Các Danh Mục

Mừng Sinh Nhật – tháng Mười Một
Đăng tải tại Happy Birthday K1
Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng Sinh Nhật – tháng Mười Một
Biệt Đội Trưởng Thiên Nga – Bài của Toàn Như
Chân Dung Người Nữ Biệt Đội Trưởng Tình Báo Thiên Nga
NỮ THIẾU TÁ CSQG NGUYỄN-THANH-THỦY
(Nguồn: copy lại từ mạng Internet)
Lẫn trong đám đông ồn ào của ngày Hội Ngộ Tân Niên Mừng Xuân Giáp Thân 2004 của Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia Pomona, Nam California, người phụ nữ ấy trông vẻ ngoài cũng bình thường như bao người phụ nữ khác, nhưng đến khi chị được Ban Tổ Chức giới thiệu và mời lên phát biểu thì người ta mới được biết người phụ nữ ấy đã một thời từng chỉ huy một biệt đội tình báo làm cho kẻ thù phải kiêng nể và căm phẫn vì những chiến công lớn lao mà chị đã đóng góp cho cuộc chiến vì Tự Do trước đây.
Người phụ nữ ấy là cựu nữ Thiếu Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Thanh Thủy, người từng chỉ huy một biệt đội tình báo toàn là nữ của ngành CSQG/VNCH có tên là Thiên Nga. Không rõ có phải là định mệnh đã đưa đẩy cô nữ sinh trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho rồi sinh viên Dược Khoa Sàigòn và Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt trở thành một nữ sĩ quan cảnh sát. Năm 1966, cô đã rời bỏ mái trường Đại Học Đà Lạt để trở thành một sinh viên sĩ quan của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, một ngôi trường đào tạo sĩ quan cho lực lượng CSQG/VNCH vừa mới được thành lập. Vốn là một con người năng động, ham muốn phục vụ tha nhân và xã hội, cô không muốn phải miệt mài nhiều năm trên ghế nhà trường trước khi được phục vụtha nhân.
Ngành Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa trước khi thành lập Học Viện CSQG hầu như không có nữ sĩ quan ngoại trừ những nữ nhân viên hành chánh biệt phái. Khóa I Học Viện CSQG là khóa đầu tiên và duy nhất đào tạo nữ sĩ quan cho ngành cảnh sát. Mặc dù sau này do nhu cầu phát triển, ngành cảnh sát có tuyển dụng thêm một số nữ sĩ quan đồng hóa nhưng họ chỉ phải trải qua một thời gian huấn luyện ngắn hạn chứ không phải chịu một thời gian huấn luyện (và huấn nhục) dài 9 tháng (cho cả nam lẫn nữ) như Khóa I Sĩ Quan Cảnh Sát. Cô nữ sinh viên Nguyễn Thanh Thủy, người con gái Mỹ Tho, đã cùng gần 50 bạn nữ khác tình nguyện xếp bút nghiên vào học nội trú trong Học Viện CSQG mà không hề có một khái niệm gì về những hoạt động của ngành này.
Sau khi tốt nghiệp, hầu hết số nữ sĩ quan này được phân phối về phục vụ tại Khối Đặc Biệt, một bộ phận chuyên trách về tình báo và phản tình báo của lực lượng CSQG. Từ trước đến nay, công tác tình báo trong ngành cảnh sát vẫn thường do các bạn nam phụ trách, phái nữ chỉ trợ giúp khi có sự yêu cầu và thường do các bạn nam điều động.
Nhưng kể từ sau cuộc tổng tấn công của Việt Cộng trong Tết Mậu Thân năm 1968, vai trò an ninh và tình báo đã được chú trọng hơn và nhu cầu cần có một mạng lưới an ninh tình báo toàn phái nữ đã được đặt ra. Trước nhu cầu đó, Bộ Tư Lệnh CSQG đã quyết định thành lập một đơn vị tình báo toàn là nữ nhân viên có tên gọi là “Biệt Đội Thiên Nga”, tên của một loài chim “quý phái”, trực thuộc Khối Đặc Biệt, hoạt động độc lập, song song với các cơ cấu đã có từ trước. Biệt Đội này đã được giao cho chị Nguyễn Thanh Thủy đảm trách, năm đó chị mới ngoài hai mươi tuổi.
Nhiệm vụ của Biệt Đội Thiên Nga là sưu tầm và phân tích các tin tức tình báo, tổ chức xâm nhập và phá vỡ các tổ chức và các hạ tầng cơ sở của Việt Cộng tại thủ đô Sài Gòn cũng như tại các tỉnh địa phương trên toàn quốc. Vạn sự khởi đầu nan. Công việc khởi đầu bao giờ cũng khó khăn. Từ việc tổ chức cho đến nhân sự, tất cả đều mới mẻ, nhưng nhờ những năm phục vụ tại Khối Đặc Biệt trước đó đã cho chị Nguyễn Thanh Thủy nhiều kinh nghiệm trong việc hình thành một mạng lưới tình báo nữ xuất sắc cho ngành CSQG. Các nữ nhân viên được tuyển mộ cho Biệt Đội Thiên Nga đều là những người có trình độ văn hóa tối thiểu là văn bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp (tốt nghiệp cấp 2 Trung Học) hoặc cao hơn, ngoại trừ các quả phụ cảnh sát chỉ cần có văn bằng tiểu học. Họ được tuyển lựa từ đủ mọi thành phần trong xã hội; từ những cô bán hàng ở chợ, những người bán hàng rong, cho đến các sinh viên, học sinh, cô giáo, thư ký văn phòng, nhân viên nhà hàng, bưu điện, vũ nữ, v.v… Họ sẽ lần lượt được học qua các lớp Tình Báo căn bản, Theo Dõi, Cán Bộ Điều Khiển, Tác Xạ … trước khi được giao công tác.
Dưới sự chỉ huy của chị Nguyễn Thanh Thủy, Biệt Đội Thiên Nga đã tổ chức xâm nhập, len lỏi vào các tổ chức của cộng sản, những tổ chức thiên tả thân Cộng như các Hội Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Hội Các Bạn Hàng tại các chợ, các lực lượng đấu tranh thuộc thành phần thứ ba, các tổ chức tôn giáo khuynh tả, các tổ chức thanh niên sinh viên học sinh để kịp thời ngăn chặn và triệt phá những âm mưu có nguy hại cho an ninh quốc gia. Ngoài ra, Biệt Đội còn bí mật tổ chức xâm nhập vào tận mật khu của Việt Cộng để thu thập những tin tức tình báo góp phần tiêu diệt các cơ sở đầu não của Cộng Sản. Mỗi kế hoạch công tác của biệt đội Thiên Nga vì toàn là nữ nên cũng lãng mạn mang một ám danh bằng tên của một loài chim như Sơn Ca, Họa Mi, Hải Âu, Hoàng Oanh, Hoàng Yến, … Nhưng nếu công tác có tính phối hợp với các cơ quan bạn thì lại mang ám danh của sông núi như Trùng Dương, Trường Sơn, v.v…
Mặc dù chỉ mới được thành lập không bao lâu trước ngày 30-4-1975, nhưng Biệt Đội Thiên Nga đã tạo được nhiều chiến công đáng kể mà ngay chính kẻ thù cũng phải kiêng nể. Vì là một đơn vị hoạt động tình báo nên việc ngụy thức và bảo mật luôn được đặt lên hàng đầu. Công tác này các nữ Thiên Nga đã rất thành công, không để lộ tung tích khiến cho kẻ địch phải ngờ vực. Thậm chí đã có trường hợp chúng còn tin tưởng đề cử người của Biệt Đội Thiên Nga vào những chức vụ chủ chốt của chúng hoặc gởi đi học những khóa chuyên môn hoặc tình báo của chúng; chẳng hạn như một cán bộ của biệt đội đã từng được tổ chức Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành (vừa qua đời tại Việt Nam), một tổ chức ngoại vi nằm vùng của Cộng Sản, đề cử vào chức vụ phụ tá Phong Trào – tuy nhiên sau khi cân nhắc lợi hại Biệt Đội đã chỉ thị người nữ nhân viên ấy phải từ chối khéo để tránh bị lộ.
Một trong những chiến công mà chị Nguyễn Thanh Thủy cho là lý thú nhất là chị đã tổ chức được một đội tình báo nằm ngay trong lòng bộ chỉ huy của phái đoàn quân sự bốn bên. Theo Hiệp Định Paris về Việt Nam được ký kết vào ngày 27 tháng 01 năm 1973, phái đoàn quân sự bốn bên này gồm có: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt), Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ. Đội tình báo này chính là nhà thầu cung cấp thực phẩm cho hai phái đoàn Bắc Việt và MTDTGPMN. Đầu tiên, những nhà thầu cung cấp thực phẩm chỉ là những cảm tình viên do chúng ta giới thiệu nhưng đã bị chúng nghi ngờ không chấp nhận. Chúng yêu sách đòi hỏi phải đăng báo để chúng tìm nhà thầu khác ngoài công chúng do chúng tự chọn. Nhưng thật là khôi hài, chị Thủy cho biết, chúng chọn ai không chọn, lại chọn đúng ngay đội tình báo của biệt đội Thiên Nga trá hình làm nhà thầu cung cấp thực phẩm cho chúng. Công tác này được mang ám danh là Trùng Dương, hoạt động mãi cho đến ngày cuối cùng là 28-4-1975.
Đối với người phụ nữ Việt Nam, công việc hoạt động tình báo quả là một thử thách khó khăn vì người phụ nữ dù làm việc trong lãnh vực nào cũng vẫn không thề quên cái thiên chức làm vợ, làm mẹ đè nặng trên vai. Hơn nữa người tình báo lại là người muôn mặt. Khi thì là một nữ sinh viên ngây thơ nhí nhảnh, lúc lại là một chị bán hàng rong tất bật lam lũ. Hôm nay là một mệnh phụ đài các, ngày mai lại là một chị nông dân chất phác,… Cái khó khăn là phải biết nhập vai sao cho chính xác mà vẫn không bị lộ. Cho nên để bảo toàn bí mật và để hoàn thành những nhiệm vụ được trao, người nữ cán bộ tình báo nhiều khi đã bị mang tiếng là bỏ bê gia đình bởi do nhu cầu công tác có những lúc họ phải đi sớm về khuya, bỏ mặc con ngóng, chồng trông mà không sao giải thích được. Đó cũng là nỗi khổ tâm của người nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga. Vượt qua được những trở ngại đó, các nữ chiến sĩ Thiên Nga đã nhiều phen tạo được những chiến công to lớn (trong thầm lặng). Họ đã đem hết những hăng say, nhiệt tình, tinh thần chống Cộng mãnh liệt của tuổi trẻ, hiến dâng để bảo vệ đất nước miền Nam Việt Nam.
Cộng Sản cũng rất lưu ý đến những hoạt động của Biệt Đội Thiên Nga. Hầu hết những cán bộ điều khiển của biệt đội đều phải trải qua nhiều năm trong những trại tù khắc nghiệt của cộng sản sau ngày 30-4-1975. Mặc dù vậy họ vẫn giữ vững nhân cách, lập trường, vượt qua những gian lao của bao năm tháng tù đày. Trong những ngày cuối cùng khi biết Miền Nam sẽ rơi vào tay Cộng Sản, với tinh thần trách nhiệm cao độ, chị Nguyễn Thanh Thủy đã kịp thời tiêu hủy tất cả các hồ sơ nhân viên, kể cả danh sách các cảm tình viên và những người phía bên kia hoạt động nhị trùng cho biệt đội. Chị cũng thiêu hủy tất cả các kế hoạch công tác đã hoặc chưa thi hành để kẻ thù không thể khai thác khi chúng tiếp quản Miền Nam. Chị Nguyễn Thanh Thủy đã bị chúng giam cầm đến gần 13 năm mới được tha, khi sức khỏe của chị đã quá suy sụp tưởng chừng không gượng dậy nổi, nhưng như một phép lạ chị đã lần lần phục hồi sau một thời gian được trả tự do. Trong thời gian bị giam, chị đã bị kẻ thù hành xác và khủng bố tinh thần qua các thủ đoạn biệt giam, hăm dọa, bỏ đói, … để moi cung nhưng chúng vẫn không khai thác được gì nơi chị ngoài những điều chúng đã biết.
Định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ, theo diện H.O. từ năm 1992 đến nay, tuy đã lớn tuổi và sức khỏe có phần nào hạn chế bởi những năm tháng trong ngục tù Cộng Sản, chị Nguyễn Thanh Thủy vẫn tỏ ra năng động và luôn tích cực trong nhiều sinh hoạt cộng đồng. Mới đây chị vừa được cựu Tướng Lê Minh Đảo, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại đề cử vào chức vụ Trưởng Khối Xã Hội của tổ chức này. Chị nói, đã là người Việt thì ai là người không nặng tình với đất Việt, dân Việt. Được dịp phục vụ Tổ Quốc là một hãnh diện và danh dự thì làm sao chị có thể chối từ, hơn nữa khi “giặc đến nhà, thì đàn bà cũng phải đánh”, đó là lời tâm sự của chị.
Là cựu Biệt Đội Trưởng Thiên Nga, một cựu cấp chỉ huy về tình báo, chị cảm nhận được rằng đang có những sự xâm nhập của tình báo Cộng Sản tại hải ngoại. Chúng đã và đang len lỏi trong cộng đồng bằng những thủ đoạn gây chia rẽ và phá rối dưới nhiều hình thức. Kẻ thù đang giấu mặt. Chị Thủy nói, chúng ta cần cảnh giác với chúng, bởi vì Cộng Sản rất tinh vi và quỷ quyệt, chúng lại sẵn có phương tiện (tài chánh) dồi dào trong tay, nên nếu chúng ta không tỉnh táo sẽ rơi vào bẫy sập của chúng.
Toàn Như
Đăng tải tại Tâm Tình K1
Chức năng bình luận bị tắt ở Biệt Đội Trưởng Thiên Nga – Bài của Toàn Như
Thư giản cuối tuần với 3 slideshows.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư giản cuối tuần với 3 slideshows.
Thư Giản với Slideshow
Mời các bạn thưởng thức slideshow
Thơ : Phạm Thiên Thư
Nhạc: Phạm Duy
Ca sĩ: Thái Thanh
PPS: Phan Tuấn Đạo
Click vào đây để xem
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Giản với Slideshow
Thư Giản_ Ca Nhạc
Mời các bạn click vào link nầy để thưởng thức các ca khúc trử tình của Diệu Hương
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Giản_ Ca Nhạc
Bài phát biểu của K1 Phan Tấn Ngưu trong lễ Kỷ Niệm 45 năm Học Viện CSQG
Đăng tải tại Tâm Tình K1
Chức năng bình luận bị tắt ở Bài phát biểu của K1 Phan Tấn Ngưu trong lễ Kỷ Niệm 45 năm Học Viện CSQG
Bài Nhận Định Tình Hình Đất Nước Của K1 Lê Phát Minh
Đăng tải tại Tâm Tình K1
Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Nhận Định Tình Hình Đất Nước Của K1 Lê Phát Minh
Bài Thơ Từ Biệt của K1 Hà Thị Hạnh
Anh Vinh thân mến,
Như đã hứa, tôi gởi tiếp cho anh bài thơ xem như tạm thay thế bài viết về cuộc đời tôi, mấy anh đọc cho vui.

Được thư bạn tôi bồi hồi khôn tả,
Sao bạn lành hiểu quá rõ lòng tôi,
Việc ghi ra quá khứ của đời tôi,
Không khó mấy nhưng không còn được phép.
Lúc xưa ấy tôi thường hay ghi chép,
Chép chép ghi ghi nghỉ sẽ mãn nguyền,
Lòng bồi hồi ghi chép liên miên,
Bờ bến đến sẽ là “vùng đất hứa”.
Như bạn biết tôi không làm được nữa,
Đất hứa nào đã từ chối “nạp dung tôi”
Cuộc đời tôi đành phải buông trôi,
Theo năm tháng với tuổi đời chồng chất.
Thời gian ấy … không gian nầy bất tất,
Làm tôi đau, tủi, nhục triền miên,
Nhân quả chi tôi ôm hết ưu phiền,
“Được” ở lại quê hương sao buồn tủi.
Đầu bạc trắng chân đau gối mõi,
Tinh thần suy thân xác chẳng hơn gì,
Sống lạc lõng còn nhọc thân nhục chí,
Đến một lúc tôi giật mình tỉnh trí.
À ra thì ta còn mỗi một con đường,
Con đường nầy không xuống suối trèo non,
Không rừng rậm hay biển to sóng cả,
Đường tôi chọn êm đềm không buồn bả,
Không hơn thua danh lợi bạc tiền,
Không giàu nghèo cao thấp đua chen,
Chỉ thuần nhất nâu sòng dưa muối.
Đã qua rồi những khoảng đời buồn tủi,
Tự tâm mình thay đổi cho mình,
Phải tự cứu bản thân như cứu lửa,
Xin các bạn yên lòng đừng thương (xót) nữa,
Tôi bây giờ không là tôi của trước đây,
Lòng thảnh thơi như gió đưa mây,
Mây trôi mãi tìm về không gian cũ,
Lời tạm biệt đến ĐỒNG MÔN NAM NỮ,
Một ngày nào đoàn tụ, hay chỉ mơ?!
Vẫn chờ !!
Hạnh Hà Tấn Dung
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Thơ Từ Biệt của K1 Hà Thị Hạnh
Thư Cám Ơn và Từ Biệt của Hà Thị Hạnh
Tâm Tình Với K1 Hà Thị Hạnh
|
|
|
Đăng tải tại Tâm Tình K1, Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Cám Ơn và Từ Biệt của Hà Thị Hạnh
Chuyện thật người thật của K1 Phan Quang Nghiệp
NHỮNG HỘI NGỘ KỲ THÚ :
(Chuyện thật, người thật do người trong cuộc Phan Quang Nghiệp kể.)
HỘI NGỘ LẦN THỨ NHẤT: CON TRAI TỈNH ỦY VC BÌNH ÐỊNH. ÂN HAY OÁN? BẠN HAY THÙ ?
Sau 30.4.75 tôi bị 17 năm tù khổ sai biệt xứ, bị đày ải từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam.đến năm 1992 mới được thả ra. Ngày 13 tháng 8 năm 1993 gia đình tôi được cho tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ, tiểu bang California, thành phố Santa Clara Hay tin tôi từ Việt Nam mới qua, nhiều người Việt Nam trong cùng apartments ghé qua thăm hỏi chúng tôi, trong đó có Ông Huỳnh Khoa được biết là một người từng hoạt động Việt Nam Quốc Dân Ðảng ở Ðà Nẵng và hiện là một nhà hoạt Ðộng Cộng Ðồng Việt Nam ở San Jose. Ông Huỳnh Khoa rất mến tôi khi biết tôi quen biết nhiều vị lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Ðảng như Ông Võ Trạng ở Quảng Ngãi, Ông Nguyễn Hữu Thời ở Bình Ðịnh, đặc biệt là Cụ Nguyễn Ðình Lương (Quảng Nam) mà tôi có dịp giúp đở trong 17 năm ở tù chung. Biết tôi có thời gian làm việc ở Bình Ðịnh thì vội khoe với tôi là ông ta có một chàng rể cũng là người quê hương Bình Ðịnh, anh ta là một Kỷ Sư điện tốt nghiệp ở Mỹ và đang làm việc cho một hãng Mỹ lớn lắm. Nó giỏi lắm, Ông Huỳnh Khoa không ngớt khoe chàng rể quí cho tôi và sai một người con trai về gọi anh Hoan (tên chàng rể quí) qua gặp tôi nói chuyện chơi. Anh Hoan qua gặp, chào hỏi tôi : “ Chú ở Việt Nam mới qua ?”. Với giọng Bình Ðịnh thân thương mà đã lâu lắm rồi mới được nghe lại. Tôi nghĩ xa xôi nửa vòng trái đất mà gặp được một người gần như đồng hương thì cũng vui, có nhiều chuyện để nói.Thôi thì cũng tạm coi như là “ tha hương ngộ cố tri ”đi…nhưng sự thật còn đi xa hơn thế:
-Tôi hỏi : Cháu ở Bình Ðịnh vậy chứ ở Xã nào Quận nào?
-Chưa kịp trả lời tôi thì anh Hoan vội đứng lên chào Bà Xã tôi vừa mới bước ra là “Thưa Cô, Em là học trò cũ của Cô ở Trường Trung Hoc Cường Ðể Qui Nhơn đây.”Và tôi cũng nhớ ra hình như có gặp em này trong quá khứ ?
-Trở lại nói chuyện vơí tôi, anh Hoan nói quê ở xã Phước Lý,Quận Tuy Phước Tỉnh Bình Ðịnh.
-Tôi hỏi tiếp: Vậy chứ cháu ở xóm nào ? Chú cũng biết nhiều nơi ở xã này.
– Hoan không trả lời thẳng câu hỏi của tôi mà lại nói rằng “nếu cháu nói tên của Ba cháu thì Chú biết liền! – Cháu là con của Ông TÁM VINH đây .”
– À, ..tôi đã nhớ ra rồi. Anh nầy là con một Tỉnh Ủy VC Bình Ðịnh ra hồi chánh vào giờ chót ở Qui Nhơn. Tôi có chụp một tấm hình màu Polaroid lấy liền lúc đó cảnh Cha conTámVinh đoàn tụ, cảnh trước Trường Trung Học Cường Ðể Qui Nhơn .Tấm hình đẹp lắm và tôi đã sử dụng nó trong một công tác tình báo sau nầy.Tôi phán một câu chắc nịch là: “ như vậy cháu phải là họ VÕ?”
– “Dạ vâng, cháu tên là Võ Ngọc Hoan”
-“Vậy giờ Ba cháu hiện ở đâu mạnh giỏi không?” Tôi không giám hỏi còn sống hay chết?
– Hoan nói: “Đó cũng là điều mà cháu muốn hỏi chú ? Như vậy là Chú cũng chẳng có tin tức gì về Ba Cháu từ sau ngày 30.4.75. Nhưng mà gặp được Chú đây Cháu rất mừng và xin Chú viết giấy xác nhận cho cháu về trường hợp của Ba Cháu để Cháu bảo lãnh đứa em hiện còn bị kẹt bên Ðảo.
Rồi anh H. kể tiếp : “Thưa Chú sau ngày “giải phóng” gia đình cháu khổ lắm. Mấy người cộng sản ở tù về, hay nhảy núi về,bọn Cộng Sản Bắc Kỳ vô họ tìm đến nhà cháu hạch hỏi về Ba cháu đủ thứ như hiện giờ Ba cháu ở đâu ?Tiền bạc kinh tài cho Cách Mạng để đâu ?Tiền bạc Mỹ Ngụy tưởng thưởng để đâu?.Chữi bới chúng cháu tại sao không chạy theo Mỹ Ngụy mà còn ở lại ? Muốn tiếp tục âm mưu chống phá “Cách Mạng” nữa hay sao? Ðồ phản bội…Chúng đàn áp đánh đập , phân biệt đối xử rất khắc nghiệt với gia đình chúng cháu, luôn cả bà con giòng họ nội ngọai của chúng cháu..Chúng cháu chịu không nỗi nên đã tìm cách vượt biên, dù chết dù sống gì cũng phải ra đi xa lánh cái cảnh địa ngục trần gian nầy..May mà vượt biên được, thật may mắn quá”.
-Tôi nghe mà thật bùi ngùi thương cảm. Những người như chúng tôi dù bị trả thù tàn nhẫn khốc liệt cách mấy( như cá nhân tôi bị tù 17 năm khổ sai biệt xứ chịu đủ mùi xà lim, tra tấn, cùm kẹp, bỏ đói bỏ khát..)thì cũng đành chấp nhận, dù sao thì mình có sức chơi thì có sức chịu. Chỉ tội nghiệp là tội nghiệp cho những nạn nhân oan ức như gia đình anh H. đây, họ có tội gì ? Tại sao Cộng Sản có thái độ giận cá chém thớt ? trả thù hèn hạ như vậy? Nếu như ngày trước lúc đương quyền mà tôi cũng đối xử với gia đình một Cán Cộng cao cấp đang hoạt động , đang gây nhiều tác hại tại địa phương(trường hợp như gia đình của anh H. đây) giống như bọn Cộng Sản đã làm sau nầy, thì bây giờ còn mặt mũi nào mà ngồi nói chuyện vui vẻ như thế nấy.Vợ tôi dạy những người con của VC như anh H. đây cũng như mọi người khác không cần biết lý lịch, không hề có một phân biệt đối xử nào. Hai tên Võ Tấn Danh và Võ Tấn Lợi ở An Nhơn Bình Ðịnh quăng hai trái lựu đạn hôm cắm trại liên trường ở sân vận động Qui Nhơn (9/1/1972) cũng là hai đứa học trò trường Cương Ðể mà cha chúng là VC và đã móc nối xúi dục chúng gây tội ác!!
Nghĩ tội nghiệp cho những gia đình giống như gia đình anh H. đây. Suốt thời niên thiếu Cha đi theo Việt Cộng, gia đình sống trong vùng Quốc Gia, mặc dù phía Quốc Gia họ không làm gì có tính cách đàn áp hay phân biệt nhưng thật sự thì chính họ tự cảm nhận chẳng giống ai. Bạn bè cùng trang lứa tụi nó có Cha, Anh là Quân Ðội VNCH. Chúng nó tỏ ra rất tự hào và thích thú mỗi khi có một bài hát mới ca ngợi tình anh lính chiến. Chúng hát theo say sưa. Những người như H. làm sao thông cảm và thưởng thức được những bài ca bất hũ đó.Trái lại những người như Ba H. thì gắn liền với hình ảnh giựt mìn xe đò, vãi lựu đạn vô trường học, rạp hát v.v… H. là con của bọn khủng bố? lầm lũi đi về mà chẳng dám có bạn bè. Ðên khi Ba H. ý thức được sai lầm ra chiêu hồi, thì sự đoàn tụ chẳng được bao lâu, chưa kịp vui cho thỏa thì Chính Quyền Quốc Gia sụp đổ. Cộng Sản đối xử tàn tệ còn hơn với kẻ thù là Quân Ðội Công Chức Chế Ðộ cũ.Tiếp tuc cuộc sống cô đơn giữa chợ đời….
-Tôi rất vui vẻ làm các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của anh H. Với tư cách là một cựu Thiếu Tá Phụ Tá Ðặc Biệt Tỉnh Bình Ðịnh , chứng nhận một người dân oan bị trả thù hèn hạ, bị bách hại bởi Cộng Sản để xin được tị nạn Cộng Sản. (Các Bạn thấy không : sau 18 năm mất nước không còn lon lá chức vụ gì mà tôi vẫn còn làm việc !!!, mặc dù làm việc không lãnh lương)
Tôi nói chuyện tiếp với anh H:
Việc Ba cháu ra hồi chánh vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến (cuối năm 1974 ) ít nhiều gì cũng có sự tác động của chú và của những người phe chú. Bây giờ cháu có oán trách gì chú không? bởi vì nếu vào những ngày đó mà Ba cháu không ra hồi chánh, thì chỉ 3 tháng sau khi chiếm được Miền Nam thì Ba cháu là Tỉnh Trưởng, Thị Trưởng và cháu là con ông cháu cha(nói theo VC là Con Cháu Các Cụ Cả), tha hồ mà nhà cao cửa rộng xe cộ nghinh ngang tiền bạc ngập đầu quyền hành sinh sát muốn gì được nấy trong cái cảnh luật rừng“luật là tao, tao là luật, Ðảng là tao ,tao là Ðảng “ như Sáu Búa Lê Ðức Thọ nói mà cháu nghe thấy sau nầy đó. Cộng Sản Việt Nam hiện nay mạnh ai nấy cướp giật, bóc lột nhân dân cho đầy túi tham không đáy. Một lần nữa chú hỏi thật cháu là cháu có oán trách gì Chú ? cứ nói nghe chơi..Mình đang ở trong một xứ sở Tự Do mà !.
-Anh H vội cải chính:
-Dạ không đâu! dạ không đâu! Thưa chú, anh lặp lại hai lần. Nhờ vượt biên trót lọt được qua đây sớm nên cháu có điều kiện tiếp tục học hành đến nơi đến chốn. Bây giờ có bằng cấp cao có vợ đẹp con sang, xe cộ, nhà cửa, đầy đủ tiện nghi và lương cháu cũng khá. Hiện tại tuy không bằng ai nhưng xét cho cùng thì mình cũng thuộc tầng lớp Trí Thức và Trung Lưu trong Xã Hội Hoa Kỳ này. Chưa kể mình được hưởng bao nhiêu là phương tiện văn minh tiên tiến nhất trên thế giới, về vật chất cũng như tinh thần…Không!! Cháu không ân hận và trách móc ai hết. Cháu chĩ cám ơn Trời Phật cho cháu được cái may mắn như ngày hôm nay…Còn giàu có bằng cách bán nước từng phần hay ăn cắp, ăn cướp của của nhân dân theo kiểu Cộng Sản Việt Nam bây giờ cháu không ham đâu và chắc gì bền chú ơi!!..Cháu chỉ ân hận là bây giờ tụi cháu sung sướng về vật chất cũng như được hưởng mọi thứ tự do dân chù trên quê hương thứ hai này, mà không biết số phận của Ba cháu hiện nay ở đâu sống chết như thế nào? Cháu không giúp đỡ gì được cho Ba Cháu. Cháu đã cố ý tìm kiếm hỏi thăm tin tức từ mười mấy năm nay mà vẫn biệt vô âm tín.
TỈNH ỦY VIỆT CỘNG TÁM VINH :
-Cháu H biết về Ba cháu chắc không nhiều ?-Tôi tiếp tục nói chuyện với Kỷ Sư H -Bởi vì khi Ba cháu nhảy núi hoạt động Việt Cộng thì cháu còn nhỏ quá. Nhưng trái lại đồng bào buôn bán dọc theo đường Gia Long, Lê Lợi, Phan Bội Châu Võ Tánh hay ở dưới Chợ Qui Nhơn như Dân Lợi, Phước Tân, Phước Tấn, Tân Thích vv thì không lạ gì cái tên Ðoàn Hữu Trác, hay Tám Vinh mà họ thường thấy ký tên trong các tờ Công Khố Phiếu Kháng Chiến, các Biên Nhận Ðóng Thuế ,Thu Tiền hay Tiếp Tế cho “Cách Mạng”.Tuy họ không biêt Ba Cháu là ai nhưng sau nhiều vụ nổ mìn như ở khách sạn Việt Cường, Lầu Bà Ðệ ( tức Khách Sạn Thanh Bình của Thân Mẫu Nhà báo Huỳnh Lương Thiện – Mõ SF- ), Bar Tuyết Trắng, rạp ciné Trưng Vương giết hại nhiều người dân vô tội , nhất là sau vụ VC vãi lựu đạn trong sân vận động Qui Nhơn hôm học sinh liên trường tổ chức cắm trại, chính mắt cháu thấy đó, làm thày giáo và học sinh vừa chết vừa bị thương hơn 200 người, trong đó chú còn nhớ có Thầy Tạ Quang Khanh bị thương nặng và vợ là Cô Ðặng Thị Bạch Yến chết tại chỗ… Họ sợ những người như Ba cháu, cho nên mỗi lần thấy người của Ba cháu từ trên núi xuống lẻn vào Qui Nhơn hăm dọa đòi tiền là họ mau mau lo đóng cho xong. Chú cũng vậy, qua tin tức tình báo chú biết Ba cháu tên thật là Võ Tôn Chứng hay Võ Chứng hay Ðoàn Hữu Trác hay Tám Vinh, sanh quán Xã Phước Lý Quận Tuy Phước Tỉnh Bình Ðịnh, là một Tỉnh Ủy Viên, đương chức Bí Thư Huyện Ủy Huyện Tuy Phước Tỉnh Bình Ðịnh. vừa mới được biên chế làm Bí Thư Thị Uỷ VC Qui Nhơn.Thỉnh thoảng Chú cũng truy bắt được nhiều tổ chức hạ tằng cơ sở VC, một vài đường dây giao liên hay năm ba cơ sở đặc công hay kinh tài cho VC, nhưng không dễ gì bắt được Ba cháu..Phải nói rằng Ba cháu là một cán cộng có tài, hoạt động rất đắc lực nếu so với cán cộng Nguyễn Phụng Khuông bí danh Biên Cương người quán Bồng Sơn Bí Thư Thị Ủy Qui Nhơn trước Ba cháu bị bọn chú bắt và sau đó bị VC giết trong trận Tết Mậu Thân ở Qui Nhơn thì ba cháu không bằng, nhưng ba cháu thuộc hạng giỏi của Cộng Sản Bình Ðịnh. Không biết vì lý do vượt trội hơn người khác mà nhiều người đố kỵ như tên Hoà trên tỉnh uỷ, tên Nguyễn Ðấu ở Thị Ủy tên này muốn tranh chức BT Thị Ủy với Ba cháu,tên Cường, tên Vương ỡ Thị Ðội, ngay cả tên Nguyễn Trung Tín Bí Thư Tỉnh Ủy cũng không thích Ba cháu ??.Chú cũng có tin tức là vì tụi nó nghi Ba cháu có gì mờ ám trong số tiền bạc kinh tài trong Nội Thị Qui Nhơn đưa ra.??Ngoài ra chú cũng được tin là Ba cháu phỗng tay trên tụi nó : có quan hệ ái tình với một nữ cán cộng ở Thôn An Cửu xã Phước Hưng ,cơ sở mà bọn Tỉnh Ủy VC thường lén lút về du hí, giải quyết sinh lý, cho nên lũ nó căm giận ba cháu và kết tội ba cháu là hủ hóa.vv…
TRAO ÐỔI THƯ TỪ VỚI TÁM VINH
Chú nhớ vào khoảng hạ bán niên năm 1973 trong khi gởi thư tuyên truyền, phát triển cơ sở, Ba cháu có gởi thư móc nối một cựu công chức Việt Nam Cộng Hòa đã nghỉ hưu tên là Nguyễn Cao Bằng. Ông này hay về thôn Huỳnh Giản Xã Phước Hòa Quận Tuy Phước làm ruộng lúa, mà cái thơ lại lọt vào đường giây của chú. Chú có nhiều Cán bộ đường dây nội tuyến trong hàng ngũ VC Bình Ðịnh. Những thư từ tài liệu gì gởi qua những đường dây nầy chú đều photocopy trước khi cho gởi đi và theo dỏi. Nhờ đó mà biết được nhiều tổ chức cơ sở và chủ trương của VC. Riêng trường hợp Ông Nguyễn Cao Bằng là một cán bộ Quốc Gia từng làm việc chung với chú, không thể nào là một cơ sở VC được, nên chú không cho gởi đi mà giữ lại để tương kế tựu kế. Chú đã mạo danh Ông ta gởi thư trả lời cho Ba cháu. Chuyện nầy chú cũng có bàn với Cố Vấn Mỹ và họ cũng đã đồng ý.Trong thư từ qua lại chú gởi cho Ba cháu mang tên Ông Nguyễn Cao Bằng, đứng trên lập trường Quốc Gia Dân Tộc mà lên án cả Cộng Sản lẫn Tư Bản. Chẳng hạn như từ hơn bốn ngàn nămVăn Hiến đến nay Tổ Tiên ta có theo một chủ nghĩa nào đâu mà vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Cho nên theo Ông N.C.B. thì những ai cầm súng AK 47 hay AR15 cũng đều là tay sai ngoại bang và đều có tội với Tổ Quốc. Lên án gắt gao những thế lực ngoại bang từ Nga Tàu đến Pháp Mỹ gieo rắt chiến tranh cho Quê Hương Việt Nam. Cho Ba cháu biết rằng hiện nay đa số nhân dân Việt Nam họ không theo Mỹ và cũng không ưa gì “Cách Mạng ”.Trong Hiệp Ðịnh Ba Lê cũng minh định thành phần thứ ba đó. Ở Qui Nhơn thành phần thứ ba nầy đông lắm và họ vẫn sinh sống bình an. Họ chỉ cầu mong sao cho thật sự hòa bình cho dân tình bớt khổ…Riêng Ông Ta NCB sau hàng chục năm làm công chức sáng vác ô đi tối vác về (thời nào thì cũng cần có những ngươì công chức lo ba cái giấy tờ cho dân), bây giờ già rồi lo chăm ba đám ruộng nương kiếm sống qua ngày, không đụng chạm đến ai, chỉ xin hai chữ bằng an. Chú cứ lập luận theo kiểu hàng hai đó nhằm lung lạc ba cháu .Có lẽ những thư từ qua lại mang nội dung như thế nầy đã là một nhân tố tác động tư tưởng ba cháu khiến ba cháu đã ra hồi chánh sau này..??.
Quả đúng như vậy khoảng cuối tháng 9 năm 1974 trong một đêm mưa to gió lớn Ba cháu và một cán cộng khác tên Ðinh Truyền Thanh (cái tên nghe ngồ ngộ nên dễ nhớ ) mang đầy đủ vũ khí cá nhân và tài liệu liên quan ra hồi chánh. Chú mừng lắm cho người đi tiếp nhận Ba cháu về Ty Cảnh Sát phỏng vấn. Ngày đó chú ăn ở trong Ty luôn nên vợ chú tức là Cô đây có dịp nấu cơm và gọi mấy ông nhân viên đem xuống cho Ba cháu ăn luôn trong những ngày đầu được phỏng vấn. Ba cháu là một cán cộng cao cấp nên có rất nhiều tin tức tình báo có giá trị.Trong đó có tin Cộng Sản Bắc Việt chủ trương tổng công kích như hồi Mậu Thân, hay như Mùa Hè 72..Tin tức sốt dẽo VC sắp đánh lớn lan truyền. Ngoài Cảnh Sát Ðặc Biệt có rất nhiều cơ quan tình báo Việt, Mỹ khác đến phỏng vấn Ba cháu. Cuối cùng thì người Mỹ họ đem máy bay riêng ra chở Ba cháu vào SàiGòn để phỏng vấn tiếp.
Cháu còn nhớ hôm Chú và mấy người Mỹ chụp hình anh em cháu đoàn tụ với Ba tại trước trường Cường Ðể không ? Sự việc là Ba cháu có cho chú biết là trong Huyện Ủy Tuy Phước hiện nay có tên Nguyễn Bốn tự Bốn Dẹo đang bất mãn muốn ra hồi chánh. Chú dùng tấm ảnh này để gởi cho tên Bốn Dẹo thấy rằng Ba cháu ra hồi chánh được bình an và được đoàn tụ vui vẻ, khuyến khích Bốn Dẹo hãy mạnh dạn ra hồi chánh. Nhưng hãy hồi chánh tại chỗ chú sẽ thiết lập hệ thống liên lạc bí mật và hãy làm việc cho chú khoảng sáu tháng trước khi ra trình diện để cung cấp tin tức tình báo cho chú và chú sẽ trả lương hậu hỉnh cho ông ta, sau này ngày ra hồi chánh với Quốc Gia thì đã có một số vốn kha khá để làm ăn. Sự việc tiến triển rất ngon lành tuy chưa có kết quả cụ thể thì Qui Nhơn đã bỏ chạy….
Riêng Ngành Ðặc Biệt Quận Tuy Phước thì khai thác số tài liệu Ba cháu mang về liên quan đến 15 Chi Bộ VC các xã trực thuộc. Họ đã càn quét truy bắt tất cả gần 200 cơ sở VC với nhiều súng đạn tài liệu… lập hồ sơ truy tố ra tòa án quân sự Nha Trang.Tòa Án chưa kịp xử thì cuối tháng 3/75 Qui Nhơn và Nha Trang thất thủ. Những cơ sở Việt Cộng này họ được tự do ra về và rất hận thù Ba cháu vì nội vụ còn mới mẻ quá. Bọn VC Bình Ðịnh cũng đã tuyên án tử hình vắng mặt Ba cháu, lúc đó chú chưa đi tù nên chú biết rõ việc nầy. Bọn VC Bình Ðịnh cho người vào Nha Trang, Saìgòn tìm kiếm ba cháu rất gắt mà không gặp…….
Bây giờ ngồi kể lại chuyện xưa nhớ lại hồi chiến tranh sao nghe ớn lạnh quá . Nhưng dù gì thì chuyện cũng đã quá khứ rồi, Chú nghĩ nếu người Mỹ họ có trách nhiệm thì họ phải lo cho ba cháu được an toàn. Ngoài ra Ba cháu là một người thông minh lanh lợi chăc không đến nỗi nào. Nếu Cộng Sản bắt được ba cháu chắc chắn bọn chúng đã đem về Qui Nhơn xử tử để trả thù và răn đe kẻ khác. Chú biết bọn chúng hận thù Ba cháu nhiều lắm vì việc chúng gọi là đầu hàng phản bội đã gây cho chúng nhiều tổn thất Chú nghĩ rằng Ba cháu còn sống lẩn lút đâu đó.Thật tội nghiệp cho Ba cháu. sau bao năm xa cách vừa mới được đoàn tụ với gia đình chưa được mấy hôm thì lại phải chia ly ? …
Hoàng Thiên Bất Phụ Hảo Tâm Nhơn, cháu có lòng tốt chắc chắn Trời Ðất sẽ không phụ lòng. Chúc cháu sớm có tin về Ba cháu.
Sau lần hội ngộ kỳ thú nầy chúng tôi quen thân với nhau. Kỷ Sư H. thường qua lại nhà tôi chơi, chỉ vẻ cho các con tôi những kinh nghiệm học hành trong các trường Ðại Học Mỹ và cùng với tôi sinh hoạt trong Ban Chấp Hành Hội Tây Sơn Bình Ðịnh Bắc Cali. Cuộc sống của chúng tôi không ngừng thăng tiến …. theo thời gian lặng lẻ trôi,……
HỘI NGỘ LẦN THỨ HAI : TỈNH ỦY VC BÌNH ÐỊNH “TÁM VINH” ANH CÒN SỐNG À ?
Cuộc Hội Ngộ Kỳ Thú lần thứ hai -(Nếu không có lần hội ngộ nầy thì tôi cũng chẳng viết chuyện nầy)- xảy ra vào cuối năm Ất Dậu (2005) trong một buổi Tiệc Tất Niên của Hội Tây Sơn Bình Ðịnh được tổ chức rất trang trọng tại Nhà Hàng Phú Lâm thành Phố San Jose Tiểu Bang California Hoa Kỳ.Tôi là một trong những người sáng lập Hội Tây Sơn Bình Ðịnh Bắc Cali nên năm nào tôi cũng tham dự. Ðặc biệt năm nay, trong khi tôi ngồi nói chuyện với vài vị Quan Khách thì có Kỷ Sư Võ Ngọc H.trong Ban Chấp Hành dẫn đến giới thiệu cho tôi một người đàn ông trạc ngoài 70, thấp người ,da dẻ hồng hào khoẻ mạnh, một sự thông minh nhanh nhẹn thể hiện trên cặp mắt sáng quắt và vầng trán cao rộng hơi vồ. Anh H. hỏi tôi: “ Chú Nghiệp biết đây là ai không ?”.Tôi nhìn người đối diện từ đầu tới chân còn ngờ ngợ cố tìm trong ký ức xem thử còn nhớ ra không ? mà anh H thì làm ra vẻ úp úp mở mở và nét mặt rất vui mừng.Và người ấy thì nhìn tôi cười cười như quen biết và chực ôm lấy tôi (sau này tôi biết là anh H đã nói sơ về tôi cho người ấy biết rồi)…Tôi nhớ mày mạy nhưng không giám nghĩ đó là sư thật. Thì anh H nói ngay: “Một Tỉnh Ủy Việt Cộng Tỉnh Bình Ðịnh đó!”.Tôi bật ra thành tiếng “TÁM VINH”? Có phải Tám Vinh đó không ? Anh Còn sống à?- rõ ràng là câu hỏi ngớ ngẫn-người ta đang đứng sờ sờ ra đó, mà hỏi Anh còn sống. Nhưng vì lúc đó tôi mừng và ngạc nhiên quá đỗi -Rồi hai chúng tôi ôm chầm lấy nhau: Một Trùm Cộng Sản một Tỉnh một thời lại ôm lấy một Trùm Cảnh Sát Ðặc Biệt Tỉnh một thời, mọi người chung quanh không khỏi ngạc nhiên và đánh nhiều dấu hỏi.?
Câu chuyện thật dài dòng đầy kỳ thú đã 30 năm rồi mà tưởng đâu như mới hôm qua. Hôm sau tôi điện thoại Ông Huỳnh Khoa, yêu cầu chở Ông Sui tức Ông Tám Vinh lên nhà tôi chơi. Sau này chúng tôi mua nhà riêng ở thành phố San Jose không còn ở thuê trong các khu apartments ở thành phố Santa Clara tuy nhiên cũng gần nhau, chỉ cách nhau khoảng 10 phút lái xe..Vợ tôi sửa soạn một bửa cơm đậm đà tình quê hương có mắm thu xay có thịt heo tươi luộc có canh khổ qua có cá nục kho có rau muống luộc…Chúng tôi nắm tay nhau bằng xương bằng thịt mừng mừng tủi tủi. Mừng là qua bao nhiêu tàn ác, chết chóc của chiến tranh chúng tôi không những may mắn còn sống sót mà còn có được một cuộc sống sung túc đầy đủ.Tủi là xa quê hương xa bạn bè xa bà con quen biết. Nơi quê người tỵ nạn nhìn chung quanh đều là những người dị chủng, khác màu da khác ngôn ngữ, khác tập quán.Với tuổi già như chúng tôi thật càng cô đơn.Sau bửa cơm tôi hỏi Tám Vinh làm cách nào anh thoát được? anh biết là sau 75 cộng sản lên án tử hình anh, găp anh đâu bắn đó? Và làm sao anh qua được Mỹ? làm sao anh gặp được con anh ?
PHỎNG VẤN TÁM VINH LẦN THỨ HAI :
(lần đầu tại BCH/ CSQG Bình Ðịnh )
MỘT CUỘC ÐỜI MAI DANH ẨN TÍCH:
-Một câu chuyện thật khó khăn ly kỳ và nhiều may mắn đã xảy ra cho tôi.Tám Vinh nói:-Từ từ tôi kể anh nghe
“Cuôi tháng 4/75 mấy Ông Cố Vấn Mỹ có cho tôi 50.000 đồng và bảo liên lạc với chính quyền Việt Nam để được giúp đở .Ngày 30.4.75 Sai gòn “giải phóng” tôi rất lo sợ.Tên Ðinh truyền Thanh càng sợ càng bám riết lấy tôi.Chúng tôi ra Bến Xe Miền Ðông lẫn trốn trong số đồng bào tỵ nạn chiến tranh.Tôi tìm cách bứt tên Ðinh Truyền Thanh ra.Tôi mua 2 vé xe về Qui Nhơn đưa cho Ðinh Truyền Thanh và bảo rằng thôi thì về quê trình diện xin khoan hồng theo như chính sách của chính quyền cách mạng.Trong khi chờ xe chạy, tôi bảo Thanh em chờ qua một chút qua đi mua ít đồ dùng .Tôi lẻn lên xe Vũng Tàu chạy ra Vũng Tàu.Tôi ở đó một tuần kiếm cách vượt biên nhưng không xong.Tôi về lại SàiGòn và đi xuống Miền Tây.Tôi thay tên đổi họ là Nguyễn Thiện Quế làm công nhân khuân vác.Tôi lo chăm chỉ làm việc và lấy lòng mọi người nên ai cũng mến.Tên tổ trưởng công nhân khuân vác thấy tôi có học, viết chữ tốt nên giới thiệu tôi làm giáo viên cho các lớp bổ túc văn hóa dạy cán bộ VC xã ấp và đồng bào mù chữ. Các lớp tôi phụ trách đều đạt tiêu chuẩn tiên tiến được trên Huyện về tuyên dương cho tiền thưởng. Cuộc sống tạm ổn. Một hôm có một Bà Cụ hỏi tôi :” Quế à,tao thấy mầy như vầy không được đâu” !- Tôi tái mặt nhìn bà già trân trân , không biết mình có lộ ra điều gì không? Tôi còn đang ấp úng thưa dì…Thì Bà Già nói :Tao thấy mày thui thủi một mình tao thương, muốn có vợ tao làm mai cho!! “Thật hú hồn. .Và Bà ấy làm mai và được Ông Hương Quản Huỳnh Văn Hương gả con gái cho. Chúng tôi sống với nhau có được một người con gái năm nay đã gần 30 tuổi có chồng và hai con trai.Tôi nhờ ảnh hưởng gia đình nên cũng biết chút ít về bói toán, phong thủy. Tôi mua sách nghiên cứu thêm và hành nghề thầy bói , coi tử vi, coi chỉ tay, coi ngày giờ tốt xấu coi huyệt mả, nền nhà nơi đào giếng vv. Tôi gíup đở được nhiều người. Và việc đi lại làng trên xóm dưới cũng nhờ đó mà không ai để ý. Kéo dài cuộc sống hai mặt như vậy, bên ngoài nói nói cười cười bên trong ôm ấp một bầu riêng tư, tôi không ngừng nghe ngóng tình hình….
Ðến năm 1988 Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng Bí Thư có chính sách cởi mở.Tôi hy vọng N.V.Linh sẽ giống như Goọc Ba Chốp bên Liên Xô .Tôi tính về lại Qui Nhơn…Nhưng sau đó nghe tin Nguyễn Hà Phan bị bắt, đổ tội làm CIA. Và Ðỗ Mười lên nắm Tổng Bí Thư.Tôi thấy tình hình không xong. Tôi rụt lại nằm im chờ đợi. …
Ðến năm Giáp Thân 2004 tôi đã 70 tuổi.(Tôi tuồi Giáp Tuất 1934) nỗi lòng thương nhớ Quê Hương, thương nhớ các con tôi, thương nhớ bà con xứ sở mà đã dày vò tâm trí tôi từ 30 năm nay không còn chịu đựng được nữa. Tôi quyết định tìm gặp lại các con tôi.Tôi suy nghĩ nhiều lắm: Bọn Cộng Sản bây giờ đã có một phần nghiêng theo Mỹ. Bọn cán bộ địa phương lo làm giàu và không còn hận thù sắt máu như xưa. Hơn nữa tôi đã 70 tuổi rồi …có chết mà mình được gặp lại các con và anh em bà con thì cũng mãn nguyện….
Tháng 8 năm 2004 tôi biết tại Tòa Thánh Cao Ðài Tây Ninh có tổ chức Ðại Hội. Các Chức Sắc Cao Ðài Toàn Quốc về tham dự.Tôi xách cái trắp đựng đồ nghề bói toán lên đường đi Tây Ninh.Tôi đến Tòa Thánh Cao Ðài Tây Ninh, sau một ngày dò la tin tức tôi đã gặp được một Vị Hiền Tài Ðạo Cao Ðài nói tiếng Bình Ðịnh. Tôi tìm cách tiêp cận làm quen thì được Vị nầy giới thiệu là Hiền Tài Nguyễn Thiện Tâm(?) quê ở Thiết Ðính, Bồng Sơn, Huyện Hoài Nhơn, Tình Bình Ðịnh về dự Ðại Hội Cao Ðài toàn quốc.Vị này khoảng 60 tuổi dáng người mập mạp, gương mặt vuông vức ăn nói chậm rãi đúng là bậc tu hành đạo mạo.Vị Hiền Tài hỏi tôi là Ông Ta có thể giúp được việc gì?Tôi thưa rằng tôi có một nỗi khó khăn dấu kín trong lòng từ 30 năm qua không giám thổ lộ cùng ai. Nó nguy hiễm đến tính mạng của tôi xin Thầy giúp đỡ cho… Sở dĩ tôi tìm đến Các Vị Tu Hành Ðạo Cao Ðài là vì tôi biết họ rất hiền từ, ăn chay trường và nhất là họ không ưa gì Cộng Sản, tôi nghĩ nếu họ giúp đỡ thì tốt nếu không giúp thì cũng không đến nỗi họ giết mình! Tôi cầm tay Vị này mà kể hết sự tình mà nước mắt thì trào tuông lả chả .Vị Hiền Tài cũng không cầm được nước mắt và hứa sẽ giúp đỡ đến nơi đến chốn.Thế rồi Người lấy giấy bút ra ghi hết những điều cần biết và nhận lá thư tôi viết sẵn cho các con tôi nhờ Thầy trao lại..
Tôi về lại nhà tôi ở Miền Tây mà hồi họp chờ mong.Một tháng rồi hai tháng trôi qua mà không thấy tin tức gì..Tôi nghĩ là chắc việc đã không thành..Bỗng một hôm tôi đang đánh cờ tướng với Ông Bạn hàng xóm thì con gái tôi chạy gọi tôi về có điện thoại.Tôi về nhà thì con gái tôi kể lại có một người gọi từ Qui Nhơn hỏi con có phải em là Nguyễn Thị Lý không ? Có Ba là người Miền Trung không? Con trả lời đúng vậy.Thì anh ấy xin gặp Ba. Con nói ba đi vắng không có ở nhà. Con hẹn 1 giờ sau gọi lại.Tôi nóng ruột quá như vậy là đúng rồi.Tôi bảo con gái tối : “Con bóp điện lại đi” (tức là con gọi điện thọai lại) cái số hồi nãy con có ghi đó, không cần chờ một tiếng đồng hồ đâu. Ðược tin như lửa đốt trong lòng tôi nôn nóng và nghĩ rằng con tôi cũng thế, nó chẳng đi đâu mà ngồi đó đợi điện thoại. Quả đúng như dự đoán bên kia đầu giây là tiếng thằng con trai lớn của tôi:
-Ba hả?,Có phải là Ba thật đó không? Con là Trung đây.
-Ðúng là Ba đây.Con nghi ngờ là phải thôi, đây là vấn đề hệ trọng , có thể nguy hiễm đến tính mạng. Ba hỏi con có phải con là “thằng Tõ” không?Con có ba anh em, con là cháu ngoại Ông Hương Bộ Thiệp, cháu nội Ông Hương Mục Lưu, Mẹ con tên là Nguyễn Thị Thục tức Minh Thư đã mất năm Mậu Thân, Bác Ba con là Võ Thùy phải không.?Con tin là Ba thật của con đây chưa?
-Ðúng rồi! Ba biết không ? Sáng nay có một Vị Chức Sắc Cao Ðài đến Xã mình hỏi thăm Bác Ba nói nhờ coi tuổi cho người quen và xin thuốc Nam. Gặp Ba vợ con , ba vợ con nói Bác Ba Thùy nó đã dọn vào Qui Nhơn. Có thắng cháu Ông ta là rễ của tôi, để tôi sai thằng nhỏ dẫn qua nhà nó nhờ nó chở vào Qui Nhơn tìm ông Ba Thùy.Gặp Ông ấy con hỏi –“ tìm Bác Ba cuả tôi có việc chi ?chờ tôi thay đồ rồi sẽ chở honda đi, sẵn dịp mua ít đồ dùng”. Ộng thầy Cao Ðài nói “Cháu kêu Ông Võ Thùy bằng Bác, vậy chứ cha cháu đâu?”Con trả lời là “Ba cháu mất tích từ năm 75 “.Ông Thầy Cao Ðài nói “ vậy thì thôi khỏi đi, tôi đến đây để tìm cậu chứ không phải tìm Ông Thùy.”Vậy cậu là Võ Trung ? tên lúc nhỏ là Tỏ, Cha là Võ Chứng?. Sau khi phối kiểm đầy đủ chi tiết, Ông Thầy lấy thư Ba ra, số điện thoại của Ba đưa ra bảo con đọc và ghi chú. Rồi Ông đốt hương trên bàn thờ và nói với con rằng ”nhiệm vụ của Ông ta đã hoàn thành xin cám ơn Trời Phật và xin đốt tất cả giấy tờ liên hệ (sau khi con đã ghi chép ). Ông Thầy dặn con từ nay sẽ không còn ai biết ai nữa, nói xong Ông ta đi mà không ngoảnh mặt lại…..
-Ðúng rồi! đó là Vị Ân Nhân mà chính Ba đã nhờ cậy. Thật cám ơn Trời Phật.
Cha con tôi hàn uyên tâm sự chặp lâu thì con tôi đề nghị là hãy xem như không có chuyện gì xãy ra để tụi con tôi chúng nó tính.Rồi thì con tôi ,cháu tôi bên Mỹ gọi về, rồi thằng H. con tôi bên Mỹ về thăm tôi và nhờ con Bác Ba nó cũng Kỷ Sư Mỹ làm giấy tờ bảo lãnh cho tôi qua Mỹ du lịch. Do đó mà tôi qua được Mỹ.”
Tám Vinh ngồi kể cho tôi chuyện thật đời mình mà nghe tưởng đâu như chuyện trinh thám. Ông còn cho biết là được con trai và con dâu cho đi du lịch nhiều nơi, thấy nước Mỹ thật vĩ đại quá, đẹp đẻ quá, sung sướng quá.Sung sướng nhất là được đoàn tụ với các con, các cháu. Hạnh phúc nhất là có được cô con dâu (con gái Ông Huỳnh Kh.) một người con gái Huế, hiếu hạnh hiền thục thương kính tôi rất nhiều. Mấy đứa cháu nội cũng quấn quít bên Ông. Cuộc sống thật vui vầy hạnh phúc.
Tám Vinh còn nhờ tôi chứng nhận cho hoàn cảnh của Ông Ta để xin phục hồi lý lịch, xin tị nạn ở lại Mỹ luôn.
Một lần nữa tôi lại nhân danh thiếu tá Phụ Tá Ðặc Biệt Tỉnh Bình Ðịnh chứng nhận hoàn cảnh nguy hiễm đến tính mạng của Ông Võ Chứng như thế nào để xin được khôi phục lý lịch và xin được hưởng quy chế tị nạn Cộng Sản.Tôi đã làm đầy đủ giấy tờ, nại nhiều nhân chứng Việt, Mỹ biết rõ về việc nầy. Mọi việc tiến triển kết quả tốt đẹp. Hiện nay ông là một nhà phong thủy ở San Jose(Các bạn thấy không sau 31 năm mất nước không còn lon lá chức vụ gì mà tôi vẫn còn làm việc.Tuy là làm việc không lương.)
Ra về Ông Tám Vinh ôm cứng lấy tôi rất lâu như ôm một người thân .
Vợ tôi nói một câu có nhiều ý nghĩa “ Gớm hai ông trước đây đã có một thời rình mò nhau từng bước chực giết nhau, vậy mà nay sao thấy ôm nhau thân mật qúa vậy ?”.
Tôi không biết trả lời sao thật ngắn gọn cho cô giáo có nhiều oán thù với VC nầy? Tôi vội nói :-Thì … hoà giải hòa hợp Dân Tộc đó mà !!!
Cầu mong dưới Trời Tự Do của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ nầy. Ông Võ Chứng (đã khôi phục lý lịch ) -mà không còn bí danh nào khác (tức là không còn liên hệ gì với VC ) sẽ có những ngày còn lại của cuộc đời được hoàn toàn hạnh phúc.
K1 Phan Quang Nghiệp.
Đăng tải tại Tâm Tình K1, Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện thật người thật của K1 Phan Quang Nghiệp
Thăm Bạn của K1 Lê hữu Nghĩa
Tìm thăm chị Hà-thị-Hạnh.
Thấy cái hẽm ngắn ngủn , tui biểu thằng Tín (con trai tui) đứng ngoài coi chừng xe để tui vô coi. Nếu hổng có số nhà thì tui trở ra đi tiếp để khỏi phải quành xe như hồi nảy giờ. Đứng trước một căn nhà ba bốn tầng có cửa sắt đóng kín, tui hơi ngần-ngại . Vì trong trí tui vẫn nghĩ là nhà của chị Hạnh hay anh Suốt chắc cũng là thường thường bậc trung thôi chớ không cao cấp như cái nhà nầy . Tui dò lại địa-chỉ lần nữa cho chắc ăn rồi mới ngập-ngừng bấm chuông . Một cậu thanh niên đi ra hỏi :
– Bác cần gì ?
Wow ! Câu hỏi nầy đúng là theo kiểu Mỹ rồi. Thay vì hỏi bác kiếm ai thì cậu ta lại hỏi là bác cần gì. Tui hỏi cầu may chớ trong bụng hổng chắc lắm.
– Xin lỗi, phải đây là nhà chị Hạnh hôn ?
– Dạ phải . Chắc bác là bạn của mẹ ?
Mèn ơi ! Hổng dè mình mới gỏ cửa cái nhà đầu tiên là trúng chóc liền . Hên thiệt ! Tui vừa gật đầu vừa nói phải , phải. Cậu thanh-niên mở khóa và mở cửa sắt . Tui vội nói :
– Tui bỏ xe ngoài đầu hẽm, để tui ra lấy vô .
Khi hai cha con tui vô tới thì cậu thanh-niên cũng vừa bày xong bộ bàn ghế ngay trong hiên nhà . Một lúc sau thì chị Hạnh từ bên trong đi ra. Thấy tui chị gật đầu chào. Tui lên tiếng trước :
– Phải chị là chị Hạnh hôn ?
Vừa hỏi tui vừa nhìn để tìm một nét quen thuộc nào đó trên gương mặt của chị . Nhưng tuyệt-đối hổng thấy quen chút nào. Chị Hạnh cũng nhìn tui dò-xét :
– Phải , tui là Hạnh . Còn anh là…xin lỗi tui …không nhận ra .
Tui muốn phá chị Hạnh một chút nên nói :
– Hổng phải chị hổng nhận ra, mà chắc là chị cũng hổng biết tui là ai đâu .
Chị Hạnh mở to đôi mắt nhìn tui thắc-mắc . Không để chị suy-nghĩ lâu , tui giải-tỏa :
– Tui khóa I. Hồi đó chỉ có 18 người con gái, còn con trai thì quá đông . Tụi tui biết hết mấy chị chớ mấy chị làm sao biết hết tụi tui được . Cho nên tui mới nói là chị hổng biết tui là ai .
Từ chỗ xa lạ, nhìn nhau ngờ ngợ nhưng sau khi nghe hai tiếng khóa I thì chị Hạnh vui-vẻ , cởi-mở và thoải-mái hẳn ra như gặp lại người thân. Hai tiếng khóa I quả thiệt là mầu-nhiệm trong trường-hợp nầy, nó kết nối hai người xa lạ thành một nhà chỉ trong tích-tắc. Dù không thấy quen nhưng cả hai đều biết đây là gà cùng một đàn, chim cùng một tổ mà ra, đã từng có một thời quá-khứ chung với nhau .
Chị Hạnh vừa cười rất tươi vừa hỏi :
– Mà anh tên gì sao tui hổng nhớ ?
– Tui là Nghĩa , Lê-hữu-Nghĩa . Chị nhớ làm sao được. Có khi chị chưa từng nghe qua cái tên nầy nữa là .
Chị Hạnh giới-thiệu cậu thanh-niên đó là con rễ của chị. Còn con gái của chị là người mới ra chào khách .
Tui giới-thiệu lại thằng Tín con tui . Cậu rễ chị Hạnh để ly cà-phê đá trên bàn cho tui xong liền rủ thằng Tín đi ra ngoài. Tui vội kêu thằng Tín :
– Tín , Tín . Khoan đi , chụp cho ba với bác Hạnh mấy tấm hình rồi hãy đi .
Sau đó , hai cậu thanh-niên dắt nhau ra quán cà-phê ngoài đầu hẽm . Còn tui với chị Hạnh ngồi nhắc lại chuyện xưa , chuyện nay. Chị Hạnh nói về chuyện gia-đình của chị . Nào là chuyện vượt biên bị bắt ; chuyện bị đau bịnh , rồi đến chuyện chị sắp vào chùa qui y trong vài ngày tới . . .Trong khi nói chuyện tui mới có dịp nhìn chị Hạnh kỹ hơn. Chị Hạnh sức khỏe có vẻ không được tốt lắm nhưng vẫn tươi tỉnh, hoạt-bát. Đặc-biệt gương mặt chị vẫn còn nét tuyệt sắc giai-nhân của một thời con gái . Khi nhắc đến những người bạn cùng khóa với những kỷ-niệm ngày xưa thì chị Hạnh hào-hứng , cười vui và linh-hoạt hẳn lên .
Tui và chị Hạnh nói chuyện cũng lâu , hơn một tiếng đồng hồ, rất thân tình . Khi đi tui đã có ý-định sẽ biếu chị Hạnh một món tiền nho nhỏ , nhưng bây giờ thì hổng dám nữa, sợ xúc-phạm người ta . Nói chuyện một hồi lâu tui mới chợt nhớ là nảy giờ quên quay phim , thiệt là uổng , vì nảy giờ câu chuyện rất hào-hứng . Khi tui lấy máy camcorder ra ghi hình thì cũng là lúc chị Hạnh đang hí-hoáy vẽ bản đồ để chỉ đường cho tui đi về .
Từ-giã chị Hạnh tui thấy lòng vui vui. Vui vì mình vừa làm xong một việc muốn làm . Và vui vì biết sắp tới chị Hạnh sẽ được thong-dong, thanh-thản theo con đường đã chọn .
Vừa ra khỏi nhà chị Hạnh , thằng Tín nói với tui :
– Bác nầy đã lớn tuổi mà còn đẹp quá Ba hả. Chắc hồi đó Ba cũng mê bác nầy lắm phải hôn Ba ?
– Sao con nghĩ vậy ?
– Tại vì Ba lòng vòng mấy tiếng đồng hồ dưới mưa để tìm cho bằng được nhà bác . Nên con nghĩ chắc là hồi đó Ba cũng mê bác lắm .
Cái thằng hỏi một câu thiệt là cắc-cớ mà cũng thiệt là có lý nhưng cũng thiệt là trật lất . Tui vừa đề máy xe vừa ngoái đầu lại trả lời :
– Hổng có đâu Tín . Hồi còn học trong khóa, Ba cũng có mê nhưng hổng phải mê bác nầy, mà là mê một bác khác
– Một hình-ảnh xa xưa chợt thoáng hiện ra trong trí tui khi chiếc xe gắn máy từ từ lăn bánh .
Lê Hữu Nghỉa.
( Viết theo yêu cầu của bạn Nguyễn công Vinh)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thăm Bạn của K1 Lê hữu Nghĩa
Thơ Thanh Hoàng
Sầu Lên Phím Ngọc
Kính Tặng :
Ni cô đồng môn HÀ THỊ HẠNH vừa mới
cắt tóc quy y tại Việt Nam ngày 3-9-2011.
(Tin của K1 Nguyễn Công Vinh)
T.H.
Hà Hạnh pháp danh : ” Thích Tấn Dung “
Sầu lên phím nhạc lạc tơ chùng !
Dâng lời kinh nguyện. Buồn nhân thế
Mặc áo cà sa. Hận gấm nhung
Rũ bỏ phong trần lòng quyết chí
Xa lìa cõi tục dạ kiên trung
Cửa thiền tận hiến trầm, nhang khói
Chín bệ tòa sen tỏa mịt mùng
Chín bệ tòa sen tỏa mịt mùng
Quên đời bỉ sắc với không không
Phụ tình cốt nhục con cùng mẹ
Lỗi hẹn nợ duyên vợ với chồng
Suy gẫm lời kinh thêm tuyệt tác
Trau dồi đạo lý thật tinh thông
Nương nhờ cửa Phật thề tu luyện
Cứu độ nhân sinh bớt khốn cùng
THANH HOÀNG
(Cali., Thu buồn 2011)
Chăm lo nuôi mẹ,nuôi chồng
Mà quên môi thắm, má hồng nhạt phai !!
(Tặng em.Người bạn đời chung thủy)
T.H.
Xin cám ơn ông Tơ, bà Nguyệt
Ban cho tôi diễm tuyệt cơ duyên
Thật là hạnh phúc vô biên
Bạn đời, đẹp nết ngoan hiền thủy chung !!!
Sống bên nhau vô cùng hạnh phúc
Bỗng quê hương gặp lúc tang thương
Anh cùng bạn hữu lên đường
Khổ sai đày đọa Bắc phương tội tù
Lao động nơi thâm u cùng cốc
Chốn rừng sâu,nước độc xa vời
Tưởng rằng mất xác em ơi !
Nhưng còn sống được nhờ Trời, ơn em
Thương vợ hiền ngày đêm sầu não
Phải bán buôn tần tảo nuôi con
Đời hoa tiều tụy hao mòn
Lo chăm sóc mẹ lại còn cho anh
Sống dè xẻn,để dành có dịp
Đến thời kỳ còn kịp gởi quà
Gíúp anh đỡ khổ cho qua
Tháng ngày đói,lạnh miền xa lưu đày
Lại không quản công dày khó nhọc
Và gian truân đùm bọc thăm nuôi
Mong chồng tù tại miền xuôi
Dễ dàng gặp gỡ hầu nguôi nỗi lòng
Anh chờ đợi trả xong khổ nạn
Để trở về bầu bạn cùng em
Tương lai hạnh phúc vui thêm
Mẹ gìà,con dại ấm êm gia đình
Cho anh xin tạ tình vợ qúy
Phí tuổi xuân tận tụy hy sinh
Cám ơn em đã giữ mình
Thủy chung một dạ trung trinh đợi chờ
THANH HOÀNG
(Cali., cuối Đông 2010)
Đăng tải tại Tâm Tình K1
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Thanh Hoàng
Hình ảnh các Nữ Lưu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Hình ảnh các Nữ Lưu Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia.
Hình ảnh ngày xưa – Cựu SVSQ K1
Đăng tải tại Hình Ảnh
Chức năng bình luận bị tắt ở Hình ảnh ngày xưa – Cựu SVSQ K1
Thơ Toàn Như – Nhữ đình Toán
Những bài thơ viết về bạn bè K1:
*Để tưởng nhớ Trần Chánh Định, cựu SVSQ K1 đầu tiên tử trận tại một quận ven đô Saigon, chỉ 2 tháng sau khi tốt nghiệp.
Mày đó, Định hỡi Định! Bảng tên đỏ như máu
mang trên ngực hân hoan
buổi sáng và buổi chiều
xếp hàng dọc đứng nghiêm
điểm danh và báo cáo.
Mày đó, Định hỡi Định!
Tiếng còi như dế rúc
nụ cười thật hồn nhiên
chiếc giường sắt lúc lắc
dây kẽm còn giăng ngang.
Mày đó, Định hỡi Định!
Đôi giày bố mòn rách
chạy nhảy ngoài sân cờ
chiếc ca nhôm đã móp
nằm trong góc ba lô
không bao giờ mày biết.
Mày đó, Định hỡi Định!
Chiếc an-pha mới bóc
còn in dấu trên vai
nỗi mừng như chưa dứt
bạn bè đã chia tay.
Mày đó, Định hỡi Định!
Lời cuối sao vội vàng
tiếng kèn sao não nuột
vinh hiển cho đời mày
chiếc quan tài hạ xuống.
(Bài thơ này được K1 NĐT viết năm 1966 trong lúc vẫn còn đang thụ huấn K1 BTV, ngay khi nghe tin K1-TSV Trần Chánh Định tử trận) – Toàn Như.
(Để tưởng nhớ K1 Huỳnh Mãng, bị tử nạn khi đi đào vàng)
Thư Việt Nam sáng nay vừa nhận được
Bạn hỏi rằng biết có buồn không?
Thư Việt Nam có tin gì vui được
Mà đọc lên một thoáng bâng khuâng.
Trang thư báo thằng bạn xưa vừa chết
Bởi đói cơm nên ôm mộng tìm vàng
Căn hầm xập vùi giấc mơ khốn khó
Nào thấy đâu những lao động vinh quang.
Còn nhớ không bao năm trời “cải tạo”
Miệng đói chân run mồ hôi vỡ giọng cười
Nước độc rừng thiêng sao chẳng chết
Mộng đời thường lại giết một đời trai.
Tôi ở bên này nghe tin dữ
Bạn bè chung khóa có đâu ngờ
Một thằng bạn cũ vừa nằm xuống
Chẳng đợi ngày vui chuyện Hát Ô (H.O.)
Thôi hãy ngủ yên người bạn cũ
Mộng tang bồng bạn đã vỗ tay reo
Tôi vẫn mải mê đời rong ruổi
Chốn bụi trần ngày tháng cuốn người theo.
(1993) Toàn Như
*Tặng K1 Nguyễn Văn Trai, ngày đầu tiên đến Mỹ (Houston)
Nửa đêm bước xuống thẫn thờ,
Gót tha hương đã đợi chờ từ đây.
Giọt buồn thoáng gợn bờ mây,
Mái xưa nhà đã hôm nay nghìn trùng.
Ngó quanh trời đất lạ lùng,
Nghe mênh mang giữa Houston đợi người.
Bao năm lận đận cho đời,
Dấu trong ký ức một thời chiến chinh.
(11/2001)
TOÀN NHƯ
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Toàn Như – Nhữ đình Toán
Vô Cùng Thương Tiếc
Cố Viện Trưởng Học Viện CSQG Đàm Trung Mộc
Cố Đại Đội Trưởng Bùi Trọng Nghĩa
Cố Đại Đội Trưởng Nguyễn Ngọc Thơ
Cố Đại Đội Trưởng Quách Trung Chánh
Và các cố đồng môn K1 Học Viện CSQG
01. Hà Mộng Anh
02. Hồ xỷ Báu.
03. Nguyễn Ngọc Bé
04. Nguyễn Văn Biên
05. Nguyễn Ngọc Cẩn
06. Hồ Đăng Chánh
07. Phan Cháu
08. Lý Thị Chấm
09. Lê Ngọc Châu
10. Võ Công Châu
11. Lê Văn Chương
12. Nguyễn Văn Chuyên
13. Nguyễn Văn Dữ
14. Trần Chánh Định
15. Trần Ngọc Điều
16. Nguyễn Văn Hạ
17. Đỗ thị Hồng Hải
18. Trần Minh Hải
19. Trương Hè
20. Trần Văn Hiển
21. Bùi Thị Khánh Hòa.
22. Nguyễn Thái Hoan
23. Võ Văn Hổ
24. Đinh Công Huệ
25. Lê Thị Hường
26. Lê Văn Kiêm
27. Phạm Phước Kiến
28. Trần Văn Kỷ
29. Nguyễn Linh Khanh
30. Hoàng Khê
31. Nguyễn Văn Khìa
32. Nguyễn Kim Khôi
33. Đinh Văn Lễ
34. Nguyễn Văn Lợi
35. Trần Văn Lư
36. Huỳnh Mảng
37. Lê Quang Minh
38. Ngô đình Mua
39. Huỳnh Thị Năm
40. Lê Thành Nhiên
41. Vũ Văn Nghi
42. Nguyễn Văn Ngọt
43. Nguyễn Quang Nhựt
44. Lê Văn Phi
45. Trần Hữu Phổ
46. Phạm Hồng Phước
47. Đinh Văn Rạng
48. Đoàn Văn Ri
49. Phan Thị Rớt
50. Lê Văn Sấm
51. Trần Trung Tiến
52. Triệu Tấn Thanh
53. Lý Đức Thạnh
54. Hồ Văn Thắng
55. Nguyễn Văn Thống
56. Lê Đăng Thu
57. Nguyễn Hữu Thượng
58. Nguyễn Hữu Trí
59. Trương Văn Tư
60. Trần Công Văn
61. Trần Văn Việt
62. Nguyễn Đăng Vỹ
63. Phạm Vạn Xuân
64. Lâm Song Xưởng
65. Phan Văn Châm
Đăng tải tại Tâm Tình K1
Chức năng bình luận bị tắt ở Vô Cùng Thương Tiếc
Thơ K1 Nguyễn Thanh Hoàng

(K1 Nguyễn Thanh Hoàng Tặng em, người vợ hiền yêu qúi)
Bốn mươi năm chẵn vui ngày cưới
Mà tưởng như vừa mới đêm qua
Tình mình êm ấm chan hòa
Đẹp như bươm bướm vờn hoa trong vườn
Bỗng quê hương bị vương tai hoạ
Giặc tràn vào đày đoạ tang thương
Anh cùng chiến hữu lên đường
Gông cùm trực chỉ Bắc phương xa vời
Khắp núi thẳm vùng trời cực Bắc
Chốn thâm sơn lủ giặc tham tàn
Muốn anh nát thịt xương tan
Vùi thây trọn kiếp trên ngàn non cao
Nhưng lòng anh đâu nào có sợ
Thù thua cuộc phải chở về Nam
Không anh em phải đành cam
Bôn ba tìm kiếm việc làm nuôi con
Buồn quạnh hiu mõi mòn trông đợi
Lòng kiên trinh vời vợi u buồn
Mong đàn con dại luôn luôn
No cơm,ấm áo là nguồn an vui
Rồi chung cuộc vận xui đã hết
Anh tù về lê lết tấm thân
Gặp nhau nước mắt rưng rưng
Và lòng thổn thức lệ mừng tuôn rơi
Em hãy nghe những lời thành thật
Về cùng em nao nức hả hê
Anh xin nói với hiền thê:
“Cám ơn em nhé ! Ngày về còn em”
THANH HOÀNG
(Cali. 31-8-2009)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ K1 Nguyễn Thanh Hoàng
Người vẽ Huy Hiệu Học Viện CSQG
Một chút kỷ niệm với Học Viện CSQG
Tác giả K1 Nguyễn Tấn Vĩnh
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Học Viện CSQG tôi hồi tưởng lại: Mới đó mà đã 45 năm. Hôm nay tôi hình dung lại từng khuôn mặt bạn bè cùng khóa, kẻ còn người mất, và một vài kỷ niệm đã qua.
Tôi theo học khóa 1-BTV, thuộc Đại Đội 101. Lúc bấy giờ Học Viện có 4 Đại Đội: 101-102 là BTV , 201-202 là TSV và khoảng 1 Trung Đội nữ BTV+TSV.
Tôi còn nhớ, lúc sắp hàng tại sân cờ Tổng Nha (chưa đổi thành Bộ Tư Lệnh), chỉ có 1 hàng dài theo thứ tự từ cao tới thấp. Cán bộ phụ trách chia làm đôi, đoạn đầu là Đại Đội 101, kế là Đại Đội 102, bên TSV cũng vậy. Tôi ở vị trí 25, còn người cao số 1 là anh Nguyễn văn Quý. Riêng mấy chị nữ BTV và TSV thì ngụ ở trường Trung Cấp bên đường Cộng Hòa.
Do có chiều cao hơn 1,7m nên tôi được chọn vào 1 trong 8 người của toán cầm cờ và vác súng , gọi là Hầu Kỳ. Cán bộ Đại Đội trưởng của tôi là BTV Bùi Trọng Nghĩa. Ông Đại Đội Trưởng chọn tôi giao nhiệm vụ Sinh Viên vũ khí Đại Đội 101.
Khi mới thành lập Học Viện còn nhiều thiếu sót. Chưa cung cấp đủ quần áo Kaki cho sinh viên mặc. Chúng tôi phải sử dụng các quần áo cũ của khóa sinh căn bản trước đó để lại, cũ, nhàu nát, cái thì lớn cái thì nhỏ. Khi lãnh từ nhà thầu giặt giao cho phải đi tìm cái nào mặc vừa thì đổi lấy hoặc các anh em cùng khóa đổi cho nhau Hôm nào không đổi được thì đành mặc lại bộ cũ thêm cho đến đợt sau trong tuần, không giao cho nhà thầu đi giặt. Đến cả tháng mới phát những bộ kaki mới, cải tiến dần dần.
Khi có quần áo mới thì Tổng Nha gởi phát Huy Hiệu Học Viện, do Sở Nội Dịch vẽ kiểu và in trên vải. Trông cái Huy Hiệu quá thô thiển nên các anh trong Đại Đội, mà điển hình là các anh Thỏa, anh Hoàng, anh Báu và vài anh nữa cùng tôi bàn nhau đề nghị lên Thầy Viện Trưởng Đàm Trung Môc cho thay đổi. Nhiều anh góp ý ngọn lửa trên Huy Hiệu của Tổng Nha trông cứng nhắc, không linh hoạt và nhành dương liễu thì thô. Về cấp hiệu cầu vai sinh viên cũng chưa có. Nhóm các anh em chúng tôi bàn với nhau rằng khi tốt nghiệp thi mình là BTV/Tập Sự nên đề nghị có đủ 2 gạch BTV hay TSV, ở phía trên thì alfa biểu hiên Sinh Viên. Cuối cùng, Thầy Viện Trưởng đồng ý và xin Tổng Nha thực hiện.
Đang lúc còn chưa có mẫu Huy Hiệu thì có 3 cán bộ cấp Quân Trưởng CSQG vừa mãn khóa quân sự tại trường Bộ Binh Thủ Đức bổ sung về Học Viện là QT Trần Minh Công làm Liên Đoàn Trưởng , QT Phạm công Bạch và QT Trần quan An làm Tiểu Đoàn Trưởng cho 2 Tiểu Đoàn BTV và TSV.
Một buổi chiều, vào giờ học TLC, Liên Đoàn Trưởng Trần Minh Công gọi tôi và bảo nghỉ 2 giờ
sau cùng nầy qua hội trường trống không người ngồi vẽ Huy Hiệu. Ông lấy từ trong túi ra một Huy Hiệu trường Bộ Binh Thủ Đức đưa cho tôi và bảo vẽ bằng kích thước nầy. Tôi nhớ lại góp ý của các bạn trong Đại Đội 101, tôi vẽ 2 mẫu Huy Hiệu. Ở đây cũng nói thêm một chút về ngọn lửa ở huy hiệu: Có ý kiến đề nghị cho ngọn lửa bay vắt ngang lưỡi kiếm như của trường BB Thủ Đức cho có vẻ lả lướt, nhưng có ý kiến cho rằng không cóp của trường BBTĐ và thanh kiếm chọn dài lên cao, như vậy chia đôi hàng chữ Học Viện CSQG ra làm 2 phần. Không nên cắt đôi, vì vậy mà cho lưỡi kiếm thấp xuống để hang chữ Học Viện CSQG liên tục. Cuối cùng trình lên Thầy Viên Trưởng thì được chọn và đưa đi mướn in trên vải (giai đoạn đầu). Sau đó cho dêt thêu lại cho đẹp, không phai màu như lúc in ban đầu. Với viêc làm đó, tôi được Liên Đoàn Trưởng cho tôi hưởng phép đặc biệt 2 lần. Ôn lai, tôi thường hưởng phép đặc biệt với lý do là Sinh Viên Vũ Khí Đại Đội, khi thì ân huệ cho toán Hầu Kỳ.
Sau nầy, mỗi khi nhìn lại Huy Hiệu Học Viện CSQG tôi có nhiều cảm xúc vì có sự đóng góp của mình và đó cũng là một kỹ niệm với Học Viện thân yêu của chúng ta.
Houston, ngày 15 tháng 5 năm 2011
Nguyễn Tấn Vĩnh – K1
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Người vẽ Huy Hiệu Học Viện CSQG
Thơ Nguyễn hữu Thời

Âm Thầm
Ta đến nơi đây rồi đến đâu ?
Núi rừng trùng điệp chốn thâm sâu.
Chiều nghe “mểnh” tác bên rừng biếc,
Đêm nhạc côn trùng khúc khổ đau.
Dẫu ở nơi nào cũng thế thôi,
Áo quần rách nát tấm thân còi.
Sớm trưa chiều tối ngày hai bữa,
Sắn với ngô khoai chỉ thế thôi.
Thiên đàng Địa ngục cũng như nhau,
Chủ nghĩa Mác Lê thật nhiệm màu.
Sớm cuốc trên đồi, chiều xuống ruộng,
Trâu còn sứt mũi, huống chi tù.
Hết cuốc lên rừng đốn gỗ về,
Tre, vầu, trúc, nứa bện phên che.
Nắng mưa gió rét đời tăm tối,
Giấc ngủ lưng chừng, tiếng muỗi ve.
Ngày – tháng – năm – Rồi năm tiếp năm,
Bạn bè nằm xuống chốn âm thầm.xa xăm
Buồn trơ vách đá – cầu kinh vội,
Đưa tiễn người về – Lạnh buốt căm
(1978)
Không Lẽ Ta Đi
Không lẽ ta đi chẳng trở về,
Ôm hờn, nuốt tủi sống xa quê.
Mặc cho lũ Cộng tha hồ múa,
Đầy đọa dân ta sống não nề.
Không lẽ ta đi, lại trở về
Cúi đầu khuất phục kẻ u mê.
Tôn thờ chủ nghĩa vô nhân đó,
Cam chịu làm thân dưới búa đe.
Không lẽ ta đi, rồi lãng quên,
Niềm đau dĩ vãng – nỗi ưu phiền.
Bạn Bè ta chết trong tù ngục,
Trong chốn rừng sâu, trong vượt biên.
Không lẽ ta đi – Rồi phủi tay ,
Chẳng còn trách nhiệm với tương lai.
Với người ở lại ngày đêm đã,
Tiếp nối cha ông để dựng xây…
Tự do dân chủ, diệt phường nô.
Cương quyết vùng lên dựng lại cờ.
Cuộc chiến trong ta còn tiếp diển,
Bao giờ xóa sạch – Mác – Lê – Hồ.
(1998)
Đăng tải tại Tâm Tình K1
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Nguyễn hữu Thời
Slideshow Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Tin cùa NNS
Đăng tải tại video
Chức năng bình luận bị tắt ở Slideshow Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Tin cùa NNS




















Bạn phải đăng nhập để bình luận.