Các Danh Mục

TÂM THƯ của NT Trần Minh Công
Trước hết tôi muốn cám ơn những cố gắng của quý anh và những góp ý của quý anh em cựu SVSQ khác, nhất là của Quý Vị Giảng Sư cũng như của Quý Anh trong Tổng Hội (cũng là thành phần trong Đại Gia đình HV-CSQG).
Qua nhận xét của phần đông, cho đến giờ này tôi thấy việc dùng chung một Website của anh Diệp (K3) đã gặp phải một số trở ngại mà tôi đã không tiên liệu được trước. Tôi rất thông cảm những khó khăn mà các bạn đã gặp phải . Tiện đây tôi cũng xin lỗi đã không trả lời được hết các phones mà nhiều bạn đã gọi cho tôi trong mấy tuần lễ vừa qua nêu lên những ưu tư và góp ý về việc này .
Mặc dù ngay từ đầu tôi vẫn mong muốn chỉ có một Website chung cho tất cả chúng ta, nhưng trong tình huống hiện tại tôi cũng xin đồng ý với số đông Quý Vị và các bạn là chúng ta sẽ phải nhờ anh Toán cáng đáng việc thành lập một Website mới với sự chung tay góp sức của anh em các khóa, coi như một Website chung cho Đại Gia Đình Học Viện. Website của anh Diệp xin để anh tùy quyền như trước đây. Tôi cũng mong là Website mới này sẽ được sự hỗ trợ kỹ thuật của anh Diệp và nhất là sự cố vấn của Tiến Sĩ Trần An Bài.
Tôi xin kêu gọi anh em Các Khóa cùng tiếp tay với anh Nhữ Đình Toán để thực hiện dự án chung này. Nhờ anh Hòa kêu gọi anh em các Khóa tham gia vào bạn Quản Trị vì đây là một Website chung của tất cả chúng ta.
Sau hết, tôi xin ngừng những lời giải thích do những ý liến khác biệt mà một số anh em đã đưa ra thảo luận trước đây. Những lời giải thích thêm không những không cần thiết mà còn có thể gây ra ngộ nhận là chúng ta thiếu tình đoàn kêt, nhất là giữa những người Con cùng xuất thân từ một Trường Mẹ.
Xin được cám ơn những ý kiến đóng góp của Quý Vị và các bạn trong hai tháng vừa qua. Tôi cũng xin minh xác rõ là những đề nghị mà tôi đã trình bày với Quý Vị và các bạn trong thời gian qua chỉ là những ý kiến của cá nhân tôi. Website của Học Viện sẽ là của chung tất cả và vì vậy cần có sự tiếp tay của tất cả. Tinh thần Đoàn kết và Danh Dự của Học Viện xin được coi là trên hết.
Thân kính,
Trần Minh công.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở TÂM THƯ của NT Trần Minh Công
Một Thế Hệ Đang Dần Biến Mất (St.)
“MỘT THẾ HỆ ĐANG DẦN BIẾN MẤT”
(Sưu tầm tren Internet)
Một hôm, con gái hỏi tôi.
– “ Mẹ ơi, con không hiểu ngày xưa mẹ và mọi người sống như thế nào khi không có Internet. không có máy tính, không có tivi, không có điều hòa, không có điện thoại di động?”
Tôi trả lời:
– Thế hệ mẹ, và thế hệ trước, sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1945-1985 thật là may mắn, khi:
– Ai cũng không ngại đi học một mình từ sau ngày đầu tiên đến trường.
– Sau giờ học, không ai đi học thêm, ai cũng được chơi đến tận tối mịt.
– Không ai ôm tivi, điện thoại, iPad từ giờ này qua giờ khác. Và ai cũng có những người bạn thực sự chứ không phải với những người bạn từ Internet.
– Nếu như khát, bọn mẹ uống luôn nước ở bất cứ đâu được cho là sạch, chứ không phải nước ngọt đóng chai.
– Bọn mẹ ít bị ốm, dù rằng hay ăn chung uống chung, như 4 đứa cùng uống chung 1 gáo nước. Nếu có ốm thì ông bà chữa bệnh cho bằng các loại thuốc rẻ tiền từ thầy lang hoặc trong nước sản xuất, hay là bằng các bài thuốc dân gian.
– Bọn mẹ không bị béo phì, dù rằng ngày nào cũng chén căng cơm, rau và bất cứ thứ gì có thể ăn được… Chỉ cần no…
– Bọn mẹ chơi bằng các đồ chơi tự làm lấy như đất sét, lá cây, que củi thậm chí là mảnh vỏ chai… và chia sẻ đồ chơi, sách truyện với nhau.
– Ngày xưa, các gia đình hầu hết là không giàu có. Nhưng các ông bố bà mẹ đã tặng cho con cái tình yêu của mình, dạy cho con biết trân trọng những giá trị tinh thần chứ không phải là vật chất, dạy cho con biết thế nào là giá trị thực sự của con người : Sự trung thực, Lòng trung thành, Sự tôn trọng và Tình yêu lao động.
– Ngày xưa bọn mẹ đã có thể tự chăm sóc bản thân mình từ bé, không ỷ lại ông bà hay người lớn, 10 tuổi đã biết làm hết những công việc trong nhà để đỡ đần ông bà và những người lớn, thậm chí nấu cơm, giặt đồ, chăn trâu, cắt cỏ, lấy rau ngoài đồng về cho lợn ăn…
– Ngày xưa, bọn mẹ chưa bao giờ có điện thoại di động, đầu DVD, trò chơi điện tử Play Station, máy tính, không biết thế nào là Internet, chat…
Nhưng bọn mẹ có những người bạn thực sự, là khi:
– Thường đến chơi nhà nhau mà chả cần phải có lời mời, đến nhà ai gặp gì ăn nấy.
– Ký ức của thế hệ ngày đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, nhưng đầy ánh sáng và rực rỡ, ai cũng trân trọng lật mở cuốn album gia đình với sự thích thú, tôn kính, trong cuốn album đó luôn lưu giữ chân dung của ông bà cụ kỵ các con…
– Thế hệ mẹ không bao giờ ném sách vào thùng rác, mà đứng chôn chân trong hàng để mua sách, rồi sau đó đọc chúng suốt ngày đêm.
– Bọn mẹ không bao giờ đưa cuộc sống riêng tư của thiên hạ ra để đàm tiếu, cũng như biết giữ bí mật cuộc sống của gia đình mình, không phải như những gì bây giờ đang xảy trên Facebook và Instagram…
– Thế hệ mẹ ,có lẽ, là thế hệ cuối cùng mà con cái luôn chỉ cúi đầu nghe lời cha mẹ.
– Thế hệ mẹ, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái.
– Thế hệ mẹ không cần biết tới những thứ xa hoa con nói nhưng con thấy đó, họ vẫn sống tốt, vẫn cống hiến cho xã hội, vẫn nuôi dậy các con lên người. Thế hệ nào cũng vậy đáng sợ nhất là không biết đến xã hội bên ngoài, không có lòng trắc ẩn, không có danh dự, không có sự tôn trọng, không biết xấu hổ, không khiêm tốn và không thích đọc sách…”.
– Thế hệ mẹ là như thế đó, là “phiên bản giới hạn”, vậy nên các con hãy biết tận hưởng những ngày bên bố mẹ, hãy biết học hỏi và trân quý… Hãy tranh thủ thời gian quý giá thay vì smart phone, ipad, máy tính… để có thời gian chất lượng bên cha mẹ… Trước khi thế hệ này biến mất, nhé con.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Một Thế Hệ Đang Dần Biến Mất (St.)
Danh Sách MTQ yễm trợ giúp K1 Nguyễn Văn Suốt
Danh Sách các MTQ và kết quả gây quỹ yễm trợ cho K1 Nguyễn Văn Suốt do Phan Quang Nghiệp cập nhật lúc 6:00PM ngày 12/6/2021.




Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Danh Sách MTQ yễm trợ giúp K1 Nguyễn Văn Suốt
Bài ca của Người Du Tử – Tác giả Đoàn Dự
BÀI CA CỦA NGƯỜI DU TỬ (Du tử ca)
Đoàn Dự. –
Thuỳ ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
Nào ai dám nói một tấc lòng của cỏ
Có thể báo đáp được ánh dương của ba tháng xuân
(Thơ Mạnh Giao)
TÔI ĐẬU Cử nhân Luật năm 1971, ít lâu sau thì xin được vào tập sự tại văn phòng của một vị luật sư nổi tiếng, bạn thân với bố vợ tôi. Làm luật sư tập sự thì nhàn, đồng lương tương đối cũng khá. Hàng tuần, đi làm về tôi thường tới Trung tâm văn hóa Nhật ở đường Phan Đình Phùng học thêm tiếng Nhật. Học cho biết vậy thôi, nghề luật sư không đòi hỏi phải biết tiếng Nhật.
Sau ba năm tập sự, tôi thi đậu và được Luật sư đoàn công nhận là luật sư chính thức, được phép treo bảng đồng, lập văn phòng riêng.
Chưa đầy một năm sau thì “giải phóng”, tôi thôi không làm luật sư nữa mà cũng thôi không đi học tiếng Nhật, bởi vì các trung tâm ngoại ngữ đã đóng cửa. Tôi ở nhà trông nom con cái cho vợ tôi đi dạy, thỉnh thoảng cũng kiếm ăn được chút đỉnh do liên lạc với các trung tâm dịch vụ pháp lý. Người ta đưa các đơn từ, giấy má tiếng Nhật hoặc tiếng Anh đến cho chúng tôi dịch. Tiền bạc trung tâm trả rất sòng phẳng nhưng chẳng được bao nhiêu vì cũng có ít người thuê dịch.
Sau gần 17 năm trời thất nghiệp, may sao đến năm 1992, nhờ chút ngoại ngữ tôi xin được vào làm trong một khách sạn kiêm nhà hàng sang trọng ở đường Đồng Khởi (Tự Do cũ). Tôi giữ chân đón khách, mời họ ngồi vào bàn, ghi những món họ kêu rồi báo cho nhà bếp biết, các cô tiếp viên sẽ bưng ra. Tiền lương khá lắm, đã vậy mỗi cuối tháng chúng tôi còn được thưởng thêm, vợ tôi có vẻ yên tâm lắm.
Một hôm, ông giám đốc khách sạn cho gọi tôi lên văn phòng. Ông chỉ chiếc ghế phía trước bàn giấy trong căn phòng gắn máy lạnh của ông, bảo tôi ngồi rồi lấy gói thuốc Ba số 5 trên bàn mời tôi hút.
– Ông quản lý nói anh biết tiếng Nhật?
– Vâng ạ. Thưa ông giám đốc, ngày trước tôi có học tại trung tâm Nhật ngữ mấy năm, giao dịch cũng được nhưng từ giải phóng đến nay, bỏ lâu rồi nên cũng quên mất nhiều.
– Bây giờ còn sử dụng được không?
– Vâng, có lẽ cũng được.
– Vậy thì tốt. Công việc tôi cần nhờ anh là thế này anh Trình ạ…
Ông ngừng câu chuyện, quay lại với tay lên chiếc tủ ở phía đằng sau, lấy hai chiếc cốc bằng pha lê rồi mở một chai Champagne của Pháp, rót ra hai ly, đưa tôi một ly, ông một ly và giơ cao lên:
– Nào, mời anh!
– Mời ông giám đốc.
Tôi ngập ngừng, không hiểu chuyện gì nên chưa dám uống. Ông giục:
– Anh dùng đi. Chúng ta làm vài ly rồi nói chuyện.
– Vâng ạ.
Ông lấy trong ngăn kéo ra một gói thuốc lá hiệu Dunhill loại “nhãn đen” – black label – còn mới nguyên chưa bóc băng garanti, gỡ ra, bảo tôi dụi điếu thuốc lá Ba số 5 đi rồi mời tôi hút thuốc Dunhill “nhãn đen”, ngon nhất trong các loại thuốc lá Dunhill.
– Uống Champagne của Pháp phải hút thuốc Ăng-lê mới tốt.
– Vâng ạ.
– Nào, mời anh!
– Không dám, mời ông giám đốc.
Chúng tôi cụng ly. Khốn khổ, rượu Champagne dù là của Pháp chăng nữa thì trước năm 1975 đối với tôi cũng đâu có gì là lạ. Vậy mà bây giờ sao tôi thấy nó ngon thế, cứ mát cả ruột. Nhưng cũng hơi sợ, phải có chuyện gì ông giám đốc mới trọng đãi tôi như thế chứ.
Rượu đã ngấm, ông giám đốc nói:
– Trên công ty du lịch họ báo cho tôi biết khách sạn của chúng ta sắp đón một vị khách quan trọng. Ông này người Nhật, muốn đích thân sang xem xét, ký kết hợp đồng gì đó với Tổng công ty điện tư, tôi không biết rõ. Công ty du lịch nhờ chúng ta…, nói đúng ra là họ chỉ thị cho chúng ta phải dùng mọi cách chiếm được cảm tình của vị khách này.
– Thưa ông giám đốc, chúng tôi vẫn tiếp đãi rất lịch sự với mọi khách hàng.
– Đúng thế, tôi hiểu. Khách sạn chúng ta hết sức chiều khách. Nhưng theo tôi biết, vị giám đốc người Nhật này hình như đã già nên rất khó tính. Ví dụ trên công ty họ báo cho tôi biết là ông ta chỉ nói tiếng Nhật, không nói tiếng Anh tiếng Pháp hay bất cứ một thứ tiếng nào khác. Ngoài ra, có lẽ cũng vì tuổi già nên tính nết ông ta khắc khổ, cố chấp, không thích giao thiệp với mọi người…
Xương sống tôi lạnh toát. Tôi hiểu ông giám đốc muốn nói điều gì rồi. Quả nhiên ông ta kết luận:
– Tôi đã bàn kỹ với ông quản lý. Trường hợp này ta phải đưa ra một người lớn tuổi, có căn bản học thức đàng hoàng, nghĩa là ta dùng người trí thức để ông ta nể chứ không thể đưa ra mấy cô chiêu đãi viên trẻ đẹp hoặc một nhân viên thông dịch tiếng Nhật bình thường. Anh đồng ý với tôi chứ?
Đồng ý cái con khỉ! Tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà đồng ý với chẳng đồng ý.
– Dạ vâng, thưa ông giám đốc, tôi nghĩ như vậy cũng đúng…
– Xét trong khách sạn, tôi với ông quản lý nhất trí với nhau là chỉ có anh phù hợp vơi vai trò đó. Tôi chỉ định cho anh làm công tác tiếp đón khách, giúp đỡ khách sạn. Nếu anh tranh thủ được cảm tình của ông ta, chẳng những khách sạn sẽ có hoa hồng cho anh mà trên công ty cũng có phần thưởng. Họ nói với tôi như vậy. Còn nếu anh không làm nên công chuyện…
Ông ta không nói tiếp nhưng tôi hiểu. Nếu tôi làm không được việc thì sẽ bị cho nghỉ việc, về nhà nấu cơm cho vợ với đồng lương giáo viên cấp 3 không đủ sống của nhà tôi, mặc dầu nàng đã từng tốt nghiệp ĐHSP Sàigòn trước năm 75.
– Thưa ông giám đốc, tôi không dám mong được thưởng, nhưng sợ tiếng Nhật lâu không dùng tôi đã quên mất nhiều…
– Không sao, nhớ tới đâu thì dùng tơi đó. Tôi cần cái vốn kiến thức của anh để đối chọi với ông giám đốc người Nhật chứ không phải cần người thông dịch. Nếu chỉ cần thông dịch, tôi hô một tiếng thì thiếu gì người.
Ông ta ghê thế đấy, biết sử dụng cái trí thức của người khác vào công việc của mình chứ chẳng phải tốt. Ai nghĩ ông ta tốt hoặc nghĩ tôi ca tụng ông giám đốc khách sạn là lầm. Tôi không ca tụng. Kiếm được một thông dịch viên tiếng Nhật thì dễ, còn kiếm được một luật sư biết tiếng Nhật để chinh phục cảm tình của một ông già khó tính không phải chuyện dễ.
– Anh cứ yên tâm, tôi sẽ đích thân theo sát việc này và sẵn sàng cung cấp cho anh mọi phương tiện kể cả tài xế, xe cộ và các thứ khác. Dứt khoát anh phải tranh thủ bằng được cảm tình của ông ta.
– Vâng, thưa ông giám đốc, tôi sẽ cố gắng.
Tôi dợm đứng dậy. Ông giám đốc ngăn lại, tìm các giấy tờ trên bàn:
– À này, họ cho tôi biết tên ông ta là Kwann Tae Palms… Ủa, cái giấy trên công ty họ ghi tôi bỏ đâu mất rồi…- À đây, anh nhớ cho rõ, chỗ nào tôi cũng ghim sẵn người của ta, họ sẽ hậu thuẫn cho anh một cách tốt đẹp.
Rồi ông hỏi tôi:
– Anh đã có áo vest, cravát nọ kia chưa nhỉ?
– Thưa có.
– Vậy thì tốt. Anh cầm giấy này xuống phòng kế toán, bảo cô kế toán trưởng tôi quyết định ứng trước cho anh hai tháng lương. Đây, giấy tạm ứng đây. Nếu công việc tốt đẹp sẽ tính vào tiền hoa hồng.
– Vâng ạ, cám ơn ông giam đốc.
Tôi đi, tay cầm mảnh giấy. Đầu óc tôi suy nghĩ mông lung. Kỳ lạ, lại sao ông giám đốc Nhật lại tên Kwann Tae Palms, cái tên chẳng giống với Nhật mà cũng chẳng giống với Tàu. Theo tôi hiểu, người Nhật thì phải là Watanabe, Sabura, Saburo, Yamamoto, Fuda, Fudo, Honda, Yamaha, Suzuki..vv… Riêng cái họ Palms thì lại giống với Mỹ. Ngay đến cái tên cũng khó hiểu như thế chẳng trách ông ta khó tính, lẩm cẩm là phải. Coi chừng tôi bị mất việc dễ như chơi. Một luật sư, bao nhiêu công phu học hành, đi làm thằng bồi khách sạn hầu hạ người ta, ăn cơm thừa canh cặn vậy mà chỉ lo mất việc, vợ con sẽ đói.
oOo
Hôm sau, tôi và anh phụ tá được chiếc xe du lịch màu trắng gắn máy lạnh đưa ra phi cảng, đón ông giám đốc Nhật tận chân cầu thang máy bay. Đây là ngoại lệ. Theo tôi hiểu, đáng lẽ chúng tôi phải đón ở phía trong, sau khi ông ta đã làm thủ tục, khám xét, trình các giấy tờ.
Sau cái đưa mắt “ra hiệu ngầm” và hơi liếc mắt kín đáo về phía đằng sau của cô tiếp viên phi cảng, tôi rất ngạc nhiên: Ông giám đốc Nhật trông hãy còn trẻ, chỉ trạc ngoài bốn mươi ngang với tuổi tôi, gương mặt già dặn, có thể nói là rất có duyên. Nước da ông ta ngăm ngăm đen, mắt hai mí trông rất nhanh nhẹn chứ không một mí như mắt người Nhật hay người Đại Hàn. Đặc biệt, ông ta ăn mặc theo kiểu du lịch, áo sơ mi sọc chìm, quần Jeans, áo bỏ trong quần, sợi dây nịt to bản bằng da cá sấu, giầy Adidas màu trắng. Ôi cha, tôi thấy ông ta đẹp trai quá, không già nua, khắc khổ một tí nào cả.
Anh phụ tá đỡ chiếc túi xách trong khi tôi cúi đầu thật thấp theo kiểu người Nhật, nghĩa là mình cứng đong đong, cúi người theo hình thước thợ, tay chắp trước ngực, cố nặn ra từng tiếng Nhật :
– Kon ni chi wa! I ras shai ma se? Ha ji me ma shi te!
(Xin kính chào ngài. Ngài đi đường bình an chứ ạ? Chúng tôi rất vui mừng được đón tiếp ngài).
Ông ta ngớ người nhìn tôi, hơi nhíu mày dường như suy nghĩ điều gì, sau đó khẽ nhún vai, quyết định cũng chắp hai tay, cúi đầu thật thấp, chào lại:
– Konnichiwa! Hajimemashite!
(Xin kính chào ông! Tôi rất vui mừng được gặp ông!)
Giọng ông ta nhanh vả mạnh, tất nhiên thông thạo như… tiếng mẹ đẻ chứ không ỷ ạch như tôi. Tôi đoán tôi nói hay quá nên thấy ánh mắt ông ta có gì vui vẻ, tinh nghịch, pha lẫn nụ cười. Tôi lại hăng hái “nặn” tiếp và tự giới thiệu:
– Wa ta shi wa Trinh de su, ho te ru Y… Do zo yo ro shi ku!
(Thưa ngài, tôi tên là Trình, nhân viên khách sạn Y… rất sung sướng được cử đến đây đón tiếp ngài!)
Nét mặt ông giám đốc Nhật hình như vui hẳn lên. Ông mỉm cười nhìn tôi có vẻ thân thiện, sau đó cũng tự giới thiệu :
– Watashi wa Kwann desu, dozo yoroshiku!
(Thưa ông tôi tên là Kwann, rất sung sướng được cử đến đây gặp ông).
Tiếng Nhật dùng ý giống như tiếng Việt hay tiếng Tàu, nhân xưng đại danh từ “tôi” và “chúng tói” nhiều khi dùng chung với nhau, những tiếng như irasshaimashita và yoroshiku vừa có nghĩa là đón tiếp lại vừa có nghĩa gặp gỡ, tùy câu sử dụng. Hừ, lạ thật, tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà ông ta nói rất sung sướng được cử đến đây “gặp” tôi? Ngoài ra, tôi để ý thấy những câu ông ta dùng đều bắt chước tôi đúng y chang nhưng thu gọn lại, nhanh và thông thạo hơn. Tại sao ông ta chọc ghẹo tôi với ánh mắt hóm hỉnh như vậy? Tôi nói tiếng Nhật có gì sai sót chăng?
Kiểm tra và làm thủ tục tại khu hải quan tương đối đơn giản do có “người của ta” xong, chúng tôi ra xe. Ông giám đốc Nhật đi lầm lối khác, tôi đưa tay lễ phép:
– Ko chi ra e do zo!
(Xin mời ngài đi lối này)
Ông khách giật mình ngửng lên, vui vẻ :
– Arigato gozaimasu!
(Vâng, xin cám ơn)
A, bây giờ thì ông ta không “bắt chước” tôi nữa. Tôi thấy có cảm tình với ông ta. Rõ ràng là ông ta mau mắn, lịch duyệt, không già nua khắc khổ như ông giám đốc khách sạn đã cho biết.
Anh tài xế đã đợi sẵn bên cạnh chiếc xe, vội vàng mở rộng các cửa mời mọi người lên và xếp va ly vào phía đằng sau. Ông giám đốc ra hiệu cho tôi ngồi bên cạnh ông ta, anh phụ tá ngồi bên trên với lài xế. Sau đó chiếc xe chuyển bánh lướt êm, máy lạnh mát rượi.
Xe chạy qua cổng Phi Long, vị khách luôn luôn nhíu mày nhìn những tấm bảng quảng cáo “vĩ đại” có vẻ suy nghĩ. Cặp mắt ông ta đăm chiêu, tò mò nhìn từng gốc cây, từng ngôi nhà cao tầng hiện đang xây cất hoặc đã xây cất ở hai bên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa tức Công Lý cũ, không hiểu ông ta thấy nó như thế nào so với bên Nhật.
Tôi nhẹ nhàng lấy gói Ba số 5 và chiếc hộp quẹt ga mới tinh mang lô-gô của Công ty du lịch Việt Nam, lễ độ mời khách :
– lp pon i ka ga de su ka?
(Xin kính mời ngài hút thuốc?)
Ông ta giật mình quay lại, nhíu mày khe khẽ lắc đầu:
– Kekko desu, arigato!
(Không, tôi không hút, xin cám ơn!)
Đoạn, không hiểu nghĩ sao, ông ta cầm lấy gói thuốc ngắm nghía hồi lâu rồi bỗng ngửng lên nhìn tôi:
– Do you usually smoke this kind of Three fives cigarette?
Ôi chao, đó là một câu tiếng Anh với nghĩa: Các ông có hay hút loại thuốc lá Ba Số Năm này không. Vậy thì ông ta cũng nói tiếng Anh đấy chứ đâu phải chỉ dùng tiếng Nhật một cách cố chấp? Tôi sung sướng quá, bèn khẽ lắc đầu nói như cái máy:
– Oh no, sir, we don’t.
Ồ không, thưa ngài, chúng tôi không hút – tôi dùng tiếng “we” – chúng tôi – một cách tổng quát chứ không dùng tiếng “I” riêng rẽ. Ông ta hỏi tại sao, tôi đáp “Because…”, rồi cũng chẳng biết “because” thế nào nên bèn trả lời một cách thành thật:
– Because this kind of cigarette is more and more expensive than our salary. It’s out of our ability.
Ý tôi muốn nói bởi vì loại thuốc lá này rất mắc so với tiền lương của chúng tôi, vượt quá khả năng của tôi. Vị khách bật cười rồi tự nhiên khẽ vỗ vai tôi thân mật như một người bạn. Tiếng Anh ông ta dùng còn thông thạo hơn cả tiếng Nhật mẹ đẻ của ông ta nữa:
– Ông bạn thân mến, ông bạn nghèo lắm phải không?
Tôi lắc đầu:
– Không, tôi có công ăn việc làm, không quá nghèo nhưng cũng không nghĩ rằng tôi giàu. Chúng tôi tiết kiệm tiền bạc.
Vị khách trẻ tuổi gật đầu:
– Tôi hiểu. Tôi cũng có vài người bạn Việt Nam ở hoàn cảnh của ông. Thỉnh thoảng tôi có gửi quà sang giúp họ.
Chà chà, tay này được quá, người Nhật mà thông cảm với hoàn cảnh của người Việt Nam, thỉnh thoảng gửi tiền sang giúp thì thật là một kẻ có lòng.
Xe chạy ngang qua phía trước Nhà khách Thống Nhất tức Dinh Độc Lập cũ, phía bên trái cách không xa lắm là Nhà thờ Đức Bà. Vị khách ngắm nhìn ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam, gật đầu có vẻ bằng lòng. Sau đó tự nhiên ông ta hỏi:
– Tôi đoán trước năm 75 ông bạn là một luật sư?
Tôi giật mình kinh ngạc:
– Vâng, trước đây tôi theo ngành Luật. Nhưng tại sao ngài biết điều đó?
Ông ta cười, trả lời:
– Tôi là một nhà tiên tri. Tôi biết những điều người khác không biết.
Xe về tới đường Đồng Khởi và từ từ táp vào lề đường trước cửa khách sạn. Các cô tiếp viên ra đón, xách giùm va ly cho khách. Đích thân ông giám đốc cùng nhiều người khác dẫn vị khách lên lầu, giới thiệu từng ưu điểm của căn phòng hạng nhất sang trọng.
Lúc tôi xuống, ông giám đốc đứng lại chờ ở chân cầu thang, thân mật vỗ vai tôi :
– Khá quá, cậu được việc quá. Tôi đã nghe báo cáo đầy đủ. Từ nay tôi cử cậu đặc trách theo sát ông ta. Công việc đâu đấy xong xuôi kế toán sẽ tính hoa hồng cho cậu. Cả trên công ty cũng sẽ thưởng nữa, họ không quên đâu.Nếu họ quên tôi đòi giùm cho.
– Vâng ạ, cám ơn ông giám đốc.
Kể từ hôm ấy tôi luôn luôn đi kèm với vị khách Nhật. Hình như đối với tôi ông ta cũng có cảm tình nào đó đặc biệt. Mỗi lần tới các cơ quan, đáng lẽ tôi phải ngồi trên chiếc ghế ở phía sau lưng như một thông dịch viên, nhưng ông ta giới thiệu tôi là một luật sư, cho phép tôi ngồi bên cạnh để vừa thông dịch vừa bàn bạc chuyện này chuyện khác với ông ta.
Đi dự những cuộc họp như thế, tôi thấy người nước ngoài họ khôn lắm, có những điều mới nhìn mình tưởng họ dại, sự thực là họ rất khôn, nhường một bước để nhảy mười bước. Trong khi đó, về phía bên mình, tôi không nói họ dại nhưng nói họ lanh. Lanh một cách láu cá vặt theo kiểu “thắng lợi tinh thần” trong A.Q Chính Truyện của Lỗ Tấn. Toàn những thầy dùi cấp dưới “cố vấn” mà cứ tưởng là mình giỏi lắm, thông minh lắm. Quan hệ quốc tế không thể dùng những hạng ngu dốt. Phải có kiến thức, phải có trí tuệ, nếu không, được lợi về sợi dây thừng thì sẽ mất cả con trâu. Gặp những trường hợp như thế tôi chỉ im lặng. Tôi không có quyền được góp ý kiến với họ. Tất cả các ông bên phía Việt Nam đều biết tôi là một anh bồi khách sạn nhưng biết tiếng Nhật, nể khách thì họ cho tôi được ngồi cùng bàn với họ theo tính cách “quan sát viên” vậy thôi.
Một lần, thấy họ “khôn ngoan” quá, lúc về, tôi kể cho vị khách nghe một đoạn trong Tam Quốc Chí – một tác phẩm văn học cổ điển của Trung Quốc rất quen thuộc với người Việt Nam. Tào Tháo dàn 83 vạn quân trên sông Trường Giang, chuẩn bị đánh chiếm Đông Ngô. Chu Du, đại tướng Đông Ngô muốn dùng hỏa công phá giặc nhưng lại sợ các chiến thuyền Tào riêng rẽ, đốt không hết được, bèn nhờ Bàng Thống xúi cho Tào Tháo kết các thuyền lại với nhau. Tháo không phải dại nhưng lúc ấy quân Tào không quen thủy thổ, say sóng, hay bịnh. Bàng Thống “xúi khôn” là nên dùng vòng sắt kết các thuyền lại với nhau, lót ván lên trên, người và ngựa đều đi được, quân sẽ hết bệnh. Tào Tháo mừng lắm, nghe lời. Bàng Thống trở về, ra tới bờ sông, bị một người nắm áo giữ lại: “A, anh này gớm thật, dám xúi Tào Tháo kết thuyền lại cho Chu Du đốt! Tháo nó ngu, bộ anh tưởng chúng ta cũng ngu, không ai biết mưu kế của anh hay sao?”. Bàng Thống giựt mình ngửng lên, nhìn ra thì thấy đó là Từ Thứ.
Kể xong, tôi kết luận:
– Đất nào cũng có kẻ sĩ, nước nào cũng có kẻ sĩ. Chẳng qua là cái vận mệnh nước tôi, kẻ sĩ bị coi như rơm như rác. Nếu thấy ông này ông nọ của chúng tôi ngu dại, xin các ông đừng nghĩ chúng tôi hết người.
Ông ta khẽ gật:
– Có, tôi hiểu. Tôi nghĩ đó là một trong những điều đáng buồn của nước các ông. Chúng tôi muốn làm ăn một cách tương xứng, không muốn “đốt” ai cả. Nhưng theo quy luật làm ăn, nếu họ tự đốt chính họ thì họ phải chịu.
Vị khách lâu nay gần như chỉ nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật.
Một hôm, ông ta mua tặng tôi một chiếc đồng hồ Seiko Five giá 45 đô la tức hơn năm trăm ngàn đồng Việt Nam. Tôi bật cười nói đùa:
– Đây là “phẩn thưởng” cho sự im lặng của tôi?
Ông ta cũng cười, lắc đầu:
– Không, ở Việt Nam trí thức bị cho nằm chơi, chẳng ai dùng cả. Dù không cần thưởng thì các ông vẫn phải đóng vai trò im lặng.
– Vậy thì tôi có đồng hồ của tôi rồi.
– Nó đã cũ, ông nên dùng chiếc mới và giữ nó làm kỷ niệm giữa tôi với ông.
– Vâng, xin cám ơn ông.
Việc ký kết hợp đồng giữa ông ta với phía Việt Nam tiến triển tốt đẹp. Tôi nhận được phong bì “ứng trước” do ông giám đốc khách sạn trao. Ông giám đốc bảo tiền hoa hồng của tôi khá hậu, ông ứng trước một số để tôi có tiền tiêu xài. Ngoài ra, ông khách Nhật cũng cho biết chỉ còn ở lại đây hai ngày nữa, tức sáng Thứ hai ông sẽ lên máy bay về nước.
Hôm đó là chiều Thứ bảy, một buổi chiều Sài Gòn thật đẹp. Mọi việc đã xong xuôi, vị khách Nhật hình như hơi rảnh. Ông ta nhìn qua khung cửa kính, có vẻ suy nghĩ rồi bảo tôi :
– Ông bạn luật sư thân mến – ông vẫn nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật – tôi sắp về nước. Tôi nghe nói ở bên Việt Nam có món “thịt cầy” (dog-meat) ngon lắm. Ông làm ơn dẫn tôi đi ăn đi.
Tôi kinh ngạc trợn tròn mắt:
– Thịt chó? Ý ông muốn nói đó là… đó là… món thịt của con chó?
– Đúng vậy, thịt của con chó.
Đoạn, ông ta nói tiếp:
– Theo tôi hiểu, nhà văn Trung quốc Lâm Ngữ Đường (tên tiếng Anh: Lin Yutang) có lẽ cũng rất thích món thịt cầy nên ông ta viết một truyện ngắn rất hay lấy tên là “Tướng Quân Thịt Chó” (tên truyện của Lâm Ngữ Đường: The Dog-meat General), tôi có đọc qua.
Tôi như rơi từ trên trời xuống đất. Mặc dầu là dân Thái bình Thái lọ, rất khoái món “nai đồng quê” nhưng tôi giải thích với vị khách Nhật rằng các quán “nai đồng quê” không phải là nhà hàng sang trọng, nếu tôi dẫn ông ta đến đó, lỡ có chuyện gì xảy ra tôi sẽ phải chịu trách nhiệm.
Tôi giải thích:
– Ngoài món “dog-meat”, người Việt Nam chúng tôi còn có các món khác rất ngon như ếch chiên bơ, cua rang muối, rắn xào lăn .. vv…, chúng ta nên đến đấy thì tốt hơn là đến các tiệm dog-meat.
– Oh yes! Very good! Nhưng chỉ có ông với tôi đi thôi, và tôi lái xe.
Ôi chú mẹc ơi, tôi lại như người rơi từ trên trời xuống đất lần nữa. Nói thế nào ông ta cũng không đồng ý, tôi bèn báo cáo chuyện này với ban giám đốc. Ông quản lý lắc đầu, lè lưỡi :
– Chết, người nước ngoài mà lái xe trên đường Sài Gòn thì coi như tiêu tùng tính mạng. Ông ta có biết đường đâu mà lái. Thôi, ông Trình cố nói khéo khéo, dành lấy tay lái, đừng để ông ta lái.
Tôi nói tôi lái, ông khách Nhật đồng ý vì không thích có người tài xế đi theo. Ngoài ra ông ta cũng mỉm cười khi nghe tôi kể lại lời ông quản lý.
Chúng tôi tới quán Thanh Sơn ở đường Nguyễn Cư Trinh gần rạp Hưng Đạo. Đây là hậu thân của quán Ba Thừa ở đường Bùi Viện ngày trước. Thanh Hải, Ba Thừa trước ngày giải phóng rất nổi tiếng về món la-de đặc – la-de ướp lạnh đến mức đông lại, phải vỗ vỗ đáy chai mới chảy ra, không phai bỏ đá – và những món đặc sản miền Nam như cua rang muối, ếch chiên bơ như đã kể trên.
Chúng tôi đang ăn, ông khách Nhật luôn luôn tấm tắc khen ngon thì một bọn trẻ bán thuốc lá, bán vé số biết ông là người nước ngoài nên bu lại mời mua. Ông khách lấy một gói Ba số và đưa tờ năm đô la. “Nô, nô, cái này hơn năm chục ngàn, cái này có mười mấy ngàn, không có tiền thối, nô, nô…”. Ông ta ra hiệu cho cả, tụi nó mừng rỡ thánh kiu rối rít rồi kéo nhau đi. Một đứa khác tới trễ không được chia, bèn giơ cả xấp vé trước mặt ông ta, mời mua bằng được. Ông lắc đầu nhưng nó cứ năn nỉ và tì cả người như nằm trên bàn để “ăn vạ”. Tôi nói:
– Ông này sắp về nước, không mua vé số đâu em ạ.
Cậu thanh niên chạy bàn hình như con trai ông bà chủ tiệm, đi ngang qua bèn bợp tai cho nó một cái, đuổi nó ra ngoài. Lúc nó đứng dậy, ôi cha, khuỷu tay nó loạng quạng thế nào đụng phải dĩa lươn um, đổ ráo xuống quần tôi. Nóng thì không nóng lắm nhưng bẩn, nhoè nhoẹt. Tôi cáu tiết, đứng rột dậy không biết phải làm cách nào:
– Thấy mẹ người ta rồi! Đã bảo mà, làm thế nào bây giờ?
Thằng bé cũng lúng túng, đứng giương mắt nhìn. Cậu con trai ông bà chủ tiệm lại bợp tai cho nó một cái nữa rồi kêu người nhà ra thu dọn và đem nước lau cho tôi.
Ông khách vẫn ngồi im quan sát. Thấy việc đâu đấy xong xuôi, tôi đã đỡ bực, ông mỉm cười hỏi:
– Bạn vừa mới nói hai tiếng “thấy mẹ”. Vậy “thấy mẹ” là gì, một tiếng lóng (a slang) hay một câu chửi (a rebuke)?
Đến bố tôi cũng không biết “thấy mẹ” là một tiếng lóng hay một câu chửi. Đang ấm ức về việc chiếc quần bị bẩn, tôi trả lời đại thấy mẹ là … “see mother”!
– Oh no, no, it isn’t. – Ông ta cãi, sau đó giải thích – In Vietnamese, “thấy mẹ” , it means…
Tòi rất ngạc nhiên, ông ta nói tiếng Anh nhưng phát âm hai tiếng “thấy mẹ” rất chuẩn, đúng giọng như một người Việt Nam. Tôi hỏi lại:
– Do you understand Vietnamese?
Ông ta cười lớn và xổ ra… một tràng tiếng Việt, thông thạo như người Việt Nam:
– Hiểu chứ sao không hiểu! Bởi vì tao là một thằng Việt Nam chính gốc, đếch phải người Nhật!
Và ông ta lại cười:
– Mày ngốc lắm Trình ạ. Tao nhận ra mày ngay từ lúc vừa mới gặp ở chân cầu thang máy bay còn mày thì không nhận ra tao.
Một hình ảnh nào đó từ hồi còn đi học bỗng hiện ra trong trí óc tôi:
– Cậu… cậu là thằng Quân đen?
– Chứ còn thằng chó nào vào đấy nữa! Bạn bè, thật, học với nhau từ lớp Đệ Thất Nguyễn Trãi sau đó lên Chu Văn An mà mày không nhận ra tao!
– Xin lỗi, tớ trông cậu cũng quen quen nhưng cứ yên chí cậu là một tay giám đốc người Nhật. Hơn nữa cậu lấy tên là Kwann Tae Palms thành thử tớ lầm.
– Có gì lạ đâu, đây nhé, cậu biết tên tớ là Phạm Thế Quân. Lúc sang Mỹ, nhập quốc tịch Mỹ, tớ tinh nghịch đổi cái tên Phạm Thế Quân thành Quân Thế Phạm, tức “Kuann Tae Palms” chứ chẳng có gì khó.
– Cậu quốc tịch Mỹ, không phải quốc tịch Nhật?
– Không, tớ quốc tịch Mỹ, vợ tớ người Nhật.
Quân kể cho tôi nghe, hồi đó học xong kỹ sư Phú Thọ, hắn được bổ đi làm trưởng ty công chánh tại một tỉnh khỉ ho cò gáy ở ngoài miền Trung. Ngày “giải phóng” 30 tháng Tư, gặp tàu, hắn nhảy xuống tàu, sang được bên Mỹ, vừa đi làm vừa đi học về ngành kỹ sư điện tử. Trong lớp hắn học có một cô sinh viên người Nhật cũng chuyên về ngành điện tử. Hai bên yêu nhau, sau khi tốt nghiệp, có công ăn việc làm hắn bèn cưới cô ta làm vợ. Hai vợ chồng làm trong một công ty Mỹ, hắn rất siêng năng nên leo dần lên chức vị pnó giám đốc. Vợ hắn sinh đứa con gái đầu lòng, bố mẹ vợ hắn viết thư sang giục vợ chồng hắn đừng làm bên Mỹ nữa, về sống bên Nhật, bố vợ hắn sẽ thu xếp cho hắn làm giám đốc một trong các công ty của ông. Thì ra, bố vợ hắn là một nhà tư bản, tổng giám đốc một công ty lớn chuyên về điện tử tại Nhật. Bây giờ vợ hắn đã sinh đứa thứ hai rất xinh, con trai, còn hắn thì vẫn làm giám đốc một công ty của bố vợ hắn.
– Ông già đã lớn tuổi nên cẩn thận lắm cậu ạ. Cử tớ sang Việt Nam xem xét, ký kết hợp đồng nhưng lại sợ tớ là người Việt Nam, phía bên này sẽ ỷ y, bởi vậy ổng ra lệnh cho tớ phải nói toàn tiếng Nhật và đánh tiếng rằng ông giám đốc Nhật đã già nên rất khó tánh.
– Tớ hiểu, người nước ngoài họ vẫn cẩn thận như vậy.
Hắn cười:
– Tiếng Nhật thì tớ cũng tà tà như cậu vậy thôi, do vợ tớ dạy. Sang bên này, gặp cậu tớ mừng lắm. Không ngờ sau bao nhiêu năm trôi nổi, hai thằng chó chết tụi mình lại gặp nhau.
– Tớ mới chó chết, cậu không chó chết. Cậu tạo sự nghiệp bằng hai bàn tay, không phải là đứa chó chết.
Hắn thở dài:
– Nhiều lúc suy nghĩ tớ thấy buồn lắm, một đời du tử…
Và hắn nói tiếp:
– Tớ xin lỗi cậu về việc đã làm mặt xa lạ, bữa nay mới bày ra chuyện “dog-meat” để có thì giờ gặp riêng cậu. Tớ muốn nhờ cậu một việc…
– Việc gì vậy? Bạn bè với nhau từ nhỏ, cậu nhờ việc gì tớ cũng sẵn lòng.
Hắn lại suy nghĩ và khẽ thờ dài:
– Cậu biết đấy, tớ còn một bà mẹ già. Năm nay bà cụ tớ đã tám mươi mốt tuổi, hai mắt đã lòa, ở với ông anh tớ ở Nam Định ngoài Bắc. Tớ thương mẹ tớ lắm…
– Chuyện, tụi mình toàn những thằng nghèo khó như nhau, đứa nào mà chả thương bố mẹ.
– Cám ơn cậu. Ngày trước hồi mới di cư gia đình tớ cũng nghèo như gia đình cậu. Bà cụ tớ thắt lưng buộc bụng, buôn bán mấy trái cam trái quýt với đứa em gái tớ ở chợ Bà Chiểu, nuôi tớ ăn học. Tớ mới tốt nghiệp, có thể nói là chưa báo đền gì được thì việc đổ vỡ to lớn xảy ra, tớ gặp tàu bèn nhảy xuống tàu, sang sống một mình bên Mỹ, bỏ mẹ tớ với đứa em gái ở lại. Điều đó làm tớ rất đau lòng…
Hắn tiếp:
– Cách đây mấy năm tớ có viết thư về quê liên lạc được với ông anh tớ. Từ đấy tớ luôn luôn gửi quà về để ông ấy có phương tiện phụng dưỡng mẹ già. Nhưng tiền bạc là một chuyện mà tình cảm gia đình lại là chuyện khác…
– Đúng vậy, rồi sao nữa?
– Tớ định nhờ cậu đem một số tiền khá lớn ra Bắc, đưa cho ông anh tớ, giúp đỡ ý kiến để ông ấy sửa sang nhà cửa, xây lại ngôi từ đường thật khang trang theo ý muốn của bà cụ, và nói với cụ rằng tớ hứa nội trong năm tới thế nào cũng thu xếp công việc, đem vợ con về Việt Nam thăm mẹ. Tớ đã nói với tay giám đốc khách sạn là nhờ cậu ra Hà Nội xem xét giùm tớ tình hình giấy tờ ngoài ấy xem sao, có cần gì sửa chữa không. Tay giám đốc đồng ý lắm. Việc đó dễ, dưới con mắt của một luật sư như cậu, chỉ liếc qua là cậu biết liền có khi còn hơn tớ nữa. Nhưng vấn đề chính là cậu về Nam Định đưa tiền giùm cho ông anh tớ. Sáng mai cỡ chín giờ tớ đem tiền tới nhà cậu, ở chơi vơi cậu một ngày, tụi mình nói chuyện thật nhiều rồi sáng Thứ hai tớ lên máy bay về Nhật.
Và hắn hỏi tôi:
– Bà cụ cậu vẫn mạnh khoẻ chứ?
– Cám ơn cậu, bà cụ tớ còn nhưng năm nay đã bảy mươi chín tuổi, kém bà cụ cậu hai tuổi, không được khỏe lắm. Thỉnh thoảng cụ vẫn nhắc cậu Quân không biết bây giờ ở đâu, tớ nói có lẽ ở bên Mỹ.
– Thế này nhé, lát về cậu đưa tớ ghé vào thăm cụ một chút cho nhớ nhà rồi mai tớ đến. Nhà cậu vẫn ở Tân Định?
– Ừ.
Hôm sau hắn tới. Buổi trưa, ăn cơm xong, hắn ngồi một mình ngoài hiên trên lầu bên thành lan can. Nhà tôi vắt hai ly cam tươi bưng ra. Hắn mỉm cười nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu :
– Chị cẩn thận giống hệt nhà tôi ở bên Nhật… À này, Trình, cậu có còn nhớ bài “Du tử ngâm” của Mạnh Giao ngày trước cụ Tú Anh dạy tụi mình hồi lớp Đệ Thất, Đệ Lục ở Nguyễn Trãi, sau đó lên Chu Văn An không nhỉ?
– Nhớ chứ, cụ Tú khó muốn chết, đứa nào không thuộc, không nhớ mặt chữ cụ mắng quá trời quá đất, đứa nào mà chả thuộc.
Tay hắn đang cầm chiếc que, hắn gõ nhè nhẹ vào thành lan can và đọc khe khẽ:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
(Sợi chỉ trong tay mẹ hiền
May thành chiếc áo trên thân người con du tử
Lúc con ra đi mẹ may thật kỹ
Vì sợ lâu ngày con chậm trở về
Nào ai dám nói một tấc lòng của cỏ
Có thể báo đáp được ánh dương của ba tháng xuân?)
– Bài thơ hay quá cậu nhỉ. Mỗi lần nhớ tới tớ lại ứa nước mắt cậu ạ.
– Chuyện, thơ Đường, ngay đến cụ Nguyền Du còn phải mượn ý viết thành câu thơ trong truyện Kiều: “Dám đem tấc cỏ báo đền ba xuân” huống chi tụi mình.
Hắn thở dài :
– Ở bên Nhật, hễ bận thì thôi, cứ lúc nào rảnh đầu óc tớ lại nghĩ tới hình ảnh ba mẹ con tớ lúc mới di cư vào Nam. Ông cụ tớ mất hồi gia đình còn ở ngoài Bắc. Mẹ tớ một mình tần tảo nuôi tớ ăn học. Con Chi, em gái tớ chắc cậu đã biết, lúc ấy còn nhỏ, mới lên bốn còn tớ lên sáu. Mẹ tớ trước bán bánh cuốn, sau bán trái cây ở chợ Bà Chiểu. Lúc tớ thi đậu vào lớp Đệ Thất trường công là lúc mẹ tớ đã dành dụm được chút đỉnh, không còn phải bữa đói bữa no nữa. Vậy mà cậu thấy đấy, trong túi tụi mình có đứa nào có lấy được vài đồng đâu. Thỉnh thoảng bà cụ tớ hay bà cụ cậu cho được một đồng thì thì hai đứa tụi mình chia nhau uống chung một ly nước mía. Bà cụ tớ quý cậu lắm. Nay hai mắt cụ đã lòa…
– Có, tớ biết. Hồi ông anh cả vào đây đón cụ ra Bắc tớ có đi tiễn. Ông anh mua vé xe lửa Thống Nhất, ghế ngồi, bảo sẽ xuống ga Nam Định. Thấy đông người quá, trong tàu chật như nêm cối, ghế gỗ cứng ngắc mà lại phải ngồi ba ngày ba đêm không nhúc nhích nổi, tớ chảy nước mắt. Cụ cũng khóc, đưa hai tay quờ quạng sờ mặt tớ và nói sẽ chẳng bao giờ có dịp gặp lại nữa.Tớ ra ngoài ấy chắc cụ với ông cả mừng lắm….
Quân chớp mắt. Hắn cúi mặt như cố che giấu cảm động, sau đó khẽ thở dài bảo tôi:
– Tớ chỉ lo mẹ tớ mất trước khi tớ về cậu ạ. Bởi vậy ra đấy cậu nhớ lạy mẹ tớ một lạy xin cụ tha thứ cho tớ và nói năm tới thế nào tớ cũng về thăm mẹ.
– Được cậu cứ yên tâm.
– Ngồi ăn cơm với cụ và vợ chồng cậu tớ cảm động lắm. Tớ mong được tự tay xé thịt gà tiếp vào bát cho bà cụ tớ cũng giống như cậu. Mẹ tớ hai mắt đã lòa…
– Có tớ hiểu.
Thế rồi sáng Thứ hai hắn lên máy bay về Nhật thì sáng Thứ ba tôi ra Hà Nội. Tôi đi xe lửa, vé nằm, loại tàu nhanh hai ngày hai đêm, không đi máy bay vì tính tôi tiết kiệm. Những lúc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh núi non hùng vĩ của vùng đèo Hải Vân, đèo Ngang, đầu óc tôi lại miên man nghĩ tới hình ảnh lúc hắn sắp lên máy bay, chúng tôi đưa tiễn. Hắn giơ tay chào tạm biệt “Sayônara!”. Chúng tôi cũng “Sayônara!”. Rồi trong lúc mọi người không để ý, hắn kín đáo chắp tay lạy về phía tôi một lạy. Tôi hiểu ý nghĩa của cái lạy đó nên chỉ khe khẽ gật đầu cho hắn yên lòng, không cần lạy lại. Bây giờ tôi có bổn phận đem cái lạy đó ra ngoài Bắc cùng với lời dặn hắn sẽ trở về. Và đầu óc tôi cứ miên man nghĩ đến bài ca của người du tử:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y…
Làm con thì phải như vậy. Tôi yêu bài thơ đó lắm.
Đoàn Dự
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bài ca của Người Du Tử – Tác giả Đoàn Dự
Lái xe Lô Ca Chưn_LHN (Nghĩa LĐ)
Lái xe Lô Ca Chưn
Hồi ký của LHN (Nghĩa LĐ)
Các bạn ơi ,
Xin được khoe , đây là hình ảnh minh họa cho Lê-hữu-Nghĩa lúc mới ra tù cải tạo : lái xe lô ca chưn . Cứ coi hình là các bạn có thể biết tui phải khổ như thế nào . Phải kềm lắm mới hổng cúi xuống mà hun ẩu vô cái bản mặt yêu nữ đang ngước lên khiêu khích . Mà nếu hun bậy một cái thì còn khổ đời hơn nữa . Bởi vậy tui khổ lắm ! Rồi có khi tới chỗ cứ kéo thắng hoài mà thắng hổng chịu ăn vì kéo lộn cái cần thắng .
Các bạn biết hôn , trong thời gian “quản chế” ba năm ở địa phương thì VC cấm tù cải tạo mới về hổng được làm một số nghề như hớt tóc , bán vé số , chạy xích lô , bán tiệm nước…VC giải thích vì đó là những nghề có thể tiếp xúc thường xuyên với người dân để móc nối hoạt động . Mèn ơi ! Cấm kiểu đó khác gì triệt đường sinh sống của người ta vì có nghề nào mà hổng tiếp xúc với dân . Bởi vậy tui chạy xích lô cũng là chạy “lậu” , chạy lén mà thôi . Mà tui cũng đâu có tiền để sắm một chiếc xích lô . Tui phải mướn chiếc xích lô của một người trong xóm . Chủ xe là một thanh niên trẻ , cậu ta chạy buổi sáng còn tui chạy buổi chiều . Chiếc xích lô dòm tưởng cũng hể ngồi lên rồi là đạp như xe đạp nhưng hổng phải vậy . Với chiếc xe đạp , mình muốn đạp thì đạp , muốn nghỉ chưn thì nghỉ chưn . Còn với chiếc xích lô thì khác , hai cái bàn đạp và bánh xe sau kết dính “chết” với nhau luôn . Hể đạp thì bánh chạy và hể bánh chạy thì bàn đạp cũng quây theo chớ hổng nghỉ chưn được . Bởi vì cái đùm bánh sau chiếc xích lô hổng có cái líp như xe đạp . Trong cái líp xe đạp có một vòng răng và hai con “chó” bằng thép . Hai con chó nầy lúc nào cũng ngóc đầu lên vì có cọng lò xo dưới bụng đẩy lên . Khi đạp tới thì hai con chó gài đầu vô bánh răng mà lôi bánh xe chạy theo . Còn khi nghỉ chưn , hoặc đạp lui chơi , thì vòng răng sẽ trợt qua đầu hai con chó gây nên tiếng kêu lách cách mà không lôi hai bàn đạp phải quây theo . Hai con chó trong cái líp xe đạp xài lâu ngày thường bị tà đầu hoặc lò xo bị yếu đi . Lúc đó mà đạp tới thì hai con chó mệt quá hổng chịu ngóc đầu nên đạp hụt giò , còn kêu là “trật con chó” . Chắc ai trong các bạn cũng từng trải qua kinh nghiệm bị “trật con chó” rồi phải hôn ? Con gái thì u mê còn con trai thì dai ế .
Trở lại chuyện đạp xích lô , tui xin kế vài mẫu chuyện “buồn vui nghề nghiệp” cho các bạn nghe nha .
1 – Lên dốc cầu
Khi tới mấy chỗ dốc cầu người khách thường biểu ngừng xe để họ đi bộ , lên tới đỉnh cầu rồi mới leo lên xe đi tiếp . Có lần vừa tới dốc cầu chợ Lớn Mới (cầu Phạm Đình Hổ) thì trời phát mưa . Tui phải ngừng xe để kéo bạt che cho khách khỏi ướt . Còn khách là hai mẹ con bà xẩm vì trời mưa nên không thể xuống xe đi bộ được . Vậy là tui phải đội mưa mà đẩy xe lên dốc . Vừa đẩy tui vừa nghe hai mẹ con xí xô xí xào với nhau cái gì hổng biết . Khi tới nhà ở đường Phạm Văn Chí thì đứa con gái trả tiền xe và còn đưa thêm tiền tip . Hai bên đều nói lời cám ơn nhau . Người Tàu tốt bụng ha !
Lần khác tui chở một bà người Việt qua cầu ở kinh Bãi Xậy . Bà nầy hổng thèm xuống xe đi bộ qua cầu , mà tui cũng hổng tiện biểu bả xuống nên cứ lẳng lặng đẩy xe lên dốc . Có một ông đi xe đạp ngang qua thấy vậy lên tiếng :
– Đẩy bả xuống sông luôn đi .
Mấy người đi đường cười khúc khích . Tui chắc là bà khách đó cũng phải thấy quê độ và lần tới nếu có đi xích lô qua cầu thì bả sẽ nhớ mà xuống đi bô .
2 – Gặp bợm
Có lần trên đường về nhà để nghỉ , tui định bụng là nếu khách nào tiện đường thì mới rước , còn không tiện đường thì thôi , về nghỉ . Tui đang chạy tới khu cư xá sinh viên Minh Mạng thì đột nhiên có người nhảy ra chận xe , lấy gậy đập lốp cốp vô xe và chửi :
– ĐM ! Mầy định chạy luôn không rước tao ?
Tui bị bất ngờ hổng biết chuyện gì xảy ra . Nhìn trong lề đường có vài người đứng lố nhố coi . Họ thấy tui nhìn ngơ ngác nên nói :
– Nảy giở ổng đón mà hổng ai chịu chở nên ông chận xe chú đó .
Tui hỏi ông khách :
– Anh muốn đi đâu ?
– Về đường Trương Minh Giảng .
– Tui đang trên đường về nhà . Khu đó ngược đường rồi .
Hắn sừng sộ lên , lấy gậy gõ vô càng xe lốp cốp , chỉ vô mặt tui chửi :
– ĐM ! Mầy dám hổng chở hả . Tao là thương binh đây biết hôn . Mầy không chở tao thì mầy cũng không đi khỏi đây được .
Hắn cũng chỉ trạc chừng hơn ba mươi tuổi như tui , chống gậy đi cà nhắc – hổng biết là thương binh thiệt hay giả – mà thái độ ngang tàng du côn quá xá cỡ . Tui nghĩ thôi thì ráng thêm một cuốc cũng có thêm tiền nên chịu thua hắn , biểu hắn lên xe . Khi ra tới khu đường Trương Minh Giảng hắn chỉ tui chạy lòng vòng qua mấy đường khác rồi biểu ngừng gần một trụ sở công an . Hắn nói :
– Mầy chờ đây ! Tao vô thăm bạn là Trưởng Công An chút xíu rồi đi tiếp .
Tui ngồi chờ thấy hắn cà thọt đi vô đường hẻm chớ hổng vô chỗ công an . Tui nghĩ chắc là gặp bợm muốn quịt tiến xe đây . Tui chần chờ thêm khoảng 10 phút hổng thấy hắn trở ra nên yên chí mình gặp bợm thiệt rồi nên đạp xe đi về .
3 – Gặp người đẹp
Lần đó vừa ra khỏi nhà thì có một cô gái đứng bên lề đường ngoắc xe . Tui hỏi :
– Cô muốn đi đâu ?
– Dạ , qua bên đường Lương Văn Cang rồi chờ em vô nhà có chuyện một chút , xong trở ra đi tiếp được hôn anh ?
Tui nhớ tới thằng bợm quịt tiền , rồi nhìn người đẹp trong chiếc váy ngắn hở ngực , xẻ đùi liền quyết định :
– Được chớ ! Mời cô lên xe .
Cô gái rất đẹp , còn trẻ , chừng 20 tuổi , trang điểm và ăn mặc sang trọng nên dù có bị xí gạt nữa thì tui cũng chịu vì hai tiếng “anh , em” nghe sao muốn chết người . Cái tật dê khó bỏ . Khi cổ lên xe thì mùi nước hoa phảng phất càng làm tui ngây ngất thêm . Tui chợt nhớ tới câu nói đùa của một người cháu rễ kêu tui bằng cậu vợ . Đó là Đại Úy Hải Quân Trần Văn Mười mà ở nhà kêu là ông Già Cọp vì rất nghiêm khắc và dữ như cọp đối với hai thằng con trai nhỏ . Ông Già Cọp nói :
– Cậu đạp xích lô như vậy có cực thì cũng có lời mà .
– Lời cái gì ?
– Thì người đẹp ngồi thấp phía trước , cậu ngồi sau trên cao vừa nhìn được , vừa hít mùi thơm được .
Đúng là bữa đó tui vừa nhìn vừa hít mùi thơm . Nhưng người đẹp bữa đó hổng có gạt tiền tui . Mà khi ngồi trên xe cổ còn nói chuyện rất vui , hoạt bát . Cổ nói cổ là em của một cô diễn viên khá nổi tiếng thời đó . Và cổ cũng đang tập làm diển viên . Nhưng bây giờ tui cũng quên cổ tên gì và người chị diễn viên tên gì . Sau khi qua bên đường Lương Văn Cang rồi trở ra Sài Gòn về nhà cổ ở bên Quận 4 . Khi xuống xe cổ hỏi tui :
– Anh tính bao nhiêu tiền vậy ?
Trước người đẹp tui bèn hào phóng :
– Cô đưa bao nhiêu cũng được .
Vậy là người đẹp trả tui 90$ . Hai bên cám ơn nhau rồi cổ vô nhà , tui quay xe .
Mèn ơi ! Cũng tại cái tật dê . Nếu tính theo quảng đường dài và thời gian chờ đợi thì giá cũng phải cỡ 150$ . Bây giờ chỉ được có 90$ . Thôi thì dê làm sư phụ chịu . Mai mốt mà gặp nữa thì cũng vậy nữa thôi .
LHN (FB Nghia Le)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lái xe Lô Ca Chưn_LHN (Nghĩa LĐ)
Bàn Tay Nhân Ái ( sưu tầm không rõ tác giả)
Bàn Tay Nhân Ái.
(Sưu tầm trên Internet)
1. Câu chuyện thứ nhất: Một người đàn ông da trắng đứng trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu. Người đi qua đi lại, không ai để ý đến ông. Ngay cả khi ông kèo nài người qua đường. Could you spare me some change for something to eat. Khuôn mặt có nhiều nét hằn của thời gian. Thân hình ốm o. Chiếc áo rộng thùng thình chắc là món quà của Salvation Army. Chiếc quần jean bạc màu và đôi giầy màu nâu không bí tất. Hình ảnh quen thuộc của những người vô gia cư trong thành phố.
Một thanh niên Á Châu sau khi xếp đồ vào xe, đẩy chiếc xe chở đồ lại chỗ trả xe. Ông già vô gia cư – cứ tạm cho rằng ông già là người vô gia cư đi – đăm đăm nhìn người thanh niên. Hai mắt mở lớn. Hai con mắt mệt mỏi nhưng sao tôi vẫn thấy từ đó ánh lên cái gì như tia hy vọng. Có thể là tôi để trí tưởng tượng rong ruổi như con ngựa được nới lỏng dây cương. Người thanh niên đẩy chiếc xe chở đồ chợ lại chỗ trả xe.
Ngày trước, thiên hạ dùng xe chở đồ xong, thường hay bỏ đại trong bãi đậu xe, cửa tiệm phải thuê nhân viên đi gom những chiếc xe đẩy ấy về tiệm. Rồi người ta nghĩ ra cách gắn sợi dây xích vào xe. Muốn dùng xe, bạn phải gài một đồng bạc cắc vào cho sợi xích tuột ra. Dùng xong, trả xe lại chỗ cũ, gài sợi dây xích vào bộ phận khóa xe, đồng bạc rơi ra. Bạn lấy lại được đồng bạc và cùng lúc bạn trở thành người lịch sự vì đã trả chiếc xe đẩy hàng về chỗ cũ.
Ông già đứng chờ ở chỗ thiên hạ trả xe đẩy hàng, cạnh cửa ra vào tiệm thực phẩm Á Châu. Ông cụ mong ngóng từ tâm của khách hàng. Và con mắt ông cụ sáng lên khi người thanh niên đẩy chiếc xe lại chỗ trả. Anh ta gài sợi dây từ chiếc xe trước vào xe mình để đồng tiền cắc một đồng lọt ra. Ông già chớp vội hai mắt chờ đợi. Người thanh niên cầm đồng xu và ném về phía ông già. Ông già nhanh miệng cảm ơn và đưa tay đón bắt, nhưng hụt, và đồng tiền lăn tròn trên nền xi măng, phía dưới những chiếc xe đẩy cho khách dùng chất đồ mua trong tiệm. Đồng tiền mất hút khỏi tầm nhìn. Ông già khom lưng tìm. Nhưng dù có trông thấy đồng bạc cũng chẳng cách nào lấy ra được trừ khi tháo hết từng chiếc xe một để chừa ra khoảng trống. Ông cụ cứ loay hoay hết đứng thẳng lại cắm cúi tìm kiếm.
Một người đàn bà và một bé gái đi qua chỗ ông già. Bé gái chăm chăm nhìn ông già đang lom khom tìm kiếm kia. Bé gái níu tay người đàn bà. Và hai mẹ con – chắc là hai mẹ con – dừng lại. Em bé buông tay mẹ chạy đến bên ông già hỏi ông già tìm gì. Ông già chỉ vu vơ xuống khoảng nền xi măng phía dưới những chiếc xe đẩy dành cho khách hàng.
–The loonie. My loonie. Đồng bạc của tôi.
Loonie là tiền cắc một đồng ở Canada, có hình con loon, một loại chim có thể lặn dưới nước như vịt, sống nhiều ở bắc bán cầu. Đồng loonie lăn tận xó kẹt nào đó. Và ông già lom khom tìm kiếm. Bé gái cũng khom người nhìn theo hướng ngón tay chỉ của ông cụ.
–I don’t see anything. Bé gái nói, giọng trong trẻo.
Ông cụ lắc đầu.
–Có chứ. My loonie. A nice man gave it to me moments ago.
Bé gái hỏi: Chỉ có một đồng cắc loonie thôi phải không.
Ông cụ gật đầu. Bé gái chạy lại chỗ bà mẹ đang chờ.
–Mommy, can I have a loonie
Người đàn bà lục cái túi xách đeo bên vai, lấy ra một đồng loonie đưa cho bé gái. Bé gái cầm đồng tiền trong tay, chạy lại bên ông cụ. Cô bé giúi đồng tiền vào bàn tay ông cụ. Here’s your loonie!
Buổi sáng, trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu, tôi ngồi đếm những tấm lòng. Tôi thầm tiếc người thanh niên đã có lòng cho ông cụ một đồng bạc mà không dám đưa tận tay ông già để đồng bạc lăn đi mất. Và bất chợt, tôi nhận ra rằng đó là hành vi thường thấy ở những nơi thiếu sự tôn trọng người khác. Ngay cả đối với loài vật cách cư xử của con người cũng khác biệt tùy nếp sống văn hóa của chính họ. Ở các nước như Việt Nam, người ta ném xương cho chó chứ ít có người đặt miếng ăn một cách từ tốn trước mặt con vật. Ở những nền văn hóa tôn trọng đối tượng (con vật hay con người) người ta đặt thức ăn trước mặt con vật, xoa đầu nó, nhiều người còn bon appétit! với nó. Với kẻ bần hàn, người ta đặt đồng bạc từ tâm vào lòng bàn tay họ chứ không quăng đồng bạc – một cách khinh mạn – như người thanh niên trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu mà tôi gặp. Và tôi nhận ra sự khác biệt giữa hành vi chia sẻ và hành vi bố thí, dẫu cả hai cùng phát xuất từ một chút từ tâm. Phát sinh từ lòng trắc ẩn, đồng loonie của người thanh niên kia là đồng tiền bố thí cho kẻ khốn cùng, còn đồng loonie của cô bé là đồng tiền chia sẻ với một người nghèo khó.
2. Câu chuyện thứ hai: Người tù được thả vào buổi sáng tinh mơ, khi nắng còn le lói sau những ngọn cây. Đám người thăm nuôi vây quanh. Những câu chào xen lẫn những lời hỏi thăm tíu tít. Có gặp anh A, anh B, ông C… trong đó không. Có, tôi có gặp ông C nhưng không gặp ông A. Hình như ông A đã được chuyển trại cách đây mấy tuần rồi. Thế còn ông B. Ông B cũng vậy. Chuyển trại mà không báo cho người nhà biết à. Dĩ nhiên rồi. Chuyển trại. Đem đi đày nơi khác – một nơi không ai biết – là chuyện thường tình ở đất nước này. Tôi đang nói về đất nước Việt Nam, và năm xảy ra câu chuyện này là 1979 khi cả nước Việt Nam tội nghiệp đã loe loét sắc đỏ của cái chủ nghĩa tồi tàn. Năm ấy, tôi ở cái nơi có tên Trại Tạm Giam Kiên Giang, tôi bị giam TẠM trong khám lớn vì bị tình nghi “tham gia những hoạt động chống phá cách mạng.” Buổi sáng, tôi được trả tự do sau một năm tù đày. Cái đầu tóc vừa mới cạo lởm chởm được mấy hôm. Thằng bạn tù tự nhận là ngoài đời có nghề hớt tóc. Có nghề thì có việc làm, được đứng giữa trời nắng, phơi những mụn ghẻ và hít thở không khí trong lành, nghe được tiếng chim hót, thỉnh thoảng được ngắm nhìn những con chim chọc ghẹo nhau tíu tít trên những cành cây rậm lá. Tên bạn tù tự nhận là có nghề cắt tóc. Tôi đem cái đầu chấy rận bù xù ra cho nó thanh toán. Tên thợ cắt tóc như cóc gặm. Lũ bạn đồng tù nhìn tác phẩm của nó, phê bình như thế. Cái đầu cóc gặm. Nhưng như vậy vẫn hơn để nguyên mớ tóc rối bù suốt ngày gãi xồn xột, đôi khi làm rụng xuống những con chấy kềnh no nê bụng căng máu đỏ.
Buổi sáng, tôi mang cái đầu cóc gặm, đi chân đất – bởi đôi giầy đã bị chúng tịch thu ngay khi bị bắt khoảng một năm trước đó – loanh quanh giữa đám đông, tìm người nhà. Tôi chớp mắt ngỡ ngàng với nắng. Tôi luống cuống nhìn quanh. Bao nhiêu khuôn mặt xa lạ nhưng gần gũi. Những người mẹ đi thăm con, những người vợ đi thăm chồng, những người em gái đi thăm anh, những đứa con gái đi thăm cha. Những kẻ có người thân là tù nhân, buổi sáng, tụ đầy ngoài cổng khám lớn, chờ gửi quà vào cho người nhà đang bị giam cầm. Tôi cũng là tù nhân và họ là những kẻ đi thăm (nuôi) tù. Có lẽ vì vậy mà chúng tôi thấy gần gũi. Tôi ở tù, bố mẹ không biết tin nên chẳng được thăm nuôi. Và tôi đứng xớ rớ, ngẩn ngơ nhìn mọi người. Gần một năm trời co cụm giữa bốn bức tường. Hít chung bầu không khí nặng hơi người và đủ thứ mùi xú uế đã quen, bây giờ hít thở lại thứ không khí trong lành, tôi mang cảm giác của người đi lạc. Lạc tới một nơi chốn không quen, chưa hề đặt chân tới bao giờ. Tôi được trả tự do. Đôi giầy đã bị tước đoạt ngay lúc mới bị bắt. Giấy tờ tùy thân và quyết định phân công ra trường đám cai tù không biết ai giữ, tôi cũng không dám đòi vì đã từng có nhiều tù nhân khi được trả tự do, đã đòi lại giấy tờ, và vì không tìm thấy giấy tờ của họ, đám cai tù bắt giam họ trở lại để “chờ giải quyết sau.” Tóc tai lởm chởm. Mặt mũi hốc hác, xanh xao. Tay chân ghẻ lở trầy trụa. Mặt mũi ngơ ngáo. Tôi ngẩn ngơ cả với ánh nắng nóng ran trên da mặt. Tất cả như lạ, như quen. Một người đàn bà còn khá trẻ đứng xa xa nhìn về phía tôi khi tôi giải thích cho người nhà ông A, ông B biết cách người ta chuyển tù. Thế này nhé: không hề báo trước, người ta bất ngờ mở hé cái lỗ vuông vức trên khung cửa. Người ta chõ mồm vào đọc những cái tên. Trại giam đang ồn ào như phiên chợ bỗng dưng im bặt. Những cái tên được đọc lên. Người ta đọc nguyên một danh sách và bảo những người có tên trong danh sách ấy thu gom đồ đạc của mình trong vòng năm phút. Những người có tên trong danh sách ấy có thể sẽ được trả tự do, có thể được chuyển qua trại khác, có thể bị chuyển đi U Minh. U Minh là nơi người ta đày những người tù bất trị. Tóm lại đó đơn giản chỉ là một danh sách tù nhân. Có thể được trả tự do hay bị chuyển sang trại khác, có thể là đi đày. Chuyện gì xảy ra cho họ chỉ mình họ biết. Đám bạn đồng tù chỉ có thể đoán mò. Nghe giải thích xong, những người thăm nuôi tản mát về phía cổng trại giam. Chợt người phụ nữ còn khá trẻ kia tiến đến bên tôi. Tôi ngước nhìn, chờ câu hỏi thăm của chị nhưng chị bất ngờ giúi vào tay tôi mảnh giấy nhỏ. Tôi ngỡ ngàng nhìn tờ giấy trong lòng bàn tay mình. Đó là tờ giấy bạc năm mươi đồng. Bạn hãy hình dung năm mươi đồng ở nước Cộng Hòa Xả Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của năm 1979. Tôi ú ớ không biết nói sao. Nhưng chị đã mau miệng nói:
-“Anh cầm lấy để mua vé xe về nhà. Chừng nào trả cũng được.”
Và chị quay ngoắt đi, lẩn vội vào đám đông. Bạn có biết 50 đồng năm 1979 lớn cỡ nào không? Tôi hồi ấy, bác sĩ mới ra trường lương tháng trong hai năm đầu là 85% của 60 đồng tiền mới đổi (còn gọi là tiền Hồ).
Từ đó, khi nhìn thấy bất kỳ người phụ nữ Việt lam lũ, nghèo nàn nào ngoài đời sống hay trong hình chụp, trong hay ngoài đất nước Việt Nam, tôi cũng đều nghĩ là chị ấy; người đã giúi đồng năm chục vào tay anh chàng bác sĩ trẻ măng vừa mới ra tù; một kẻ không quen biết, cùng với lời dặn dò: “Chừng nào trả cũng được!”
Hôm nay tôi kể lại câu chuyện năm xưa. Biết đâu người chị không quen biết năm nào tình cờ đọc được. Chắc chị sẽ không tìm gặp người đã nhận sự giúp đỡ năm xưa của chị để nhận lại số tiền cho mượn. Tôi cũng không dám nghĩ sẽ gặp lại chị để trả lại chị năm mươi đồng bạc quý giá năm xưa, tôi chỉ mong gặp chị, để nói với chị một lời cảm ơn – bởi hôm ấy, trong lúc tôi còn ngẩn ngơ trước cử chỉ quá bất ngờ, chưa kịp nói câu gì thì chị đã biến đi. Chị biến đi như bà tiên trong chuyện cổ tích. Tôi muốn nói với chị lời cảm ơn bởi chị đã để lại trong tôi hình ảnh tuyệt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Bởi không biết chị là ai nên nhìn người nữ nào tôi cũng nghĩ là chị; người mẹ, người cô, người dì, người thím, người chị, người em gái đúng nghĩa.
Mấy mươi năm sau, ở quê hương thứ hai, tôi lại gặp một người nữ, một người nữ trẻ thơ, một người nữ có tấm lòng; người đã nhét vào lòng bàn tay ông già vô gia cư trước tiệm thực phẩm Á Châu đồng tiền nhân ái. Những người nữ đã làm rực rỡ thêm hình ảnh đẹp tuyệt vời nơi người phụ nữ. Và cho đến bây giờ tôi vẫn tin người phụ nữ đẹp là người có tấm lòng nhân ái.
À quên, lòng nhân ái và sự ngây thơ. Bởi buổi sáng hôm ấy, bạn biết không, khi bà mẹ nói với bé gái trước cửa tiệm tạp hóa Á Châu: You’re a good girl, bé gái đã nói với mẹ một câu dài mà tôi hiểu được như thế này:
-“Mẹ ơi con tiếc quá, phải như ông cụ không bị mất đồng loonie của ông ấy thì bây giờ ông ấy đã có tới hai đồng rồi!”
Ơi, cái ngây thơ đầy thánh thiện!
(Không rõ tác giả)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Bàn Tay Nhân Ái ( sưu tầm không rõ tác giả)
Thư Cha già gửi con gái nhân ngày Father’s Day_Hoàng Yến
Thư Cha già gửi con gái nhân ngày Father’s Day
Con gái của Ba,
Còn bốn tháng nữa con tròn 56 tuổi. Nhưng trong lòng Ba con vẫn còn trẻ như tuổi 15. Ba nhớ lại cũng ngày này 18 năm về trước, cha con mình đùm túm dắt nhau đi vượt biên rồi sang Mỹ.
Ba nói là “đùm túm” vì hồi đó Ba từ trại tù cải tạo về thì con đã gần 40 tuổi. Khổ. Nghèo. Nhìn con gái Ba héo úa dung nhan mà Ba khóc ròng. Tại ba! Tại Ba hết thảy! Làm con gái của một “sĩ quan nguỵ” nên từ trường Đại Học ra con không có việc làm. Hàng ngày, ngồi ở góc chợ Bàu Hoa vùng Ngã Tư Bảy Hiền-Sài Gòn để bán từng tô bún mắm. Cứ ba tháng một lần lặn lội ra Bắc thăm Ba.
Năm 1975 Mẹ con mới 50 tuổi. Người vẫn nghĩ rằng Ba chỉ đi “học tập ít ngày”. Thành ra, nghe Ba đi Bắc, Mẹ con bị shock. Cộng thêm bệnh cao huyết áp sẵn có Mẹ còn “nhất định nằm một chỗ!”.Thế là con gái của Ba vừa lo cho Mẹ, vừa lo cho Ba. Ba ở tù 8 năm thì Mẹ con mất. Phải đến 4 năm gian khổ đời con nữa Ba mới được trở về.
Buổi tối đoàn viên ấy, cha con mừng mừng tủi tủi. Nhìn ảnh Mẹ con vẫn như tươi cười Ba tan nát cả lòng. Nhưng biết nói làm sao” Vận mệnh cá nhân mình gắn liền với vận mệnh quốc gia dân tộc.
Cả thời tuổi trẻ của Ba hầu như đi khắp 4 vùng chiến thuật. Mẹ con cứ bồi hồi theo dõi đường Ba đi. Không biết mình sẽ thành goá phụ lúc nào. Thời gian ở nhà của Ba rất ít. Con là con đầu lòng. Lại là con gái. Cảm ơn con gái của Ba. Một đứa con gái có lòng hiếu thảo.
Trong một lần thăm nuôi tại trại tù, con kể Ba nghe: Từ nhà mình tới chợ Bàu Hoa chừng non 1 cây số. Sáng nào con cũng bày hàng bún mắm ra. Mùi mắm kho thơm lừng. Có cả tôm thẻ lột, thịt quay, cà tím. Có cả những rau nhúc, cây bông súng, rau đắng, húng cây, giá sống và bắp cải bào. Khách hàng đông lắm! Con còn cười vui nói với Ba:
Khi nào Ba về con sẽ mở một tiệm bún mắm và rau VÂN KHANH cho Ba ngồi thu tiền.
Ba nghe với lòng se sắt.
Con gái của Ba,
Trớ trêu thay, lúc Ba về con đã là con gái lỡ thì. Ba buồn lắm. Nhờ ơn Thượng Đế mình vượt biên một lần trót lọt. Ba đặt chân đến đất Mỹ vào cái tuổi người ta sắp nghỉ ngơi. Chính vì vậy mà con lại khổ vì Ba. Con không muốn Ba đi làm ca đêm giữa trời rét buốt.
Con nói cái lạnh miền Bắc Việt Nam đã cứa nát thịt da Ba cả chục năm trời cũng đủ lắm rồi. Ba hãy để con lo. Nhưng Ba đâu đành lòng như thế.
Buổi sáng con ra khỏi nhà là Ba cũng đi. Tiệm giặt ủi gần nhà mình quá mà. Ba nhận phần việc ủi và xếp quần áo. Đi tới đi lui xem máy giặt nào ngưng. Máy sấy nào đồ đã khô. Chỉ vậy thôi. Một ngày, tính ra Ba đi cũng gần 5 cây số. Tội nghiệp con gái của Ba. Lúc người ta báo tin Ba bị xỉu thì con khóc ròng. Ba về nhà ở không và cho con nuôi tiếp. Thật người xưa nói đúng! “Trẻ cậy cha, già cậy con” mà.
Vân Khanh con,
Cho đến một buổi chiều, con đưa về nhà một trung niên trẻ. Trung niên mà Ba cho là “trẻ”. Vì Ba thấy diện mạo anh ta cũng dễ nhìn. Ba mừng vì con của Ba rồi cũng có một bến đợi để neo thuyền. Ba cầu mong cho con hạnh phúc.
Chồng của con cũng là chiến hữu của Ba. Gia cảnh cũng không may mắn giống như Ba. Vợ anh đã chết trong lần đi thăm chồng. Cả chiếc xe lăn xuống vực. Từ đó anh dở dở ương ương. Qua Mỹ rồi anh vẫn sống như người mộng du. Cho tới ngày gặp con. Tình yêu thật là kỳ diệu! Chẳng những khiến cho con gái của Ba trẻ lại mà anh chàng “dở hơi” kia cũng chừng như mới cải lão hoàn đồng. Cứ 4 giờ khuya , anh thức dậy đi bỏ báo. Tới 9 giờ sáng về. Nghỉ ngơi rồi 5 giờ chiều đi vào hãng. 1 giờ đêm mới trở về nhà. Ba cảm ơn Thượng Đế lần nữa vì con có người chồng hiền lành và độ lượng. Chứ vào tuổi của Ba không bị đưa vào nhà dưỡng lão là hiếm lắm. Con nhớ gia đình Bác Th. không” Hai bác cưới vợ cho anh Cảnh từ lúc còn ở Việt Nam . Vậy mà qua Mỹ rồi Bác Thanh bị cô dâu xem như gánh nặng. Nhất định đòi anh Cảnh phải đưa Mẹ vào Nursing home cho đến chết.
Vân Khanh con,
Cả một thời trẻ tuổi của con đã dành để sống cho cha mẹ. Bây giờ con hãy sống cho con đi.
Ba rất cảm động mỗi lần khách đến thăm nhà con hay nói: vợ chồng con có phước lắm nên suýt soát tuổi 60 mà vẫn còn có cha để phụng dưỡng. Phải ! Hồi đó ba khó nghĩ mỗi lần nghe người ta cho rằng sự sống con người tính theo công thức: 5 năm, 6 tháng, 7 ngày. Nghĩa là ở tuổi đời 5 bó, tuổi thọ tính theo năm. Đến 6 bó thì tính theo tháng , mà 7 bó thì tính theo ngày. Ba đã 80, chắc phải tính theo giờ quá!
Cảm ơn vợ chồng con đã chăm sóc Ba mỗi ngày. Con nói: Ba ơi ! Với chúng con ngày nào cũng là Father’s Day cả. Ba thật có lỗi với con. Hồi đó Ba vẫn buồn thầm trong lòng khi mẹ con sinh con là con gái. Ông Nội con sợ Ba chết trận thì không có con trai nối dõi tông đường. Còn nếu Ba già mà yếu đau thì con là gái không thể chăm cho Ba được. Ca dao có câu:
“Trai mà chi Gái mà chi
Con nào có nghĩa có nghì thì hơn”.
Nói đến đây Ba chợt nhớ loáng thoáng câu chuyện “Tấm đắp mông ngựa” mà Ba đã đọc từ rất lâu:
Chuyện kể :
Một người cha đã đem cả gia tài còn lại của mình cưới cho con cô vợ giàu, trẻ đẹp. Một thời gian đầu sống vui. Rồi những đứa cháu nội lần lượt ra đời. Người cha mỗi ngày một già yếu. Người con trai rất yêu và nể vợ. Dần dần quên đi trong nhà còn có người cha. Mùa Đông lạnh lẽo mà sức già chịu không thấu những ngày giá tuyết phũ phàng. Trong khi những con ngựa nuôi trong chuồng thì được giữ ấm bằng những tấm đắp mông. Đến chừng không thể chịu đựng được nữa người cha bèn gọi con trai để nói rằng:
– Con ơi , hãy cho cha một tấm đắp mông ngựa đễ cha dễ ngủ vì mùa Đông này lạnh quá!
Con dâu nghe được bèn nói với chồng:
– Anh hãy lấy tấm đắp cũ ngoài sân kia mà cắt cho cha một nửa.
Người con trai làm theo lời vợ. Trong lúc cố dùng sức cắt đôi tấm đắp ra thì đứa con nhỏ đến gần, hỏi:
-Cha ơi, sao không cho ông Nội cả tấm đi” Cha cắt ra làm chi “
Người cha trả lời:
– Để dành con à.
Hôm sau, người con trai thấy đứa con mình cũng đem tấm đắp mông ngựa khác cắt ra làm đôi. Người con trai giận dữ hỏi:
– Con làm cái gì vậy” Tại sao con cắt nó ra”
Đứa con nhỏ đáp:
– Nửa tấm này con cho ông Nội. Còn nửa này để dành khi nào cha già con sẽ cho cha.
Người cha giật mình hối hận. Từ đó, hết lòng chăm sóc cha mình cho đến cuối cuộc đời.
Vân Khanh,
Ba ước ao những người cha khác cũng có con hiếu thảo như con gái của Ba. Ba rất tự hào về con. Trong lúc có biết bao gia đình, cha mẹ ngậm đắng nuốt cay vì những đứa con Việt Nam sống theo kiểu Mỹ. Rất tự do! Thậm chí đã khước từ hai chữ HIẾU KÍNH cha mẹ, làm cho các bậc sinh thành hàng ngày sống “nước mắt chan cơm” thì Ba đã được vợ chồng con hết lòng chăm chút từng miếng ăn, giấc ngủ.
Người xưa nói: “Hiếu thuận huờn sinh hiếu thuận tử. Ngỗ nghịch huờn sinh ngỗ nghịch nhi”.
Ba ước nề nếp gia đình mình là như vậy.
Ba của con,
Hoàng Yến
(Bài sưu tầm trên internet)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Cha già gửi con gái nhân ngày Father’s Day_Hoàng Yến
Chuyện cà phê vườn và oan trái H.O.
Chuyện cà-phê vườn và oan trái H.O.
Toàn Như
(Dựa theo một câu chuyện có thật của một cựu sĩ quan CSQG,
nhưng tên các nhân vật đã được thay đổi)
Kể từ khi quán cà phê L.H. ở một góc đường Westminster đóng cửa để remodel vì thay đổi chủ nhiều khách hàng quen thuộc của quán này cũng buồn vì họ đã mất đi một nơi hội họp vào mỗi cuối tuần.
Thông thường cứ vào cuối tuần, quán LH rất đông khách. Đa số khách của quán là những anh em cựu H.O. nên quán còn có tên gọi thân mật là Quán Hát Ô, hay quán Ông Gìa Đầu Bạc vì ông chủ quán cũng là một H.O. gốc TQLC có mái tóc húi cua kiểu nhà binh bạc trắng. Có lẽ vì nhân thân của ông chủ quán như vậy nên đã được các anh em H.O. hết mình ủng hộ. Họ tụ họp ở đây cả giờ mà chỉ với một ly cà phê. Thật ra đối với họ, ly cà phê chỉ là cái cớ để có dịp ngồi lại bên nhau chuyện gẫu cho vui mà thôi. Họ thường tụ lại thành từng nhóm, nhưng đông nhất là nhóm các cựu TQLC, bạn cùng binh chủng với ông chủ quán.
Kể từ ngày quán LH đóng cửa, các nhóm trên đã mất đi một nơi để gặp nhau cuối tuần hầu có dịp cà kê dê ngỗng chuyện trên trời dưới đất. Không còn LH, mọi người đành di tản tìm đến những quán cà phê khác.
Cũng giống như các nhóm bạn khác, không có LH, nhóm chúng tôi cũng buồn năm phút. Sau ít lần đi uống cà phê ở một vài nơi khác, một hôm, để thay đổi không khí, anh Tôn trong nhóm đã ngỏ ý mời các bạn đến vườn nhà anh uống cà phê thay vì ra quán. Mọi người hưởng ứng ngay và thế là từ đó hàng tuần nhóm bạn chúng tôi có mục cà phê vườn thay cho việc ra quán.
Vườn sau nhà anh Tôn là một sân rộng có khá nhiều cây lá xum xuê, phần lớn là những loại cây ăn trái rất thông dụng trong những vườn nhà của người Việt. Như cam, quýt, ổi, chanh, hồng, lựu, thanh long,…; hay những loại rau lá, bầu bí, mướp, dưa ,v.v… Anh Tôn dành ra hẳn một góc sân để làm nơi cho bạn bè tụ tập cà phê. Mọi người ngồi quanh một cái bàn dài với những ghế xếp hay ghế đẩu nhiều ít tùy theo số người có mặt. Để tránh mưa nắng, anh Tôn còn dựng lên một cái lều nhỏ, loại tiền chế, để làm chỗ cho các bạn tụ họp. Đặc biệt, vào những ngày có những trận thi đấu thể thao hấp dẫn như World Cup hay Super Bowl, v.v… anh Tôn còn đem cả TV ra ngoài lều để anh em đến xem và uống cà phê. Mọi người vừa xem TV vừa reo hò bàn tán ồn ào không kém gì ở những tụ điểm bên ngoài. Còn những lần khác, mọi người đến vào cuối tuần, vừa nhâm nhi cà phê, vừa nghe chim hót và ngắm nhìn cây cối quanh vườn cũng rất vui. Không khí lúc nào cũng ồn ào náo nhiệt chẳng khác gì ở quán. Đến lúc cà phê xong, nhiều bạn còn tiện tay “chôm” về những trái cây, rau lá từ vườn nhà của khổ chủ.
Ở quán L.H., mọi người uống cà phê phải trả tiền, dĩ nhiên, nhưng ở quán cà phê vườn này, các bạn được anh Tôn đãi cà phê miễn phí. Cà phê được anh pha chế sẵn trong coffeemaker, ai muốn uống cứ tự nhiên selfservice với đường hay sữa tùy thích. Cà phê vườn như vậy lúc đầu cứ tưởng chỉ là tạm thời trong khi chờ đợi quán L.H. tái xuất giang hồ, nào ngờ việc này đã được kéo dài chưa biết đến bao giờ mới dẹp tiệm. Có lẽ vì các bạn thấy thuận tiện vì vừa được uống cà phê ‘chùa’, vừa được có một chỗ ngồi đấu hót hàng giờ mà chẳng sợ bị phiền hà như khi ngồi ở quán.
Một ngày cuối năm, một bạn trong nhóm cho biết mới nhận được tin nhắn từ Việt Nam về một người bạn mà nhiều người trong nhóm có quen biết. Đó là anh Sáng hiện đang sống ở Mỏ Cày, Bến Tre. Theo bạn này, hoàn cảnh của anh Sáng thật éo le tội nghiệp. Mặc dù bị ở tù cộng sản tới 13 năm nhưng anh vẫn bị từ chối không được vào Mỹ theo diện H.O.
*
Như mọi người đã biết, sau ngày 30 tháng Tư, 1975, anh Sáng cũng như bao quân cán chính VNCH khác phải đi tù ‘cải tạo’. Anh Sáng là một thiếu tá ngành cảnh sát đặc biệt nên mãi 13 năm sau mới được trả tự do. Ngày anh vào tù, vợ anh đang mang bầu đứa con út được ba tháng. Sau một tháng vẫn không thấy chồng trở về, chị đành mang mấy đứa con về Mỏ Cày tá túc nhà cha mẹ ruột. Nhưng rồi chị chờ đợi mỏi mòn mãi mà tin tức chồng vẫn bặt tăm. Sáu tháng sau, chị hạ sanh một bé trai. Để ghi nhớ ngày vợ chồng vì thời cuộc phải chia ly xa cách chị đặt tên cho con là thằng cu Ly.
Về quê sinh sống, chị Sáng chẳng biết làm gì để kiếm sống ngoài việc phụ giúp công việc đồng áng trên một công đất của cha mẹ. Nhưng rồi khi mọi người bị buộc phải vào hợp tác xã nông nghiệp thì cái công đất ấy cũng không còn nữa. Cha mẹ chị đã thành một xã viên hợp tác xã làm việc như những tá điền làm thuê ngay trên mảnh đất của mình để được chấm công điểm. Công điểm sau đó mới được qui ra thóc gạo và nhu yếu phẩm như một hình thức trả lương. Còn chị, vì là vợ của một sĩ quan “ngụy” ngành cảnh sát sát đặc biệt “ác ôn”, bóc lột nên không được thâu nhận vào làm trong hợp tác xã. Không những vậy, chúng còn muốn chị phải đi lập nghiệp ở vùng kinh tế mới nhưng chị lấy lý do các con chị còn qúa nhỏ để cứ nấn ná ở lại.
Tuy nhiên, để được như vậy, chị phải lo lót cho bọn cán bộ xã ấp. Đó là bài học “đầu tiên” (tiền đâu) mà chị học được dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Từ đó, chị đã tận dụng cái khoảnh đất còn lại ở sau nhà cha mẹ tập tành trồng rau, trồng bắp, trồng cải,… rồi thu hoạch đem bán kiếm sống qua ngày. Cũng may hồi nhỏ chị có ở dưới quê một thời gian nên nay công việc ruộng vườn chị làm quen cũng mau chóng.
Mãi hơn một năm sau ngày 30/4/1975, khi đi làm sổ mua gạo và nhu yếu phẩm chị mới sực nhớ chưa làm giấy khai sanh cho thằng Ly. Thời gian đó, gạo và các nhu yếu phẩm phần lớn được bán theo sổ phân phối, không có giấy khai sanh, nó sẽ bị mất khẩu phần gạo và có thể sẽ không được đi học khi lớn lên. Thế nên chị đi làm khai sanh cho nó trễ mất một năm. Đó cũng là lý do mà sau này đã làm cho gia đình anh chị không được xuất cảnh đi Mỹ theo diện H.O. như những cựu tù “cải tạo” khác.
Đến giữa năm 1988, anh Sáng mới được trả tự do sau hơn 13 năm tù trải qua nhiều trại tù từ Nam ra Bắc. Ngày anh ra tù cũng là lúc có tin đồn các cựu tù nhân chính trị nguyên là những sĩ quan chế độ cũ nếu đã bị tù từ ba năm trở lên sẽ được đi Mỹ định cư theo một thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Dĩ nhiên, chẳng riêng gì anh Sáng mà có thể nói hầu hết các anh em tù đều rất vui mừng đón nhận tin này. Mọi người đều mong mỏi tin đó sẽ là sự thực để được thoát ra khỏi cảnh đày đọa, phân biệt đối xử dưới chế độ cộng sản sau khi đã bị trải qua nhiều năm tù đói khổ.
Khi nghe tin chương trình tái định cư các tù “cải tạo” nói trên đã chính thức bắt đầu vào năm 1989, vợ chồng anh Sáng đã chạy vạy khó nhọc mới đủ tiền để nhờ dịch vụ nộp đơn xin xuất cảnh theo chương trình mà sau này gọi là H.O. Sau bao nhiêu ngày chờ đợi, cuối cùng cả gia đình anh đã được gọi đi lên Sài Gòn phỏng vấn. Tưởng là với 13 năm tù, anh và gia đình sẽ dễ dàng được Mỹ chấp thuận cho đi Mỹ. Thế nhưng oái oăm thay khi vào phỏng vấn, phía Mỹ đã nghi ngờ anh khai man lý lịch. Họ cho rằng thằng Ly không phải là con anh vì theo giấy khai sanh của nó, nó được sanh ra lúc anh đã vào tù được hơn một năm.
Anh Sáng đã giải thích cho người phỏng vấn hiểu rằng, thằng Ly chính là con anh. Vợ anh đã mang thai nó khi anh bắt đầu vào tù. Sáu tháng sau, trong lúc anh đang ở tù thì chị sanh nó. Vì cuộc sống qúa cực khổ ở thôn quê và vì qúa bận rộn để mưu sinh nên vợ anh đã quên và làm khai sanh trễ cho nó. Nhưng dù đã giải thích như thế, người phỏng vấn viên vẫn không tin và không chấp nhận. Ông ta từ chối hồ sơ H.O. của anh vì cho rằng anh “man khai lý lịch”, ghép tên con của người khác làm con mình để mang sang Mỹ (!).
Qúa tức giận về kết luận của người phỏng vấn viên, anh Sáng đã lớn tiếng phản đối sự quy chụp này và yêu cầu được thử nghiệm DNA để xác minh thằng Ly có phải là con anh hay không.
Sau đó, nghĩ rằng mình không có gì gian dối, anh Sáng đã viết thư cầu cứu các bạn ở Mỹ nhờ khiếu nại giùm trường hợp của anh. Nhờ vậy, anh đã được tái phỏng vấn và được thử mẫu DNA của anh và thằng Ly. Mặc dù kết qủa DNA của cha con anh là đồng nhất, nhưng không hiểu sao phía Mỹ vẫn không thay đổi quyết định. Anh Sáng vẫn bị Mỹ khước từ hồ sơ xuất cảnh. Theo anh Sáng, có thể người phỏng vấn viên ban đầu đã có ác cảm với anh vì anh lớn tiếng cãi lý nên đã bị người này đưa tên vào “hồ sơ đen”. Cho nên sau này dù được tái phỏng vấn, anh vẫn bị Mỹ từ chối vì đã có “hạnh kiểm xấu” trong hồ sơ (?).
Thế là giấc mộng đi Mỹ của anh Sáng đành phải gác lại. Vợ chồng anh lại đành phải trở về Mỏ Cày để tiếp tục công việc chân lấm tay bùn chẳng khác gì những ngày lao động ở trong và ngoài nhà tù. Đúng là cái vận số anh qúa đen, nó cứ mãi đeo bám theo anh cho đến tận hôm nay.
Đã gần ba mươi năm kể từ ngày bị rớt H.O., cuộc đời anh Sáng vẫn chẳng có gì khá hơn. Mới đây anh Bửu, một bạn khác trong nhóm, trong chuyến về VN thăm nhà có gặp hai vợ chồng anh Sáng ở Mỏ Cày thấy rất tội nghiệp. Họ chẳng khác gì hai ông bà gìa lam lũ ở miệt vườn dù tuổi đời của họ cũng xấp xỉ các bạn trong nhóm. Cả hai mặc những bộ quần áo cũ bạc màu, thậm chí sờn rách. Anh Sáng vẫn tiếp tục công việc trồng trọt cực nhọc như ngày nào khiến cho có lần anh đã bị té ngất xỉu ở trong vườn, may mà vợ anh thấy kịp thời cứu cấp.
Biết tin này, anh Bửu khi trở lại Mỹ đã vận động bạn bè gởi giúp anh chị Sáng một số tiền. Nhờ vậy, chị Sáng đã có một số vốn nhỏ để buôn bán lặt vặt kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Riêng các người con của anh chị Sáng nay đều đã trưởng thành và lập gia đình nhưng chúng cũng chẳng khá gì hơn bố mẹ. Vì hoàn cảnh đặc biệt của gia đình sau 1975 nên chúng không được học hành đến nơi đến chốn. Vì vậy nay chúng cũng chỉ là những công nhân tầm thường với những đồng lương khiêm tốn.
Kể chuyện về anh Sáng đã làm Tuấn, một bạn trong nhóm, nhớ đến một trường hợp tương tự nhưng may mắn hơn. Anh Tuấn kể, tình cờ quen biết anh Thơ, một người bạn H.O. Giống như anh Sáng, Thơ có một người con được sanh ra trong lúc anh còn đang ở trong tù. Người con này không bị làm khai sanh trễ như con anh Sáng, nhưng đặc biệt hơn, nó được sanh ra mãi mấy năm sau khi anh Thơ đã đi tù. Lý do vì có lần anh Thơ được trại cho phép thăm gặp gia đình ở lại qua đêm. Cũng vì lần thăm gặp đó mà kết qủa vợ anh đã mang bầu thằng con út. Cái bầu đã làm cho chị Thơ bị nhiều tai tiếng dị nghị, nhưng vốn là một người công giáo nên chị đành câm lặng, không giải thích và cũng không hủy hoại cái thai nhi. Chị nhẫn nhịn vì nghĩ dù sao nó cũng là giọt máu của vợ chồng chị.
Nay đến ngày nộp đơn xin định cư theo diện H.O., cả hai vợ chồng anh Thơ đều băn khoăn chưa biết phải xử trí như thế nào. Nếu khai tên thằng con út thì sợ bị loại, mà bỏ nó lại thì cũng không đành vì không biết sau này có bảo lãnh nó qua Mỹ được hay không. Cho nên sau cùng hai vợ chồng đánh liều cứ để tên hết cả nhà trong danh sách rồi hạ hồi phân giải.
Trong những ngày chờ đợi để được gọi đi phỏng vấn, anh Thơ suy nghĩ sẽ nên khai như thế nào về trường hợp đứa con út. Nếu khai nó là con của hai vợ chồng trong lúc anh còn đang ở tù thì có thể sẽ bị nhân viên phỏng vấn nghi ngờ anh khai man lý lịch, ghép tên của người không phải là con mình vào danh sách gia đình như nhiều người đã từng bị loại. Thật là tình ngay mà lý gian. Còn nói nó chính là con anh do kết qủa của một lần vợ thăm nuôi chồng trong tù thì lại càng làm tăng thêm nghi vấn. Chẳng lẽ chế độ lao tù cộng sản tốt đẹp đến độ cho người tù được thăm gặp gia đình thân mật đến thế sao? Suy nghĩ mãi, cuối cùng anh Thơ đã nghĩ ra một cách để sẽ khai với người phỏng vấn.
Đến ngày phỏng vấn, đúng như anh Thơ dự đoán, phỏng vấn viên người Mỹ đã hỏi ngay rằng, thằng Út có đúng là con của vợ chồng anh không. Anh trả lời nói dối nó đúng và không đúng là con anh. Anh nói: “Nó đúng là con vợ chồng chúng tôi vì nó do chính vợ tôi sanh ra nó. Nhưng nó không phải là con của tôi, hiểu theo nghĩa nó là giọt máu do tôi tạo ra, vì thời gian nó ra đời tôi còn đang ở trong tù. Sở dĩ như vậy vì trong lúc tôi đang ở tù, vợ tôi phải tần tảo bán buôn để có tiền nuôi con và đi thăm nuôi tôi. Trong một lần đi buôn đường xa, vợ tôi đã bị một tên bạn hàng hãm hại cưỡng hiếp khiến cho bả bị mang bầu. Qúa xấu hổ sau đó, vợ tôi đã toan tính tự tử nhưng vì thương chồng, thương con nên bả đành nhịn nhục. Ngoài ra cũng vì lý do nhân đạo, và hơn nữa, vợ chồng tôi là những tín đồ công giáo nên không được phép phá thai. Đó là lý do ngày nay có sự hiện của thằng Út của chúng tôi ở đây.”
Nghe kể như vậy, ông phỏng vấn người Mỹ gật gù có vẻ thương cảm. Ông nói, đó là một thảm cảnh của gia đình ly tán vì tù đày bởi cộng sản mà gia đình anh là một nạn nhân; cho nên ông chấp thuận cho cả gia đình anh được sang Mỹ tái định cư. Vợ chồng anh Thơ cám ơn ông Mỹ rối rít ra về mà lòng vui vô hạn.
Nghe kể chuyện về anh Thơ, mọi người không khỏi tội nghiệp cho anh bạn Sáng kém may mắn. Phải chi ngày ấy có người “cố vấn” mách cho anh Sáng cái câu chuyện của anh Thơ thì có lẽ số phận của anh đã khác. Phải chăng đó cũng là số phận? Mỗi người ai cũng có một số phận, có ai biết trước được số phận của mình sẽ như thế nào.
Toàn Như
(Việt Báo -VVNM 2015)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện cà phê vườn và oan trái H.O.
Học Thêm Pháp Văn_LHN
Học Thêm Pháp Văn
– Hồi ký của Lê Hữu Nghĩa aka Nghĩa Lựu Đạn
Hồi đó học trò THĐ có nhiều bạn ở xa như Bến-Cát, Bến-Cỏ, Dầu-Tiếng, An-Hòa ….và cả Sàigòn nên nhiều bạn phải tìm nhà xung quanh trường để ở trọ. Do vậy nhà tui vì gần trường nên cũng có một số học trò tới ở trọ. Đối diện xeo xéo với nhà tui bên kia đường là nhà con nhỏ Bạch-Tuyết cũng có mấy trò ở trọ. Đằng sau nhà tui là nhà của Nguyễn-văn-Thi cũng có nhiều trò ở trọ.
Bên nhà tui, đứa thì học sinh-ngữ chính là Anh, đứa thì Pháp, nên mỗi khi học bài thì mạnh đứa nào nấy đọc “rân ba toong”. Tiếng học bài lớn vang qua cả bên nhà Bạch-Tuyết cũng nghe được. Ba Bạch-Tuyết là Thầy Tư, một thầy giáo đã về hưu vì sức khỏe, là người giỏi tiếng Pháp. Thầy Tư là người rất dễ mến, tốt bụng, có đôi mắt sáng và nụ cười hiền hòa. Thầy Tư nói nghe tụi nầy học chia động từ mà thấy thương mấy đứa siêng học nên thầy có ý muốn giúp mấy đứa học thêm Pháp văn. Khi nghe Bạch-Tuyết thông báo thì bên nhà tui có bốn năm đứa, cả trai lẫn gái đều xin học. Học miễn phí mà, tội gì bỏ uổng. Phần tui sinh ngữ chính là Anh văn nhưng ba tui cũng bắt tui phải học. Vì ổng quan niệm học cũng như ăn, hổng bổ bề dọc thì cũng bổ bề ngang, hễ có là cứ xực.
Lớp học ngay cái chái phía sau nhà Bạch-Tuyết. Tổng cộng cả trai gái khoảng bảy tám đứa. Mỗi khi đi học thì con trai tụi nầy phải khiêng cái băng ghế dài ở nhà tui qua để ngồi vì nhà Bạch-Tuyết hổng có đủ ghế.
Có lần, lúc thầy Tư cho ra chơi thì tụi con gái bày trò chơi xuống nái. Xuống nái là đứng hơi dạng hai chưn ra rồi ngửa đầu về phía sau, uốn cong ngược cái xương sống để mà chống hai tay xuống đất. Cái trò chơi nầy chỉ có tụi con gái làm thôi, con trai tụi nầy hổng thèm làm, chỉ coi tụi nó làm. Có đứa mới làm nửa chừng là té, cả bọn cùng cười hắc-hắc. Có đứa chạm được mấy đầu ngón tay xuống đất. Đứa nào làm hây là chạm được nguyên lòng bàn tay xuống mặt đất, được cả bọn vỗ tay.
Mấy đứa con trai tụi nầy coi một hồi thì đứa nầy ghé lỗ tai đứa kia mà nói xì-xầm. Bạch-Tuyết thấy vậy bèn bước lại chỉ vào tụi nầy mà nói:
– Ê ! tụi bây nói bậy phải hôn?
Một thằng nào đó chống chế:
– Ai nói cái gì bậy đâu.
– Tao biết tụi bây nói bậy, tụi bây dòm bậy. Con nhỏ Bạch-Tuyết quyết-liệt nói.
Khi con nhỏ Bạch-Tuyết nói tụi bây nói bậy thì có đứa còn chống chế. Nhưng khi nó nói tụi bây dòm bậy là cả bọn con trai tụi nầy cứ ngớ ra như bị má bắt quả tang đang ăn vụng. Thằng nầy dòm qua thằng kia, thằng kia dòm qua thằng nọ mà hổng chối cãi được gì hết. Trong đầu mỗi thằng đều đặt câu hỏi là tại sao con Bạch-Tuyết nầy nó khôn quá vậy ta, nó biết tụi mình xì-xầm chuyện gì hết trơn. Con nhỏ Bạch-Tuyết bèn nói như ra lịnh:
– Bây giờ tụi bây đi chỗ khác chơi. Còn muốn ngồi đây thì phải quây mặt ra ngoài vườn. Hổng cho dòm tụi tao nữa .
Cả bọn con trai lẳng-lặng ngồi quây mặt ra vườn. Mèn ơi! Làm như con trai đứa nào cũng có cái tánh bẩm sinh là sợ và tuân lịnh con gái. Cái tánh bẩm sinh nầy đã phát-tiết ra ngay từ lúc nhỏ nên cả bọn tuân theo lịnh con Bạch-Tuyết răm-rắp mà hổng cãi lại tiếng nào. Chắc cũng do đó mà khi lớn lên rồi cưới vợ, đứa nào cũng tuân răm-rắp theo lịnh bà xã hết.
Tuy bị phạt quây mặt ra ngoài nhưng tụi nầy đều lắng nghe động tĩnh bên trong và tưởng-tượng coi tụi con gái đang làm tới đâu. Nhưng chỉ được một lúc là tò-mò chịu hết nổi, tụi nầy lại quây mặt vô mà dòm. Con nhỏ Bạch-Tuyết như canh chừng sẵn, thấy tụi nầy vừa quây vô là nó la lên liền:
– Ê ! Ai cho tụi bây quây vô dòm. Quây ra ngoài mau!
Tui chống chế:
– Ai dòm đâu nà. Tụi tao muốn coi tới giờ vô học chưa mà mậy .
Con nhỏ Bạch-Tuyết trề môi xí một cái rồi nói:
– Cha ! Siêng học quá ha. Tụi bây khỏi cần lo. Khi nào vô học là tao kêu liền. Hổng được dòm vô nữa đó nha. Quây ra ngoài hết đi!
Thế là cả bọn con trai lại quây ra ngoài. Mà phen nầy là hổng còn lý-do gì để quây trở vô nữa. Cả bọn lại tụm đầu nhỏ to với nhau. Mà có chuyện gì để nói ngoài chuyện thời-sự đang nóng bỏng đằng sau lưng. Cả bọn xì-xầm làm công việc của các nhà phê-bình vĩ- đại. Thằng thì nói con nhỏ nầy u hơn con nhỏ kia. Thằng thì nói con nhỏ kia bự hơn của con nhỏ nọ. Có thằng lại thắc-mắc tại sao có đứa nguyên còn có đứa lại chẻ hai. Câu hỏi nầy được thằng khác giải- đáp liền là tại tụi nó bận quần đáy giữa, hễ cái đáy nằm một bên thì nguyên, còn hễ cái đáy nằm ngay giữa thì chẻ. Cả bọn vừa xì-xầm nhưng lại cười khúc-khích theo từng câu nói của mỗi thằng. Con nhỏ Bạch-Tuyết nãy giờ vừa chơi xuống nái nhưng vẫn luôn canh chừng tụi con trai, Nó thấy tụi nầy nói cười khúc-khích như vậy bèn đi tới la lên:
– Nè ! Tụi bây lại nói bậy nữa phải hôn?
Mèn ơi! Con nhỏ nầy sao mà hây quá vậy ta. Tụi tui làm cái gì nó cũng biết. Chắc là nó cũng đoán mò thôi. Hồi nãy nó đoán tụi tui dòm bậy thiệt là trúng chóc. Nhưng cũng có thể hiểu được. Bởi vì mình mẩy tụi nó suông đuộc thì có chỗ nào để mà dòm ngoài cái chỗ u lên khi tụi nó xuống nái. Hổng dòm chỗ đó thì còn dòm chỗ nào. Còn bây giờ tụi tui xì-xầm với nhau nó đâu nghe được, chắc cũng chỉ đoán mò thôi. Nghĩ vậy nên tui cãi lại:
– Mầy có nghe tụi tao nói cái gì hôn mà mầy nói tụi tao nói bậy?
Nhỏ Bạch-Tuyết gân cổ lên:
– Tao hổng cần nghe tao cũng biết tụi bây nói cái gì.
Tui nói lại:
– Cha chả. Bộ mầy là thầy bói hả?
Con nhỏ Bạch-Tuyết gằn từng tiếng:
– Tao hổng phải là thầy bói. Mà tao đi guốc trong bụng tụi bây.
Tui đột-nhiên ôm bụng, mặt mày nhăn-nhó vừa rên nho nhỏ:
– Ui da! Ui da!
Con nhỏ Bạch-Tuyết đang oai-phong lẫm-liệt cũng dịu xuống hỏi:
– Ê ! Bộ mầy bị đau bụng hả Nghĩa?
Tui vừa rặn vừa nói:
– Chớ còn gì nữa mậy. Mầy đi guốc trong nầy thì cái bụng của tao hổng đau sao được mậy.
Con nhỏ Bạch vừa lườm tui vừa bỏ đi và nói:
– Đồ cái thằng quỉ!
Cả bọn con trai cười ha ha, tui nghe có cả tiếng tụi con gái cũng cười chen vô.
Mới đó mà đã hơn nửa thế-kỷ rồi!
Các bạn THĐ/4 ơi,
Sau khi tui viết bài Học Thêm Pháp Văn, trong đó có nhắc tới con nhỏ Bạch-Tuyết, thì có vài bạn hồi báo mail riêng cho tui.
Nói chung các bạn đều nói đọc bài đó nín cười hổng được, biểu tui viết nữa đi. Ngoài ra có bạn nói thêm là: “Nhỏ Bạch-Tuyết bây giờ đi tu rồi mầy còn lôi nó ra chọc phá làm chi, để yên cho nó tu.” . Có bạn nói: “Nó mà nổi giận lột bỏ bộ đồ già lam ra đi kiếm mầy là mầy chết với nó đó.”
Thiệt ra tui cũng muốn được gặp lại Bạch-Tuyết lắm đó. Nó có bận đồ hay lột đồ gì tui cũng hổng sợ. Tui sẽ để yên cho nó muốn làm cái gì tui thì làm. Bởi vì tui biết chắc là nó hiền queo. Nếu gặp tui thì nó sẽ nói liền: “ Mầy đó hả Nghĩa . Mầy dạo nầy có khỏe hôn?”.
Các bạn biết hôn. Tui đã từng gặp lại Bạch-Tuyết nhiều lần ở Minnesota rồi. Lần đầu tiên tới nhà nó, tui muốn kêu nó bằng chị cho lịch-sự mà sao thấy ngượng cái miệng quá chừng. Nên tui kêu đại nó bằng mầy và nó cũng kêu lại tui bằng mầy liền. Vậy là hai bên đều thấy thoải-mái. Lần gặp đầu tiên nầy, chuyện đầu tiên mà tui để ý và hỏi nó là:
– Tao nhớ hồi đó mầy có cái răng khểnh mà?
– Nhổ lâu rồi. Bạch-Tuyết trả lời.
Tui thấy như tiên tiếc một cái gì đã mất. Hồi đó cái răng lòi xỉ nầy làm cho nó rất có duyên. Nói vậy chớ lúc đó dù nó hổng còn răng khểnh, dù đã hơn năm bó nhưng nó vẫn còn đẹp mê hồn. Các bạn hổng tin thì cứ coi hình của Bạch-Tuyết mà tui gởi kèm trong attachment. Đó là hình đám cưới của tui, có hai má con Bạch-Tuyết cùng đi.

Gần đây tui có coi lại hình của Bạch-Tuyết chụp chung với các bạn được gởi qua email thì thấy nó vẫn còn đẹp dù cái đầu trọc lóc. Thì ra Bạch-Tuyết lúc nào cũng đẹp, bận cái gì cũng đẹp, có răng khểnh hay không cũng đẹp, mà thậm chí no hair cũng vẫn cứ đẹp. Tu chung với người đẹp như vầy thì mấy ông sư chịu sao thấu!
Nghĩa LĐ.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Học Thêm Pháp Văn_LHN
Danh Sách Đồng Môn yểm trợ cho K1 Nguyễn Văn Suốt
Danh Sách yểm trợ
cho K1 Nguyễn Văn Suốt
( Phan Quang Nghiệp cập nhật lúc 9:00PM ngày 5/6/2021)
-K1 Bửu Hồng 50$00
-K9 Nguyễn Linh 50$00
-K1 Đinh Văn Hạp 50$00
-K1 Phan Quang Nghiệp 50$00
-K1 Trần Quốc Nại 50$00
-K1 Nguyễn Văn Hải+ Ph.Thị Loan 100$00
-K1 Nguyễn Thị Máy 50$00
-K1 Trương Ngọc Mỹ 50$00
-K6 Nguyễn Bạch Túc (Nghiệp nhận ) 100$00
-K3 Thái Văn Hoà 50$00
-K1 Nguyễn Văn Vinh 50$00
-K1 Nguyễn Thanh Hoàng 50$00
-K1 Tống Phước Kiên 50$00
-K1 Phan Tấn Ngưu 100$00
-K1 Dương Mộng Oanh 50$00
-K1 Nguyễn Thị Cẩm Y 50$00
-K3 Nguyễn Ngọc Tuấn 50$00
-K3 Nguyễn Văn Hiền 50$00
-K6 Nguyễn Tấn Lực (Hội Tr.Bắc CA) 100$00
-K1 Lê Quang Phú 50$00
-K1 Phan Hữu Nghi 100$00
-K1 Lê Hữu Nghĩa 50$00
-K1 Lê Phát Minh 100$00
-K1 Nguyễn Văn Tăng 50$00
-K1 Hồ Thị Hoa 50$00
-K1 Nguyễn Ngọc Kính 50$00
-K1 Lê Văn Thao 50$00
-K1 Nguyễn Công Vinh (Check gởi Toán) 50$00
-K2 Nguyễn Ngọc Thuỵ 50$00
-K1 Trần Đức Túc ( Nghiệp nhận ) 50$00
-K1 Lê Thế Viên 50$00
-K3 Nguyễn Thanh Giàu 50$00
-K1 Trần Pháp 50$00
-K1 Nhữ Đình Toán 50$00
-K1 Nguyễn Thanh Thuỷ 50$00
-K1 Võ Đăng Ngọc 50$00
-K1 Nguyễn Vô Lượng 50$00
-K1 Trần Viết Tường 20$00
-K1 Võ Thiệu 20$00
-K1 Trang Thiện Nhơn 20$00
-K2 Lê Sỹ Tài 30$00
-K3 Hồ Cảnh Phùng 100$00
-NT Phạm Tấn Ngọc SF 100$00
-K1 Nguyễn Văn Tính 50$00
-K1 Cao Trung Trực 50$00
-K1 Huỳnh Vĩnh Hưng 50$00
-K1 Nguyễn Văn Thế 50$00
-K1 Trần Quang Hiệp 50$00
-K1 Nguyễn Hữu Thời 30$00
-NT Trần Quan An 100$00
-K1 Phạm Bá Lộc 50$00
-K1 Nguyễn Văn Hoàng 50$00
-K1 Nguyễn Tiến Ích 50$00
-K1 Võ Quang Lâu 50$00
-K1 Lê Ngọc Thịnh 50$00
-K8 Hà Đình Huy (Duy Văn ) 50$00
-K1 Hà Văn Côn 50$00
-K2 Trần Bửu Giao 50$00
-K1 Ngô Thị Lành 50$00
-NT Lý Hoài Ân (K.Rạch Dừa ) 50$00
-K6 Nguyễn Đăng Tuấn 50$00
-TOTAL: . . . . . . . . 3,370$00 So far so good
Ai gởi Zelle cho BH qua tên HUONG VO (1) 408-724-7296
Ai gởi check nhờ Trưởng Khoá Nhữ Đình Toán Địa chỉ: 323 N.Euclid St.#150 Santa Ana CA 92703 Phone 714-265-9187. Đề tên người nhận Nguyễn Vô Lượng.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Danh Sách Đồng Môn yểm trợ cho K1 Nguyễn Văn Suốt
Tình Hình Sức Khỏe của bạn Nguyễn Văn Suốt
Vào lúc 6:25 PM chiều nay mình (CNN) có nói chuyện với bạn Nguyễn văn Suốt đang nằm trong bệnh viện. Nói chuyện với Suốt hơi khó vì Suốt lãng tai, may nhờ có cô con dâu nên được biết vài thông tin như sau. Hai động mạch cổ bị nghẹt nên máu không lên được tới đầu. BS cho biết sẽ mỗ vào sáng thứ Ba tới. Kèm theo đây là hình của Suốt mình nhờ con dâu chụp và mấy dòng tâm sự của bạn VNS
Hello bạn vàng!! Tôi bị tai biến mạch máu não, nhập BV Đại Học Y Dược Thành phố HCM từ ngày 27.5.2021 và đã làm các xét nghiệm (10 ngày nay như chụp CT, MRI não 2 lần rồi)! 2 chân yếu, tay trái xệ, đầu luôn luôn xây xẫm.!!! Nhưng vẫn còn minh mẫn, chưa quên, nhớ..!!). Anh Ngọc Bửu có liên lạc và giúp đỡ một ít trước, và Bửu cho biết ngày thứ ba tuần tới sẽ mổ và đặt sten(??). Tôi nhắn tin cho Anh bây giờ là ngày chúa nhật, vậy là còn 2 ngày nữa mới mỗ!! Sức khoẻ có kém, nhưng hiện tôi còn tỉnh táo!!. Kính cảm ơn Anh và các Bạn hiền đã quan tâm chia sẻ trong hoàn cảnh khốn khó của tôi!!. Tình yêu thương của Quý “Bằng hữu đồng môn” là nguồn động viên lớn cho trong thời điểm khổ đau nầy!! Trân trọng kính chúc Anh Vinh cùng tất cả Bằng hữu đồng môn cùng Quyến :bình an, khỏe mạnh và hạnh phúc!!.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tình Hình Sức Khỏe của bạn Nguyễn Văn Suốt
Yểm Trợ K1 Nguyễn Văn Suốt SOS
THƯỢNG KHẨN
K1 Bửu Hồng cho biết vừa nhận tin từ K1 Bửu ở VN : K1 Nguyễn Văn Suốt bệnh nặng phải vào Nhà Thương và phải giải phẫu.
K1 Bắc Cali Hạp Đinh ,Nghiệp Phan và Nại Trần xin đóng góp mỗi người 50 (150$) . Xin quý anh chị cho biết con số đóng góp . Bửu Hồng sẽ gọi điện thoại về cho Bửu VN để ứng trước . Sau đó sẽ gởi hoàn lại cho K1 Bửu Hồng lo việc nầy .
Đinh Văn Hạp 50$00
Phan Quang Nghiep 50$00
Trần Quốc Nại 50$00
……………………………………
TM K1 Bắc Cali
Hạp+Nghiệp
4/6/2021
Danh Sách yểm trợ Nguyễn Văn Suốt
( cập nhật lúc 10 giờ tối 4/5/2021)
– K1 Bửu Hồng 50$00
-K9 Nguyễn Linh 50$00
-K1 Đinh Văn Hạp 50$00
-K1 Phan Quang Nghiệp 50$00
-K1 Trần Quốc Nại 50$00
-K1 Nguyễn Văn Hải+ Ph.Thị Loan 100$00
-K1 Nguyễn Thị Máy 50$00
– K1 Trương Ngọc Mỹ 50$00
-K6 Nguyễn Bạch Túc 100$00
-K3 Thái Văn Hoà 50$00
-K1 Nguyễn Văn Vinh 50$00
-K1 Nguyễn Thanh Hoàng 50$00
-K1 Nguyễn công Vinh 50$00
– K1 Phan Tấn Ngưu 100$00
– K1 Lê Hữu Nghĩa 50$00
– K1 Lê Phát Minh 100$00
– K1 Phan Hữu Nghi 100$00
– K1 Lê Quang Phú 50$00
– K1 Nguyễn Văn Tăng 50$00
– K1 Hồ thị Hoa 50$00
– K1 Nguyễn Ngọc Kính 50$00
– K1 Lê Văn Thao 50$00
Tạm Kết: . . . . . . . . . . . . . 1350$00
(Lưu ý: Các bạn không nên gởi check cho BH mà dùng hệ thống ZELLE để gởi, cần gì thì gọi BH)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Yểm Trợ K1 Nguyễn Văn Suốt SOS
Nhân Quả Có Thật Không?_Đào Văn Bình
Nhân Quả Có Thật Không?
Nói tới chuyện Nhân Quả có khi người ta cho đó là “quê mùa” giống như chuyện “Rắn Báo Oán” chẳng hạn. Thế nhưng Luật Nhân Quả lại là định luật bất biến chi phối sự tồn vong của khoa học. Nếu mai đây khí Hydrogen và khí Oxygen hợp lại mà không thành nước thì khoa học xụp đổ, cuộc sống con người và thiên nhiên đảo lộn hòan tòan. Luật Nhân Quả (Cause and Effect Law) chi phối mọi họat động của con người, từng giờ , từng phút, từng sát na nhưng con người không thèm để ý. Chỉ khi hậu quả xảy đến người ta mới chịu tin. Chẳng hạn một cậu thanh niên gia nhập băng đảng, trộm cướp rồi vào tù. Trong tù cậu hối hận suy nghĩ. Cái chuyện ngồi tù ngày hôm nay chẳng phải tình cờ mà có hoặc do Thần Linh làm ra. Nguyên do, nguyên nhân hay cái Nhân của nó bắt nguồn từ lúc cậu không nghe lời cha mẹ, thầy cô, chơi bời lêu lổng. Từ chơi bời lêu lổng cho nên có dịp (có duyên) gần gũi với băng đảng, du đãng, trộm cướp, xã hội đen. Từ chuyện gia nhập băng đảng du đãng đưa tới việc làm phi pháp, bất chính. Việc làm phi pháp, bất chính đưa đến tù tội. Ngày hôm nay, dù cậu có ăn năn, hối hận thì cũng quá muộn màng. Muộn màng ở đây có nghĩa là cậu không thể thay đổi cái Quả – tức là bản án tù, hoặc cảnh tù tội đang diễn ra sờ sờ trước mắt. Cậu phải nhận lãnh cái Quả do việc mình làm. Tuy nhiên sự hối cải, sự ăn năn, sám hối lại rất tốt đẹp và không có gì muộn màng nếu nhìn về tương lai. Giả sử cậu thanh niên thật sự hối hận và không muốn sau này cuộc đời u ám nữa. Cậu bắt đầu hiểu sơ sơ về Luật Nhân Quả tức là sẽ không gieo nhân xấu nữa. Muốn gieo nhân lành thì không gì bằng không làm việc xấu hoặc làm việc tốt lành. Trong hòan cảnh tù tội, việc làm tốt lành có thể là: Tuân thủ mọi luật lệ của trại giam, giữ gìn hạnh kiểm tốt. Không kết bè, kết đảng trong tù để tranh giành một chút lợi lộc, thanh tóan lẫn nhau. Tham gia các chương trình huấn nghệ để sau này có một nghề nghiệp chân chính để sinh sống (Chánh Nghiệp). Xin phép giám thị trại giam đem sách vở, kinh Phật vào trau giồi thêm vì cuộc sống tù tội cách ly với thế giới bên ngòai khiến người tù trở nên lạc hậu. Nếu đêm đêm ngồi Thiền, quán tưởng được thì càng tốt. Trong những lúc đêm khuya vắng lặng hãy quán xét về những việc mình làm trong quá khứ xem có thật sự là những việc đúng đắn không? Nhớ giữ gìn sức khỏe, đừng bi quan, tiêu cực, hủy họai thân thể. Luôn luôn quán tưởng rằng “vạn vật vô thường” cho nên cái cảnh tù tội ngày hôm nay cũng là vô thường, tạm bợ. Rồi ngày mai đây sẽ là một ngày mới. Ngày mới có tốt đẹp hay không là tùy nơi ta. Rồi cậu có thể hình dung tới cha già, mẹ yếu, gia đình anh chị em đang ray rứt khổ đau vì đứa con, người cha, người chồng, người anh, đứa em đang trong vòng tù tội. Rồi quán tưởng tới bạn bè cũng đang mong ngóng mình trở về với thế giới an lành. Rồi nguyện rằng trong ngày trở về, cậu sẽ ôm cha mẹ khóc rồi hứa từ đây sẽ tu chỉnh lại, sẽ làm ăn chân chính, sẽ không ngại khó ngại khổ, sẽ cố gắng vươn lên với đời để đền đáp công ơn dưỡng dục.
Đấy là câu chuyện cậu thanh niên hư hỏng, còn chuyện hâm nóng địa cầu thì sao? Hơn 100 năm nay, do nhu cầu sản xuất đại quy mô, vừa để tiêu thụ, vừa để xuất cảng, các nhà máy cứ “ung dung” nhả khói lên trời và tưởng như chẳng gây hậu quả gì. Có ngờ đâu khí CO2 bốc lên đã làm cho lớp Ozone – có nhiệm vụ che chở trái đất bởi hơi nóng của mặt trời, mỏng đi. Hậu quả là trái đất nóng dần. Nơi thì lụt lội, nơi thì biến thành sa mạc. Trong tương lại một số hòn đảo sẽ vĩnh viễn chìm xuống mặt biển. Rồi còn nhiều tai họa nữa mà các khoa học gia chưa khám phá hết. Nhân lọai thấy cái Quả hiện lù lù trước mắt bèn cuống cuồng họp nhau ở Copenhagen (Đan Mạch) từ ngày 7-18/12/2009 để tìm phương giải quyết. Nhưng liệu những cam kết có được tôn trọng không? Hay lại tiếp tục tạo nghiệp, gieo Nhân tức là tiếp tục nhả khói lên trời? Chuyên địa cầu hâm nóng ngày hôm nay lại thêm một bằng chứng hùng hồn cho thấy sự tồn vong của trái đất, sinh mệnh của trái đất là do con người quyết định chứ chẳng phải do Thần Linh Tối Thượng nào cả. Dầu sao thì sự “ăn năn hối lỗi” (ở đây là ý thức của nhân lọai) dù muộn màng nhưng “có còn hơn không” giống như sự ăn năn của cậu thanh niên nói ở trên.
Thưa quý bạn. Nếu hiểu được như thế, nếu nhìn được như thế thì Luật Nhân Quả có gì gọi là “quê mùa” ? Có gì là mê tín dị đoan? Hiểu Luật Nhân Quả sẽ giúp chúng ta sống chừng mực, làm chuyện đúng đắn trong cuộc sống. Không tạo khổ đau cho chính mình. Không tạo khổ đau cho người, tạo sự an lành cho thế giới, như thế gọi là sống với tâm hồn cao thượng. Nếu mọi người, mọi nhà đều thực hành Luật Nhân Quả họăc biết sợ Nhân Quả thì thế giới này biến thành một Cung Trời mà chẳng cần phải bôn ba tìm kiếm Thiên Đường ở đâu khác.
Trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh, giáo hóa đệ tử, Đức Phật nói rất nhiều về Nhân Quả, đặc biệt tại pháp hội Linh Sơn. Trong pháp hội này, Đức Phật đã nói chi tiết hơn về Nhân Quả không ngòai mục đích nhắc nhở để chúng ta:
-Giúp đỡ kẻ nghèo túng.
-Kính trọng người cô quả, cô độc
-Không gian dâm với vợ người
-Không buông lung khinh rẻ chồng mình
-Không quên ơn phụ nghĩa
-Làm hết bổn phận trong việc giảng dạy, chỉ dẫn, cố vấn kẻ khác
-Không ác khẩu, mắng nhiếc, chửi rủa cha mẹ mình
-Không làm nghề trộm cướp
-Không quỵt nợ
-Không phỉnh gạt, dụ dỗ người khác
-Không làm ác
-Không âm mưu hại người
-Không buôn gian bán lận, cân non, cân thiếu, giả vờ quên rồi tính cao giá
-Không ghen tị, dèm pha
-Không làm ai phải mất danh dự, tủi nhục.
-Không giết hại bừa bãi các lòai vật.
-Cúng dường chư tăng/ni để quý vị có phương tiện sinh sống và cũng là dịp bày tỏ tấm lòng tôn kính đạo đức, tôn kính kẻ hy sinh cả đời mình cho lý tưởng cao cả.
Xét cho kỹ, đây là những lời giảng dạy thiết thực trong đời sống chứ không phải chuyện “trên trời dưới biển”, ban bố phép mầu, khấn vái cầu nguyện vu vơ. Dưới đây chúng ta sẽ bàn thêm về Luật Nhân Quả.
1) Việc mình làm là Nhân ( Nguyên Nhân), kết quả gây ra gọi là Quả (Hậu Quả). Quả có quả tốt, quả xấu.
-Trèo cao là Nhân, ngã đau là qủa.
-Học hành chăm chỉ là Nhân, thi đậu là Quả.
-Hành thiền là Nhân, an tĩnh tâm hồn là Quả.
-Tu là Nhân, giải thóat là Quả.
-Giết người là Nhân, bị người ta trả thù, hoặc bị giết hại là Quả.
-Nói dối là Nhân, người ta không còn tin tưởng mình nữa (bad credit) là Quả.
-Ham muốn là Nhân, bị khổ đau, dày vò vì lòng ham muốn là Quả.
-Yêu si mê là Nhân, phát điên phát cuồng rồi tự tử chết khi thất vọng là Quả.
-Phù thủy luyện âm binh để làm phép thuật là Nhân, lụy âm binh – tức không còn kiểm sóat được âm binh nữa, để âm binh làm loạn hoặc quật lại mình là Quả.
-Mắng chửi người ta là Nhân, bị người ta chửi lại, hoặc đi thưa kiện bị tù hoặc phải bồi thừơng là Quả.
-Lộng giả (dùng thủ đọan tuyên truyền lừa mị để cho người ta tin) gọi là Nhân. Anh em, bà con, bạn bè, quyến thuộc, tín đồ, dân chúng của mình tưởng đó là sự thực (Lộng Giả Thành Chân). Sau này mình nói ngược lại hoặc thú nhận mình nói dối người ta sẽ mắng chửi mình và cho là đồ gian dối, thậm chí có khi giết hại vì cho mình bất lương, đó là Quả.
-Ăn mặn là Nhân, khát nước là Quả.
-Tranh ảnh, báo chí, truyền hình, Internet phổ biến dâm ô là Nhân, trẻ con mang bầu, phá thai, hung bạo, bắt cóc, hãm hiếp phụ nữ là Quả.
-Phim ảnh bạo lực là Nhân, đem súng vào trường bắn giết bạn bè thày cô, đem súng vào công sở, chỗ làm, bắn giết đồng nghiệp là Quả.
-Tham vọng bành trướng, chạy đua vũ trang là Nhân, chiến tranh là Quả.
-Phá rừng là Nhân. Lụt lội là Quả.
-Nhả khói lên trời, thải thán khí, phá hủy môi trường là Nhân, quả đất nóng dần rồi từ từ biến thành sa mạc là Quả.
-Đánh cá bừa bãi là Nhân. Cá bị diệt chủng là Quả.
-Không nghe lời cha mẹ, thầy cô là Nhân. Bỏ học, chơi bời lêu lổng, xì ke ma túy, du đãng phá làng phá xóm rồi cuối cùng vào tù là Quả.
-Cha mẹ khắc nghiệt là Nhân. Con cái bỏ đi là Quả.
-Nuông chiều con cái là Nhân. Con cái hư hỏng là Quả.
-Dạy tín đồ giáo điều cuồng tín. Tín đồ hung dữ, gây bất ổn xã hội, xung đột với các tôn giáo khác là Quả.
-Chi tiêu bừa bãi là Nhân, thiếu hụt, nợ nần là Quả.
-Thi ân, bố đức là Nhân, tiếng thơm để đời cho con cháu là Quả.
2) Nhân có nhiều nguyên nhân gộp lại.
Ví dụ:
-Lười biếng+ u tối khiến thi rớt
-Báo chí + tranh ảnh dâm ô+ tự do phóng túng đưa tới nạn thiếu niên mang bầu, bắt cóc hãm hiếp phụ nữ diễn ra hằng ngày như ở Hoa Kỳ.Tại Thái Lan, người ta làm thống kê cho thấy phần lớn các cô gái bị bắt cóc, hãm hiếp là vì mặc váy ngắn khiêu gợi quá mức.
-Nghèo túng + giao du với băng đảng đưa tới trộm cướp.
3) Một Nhân nhưng có nhiều Quả:
Ví dụ:
– Gian dối khi bị phát giác đưa tới quả báo là xấu hổ, mất uy tín, không còn làm ăn được nữa, công ty đổ vỡ, sự nghiệp tiêu tan v.v..
3) Quả sinh ra rồi lại thành Nhân sinh ra Quả mới.
Ví dụ:
– Giáo điều cực đoan + giáo sĩ cuồng tín đẻ ra tín đồ cuồng tín. Từ tín đồ cuồng tín đưa đến việc giết hại lẫn nhau, giết hại, khủng bố tín đồ các tôn giáo khác. Từ đó đưa đến thù hận. Từ thù hận lại đưa đến giết chóc khủng bố. Càng giết chóc khủng bố lại càng cuồng tín, giáo điều. Thế là chuỗi Nhân-Quả
kết chặt lại không sao thóat ra được và luân hồi, quay đảo kiếp này sang kiếp khác trong cái trục gọi là Vô Minh.
– Giáo dục tốt lành, tôn giáo Từ Bi sản sinh ra thiện tri thức. Thiện tri thức vừa cứu đời vừa hoằng dương tư tưởng tốt lành. Thuấn nhuần tư tưởng tốt lành lại sản sinh ra Thiện Tri Thức. Thiện tri thức lại củng cố và phát huy giáo dục tốt lành. Chuỗi nhân quả cứ như thế mà tiếp nối liền liền không dứt, kiếp này sang kiếp khác. Do đó khi tư tưởng tốt lành bị hủy diệt thì trái đất này cũng bị hủy diệt theo do gian ác và tham vọng cuồng điên lên ngôi thống trị.
4) Có khi Quả đến liền, có khi phải đợi một thời gian:
– Trồng bầu, trồng bí vài tháng là có bầu bí ăn.
– Trồng nhãn, trồng xòai phải vài năm mới có quả.
– Một vụ án mạng, do may mắn, do nhiều nhân duyên yếu tố mà phát giác ngay ra thủ phạm và đưa thủ phạm ra tòa xét xử.
– Nhiều vụ án mạng, nhiều vụ thủ tiêu người mờ ám phải nhiều năm sau mới khám phá ra thủ phạm.
– Song cũng có nhiều vụ không sao tìm ra thủ phạm. Dù không tìm ra thủ phạm nhưng hồ sơ của nhà hữu trách đã ghi chép và lưu giữ sự kiện giết người đó.
5) Câu hỏi hóc búa cuối cùng phải trả lời: “Tại sao bao nhiêu kẻ làm tội ác tày trời mà vẫn sống khơi khơi, chẳng chịu quả báo gì cả?” Chúng ta phải công nhận rằng có những tổ chức, cá nhân gây tội ác kinh thiên động địa với nhân lọai nhưng nó vẫn chưa bị trừng phạt, chưa bị “trả quả”. Vì sao vậy? Lịch sử nhân lọai đã từng chứng tỏ rằng không phải con người chỉ đứng lên bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, nhiều khi con người cũng còn liều chết để bảo vệ tội ác khi họ bị lừa dối và tưởng tội ác đó là thánh thiện. Những tổ chức, những cá nhân tạo ra tội ác như vậy thế lực của họ rất lớn. Họ có khả năng mua chuộc báo chí, truyền thông tuyên truyền lừa mị, liên kết với các thế lực quốc tế hùng mạnh để khỏa lấp tội lỗi. Họ có khả năng trả thù tất cả những ai dám nói lên sự thực về tổ chức của họ. Thế nhưng ngày hôm nay do tư tưởng tiến bộ, một số thiện tri thức đã dũng mãnh đứng lên tố cáo tội ác của những tổ chức và những cá nhân này. Dù họ chưa bị “trả quả” nhưng Nhân tội lỗi đã nằm sẵn ở đó, nằm trong trí nhớ, nằm trong lương tâm của nhân lọai. Rất tiếc đời sống của chúng ta quá ngắn ngủi, không đủ dài để chứng kiến “ngày tàn” của những con người và tổ chức gian ác này. Nếu đời sống của chúng ta “đủ dài” chúng ta sẽ có dịp chứng kiến ngày “trả quả” của họ.
6) Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả:
Khi đã hiểu Luật Nhân Quả rồi thì sợ không dám làm điều bất thiện chứ đừng nói tới làm điều ác. Bồ Tát là bậc đại trí, nhìn xa trông rộng mà lại tu Thánh Đạo cho nên rất sợ gieo nhân. Còn hàng chúng sinh như chúng ta coi thường Luật Nhân Quả cho nên “rất thích” gieo nhân. Khi quả xảy đến hối hậncũng quá muộn màng. Một vài thí dụ sau đây cho thấy thế nào là “gieo nhân”. Gặp một cô gái đẹp/một chàng trai đẹp, động tâm, nói lời bóng gió như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng mơ mộng rồi có ngày “cá mắc câu”. Thấy sì-ke ma túy hút thử chơi thôi, tức là đã “gieo nhân” thế nào cũng có ngày dính vào nghiện ngập. Thấy của cải của người ta sinh lòng tham, như vậy gọi là “gieo nhân” thế nào cũng có ngày tìm cách cướp bóc, chiếm đoạt. Thấy chuyện đời, bàn tán, mỉa mai chơi như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng có ngày bị vạ miệng, gây thù chuốc oán. Đem bài bạc về nhà chơi, đem gia đình con cái viếng Casino giải trí, thế nào trong số con cái cũng có đứa “Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm.”
Tôi có một kỷ niệm gặp gỡ một vụ “gieo nhân” cười ra nước mắt như sau: Tại một trường trung học đệ nhất cấp (Middle School) ở California mà tôi phục vụ, có một nữ sinh Việt Nam, lớp 8 mới 13 tuổi. Cô bé thường xuyên trốn học và hút xì-ke ma túy. Vì thường xuyên bỏ học, không theo kịp chương trìnhcho nên bà giáo nhờ tôi kèm và giảng thêm bài cho em. Nhìn cô bé tôi thương cảm vì cô bé ngoan, thông minh và chịu khó nghe giảng bài. Tôi nói, “Con à, con thông minh và xinh xắnnhư thế này, thế nào con cũng có một tương lai vô cùng tốt đẹp. Con ráng đi học và đừng làm cái gì bậy bạ nghe con.” Tôi không biết cô bé có xúc động gì với lời khuyên của tôi không. Nhân dịp này nhà trường cũng cho mời phụ huynh lại để thông báo. Trong lúc chờ đợi phiên họp với ông phó hiệu trưởng, tôi hỏi mẹ cô bé, tuổi chừng 40, “Em làm nghề gì vậy?” Người mẹ đáp, “Dạ, em mở quán cà-phê.” Tôi hỏi tiếp, “Cà-phê tên gì vậy em?” Người mẹ nói, “Cà-phê Quên Đời!” (2) Nghe thế tôi buột miệng kêu lên, “Trời đất quỷ thần ơi! Thiếu gì tên đẹp như Cà-phê Ban Mai, Cà-Phê Nắng Mới, Cà-phê Vui v.v.. sao em không đặt mà chọn cái tên Cà-phê Quên Đời?” Nghe phê bình vậy, người đàn bà nhìn tôi không nói gì. Có thể cô ta hối hận vì con cái hư hỏng, nhưng cũng có thể là, “ Trời ơi! Cái ông thầy này ở Mỹ sao lạc hậu quá! Chọn những cái tên như thế thì quán cà-phê làm sao sống được.” Quả thật vậy! Nếu quý vị tới Thành Phố Tacoma Tiểu Bang Washington, Nam hoặc Bắc Cali như Los Angeles, Westminster hoặc San Jose quý vị sẽ thấy những quán cà-phê Việt Nam với đèn mờ mờ, bồi bàn bưng cà-phê là những cô gái trẻ, đi giày cao gót, ăn mặc hở hang (sexy) quá mức và được quảng cáo công khai trên báo. Sở cảnh sát địa phương rất bực bội với những quán cà-phê này vì nó còn là nơi lén lút tiêu thụ xì-ke ma túy. Nhưng thành phố lại cho mở, vì thương mại phát triển, thành phố thu được nhiều thuế. Khách hàng thường trực của những quán này là thanh niên độc thân, hoặc gia đình đổ vỡ, thảng hoặccũng thấy một vài ông già đầu bạc. Họ tới uống cà-phê, ngắm nghía “ rửa mắt” hoặc tán dóc (tán gẫu) với mấy cô hầu bàn, hoặc coi truyền hình rồi cá độ, nhất là các trận đấu bóng bầu dục (Football). Họ cho tiền “típ” hay ” pour bois” rất nhiều. Cứ thử tưởng tượng với một khung cảnh mờ mờ, ảo ảo “quyến rũ” như thế, một cô bé học sinh ngây thơ, một ngày nào đó vì mẹ bận, thay mẹ ngồi ở quầy tính tiền, sẽ thấy những gì và sẽ nghĩ như thế nào? Với cái Nhân xấu như thế thì cô bé có hư hỏng cũng là chuyện đương nhiên thôi. Nghĩ thật đáng thương.
Vậy các bạn trẻ ở Việt Nam đừng tưởng Mỹ không có Luật Nhân Quả. Đừng tưởng Luật Nhân Quả chỉ ứng dụng cho các xứ nghèo như Việt Nam, Lào, Kampuchia, Miến Điện…chứ ở Mỹ, Úc, Âu Châu thì chẳng có Nhân-Quả gì hết. Đừng nghĩ vậy. Thống kê của Bộ Tư Pháp năm 2002 cho biết con số tù nhân bị giam giữ tại các nhà tù Tiểu Bang và Liên Bang Hoa Kỳ đã vượt quá 2 triệu người – con số cao nhất trong lịch sử lập quốc. Còn tại Tiểu Bang Victoria, Úc Châu, số nữ tù nhân gốc Việt đông đảo nhất, chiếm 16% trong tổng số 312 người. Trồng cần sa, gian lận trợ cấp, buôn bán ma túy, và nhất là ham mê cờ bạc đã là những lý do khiến những người phụ nữ này phải vào tù. (Thời Báo Online)
Thưa các bạn, vì cuộc sống và vì “ đắm nhiễm trần cấu” mà con người đã gây Nhân, tạo Nghiệp một cách “ngay tình”mà không hề hay biết. Chúng ta tự “gieo nhân xấu” để gây khổ lụy cho gia đình, bạn bè, làng xóm, xã hộivà đất nước chứ chẳng có Thần Linh(God) nào can dự vào đây. Khi Quả vụt tới thì cuống cuồng cầu nguyện van vái Thần Linhcứu giúp. Nếu Thần Linh có thật, có một chút hiểu biết và Thần Linh nói được chắc chắn đã quát mắng, “Ngươi tự gây ra tai họa thì ngày hôm ngươi phải nhận lãnh hậu quả. Giả sử ta có khả năng cứu giúp nhà ngươi thì tại sao ta không hóa phép để cả thế giới này không bao giờ có khổ đau để cho ta đỡ mệt? Khổ đau do chính các ngươi tạo ra. Ta thì giờ đâu, từng giây, từng phút tạo ra hàng vạn, hàng vạn thứ khổ đau? Thôi đừng nói chuyện ba lơn nữa!”
Vậy nếu không muốn “gieo nhân”, ngoài việc ý thức về Luật Nhân Quả, hành giả lúc nào cũng phải giữ gìn “Chánh Niệm” không để Tâmmình buông thả mông lung như “Ngựa phi ngoài đồng. Khỉ leo trên cành”. Hành giả luôn luôn ở trong trạng thái cảnh giác, giống như Lão Tử nói rằng phải luôn luôn ý thức như mình đang đi trên nước sông nước đóng băng. Nếu cảnh giác được thì gọi là Định. Nói khác đi, biết mà không nói, thấy mà không bình phẩm, nghe mà không khen chê, không động tâm, đó là trạng thái “Đối cảnh vô tâm” của Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông. Đối cảnh mà vô tâm thì chẳng “gieo nhân” gì hết. Nếu có “gieo nhân” thì gieo nhân lành chứ không phải nhân xấu. Khi không “gieo nhân” nữa thì không có Quả. Không Nhân – Quả thì Luân Hồi chấm dứt. Không gieo nhân, không tạo ác nghiệp, an nhiên tự tại là cảnh giới của Chư Phật và Chư Vị Bồ Tát vậy.
Kết Luận:
Dù bạn có coi thường Luật Nhân Quả, dù bạn không tin Luật Nhân Quả, dù bạn phủ nhận Luật Nhân Quả nhưng không bao giờ bạn thóat khỏi Luật Nhân Quả. Làm ác sẽ gặp ác (Ác Giả Ác Báo) dù bạn có chạy trốn lên cung trời nào, thế giới nào, dù Thần Linh Tối Thượng nào có che chở cho bạn cũng không được. Thi hành luật pháp, truy tố kẻ phạm pháp ra trước pháp đình là ứng dụng Luật Nhân Quả. Thế giới hiện nay vẫn tiếp tục truy lùng những tòng phạm giết người hàng lọat trong các lò sát sinh thời Đức Quốc Xã ra trước Tòa Án Quốc Tế, cho dù kẻ đó đã thay đổi quốc tịch, thay đổi tên họ, cho dù có kẻ ngày nay đã già yếu nhưng vẫn phải điệu ra trước tòa để “trả quả”. Có nhìn thấy, có hiểu được như thế mới thấy Luật Nhân Quả thật đáng sợ. Hệ thống luật pháp, tòa án để trừng trị kẻ có tội là sự ứng dụng hiển nhiên của Luật Nhân Quả. Nếu không có luật pháp, không có tòa án để trừng trị kẻ có tội thì thế giới này sẽ biến thành thế giới của lòai muôn thú, tức là làm ác mà không bị trừng phạt gì cả. Để tạm thay cho lời kết luận không gì bằng trích dẫn ở đây lời nhận xét của Tỳ Kheo Thích Chơn Quảng trong cuốn sách Luận Về Nhân Quả xuất bản ở trong nước năm 1988 và tái bản ở Hoa Kỳ năm 2551 (Phật Lịch) tức năm 2007 (Tây Lịch) nơi trang 11 viết như sau “ Luật Nhân Quả là nền đạo đức, công bằng hơn mọi nền đạo đức nào khác và chính Luật Nhân Quả cũng chính là lương tri của nhân lọai.” Và lời phát biểu của Bà Christa Bentendieder, pháp danh Agganyani – Tổng Thư Ký Liên Đoàn Phật Tử Đức Quốc: “Đạo Phật chính là quy luật tự nhiên của trí tuệ, đó là Luật Nhân Quả.” (Buddhism as the natural law of the mind, the law of cause and effect.)
Đào Văn Bình
(Trích sách Đạo Phật: Đất Nước, Cuộc Sống và Tâm Linh xb năm 2017 phát hành trên Amazon)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nhân Quả Có Thật Không?_Đào Văn Bình
Mai Nầy về Già _ NVV sưu tầm trên Internet
MAI NÀY VỀ GIÀ
Nguyễn Văn Vinh Sưu tầm

Mai này về già ông với tôi
Có còn quấn quýt tựa đôi mươi
Tôi còn nũng nịu hay hờn dỗi
Ông còn lúng túng dỗ mãi thôi
Mai này về già ông với tôi
Tóc chẳng còn xanh bạc trắng rồi
Chân chậm, mắt mờ, tay run rẩy
Vẫn mãi vai kề gọi “Mình ơi!”
Mai này về già chẳng rong chơi
Mình ngồi uống trà trước hiên thôi
Ta kể nhau nghe dăm chuyện cũ
Một thời hai đứa rất đẹp đôi
Mai này về già ngắm nhau thôi
Da mồi đã nổi khắp muôn nơi
Nụ cười nhăn nhúm theo ngày tháng
Lãng đãng cùng nhau kể chuyện đời
Mai này về già ta nghỉ ngơi
Chẳng bận tâm chi việc trên đời
Bao nhiêu hoài bão thời trai trẻ
Chớp mắt nhẹ thôi đã xa rồi.
Mai này về già ông với tôi
Nhớ nhớ quên quên cái tuổi đời
Ông cười trách nhẹ ôi bà lão
Thật là đãng trí quá đi thôi.
Mai này về già ông với tôi
Cứ mãi bên nhau chẳng chịu rời
Nguyện mãi cùng nhau vui tối sớm
Êm đềm yên ả đón ngày trôi!
(Nguyễn Văn Vinh sưu tầm)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Mai Nầy về Già _ NVV sưu tầm trên Internet
NHÀ THƯƠNG_Đỗ Duy Ngọc
NHÀ THƯƠNG
Đỗ Duy Ngọc
(Bài sưu tầm lượm lặt trên “net”)
Bây giờ mà ngồi nói chuyện với ai đó, hoặc đọc đoạn văn của ai đó mà gọi bệnh viện là nhà thương thì chắc chắn rằng ai đó chánh hiệu con nai vàng là dân Sài Gòn trước 75. Chắc chắn là như thế..
Bởi trước 1975 ở Sài Gòn dù các bảng tên đều ghi là Bệnh viện, nhưng dân Sài Gòn vẫn gọi là nhà thương. Bởi theo quan niệm của họ đây là nơi nhà chữa trị cho người thương tật bịnh hoạn, là nơi xoa dịu nỗi đau, giúp họ khỏi bệnh tật.
Người miền Nam trước 1975 gắn liền nhà thương với tình thương, là nơi thể hiện tình cảm của những người làm ngành y tế với bệnh nhân, là nơi các soeur Công giáo hi sinh trọn đời để chăm sóc và thương yêu từng bệnh nhân, là nơi các bác sĩ, y tá hết lòng cứu chữa bệnh nhân với tình thương và trách nhiệm. Nên họ gọi bệnh viện là nhà thương, tiếng gọi bao hàm nhiều tình thân và nhân bản.
Sài Gòn thời đó có nhiều bệnh viện công do nhà nước quản lý như nhà thương Chợ Rẫy, nhà thương Chợ Quán, Bình Dân, Nguyễn Văn Học, Từ Dũ, Hùng Vương hay nhà thương Hồng Bàng, Vì Dân…Bệnh nhân vào chữa trị ở các bệnh viện này đều được miễn phí hoàn toàn, nên còn gọi là nhà thương thí. Mang danh nhà thương thí nhưng y bác dĩ vẫn tận tâm, chữa trị đến nơi đến chốn.
Đương nhiên ở nhà thương thí thì điều kiện sinh hoạt không được tốt như những nhà thương tư. Nhưng không bao giờ có cảnh ba bốn người một giường hay điều kiện vệ sinh quá nhếch nhác như một số bệnh viện bây giờ. Cũng không có cảnh phải phong bì bồi dưỡng từ y công, y tá đến bác sĩ như bây giờ.
Thuở đó Sài Gòn cũng có nhiều bệnh viện tư dành cho người có tiền như bệnh viện Đồn Đất (Grall của Pháp) hay các bệnh viện của bang hội người Hoa như Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính…mở ra nhiều ở Sài Gòn. Nhiều nhà sinh tư nhân thì gọi là nhà bảo sanh, cũng là nơi giúp các sản phụ khi sinh nở. Ở nhiều nhà bảo sanh có các bà mụ là y tá lâu năm, tay nghề còn giỏi hơn bác sĩ
Thế nhưng, nằm nhà thương tư thì sạch sẽ, thoáng mát nhưng nếu gặp biến cố hay ca khó, bệnh nhân cũng đều phải chở vào nhà thương công, bởi mang danh là nhà thương thí nhưng ở đó đều quy tụ bác sĩ giỏi và các sinh viên y khoa ưu tú nội trú ở đấy. Họ giỏi về chuyên môn và đối xử với bệnh nhân bằng y đức. Sanh con so hay khó sinh thì phải vào nhà thương Từ Dũ, Hùng Vương, lao phổi thì phải vào bệnh viện lao Hồng Bàng.
Cả một thời gian dài mấy chục năm, chưa bao giờ có cảnh người nhà bệnh nhân hành hung nhân viên y tế mà chỉ có một thái độ kính phục, trân trọng và biết ơn.
Thời thế đổi thay, chẳng còn ai gọi bệnh viện là nhà thương nữa. Gọi thế thành châm biếm. Bởi bây giờ chốn ấy chẳng còn tình thương, không còn là nơi để sẻ chia những đau đớn của người bệnh nữa. Giờ bệnh viện là chốn kinh doanh, có nơi tiền phòng đắt như khách sạn bốn năm sao. Vào nhập viện dù đang cấp cứu sắp chết thì cũng phải đóng tiền mới có người đến khám. Mọi sinh hoạt đều phải trả tiền, từ miếng nước cho đến giấy chùi cầu, từ ngọn đèn cho đến bông băng. Chẳng còn phân biệt công tư, chỗ nào cũng phải có tiền mới chữa. Giờ mang bệnh thì giàu có không nói làm chi, chứ khá sẽ xuống nghèo, nghèo xuống mạt và chẳng còn chi để sống, bán vợ đợ con, bán hết đất hết vườn hết ruộng hết nhà vì bệnh. Tiếc cái nhà thương thí biết bao nhiêu.
Cái tên nhà thương thí đã trở thành dĩ vãng.
Bỗng dưng nhớ tiếng nhà thương tha thiết và tiếc một thời gọi thân thương nhà thương thay cho bệnh viện.
DODUYNGOC
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở NHÀ THƯƠNG_Đỗ Duy Ngọc
Nước Mắm Của Riêng Tôi – Tác giả Bruce Weigl
NƯỚC MẮM CỦA RIÊNG TÔI. ( hay)
Tác giả : Bruce Weigl
Giáo sư Bruce Weigl được biết đến như một hiện tượng của thi ca Mỹ . Sinh ngày 27-1-1949 tại Lorain , Ohio , ông từng tham chiến ở chiến trường Quảng Trị từ năm 1967 đến 1968 và đã chứng kiến những sự thật kinh hoàng của cuộc chiến tranh Việt Nam . Trở về sau cuộc chiến , ông tìm đến văn chương như một sự cứu rỗi linh hồn . Sau tập thơ đầu tay Một mối tình (1979) , ông là tác giả của 13 tập thơ riêng và quyển hồi ký nổi tiếng mang tên Vòng tròn của Hạnh . Giáo sư Bruce Weigi nguyên là chủ tịch Chương trình viết văn quốc gia , chủ tịch hội đồng thẩm định thơ của giải thưởng Văn học quốc gia Mỹ . Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học . Tập thơ Bài hát bom na-pan viết về chiến tranh Việt Nam của ông đã được đề cử cho giải thưởng Pulitzer .
Nước mắm của riêng tôi là một trong những câu chuyện có thật mà ông viết riêng cho tập sách Khi mưa thôi nã đạn .
Tôi ngửi thấy mùi nước mắm lần đầu tiên trong lúc tên lửa và đạn cối pháo kích dữ dội tại một nơi chúng tôi đặt tên là Trại Evans , một căn cứ của lữ đoàn kỵ binh bay số 1 , trong chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam , cách Huế 35 km về phía bắc theo quốc lộ số 1 .
Đối diện với hầm trú ẩn của chúng tôi – cái hầm đã cứu mạng chúng tôi rất nhiều lần -là một chiếc lều và hầm trú ẩn của những người lính Việt Nam Cộng Hoà . Lúc đó chúng tôi đã bị hai quả tên lửa 122 li nổ rất gần , một mảnh tên lửa đã xé toang chiếc lều ngủ của những người lính Việt Nam Cộng Hoà dù lúc đó họ thoát chết vì đã kịp ẩn náu dưới hầm sau đợt pháo kích , tôi và một số đồng đội bước khoảng năm mươi mét để quan sát mảnh tên lửa đã xé rách chiếc lều . Khi cách lều chừng mười lăm mét , chúng tôi bị choáng váng bởi một mùi nồng nặc hơn tất cả các loại mùi mà tôi đã từng tiếp xúc . Lúc đó tôi nghĩ phải có một người hoặc con thú to lớn nào đó đã chết và thối rữa gần đó . Tôi không kìm nén dược cơn ho dữ dội , cơn ho đã khiến tôi phải hít thở rất sâu và điều đó làm tôi mắc nghẹn , tiếp tục ho không thể kiềm chế . Tôi di chuyển càng nhanh càng tốt xa khỏi cái lều đã bị tên lửa đánh trúng , nơi những người lính Việt Nam Cộng Hoà đã trữ một lu nước mắm trên dưới 80 lít , một thứ không thể thiếu trong bữa ăn của người Việt . Sau đó tôi mới biết điều này và biết rằng lu nước mắm đậm đặc đó bị mảnh tên lửa bắn vỡ . Nước mắm tràn vào lều , chảy xuống chiếc mương nhỏ gần đó .
Nhưng có điều gì trong cái mùi nồng nặc đó làm tôi thích thú và nó lưu lại trong tôi . Một đôi lần ở trại căn cứ trên quốc lộ số 1 , nơi chiến trường đầy bom và lửa đạn , hoặc ở bãi đậu máy bay gần đó , tôi đã ăn cùng những người lính Việt Nam Cộng Hoà – những người đã vui vẻ cho tôi nhập cuộc . Tôi rất biết ơn họ vì tôi ghét cay ghét đắng lương khô được cung cấp cho lính Mỹ . Có một lần trong những bữa ăn chung đó , tôi hỏi họ về nước mắm . Họ rất vui khi tôi đề cập đến nó – lúc này tôi đã biết đôi chút về tính cách của người Việt – và họ nhanh nhảu rót ra một ít , chan lên một chén cơm trắng nhỏ và đưa cho tôi . Thật là ngon : một sự phối hợp tuyệt vời giữa sự đậm đà và ngọt ngào , và sự trù phú của một dòng sông chảy về bóng tối nơi thời gian chiếm hữu .
Kể từ lúc đó tôi ăn với nước mắm bất cứ khi nào có thể ở chiến trường Việt Nam , nhưng cơ hội đó không nhiều .Dĩ nhiên nước mắm không nằm trong khẩu phần lương khô hoặc trong những bữa ăn được chuẩn bị cho lính Mỹ nơi căn cứ trại . Nhưng tôi luôn giữ hương vị của nó trong tâm trí tôi và chỉ cần nghĩ về nước mắm là tôi đã ứa nước bọt . Tôi tìm hiểu nhiều hơn về nước mắm : nước mắm dùng làm nước chấm , dùng nấu ăn để thêm hương vị và thay cho muối . Trong chiến tranh , một số người Việt thậm chí còn uống nước mắm để giữ cho thân thể họ ấm áp , đặc biệt là khi họ phải ngâm mình xuống nước trong thời gian dài . Với cái mùi đặc biệt của nước mắm , nó cũng giúp mồi hoặc bẫy thú lợi hại hơn . Và nước mắm làm cho tất cả những thứ bạn ăn ngon hơn .
Khi rời chiến trường Việt Nam , tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ quay trở lại . Tôi mang theo rất ít văn hoá Việt về cùng , lý do chính là bởi nền văn hoá đó đã bị ngăn cách với chúng tôi . Tôi biết rằng nó đã bị biệt lập với chúng tôi vì nó là một nền văn hoá lâu đời , giàu có . Nó bị ngăn cách với chúng tôi để chúng tôi không thể nhìn thấy con người Việt Nam như những con người thật , nhất là những con người đang chiến đấu cho miền Bắc , chống lại chúng tôi ở chiến tuyến bên kia , để chúng tôi cảm thấy dễ dàng hơn khi giết họ . Tôi không mang nhiều văn hoá Việt theo về cùng tôi sau chiến tranh , nhưng tôi mang theo tình yêu về một đất nước xanh như thiên đàng , nơi mà những con người tôi gặp luôn luôn tỏ ra tốt bụng và rộng lượng . Tôi cũng đem theo về một balô đầy những nỗi buồn sâu thẳm , một sự trống vắng niềm tin đối với chính phủ của mình . Và tôi đem theo một sự nghiện ngập đối với nước mắm .
Ở Lorain , bang Ohio , một thị xã có nhiều xưởng chế biến sắt nơi tôi sinh ra và lớn lên , không thể nào tìm thấy nước mắm vào tháng 12 năm 1968 . Tôi cũng không thể tìm thấy nước mắm ở Cleveland , không có một nhà hàng , cửa hiệu hoặc chợ bán đồ ăn Việt Nam nào . Lúc đó chưa có một người Việt nào sống ở khu vực xung quanh . Sau khi rời chiến trường , trở về quê hương , tôi thường nhìn đăm đắm qua cửa sổ căn nhà cha tôi , quan sát tuyết phủ đầy những khoảng sân để biết rằng không có ai đang trốn sau bụi cây để tìm cách giết tôi . Tôi cảm thấy an toàn nhưng tôi cũng thấy rất nhớ Việt Nam . Nhưng tôi không thể bày tỏ nỗi nhớ đó với những cựu binh khác và với cả gia đình của mình . Nếu biết , họ sẽ nghĩ rằng có điều gì không ổn với tôi và chiến tranh đã làm tôi mất trí . Vì thế tôi giữ nỗi nhớ đó cho riêng mình . Sau đó thời gian trôi đi như những mảnh vụn trên sông , tôi bị lạc vào cơn mộng tưởng không thể gọi tên . Tôi không là con người của một năm về trước , tôi đã bỏ lại một phần hồn vía của mình ở Việt Nam .
Khi mùa xuân tới , tôi làm một việc mà tôi luôn làm trong mỗi mùa xuân : câu những con cá hồi to đã nảy nở sinh sôi nơi những con sông , dòng suối gần nhà . Sau một ngày may mắn , tôi đem về ba con cá to , mỗi con nặng khoảng hai đến ba cân . Khi làm vảy chúng sau gara ôtô của cha tôi , tôi ngửi thấy mùi cá . Lúc đó tôi nhớ về cuộc trò chuyện với một người lính Việt Nam Cộng Hoà . Chúng tôi đã nói về nước mắm , về việc nó là gia vị quan trọng và đặc biệt nhất trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt Nam , rằng nó có sức mạnh huyền bí để biến đổi hương vị của những loại thức ăn khác nhau , theo những cách khác nhau và về cách làm nước mắm . Cuối câu chuyện , anh ta cho tôi biết cách làm nước mắm tại nhà . Tôi đã quên câu chuyện này cho đến khi tôi làm vảy cá vào mùa xuân mà tôi trở về nhà và bỏ lại rất nhiều trí nhớ của tôi nơi chiến trường xưa . Tôi nhớ anh ấy đã bảo tôi rằng chỉ cần mổ bụng , mổ ruột , xẻ đôi con cá , ướp muối và trải chúng trên những chiếc que xếp sẵn , sau đó cứ chờ chúng rã xuống chiếc nồi bên dưới . Anh ấy nói rằng khi mà chúng đã rã hết ra , tôi sẽ nấu chúng với lửa nhỏ cho đến khi chúng thật nhừ và quánh đặc thành một chất lỏng tuyệt đẹp . Ý nghĩ về nước mắm nơi căn lều của những người lính Việt Nam Cộng Hoà tại trại Evans đưa tôi trở về Việt Nam , và mùi nước mắm rất nặng thật sự đã trở thành mùi của một đất nước .
Vì thế tôi quyết định mà không cần suy nghĩ nhiều là mình sẽ tự làm nước mắm . Tôi ra cửa hàng vật liệu tìm mua dây thép và đinh . Dùng những thanh gỗ thừa trong gara ôtô của cha tôi , tôi dựng một giàn phơi nhỏ . Tôi lấy một chiếc chảo từ bếp của mẹ tôi , dùng gạch kê nó dưới giàn phơi để đón lấy chất lỏng từ những con cá đang rữa ra .
Tôi biết rằng tôi phải chờ chúng rữa , vì thế tôi vào nhà và quên mất nước mắm của riêng tôi đang lên men đằng sau gara ôtô của cha tôi tại thị xã Lorain , bang Ohio , cách cuộc chiến vẫn đang ác liệt mười hai nghìn dặm . Tôi quên như tôi đã để quên phần lớn trí nhớ của mình tại cuộc chiến ấy . Tôi quên cho đến một buổi tối , tôi đang ngồi trong nhà của cha tôi nhìn ra cửa sổ . Tôi không nhớ tôi đã nghĩ gì , nhưng tôi nhớ rằng lúc đó tôi đã loay hoay tìm lối đi cho mình . Tôi biết rằng chiến tranh đã ăn vào tôi và bám riết , không buông tha tôi . Ngồi trong ngôi nhà của cha , tôi nghe có sự náo động bên ngoài và bước sát đến cửa sổ , nhìn ra ngoài và thấy nửa tá xe cảnh sát đang đỗ bên đường và những khoảng sân ngập xanh màu áo cảnh sát . Tôi đi ra ngoài và nhập vào đám đông nơi hàng xóm của tôi đang tụ tập . Tôi hỏi người cảnh sát thường tuần tra quanh khu vực tôi sống rằng điều gì đang xảy ra vậy .
“Có người báo với chúng tôi có một xác chết ở một trong những căn nhà này” – anh ta nói .
“Tại sao họ nghĩ thế ?” – tôi hỏi .
“Chúa ơi – anh ta thốt lên – Vì cái mùi nồng nặc này . Anh không ngửi thấy nó sao ?”
Đứng giữa con phố , ban đêm , xung quanh tôi hàng xóm đang tụ tập như thể một nghi lễ, những khoảng sân nhà đầy cảnh sát , tôi hít hơi thở sâu đầu tiên từ khi tôi ra ngoài . Tôi biết ngay vấn đề và bảo cảnh sát tôi biết mùi nồng nặc phát sinh từ đâu . Ba người cảnh sát và một số hàng xóm đi theo tôi đến giàn phơi , đằng sau gara ôtô của cha tôi . Trước khi họ thấy cảnh tượng phơi cá của tôi , họ choáng váng bởi mùi nồng nặc và buộc phải quay chân .
“Đây là xác chết của anh” – người cảnh sát thường tuần tra khu vực của tôi đứng đằng xa và nói , chỉ tay vào những con cá đang thối rữa .
Sau khi mọi việc đã được giải quyết với cảnh sát và với những người hàng xóm tốt bụng của tôi , tôi hứa với họ rằng tôi sẽ tiêu huỷ những con cá càng sớm càng tốt . Tôi nhặt nhạnh những thứ còn lại của ba con cá hồi và bỏ chúng vào nồi . Bên ngoài nhà , tôi nhóm lửa và nấu những con cá này với lửa thật nhỏ , thật lâu cho đến khi chúng thật nát và hầu như biến thành chất lỏng . Tôi lược bỏ phần xác qua một chiếc rây và lại nấu tiếp . Cuối cùng , màu của chất lỏng trở nên giống màu mặt trời trước khi lặn xuống chân trời .Tôi đổ đầy chất lỏng vào một cái lọ , đậy nắp thật chặt và giấu nó trong phòng ngủ của mình .
Năm 1968 , ở cao nguyên Trung phần Việt Nam , một số người lính Việt Nam Cộng Hoà đã chia cho tôi ăn nhu yếu phẩm của họ , đã dạy tôi cách làm một loại nước từ cá lên men , loại nước giống như thuốc trường sinh bất lão diệu kỳ , như một phương thuốc chữa cho tất cả các loại bệnh thể xác và linh hồn . Đối với riêng tôi , mùi nước mắm đã trở thành mùi của đất nước Việt Nam khi tôi ở Mỹ và thương nhớ về đất nước thứ hai của tôi . Mùa xuân năm ấy , tôi làm nước mắm của riêng mình nơi sân sau của ngôi nhà cha tôi – một người công nhân làm ở xưởng chế biến sắt . Nước mắm ấy tôi đã đậy nắp thật chặt như một loại tinh hoa mà tôi cần phải mãi mãi giữ gìn . Tôi dùng nước mắm một cách bí mật cùng thức ăn , nhưng luôn luôn phải rất cẩn trọng vì mùi của nó rất nặng và vì cảnh sát đã đến thăm hỏi tôi chính vì cái mùi đó .
Sau rất nhiều năm , chiến tranh đã di trú vào tôi , mặc dù làm đủ cách để quên nó , có những điều cứ khắc sâu vào tâm khảm . Khi tôi ăn ở những cửa hiệu , nhà hàng Việt Nam trên đất Mỹ , tôi luôn nói với họ rằng hãy đừng cho tôi nước mắm kiểu Mỹ mà phải là kiểu chính hiệu Việt Nam . Tôi đã học được rằng thức ăn Việt Nam ngon hơn khi nấu với nước mắm ngon , hoặc chấm với nước mắm được pha khéo léo với đủ lượng tỏi , ớt , chanh , nước và đường . Từ một người hâm mộ nước mắm , tôi trở thành một người sành sõi khó tính , lùng sục những cửa hiệu châu Á ở Mỹ để tìm nước mắm ngon . Ở quê hương tôi , trong thập niên 1980 và 1990 , mặc dù người Việt bắt đầu di cư sang , rất khó tìm được nước mắm ngon .
Một số loại nước mắm hình như chỉ được pha bằng nước , muối và màu thực phẩm nhưng đã đánh lừa được những cái mũi to . Chỉ qua một quá trình tìm kiếm công phu , tôi mới tìm được những cửa hiệu tin cậy có thể cung cấp nước mắm tốt cho tôi . Thỉnh thoảng , khi nấu ăn mời bạn bè , tôi dùng một ít nước mắm để nấu những món ăn châu Âu mà họ yêu thích . Và thường sau bữa ăn , bạn tôi sẽ nói rằng thức ăn thật ngon và mùi vị rất đặc biệt , rồi hỏi “Anh đã dùng gia vị gì trong công thức chế biến đấy …? Cái vị này rất đặc biệt” … Tôi không bao giờ kể cho họ nghe . Cho đến hôm nay , tôi muốn giữ bí mật đó cho mình .
Nguyễn Phan Quế Mai dịch
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nước Mắm Của Riêng Tôi – Tác giả Bruce Weigl
Thơ ngũ ngôn -TPK
KHỦNG BỐ
Hai mươi năm gây chiến
Việt cộng gieo đau thương
Bằng chính sách khủng bố
Giết hại lắm dân thường
Rình mò trong đêm tối
Chôn mìn khắp nẻo đường
Xe đò luôn lâm nạn
Dân chết nát thịt xương
Chiều cuối tuần vui nhộn
Đường phố rộn tiếng cười
Bỗng tiếng bom bùng nổ
Quán ăn chết bao người
Giữa giao thừa hương khói
Vẹm từ đâu tràn về
Lùng bắt người chôn sống
Mậu Thân luống não nề
Pháo kích vào trường học
Cọng sản giết trẻ thơ
Chúng là loài tàn độc
Gây thống hận vô bờ
Suốt mùa hè đỏ lửa
Bắc quân nã pháo sang
Dân Quảng Trị chết thảm
Trên đại lộ kinh hoàng
Trời tháng tư bão nổi
Cộng sản chiếm Sài Gòn
Nam quân đi “cải tạo”
Vợ con sống mỏi mòn
Xua người đi “kinh tế”
Để cướp đất lấy nhà
Học sinh bị đuổi học
Bởi con “ngụy” đó mà
Cải tạo công thương nghiệp
Đánh tư sản, đổi tiền
Dân trở thành tay trắng
Nhiều kẻ bỗng hóa điên
Giờ nầy khắp cả nước
Vẫn nơm nớp lo âu
Vẫn chính sách khủng bố
Dân Việt vẫn âu sầu.
Tống Phước Kiên
Tháng Năm 2021
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ ngũ ngôn -TPK
Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại Little Saigon (Phóng sự Ảnh của K1 Võ Thiệu)
Hình ảnh về buổi Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại Little Saigon, Nam California. (Hình ảnh do K1 Võ Thiệu chụp)
Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong 31/5/2021 tại Little Saigon, Westminster, Nam California
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong tại Little Saigon (Phóng sự Ảnh của K1 Võ Thiệu)
Câu Chuyện về 3 con khỉ_Nguyễn Nhung
Câu Chuyện về 3 con khỉ
Chuyện về 3 con khỉ: một con che hai mắt, một con bịt hai tai và một con bịt miệng là hình tượng khá ρhổ biến nhưng về ý nghĩa của nó, không ρhải ai cũng hiểu cặn kẽ.
Ở một số ngôi chùa ở Việt Nam, Ấn Độ và cả Nhật Bản hiện naγ, tượng ba con khỉ vẫn được trưng bàγ trong sân chùa. Ba con khỉ nàγ, một con che hai mắt, một con bịt hai tai và một con bịt miệng.
Thoạt nhìn, có lẽ nhiều người sẽ ngaγ lậρ tức suγ luận rằng, hình ảnh trên có nghĩa là “không thấγ, không nghe và không nói”.
Nói cách khác, bức tượng nàγ muốn dạγ con người rằng, trong cuộc sống, đừng quan tâm đến chuγện của người khác haγ những gì đang xảγ ra xung quanh.
Tuγ nhiên nếu hiểu theo cách nàγ, sẽ là rất thiếu chính ҳάc. Vậγ, ý nghĩa sâu xa mà người xưa muốn truγền dạγ lại cho thế hệ sau qua bức tượng nàγ là gì?
Ý nghĩa của bức tượng “bộ khỉ tam không”
Từ vài ngàn năm về trước, bức tượng nàγ đã xuất hiện tại Ấn Độ. Lúc đầu, đó là bức tượng về vị thần Vajrakilaγa. Đâγ là vị thần có sáu taγ, mỗi đôi taγ dùng để bịt hai mắt, hai tai và miệng.
Bức tượng được khắc nhằm răn dạγ mỗi người không được nói điều xấu, không nhìn điều xấu và không nghe điều xấu.
Không rõ tư tưởng “ba không” nói trên theo các nhà tu hành Phật giáo vào Trung Quốc vào thời kì nào nhưng vào khoảng thế kỷ thứ 9, một thiền sư người Nhật Bản trong chuγến đi làm việc ở Trung Quốc đã mang theo về xứ sở ρhù tang tư tưởng nàγ.
Tại Nhật Bản, trong đền Toshogu hiện naγ còn lưu giữ một bức điêu khắc cổ có tượng ba con khỉ tên là Kikazaru, Mizaru và Iwazaru, nghĩa là: không nghe điều xấu, không nhìn điều xấu và không nói điều xấu bằng gỗ của nghệ nhân Hidari Jingoro nổi tiếng từ thế kỉ 17.
Vì từ “zaru” gần âm với “saru” có nghĩa là con khỉ, nên người ta khắc hình ba con khỉ bịt miệng, bịt mắt, bịt tai với vẻ mặt ngộ nghĩnh để biểu đạt triết lý nàγ.
Sâu xa hơn, người Nhật còn muốn thể hiện triết lý của riêng mình vào trong ba bức tượng, đó là: “bịt mắt để dùng tâm mà nhìn, bịt tai để dùng tâm mà nghe, bịt miệng để dùng tâm mà nói”.
Đền Toshogu nơi có bộ khỉ tam không của nghệ nhân Hidari Jingoro.
Khi tâm ở trạng thái tịnh, không bị quấγ rầγ bởi những điều xấu thì từ tâm mới ρhát sinh những điều thiện. Trong xã hội hiện naγ bức tượng ba con khỉ càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Bản chất của con người vốn là sự tò mò và trên thực tế, không ít người dành quá nhiều thời gian để nghe, nhìn, soi mói tất cả mọi chuγện, dù không liên quan đến mình và sau đó nói lại cho người khác, nói những điều không nên nói.
Đâγ là một tật xấu, làm cho cái tâm trở nên “động”. Và với những người mắc tật xấu nàγ, hình tượng “bộ khỉ tam không” là một bài học có giá trị to lớn.
Nguγễn Nhung
(Bài do Vinh Nguyễn sưu tầm và chuyển)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Câu Chuyện về 3 con khỉ_Nguyễn Nhung
Happy Memorial Day 2021
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Memorial Day 2021












Bạn phải đăng nhập để bình luận.