm răng ngà ngọc, lời nói dịu dàng
Nét đẹp cao sang, Cần Thơ Sông Cửu
Bước đi yểu điệu, tha thướt dáng tiên!

6. Đau ốm liên miên –Chị Hà thị Hạnh
Dịu hiền, nhí nhảnh, bất hạnh tai ương
Bao nỗi đoạn trường, Việt Nam kẹt lại!!!
Khổ cho thân gái, chân yếu, tay mềm
Bệnh ngặt nghèo them, không tiền chửa chạy!!!

7. Chị Nguyễn thị Máy, tài giỏi đảm đang
Quê quán Quảng Nam, đất lành Ngũ Phụng
Mắt đen mơ mộng, thầm lặng, dịu hiền
Buôn bán kiếm tiền, vượt biên qua Mỹ
Bền lòng, trì chí, con cái vẹn toàn
Chồng Lê thành Quang, đồng môn cùng khóa.

8. Xinh xinh chi lạ, nàng Lý Mũi Liềm
Người đẹp Hà Tiên, tiếng như chim hót
Lời như mật ngọt, dễ mến, dịu hiền
Má lúm đồng tiền, mắt to đắm đuối
Nhiều chàng theo đuổi, chữ tốt văn hay
Kẻ viết bài này cũng nhiều mơ tưởng…
Thầy Đàm Viện Trưởng, cũng hết lời khen
Chính Minh bon chen …Cuối cùng Vô Lượng.

9. Có nhiều quý tướng , nàng Hồ thị Hoa
Nổi cộm vòng ba, vượng phu ích tử
Mắn con dễ đẻ, mạnh khỏe chìu chồng
Thầy Trần minh Công, có lần mời gọi
Chỉ là thăm hỏi ?  Sao gọi vô phòng!

10. Da trắng như bông, trăng tròn mặt ngọc
Đen dài làn tóc, Nguyễn thị Kiêm Chi
Yểu điệu, nhu mì, đẹp, hiền, phúc hậu
Lấy người chiến hữu Văn Tính đồng môn
Nên vợ nên chồng. tuyệt ơi là tuyệt!!!

11. Da trắng như tuyết, xinh đẹp, dễ thương
E thẹn, khiêm nhường, nàng Võ thi Tố
Con người năng nổ, Sa Đéc, Lấp Vò
Trời đã ban cho, văn hay chữ tốt
Chồng cùng khóa Một, Hữu Nhị họ Vương
Một cặp uyên ương cùng nhau sang Mỹ
Thông minh sáng chí Bưu Điện ghi danh.

12. Chị Ngô thị Lành, xứng danh gái Huế
Thông minh, trí tuệ ăn nói dịu dàng
Đôi mắt mơ màng, ại càng qúy tướng
Tấm thân bồ tượng, mang tiếng Hercules
Nhưng khi trò chuyện, lời nói ngọt ngào
Thương mến làm sao!!

13. Thương mến làm sao! Trần thị Minh Châu
Địa đầu Quảng Trị, dễ thương quá “hí“
Tròn lẳn bờ vai, suối tóc buông dài
Dễ thương chi lạ!  Lấy chồng Thiếu Tá
Làm Bà Trưởng Ty, tình nghĩa ra chi
Ai người tri kỷ?

14. Chị Lê Thu Thủy, hiền hậu, dễ thương
Duyên dáng, khiêm nhường, đẹp người, đẹp nết
Thương em tha thiết, chàng Văn Hiệp Vân
Có phước có phần một đàn qúy tử.

15. Vượng phu ích tử, nàng Phạm thị Loan
Dung mạo cao sang, gái cưng Hà Nội
Thân người cân đối, thắt đáy lưng ong
Mắn con,chìu chồng,gia đạo vuông tròn
Chồng Nguyễn văn Hải.

16. Sếp sòng hết thảy các chị đồng môn
Không ai khác hơn Chi Hai Kim Hạnh
Nàng thật vui tánh, hoạt bát dễ yêu
Cây si, rất nhiều, Bùi Hùng là một
Cũng xin thưa nốt Cảnh Sát Mã Lai
Cũng mết Chị Hai Chị Hai thật tuyệt!!!

17. Võ thị Ngọc Tuyết, tuyết trắng nõn nà
Hàm răng ngọc ngà, động lòng Đội Trưởng
Ngày đêm tơ tưởng, em đẹp như mơ
Chef Nguyễn Ngọc Thơ, như bướm cùng hoa.

18. Bùi thị Khánh Hòa, biệt danh châu chấu
Dáng như người mẫu, khuôn mặt trái xoan
Tài sắc vẹn toàn, rất là vui tính
Thuộc Bộ Tư Lệnh, cô giáo Trung Thu
Tiếc bậc anh thư, Nữ lưu bạc mệnh
Một lòng tưởng niệm, đốt một nén nhang
Gởi xuống suối vàng, làm niềm an ủi.

    === O ===

Trong ngày Đại Hội, cùng các đồng môn
Tình nghĩa vuông tròn, đủ Mười Tám thương
Nữ Biên Tập Viên Cảnh Sát Quốc Gia
Từ bốn phương xa, vui ngày hội ngộ!!!

PHAN QUANG NGHIÊP
(San Jose, June,21st 2011)

         Thập Bát Hồng Hoa

Mười tám bông hồng thật dễ thương
Mà thương hổng dễ giữa quân trường
Nhiều ong lờ-lượn bờ sân bãi
Lắm bướm vờn ve ghế giảng đường
Năm tháng hoa tình tươi sắc nắng
Một thời trái mộng trỉu màn sương
Bao người vùng vẩy sông hoan-phúc
Khối kẻ đắm chìm bể vấn-vương.

K1 Lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 18 THƯƠNG

Nhớ Nguồn

Thuở ấy tôi vừa 22 tuổi, đang học ở trường ĐH Luật Khoa Saigon. Tôi có nhiều bạn bè thân yêu, một thởi cắp sách vui nhộn, ham học ham làm. Lúc nào tâm hồn cũng đẹp với nhiều mơ mộng, sẵn sàng mang tất cả tình yêu thương đến với mọi người.

Đang học năm thứ 2 tôi lại vào ngành Cảnh Sát, ngành này được ít người ưa thích vì dễ làm mất lòng nhiều người. Thật ra người Cảnh Sát với nhiệm vụ rất cao đẹp, rất lý tưởng, có tấm lòng vị tha, luôn luôn hy sinh cho đồng loại. Cảnh Sát làm việc cho dân, coi trọng lợi ích của dân, giữ gìn an ninh trật tự về mọi mặt cho xã hội để luật pháp được thi hành đúng mức , mang đến cho mọi người một đời sống ấm no, hạnh phúc.

HỌC VIỆN CSQG đã đào tạo cho chúng tôi trở thành những Sĩ Quan Cảnh Sát luôn có lợi ích cho xã hội. HỌC VIỆN CSQG / Trại LÊ VĂN DUYỆT chứa đầy những kỷ niệm vui buồn trong những giờ lên lớp, những lúc ở xạ trường, lúc về nhà nội trú, lúc khai bệnh trốn học để dạo phố, … tất cả chúng tôi kết thân với nhau sống rất vui vẻ và hạnh phúc.

Thầy VIỆN TRƯỞNG đã để lại trong lòng chúng tôi sự kính yêu muôn đời, chẳng khác nào một người cha lúc nào cũng nghiêm khắc, nhưng chứa đầy tình yêu thương để dạy dỗ con cái nên người. Tuy chúng tôi đã là những SVSQ, với độ tuổi ấy tuy đã lớn khôn nhưng lúc nào cũng thấy mình nhỏ bé, nên việc học tập rất chăm chỉ, rèn luyện bản thân dễ dàng. Chúng tôi đã học hỏi dưới mái trường HỌC VIỆN mọi điều tốt đẹp để làm hành trang trong suốt cuộc đời sự nghiệp của mình. Hình ảnh oai nghiêm của Thầy Liên Đoàn Trưởng, Liên Đoàn Phó chắc chắn lúc nào cũng ở bên cạnh chúng tôi.

Hết khóa học, chúng tôi ra trường. Chúng tôi chia tay nhau, mỗi người một phương trời, một nhiệm vụ. Sau một thời gian ngắn phục vụ ở Khối CSĐB thuộc BTL/CSQG Saigon, tôi xin về làm việc tại Ty Cảnh sát cho gần gia đình. Thành phố này rất thân thương, đầy ắp những kỷ niệm thời thơ ấu. Bước vào cuộc sống mới, đụng chạm với nhiều người, nhiều việc, tất cả sinh hoạt đều khác với sách vở.

Nhưng tuổi trẻ chúng tôi không chùn bước, luôn áp dụng đúng từng bước những điều huấn dạy của trường, tùy theo hoàn cảnh mà xử lý. Điều đáng nhớ nhất là không bao giờ quên đạo lý làm người. Học hỏi mọi việc tốt, tránh xa những điều xấu, đố kỵ và ghen ghét, để hướng dẫn cho tương lai rất lâu dài phải đi qua. Con đường chúng tôi cần phải đi đầy những chông gai thử thách nếu vượt qua được rất gía trị. Thời gian qua rất nhanh, mình phải đi con đường đã chọn, tuy không được may mắn nhiều, nhờ chịu khó và bản tính thật thà, chân thành đối với mọi người, sống hết lòng với bạn bè, hôm nay mình có một đời sống thoải mái, tự do thích làm những gì mình muốn.

Sáu mươi năm cuộc đời đã qua đi, thời gian cũng rất dài, mình đã trải qua biết bao thăng trầm, ra sức chống chọi với đời, dẫu có tiền bạc cũng không thể mua được. Những ngày còn lại của lứa tuổi chúng ta thật quá ngắn ngủi. Mặc dầu sức đã yếu, không còn một chỗ đứng nào trong xã hội, nhưng chúng ta luôn vui vẻ nhìn về kỷ niệm còn đó, tuổi thanh niên phục vụ đất nước vẫn mãi còn trong tâm trí, những ngày tù khổ sai bị đày đọa bởi bọn cộng sản, đã đủ cho chúng ta hãnh diện chuẩn bị cho cuộc hành trình lúc ra đi.

K1-Nguyễn thị Máy
San Jose, Sept. 26, 2010

Đăng tải tại Tâm Tình K1 | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhớ Nguồn