Thằng Ngụy Con_ Tác giả Ngô Viết Trọng

THẰNG NGỤY CON.

Ngô Viết Trọng
(Sài Gòn trong tim tôi)

unnamed (8)Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn. Cửa phòng là một bửng sắt khá dày, bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay. Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.

Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài. Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng. Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng. Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi. Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc, phơi quần áo….trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần…

Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với:

-Không được nghịch, mẹ đánh đấy!

Thằng nhỏ đứng lại. Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau. Thăng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao! Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này? Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ, ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt, hôi hám ấy? Tâm tính nó sẽ ra sao về sau?

Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần. Tôi quay lại hỏi ông Đoàn:

-Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không?

Ông Đoàn nói:

-Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.

Tôi tức cười thốt lên:

-Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch: Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản man rợ…

Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó? Tôi nói:

-Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa!

Ông Đoàn cười:

-Ông khỏi lo! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú. Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều!

Tôi cảm thán:

-Vậy sao? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi!

Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi. Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng. Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại:

-Hết hồn!

Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó. Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ. Tôi hỏi:

-Cháu tên gỉ?
-”Ngụy con”!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

-Chú hỏi cháu tên là gì?
-”Ngụy con”!
-Ai đặt tên ấy cho cháu?
-Mấy chú cán bộ!
-Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à?
-Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là ” ngụy con”!

Trời đất ơi! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn! Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng.

Rồi ngày thăm nuôi đến – ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào. Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác. Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường. Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…

Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở. Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới. Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm, cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy.

Nói chung, trong ngày thăm nuôi, bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui, dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh. Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người: “thằng ngụy con”!

Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương. Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.

Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù. Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay: bánh tráng, cốm bắp, kẹo…về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây!

Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi. Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người. Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà. Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn.

Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh, nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng. Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng đón nó lại:

-”Ngụy con” có nhiều quà quá, chia cho chú với nào!

Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo:

-Gói này cho chú xin nghe!

Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt:

-Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi!

Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem. Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng. Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:

– Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác, chưa ráo máu đầu đã học phản động!

Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét:

-Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ!

Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện. Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng. Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.

Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật.

Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi.

Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….

Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo:

-Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra!

Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường. Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ. Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ.

Sáng sơm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ:

-Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng!

Tôi giật mình: biết đâu lại là thằng nhỏ? Tiếng từ phòng trực hỏi lại:

-Nặng bao nhiêu ký?

Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn:

-Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết!

-Nghe rồi, đợi đó giải quyết!

Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân. Có lẽ cán bộ y tế đã đến.

Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức:

-Ông nghe gì không?

Tôi lắng tai để nghe. Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà:

-Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi! Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…

Tôi giật mình thở dài: Trời ơi, thằng nguỵ con!

Liền đó tôi nghe có tiếng nạt nộ:

-Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai?

Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp …

(Nguồn: Sài Gòn trong tôi – Ngô Viết Trọng)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thằng Ngụy Con_ Tác giả Ngô Viết Trọng

Gỏi Khô Bò Của “Ông Già Chemise Noire” _ Phạm Công Luận

Kỷ niệm của một thời Sài Gòn xưa:

Gỏi Khô Bò Của “Ông Già Chemise Noire” 

Phạm Công Luận

Một truyện ngắn đăng trên báo Tuổi Ngọc trước 1975 có chi tiết đáng nhớ. Chàng trai trong truyện đi chuyến công tác vào Sài Gòn. Khi quay ra miền Trung, tới đèo Hải Vân anh chợt thấy tiếc vì chưa kịp ăn món gỏi khô bò của “ông già áo đen” ở khu nước mía Viễn Đông đường Pasteur, Sài Gòn. Anh đã tìm cách quay lại Sài Gòn để thực hiện ước mơ ấy… Không dễ thực hiện chuyến đi xa xôi như vậy trong thời chiến chỉ để được ăn món gỏi khô bò. Có lẽ đó chỉ là một ẩn dụ về nỗi tiếc nuối của chàng trai trẻ xa thành phố, lao vào vùng chiến sự và nhớ về những niềm vui đời thường trên phố xá phồn hoa. Nhưng cái tên “ông già áo đen” đã luôn là thắc mắc của tôi. 

Những anh chị tôi, lứa tuổi nay đã bước vào tuổi 60, 70 rất quen thuộc với hàng bò khô, nay gọi là gỏi khô bò của ông già áo đen bán trên đường Pasteur. 

Họ vẫn nhớ những buổi chiều chưa tắt nắng của Sài Gòn nửa thế kỷ trước, tan trường Sư Phạm, trường Luật là phóng xe ra ngay góc ngã tư Lê Lợi – Pasteur, ngồi trên xe gọi mấy dĩa khô bò đu đủ cùng một lúc. Từ xa đã thấy bóng ông chủ xe khô bò, luôn luôn bận áo đen nên chết tên. Phải canh làm sao để ăn được gỏi khô bò của “ông già chemise noire” hay “ông già áo đen” này dù khu đó có tới bốn người bán gỏi khô bò đu đủ bào. Không mấy ai biết ông tên gì, chỉ gọi biệt danh như vậy.

Ai sống tại thành phố này hay đã từng đến Sài Gòn những năm trước 1975 đều biết khu nước mía Viễn Đông. Ngay góc ngã tư Lê Lợi – Pasteur, đó là nơi bán nước mía đắt khách dưới chân tòa nhà hãng bảo hiểm Viễn Đông nên được gọi vậy cho gọn, theo những người lớn tuổi kể lại. Quây quanh góc đường, trên lề dành cho người đi bộ là nhiều hàng quán, xe bán hàng rong. Tuy là hàng rong, hàng bán vỉa hè nhưng hình thành một khu ẩm thực hẳn hoi, gọi chung là khu nước mía Viễn Đông, nổi tiếng đến độ đến hơn bốn mươi năm sau, nhiều bài viết vẫn còn nhắc tới. 

Trong đó, có hồi ức của nhà thơ Cao Thoại Châu: “Hồi còn học đại học, thường chiều hay trốn học ra vỉa hè ngã ba Pasteur – Lê Lợi. Vỉa hè khá rộng, cây cối nhiều mà lại có tới hai thứ quà nổi tiếng. Những chiếc tủ kính nhỏ bán bò khô của người Bắc, không dát mỏng nhuộm phẩm đỏ như khô bò Chợ Lớn từ Hà Nội mang vào. Nó dày và mềm màu hơi xỉn vì nướng, ăn với đu đủ sống bào thành sợi. Lách cách tiếng kéo của người bán, xuýt xoa cay của người ăn đủ dạng, đủ tuổi. Không biết cái nào có trước nhưng hai thứ quả là dìu nhau cùng nổi tiếng và đông nghẹt, bò khô ăn xong có ngay nước mía chen và đứng – nước mía Viễn Đông!” 

Buổi sáng cuối năm 2016, tôi ngồi với anh Nguyễn Văn Tuynh trong một quán cà phê. Anh là con trai của “ông già áo đen” bán gỏi khô bò xưa kia. Anh Tuynh đã trên 60, còn khỏe và trí nhớ còn tốt. Đầu thập niên 1960, ba anh bắt đầu bán gỏi khô bò ở đó, và chú bé Tuynh theo phụ cha suốt chín năm trời cho đến tuổi trưởng thành thì đi quân dịch. Chín năm trời trên vỉa hè là chín năm đáng nhớ với anh. Anh chứng kiến cuộc sống trên phố xá trung tâm Sài Gòn, những thay đổi của thời cuộc qua mắt nhìn của một chú bé mới lớn. 

Sài Gòn thời ấy, không có nhiều hàng quán cầu kỳ như bây giờ. Không chỉ giới bình dân, giới có học không câu nệ phải ăn hàng quán sang trọng mắc tiền. Do đó, các xe bán hàng ăn trên lề đường rất đông khách, có đủ cả sinh viên, thầy cô giáo, tiểu thương, công tư chức và quân nhân. 

Tuy nhiên, mãi cho đến đầu năm 1960, khu hàng ăn Viễn Đông nổi tiếng mà dân trong nghề gọi là “Bến nước mía Viễn Đông” mới hình thành. Ở đó có nhiều món ăn, ngoài gỏi khô bò còn có phá lấu, bò bía, bánh ướt, bò viên, chè thạch, nước sinh tố các loại, nước ngọt…. nhưng ba món Gỏi khô bò, Phá lấu và Nước mía được xem là ba món chính ngon nhất Sài Gòn thời bấy giờ.

Ông Nguyễn Văn Huỳnh, tức “ông già áo đen” người gốc Hưng Yên di cư vào Nam năm 1954. Lúc đầu ông ở Trị An, Đồng Nai rồi chuyển xuống Sài Gòn. Ông có ông bạn làm lính Partisan ở Hà Nội cùng vào Nam nên đi tìm, thì biết ông kia bán bò khô ở các trường Chu Văn An, Nguyễn Bá Tòng. Ông Huỳnh thấy bạn làm ăn được, xin học nghề rồi cùng bán với ông bạn, bắt đầu từ năm 1956.

Anh Tuynh nói: “Bây giờ có người làm bò khô bằng phổi bò, phơi khô sau khi luộc chín nên rất dễ bị bẩn, sau đó thắng với nước đường. Ngày xưa, nhà tôi làm khô bằng lá lách bò, thịt thì bằng thịt ở má bò vì má bò có gân nên vừa mềm vừa dai, khi chín tới ăn rất thơm ngon. Lá lách bò dài như miếng gan heo, luộc chín, khứa từng khứa để khi xào nấu thì gia vị thấm vào bên trong mới ngon. Xong đem xào với sả, ngũ vị hương, muối, đường, gừng (để khử mùi nồng của lá lách bò) rồi đổ nước vào cho ngập mặt, đun hơn một giờ cho sệt lại. Sau đó vớt ra cho vào chảo chiên. Qua ba công đoạn luộc, xào rồi lại chiên nên mới có miếng sém cạnh, vừa bùi vừa giòn, ngon vô cùng. 

Khi ba tôi bán ở trường Chu Văn An, tôi mới hơn mười tuổi, buổi sáng đi học, chiều đi phụ bán. Ba bán sát hàng rào, học trò trường này toàn là nam sinh nhưng ăn hàng bạo lắm. Họ đưa tiền ra, ba tôi chuyền dĩa nhôm đựng gỏi bò khô chan giấm ớt nước tương vào. Việc của tôi là hết giờ thì leo vào cổng trường để gom dĩa nhôm mà các anh nam sinh ăn xong vất vào một góc. Giá một dĩa gỏi khô bò lúc đó là 2 đồng, gấp đôi ly nước mía”.

Đến năm 1958, ông Huỳnh ra bán ở chợ Bến Thành, góc đường Lê Thánh Tôn với Tạ Thu Thâu. Bán ở đó đắt khách nhưng bị lính ở bót Lê Văn Ken phía gần nhà thương Sài Gòn hốt ghế hoài nên ông nản. Sau hai năm, ông đẩy xe ra bán ở góc đường Pasteur – Lê Lợi thì tiếp tục gặp chuyện đang bán thì bị đuổi. Sau khi bàn bạc, suy tính cùng với vài người bán hàng ở địa điểm này, ông đến bót Lê Văn Ken xin lập một “bến”, tức là khu tập trung buôn bán, đóng thuế đàng hoàng cho cảnh sát hằng tháng. Ông đứng ra đảm nhận việc thu tiền để nộp. “Bến nước mía Viễn Đông” chính thức được cho phép, rất thuận tiện thu hút khách dạo phố trên con đường Lê Lợi đã vào thành ngữ “Bát phố Bô-na” (trước 1954 đường Lê Lợi mang tên Bonard)

An tâm rồi, ông Huỳnh cùng bạn bè ngoài “bến” lo tổ chức việc làm ăn. Đoạn lề đường Pasteur chạy dài từ đường Tôn Thất Đạm đến Lê Lợi chia thành hai dãy hẳn hoi, dãy phía trong là các xe bán gỏi khô bò, nước ngọt. Dãy phía ngoài, sát đường xe chạy thì bán hủ tíu bò viên bánh cuốn, bò bía. Phía lề đường Lê Lợi bán phá lấu nhiều hơn. Ông Huỳnh tiếp tục dùng cái tủ đựng thức ăn bằng gỗ gắn kính đặt trên cái xe đẩy. Tủ chia làm ba phần theo bề ngang, ở giữa là ngăn tủ để dĩa, hai ngăn hai bên đựng thịt bò khô và gỏi đu đủ đã bào sẵn ở nhà. Hai rìa tủ là các thành gỗ thiết kế để đặt đũa, các chai nước tương, nước giấm, ớt…Thùng xe phía dưới để được chục cái ghế xếp. 

Mỗi ngày từ ba giờ chiều, ông Huỳnh cùng cậu bé Tuynh đẩy xe từ cổng xe lửa số 6 đường Trương Minh Ký (nay là Lê Văn Sỹ) suốt một giờ đồng hồ mới tới điểm bán. Sau một thời gian, việc làm ăn phát triển, ông Huỳnh thuê hẳn một chiếc xe xích lô máy để chở ông và Tuynh cùng cái xe đẩy. Hai cô con gái đạp xe ra để phụ bán. Buổi trưa sau buổi học, Tuynh cùng mấy anh chị em lo bào đu đủ, ngâm cho ra nhựa và vắt ráo nước trong khi vợ chồng ông Huỳnh lo chế biến thịt. 

Chiều tà là bắt đầu thời gian cao điểm. Một mình ông Huỳnh đứng ôm cái tủ, đặt hàng loạt dĩa nhôm lên mặt tủ và thoăn thoắt bỏ đu đủ sợi, khô bò (lúc đó không có đậu phộng rang, bánh phồng tôm như hiện nay), rồi hai tay cùng lúc xịt nước giấm, nước tương, ớt vào dĩa thật nhanh. Các con lo thu tiền, bưng và thu dĩa để rửa, xếp ghế, bưng ra cho khách. 

Đa số khách đứng ăn cho nhanh, không mấy ai ngồi. Nhiều người ăn bận lịch sự là các giáo sư trường học gần đó, lính và sĩ quan, công chức. Không ai chỉ ăn một dĩa, có người ăn tới bốn dĩa và có người ngày nào cũng ra ăn. Ai nấy vừa ăn vừa xuýt xoa chảy nước mắt nước mũi vì cay, nhăn mặt vì nước giấm chua và khoái chí nhai miếng lá mía bò khô màu đen cháy, ngọt đậm đà trong tiếng kéo lắt xắt. Dăm lần, Tuynh thấy ông Tướng Không Quân râu kẽm ghé đến ăn. Ông ngồi trên xe Jeep, sai lính xuống mua và ông ăn ngay trên xe. Việc buôn bán của ông Huỳnh phát đạt đến độ khi nào ông bán hết thì các hàng khác mới có khách.

Phụ cha buôn bán ở đó, Tuynh có dịp quan sát thế giới ăn uống của người lớn sao mà vui quá. Món Phá lấu ở đây được chiếu cố đặc biệt. Ông người Tàu bận áo xá xẩu bán những miếng phá lấu màu vàng nâu ghim vào những cây tăm đặt trong cái xửng nhôm gác trên một chạc gỗ, trông ngon lành lắm. Mỗi miếng khách cầm lên ăn, ông Tàu dùng một cây tăm khác ghim vào sợi dây thun cột sẵn ở cổ tay. Đó là cách ghi nhớ của ông về số miếng phá lấu khách đứng ăn tại chỗ. Ngoài đó có ông A Sáng, cũng người Tàu bán bò viên rất ngon (lúc đó chỉ bán bò viên chấm tương, không thấy ai bán chung với hủ tíu).

Gỏi khô bò có tới bốn người bán, đều là người Bắc di cư, ngoài ông Huỳnh có ông Thung, ông Chiểu, ông Dần. Ngoài ra, món bánh cay vàng ruộm mà Tuynh rất thích. Lê la trên hè phố nhiều năm, Tuynh chứng kiến những người Ấn chuyên buôn bán vải trên đường Tôn Thất Đạm gần chùa Ấn, bán các loại vải tetoron, dacron cho trả dần và ngày nào cũng đi thu tiền góp.

Nhớ những buổi chiều trời sắp mưa, hàng đàn bồ câu cả ngàn con từ chùa Ấn bay ra, có cả những con cà cuống bay xuống từ các tàng cây trên đường Pasteur. Thời ông Diệm, trên đường Pasteur nhân công đào một đường dẫn nước sinh hoạt lớn, sâu và rộng. Mùa mưa nước đầy, có người té xuống la chói lói vì không biết bơi và chú bé Tuynh đã kịp nhảy xuống cứu.

Anh Tuynh kể có đọc được bài thơ của ông Bác Sĩ Lê Văn Lân làm thơ về khu nước mía Viễn Đông như vầy:

Người về còn nhớ quà rong năm nào

Đầu đường nghe thoáng lời rao

Là tha hồ biết quà nào rẻ ngon

Dăm bông, thịt nguội, mì giòn

Hai đồng một ổ, bà con mua giùm

Anh ơi, “Nước mía Viễn Đông”

Hai ly chưa đã, mát lòng em luôn

Thêm đĩa bò bía chấm tương

Ăn kèm phá lấu, em thương anh nhiều…

 Anh nói: “Tuy không nhắc đến gỏi khô bò ông già áo đen”, mấy câu thơ này làm tôi nhớ quá…”. Tuổi không còn trẻ, anh Tuynh vẫn đau đáu mong muốn khôi phục lại nghề gia truyền của cha. Anh kể sau 1975, buồn vì không tiếp tục làm nghề trên lề đường Pasteur nữa, ba anh mất chỉ sau một năm nghỉ ở nhà. Anh Tuynh sau đó đi bán bò viên trên đường Nguyễn Thông, cũng đắt khách không thua cha mình xưa kia cho đến khi nghỉ vì lớn tuổi.

Cho dù thảnh thơi vì con cái đã trưởng thành, anh vẫn nôn nao khi nghe tiếng kéo lắt xắt nhắp trước khi cắt bò khô ở các hàng quán gỏi khô bò trên đường Nguyễn Văn Thủ hay trước công viên Mạc Đĩnh Chi.

 Phạm Công Luận

(Trích Sài Gòn Chuyện Đời Của Phố tập 4 – Công ty sách Phương Nam xuất bản 2017)

Nguồn: tongphuochiep.com

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gỏi Khô Bò Của “Ông Già Chemise Noire” _ Phạm Công Luận

Nhật ký của một nàng dâu phố cổ Hà Nội ( St trên internet)

 Nhật ký nàng dâu phố cổ:

(Nơi tôi ở, người ta nhịn “yêu” vì nhà chật, ăn theo cữ, tắm theo ca…)

Đằng sau những con phố 1 mét vuông đất giá triệu đô là những con ngõ dài hun hút, những “tổ chim cúc cu”, là những phận người phải nhịn làm tình, ăn cơm chia ca, đi vệ sinh theo cữ, hấp hối là được khiêng ra đường…unnamed (7)

Sau đây là những dòng nhật ký đọc trộm của một nàng dâu phố cổ:

Ngày… tháng… năm. . .

Đêm nay là đêm tân hôn. Đêm nay là đêm thấm thía nhất cái cảnh “ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó” mà lão chồng mình ngày xưa vẫn nghêu ngao hát lúc tán nhau. Hồi ấy cứ nghĩ lão hát thế cho có vẻ phong trần lãng mạn, hai đứa đi chơi, anh chỉ vào ngõ bảo: “nhà anh trong ấy“, mình biết thế thôi chứ chẳng đòi vào, gặp bố mẹ chồng tương lai cũng chỉ vẫy tay chào ngoài ngõ, ai mà lường được nhà nhỏ nhường ấy.

Đang ở nhà bố mẹ ở quê vườn rộng bát ngát, khi lên Hà Nội cũng ở phòng trọ hai mấy mét vuông, mình tí ngất khi nhìn cơ ngơi 6m2 nhà chồng. Ở dưới nhà, bố chồng trải chiếu nằm ngủ gần cửa ra vào. Mẹ chồng ngủ ngay sát tủ đựng quần áo và cái ti vi. Còn mình và chồng được “ưu tiên” cho nằm trên cái gác xép thấp thảm hại, thấp đến mức leo lên phải bò vào chứ không thể ngồi. Hai đứa nằm bẹp cạnh nhau, lão chồng cười hi hí, choàng tay qua ôm vợ định tâm sự đôi câu thì cái sàn “phòng tân hôn” làm bằng cốt ép kêu cọt cà cọt kẹt. Thôi thế là bật cười, nín thở quay sang ngắm nhau. Chồng bảo: “Để hôm khác anh bù…
h1

Có một khoảng không gian để vợ chồng trẻ “yêu” nhau
là chuyện không dễ ở phố cổ – nơi nhà ai chũng chật. 

Ngày… tháng… năm. . .

Cái gác xép tự dưng rung lên bần bật. Mình đang thiu thiu ngủ, cứ tưởng động đất, theo phản xạ bật phắt dậy định chạy, cộc đầu luôn vào tường. Chồng vội vàng kéo tay bảo nằm xuống, chỉ là ôtô đi qua thôi mà.

Ngày… tháng… năm . . .

Mình dỗ mãi mới chợp mắt được một tí thì đã nghe í ới tiếng nói chuyện ồn ào, mặc cả mua bán gì đấy. Giật mình nhìn đồng hồ, mới 4 giờ sáng. Mình run cầm cập. Lay ông chồng dậy thì lão còn ngái ngủ, bảo: “Đấy là tiếng của chợ bán buôn sớm, nhà mình gần chợ, ngay sát mặt đường nên em nghe rõ thế thôi“.

Lúc này thì mình buồn đi vệ sinh quá, định tụt xuống nhà giải quyết nỗi buồn, thì nhòm thấy bố chồng đang ngủ say, chân tay chắn lối cửa ra vào. Nhà chồng không có vệ sinh riêng, mà đi ở ngoài chung với cả khu, giờ mà xuống, vớ vẩn giẫm phải bố chồng, thế là mình đành nằm yên, nín thở chờ đến sáng.

Ngày… tháng… năm . . .

Hôm nay có việc quan trọng ở cơ quan, mình đặt báo thức dậy sớm, tranh thủ đi vệ sinh, tắm rửa trước, đỡ phải xếp hàng. Ở khu này, 8 – 9 gia đình chung nhau một cái xí xổm và một cái nhà tắm ở đầu hồi, sáng sáng xếp hàng đi vệ sinh, đánh răng rửa mặt, tắm táp đông hơn xem hội. Bọn trẻ con và người đi làm giờ hành chính được ưu tiên, nhưng có khi mình phải đợi gần tiếng mới đến lượt vào trong, mà vừa vào đã thấy tiếng réo rắt bên ngoài giục ra.

h2

Muốn thoải mái tắm rửa, đi vệ sinh? Phải dậy thật sớm,
hoặc tranh thủ đêm muộn.

Ngày… tháng… năm. . .

Sáng nay vội đi, mình quên mất hợp đồng đã hẹn ký với đối tác ở nhà. Trưa, mình tranh thủ tạt về lấy. Hồn nhiên đẩy cửa vào, mình giật nảy khi thấy bố mẹ chồng đang… tình cảm. Mình “ối” một tiếng rồi vội đóng cửa đứng bên ngoài đợi. Một lúc sau, ông bà ra, đi thẳng ra ngoài không liếc nhìn mình một cái, còn mình lí nhí: “Con về lấy giấy tờ“.

Mình ngượng quá, sau vụ này chắc không dám nhìn ông bà cả tháng mất. Nghĩ cũng thương, mới gần 50 chứ đã già lắm đâu, chắc buổi đêm có vợ chồng mình, ông bà cũng ngại. Vợ chồng mình cũng khác gì đâu, cưới nhau cả năm, những lần yêu trong nhà đếm được trên đầu ngón tay, còn toàn hẹn hò ăn trưa, rồi dẫn nhau ra nhà nghỉ gần cơ quan hai đứa.

h3

Có những nhà như thế này, 5m2 được chia thành 2 khu
cho 2 cặp đôi, và chuyện yêu cũng phải giữ ý.

Ngày… tháng…năm. . . 

Mình mang bầu. Nhạy cảm kinh khủng với mùi. Đã nghén không ăn được thì chớ, trời nóng như lò thiêu, tối tối lại bị tra tấn bởi mùi xú uế từ dãy nhà vệ sinh tập thể bốc ra. Chồng phải mua 2 cái quạt con bắt vào gác xép, bật liên tục cả ngày lẫn đêm, tối mình mới chợp mắt nổi một tí. Chuyện cơm nước thì chán hẳn, mình không thể nấu cơm nổi với cái bếp để ngay lối đi, sát nhà vệ sinh nữa, mùi thức ăn và mùi khai nồng quện vào nhau xộc thẳng vào mũi, mình nôn liên tục. Thành thử cả ngày hai vợ chồng xách nhau đi ăn hàng, tối muộn mới về ngủ.

h4

Chỗ nấu nướng sát khu vệ sinh là chuyện dễ gặp ở phố cổ.

Ngày… tháng… năm. . .

Mình đã khá nặng nề, nên mệt kinh hoàng mỗi khi lách qua con ngõ nhỏ, tối tăm, ẩm thấp và sâu hun hút để vào nhà. Với mình, nó như một đường hầm tối tăm dẫn tới mặt trái của sự hào nhoáng nơi phố cổ, nếu không được thắp đèn cả ngày lẫn đêm, nó chẳng khác nào hầm mỏ: bí bách, ngộp thở và tối đen. Hài nhất là sáng sáng, cứ đến giờ cao điểm đi làm, đi học là cả xóm, từng người một phải xếp hàng dài để lần lượt đi ra, xôm tụ chả kém lúc xếp hàng đi vệ sinh là mấy.

Bình thường, cái ngõ đã bé chỉ vừa khít một chiếc xe máy, ai muốn đi vào phải ngồi lên trên, hai chân “bơi” đẩy xe khỏi mắc kẹt hai bên đường. Xe máy ở xóm này, vì thế toàn bị xước hai bên. Còn mình, từ lâu đã xác định tháng mất thêm hơn trăm để gửi xe bên ngoài, nhưng để lách được thân hình “gấu mẹ vĩ đại” vào nhà chẳng dễ dàng gì.

h6

Những con ngõ phố cổ, chả hiểu ai xui, cứ bé tí teo
chẳng lọt nổi hai thân người.

Ngày…tháng…năm. . .

Mình sắp sinh con. Đề nghị chồng mua cái tủ lạnh và lò vi sóng để ít hôm nữa mình nằm ổ, không thể ra ngoài ăn hàng thì ai đó nấu sẵn đồ ăn, để vào tủ rồi hâm lại cho tiện. Hai vợ chồng bàn tính mãi, nâng lên đặt xuống mới quyết định mua một cái tủ 210 lít, vì to quá chẳng có chỗ để. Cái lò vi sóng thì đơn giản, ôm vào là xong, nhưng đến lúc khiêng tủ lạnh thì đúng là ác mộng. Chồng mình phải nói khó, nhờ những nhà mặt đường cho khiêng lên tầng thượng, rồi vần cái tủ từ tầng thượng nhà này sang nhà khác, chật vật lắm mới nhồi được vào nhà.

Mình tự dưng thấy tủi thân, nghĩ đến đứa bé sắp sinh ra trong chật chội, tù túng, cả ngày có khi khó thấy ánh mặt trời, rồi lớn lên phải ăn, học, chơi ngoài đường ngoài ngõ như bọn trẻ trong xóm, rơm rớm nước mắt khóc. Chồng dỗ: “Thôi cứ ở đây đến khi con đầy tháng, rồi hai mẹ con về ngoại ít hôm“.

Ngày… tháng… năm. . .

Mình sinh bé, họ hàng đến thăm chẳng có chỗ tiếp khách, chồng mình mời mọi người ngồi quán cà phê, dắt lần lượt từng người vào thăm. Có người chúc: “Mấy năm nữa đẻ thêm thằng cu cho có nếp có tẻ“, ông bà nội cười bảo: “Chật chội thế này chắc chỉ đẻ 1 đứa thôi. Đẻ con trai làm gì cho khổ, sau lấy nhà đâu mà cho vợ con nó ở“, nghe chí lý mà sao vẫn xót xa.

Mẹ mình lên chăm con đẻ, xót xa nhìn cảnh nhà con rể, mang tiếng giai phố cổ tất đất tấc vàng, mà cái nhà đúng nghĩa chỉ là chỗ chui ra chui vào. Bà phải thuê trọ gần nhà mình, ngày ngày nấu nướng rồi mang cơm nước sang, đưa cả quần áo của con gái và cháu sang nhà trọ giặt giũ, phơi phóng cho có ánh nắng, không thì mốc hết người ra. Mẹ bảo: “Ít hôm nữa về ngoại. Ở đến lúc con cứng cáp hãy lên, nhưng tìm chỗ khác xa xa một tí mà ở con ạ, chả cần cái tiếng ở phố cổ đâu!“.

Ngày… tháng… năm. . .

Hôm nay, chồng mình đã xin phép bố mẹ cho gia đình mình thuê nhà ra ở riêng. Đồ đạc không nhiều, nhưng dọn cũng khá mệt vì phải bê từ trong ngõ ra ngoài đường, chỗ xe ba gác đỗ. Vất vả nhất vẫn là cái tủ lạnh, lại bê lên tầng thượng cá nhà, rồi kéo dây thả xuống nhờ nhà có cửa hàng mặt tiền.

Mấy người đang bê thì trong ngõ dậy lên tiếng khóc, người nhà một ông cụ trong ngõ chạy ra dẹp đường để một người khác cõng ông cụ ra đầu ngõ đợi xe cấp cứu. Hàng xóm ngó ra, chúc ông khỏe để trở về. Cũng có người chép miệng: “Sống trong nhà phố cổ, muốn chết trong nhà cũng không được. Chật chội thế này, đưa quan tài vào ngõ thế nào. Cụ nào bệnh tật, con cháu cũng phải cố cõng ra ngoài đón xe cấp cứu, chứ cáng cũng không vào được.

h7

Ngõ như những đường hầm, mà bên ngoài và bên trong
là hai thế giới xa lạ.

Xe cấp cứu vừa đi, một xe khác lại đến, nhưng lần này là xe chở phông rạp đám cưới. Ngày mai, hàng xóm nhà mình cưới vợ cho con. Cỗ bàn thì đặt nhà hàng, nhưng chỗ làm lễ, tiếp khách thì dựng rạp ngay ngoài đường cho rộng rãi. Ở ngõ sắp có thêm một nàng dâu. Mình chuyển nhà rồi, nếu không, hai chị em thể nào cũng có nhiều chuyện bi hài để kể nhau nghe, về trải nghiệm làm dâu phố cổ, oai đấy, mà cũng khổ đấy!

(Ghi lại từ lời kể của 1 nàng dâu ở phố cổ)

__._,_.___

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhật ký của một nàng dâu phố cổ Hà Nội ( St trên internet)

Tâm Thư Tổng Hội về Ngày Truyền Thống CSQG

Tong hoi

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Thư Tổng Hội về Ngày Truyền Thống CSQG

Ấn Độ: Thiên Đường và Địa Ngục_TamAn

Hồi Ký: Ấn Độ, Thiên Đường và Địa Ngục (TamAn)

 Nhiều người từng đến Ấn Độ chắc đều có chung một cảm giác là đã đến một đất nước với hai thái cực, vừa là địa ngục vừa là thiên đường. Bẩn thỉu và thánh thiện, ồn ào và lười nhác, xảo trá và chính trực. Sự biến đổi ở đây là không thể lường trước được, nhưng lại không thể cưỡng lại được. Sáu nghìn năm văn hiến đã khiến cho Ấn Độ toát lên khí chất mạnh mẽ giữa thần tiên và ma mị, đồng thời cũng khiến tâm trạng một du khách như lão PP thăng trầm như chiếc xe vượt núi băng đèo trong suốt cuộc hành trình.

Hơn 20 năm trước, lão lần đầu tiên đến sân bay Delhi, cảm thấy không khác gì những sân bay quốc tế khác. Nhìn thấy quầy taxi, lão bước đến trả tiền trước cho một chiếc xe, vừa bước ra khỏi sảnh một mùi ẩm nóng phả vào mặt mang theo đủ vị, xăng, dầu, mồ hôi, cứt chó, cứt bò, mùi hoa, mùi nước hoa, mùi gia vị…hỗn độn khó tả. 

Đang loay hoay tìm phương hướng đi về bãi đậu taxi thì một tia chớp loé sáng, chiếc xe Hindustan Ambassador cũ kỹ tưởng chui ra từ đống rác đỗ xịch trước chân, một chiếc đầu xù tóc, khuôn mặt đen xì với đôi mắt chỉ lòng trắng thò ra bên ngoài xe (Ấn Độ vô lăng bên phải) “Sir, you book a car?” (Thưa ngài, ngài đặt xe chứ?). Lão hơi ngần ngại nhìn chiếc xe như đồ chơi nhưng vì là một tay lão luyện từng trôi nổi giang hồ nên rất dễ thích nghi mọi điều, lão “Yes” xong thì mở cửa xe định chui vào ngồi ghế bên tay trái lái xe thì trên ghế đầy rác rưởi, nào là vỏ hộp đồ ăn nhanh, vỏ chai, thuốc lá, giấy, khăn…

Tay lái xe chỉ tay ra hàng ghế sau, lão chui vào chưa yên vị thì hắn đã rồ ga phun khói lao đi.

Cậu ta tăng ga lạng lách trên đường, vượt qua nhiều ô tô có vết đâm xước lồi lõm, xe nào cũng muốn tranh lao đi trước, chạm nhau là chuyện thường tình. Nhiều người chắc sẽ hoảng hồn về kiểu lái như một thằng điên cầm lái này, nhưng đối với lão quen trò mạo hiểm nên không hề lo lắng về điều này, dường như tốc độ điên cuồng của chiếc xe đã mang lại cho lão một cảm giác cực kỳ thú vị, lão luôn miệng cổ vũ  “Hey, very good, try faster!” 

(Này, được lắm, thử đi nhanh hơn). 

Một phần cũng để răn đe hắn rằng, bố mày đến từ New York, dọa bố mày đéo được đâu, và đừng giở những trò gì khác.

Không khí nóng ẩm phả mạnh vào mặt, nhìn xung quanh, dọc đường có rất nhiều cây xanh khiến lão hơi ngạc nhiên. 

Bỗng tay tài xế phanh gấp, một thằng cha khoác một chiếc bị hơi to đứng bên đường. 

Xe đậu lại, hắn tự nhiên như ruồi mở cửa chui lên xe ngồi cạnh lão, hắn chào lão cũng rất tự nhiên. Cậu lái xe cũng rất thản nhiên bắn cho lão hai câu cộc lốc “My friend “ (bạn tôi). Lão chưa kịp hoàn hồn thì chiếc xe lại lao đi như bay rồi dừng lại ở một khu chợ ven đường, tay bạn đi nhờ xe lao xuống nhưng cũng không quên quay đầu vẫy tay chào lão “Thank you sir!” (Cảm ơn ông). 

Lão bị cứng lưỡi sau khi tay này lên ngồi cạnh và hít đủ mùi cà ri và mồ hôi của hắn. Lão chỉ kịp bật ra câu “Địt mẹ, chuối thật!”.

Điểm đến của lão là khách sạn 5 sao “The Park New Delhi” nhưng một người bạn từ Hồng Kông đến trước hẹn gặp lão tại sảnh nhà ga xe lửa New Delhi. Tay lái xe đậu xe trên một con đường bẩn thỉu và nói với lão rằng đây là chợ Main Bazaar đi bộ xuyên vào bên trong là ga xe lửa, hỏi sao không đưa tới đến tận cửa?  

Hắn nói phải về đi lễ với vợ, nếu đi đến cửa lại phải vòng hơi xa. 

Thôi đành vậy, tức giận cũng chẳng giải quyết được gì. 

Lão lê bước trên một con đường gập ghềnh đầy bùn đất và rác thải, không khí nồng nặc mùi phân bò, hai bên là những tòa nhà cũ nát tưởng chừng như sắp đổ sập, những cửa hàng nhỏ bày bán đầy quần áo, khăn quàng, thảm đủ màu sắc, dân tình đi lại nháo nhào, tiếng rao hàng, tiếng hét tìm người, tiếng đọc kinh kệ, tiếng chó sủa, tiếng còi xe cũng kinh thiên động địa.

Đến sảnh ga thì đã thấy thằng bạn đứng đấy bên cạnh là một chiếc xe Tuktuk. Cậu ta làm ăn ở đây nên rất thông thạo New Delhi. Cậu ta giải thích, giờ này đi Tuktuk sẽ nhanh hơn taxi vì tắc đường trầm trọng. 

Thế là lại ngồi lên Tuktuk, rồi như một cơn lốc, xe luồn lách lao đi như một con chó điên xổng chuồng khiến người ngồi trên rớt tim nếu như chưa từng trải. Một hồi rồi cũng đến được khách sạn.

Bước vào khách sạn là thiên đường, là một thế giới hoàn toàn khác chỉ cách một bức tường với bên ngoài. Kẻ hầu người hạ giúp xách hành lý, đưa tận tay những chiếc khăn, đồ uống mát lạnh. Mọi tiện nghi từ nhà hàng, quầy bar, mát xa, bể bơi cho đến phục vụ đều tiêu chuẩn thế giới. 

Tắm rửa thay đồ xong, hai thằng xuống sảnh khách sạn. 

Một chiếc xe Mercedes-Benz đen mới cứng từ từ lăn bánh vào trước sảnh, một cậu lái xe ăn mặc áo trắng quần Tây đen là lượt phẳng phiu nhẩy xuống mở cửa xe mời hai vị lên. Ngồi trong xe mát lạnh thơm tho nên cũng không cảm thấy đường dài sau đấy đến một dinh thự ở khu người giàu Sunder Nagar bên cạnh là dòng sông Sunder Nagar tuyệt đẹp. 

Chủ nhân là một cặp vợ chồng trẻ thuộc giới thượng lưu Ấn Độ kinh doanh trong ngành công nghiệp phim ảnh Ấn Độ Bollywood. Mỗi năm họ làm vài chục bộ phim và thu nhập vài trăm tỷ VNĐ như chơi.

Đừng hình dung biệt thự 40 nghìn mét vuông của hai vợ chồng này như biệt thự Ecopark Việt Nam hay thậm chí như biệt thự bình thường ở Beverly Hills, Los Angeles, California, Mỹ. 

Nó kinh khủng hơn nhiều, nó rộng và chiếm cả một quả đồi. Hai vợ chồng hai đứa con có hơn 50 người hầu hạ. Lão cũng không muốn tả lại căn biệt thự này làm chi, bởi nói như vậy là đủ. 

Riêng căn phòng làm rạp chiếu phim của họ thì lão thực sự ngưởng mộ.  Màn hình rộng, ghế ngồi như ghế máy bay hạng thương gia 5 sao cho khoảng 30 người, mỗi người một tủ lạnh một bàn đủ đồ uống, rượu và đồ ăn vặt. Âm thanh nổi, sự phân giải màu sắc thì tuyệt đỉnh. 

Lão đã từng tự hào về căn phòng xem duyệt phim của hãng phim Gia Hoà, Hồng Kông và cứ đinh ninh là nhất châu Á, khi nhìn thấy căn rạp mini thượng lưu này mới cảm thấy hổ thẹn.

Chiều hôm ấy được hai vợ chồng chiêu đãi một bữa ăn nửa Âu nửa Á do một đầu bếp thuê từ Hồng Kông. Suốt bữa ăn, lão được nghe chủ nhân kể về sự khác biệt trong xã hội Ấn Độ và ngành điện ảnh mà họ đang kinh doanh. Nói tóm lại, họ đã giải thích trước những cái mà lão sẽ được chiêm nghiệm vào vài ngày tới.

3 giờ sáng hôm sau vợ chồng này cho lái xe đến đón lão tại khách sạn đi 3 tiếng đồng hồ thì đến Taj Mahal để vừa kịp ngắm bình minh ở đây. 

Taj Mahal là một trong bảy kỳ quan thế giới và còn được biết đến như một đài tưởng niệm tình yêu tuyệt đẹp do Hoàng đế Shah Jahan xây dựng cho vợ mình là Mumtaz Mahal. 

Đây là một kỳ quan kiến trúc được làm bằng đá cẩm thạch trắng và khảm 33 loại đá quý khác, các nghệ nhân đã mất gần 22 năm để xây dựng lăng mộ kỳ diệu này. Nếu để chiêm ngưỡng kỹ càng lăng mộ này thì cần khoảng vài ngày. Nhưng cưỡi ngựa xem hoa thì cũng nhìn ra một mối tình đáng ca tụng đến muôn thuở. 

Lão nhớ khi bước vào cổng Taj Mahal, có một dòng chữ viết như sau: 

“O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you.” 

(Này linh hồn, ngươi đã yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài sẽ bình yên với bạn.)

Mấy ngày sau, lão muốn tự mình đi khám phá  New Delhi và lang thang hết hang cùng ngõ hẻm. Từ New Delhi hiện đại đến Old Delhi cũ kỹ rách nát. Ghé thăm Chandni Chowk, Jama Masjid, Kinari Bazaar, Silver Market và Chợ Gia vị lớn nhất Châu Á. Rồi đi thăm Cổng Ấn Độ, Tòa nhà Tổng thống, Quốc hội Ấn Độ và Quảng trường Connaught.

Những con đường nhỏ hẹp, quanh co và lề đường của Delhi cũ là minh chứng cho sự cai trị của Mughal trước đây. 

Old Delhi có một trong những khu chợ lâu đời nhất và sầm uất nhất của đất nước – Chandni Chowk (Moonlight Square). Ở đây bạn có thể chiêm nghiệm những món ăn dân gian của Ấn Độ. Đây cũng là một con phố khác thường, một địa điểm tôn giáo nổi tiếng mà các tôn giáo khác nhau cùng tồn tại. 

Ở đây có Đền Tianyi Sect Jain, Đền Gaoli Sankha của Ấn Độ giáo, Nhà thờ Christian Central Baptist, nhà thờ Đạo Sikh, Nhà thờ Hồi giáo vàng Islam, Nhà thờ Hồi giáo Islam Fatehpur. Nhà thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất ở Delhi, Jama Masjid, cũng nằm gần đó và được xây dựng vào năm 1650.

Đi bộ trên đường phố New Delhi, thủ đô của Ấn Độ, những khác biệt rất lớn ở thành phố này thật đáng ngạc nhiên. Bên cạnh những khu ổ chuột đổ nát là những khu dân cư cao cấp, với những con chim cùng con người kiếm ăn trên bãi rác, những con khỉ trên dây điện trong khu phố cổ … 

Sự nghèo đói và giàu sang được bộc lộ quá ư là sắc nét.

Lão đi vào khu ổ chuột Tughlakabad, không khí nồng nặc đầy mùi nước tiểu. Ngoài ra, nhiều con đường ngập rác và chất thải không rõ nguồn gốc, nhiều lúc không biết đặt chân vào đâu, phân trẻ em chỗ nào cũng có, lão thấy vài bà mẹ bế con để chúng ỉa ngay trên đường. 

Lão len lõi vào một chiếc hẻm, có đoạn chỉ rộng bằng một người đi vào để theo chân một anh bạn lái xe Tuktuk vào thăm nhà anh ta ở đây. Căn nhà có 5 mét vuông kê 2 giường tầng ở đến 6 người. Tuy họ nghèo khổ nhưng họ vẫn vui vẻ nhiệt tình và không hề ái ngại với người bạn mới quen.

Ngược lại ở New Delhi, đặc biệt là trong khu vực trung tâm thành phố, cây cối rậm rạp, sạch sẽ và thoáng rộng, trong khi tình trạng lộn xộn ở Old Delhi thật sự gây sốc, hai cảnh tượng chỉ ngăn cách nhau bởi một bức tường cổ.

Khoảng cách giàu nghèo ở Ấn Độ lớn như thế nào? 

5 mét vuông nhà cho người nghèo và 40 nghìn mét vuông dinh thự cho người giàu. Nói vậy dễ hình dung hơn.

Ấn Độ luôn được biết đến là nghèo đói trong mắt người nước ngoài. 

Nhưng điều mà nhiều người không biết là đất nước bị người khác chê nghèo, nhưng số lượng tỷ phú lại đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. 

Lấy ví dụ như người đàn ông giàu nhất Ấn Độ, Mukesh Ambani. 

Thu nhập hàng ngày của ông có thể đạt 10,7 tỷ Rupee. Ông đã vượt qua người giàu nhất Trung Quốc Jack Ma trước khi trở thành người giàu nhất châu Á và đứng thứ 16 trong danh sách người giàu toàn cầu.

Ở đất nước này, những khu nhà giàu và khu ổ chuột thường được ngăn cách chỉ một bức tường, nhưng những người giàu lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những đồng bào đang chật vật với cơm ăn áo mặc, và cảm thấy không cần thiết phải giúp họ thoát nghèo. Ở phía đông và phía tây của một bức tường, phía đông là thiên đường tráng lệ trên trái đất, phía tây là địa ngục kinh hoàng của trần gian.

Những người giàu sống trong biệt thự, lái những chiếc xe hơi sang trọng và được kẻ thấp hèn hầu hạ. Họ sống như đế vương. Khi màn đêm buông xuống, họ lái những chiếc xe thể thao đắt giá gầm rú trên đường phố và ngõ hẻm. Họ có thể vung phí tiền kể cả ở Paris và hô phong hoán vũ bắt những người da trắng hầu hạ dưới ma lực của đồng tiền.

Còn những người “hàng xóm” của họ sống như chuột cống, tiền sinh hoạt hàng ngày thường chỉ vẻn vẹn một Đô La, họ phải sống trong những căn nhà dột nát, tối tăm ẩm thấp với bốn bức tường, suốt ngày quanh quẩn ở bãi rác tìm kiếm thức ăn có thể nuôi sống bản thân.

Hiện thực là vậy, một trong số ít họ đang đứng trên đỉnh của kim tự tháp và nhiều người còn lại đang quỳ dưới đáy của kim tự tháp, sự khác biệt là không thể tránh khỏi. Nhưng tuy vậy, tầng lớp dưới đáy sống rất vừa lòng với thực trạng, với số mệnh an bài và họ lại rất lãng mạn yêu đời. Bất cứ ở đâu, các bạn đều thấy nụ cười và ánh mắt chan chứa tình cảm của họ. 

Họ thích múa, thích hát, thích pha trò, chỉ cần đốt lửa và âm nhạc nổi lên, cho dù họ đang bận tay làm gì cũng vứt đấy ra tụ tập nhẩy múa hát hò đã. Mọi người đều không vì nghèo đói mà mất đi sự nhiệt tình và trung thực, một sự thành kính với tôn giáo tuy đơn giản nhưng vững vàng như đá hoa cương không hề suy suyển trước gió mưa, tháng ngày.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ấn Độ là đất nước huyền diệu và lãng mạn, là cõi Cực Lạc mà Đường Tam Tạng đã trải qua muôn vàn gian nan đi đến để thỉnh kinh. Ấn Độ cũng là một đất nước đầy mâu thuẫn, đầy tranh cãi, nhưng lại đầy hấp dẫn. 

Một số người khi đã bước chân đến đây đều không khỏi yêu nó đến say đắm và khó có thể rời xa, coi nó như thiên đường, nhưng một số người lại chế nhạo Ấn Độ, mô tả nó như một khu chợ ồn ào, bẩn thỉu, nghèo nàn và lạc hậu, và coi nó như địa ngục. 

Nhà văn Mỹ Mark Twain đã từng nói rằng “vì sự phức tạp của Ấn Độ nên bất kỳ sự đánh giá nào cũng đều đúng”. Bản thân Ấn Độ là nơi giao thoa giữa thực tế và mộng cảnh. Câu trả lời nằm trong trái tim mỗi người, ngay trong mắt bạn. Bạn hy vọng nhìn thấy điều gì? Bạn muốn ngăn chặn điều gì? 

Chỉ bạn mới có thể giải thích Ấn Độ.

Ấn Độ là đất Phật, tuy rằng nó lộn xộn bẩn thỉu phản ảnh lên muôn kiếp nhân sinh trong cõi ta bà. Nhưng nếu bạn đến đây với một tấm lòng hành hương để trải nghiệm, thì ngoại cảnh không cần thiết. Bạn nhìn thấy dấu ấn của Phật, chạm tay vào cổ tích, đấy là thiên đường. 

Bạn nhìn thấy và chứng kiến hiện thực, đấy là địa ngục.

Lão đã chứng kiến  những cảnh tượng không thể hiểu nổi này mà rơm rớm nước mắt, khi đã ngộ ra thấu hiểu mới cảm thấy sự ngu dốt và tầm thường của chính mình. Điều kỳ diệu của Ấn Độ là trong sự hoang tàn và hỗn loạn vẫn tỏa sáng trí tuệ của nền văn minh triết học cổ đại. 

Nếu nhìn nó bằng bộ óc văn minh hiện đại, bạn sẽ không hiểu hết Ấn Độ. 

Chúng ta chỉ nhìn thấy sự bất công của chế độ đẳng cấp và sự mê muội vào nhiều vị thần, nhưng chúng ta không thể cảm nhận được sự cân bằng của việc chấp nhận luân hồi ở mỗi người nơi đây, bởi vì tất cả những điều này có thể bị cho là mê tín.

Mặc dù Ấn Độ là một quốc gia, nhưng có hai thế giới cực đoan. 

Mặc dù họ cực đoan chia rẽ, nhưng lại khăng khít với nhau. Tầng lớp trên bóp cổ tầng lớp dưới, tầng lớp giàu sụ thành công là nhờ sự bóc lột tầng lớp dưới. 

Vậy trong thế kỷ 21, tại sao Ấn Độ vẫn chưa thay đổi được tình trạng này?

Thứ nhất, chế độ đẳng cấp phân tầng xã hội đã được lưu truyền hàng nghìn năm. Xã hội Ấn Độ được chia thành bốn đẳng cấp, Bà la môn, Kshatriya, Vaisha và Sudra. Theo quan điểm của họ, Bà La Môn là cửa miệng của người nguyên thủy và thuộc tầng lớp cao nhất của xã hội. 

Họ thuộc hàng tăng lữ và có quyền giải thích mọi kinh điển. Kshatriya  là cánh tay của người nguyên thủy, do Bà-la-môn trực tiếp điều khiển, phụ trách quyền lực quân sự và chính trị. Vaisha là đùi của người nguyên thủy, là những người bình thường bao gồm nông dân, người chăn nuôi và thương gia. Sudra là chân của người nguyên thủy, thuộc về thấp nhất. 

Những người thuộc đẳng cấp này bao gồm những người hầu, thợ thủ công, bồi bàn và đầu bếp. Đây là giai cấp đông dân nhất. Những người thuộc dạng Bà La Môn sẽ không hề coi người thuộc dạng Sudra là “người”, không chạm tay vào họ thậm chí nếu đang đi trên đường mà chiếc bóng của họ bị chiếc bóng của người Sudra đè lên cũng lập tức về ngay để tắm rửa sạch sẽ.

Những người ở khúc cuối thấp nhất của kim tự tháp cam chịu phục tùng và không bao giờ cảm thấy rằng có bất kỳ vấn đề gì. Theo quan điểm của họ, ngay từ khi sinh ra, họ đã có một định mệnh bi thảm, nếu không phục tùng tầng lớp thượng lưu, họ sẽ vi phạm ý trời và bị ông trời trừng phạt.

Chế độ đẳng cấp ban đầu chỉ là lời nói xảo quyệt được tạo ra bởi những người ở cấp cao để hưởng sự thịnh vượng và giàu có vĩnh viễn, nhưng lời xảo quyệt này đã được lưu truyền trong 3000 năm và mọi người đều biết bộ mặt thực sự của nó. Người Anh khi thống trị nước này cũng đã từng nghĩ đến việc xóa bỏ chế độ này nhưng cũng không thành.

Ấn Độ đã độc lập trong nhiều năm và chưa bao giờ cảm thấy rằng chế độ đẳng cấp là một tệ hại. Chừng nào nó còn tồn tại, giai cấp xã hội sẽ tiếp tục cố định theo cách này, những người ở dưới đáy sẽ không bao giờ có cơ hội đứng lên và nắm quyền kiểm soát, và khoảng cách giàu nghèo sẽ tiếp tục được nới rộng.

Thứ hai, những mặt hạn chế của Ấn Độ giáo. Tôn giáo này cho rằng phụ nữ là hiện thân của cái ác. Họ được sinh ra để làm mê hoặc thế giới, họ chỉ là kẻ hầu của đàn ông, họ không xứng đáng với bất kỳ phẩm giá nào, và họ không có nhân quyền nào cả. 

Chừng nào sự nguyên thuỷ và hạn chế của Ấn Độ giáo không bị phá vỡ, thì phụ nữ Ấn Độ sẽ không bao giờ có thể phá vỡ gông cùm. 

Sự bất công bằng giữa nam và nữ của Ấn Độ khiến các vụ hiếp dâm vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi đất nước suy sụp.

Cả chế độ đẳng cấp và Ấn Độ giáo đều đã ăn sâu vào đất nước này và không thể xóa bỏ nó. Bởi vì một khi chạm đến những điều này thì đụng chạm đến lợi ích của tầng lớp trên khi tầng lớp này dù chỉ có 1% dân số nhưng nắm giữ đến hơn 70% tài sản cả nước. Và làm sao họ có thể chịu đựng được chiếc bánh của mình bị kẻ khác chia cắt?

Lần bùng phát thứ hai của đại dịch ở Ấn Độ là hình ảnh thu nhỏ cho những khiếm khuyết của Ấn Độ. Trước hết, họ biết rằng dịch bệnh vẫn chưa qua đi nhưng vẫn tổ chức các nghi lễ tôn giáo hoành tráng và tụ tập tranh cử. Thứ hai, họ tin tưởng một cách mù quáng, mê tín rằng với sự phù hộ của thần linh, họ có thể vượt qua dịch bệnh.

Dịch bệnh bùng phát, người chết như rạ, những người giàu đã đáp máy bay riêng trốn sang châu Âu để hưởng thụ tiếp, để lại những người nghèo vật lộn với dịch bệnh ở vùng đất thảm họa này.

Cầu nguyện cho họ, cầu nguyện cho một đất nước đáng yêu, đáng nhớ và huyền bí.

TamAn (Nguồn Chính Nghĩa Việt)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ấn Độ: Thiên Đường và Địa Ngục_TamAn

Hiện Tượng Mất Trí Nhớ Và Bệnh Alzheimer_BS Hồ Ngọc Minh

Hiện Tượng Mất Trí Nhớ Và Bệnh Alzheimer

BS Hồ Ngọc Minh

alzheimer

Nói đúng ra, trí nhớ của tất cả mọi người đều không hoàn hảo. Có những dữ kiện chúng ta tưởng là nhớ đúng 100% nhưng trên thực tế theo thời gian, trí nhớ bị phai mờ với những “lỗ hổng”. Bộ não chúng ta sẽ tìm cách điền vào những “chỗ trống” đó bằng những hư cấu không có thực hay không chính xác. Vì thế khi chúng ta lớn tuổi, chuyện giảm trí nhớ xảy ra cho tất cả mọi người, nhưng mức độ và tốc độ suy sụp tùy theo bản chất của mỗi cá nhân. Riêng những người bị Alzheimer, tốc độ suy sụp rất nhanh, có khi trong vòng vài tháng đã thấy sự khác biệt.
Thế thì, những dấu hiệu khác biệt đó là gì?

Hầu hết các sách y khoa đều nói rằng dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là mất trí nhớ. Khổ nỗi là sự mất trí nhớ không xảy ra qua đêm trong thời gian đầu nên rất khó mà nhận biết. Mà nếu có chút lãng trí xảy ra thì thường bị bỏ qua, hay bị người thân phán cho những chữ như “già rồi, lẩm cẩm” là xong câu chuyện.
Một khi sự mất trí nhớ xảy ra có thể nhận thấy được thì thường là quá trễ. Người có triệu chứng Alzheimer thường bắt đầu lặp lại những câu chuyện hay câu hỏi nhiều lần và bất chợt. Ví dụ, có khi họ đang nói chuyện thời năm 1975, đùng một cái nhảy qua nói chuyện đánh football năm 2015, rồi quay lại thời cụ Diệm bị đảo chánh và vài ngày sau lại nhắc lại những chuyện đó.
Hoặc, họ có vấn đề theo dõi câu chuyện của người khác. Ví dụ người ta đang bàn chuyện đám cưới, người có vấn đề lại “đóng góp” chuyện lính Mỹ đổ bộ ở Normandy! Nghĩa là, nhớ đâu nói đó, không có thứ tự. Không nên nhầm lẫn với thói quen suy nghĩ của người bệnh. Đa số, thường bị bỏ qua là “lâu nay tánh vẫn thế!”.

Cùng lúc với chuyện lãng trí, quên chỗ này, chỗ kia, dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là việc đi đứng không vững và hay té ngã. Dĩ nhiên là khi người lớn tuổi, hay bị té ngã có thể do nhiều nguyên do khác nhau đưa đến, nhưng không nên bỏ qua mà phán cho câu “già yếu nên như vậy”. Có người đang ngồi trên ghế vẫn bị té lăn quay xuống đất vì không giữ được thăng bằng, như vậy không phải hoàn toàn là yếu! Người bị Alzheimer thường có dáng đi như lê lết trên mặt đất như chim cánh cụt.
Họ không nhấc được bàn chân khỏi mặt đất và hai chân thường hay bị quíu, như không biết chân nào phải bước trước và chân nào theo sau. Có khi họ như lúng túng muốn bước hai chân tới trước cùng một lúc. Đó là lý do tại sao họ dễ bị té.
Ngoài ra, lý do dễ mất thăng bằng, và hay bị té là khả năng nhìn vật thể chung quanh theo định thức không gian 3 chiều không còn chính xác nữa. Thí dụ cái bàn, cái ghế có thể bị nhìn méo đi, hay khoảng cách ước lượng từ điểm A đến điểm B không còn đúng nữa.

Khoa học vẫn chưa tìm ra gene di truyền gây ra bệnh Alzheimer. Người ta đã tìm khắp bộ DNA của con người và ghi nhận được 33 điểm khả nghi. Tuy nhiên những người có gene apolipoprotein E (APOE) ở trên nhiễm sắc thể số 19 sẽ có nguy cơ tăng cao. Ngoài ra nguy cơ có thể thay đổi qua sự tương tác giữa gene và môi trường.

Căn nguyên của bệnh Alzheimer là do những vẩy (plaques) chung quanh tế bào não, tương tự như vẩy đóng trong mạch máu.
Khác với vẩy cholesterol trong máu, những vẩy trong não này được tạo thành bởi chất protein. Những vẩy protein như những chất cách điện, hệ quả là những tín hiệu được truyền đi từ một tế bào thần kinh nầy đến tế bào khác bị ngăn chặn. Hiện tượng cách ly này không chỉ xảy ra giữa tế bào này với tế bào khác mà còn ở ngay trong tế bào thần kinh, như những chùm tơ nhện, gọi là “tangles of Tau protein”. Ngoài việc cách ly sóng điện, những vẩy protein còn tiết ra chất độc để hủy diệt tế bào thần kinh, vì thế não bộ dần dần teo nhỏ lại.

Hiện tượng đóng vẩy không xảy ra qua đêm mà kéo dài có khi cả chục năm trước khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Nói cho dễ hiểu, “người thường” không có bệnh Alzheimer cũng bị đóng vẩy trong não chút đỉnh khi… già yếu. Nhưng đối với người có bệnh, tốc độ suy sụp, đổ dốc sẽ rất nhanh.
Dĩ nhiên, triệu chứng mấu chốt của bệnh mất trí nhớ phải là sự mất khả năng tư duy, khả năng nhớ, nhưng những triệu chứng khác do sự suy yếu của não bộ đưa đến, ví dụ như khả năng nói và vệ sinh cá nhân sẽ xảy ra cùng lúc, chứ không theo thứ tự.
Như thế, sự suy yếu xảy ra một cách toàn bộ, từ trí nhớ, đến suy yếu thị giác và khả năng giữ thăng bằng.

Khi bệnh càng nặng, người bệnh sẽ mất khả năng tư duy, không còn nhận biết người quen, không nhớ những chuyện mới xảy ra gần như tức thì.
Họ sẽ có vấn đề hiểu câu hỏi, sử dụng từ ngữ để diễn tả hay tốn nhiều thì giờ để trả lời một câu hỏi có khi rất đơn giản.
Khuôn mặt như khờ đi, không biểu lộ được cảm xúc. Họ mất khái niệm về thời gian và không gian.

Tâm tính của người bị mất trí nhớ cũng thay đổi, có khi họ trở nên trầm cảm, cô đơn nhưng có lúc hung dữ, bướng bĩnh vì trong tư duy hạn hẹp, không ai hiểu được họ.
Cuối cùng là mất luôn khả năng vệ sinh cá nhân như tiểu tiện và đại tiện. Người bệnh chỉ nhận biết được một vài người thân săn sóc cho họ. Khi thiếu những người này, hay khi phải rời xa những môi trường quen thuộc, thường sẽ bị kích động những cơn sợ khủng hoảng tinh thần, gọi là panic attacks, làm cho họ cứng người đi, càng dễ bị té ngã thêm.
Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi sâu vào việc chẩn bệnh và thuốc chữa trị. Tuy nhiên, dựa trên những kiến thức cơ bản ở trên, tôi hy vọng bạn đọc có thể phát hiện ra bệnh tình của người thân và đưa họ đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.
Nên nhớ tất cả các loại “thuốc chữa” hiện nay không có khả năng chữa dứt bệnh mà chỉ làm cho tốc độ phát triển của bệnh chậm đi. Và nếu thuốc chữa càng sớm thì phẩm chất đời sống của bệnh nhân cũng như của người thân săn sóc cho bệnh nhân sẽ đỡ khổ hơn nhiều.
Nói chung, mọi người khi lớn tuổi đều có nguy cơ bị mất trí nhớ. Để giảm bớt nguy cơ bị mất trí nhớ, một số biện pháp cần thực thi ngay từ bây giờ:
Trước hết, bạn phải có một chế độ ăn uống cân bằng, điều độ, nhiều rau trái, tập thể dục đều đặn, như đi bộ ba tới năm giờ mỗi tuần, và ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày.

Ngủ đêm không đủ thì tranh thủ ngủ ngày! Những người ngủ đầy đủ và có ngủ trưa thường sống lâu và ít bị mất trí nhớ.

1. Học khiêu vũ:

Ta nói nôm na là tập… “nhảy đầm”. Nghiên cứu đăng trên tờ New England Journal of Medicine năm 2003 cho biết khiêu vũ vừa là một môn thể dục thể thao, vừa là một trò chơi đòi hỏi suy nghĩ, tiến thoái trong mỗi bước.

Khi khiêu vũ, lượng máu không những chỉ dồn về bắp thịt mà còn đổ về phía não bộ nhiều hơn vì khiêu vũ đòi hỏi cả thể lực lẫn trí tuệ.

2. Học chơi một thứ nhạc cụ hoặc nghe nhạc:

Nhiều nghiên cứu cho thấy người chơi nhạc cụ trên 10 năm sẽ có trí nhớ tốt hơn một người không chơi nhạc. Trong trường hợp bạn không có đủ thời giờ hay năng khiếu âm nhạc, nên tập nghe và thưởng thức âm nhạc.

3. Học một ngôn ngữ khác:

Một nghiên cứu đăng trên tờ Neurology năm 2013 cho biết những người nói thông thạo hai thứ tiếng, khả năng bị mất trí nhớ chậm đi bốn năm rưỡi so với người chỉ biết một thứ tiếng.

4. Học đánh cờ hay chơi video game:

Một nhiên cứu của Pháp năm 2013 cho thấy những ai chơi cờ, hay chơi các loại game như bingo, xì lát, poker… (nhưng đừng ghiền quá, và cũng tránh “ngồi computer” hay TV nhiều nhé), khả năng bị mất trí nhớ giảm đi 15%.

5. Đọc sách:

Không cần phải đọc nhiều, nhưng khi đọc sách nên bỏ thì giờ suy nghĩ, nghiền ngẫm nội dung của sách, truyện. Đọc truyện mới lạ có lợi hơn là đọc chuyện cũ đã biết. Đừng đọc Thiên Long Bát Bộ hay Tam Quốc Chí đến lần thứ 10!

6. Chú tâm làm một việc cho xong, đừng ôm đồm nhiều thứ vô một:

Người chú tâm làm xong một việc ít bị lãng trí hay mất trí nhớ hơn người làm hai ba việc cùng một lúc. Ví dụ khi ăn thì đừng xem TV! Ngoài ra nên biết dùng thời giờ một cách hữu hiệu.

7. Học đan, may vá, hay làm vườn:

Khảo sát thống kê năm 2013 cho biết những người có những thú vui kể trên, trí óc minh mẫn hơn những người không có “thú vui ” để tiêu khiển.

8. Sống có mục đích:

Sống lạc quan, yêu đời và có giao thiệp với bạn bè người thân làm bớt tình trạng cô độc, sầu muộn.

9. Tập viết:

Viết văn, viết truyện, viết thơ cho bạn bè, viết nhật ký, viết hồi ký… làm giảm khả năng mất trí nhớ về sau.

10. Cuối cùng, tập làm việc nhà:

Những người làm lụng chân tay, làm việc trong nhà ít bị mất trí nhớ hơn người ngồi một chỗ xem TV hay nhìn “bóng câu qua khung cửa sổ”.
Nói chung là phải tích cực “động não”. Tất cả các hoạt động trên đây nên bắt đầu từ hôm nay, bất kỳ ở lứa tuổi nào. Không nên đợi tới 60, 70 mới lo ngăn ngừa mất trí nhớ!
BS Hồ Ngọc Minh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hiện Tượng Mất Trí Nhớ Và Bệnh Alzheimer_BS Hồ Ngọc Minh

SÀI GÒN VÀ EM_Nguyễn Phiến (Thơ)

SÀI GÒN VÀ EM

Ngày buông xuống hoàng hôn về trên phố

Những con đường nhộn nhịp áo dài bay

Ta đến đây khi phượng hồng say nắng

Sài gòn rực rỡ sánh bước trong tay

 

Xuôi ngược ngựa xe dập dìu ong bướm

Trai thanh gái lịch tha thướt lượt là

Mắt huyền mơ long lanh cành mai liễu

Duyên dáng trần đời phong gấm thướt tha

 

Gío mơn man chiều vàng loang tóc biếc

Tia nắng tà hờ hững rớt trên vai

Dáng kiêu sa chập chờn cơn mộng ảo

Nét đoan trang huyền hoặc cả hồn ai

 

Em ở đâu Sài Gòn luôn ở đó

Mất Em rồi thành phố cũng thay tên

Sài Gòn và Em song đôi nhịp sống

Em đi rồi Thành phố đứng buồn tênh

 

Sài Gòn trong ta một thời hoa lệ

Em trong ta lồng lộng cuộc tình say

Mất Sài thành còn em đâu biền biệt

Mấy chục năm rồi nỗi nhớ khôn khuây

 

Cuộc hạnh ngộ chan hòa bao tình tự

Con tim hồng nồng cháy lửa yêu thương

Em trong ta cả một trời thần thoại

Sài gòn còn lại hình bóng quê hương

Nguyễn Phiến

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SÀI GÒN VÀ EM_Nguyễn Phiến (Thơ)

Sến Già Nam tác giả BS Đỗ Hồng Ngọc

Sến Già Nam

BS Đỗ Hồng Ngọc

Thấy tôi đứng loay hoay tìm kiếm mãi trên các kệ đầy nhóc băng đĩa ngổn ngang, cô bé bán hàng đến gần hỏi:

– Bác muốn kiếm loại nào?
– Nhạc. Nhạc xưa.

Cô đọc vài cái tên gì đó…

– Không. Xưa hơn nữa kìa. Chừng nửa thế kỷ trước. Có không?
– Bác chờ con lấy.

Một lúc, cô mang ra một cái… giỏ, đúng hơn là một cái rổ to, hình chữ nhật, chứa hàng ngàn đĩa CD, buộc dây thun từng cộc nói bác lựa đi.

images (3)

Tôi giật mình thấy trên thành rổ dán mấy mảnh giấy viết tay bằng chữ in khá to: SẾN GIÀ NAM.

Tuần trước, vào một siêu thị ở một tỉnh miền Đông nọ tôi thấy nơi người ta bán băng đĩa có rất nhiều rổ đựng các thứ, được phân loại như có rổ phim hành động, phim kinh dị, phim Mỹ, phim Hồng Kông… và đặc biệt có hai rổ ghi: Nhạc sến nam, Nhạc sến nữ. Tôi định mua vài thứ xem sao, nhưng thấy kỳ kỳ nên thôi. Tuy vậy, tôi cũng học được vài từ mới. Có điều ở cửa hàng này, một cửa hàng bán băng đĩa khá lớn ở Thành phố có cách phân loại độc đáo hơn: Sến Già Nam. Tôi đoán đây là loại nhạc “sến” dành riêng cho nam giới “già”!

– Có Sến Già Nữ không cháu? Tôi tò mò.
– Dạ có. Bác kiếm xong Sến Già Nam con đưa Sến Già Nữ ra bác lựa!

Thì ra nam nữ đây không phải khách hàng mà là ca sĩ. “Sến” do “nam” ca sĩ hát cho người “già” nghe thì gọi là … Sến Già Nam v.v…Tiếng Việt ta thiệt hay! Nhớ lần ra Hà Nội năm xưa, người ta giới thiệu tôi một xí nghiệp có tên là Xí nghiệp Cao Xà Lá.  Hỏi “Cao xà lá” là cái gì? Là Cao su, Xà bông và thuốc Lá, gọi tắt Cao Xà Lá!

Tôi vừa tủm tỉm cười vừa lựa đống băng đĩa trong rổ Sến Già Nam, chọn được vài đĩa. Nhiều khi cả đĩa chỉ có một bài ưng ý. Thôi vậy cũng được. Có một bài mình thích là quý rồi ! Tôi hỏi còn Sến Già Nữ đâu? Cô bưng ra một rổ Sến Già Nữ nữa và nhìn tôi có vẻ nghi tôi mê cô ca sĩ nào đó của năm mươi năm trước!

“Sến” là gì ? Người ta bảo là do chữ Marie sến, tức người giúp việc, người ở đợ, con sen,  người nhà quê, ít học. Nhạc sến là nhạc… tầm thường, nhà quê mà các cô gái này thường hát hỏng để trải tâm sự nỗi lòng khi vô công rỗi việc.

Đã có những bài báo, những tranh luận sôi nổi về thứ nhạc « sến hay không sến” này. “Sến” mà sao người ta thuộc, người ta khắc cốt ghi tâm? “Sến” mà sao người ta cười người ta khóc?… Gần đây trên mạng, nhiều bạn trẻ « còm » rằng nhờ “sến” mà nuôi dưỡng được tâm hồn trong một thế giới vô cảm, và có bạn còn rất tự hào rằng đã sưu tầm được hàng ngàn bản nhạc « sến » để làm của quý!

Còn tôi, tôi chỉ biết nhạc hay hay dở với mình mà thôi. Hay là thứ làm tôi “rung động sáu cách” (nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý)…, còn dở là nhạc “nghe không vô” !

Chiều làng em của Trúc Phương chẳng hạn, với tôi là một bài hay, không chỉ rất lãng mạn “khói lam buồn như muốn ngừng thời gian” mà còn do tác giả viết bài này lúc ở Bình Tuy, quê tôi, cho một cô gái mà tôi có lẽ cũng quen biết.

Anh ơi nhớ về thăm thôn xưa,
Để nghe tiếng ngọt ngào ru bóng dừa
Xa xôi bước người anh lữ thứ
Nhớ thương hoài câu hát chiều làng em..

Còn Mộng ban đầu của Hoàng Trọng làm sao quên được:

Trông em mừng vườn cau
Trái mập tròn xuân mới
Bỗng me cười me nói
Con bé lớn thật mau
Mai mốt mẹ ăn trầu

« Mai mốt mẹ ăn trầu » bây giờ không còn nữa nên « đám trẻ » không biết là phải rồi. Còn những trái cau « mập tròn xuân mới » cũng khó kiếm ! Bây giờ là bưởi, là dưa hấu cả rồi!

Rồi Lối về xóm nhỏ của Trịnh Hưng

Có những chiều hôm
Trời nghiêng nắng xế đầu non
Nắng xuống làng thôn
Làm cho đôi má em thêm giòn
Lúa đã lên bông
Mắt già tươi sáng thôi chờ mong
Tiếng hò cô gái bên Cửu Long
Mơ rằng mai lúa lên đầy bông…

hay Tình lúa duyên trăng của Hoài An

Quê hương ta đất xưa vốn nghèo
Nhưng giàu tình thương nhau
Biết yêu lúa mầu xa cuộc đời cơ cầu
Gái trai biết làm tròn lời thề khi ban đầu

Tôi không hiểu vì sao những lời ca đầy tình quê hương, đất nước, tình gia đình, tình gái trai « biết làm tròn lời thề khi ban đầu» như vậy mà « sến » được ?

Hà Đình Nguyên trong một bài báo về vấn đề nhạc sến đã viết: « …nhưng không biết do đâu mà hầu như tất cả các bản nhạc được sáng tác trước 1975 – nhất là những bản có điệu boléro, rumba… đều bị quy là nhạc sến (tiếng “sến” được hiểu theo nghĩa dè bỉu, mỉa mai, khinh thị…).

… nhưng sẽ thật sai lầm khi quan niệm “nhạc sến” với hàm ý khinh thị, chê bai bởi trong dòng nhạc bình dân này có rất nhiều tuyệt tác mà chưa chắc các nhạc sĩ dòng nhạc “hàn lâm” đã sáng tác được, như: Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo (Phạm Thế Mỹ)… »

Còn nhà thơ Đỗ Trung Quân có một bài thơ được Vũ Hoàng phổ nhạc rất hay tên Phượng Hồng có lần bực mình :

“Nói chú đừng giận, bài Phượng Hồng phổ thơ của chú sến chảy nước”, chàng trai 20 tuổi tóc tai kiểu hip-hop nói thẳng thừng. …Thế hệ trẻ 8X hôm nay không thể tin nổi, không thể chấp nhận nổi có một gã nào đó trạc tuổi mình suốt một năm dài ngồi cạnh bàn, học cùng lớp để ý cô bạn gái mà vẫn cứ: “bài thơ còn trong cặp… giữa giờ chơi mang đến lại mang về…”. Nhát gái đến thế, “yếu” đến thế thì “sến” là cái chắc. Bây giờ, chỉ cần một cú nhắn tin chớp nhoáng là alê hấp! Ra cà phê hộp ngồi ngay. Yêu à? Tỏ tình à? Đây, nhanh gọn lẹ: “Anh là number one, vừa đẹp trai lại vừa dễ thương…”. Không yêu nữa cũng chẳng sao: “thà như thế, thà rằng như thế…”. Đỡ lôi thôi, đỡ mất thì giờ, khỏi mang tiếng “sến”…

******

Gần đây nhiều ca sĩ bắt đầu quay về với nhạc « sến » có lẽ để đáp ứng nhu cầu tình cảm của con người trong một thế giới ngày càng vô cảm chăng! Có điều, vì sến… thiếu gốc nên nhiều khi hát sai mà không hay. Chẳng hạn « Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng » trong  Chiếc lá cuối cùng của Tuấn Khanh, có ca sĩ hát ngon lành « đêm chưa qua mà trời sao vội sáng » ! Qua chưa với chưa qua khác nhau xa quá ! Cũng như « Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em » của Từ Công Phụng mà hát thành « Bây giờ mấy tháng rồi hỡi em ? »… thì nguy tai !

Tôi vẫn còn nhớ những đêm ngồi nghe Tuấn Khanh đàn piano dưới chân cầu sắt Đa Kao trong một quán cà phê nhỏ chênh vênh…

Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng
Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang
Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá
Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa …

(xin đừng nhầm với Tuấn Khanh, Hoài An, các nhạc sĩ nổi tiếng hiện nay!)

Tôi chắc rồi một hôm nào đó cậu trai 8X kia sẽ tìm đến bản nhạc “sến chảy nước” nọ và rồi 8X sẽ được thay thế bởi 9X, 0X… Rồi sẽ có những người tìm đến Sến Già Nam, Sến Già Nữ như tôi hôm nay cho mà coi!

Không lâu lắm đâu! Hãy đợi đấy!

Đỗ Hồng Ngọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sến Già Nam tác giả BS Đỗ Hồng Ngọc

Nhật Ký ngày 24/5/21 của K1 Lê Văn Thao

Nhật Ký ngày 24/5/21 của K1 Lê Văn Thao (Houston, TX)

Hôm nay (24-5-21) đến thăm K1 Ngô Quang Liêm ở Atlanta, GA, người bạn cố tri hơn 60 năm từ lớp đệ nhị, đệ nhứt rồi chia tay lên đại học khác ngành (Liêm vào trường Dược, tôi đi Khoa Học) nhưng cuối cùng 1966 cũng gặp nhau ở Học Viện Cảnh Sát QG. Thương bạn vì là Th/tá Đ.Đ Trưởng CSDC Hậu Nghĩa nên bị tù cs trên 10 năm, nay dù đã hơn “8 bó” nhưng cũng còn phong độ lắm, cắt cỏ tỉa kiểng, 8 lon 1 ngày. Tháng 1/2019 bà xã Liêm mất, chúng tôi không đến được vì vợ tôi bị bịnh, chỉ gởi vòng hoa phân ưu, lòng buồn vô hạn vì vừa gặp chị hơn năm trước. Chị vui vẻ bặt thiệp hiếu khách trọng bạn, đã tiếp đãi chúng tôi với nhiều món ăn ngon. Nay nhìn hình chị trên bàn thờ, không cầm được nước mắt và 2 thằng nhìn nhau không biết rồi đây thằng nào sẽ đi trước…

Tôi xin lỗi các bạn Khoá 1 Atlanta, không đến thăm được, đành hẹn dịp khác vì các con, cháu có chương trình sum họp gia đình nhân lễ ra trường của 2 cháu ngoại sanh đôi.

FB Thao Le

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nhật Ký ngày 24/5/21 của K1 Lê Văn Thao

Thơ Thái Bá Tân

THÁI BÁ TÂN,
KHÔNG THỂ SỐNG TRONG IM LẶNG…

Tác giả Đỗ Trường Ngày đăng: 2021-05-22

unnamed (7)Có thể nói, kể từ ngày lập quốc, chưa có chế độ xã hội nào thối nát, con người vô cảm như hiện nay. Sự vô cảm ấy, làm con người trở nên yếu đuối, và đê hèn. Cả ngàn người viết, hàng vạn người mang danh học hành, bằng cấp, nhưng khó tìm ra một nhà văn, một trí thức đích thực.

Vâng! Một đất nước có hồn khí như vậy, chắc chắn đang bước tới hố sâu, và ngõ cụt. Từ đó có thể thấy, thịnh suy dẫn đến sự đổ nát, suy tàn của một triều đại là điều khó tránh khỏi. Đó cũng là qui luật tất yếu của lịch sử. Bởi, cái cũ chắc chắn sẽ được thay bằng cái mới phù hợp với sự phát triển văn hóa, khoa học cũng như khát vọng của con người. Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần phải có nhiều yếu tố. Thơ văn và nhận thức tư tưởng thi sĩ nói riêng và của con người nói chung là một trong những ngòi dẫn, yếu tố quan trọng.

Và trong cái gật gù, u mê ấy, nếu được phép chọn ra những nhà văn, thi sĩ ở trong nước gạt bỏ được tạp niệm, bùa chú đó, với tôi, người đầu tiên phải là Thái Bá Tân, Nguyễn Quang Lập, Bành Thanh Bần…

*Từ trách nhiệm công dân đến chuyển biến tư tưởng.

Nói đến Thái Bá Tân, có lẽ rất nhiều người biết, ông là một nghệ sĩ đa tài. Ngoài tài năng văn thơ, đàn ca sáo nhị, ông còn là dịch giả, một người thày đầy lòng nhân ái.
Thái Bá Tân sinh năm 1949 tại Diễn Châu, Nghệ An, trong một gia đình truyền thống khoa bảng. Ông tốt nghiệp trường Đại học ngoại ngữ Moskau, rồi về giảng dạy tại trường Đại học sư phạm ngoại ngữ Hà Nội, và Ủy viên đối ngoại của Hội nhà văn VN sau này. Có thể nói, ông là một trí thức, con cưng của chế độ CS, được đào tạo cơ bản từ trong cho đến ngoài nước, hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội.

Khởi đầu Thái Bá Tân đến với văn chương bằng dịch thuật, rồi truyện ngắn và thơ lục ngôn, bát ngôn… Tuy nhiên, những năm gần đây, ông được mọi người biết đến và yêu mến nhiều hơn với mảng thơ thế sự, xã hội theo thể ngũ ngôn. Thơ thời sự là mảng thơ khó nhằn, khó viết, cho nên rất ít người dám đi đến tận cùng. Bởi, ngoài tài năng, nó cần sự dũng khí, cũng như mất mát, hy sinh không chỉ riêng bản thân người viết, mà cho cả gia đình, dòng họ.

Khi đọc và nghiên cứu Thái Bá Tân, tôi thực sự khâm phục sự lòng dũng cảm, can trường của ông. Thơ ông gắn liền với thân phận đất nước và con người, cũng như phơi bày sự thối nát của chế độ xã hội đương thời. Để có những vần thơ, trang viết này, tôi nghĩ, ngoài tình yêu đất nước, lẽ phải, công bằng, Thái Bá Tân còn được đi nhiều, và hầu hết khắp các châu lục, nhất là các nước tự do dân chủ. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của ông. Ta có thể thấy, sự chuyển biến nhận thức, tư tưởng của ông thật rõ ràng về chân tướng cũng như sự lưu manh hóa của chủ nghĩa CS qua bài thơ Cộng Sản

“…Elsin, ai cũng biết,
Trùm cộng sản Nga Xô:
Cộng sản không thể sửa,
Mà phải chôn xuống mồ.
Rồi ông Gorbachev:
Tôi bỏ nửa đời người
Theo lý tưởng cộng sản,
Tưởng nó đẹp nhất đời.
Thế mà giờ chua xót,
Phải tuyên bố điều này:
Cộng sản chỉ dối trá,
Luôn dối trá xưa nay.
Tiếp đến, một trùm nữa,
Ông Putin, người hùng:
Ngu mới tin cộng sản.
Theo cộng sản là khùng.
Từng sống với cộng sản,
Bà Merkel ngày nay
Là thủ tướng nước Đức
Thì phát biểu thế này:
Cộng sản thật đáng sợ,
Làm tha hóa con người,
Biến họ thành dối trá,
Thờ ơ và lõi đời.
Một người rất đáng kính,
Đức Dalai Lạt Ma
Của nước xưa Tây Tạng
Thì nói với chúng ta:
Công sản là cỏ dại
Trên đổ nát chiến tranh.
Nó là loài trùng độc
Trên rác đời hôi tanh…“

Đọc nhiều, đi nhiều đã cho Thái Bá Tân sự hiểu biết, để có thời gian nhìn lại mình, và nhận ra giá trị thật sự của đất nước, con người dưới chế độ cộng sản, mà bấy lâu nay từng được tô hồng, che đậy. Qua bài Tự Bạch, ta không chỉ thấy được sự thật nhục nhã ấy, mà còn thấy được tính khẳng khái, lòng dũng cảm của ông:

“…Chứ nói chung là nhục.
Nhục phải làm thằng dân
Một nước giỏi nói phét,
Lãnh đạo thì ngu đần.
Riêng hai chữ “cộng sản”
Đã đủ nói phần nào.
Làm thằng dân cộng sản
Có gì mà tự hào?
Mà tự hào sao được
Khi mấy triệu dân ta
Vượt biên, thà chết biển
Hơn phải chết ở nhà!
Tự hào là yêu nước.
Yêu nước phải biểu tình.
Mà biểu tình nó oánh.
Quân ta oánh quân mình.“

Nếu không có nhận thức và biến chuyển tư tưởng, thì có lẽ, thơ Thái Bá Tân không thể có cái đau cùng nỗi đau của dân tộc và đồng loại. Khóc là một bài thơ như vậy. Ngoài sự phơi bày tội ác đày đọa, giết người hàng loạt, một cách dã man của chủ nghĩa CS, nó còn cho người đọc thấy được diễn biến tâm lý của nhà thơ:

“Vứt mẹ cái khẩu hiệu
Còn đảng là còn mình.
Thế mai kia đảng chết
Không lẽ mày quyên sinh?“

Và từ diễn biến nội tâm ấy, đã đẩy tâm trạng từ ngạc nhiên lên đến sự phẫn uất căm hờn. Có thể nói, nhận thức tư tưởng của nhà thơ đi từ thấp đến cao, và nó đã hoàn toàn tháo bỏ được chiếc ách cộng sản quàng chặt trên mình từ bấy nay:

“Mười mấy năm về trước
Tôi đọc cuốn “Sách Đen
Về chủ nghĩa cộng sản”,
Rồi ngồi thừ, ngạc nhiên.
Sách đen nhưng giấy trắng,
Nói về chủ nghĩa này,
Về số triệu người chết,
Và người bị đọa đầy.
Khi đọc đến con số
Người Việt Nam, than ôi,
Đã phải chết vì nó,
Tôi khóc cho nước tôi.
Con số là nhiều triệu,
Nhiều triệu những mạng người.
Rất có thể, ai biết,
Thêm người nữa là tôi.
Gần mười năm sau đó,
Tôi đến Washington,
Và rồi tôi lại khóc,
Khi phẫn uất, căm hờn
Tôi đứng bên bức tượng
Nạn nhân chủ nghĩa này.
Một trăm triệu người chết.
Một trăm triệu xưa nay…“(Khóc)

Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm, Thái Bá Tân hay Bành Thanh Bần, Nguyễn Quang Lập… họ chỉ là những nhà thơ, nhà văn bình thường, và làm đúng nghĩa vụ công dân. Họ viết và nói lên những sự thật đang diễn ra hàng ngày, khi hàng ngàn nhà văn, trí thức khác lặng im, ngậm miệng ăn tiền. Chúng ta (người đọc) không nên nghĩ, ghép họ với những nhà dân chủ, hay phản kháng xổ toẹt Mác, ly khai cộng sản như các nhà văn: Võ Thị Hảo, Dương Thu Hương, Phạm Thành… để rồi đến lúc thất vọng, buông ra những lời nói, từ ngữ xúc phạm không đáng có, như thời gian vừa qua.

Có điều kỳ lạ, nhiều người không biết sống ở trong nước hay nước ngoài, tên đểu hay tên thật, luôn lớn tiếng cho tự do dân chủ. Thế nhưng chỉ cần một ý kiến, một bài viết khác ý, họ sẵn sàng mạt sát bằng những từ ngữ chợ búa. Tôi không rành về chính trị, nhưng thiết nghĩ, chính quyền rơi vào tay những người này, có lẽ họ còn sắt máu hơn cả CS Mao- polpot.

Và với tôi, chỉ cần một nửa nhà văn VN, viết và có tư tưởng nhận thức như thi sĩ Thái Bá Tân, Nguyễn Quang Lập, Bành Thanh Bần… thì đất nước, con người có lẽ đã khác đi rất nhiều. Sự thối nát, độc quyền tư tưởng, độc quyền chân lý, độc quyền lãnh đạo của Đảng CS sẽ bị phơi bày. Nó góp phần không nhỏ cho sự nghiệp dân chủ hóa đất nước.

Vâng! Đang sống dưới chế độ CS, làm được như vậy, đã là điều đáng kính, đáng khâm phục lắm rồi. Điều đó, không phải ai cũng làm được.

*Nghệ thuật sử dụng con chữ trong ngũ ngôn thơ.

Có thể nói, tôi đã đọc Thái Bá Tân khá nhiều. Thơ cũng như văn của ông từ ngữ mộc mạc, dễ hiểu. Truyện ngắn gây cho tôi nhiều ấn tượng, bởi nó gần với đạo giáo, cùng với lòng nhân đạo cao cả. Đôi khi nó chỉ là những câu chuyện vặt hàng ngày, nhưng mang thông điệp lớn, buộc người đọc phải suy nghĩ. Với tôi, Chuyện Làng Và Người Làng là một trong những truyện ngắn hay nhất của ông, và cũng là truyện ngắn hay của văn học Việt, trong thời gian gần đây. Có điều lạ, dường như Thái Bá Tân ít quan tâm đến đặt tên (tựa đề) cho truyện của mình. Chuyện Làng Và Người Làng là một ví dụ. Tuy chuyện kể về làng và người làng, nhưng hồn cốt là quá trình diễn biến nội tâm dẫn đến sự sám hối (tội lỗi) của một con người, hay của cả thế hệ… Do vậy, với cái tựa đề sơ sài trên, khó có thể là cái hom, cái giỏ chứa đựng hết hàm ý nội dung, ý đồ chuyển tải của tác giả.

Và những năm gần đây tôi được đọc, biết đến thơ thế sự, xã hội của Thái Bá Tân, viết dưới thể ngũ ngôn. Phải nói, nó đã gây cho tôi ấn tượng và cảm xúc mạnh. Bởi, ông không chỉ thổi hồn, mà còn làm mới ngũ ngôn thơ bằng nghệ thuật sử dụng từ ngữ, cũng như kỹ thuật vắt dòng, hay bắc cầu. Giống như lục bát, thơ ngũ ngôn dễ làm, nhưng khó hay, nếu nhà thơ không có tài. Theo dòng văn học sử, ta có thể thấy, ngoài Ông Đồ của Vũ Đình Liên, Em Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư, Khi Chưa Có Mùa Thu của Trần Mạnh Hảo…thơ ngũ ngôn để lại cho đời không nhiều.

Có một điều thú vị, cả hai tác giả đương đại đưa khẩu ngữ vào văn và thơ đều xuất thân từ miền Trung (Quảng Bình, Nghệ an). Nếu khẩu văn Nguyễn Quang Lập gần gũi hài tính, gây cười, thì khẩu thơ của Thái Bá Tân là lời tự sự, truy vấn làm cho người đọc chìm vào nỗi đau của đất nước, con người, cũng như thế thái nhân tình.

Thái Bá Tân viết nhiều thể loại, dịch nhiều sách, tuy được nhiều người biết đến, kể cả độc giả ngoại quốc. Nhưng chỉ đến khi ông dùng ngũ ngôn thơ chọc thẳng vào ung nhọt của xã hội, nóng hổi tính thời sự thì tên tuổi ông mới đóng đinh vào lòng người đọc trong và ngoài nước. Và chính nó đã làm nên chân dung nhà thơ, nhà văn vạm vỡ Thái Bá Tân được nhiều người yêu mến của ngày hôm nay.

Có thể nói ngay, thơ Thái Bá Tân hay trước nhất ở cái tứ. Và dường như bài nào cũng vậy. Đến với ngũ ngôn thơ ta thấy ông đã thay đổi hoàn toàn cách viết, từ ngôn ngữ cho đến cách gieo vần. Tuy lời thơ dân dã, nhưng ông đã sử dụng kỹ thuật ngắt nhịp, vắt dòng làm cho bài thơ hay đến lạ lùng. Những Người Ở Lại là bài thơ điển hình như vậy. Nó không chỉ cho ta thấy sự ngơ ngác, mất niềm tin đi đến bế tắc của người dân lương thiện, mà còn thấy được sự lưu manh hóa của những ông quan cách mạng, dưới cái chủ thuyết xã hội không tưởng. Chúng ta đọc lại lời kể, hay của một lời than dưới đây để thấy rõ điều đó:

“…Quan, những người cách mạng,
Lặng lẽ tích đô-la
Để thành công dân Mỹ,
Tây Âu, Canada.<!->…
Ta, những người ở lại,
Đang thử hỏi còn gì?
Còn lại một núi nợ,
Một xã hội trái chiều.
Những câu khẩu hiệu đỏ
Và một mớ giáo điều.
Một môi trường hủy diệt.
Một đất nước, người dân
Mất niềm tin, ngơ ngác,
Đành tin vào thánh thần.
Một dân tộc bất lực
Nhìn cái ác lên ngôi.
Bất lực chịu ngang trái
Và đạo đức suy đồi.“

Tôi đã đọc, và viết khá nhiều về chân dung các nhà thơ, nhà văn đang sống trong cũng như ở ngoài đất Việt. Hai nhà thơ Luân Hoán và Thái Bá Tân để lại trong tôi ấn tượng khá đặc biệt, bởi cái lối kể chuyện bằng thơ. Luân Hoán hiện đang cư ngụ tại Canada, là nhà thơ miền Nam, thuộc thế hệ đi trước. Nếu thơ của Luân Hoán là câu chuyện tình, chuyện đời, thì thơ ngũ ngôn Thái Bá Tân mang nặng tính thời sự, với những câu chuyện nóng hổi vừa xảy ra. Nó bám chặt lấy cuộc sống, bám chặt lấy những thăng trầm của đất nước, và con người. Đọc, nghiên cứu, ta cảm giác, Thái Bá Tân làm thơ cứ như đùa, như chơi vậy. Mộc mạc, thô ráp là thế, nhưng cái dí dỏm ấy sắc nhọn như mũi dao chích vào lòng người.

Thật vậy, đọc bài Lại Phim Hăm Mốt Tỉ, ông viết cách nay không lâu, cho ta thấy, dù có đốt đến tiền tỉ, hút kiệt máu và nước mắt của nhân dân, cũng không thể che đậy được cái giả dối, bầy đàn, một cách kịch cỡm của những kẻ xu thời, nịnh thế:

“..Một bộ phim hoành tráng,
Tốn hăm mốt tỉ đồng
Để ca ngợi tướng Giáp.
Thế mà rạp trống không.
—————————–
Là con người, ông Giáp
Chết, tất nhiên tôi thương.
Là lãnh đạo, thú thật,
Tôi thấy cũng bình thường.
Chí ít không vật vã
Gào khóc như lên đồng.
————————–
Lạ, những người khóc ấy
Sao bây giờ lặng thinh?
Không xem phim ca ngợi
Người anh hùng của mình?
Mà trước đấy tướng Giáp
Bị làm nhục nhiều năm,
Rồi ốm nặng, sao họ
Không một lần đến thăm?
Bao giờ dân Đại Việt,
Vốn văn minh, khôn ngoan
Mới chợt tỉnh để thoát
Cái tâm lý bầy đàn?“

Ngược dòng văn học sử, ta có thể thấy từ thuở chưa có chữ viết, ông cha ta đã sáng tác, đúc kết truyền miệng những câu hoặc bài thơ châm ngôn về đạo đức và lối sống. Trải qua bao thăng trầm, nhiều câu, nhiều bài còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay. Tuy nhiên, những năm gần đây, cùng với văn học dân gian, thơ châm ngôn ít được nhà chức trách và giới sáng tác, nghiên cứu quan tâm. Người sáng tác chuyên tâm, chuyên nghiệp dường như không có. Có lẽ, nó đòi hỏi một sự khắt khe chăng? Bởi, người viết thơ châm ngôn, ngoài tài năng, nhân cách, dứt khoát phải có kiến thức, vốn sống và từng trải về nhiều lãnh vực.

Thế nhưng, khi đi vào nghiên cứu Thái Bá Tân, ta có thể thấy, riêng thơ châm ngôn của ông không dừng lại con số bảy tập. Đây là con số nói lên sức viết, khả năng sáng tạo đáng kính phục, bởi một người cùng lúc làm nhiều công việc như Thái Bá Tân. Và không đi theo thể lục bát truyền thống, thơ châm ngôn năm chữ (ngũ ngôn) của ông vẫn thủ thỉ, mang đậm tính triết lý của cuộc sống:

“Ta hay quá sốt sắng
Quan tâm đến mọi người,
Mà quên ta là người
Đáng được quan tâm nhất.
Ta thường tìm hạnh phúc
Ở đâu đó rất xa,
Mà quên rằng hạnh phúc
Ở ngay chính trong ta.
Nghe, ai mà chả thích
Nghe những điều ngọt ngào
. Vì mặt trời chói mắt,
Ta thích ngắm trời sao.
Nhưng làm nên sự sống
Lại chính là mặt trời,
Không phải sao lấp lánh,
Mờ ảo và xa vời.“

Ngũ ngôn là thể thơ có nhịp cũng như ngôn từ gần gũi với câu nói thường nhật, nên dễ nhớ, dễ thuộc đi vào lòng người, kể cả những đề tài khô khan như thời sự, xã hội. Tuy nhiên, do những đặc điểm như vậy, nên giữa thơ và vè luôn có khoảng cách rất mong manh, nếu nhà thơ thật sự không có tài. Và đọc Thái Bá Tân ta có thể thấy, dù là nhà thơ tài năng, luôn tìm tòi, sáng tạo, nhưng thơ ngũ ngôn của ông cũng còn một số câu, bài dở, nhất là mảng thơ châm ngôn. Có lẽ, do ông viết nhanh và nhiều chăng? Âu đó cũng là điều rất bình thường của bất cứ nhà thơ, nhà văn nào.

*Bộ mặt thật của chế độ, và sự nhu nhược của con người.

Hơn một lần tôi đã viết, Thái Bá Tân và Bành Thanh Bần là hai thi sĩ đang sống ở trong nước, viết về mảng thế sự, xã hội, mang lại nhiều xúc cảm cho người đọc. Tuy bút pháp, cũng như thể loại thơ hoàn toàn khác biệt, nhưng không ai có thể phủ nhận dũng khí của hai thi sĩ Thái Bá Tân và Bành Thanh Bần. Có lẽ, đây là hai cây bút hàng đầu của thi ca đất Việt dám đi đến tận cùng những vấn đề gai góc, nhức nhối nhất của đất nước, con người trong thời gian gần đây. Nếu Bành Thanh Bần, chỉ có vốn liếng của một gã thợ cày, với những câu lục bát dân dã, đã lật ngược bộ mặt thật của chế độ, thì Thái Bá Tân, một trí thức được đào tạo cơ bản từ trong đến ngoài nước, dùng “Ngũ ngôn thơ” chọc thẳng vào những ung nhọt của xã hội.

Thật vậy, Thái Bá Tân luôn trăn trở cùng quốc gia, dân tộc. Mỗi biến cố, sự kiện dù lớn hay nhỏ, thơ ông đều ghi lại cùng với những câu hỏi, truy vấn làm quặn thắt lòng người. Dẫu biết rằng, câu hỏi ấy, ai cũng biết và có thể trả lời. Xin Nhường Cho Chính Quyền, tuy chưa phải là bài thơ hay nhất của Thái Bá Tân, nhưng tôi thích, không phải vì tiếng cười thích thú, hân hoan của dân chúng trước sự bắn giết nhau của đám quan tham, mà bởi tiếng súng ấy, đã báo hiệu ngày cận kề sụp đổ, đền tội của một chế độ đã mục nát:

“Dường như đang bung vỡ
Khối ung nhọt lâu nay.
Bí thư đảng Yên Bái
Bị bắn giữa ban ngày…
Thủ phạm, cũng quan lớn –
Trưởng chi cục kiểm lâm.
Còn một nạn nhân nữa,
Một quan ban phát quyền,
Là trưởng ban tổ chức,
Mà chức là có tiền.
Mạng người nào cũng quí,
Cả dân và cả quan.
Sao nhiều người không xót,
Thậm chí còn hân hoan?…“

Không chỉ quay ngược bút, chọc vào đám văn nô cùng trong Hội:

“Lũ văn nô, đĩ bút
Mới là bọn bất lương
Khóc mướn quan tham nhũng
Lên mặt dạy dân thường.“

mà Thái Bá Tân còn vạch trần bộ mặt ngu xuẩn, lộn ngược gia phong của những tên quan tuyên huấn:

“Chắc có thằng tuyên huấn
Vừa ngu dốt vừa lười
Xưa tớn lên, chấp bút
Đặt đảng ngang với trời.“

Bởi, với chúng, chỉ có nấp sau đảng, sau cái thứ quyền lực đổi trác, bán mua ấy mới có thể đục khoét, làm giầu một cách bất lương:

“…Biệt thự tám mươi tỉ
Bên túp lều xác xơ
Là bất lương tột đỉnh
Đất nước ta bây giờ
Quan xứ núi đã thế,
Quan thủ đô thì sao?
Chúng, quan của mọi xứ,
Đang hút máu đồng bào…“

Không dừng lại mức độ đục khoét tham nhũng, mà bọn cường hào thống trị mới còn tàn nhẫn, man rợ hơn nữa. Thật vậy, chúng không từ bất cứ một thủ đoạn nào đối với đất nước, đồng bào, đồng đội. Hình ảnh những người lính gục ngã, bởi bị bán mua ngay nơi chiến trường là bức tranh thu nhỏ của đất nước hôm nay:

“…Chuyện kể rằng, lần ấy,
Khi đánh nhau với Tàu,
Quân ta và quân địch
Cách nhau một chiếc cầu.
Bỗng từ trên có lệnh
Một đại đội xung phong
Vượt qua cây cầu ấy,
Sang bờ bên kia sông.
Thế mà lạ, sau đó,
Hai bên đang đánh nhau,
Có lệnh từ trên xuống.
Lần này lệnh phá cầu!…”

(Ballad về một đại đội bị bỏ rơi)

Võ Nguyên Giáp cũng là một bài thơ hay của Thái Bá Tân. Ông có một cái nhìn trung thực, và đánh giá một cách khách quan về một nhân vật của lịch sử. Bài thơ ra đời, có lẽ ông bị áp lực từ nhiều phía, nhất là những kẻ có hai bộ mặt trong một con người. Đọc bài thơ này, dường như có một sự đồng cảm nào đó, làm tôi nghĩ ngay đến một bài viết của mình, ngay sau ngày tang lễ cụ Võ Nguyên Giáp:

“…Sau cái chết và lễ tang cụ Võ Nguyên Giáp, một nhóm, trong đó có cả một số nhà thơ tên tuổi, phát động, cùng nhau làm thơ, viết thơ về cụ Giáp. Tôi vui, buồn lẫn lộn, nhưng ông bạn nghiên cứu triết của tôi bảo, thơ ca gì, đọc lên sao thấy nó giống như dàn kèn tụng ca vua chúa thời phong kiến vậy… Và không hiểu sao, dạo này các bác hay đùa dai đến thế: Cứ bảo, cụ Giáp về với dân. Về với dân có nghĩa là như các bậc tiền nhân, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, dám từ bỏ quyền lực, trở về ngôi nhà cũ của gia đình dòng họ và làm lại đúng cái nghề gõ đầu trẻ của mình. Chứ ai lại về với dân, mà sau khi thắng giặc, cụ ngự Villa to vật vã giữa lòng thủ đô. Không phải ai muốn gặp cụ cũng được. Khi mất, lăng mộ cụ lại ngự nơi được cho có phong thủy đẹp, lưng là núi mặt tiền là biển và dường như có cả lính túc trực ngày đêm? Vậy là xa dân, chứ làm sao có thể nói, cụ gần dân, về với dân. Thôi thì, cụ cứ nằm chung với các đồng chí của mình giữa thủ đô, có người chăm sóc luôn thể, có khi lại giản dị, đỡ tốn kém hơn.

Vâng! Người có công với chế độ như cụ Giáp, được hưởng thụ ở mức “đại Nhà Thờ, đại Tôn Đản“ là điều đương nhiên, khỏi bàn cãi. Nhưng các bác cứ cố gò ép, cụ về với dân, quả thật nó vênh, tội và oan cho dân lắm.

Có lẽ, do quá yêu quí cụ, nên nhiều người, trong đó có cả những nhà văn, trí thức cho rằng, cụ Giáp không vướng vào những sai lầm cải cải cách ruộng đất, nhân văn giai phẩm…v..v… Dù là người dốt về chánh trị, cũng có thể nhận ra, chủ trương dẫn đến những sai lầm này, của cả bộ chính trị, không phải chỉ có riêng các cụ Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng gánh chịu, mà phải tính từ cụ Hồ trở xuống. Cụ Giáp lúc đó là ủy viên bộ chính trị, uy tín, tiếng tăm đang lẫy lừng, quyền hạn cao chót vót, nên không thoát khỏi trách nhiệm này….“ (đoạn trích trong bài Sám Hối)

Và chúng ta hãy đọc lại bài Võ Nguyên Giáp để thấy rõ bộ mặt thật đê hèn, mà bấy lâu nay tưởng chừng cao đạo của giới chóp bu CS:

“Nhẫn nhục mưu việc lớn
Là việc rất đáng khen.
Nhẫn nhục để khỏi chết
Là thứ nhẫn nhục hèn.
————————-
Tôi không yêu, không ghét
Ông tướng cộng sản này.
Kính trọng cũng không nốt,
Vì ba điều sau đây.
Một, thua xa Trần Độ,
Đến trăm tuổi, mà rồi
Vẫn nghĩ cộng sản tốt,
Không hối hận, theo tôi,
Đó là sự mù quáng,
Là giáo điều nặng nề.
Riêng việc ấy cho thấy
Đầu óc có vấn đề.
Hai, người ta nhẫn nhục
Để phục quốc cứu người.
Ông thì hèn, chịu nhục
Để được sống hết đời.
Ba, tài năng quân sự.
Tôi không là chuyên gia.
Nghe đồn cái tài ấy
Là của người Trung Hoa.
Ông, như nhiều tướng khác,
Chiến tranh thì nhân dân,
Mà trận nào cũng thế,
Nổi tiếng nướng nhiều quân…”

Gần đây, nghe nói, Thái Bá Tân đã tìm đến Phật Pháp. Và có lẽ, đó là nơi trú ngụ hồn ông lúc về chiều. Và càng đi sâu vào Phật pháp mênh mông, dường như thơ của Thái Bá Tân đến gần hơn với luật báo ứng, nhân quả. Dân Đại Bái Chơi Đẹp là một bài thơ như vậy. Tuy chỉ là những thống kê qua lời kể, nhưng những cái chết đó như một lời cảnh tỉnh, đầy lòng nhân ái của người thi sĩ gửi đến những kẻ đang cỡi lên đầu, lên cổ người dân lương thiện:

“…Nghe nói đâu tháng trước
Cả gia đình sáu người
Của một quan địa chính
Từng vang bóng một thời
Đã phải chết thảm khốc
Vì tai nạn giao thông.
Phải chăng là nhân quả?
Dẫu sao cũng đau lòng.
Lại nữa, một cán bộ
Cũng liên quan đất đai,
Đã bị dân chém chết
Đâu đó ở Gia Lai.
Chuyện như thế nhiều lắm.
Chuyện ân oán giang hồ.
Chắc quan tham cũng biết
Và chắc cũng đang lo.”

Đọc thơ ngũ ngôn Thái Bá Tân, cho tôi cảm giác mỗi bài là một trang sử ký, mà ông đã cần mẫn ghi lại. Với tôi, đó là những trang thơ, trang sách sống. Và tôi tin, dù còn phải sống trong một xã hội mịt mù, u ám, cùng với nó, trái tim người nghệ sĩ đích thực Thái Bá Tân vẫn sống cùng thời gian.

Leipzig ngày 4-9-2016
Đỗ Trường

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Thái Bá Tân

Covid-19 phát xuất từ Phòng thí nghiệm Vũ Hán_Nguyễn Thị Cỏ May

 

Nguồn gốc Covid-19 phát xuất từ

Phòng thí nghiệm Vũ Hán

Nguyễn Thị Cỏ May

Covid-19 khởi phát vào cuối năm 2019 tại Vũ Hán, trở thành đại dịch nhanh chóng lây lan ra toàn cầu. Đến nay, nó đã gây nhiễm gần 160 triệu người, giết hại hơn 3,3 triệu người . Một tổ chức nghiên cứu của Mỹ mới đây ước tính số tử vong rất có thể gấp đôi .

Sự xuất hiện các biến chủng (le variant) khiến nhiều quốc gia phải khó khăn đối phó để bảo vệ sức khỏe dân chúng . Nay Mỹ, tâm dịch lớn nhứt thế giới, sắp kiểm soát được Covid-19 nhờ chương trình tiêm chủng . Tiếp theo, Ấn độ liền trở thành tâm dịch lớn thứ hai mà tình hình chống dịch vẫn chưa thấy dấu hiệu lạc quan . Mỗi ngày, Ấn Độ có hàng trăm ngàn người bị bệnh và hàng ngàn tử vong . Một số nước ở gần đó như Thái lan, Miên, Lèo và Việt nam đang bị dịch Ấn độ lây lan.

Virus Vũ Hán đã ác ôn mà nó còn biến thể nhanh chống và những loại mới lại còn ác hơn .

Tiến sĩ Sebastian Maurer-Stroh, Giám đốc Viện Thông tin Sinh học của Cơ quan Khoa học Singapore, cho biết Covid-19 đã biến thể  6.600 lần kể từ khi nó được phát hiện lần đầu tiên vào cuối năm 2019 ở Vũ hán . Ông giải thích : « Covid-19 biến đổi bất cứ khi nào xảy ra “sai sót” trong quá trình sao chép. Điều này có thể dẫn đến việc thêm vào, xóa đi hoặc thay đổi bộ gen di truyền của virus. Nếu sai sót đó làm tăng khả năng sinh tồn của virus thì virus bản sao của những sai sót đó sẽ tồn tại lâu hơn, thậm chí áp đảo phiên bản ban đầu ».

Để đối phó với tầm nguy hại của virus Vũ hán, nhà báo Brice Perrier (tuần báo Marianne), dành phần cuối quyển sách điều tra về nguồn gốc Covid-19 (Sars-CoV-2 . Aux origines, Paris, 5/2021) đưa ra lời kêu gọi các nhà khoa học trên thế giới hảy hợp tác cùng nhau mở cuộc điều tra khoa học rốt ráo, đến nơi đến chốn về nguồn gốc Covid-19 để có biện pháp ngăn ngừa bệnh dịch mới trong tương lai . Lời kêu gọi vừa phổ biến, có ngay 27 nhà khoa học của nhiều quốc gia khác nhau hưởng ứng ký tên. 

Sau thời gian dài điều tra tỉ mỉ, ông kết luận Covid-19 đúng là virus Vũ hán, do một sơ xuất nào đó, nó từ phòng thí nghiệm Vũ hán thoát ra và lây lan khắp nơi cho tới ngày nay như ta biết .

Người thứ hai là Giáo sư Joseph Tritto, người Ý, trong quyển sách của ông xuất bản hồi nửa năm rồi,gây nhiều tranh cãi chỉ vì ông xác nhân Covid-19 đến từ phòng thí nghiệm vV hán (China Covid 19. La chimère qui a changé le monde – Edizioni Cantagalli, Sienne, 2020) .

Từ phòng thí nghiệm vũ hán

Trong một buổi tối váo cuối năm 2019, Cơ quan Y tế của Thành phố Vũ hán phổ biến khẩn một báo cáo điều trị một trường hợp bệnh sưng phổi mà nguyên nhơn chưa biết . Hôm sau, Cơ quan Y tế khám phá ra một thứ Corona mới ở hai bệnh nhơn khác . Bà Giám đốc Phòng thí nghiệm Vũ hán vội báo tin cho nhà vi trùng học « người dơi », bà Zhengli Shi . Theo Bác sĩ Zhengli Shi, « chưa bao giờ bà nghĩ bệnh sưng phổi do Coronavirus gây ra lại có thể xảy ra ở Vũ hán , trung tâm nước Tàu . Vì nó phải xảy ra nơi có con vật có thể gây truyền nhiễm thì mới hợp lý » . 

Coronavirus của dơi là đối tượng nghiên cúu của Bác sĩ Zhengli Shi trong phònh thí nghiệm Vũ hán từ năm 2017, đem kết hợp nó với một virus khác để tạo ra một con khác quái ác có thề xâm nhập vào tế bào con người qua đường hô hấp . Mục đích của thí nghiệm là tìm hiểu tình trạng của người bị nhiễm virus để từ đó nghiên cúu cách chửa trị và đề phòng . Nhưng thế nào đi nữa thì việc nghiên cúu tìm ra thứ virus này vẫn là việc làm có hậu quả nguy hiểm chết người khó kiểm soát .

Khi công trình nghiên cứu đăng trên báo Nature nhiều nhà khoa học liền phản ứng, bảo rằng rủi con virus thoát ra ngoài do sơ xuất thì khó ai biết được nó sẽ lây lan như thế nào và đi tới đâu . Có người nhớ lại lời bà Zhengli Shi nói với chính bà sau khi nhận được thông tin từ bà Giám đốc phòng thí nghiệm Vũ hán « Nếu đúng con coronavirus là nguyên nhơn trường hợp bịnh sưng phổi đó, thì có lẽ nào nó từ phòng thí nghiệm của ta thoát ra sao?» .

Covid-19 không phải từ thiên nhiên, do người chuyên môn làm ra

Đây là lời xác nhận về nguồn gốc virus Vũ hán của Giáo sư Joseph Tritto trong quyển sách của ông . Và ông « xác nhận lập luận của Giáo sư người Pháp, ông Luc Montagnier, Covid-19 do phòng thí nghiệm vũ hán thoát ra là đúng » (Báo France Soir) .

Quyển sách của ông viết về nguồn gốc con virus Vũ hán đang gây đại dịch cho cả thế giới xuất bản ở Ý vào giữa năm rồi gây tranh cải sôi nổi và làm đảo lộn thế giới trong sáu tháng qua . Lập luận trước đây của Giáo sư Luc Montagnier của Pháp, giải Nobel Y khoa năm 2008, là Covid-19 do con người làm ra trong phòng thí nghiệm Vũ hán nay được Gs Tritto xác nhận là đúng qua nhiều phân tích khoa học của ông . Nhưng nó không phải chỉ do Tàu làm ra, mà có sự hợp tác của Huê kỳ và Pháp nữa . Ông cắt nghĩa rỏ nguồn gốc virus, tiên khởi là do ý của Tàu muốn nghiên cứu vaccins chống bệnh SRAS (bệnh hô hấp), ghép bộ gène VIH làm cho nó trở thành dữ hơn, thêm vào yếu tố coronavirus tìm được trên dơi, theo hệ thống di truyền đảo ngược 2 . Nhà khoa học tàu làm việc có kết quả với bộ gène VIH nhờ học hỏi ở những nhà khoa học pháp của Viện Pasteur gởi qua huấn luyện .

Huê kỳ cũng giúp bằng ngân quỉ của USAID và nhơn sự, có Giáo sư Ralph Baric của Trường Đại học Caroline du Nord cùng với một số đồng nghiệp của ông tới Vũ hán . Các nhà khoa học người Mỹ rất quan tâm tới việc nghiên cúu virus Corona vì việc này bị cấm ở Huê kỳ từ năm 2017 (nhà báo Steve Hilton v/v Giáo sư Anthony Fauci hợp tác và tài trợ phòng thí nghiệm Vũ hán nghiên cúu coronavirus để tạo ra một thứ virus dữ nên bị Chánh quyền Obama cấm nhưng ông vẫn tiếp tục . Và Covid-19 ra đời) .

Theo Gs Joseph Tritto, Phòng thí nghiệm P4 Vũ hán, ban đầu làm việc nhằm phục vụ Y tế nhưng sau đó từ từ thay đổi trở thành Phòng nghiên cứu « kỹ thuật sinh học » (bio-ingénierie), nhận nhiều tài trợ của chánh quyền Bắc kinh, đặt dưới sự kiểm soát của Hàn lâm Viện khoa học và chánh phủ Tàu, sản xuất vũ khí sinh học giết người hàng loạt .

Gs Tritto nghĩ « Gs Zhengli Shi chắc không có quyền lợi gì mà nghiên cúu Coronavirus cho quân đội tàu nếu bà không bị bắt buộc phải làm» . Một Trung tướng của Quân đội, bà Chen Wei, chuyên môn về vũ khí sinh hóa và sinh học khủng bố, liền được đề cử vào chức vụ chỉ huy viện vi trùng học Vũ hán, làm việc với một ê-kiếp gồm có Zhong Nanshan, chuyên về bệnh phổi, nổi tiếng với 2 nghiên cúu dài về bệnh sưng phổi do virus .

Điều lạ là từ khi phòng thí nghiệm Vũ hán do quân đội kiểm soát, người ta không ai còn nghe nói tới Giáo sư Zhengli Shi nữa . Bà đã bị mất tích?

Trong sách, Gs Tritto nhận xét những nhà khoa học tàu lúc đầu làm việc vì nhu cầu hiểu biết khoa học nhưng sau đó, vì ham quyền lực, sự thăng tiến nghề nghiệp, và sau cùng, ham tiền!

Ông dành một phần sách nói về việc nghiên cúu tìm vaccins  Trong việc làm này, Viện và Phòng thí nghiệm cạnh tranh nhau, nhưng không vì tìm thuốc cứu người khỏi chết vì bệnh dịch, mà chỉ nhằm đưa ra trước vaccins để tung ra bán khắp thế giới. Trung quốc xưa nay vẫn nổi tiếng về nghề đầu cơ tích trữ lượm bạc cắc ! Và cũng vì vậy mà cho tới nay, Trung quốc chỉ đưa ra báo cáo về Covid-19 từng phần, chưa hề đưa ra « virus mẹ » . Vì khi có « virus mẹ », người ta sẽ làm ra được vaccin phổ quát, hiêu quả ngăn ngừa bệnh dịch  cho mọi người . Nhưng trái với mục tiêu bạc cắc và chánh trị của Xi .

Và đây cũng là lý do để hiểu tại sao Bác sĩ Ai Fen lên tiếng báo động có một thứ « cúm lạ » xuất hiện vào tháng 11/2019 ở nhà thương Vũ hán liền bị an ninh nhà thương cô lập . Tiếp theo Bác sĩ nhãn khoa Li Wenliang cũng bị cưởng bách im lặng và ông chết vì Covid-19 vài ngày sau đó .

Giáo sư Tritto không quên nhắc lại Tổ chức Y tế Thế giới đã không giữ đúng vai trò khoa học của mình mà lại biến mình làm con rối cho Tàu cộng. Nên ông thiết tha mong muốn thế giới có những qui định cứng rắn về việc nghiên cứu vi trùng học, về sự hợp tác lương thiện, minh bạch giữa phòng thí nghiệm dân sự và quân sự . Riêng Trung quốc phải ký kết Qui ước về võ khí sinh học và các chất độc khác . 

Nhưng ông không nói thêm hãy kêu gọi các nước dân chủ văn minh trên thế giới bắt tay nhau chặt chẽ, luận tội giết người hàng loạt của Xi và đảng cộng sản trung quốc, truy tố tội phạm ra trước Tòa án Pháp lý Quốc tế, và đòi bồi thường thiệt hại về người và của do virus vũ hán gây ra .

Nguyễn thị Cỏ May

(Nguồn: Rangdongonline.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Covid-19 phát xuất từ Phòng thí nghiệm Vũ Hán_Nguyễn Thị Cỏ May

Quê hương là mùi… nước mắm! (Huy Phương)

Quê hương là mùi… nước mắm!

Huy Phương

(Người Việt Online) Người ta định nghĩa quê hương bằng nhiều lối, đối với tôi, cũng không là chùm khế ngọt hay con diều biếc, mà quê hương chính là mùi… nước mắm!

Đã là người Việt Nam, ai cũng mê nước mắm. Thích thì còn bỏ được, nhưng mê thì có phần đắm đuối, khó xa rời.

Tôi có ba tháng ở Mỹ năm 1955 theo học một khóa chuyên môn ở tiểu bang Indiana, thời đó chưa có người Việt nhiều, nhớ nhà thì ít mà nhớ nước mắm thì nhiều. Bởi vậy chúng ta, người đến Mỹ trong vòng hai, ba mươi năm nay, nên thông cảm cho những người Việt đến quận Cam này trước, còn cái mừng nào bằng, mấy tháng sau mới đi Los Angeles, mua được chai nước mắm.

Chúng ta nghĩ sao về sức mạnh của nước mắm khi mấy bà có “rể Mỹ” khoe, “thằng này mê nước mắm lắm!” Chuyện mê này khó lòng mà dứt ra được.

Mà phải nước mắm có mùi vị thơm tho gì cho cam! Lỡ có một giọt nước mắm dính vào áo thì mười giọt nước hoa cũng không át mùi nước mắm đi được. Nhưng bữa ăn của người Việt làm sao thiếu được nước mắm. Trong dĩa cá kho, tô canh, món rau chấm và thêm một chén nước mắm pha hay nước mắm chanh ớt để bên cạnh. Trong mâm cơm người mình, đi từ căn bản là chén nước mắm với cái trứng vịt luộc, món rau muống hay cải luộc của nhà nghèo, rồi xa hơn mới có dĩa cá kho hay tô canh.

Trong đói nghèo, người ta còn làm được nước mắm giả để lừa con mắt mà không lừa được vị giác. Sau năm 1975, bị tù tập trung ngoài Bắc, tù nhân được cho ăn một bữa ba muỗng nước mắm giả. Nhà bếp nấu sôi nước muối trong một cái chảo chung với một nắm lá chuối khô, thứ đã ngả màu nâu vàng, từ đó màu nước mắm đậm lạt là tùy nhà bếp. Sáng kiến này đã cho chúng ta một thứ nước mà màu sắc rất giống nước mắm. Cứ nghĩ nó là nước mắm XHCN đi, nghe mặn trong miệng là được! Trong bao nhiêu thứ chiêu bài giả hiệu, thêm một vài muỗng nước mắm này cũng chẳng sao!

Đối với tôi, nước mắm là món quà của Trời Đất dành cho người Việt Nam! Những quốc gia có bờ biển dài, nơi nào cũng có kỹ nghệ đánh cá, như Canada, Indonesia, Nga, Philippinnes, Nhật Bản, kể cả Hoa Kỳ… nhưng không nơi nào có sáng kiến làm được nước mắm và biết ăn nước mắm như Việt Nam. Trong khi đó chiều dài của bờ biển, chúng ta chỉ được xếp hạng thứ 33 trên thế giới.

Một nước gần gũi với chúng ta nhất về văn hóa và địa lý là Trung Quốc, có bờ biển 14,500 km, dài gấp 4 lần Việt Nam mà cũng không biết làm một chất nước chấm từ con cá mà phải ăn… xì dầu! Thế mới biết không phải người ta giàu vì rừng vàng biển bạc, mà có trí tuệ biết khai thác tài nguyên của thiên nhiên.

Xa quê hương, không cần phải thấy “khói sóng trên sông,” chỉ nghe mùi nước mắm là cũng đủ nhớ nhà. Bạn đi Pháp, sang Ý, lên Bắc Âu hay Bắc Á, qua Úc hay Tân Tây lan, cũng không tìm đâu ra mùi nước mắm, nhưng khi nghe được mùi nước mắm là “cầm được tay, day được cánh” thấy quê nhà bên cạnh rồi.

Không thể nào nhầm lẫn! Tô phở là của người Việt, tô mì là của người Tàu! Cũng không ai ăn phở với xì dầu, cũng như không ai chan mì với nước mắm! Sau 1,000 năm bị lệ thuộc dân Tàu, dân tộc Việt vẫn không thể nào thích nghi với… xì dầu, mà vẫn nặng lòng với nước mắm!

Chúng ta không thể phủ nhận rằng, nước mắm truyền thống chính là “tinh hoa của dân tộc,” và cũng là món “quốc hồn quốc túy” của Việt Nam. Người Việt không thể thiếu nước mắm hay nói đến nước mắm là phải nghĩ đến người Việt.

Cá đem ướp muối trong vòng từ 6 tháng đến hơn một năm, trong những chiếc thùng bằng gỗ lớn, cho ta một thứ nước mắm tinh chất (nhĩ) đợt đầu, và sau đó là nước mắm các hạng, nhưng cũng là chất liệu làm từ cá biển. Vào thời nhiễu nhương, nước mắm bị pha chế bằng các loại phẩm bột màu, và “mùi” nước mắm, mà không cần đến cá biển. Ngày nay hóa chất có đủ loại hương vị, chúng ta có thể dễ tính, uống một ly sinh tố xoài mà không có chút xoài nào hay một ly cà phê không làm từ hạt cà phê!

Như vậy nước mắm Việt Nam không thể nào “made in USA” được mà may ra chúng ta chỉ có một thứ nước pha mùi và pha màu “giống như nước mắm!” tạm gọi là một thứ nước chấm, vì công đoạn ướp cá làm cho cá lên men và các nhà máy sản xuất nước mắm chưa đủ điều kiện vệ sinh thích hợp trong môi trường của nước Mỹ.

Người ta thấy bỗng nhiên, mới đây, nhà cầm quyền Việt Nam đặt chuyện nước mắm truyền thống và nước mắm công nghiệp. Một dự thảo về “quy phạm thực hành sản xuất nước mắm” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn soạn thảo có nhiều nội dung mang tính chất “bóp nghẹt” các cơ sở nước mắm truyền thống, có tính cách hướng dẫn, quy định, như cần kiểm soát các loại thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật trong khi nguyên liệu làm nước mắm là cá biển, không thể có thuốc thú y. Câu chuyện giữa các nhà sản xuất nước mắm và chính quyền chưa biết sẽ đi về đâu, nhưng dư luận cho rằng “Nhà Nước” đang muốn đưa bàn tay dẹp bỏ loại nước mắm truyền thống!

Việt Nam Cộng Sản đã từng kêu gọi dùng tiếng Tàu và bỏ chữ quốc ngữ, và bỏ Tây y dùng thuốc Bắc. Gần đây “quái thai” Bùi Hiền lại đề xuất viết quốc ngữ mới! Không lẽ giờ đây đảng Cộng Sản Việt Nam chủ trương bỏ nước mắm để ăn… xì dầu cho giống Tàu? (Huy Phương)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Quê hương là mùi… nước mắm! (Huy Phương)

Vẻ Vang Dân Việt _Thanh Trúc

Vẻ vang dân Việt
 

Thanh Trúc

 

Cựu Trung Úy Lê Văn Thiệu, tốt nghiệp khóa 1 Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt bị tập trung trong các trại tù cộng sản 7 năm.  Sau khi đi tù về, ông làm nghề thợ mộc nuôi con cho mãi đến năm 1995, gia đình mới sang Mỹ theo một chương trình H.O. khá muộn màng: H.31.

Sau 5 năm định cư tại Hoa Kỳ, năm 2000, con đầu là Lê Thành học xong bằng Master về ngành điện tử tại đại học UTA (University of Texas at Arlington).

Năm 2004, con trai thứ ba, Lê Ðức Hiếu tốt nghiệp Master Computer science.

Năm 2005, Lê Huy, con trai thứ nhì, lấy bằng tiến sĩ cũng ngành điện tử.

Năm 2010, con trai út Lê Ðức Hiển, ra đời năm 1982 sau khi ông Thiệu từ trại tù trở về, cũng đã tốt nghiệp y khoa.

Vào năm 2005, nhân ngày lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập hội H.O. Dallas-Fort Worth, gia đình ông Lê Văn Thiệu đã được vinh danh là một gia đình đến Mỹ muộn màng nhưng đã sớm thành công trên đất người.
Năm 2006, ba anh em nhà họ Lê thành lập công ty “Luraco technologies, Inc.” sử dụng kỹ thuật cao (high-tech) chuyên về nghiên cứu và chế tạo sản phẩm cho quốc phòng Mỹ.

Ba năm trước, công ty được cấp kinh phí từ US Army để nghiên cứu và chế tạo ra một bộ cảm ứng thông minh (Intelligent Multi-Sensor) cho hai động cơ trực thăng chiến đấu hàng đầu của Mỹ là Blackhawk và Apache. 

Ðể làm được điều này, nghiên cứu (research proposal) của công ty Luraco phải xuất sắc và vượt trội hơn nhiều công ty danh tiếng khác. Phát minh bộ cảm ứng thông minh này của công ty Luraco sẽ tiết kiệm hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ về vấn đề bảo trì và an toàn cho hai loại máy bay trên. Hãng WPI tại Fort Worth, Texas đã mời Tiến Sĩ Lê Huy làm việc với chức vụ là khoa học gia (scientist) để đảm trách việc nghiên cứu về Flexible Active Circuits và Optical Sensors dùng trong hỏa tiễn và phi thuyền không gian. Hai năm qua, công ty Luraco cũng thắng được hai hợp đồng với US Air Force và được cấp kinh phí để chế tạo hệ thống kết nối những sensors FADEC (Full Authority Digital Electronic Control) trong động cơ phản lực F.35 của Không Quân Hoa Kỳ. FADEC là project lớn dưới sự giám sát của cơ quan NASA Hoa Kỳ.

Ngoài NASA, công ty Luraco vinh dự được làm việc chung với Boeing và GE là hai công ty chế tạo động cơ phản lực (jet engine) cho phản lực cơ Hoa Kỳ. Ðây là công ty duy nhất của người Việt Nam nhận được kinh phí trực tiếp từ Bộ Quốc Phòng Mỹ để nghiên cứu và chế tạo những sản phẩm kỹ thuật cao cho quân đội. Người Mỹ khó tin được là các em trong công ty mới mẻ này là con một gia đình tỵ nạn cộng sản chỉ mới đặt chân đến Hoa Kỳ từ năm 1995. Thực dụng trong ngành thẩm mỹ ở Mỹ, Luraco là công ty đầu tiên sáng chế ra ghế Mini Pedicure Spa cho trẻ em, Jet nam châm (Magna-Jet) cho bồn Spa, máy khử mùi hóa chất (ChemStop) và máy hút bụi nail (Partigon) cũng như ghế Massage iRobotics. 

Hai năm liền 2010 và 2011, công ty Luraco được vinh dự đón nhận bằng khen là một trong 50 công ty Châu Á phát triển nhanh nhất trên toàn quốc Hoa Kỳ. Năm 2010, công ty Luraco được xếp hạng thứ 69 trong 100 công ty phát triển nhanh vùng Dallas Fort Worth do Khoa Thương Mại trường Ðại Học SMU bình chọn. Trong bốn anh em nhà họ Lê, Tiến Sĩ Kevin Huy Lê là một thành viên trong Hội Quang Học Quốc Tế (The International Society for Optical Engineering) và là người giám định (Peer Reviewer) cho nhiều công bố về khoa học kỹ thuật cũng như tác giả của hơn 20 “technical publications in journals and conference proceedings.”

Những ngày ở Gio Linh: Nhớ lại những ngày xa xưa, Lê Thành, giám đốc công ty Luraco, ngày nay cũng là một MC và “Mạnh Thường Quân” của cộng đồng tị nạn tại Dallas, Ft. Worth, đã nói rằng anh không bao giờ quên những ngày khốn khổ ở vùng quê Gio Linh, một vùng bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề, ngổn ngang những đống gạch vụn và những hố bom. Sau tháng 4, 1975, khi thân phụ phải vào trại tù tập trung, mẹ anh phải đưa các con về nương tựa bên ngoại. Khi mẹ anh kiếm được một chân y tá tại trạm y tế Gio Linh, Thành mới lên 5 tuổi, cùng với đứa em kế theo mẹ về trạm xá, còn hai em nhỏ trong đó có một đứa mới sinh phải “rứt ruột” gởi cho ông bà ngoại nuôi. Ba mẹ con ở trong một căn phòng lợp tranh, vách đất, không có điện bên cạnh trạm xá. Sau những giờ đi học, Thành phải đi mót củi, nấu cháo hay khoai và trông chơi với em. Thành rất thương mẹ, nhớ đến những lúc mẹ khóc, nước mắt ướt cả mặt anh vì cuộc sống quá cơ cực, cô đơn mà chồng không biết lưu lạc ở trại tù nào. Con đến trường thì bị gọi là “con ngụy”, mẹ nơi chỗ làm thì được xem là “chồng có nợ máu!”

Sau 7 năm, khi cha của ông đi tù về mở một tiệm mộc, mẹ ông bỏ việc trở về sum họp với gia đình tại thôn Gio Mai. Thành lên trung học rồi thi đỗ vào Ðại Học Sư Phạm Huế. Những năm cuối cùng trước khi lên đường đi Mỹ, Thành dạy tại trường Cao Ðẳng Sư Phạm Quảng Trị. Nhờ những tín chỉ của ÐH Sư Phạm, chỉ 5 năm sau khi đến định cư tại Dallas- Ft Worth, Lê Thành đã lấy xong Master ngành điện tử, cùng với các em Lê Hiếu, bốn năm sau lấy bằng tiến sĩ cùng ngành để xây dựng lên một công ty có đủ khả năng cạnh tranh với các công ty lớn của Mỹ. 

So với những gia đình cựu tù nhân khác, gia đình ông Lê Thiệu đến Mỹ tương đối muộn vì lúc ra tù, ông tìm về quê cũ, một vùng đất xa xôi, nghèo khổ, xa ánh sáng đô thị, thiếu hẳn tin tức và bạn bè. Nhất là sau khi Thừa Thiên, Quảng Trị sát nhập với Quảng Bình của miền Bắc để thành Bình Trị Thiên, tỉnh này thuộc cơ chế hành chánh của miền Bắc, khắt khe và đầy sự kỳ thị. 

Mãi đến đầu năm 1990, khi thấy rõ, chắc chắn bạn bè lên đường đi định cư ở Mỹ, ông Lê Thiệu mới dám nộp đơn cho công an địa phương. Nhờ tinh thần hiếu học và sự cố gắng vươn lên trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tuổi ấu thơ nên khi đến Mỹ, anh em nhà họ Lê như giống tốt gặp môi trường đất đai, khí hậu, phân bón tốt đã đâm chồi, nẩy lộc, cho trái tốt. Tuy vậy “nhớ công ơn cha mẹ đã trải qua những nỗi nhọc nhằn, tạ ơn nước Mỹ, đất của cơ hội đã cưu mang cho chúng con một đời sống mới và cộng đồng người Việt tị nạn luôn luôn gần gũi, thương yêu gia đình chúng con,” đó là những lời giãi bày của những đứa trẻ từ mảnh đất Gio Linh nghèo khó, hôm nay đã thành công trên đất nước Hoa Kỳ.

Công ty Luraco của người Việt ký hợp đồng với Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ
Luraco Technologies lọt vào Top 50 tức 50 công ty hàng đầu do người Mỹ gốc Châu Á làm chủ có tiềm năng và đã phát triển mạnh.

Luraco Technologies Inc. là một công ty kỹ thuật cao, thành lập năm 2005 do ba anh em trong một gia đình người Việt điều hành.

Đây là một gia đình từ Đông Hà, Quảng Trị sang Mỹ theo diện HO năm 1995, định cư tại nơi Luraco ra đời là thành phố Arlington thuộc quận Tarrant tiểu bang Texas 18 năm qua. Quận Tarrant, bao gồm hai thành phố rộng lớn Dallas Fort Worth và Arlington, cũng có một ủy viên người Mỹ gốc Việt, anh Nguyễn Xuân Hùng.

Tuần trước, trong một lần gặp gỡ với ủy viên Tarrant County Nguyễn Xuân Hùng, Thanh Trúc được nghe về Luraco Technologies như sau:

“Tôi quen anh Lê Thành, anh Kevin Lê và các anh em trong gia đình đó. Tôi rất hãnh diện về những thành đạt của công ty Luraco Technologies, một trong những tiểu thương vượt bực trong vùng Bắc Texas này, đã được tổ chức SBA Small Business Administration công nhận điều đó. Tôi có đi tham dự nghi lễ trao tặng giải thưởng, tôi cũng rất hãnh diện và vui lây cho sự thành công đó của gia đình anh Lê Thành. Một trong những đặc điểm làm Luraco khác với những công ty khác là luôn khiêm nhường trước những thành công của mình, và đặc biệt Luraco lúc nào cũng đóng góp, tái đầu tư lại trong cộng đồng Á Châu và cộng đồng Việt Nam của chúng ta.  Luraco lúc nào cũng đóng góp, tái đầu tư  trong cộng đồng Á Châu và cộng đồng Việt Nam của chúng ta.” (Ô. Nguyễn Xuân Hùng, UV quận Tarrant)

Ba người trong năm anh chị em của gia đình đã tạo dựng công ty kỹ thuật cao Luraco là anh cả Lê Thành, giám đốc điều hành Luraco, người em kế Lê Huy Kevin, tiến sĩ ngành Quang Học Điện Tử, giám đốc kỹ thuật, đã sáng chế Bộ Cảm Ứng Thông Minh Intelligent Multi- Sensor, sử dụng trong hai động cơ trực thăng chiến đấu Blackhawk và Apache của quân đội Hoa Kỳ. 

Bên cạnh đó, Luraco Technologies còn đảm nhận hợp đồng của Bộ Quốc Phòng để nghiên cứu và sáng chế các cơ phận điều khiển và phản ứng cho phản lực cơ chiến đấu F35 của không lực Hoa Kỳ. Đó cũng là lý do hai lần liên tiếp Luraco Technologies được vào Top Denfense Contractors của Tarrant County.

Đến với mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay, tiến sĩ Lê Huy Kevin là người đầu tiên nói chuyện cùng quí vị:

“Về hệ thống Multi Sensor, Hệ thống Cảm Ứng Thông Minh mà công ty Luraco Technologies đã thành công phát minh ra được thì Kevin không được phép nói nhiều. Nhưng nói sơ thì đây là hệ thống được dùng trong các máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ và nó đảm nhiệm nhiều chức vụ rất quan trọng. Bên cạnh đó, công ty Luraco Technologies đã vinh dự nhận được sự ủng hộ của US Air Force, đã cung cấp chi phí để công ty nghiên cứu và phát triển ra một hệ thống điều khiển và phản ứng trong máy của F35.”

Để có thể ký được những hợp đồng chế tạo Bộ Cảm Ứng Thông Minh cho trực thăng Blackhawk và Apache của quân đội Hoa Kỳ, tiếp đến là hệ thống kiểm soát và cảm ứng trong máy móc của phản lực cơ chiến đấu F35, giám đốc kỹ thuật Lê Huy giải thích tiếp:

“Bước chân vào lãnh vực nghiên cứu cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ là một quá trình rất khó khăn. Nghiên cứu khoa học đã khó rồi mà làm cho quốc phòng lại càng khó hơn. Thứ nhất, đối với quốc phòng Hoa Kỳ, khoa học kỹ thuật của họ rất cao, người ta chỉ bỏ tiền ra cho các công ty nghiên cứu những dự án mà chưa được làm, những gì phải rất mới mẻ, phải rất novel tức phải rất advanced, rất tân tiến thì người ta mới bỏ tiền ra chi cho các công ty nghiên cứu mà thôi. Một điều nữa, khi giao trách nhiệm cho một công ty làm nghiên cứu cho họ thì người ta audit tức là người ta kiểm tra công ty đó về khả năng có làm được hay không, có đủ máy móc trang thiết bị hay không rồi thì lý lịch của từng kỹ sư, từng khoa học gia trong nhóm làm nghiên cứu cho dự án đó, nói chung là có đủ trình độ kỹ thuật cao hay không và công ty đó có tin tưởng được hay không nữa chứ người ta không muốn giao dự án cho một công ty mà có thể một năm hay hai ba năm sau công ty đó không còn tồn tại. Thành thử khi nhận được dự án của bên chính phủ, đặc biệt bên Bộ Quốc Phòng của Hoa Kỳ, thì rất khó khăn. Điều vinh dự là chúng tôi đã được sự ủy nhiệm của Bộ Quốc Phòng giao cho công ty Luraco Technology đảm nhiệm nghiên cứu khoa học được dùng trong Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Không chỉ là công ty công nghệ cao…” 

Theo giám đốc điều hành Lê Thành, Luraco không phải là công ty lớn nhưng để làm được những dự án cho quốc phòng thì cũng phải hội đủ những điều kiện cần thiết:

Như tiến sĩ Huy Lê có nói là quốc phòng họ audit thường xuyên chứ họ không muốn đưa tiền mà cuối cùng không nhận được cái gì, thành ra là cái điều hành của một công ty mà coi như đầy đủ tất cả các ban ngành, đồng thời phải căn cứ vào cái standard của Bộ Quốc Phòng thì thực ra đó cũng là một vấn đề khó khăn.

Những ban ngành mà giám đốc điều hành Luraco, anh Lê Thành, vừa đề cập tới có thể được kể ra là Ban Quản Lý, Ban Khoa Học Kỹ Thuật, Ban Kế Toán, Ban Nhân Sự, Ban Tiếp Thị…
Bên cạnh đó, giám đốc kỹ thuật Lê Huy trình bày tiếp:
Bằng chứng nhận Luraco Tech. được xếp hạng 50 công ty hàng đầu do người Mỹ gốc Châu Á làm chủ

“Dưới sản xuất thì có Bộ Phận Sản Xuất, Ban Yểm Trợ Sản Xuất, Ban Yểm Trợ Kỹ Thuật. Tất cả các ban phải phối hợp làm việc và hỗ trợ lẫn nhau để dẫn dắt công ty mỗi ngày càng phát triển.

Rất nhiều người Mỹ làm trong này rồi người Ấn Độ, người Việt Nam cũng nhiều. Người Mexico vô đây xin việc cũng nhiều lắm nhưng anh em vẫn nói với nhau là mình tạo ra công ăn việc làm thì mình giúp cho công đồng Việt Nam chúng ta.

Tháng Năm vừa qua, Luraco Technologies được giải thưởng Exporter Of The Year, Nhà Xuất Khẩu Của Năm, do SBA Phòng Tiểu Thương quận Tarrant trao tặng. Cũng trong hai năm liền, 2011 và 2012, Luraco Technologies lọt vào Top 50 tức 50 công ty hàng đầu do người Mỹ gốc Châu Á làm chủ có tiềm năng và đã phát triển mạnh.

Công ty Luraco hai năm liền (2011-2012) đứng Top 50 công ty toàn quốc do người Mỹ gốc Châu Á làm chủ về sự phát triển mạnh và hứa hẹn. Đồng thời cũng hai năm liền đạt danh hiệu Top Defense Company Công Ty Quốc Phòng Hàng Đầu ở Tarrant County tức là vùng này. Vùng Dallas Fort Worth này có rất nhiều hãng Defense Company, trong đó ngay cả Lockheed, Bell Helicopter, Raytheon là những công ty tên tuổi trong ngành quốc phòng, nhưng Luraco Technologies vinh dự được bình chọn là Top Defense Company trong quận Tarrant và được hai lần như vậy, năm 2011 và 2012.

Công ty Luraco Technologies đã vinh dự nhận được sự ủng hộ của USS Air Force, đã cung cấp chi phí để công ty nghiên cứu và phát triển ra một hệ thống điều khiển và phản ứng trong máy của F35.”  (Tiến sĩ. Lê Huy Kevin)

Với đầu óc kinh doanh nhạy bén cộng thêm tính cần mẫn, anh em nhà họ Lê trong Luraco Technologies còn tận dụng công nghệ cao để chế tạo những sản phẩm tiên phong cho ngành móng tay thẩm mỹ mà người Việt ở Hoa Kỳ gần như chiếm lĩnh thị trường của đất nước này:

Luraco có 3 divisions, một phần làm cho quốc phòng Hoa Kỳ, một phần làm cho sức khỏe và thẩm mỹ và một phần làm những bộ điều khiển hệ thống bồn tắm Jacuzzi, cái này cũng đi vào thị trường Mỹ. 

Còn về ngành Nails, Việt Nam chúng ta chiếm 75% thị trường Nails của thế giới chứ không phải của Hoa Kỳ nữa thì Luraco có nhiều sản phẩm tiên phong trong đó. Ví dụ Luraco là công ty đầu tiên chế tạo ra cái ghế Mini Spa cho trẻ em, Luraco là công ty đầu tiên trên toàn cầu nghĩ ra và làm ra cái ghế Pedicure Spa cho trẻ em. Rồi Luraco đã được đài truyền hình NBC đưa tin nhiều lần vì đây là cái đột phá mới trong vấn đề vệ sinh an toàn và có rất nhiều sản phẩm mà Luraco là công ty tiên phong. 

Còn ví dụ như ghế massage Irobotics, Luraco là công ty đầu tiên và duy nhất chế tạo ra ghế massage vật lý trị liệu y khoa. Không phải tự hào là đầu tiên nhưng ít ra Luraco cũng làm được cái điều mà Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc đã làm thì Việt Nam cũng có công ty đầu tiên là Luraco làm.

Với 18 năm định cư tại đất mới, chưa được hai thập niên khi tương đối đã lớn tuổi, do đâu mà các anh em trong gia đình lại thành đạt như vậy? Trả lời câu hỏi này, tiến sĩ Lê Huy cho biết có thể nhiều phần là do anh em trong nhà luôn tự hào về gốc gác Đông Hà Quảng Trị và truyền thống hiếu học mà cha mẹ trao truyền cho:

“Gia đình em đi theo diện HO 31, qua Mỹ năm 1995, trước khi đi gia đình em vẫn ở Đông Hà, Quảng Trị. Năm 1995 tức là 20 năm sau khi chiến tranh kết thúc thì lúc đó Kevin ở Việt Nam vừa mới vào đại học, qua đây phải làm lại tất cả từ đầu, phải đi học lại.

Từ nhỏ khi còn ở Việt Nam, ba mẹ lúc nào cũng khuyến khích con cái học hành… Ba em là người rất hiếu học. Bởi vì có vốn tiếng Anh, tiếng Pháp học từ miền Nam mà sau này ba em đi làm thông dịch cho các phái đoàn nước ngoài vào thăm Việt Nam, đồng thời ba em cũng dạy cho tụi em tiếng Anh. Lúc bước chân đến Mỹ thì tụi em đã có ít vốn tiếng Anh học từ trường và học từ ba.

Qua đây, dĩ nhiên có nhiều cái mình phải cố gắng, nhất là tiếng Anh, mặc dù có học ở Việt Nam nhưng vẫn rất khó khăn. Lúc đầu thực ra mà nói vào trường mà muốn học tới bằng Cử Nhân là mừng lắm rồi nhưng sau khi tốt nghiệp cử nhân xong thì em thấy mình có khả năng để học lên nữa. Lúc đó, xong cử nhân thì em ra làm kỹ sư ở bên ngoài, buổi đêm đi học thêm để lấy bằng Master. Sau cái Master thì em nghỉ làm và em bắt đầu chương trình Tiến Sĩ.”

Tiến sĩ Lê Huy Kevin, GĐ Kỹ thuật Luraco Technologies nhận bằng khen (Photo courtesy of Luraco)

Vừa đi làm vừa chịu khó đi học, mấy anh em của Lê Huy đều tốt nghiệp và có bằng cấp. Ngoài Lê Huy lấy bằng tiến sĩ, anh cả Lê Thành, hiện tại là giám đốc điều hành của Luraco Technologies, cũng tốt nghiệp bằng Master về ngành điện. Người em thứ ba, Lê Hiếu, tốt nghiệp Master về ngành Computer Science, còn người em trai út là bác sĩ về ngành tim: 

“Có rất nhiều cái dẫn dắt gia đình với bản thân Kevin đến ngày hôm nay. Thứ nhất là sự khuyến khích và sự hướng dẫn của ba mẹ, thứ hai là sự cố gắng và thứ ba nữa là sự động viên của bà xã Kevin. Bà xã Kevin lúc nào cũng hết mình support ủng hộ cho Kevin học hành đó.”

Đúng như lời ủy viên Tarrant County Nguyễn Xuân Hùng, Luraco Technologies không chỉ là một công ty công nghệ cao mà còn là một doanh nghiệp xã hội. Điều này được tiến sĩ Lê Huy xác nhận:

“Công ty Luraco trước tiên hết là một family company, khi là một công ty gia đình thì nói chung công ty rất quan tâm các vấn đề ngoài xã hội. Luraco thường xuyên tham gia các chương trình gây quĩ, giúp đỡ người nghèo hoặc giúp những em học giỏi ở Hoa Kỳ cũng có và ở Việt Nam cũng có. Tại Hoa Kỳ thường là công ty Luraco cũng có một quĩ trao phần thưởng cho học sinh tốt nghiệp hạng ưu để khuyến khích các em, Ở Việt Nam thì Luraco nhiều lần trao học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo có thành tích xuất sắc, để giúp các em học hành.

Đối với quê hương Đông Hà Quảng Trị của Kevin thì công ty cũng cấp học bổng cho một số trường và các em học sinh nghèo quanh Đông Hà Quảng Trị để cho họ có cơ hội tiếp tục học hành. Đa số thì cũng còn túng thiếu nhiều thứ nên đối với bà con, nhất là những người lớn tuổi, thì gia đình Kevin coi đó là một phần san sẻ và cố gắng giúp cho những người kém may mắn hơn mình.”

Với những lời chia sẻ của tiến sĩ Lê Huy, Thanh Trúc mạn phép ngưng câu chuyện về Luraco Technologies, công ty kỹ thuật cao đang sánh vai cùng những công ty Hi-Tech tên tuổi của người bản xứ ở Dallas Fort Worth và Arlington, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ.

Thanh Trúc 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vẻ Vang Dân Việt _Thanh Trúc

MỪNG BÀ XÃ VỀ HƯU_Tống Phước Kiên

MỪNG BÀ XÃ VỀ HƯU

Anh hùng nay thấm mệt

Gác kiếm ngắm chiều buông

Bao năm trường lao nhọc

Trả xong nợ áo cơm

Kể từ khi qua Mỹ

Được sống đời tự do

Nhưng lao lung vất vả

Vì áo ấm cơm no

Ngày ngày trong hãng xưởng

Tối tăm cả mặt mày

Nhiều đêm ngủ không xuống

Bởi ê ẩm chân tay

Đồng lương tuy ba cọc

Song cũng đủ nuôi con

Cũng có nhà xe cộ

Lo mọi thứ vuông tròn

Con ra trường đại học

Đã ổn định việc làm

Mẹ vui về hưu trí

Tạ ơn trên vô vàn

TK

05/21/21

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MỪNG BÀ XÃ VỀ HƯU_Tống Phước Kiên

Về hưu… Dưỡng lão (Nam Giang Tử)

Về hưu… Dưỡng lão 

 Tác giả: Nam Giang Tử

(Bài do Nguyễn V Vinh sưu tầm và chuyển)

Dưỡng lão, đến cuối cùng cần dựa vào điều gì ? Hãy đọc và tìm câu trả lời cho riêng mình. Căn bản, dưỡng lão vẫn là dựa vào bản thân mình ! Những người khác cho bạn chỉ là một chiếc lá, tự mình làm cây lớn mới có thể có được bóng mát!

Dưỡng lão nếu luôn dựa vào người khác thì sẽ không có cảm giác an toàn. Vì cho dù là con cái, người thân hoặc bạn bè, sẽ không thể lúc nào đều ở bên cạnh bạn. Khi bạn gặp khó khăn, họ không thể bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào cũng có thể xuất hiện để giải quyết giúp bạn.

Trong thực tế, mỗi người đều là một cá nhân độc lập, mọi người đều có cuộc sống của riêng mình, bạn không thể yêu cầu người khác phải cho bạn dựa vào, những người khác cũng không thể bất cứ lúc nào cũng có thể giúp bạn. Chỉ có thông qua những nỗ lực của bản thân để giải quyết vấn đề, mới thực sự có thể sống cuộc sống mà bạn mong muốn!

Một nhóm người lớn tuổi nói ra sự thật : “Dưỡng lão vẫn là nên dựa vào chính bản thân mình ! Chúng ta đã già đi, chỉ là hiện giờ sức khỏe của chúng ta vẫn còn, đầu óc vẫn tỉnh táo”.

* Giai-Đoạn Đầu: 60-70 tuổi

Sau khi nghỉ hưu, sáu mươi đến bảy mươi tuổi, cơ thể tương đối tốt, điều kiện cũng tốt. Muốn ăn thứ gì thì ăn, thích mặc gì thì mặc, thích đi chơi thì đi.Đừng khắc nghiệt với chính mình, những ngày này không còn bao lâu nữa, phải nắm bắt. Tiền tiết kiệm một chút, nhà giữ lại, để con đường hậu của mình có sự sắp xếp.Con cái có điều kiện kinh tế tốt là do sự nổ lực của chúng, sự hiếu thảo của con cái là lòng biết ơn của chúng. Chúng ta đừng từ chối sự trợ giúp của chúng, đừng từ chối sự hiếu thuận của chúng. Nhưng vẫn phải dựa vào chính mình, sắp xếp tốt cuộc sống của chính bản thân mình.

* Giai-Đoạn Thứ Hai: sau 70 tuổi không mắc bệnh hãy tự chăm sóc bản thân, đây không phải là vấn đề lớn, nhưng phải biết rằng mình thực sự đã lớn tuổi, và từ từ thể lực và tinh thần sẽ không còn tốt nữa, phản ứng cũng sẽ trở nên chậm hơn, phải ăn chậm chống sặc, phải đi chậm chống ngã. Không còn có thể cố gắng sức, cần phải chăm sóc bản thân mình!

Đừng đi lo thứ này thứ kia nữa, quản thúc con cái, còn một số người còn quản cả thế hệ thứ ba.. Quản cả một đời rồi, hãy ích kỷ một chút, tự quản bản thân mình. Mỗi ngày giúp dọn dẹp lau chùi, giữ trạng thái khỏe mạnh của mình lâu dài hơn một chút, để thời gian sống của mình lâu hơn một chút, cuộc sống không cần yêu cầu người khác rất thoải mái. Như thế, tất cả mọi thứ đều trở nên dễ dàng.

* Giai-Đoạn Thứ Ba: Sau 70 tuổi bị bệnh

Cơ thể không tốt, đòi hỏi có người chăm sóc! Điều này nhất định phải được chuẩn bị, đại đa số người đều không thể thoát khỏi ải này. Tâm trạng phải điều chỉnh tốt, phải thích nghi. Sinh lão bệnh tử là lẽ thường của cuộc sống cần thản nhiên tiếp nhận. Đây là đoạn cuối của cuộc đời không có gì để sợ hãi, sớm chuẩn bị sẽ không có điều gì phải hối tiếc.

Hoặc vào viện dưỡng lão, hoặc thuê người chăm sóc tại nhà, làm bất cứ điều gì đều tùy theo khả năng, theo tình huống mà làm, sẽ luôn luôn có cách giải quyết, nguyên tắc là đừng mài mòn đến con cái, đừng để tâm lý, gánh nặng gia đình, kinh tế đặt lên con cái quá nhiều.

Tự bản thân mình cố gắng một chút, thế hệ của chúng ta những khó khăn cay đắng đều đã trải qua, tin rằng cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời chúng ta cũng sẽ qua một cách bình thản.

* Giai-Đoạn Thứ Tư:  Giai-đoạn cuối của cuộc-đời

Tinh thần cần tỉnh táo, bệnh trên cơ thể không thể chữa khỏi được, chất lượng cuộc sống kém đi, lúc này phải dám đối mặt với cái chết, quyết tâm đừng để gia đình giải cứu, đừng để bạn bè và người thân làm những điều lãng phí không cần thiết.

Bạn muốn cuộc sống tuổi già không lo lắng, cần chuẩn bị sẵn sàng 4 bửu bối này!

Câu nói rất hay : “Có tài-chính sẽ không nghèo, có kế-hoạch sẽ không loạn, có chuẩn-bị sẽ không bận-rộn !”,

Thân là những người già như chúng ta, đã làm tốt công tác chuẩn bị chưa ? Chỉ cần mọi việc chuẩn bị trước, tương lai cuộc sống sau này sẽ không phải lo lắng nữa.

1. Sức-Khỏe về già:

Điều đầu tiên cần chuẩn bị là sức khỏe về già, bình thường phải chú ý đến ba thứ dưỡng: ăn dinh dưỡng, chú ý đến bảo dưỡng, cần có tu dưỡng.

2.  Nơi Trú-Ngụ về già:

Thứ hai là nhà ở về già: sống với con cháu, sống một cuộc sống nhẫn nhịn nuốt đắng, chi bằng tận hưởng cuộc sống đơn thân vui vẻ, bất kể thành thị hay ngoại ô, ở nơi mình sống thích hợp nhất. Gần đó có một nhà hàng bạn yêu thích!

3. Tài-Sản về già:

Thứ ba là tài sản lúc về già, vì con cái không thể nuôi dưỡng người tuổi già, bậc cha mẹ cũng chỉ có thể tự lập tự cường, tài sản cần giữ kỹ, trước khi chưa vào quan tài quàn nhất định không chia tài sản.

4. Bạn già:
Thứ tư là bạn già, có một người bạn tốt, bạn bè tốt và người đồng hành đều rất quan trọng, thường ngày kết giao bạn bè, quen biết nhiều loại bạn bè, là một bí mật để tận hưởng cuộc sống quý tộc đơn thân.

Tóm lại, cho dù bạn là ông cụ hay bà cụ trường thọ, cuối cùng cũng chỉ là một mình, câu nói này không bi ai chút nào, cũng không khủng khiếp, tất cả đều phụ thuộc vào cách bạn sắp xếp cuộc sống, tất cả đều phụ thuộc vào bạn có tâm lý trưởng thành hay không.

Thích thì hãy làm cho đáng, đừng quên, cuộc đời này chỉ có một lần, gặp những điều tốt đẹp hay hạnh phúc, đừng chỉ luôn muốn để lại cho thế hệ tiếp theo.

Những bạn hữu già hãy nhớ kỹ! Chúng ta được mệnh danh là thế hệ sau cùng hiếu thảo với cha mẹ, là thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi, tuyệt đối đừng vì “người ở trên trời, tiền trong ngân hàng”, cái gì “một mình rất cô đơn”, “già rồi không ai chăm sóc” những tin tức tiêu cực này làm cuộc sống của bạn mất đi ý nghĩa, những cách nói này đã lỗi thời rồi.

Chúng ta phải dựa vào chính mình dưỡng lão, lớn tiếng mà nói : Tuổi già của tôi ! Tôi tự làm chủ !!!”.

* * *

Một ngày, một năm và một đời người !!!

Một ngày rất ngắn, ngắn đến mức chưa nắm được cái sáng sớm thì đã tới hoàng hôn.ột năm thật ngắn, ngắn đến mức chưa kịp thưởng thức sắc màu đầu xuân thì đã tới sương thu.

Một cuộc đời rất ngắn, ngắn tới mức chưa kịp hưởng thụ những năm tháng đẹp thì người đã già rồi.

Luôn luôn đến quá nhanh mà hiểu ra thì quá muộn, cho nên chúng ta phải học cách trân trọng, trân trọng tình thân, tình bạn, tình đồng nghiệp, tình yêu, tình vợ chồng, tình phụ mẫu, tình đồng loại…

Vì một khi đã lướt qua, thì khó có thể gặp lại.- Sau 20 tuổi, thì đất khách và quê nhà giống nhau vì đi đến đâu cũng có thể thích ứng.

– Sau 30 tuổi, thì ban ngày và ban đêm giống nhau vì mấy ngày mất ngủ cũng không sao.

– Sau 40 tuổi, thì trình độ học vấn cao thấp giống nhau, học vấn thấp có khi kiếm tiền nhiều hơn.

– Sau 50 tuổi, thì đẹp và xấu giống nhau vì lúc này có đẹp đến mấy cũng xuất hiện nếp nhăn và tàn nhang.

– Sau 60 tuổi, thì làm quan lớn và quan bé giống nhau vì nghỉ hưu rồi cấp bậc giống nhau...

– Sau 70 tuổi, thì nhà to và nhà nhỏ giống nhau vì xương khớp thoái hóa không thể đi được hết những không gian muốn đi.

– Sau 80 tuổi, thì tiền nhiều và tiền ít giống nhau vì có tiêu cũng chẳng tiêu được bao nhiêu tiền.- Sau 90 tuổi, thì nam và nữ giống nhau vì không thể làm nổi chuyện ấy nữa.- Sau 100 tuổi, thì nằm và đứng giống nhau vì đứng dậy cũng chẳng biết làm gì.

CUỘC ĐỜI CỦA BẠN VÀ TÔI LÀ NHƯ VẬY, KHÔNG KHÁC NHAU NHIỀU…

NHÌN RA, HIỂU ĐƯỢC, THẤU HIỂU RỒI, CUỘC ĐỜI LÀ NHƯ THẾ…

TRÂN TRỌNG NHỮNG THỨ ĐÃ CÓ VÀ ĐANG CÓ… (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về hưu… Dưỡng lão (Nam Giang Tử)

Người Hạ Sĩ Nhứt_Nguyễn Vô Danh

NGƯỜI HẠ SĨ NHỨT

Tác giả: Nguyễn Vô Danh

Mọi chuyện dường như là có sự sắp đặt. Trong cuộc đời tui, bao nhiêu lần vào sanh ra tử, cứ tưởng là sắp đi thăm ông bà ông vải, nhưng lại chưa. Bà xã, thỉnh thoảng vẫn chọc quê, “Nghèo mà ham; anh tưởng muốn đi là đi hả? Tui chưa cho anh đi thì hổng được đi đó. Nghe chưa?”. Chuyện tình duyên thì cũng rụp, rụp, rụp – ý tui muốn nói là xuông xẻ đó. Còn chuyện người anh kết nghĩa thì như trên trời rớt xuống. Đúng là người tính hổng bằng Trời tính mà. Tía hay nói như dzậy.

Nói xa nói gần hổng bằng nói thiệt tui là con một trong gia đình nông dân nghèo. Nghe Má kể lại thì lúc được 1 tuổi rưỡi, tui bị bịnh ban gì đó, mà hai thầy thuốc Nam trong miệt cồn Dừa (tỉnh Phong Dinh) này đều bó tay. Tía bằng lòng bán miếng ruộng duy nhất của gia đình để có tiền đưa tui lên Sài Gòn chữa bịnh, nhưng đường đi quá cực khổ, và có thể tui sẽ chết trên đường trước khi tới nhà thương, thành ra lại phải trở về khi đi chưa được một phần năm đường. Hổng lẽ ngồi khoanh tay nhìn con mình chết, Tía nghe người ta mách hái mấy lá gì đó trộn với xả nấu cho tôi uống. Uống xong, nghe Má kể lại, tôi giựt giựt mấy cái rồi nằm xụi lơ, rồi ngủ luôn 2 ngày. Khi tui thức dậy, Má khóc quá trời vì quá mừng. Qua được cơn bịnh này thì tui hơi chậm lớn và cũng hơi chậm nói – nghe Má nói như dậy. Giờ ngồi nghĩ lại thấy thương ổng bả quá trời.

Khi được 5 hay 6 tuổi tui hay theo Tía ra đồng coi dùm Tía mấy cái cần câu trong lúc ổng làm ruộng. Ngồi hổng có gì làm, tui thường lượm gạch hay sỏi để chọi chim, rắn hay chuột đồng. Nhiều hôm tui chọi trúng được vài con chuột hay chim đem về cho Má nướng. Còn cá trê Tía câu Má kho tiêu ngon lắm. Thỉnh thoảng Tía uống rượu đế với mồi cá kho tiêu, và khi uống rượu Tía nói nhiều hơn mọi ngày. Phải nói là cuộc sống khá êm đềm.

Tới 8 tuổi tui mới đi học, nhưng tui học dở lắm, chắc là tại quá ham chơi. Khi rảnh tui làm ná bắn chim (thay vì chọi đá như hồi nhỏ). Tui cũng hay chơi bắn bi với tụi nhỏ hàng xóm. Phải nói là tui dùng ná rất giỏi vì ngày nào tui cũng đem chim, vịt trời hay chuột về cho Má làm đồ ăn. Khi bắn bi cũng vậy, tụi bạn thua tui dài dài, thành ra có tiền mua bánh tráng, xôi với cà lem ăn. Chỉ có học là tui dở thôi. Học đó rồi quên đó. Phải học lớp Năm đến 2 hay 3 lần mới được lên lớp Tư.

Có lần tan học, trên đường về, tui theo bạn bè vào vườn mía đỏ bỏ hoang (thân mía màu ưng đỏ hồng, mềm và ngọt khỏi chê luôn). Muốn được mía lớn tui phải đi tuốt vô trong sâu. Đang kéo chiến lợi phẩm ra, thì tui thấy đau điếng dưới chưn. Nhìn xuống thì trời ơi, một con trăn bự đang cắn chặt vô cái bắp chuối. Tui cố kéo chưn ra nhưng hổng xong vì con trăn mạnh quá. Thân nó trườn tới và quấn luôn chưn kia. Biết là hổng xong nếu tiếp tục cái đà này, tui la cầu cứu nhưng vì ở tuốt trong sâu, hổng ai nghe. Hai chưn bị trăn cột xiết rồi, tui ngã xóng xoài – chuyện đi thăm ông bà là cầm chắc trong tay. Hai chưn đã tê cứng. Chợt nghĩ tới Tía và Má, tui như bừng tỉnh và quơ đại cái cặp táp. Đang dùng cái cặp táp da đập vô đầu con trăn, cây viết văng ra. Tui dùng cây viết đâm túi bụi vào mắt con trăn. Đâm hết mắt này rồi đâm qua mắt kia. Chắc là bị tui đâm khá sâu vào mắt, con trăn tự nhiên nhả chưn ra, lăn lộn, hổng xiết nữa, và bò đi nơi khác. Hôm đó Má khóc nhiều lắm. Má cứ lẩm bẩm cám ơn ông bà che chở. Má nói là cái số tui chưa rụng. Tía tới vườn mía hoang và bắt được con trăn mù cổ bà chảng. Đem ra chợ bán thịt được gần hai chục đồng. Lúc đó 1 lượng vàng chỉ có 65 đồng. Tía nói sẽ dùng tiền này cho tui khi đi học xa, hay lúc cưới vợ. Tía cấm hổng được đi vô rừng mía đó nữa. Nói cho cùng, sau cái vụ trăn quấn thì có cho tiền tui cũng hổng dám vô.

Tui học ạch đụi tới năm 15 tuổi mới học xong lớp Nhứt. Thấy tôi học chậm, Tía cho tui ở nhà phụ làm rẫy. Mùa hè năm sau nhóm trẻ tụi tui đá banh thắng nhóm bên cồn Cát 3-2. Tui đá vô gôn luôn 2 trái trong vài phút chót vì tui chạy lẹ lắm. Được 80 đồng phần thưởng, tui dẫn “đội banh nhà” ra chợ ăn gỏi đu đủ và uống nước mía. Thắm, cô bán nước mía, nhận ra tui, nhưng tui hổng nhận ra cổ. Hỏi ra mới hay là tui học cùng lớp với Thắm 6 năm trước. Cổ khác hẳn con nhỏ ốm nhom, đen thui hồi đó. Thắm giờ có da có thịt, da bánh mật, nói chuyện có duyên, và biết buôn bán. Sau lần đó, tụi tui kết nhau. Đưa Thắm về nhà, Tía và Má mừng lắm. Má nói là Má luôn muốn tui có người anh để giúp đở bảo bọc vì tui chậm chạp và thật thà. Nay có người bạn đời giỏi như Thắm đến với tui, Má vui lắm. Tám tháng sau, tụi tui lập gia đình. Khoảng 1 năm sau khi cưới vợ thì tui phải nhập ngũ.

Chỉ sau vài tháng trong Quân Trường Quang Trung, vì được nhiều sự chú ý của các huấn luyện viên cao cấp bởi tui chạy đua rất mau (chắc vì muốn thắng đá banh để có tiền mua nước mía), và tui bắn súng hết xẩy (hay là vì chọi đá bắt chuột, dùng ná bắn chim, bắn bi kiếm tiền mua đồ ăn … hồi nhỏ), tui được huấn luyện đặc biêt để trở thành xạ thủ. Khi mãn khóa ở Quang Trung, tui được chuyển đi Kontum với cấp bực binh nhì trong đội Biệt Kích. Nhiệm vụ của tui là trốn trên những đồi cao có nhiều cây, quan sát, truyền tin và bắn tẻ khi được lịnh. Có khi tui đi chung nhóm 3 hay 5 người, và có khi chỉ có mình ên. Thường được thả trên rặng Trường Sơn vào những đêm sương mù dầy đặc. Những lúc đi xa, tui nhớ Thắm, nhớ Má và Tía lắm. Cái sướng của công việc này là tui dùng sở trường của mình (chạy mau và bắn giỏi) để phục vụ đất nước. Tui cũng khoái vụ trốn trên núi cao vì hồi nhỏ thích chơi Năm Mười. Xếp tui dặn là bất cứ ai hỏi thì tui phải nói tui là lính kiểng gác kho gạo trên Đà Lạt. Mà cũng hay, vì sau khi núp trên núi vài tháng nên da trắng và tóc dài, tui dòm cũng giống lính kiểng lắm chớ bộ. Sau mỗi lần đi công tác vài tháng tui được nghỉ phép cả tháng với rất nhiều tiền (hình như là tiền tử) khi về thăm gia đình. Tiền bạc dồi dào, tui mua đồ cho mọi người mút chỉ. Vì vậy bạn bè, hàng xóm thương, che chở và giúp đỡ tui.

Lần đó sau khi về thăm nhà chưa được 2 tuần lễ, tui bị gọi về gấp vì có chuyện lớn. Đi lẹ ra Ô Môn, vô sân bay Trà Nóc, bay thẳng về KonTum để nhận lịnh. Trước khi được điều động lên một địa điểm bí mật trên rặng Trường Sơn để thăm dò như các lần trước, tui được dặn là phải cố gắng nhiều vì 2 đồng nghiệp Biệt Kích (BK) đã mất tích trong vùng đó. Điều may mắn lần này là tui tìm được 2 người BK kia không xa nơi đáp xuống. Một người đang bị bịnh. Máy truyền tin bị hư, và đạn dược thiếu thốn tại một số lớn quân nhu bị rớt mất khi thả dù. Tụi tui núp trong 1 hang núi có nhiều cây rậm rạp. Điều không may mắn lần này là tụi Việt Cộng biết được sự có mặt của nhóm BK vì họ tìm ra số quân nhu và dụng cụ bị rớt. Họ lùng kiếm ráo riết. Để được an toàn, tụi tui im hơi lặng tiếng và chỉ bắn khi thiệt cần. Sau cùng cũng phải bắn trả vì tụi nó tới quá gần, nhưng tụi tui bắn thật ít vì thiếu thốn đạn dược. Tụi Việt Cộng dù đông hơn, nhiều đạn hơn, nhưng hổng dám mạnh dạn tiến lên vì họ ở vị trí dưới thấp, trong khi nhóm tụi tui phía trên cao bắn xuống phát nào trúng phát nấy. Cầm cự được hơn 6 tiếng đồng hồ, thì nhóm tui gần như hết đạn. Chỉ còn vài trái lựu đạn để tử thủ. Tui không nghĩ là mình qua được con trăng này. Nghĩ tới Thắm, Tía và Má, tui chạnh lòng. Trong cơn nguy hiểm như chỉ mành treo chuông, bỗng nhiên máy bay trực thăng tiếp cứu tới. Máy bay phải đánh đông phạt tây (điệu hổ ly sơn) và dùng hỏa mù để cứu nhóm tui. Trong phi vụ này, tui bị thương vì té gẫy tay và được đưa về Chẩn Y Viện Cộng Hòa điều trị. Sau thời gian dưỡng thương, tại tay hổng còn khỏe và chính xác như ngày trước, tui được chuyển về 1 quận lỵ nhỏ gần Suối Dây, tỉnh Tây Ninh với cấp bực Hạ Sĩ Nhứt và giã từ cuộc sống BK Đặc Biệt từ đó.

Khoảng 4 tháng sau thì Thiếu Úy Đức (TUĐ) người Bắc tới làm Phó quận trưởng. Tui được lựa làm gạc đờ co (bảo vệ) cho ông Phó. Vài lần đang lái xe jeep chở ông Phó đi quan sát ngoài biên giới quận thì tụi Việt Cộng bên kia rừng Tràm bắn lén. Vừa nghe tiếng nổ là tui phản xạ đẩy TUĐ nằm xuống, che cho ông, và cùng lúc tui nhả hàng loạt đạn về phía tiếng nổ. Sau vài lần như vậy, tui được tin cẩn hơn và trở thành cánh tay trái của ổng. Tui luôn khuyên ổng phải cẩn thận, vì đây là vùng xôi đậu không biết ai là địch, ai là thù. TUĐ là thượng cấp, nhưng ổng cũng xem tui như người nhà. Một lần đưa ổng đi xem nhà cửa của dân làng do nhóm lính sửa chữa, TUĐ gặp cô Hân (con gái bà chủ căn nhà ở cuối quận, kế bên con sông nhỏ ngăn cách khu rừng Tràm âm u bên kia). Theo như tui thấy thì hình như lúc gặp cô Hân, TUĐ bị tiếng sét ái tình hay sao đó vì ổng đứng như trời trồng và nói năng lắp bắp. Thấy kỳ quá, thêm nữa khu này nguy hiểm khi trời sâm sẩm tối, tui nói thay cho ổng:

– Trễ rồi, Thiếu Úy. Mình phải đi dzề. Chào cô.

Cô Hân đẹp, ăn nói khéo léo, … chắc là người bên kia, gài lại đây. Tía của cô vắng mặt. Hay là ông ta đã tập kết ra Bắc? Thêm nữa, tên Ba Thọt (ở đối diện nhà cô) – một người có tiểu sử và hành động rất khả nghi – thường qua lại nhà cô thăm viếng.
Mỗi sáng khi cô Hân đi làm ngang văn phòng quận, tui thấy cô cố tình đi chậm lại. Hay là cô đang nghe ngóng tin tức? Hay là xem cá có cắn câu chưa? Hay là đang dò sét tình hình trong văn phòng quận để tường trình cho phe bên kia?… Hàng trăm câu hỏi, nhưng hổng có câu trả lời. Thôi, tốt nhứt là đề phòng thì vẫn hơn.

Vài tháng sau, Kontum, Ban Mê Thuột và nhiều vùng cao nguyên thất thủ. Rồi Bảo Lộc-Madagui vào tay bọn qủy đỏ, … Một buổi chiều tháng tư, tụi Việt Cộng đem xe tăng, súng lớn tới tấn công quận. Đại Úy Long quận trưởng mất tích. TUĐ và các anh em quân đội tụi tui liều chết bắn chặn quân địch. Trước hỏa lực quá mạnh của địch, lực lượng tiểu đoàn phòng thủ quận tan rã. Kẻ chết, người bị thương, người chạy trốn. Tui và TUĐ đều bị thương nhẹ. Cùng đường, hai thầy trò chạy về phía cuối quận. Đinh ninh là Ba Thọt hay cô Hân sẽ chờ để bắt sống hay thanh toán tụi tui ở đó, tui cầm chắc khẩu tiểu liên sẳn sàng mạng đổi mạng. Khi chạy tới gần con sông cuối quận (gần nhà cô Hân), TUĐ ngã quỵ vì kiệt sức. Đang đỡ TUĐ lên, thì cô Hân chạy ra mở cửa rào ra dấu cho tụi tui vào nhà gấp. Khi vào trong, cô băng bó cánh tay của TUĐ. Cô đưa cho tụi tôi 2 nắm cơm và ít nước lạnh để ăn cầm hơi. Trong lúc tui và TUĐ ăn, cô lấy 2 ruột xe đạp, bơm lên, và đưa cho tụi tui. Cô ta chỉ tay vào con sông sau nhà:

– Hai anh thả nổi chừng 8 hay 9 cây số tới nhà thờ Suối Dây. Nhớ tìm người linh mục gốc Nam Định xin giúp đỡ. Chừng nào khỏe lại thì đi. Nếu tình hình lộn xộn quá, thi trốn qua Kampuchia. Hai anh đi cho lẹ trước khi họ tới đây. Lúc đó tui mới biết là mình sai. Cô Hân là người ơn, chứ không phải là vẹm như tui nghĩ. Món nợ cứu mạng này lớn lắm.

Khi tụi tôi xuống sông thì trời đã tối. Nương theo dòng nước hai thầy trò tới nhà thờ Suối Dây khoảng 2 giờ sáng. Người Linh Mục giấu tụi tui ở đó gần 3 tuần lễ dưỡng thương. Khi gần như hồi phục hoàn toàn, TUĐ và tui chia tay. Hôm đó cả hai đều khóc. TUĐ nghẹn ngào:

– Hạ Sĩ Nhất Sơn. Tôi bao giờ cũng xem chú … như người nhà. Cám ơn chú … đã làm việc với tôi trong 2 năm qua, và … đã giúp đỡ tôi trong cơn hoạn nạn này. Nếu còn duyên thì anh em mình sẽ gặp lại.

Sau khi từ giã TUĐ và người Linh Mục, tui về Cần Thơ đoàn tụ với gia đình. Mất mấy ngày mới về tới Sài Gòn. Thành phố giờ có tên mới – cái tên của kẻ sát nhơn. Tui hổng quen dùng cái tên mới đó. Phải mất thêm cả tuần nữa mới quá giang về đến cồn Dừa vì xe cộ bị đình trệ sau ngày đổi đời – cái ngày mà hàng vạn người vui, nhưng hàng triệu người buồn. Khi bước vô nhà, Má bật khóc vì quá mừng. Thắm thấy tui tiều tụy quá cũng khóc. Tía thì nhờ người hàng xóm đi mua ít đồ ăn mừng ngày đoàn tụ.

Hai hôm sau, 3 người Công An tới nhà chỉa súng bắt tui đi lên xã. Xã trưởng là 1 tên Bắc Kỳ răng hô mã tấu với khuôn mặt khắc khổ nhăn nheo như cái mền rách. Hắn đập bàn đánh phủ đầu với giọng Bắc đặc sệt:

– Mày có biết tội phản động làm việc cho CIA cũa Mỹ Ngụy nặng như thế nào không? Tội ác của mày lớn lắm. Mày có nợ máu với nhân dân.

– Thưa đồng chí xã trưởng …

– Ai là đồng chí với bọn phản động như mày.

– Dạ thưa xã trưởng. Tui chỉ là lính kiểng gác kho ở Đà Lạt. Tui có bắn giết ai đâu?

– Tao có hồ sơ của mày. Đừng chối cãi nữa. Nhận tội đi. May ra được Đảng khoan hồng.

– Thưa Xã Trưởng, chắc là có người trùng tên, chứ tui đâu có làm gì như dậy.

– Giam thằng này lại. Đồ ngoan cố, mất dạy. Tuần tới đưa nó lên phòng Công An tỉnh để giải quyết.

Tui bị nhốt 8 ngày trước khi bị chuyển lên ty Công An tỉnh Cần Thơ. Khi vào gặp Trưởng phòng Công An, tui không dè đó là thằng Huân trong đội đá banh ngày nào. Nó ăn gỏi đu đủ bò khô và uống nước mía với tui sau các trận đá banh vài lần. Thêm nữa mỗi lần tui về thăm nhà, tui đều có mua đồ cho thằng Huân và cho dì Tám má nó. Tui cũng nói là làm lính kiểng trên Đà Lạt, khi nó hỏi.

Thằng Huân nhận ra tui ngay. Tui chỉ trả lời bằng những gì mà Xếp cũ của tui dặn nói. Tui đổ thừa là có người trùng tên. Nhờ thằng Huân dễ dãi, tui thoát nạn.

Tui đi cải tạo mấy ngày dành cho Hạ Sĩ Quan. Sau đó được “khoan hồng” về làm rẫy với gia đình ở cồn Dừa.

Xã hội dưới tay đảng CSVN xuống dốc như xe hổng thắng. Ai cũng nghèo, đói, và khổ cực. Gia đình tui làm rẫy, cũng bữa đói, bữa no, nhưng đỡ hơn nhiều người. Tui lại bắn chim sẻ, vịt trời như hồi nhỏ. Tiếp tục bắt chuột đồng, bắt cá lóc hay cá trê dưới ruộng làm khô lén để dành cho những ngày mưa gió. Hai năm sau Thắm cho gia đình tui 1 tin vui là thằng con trai đầu tiên. Rồi năm sau nữa thì thằng thứ hai. Khi miếng ruộng duy nhất của gia đình bị xung công, Tía rầu rĩ sanh bệnh và ra đi năm sau đó. Mất đất trồng trọt, gia đình dọn về Ô Môn năm 1979. Vợ chồng tui làm công làm mướn bất cứ thứ gì ở chợ Ô Môn để kiếm tiền.

Đã 8 năm từ ngày rời Suối Dây, tui hổng có tin tức gì về Thiếu Úy Đức (TUĐ). Tình cờ năm 1983 khi đi mua bán đồ ở chợ Cái Răng, tui gặp Đại Úy Long (ĐUL) Quận Trưởng năm nào. ĐUL mới được thả về từ trại cải tạo trước đó 6 tháng, và còn đang bị quản chế. Đi đâu cũng phải xin phép và trình diện mỗi tuần. Thấy tình trạng ĐUL thảm quá, tui cho ổng 1 con khô mực và nửa ký gạo giấu trong sách tay. ĐUL nói là có gặp TUĐ trong tại cải tạo mùa thu năm 1977. Khoảng 2 năm sau, nghe nói là TUĐ vượt ngục rồi bị bắn chết ở gần biên giới Lào làm gương cho kẻ khác. ĐUL cũng cho biết là khi được thả, trên đường về ổng nghỉ 1 đêm tại quận lỵ ngày xưa vì không còn xe về Sài Gòn. Quận tiêu điều lắm. Tui hỏi về mấy người ở cuối quận kế bên con sông nhỏ. ĐUL nói là 2 căn nhà đó đã bỏ hoang, xiêu vẹo, không người ở. Nghe làng xóm nói là bà già (má cô Hân) đã chết và chôn trong ngôi mộ nhỏ sau nhà. Đứa con gái (cô Hân) thì biệt tăm. Hình như đã chết trôi vì người ta tìm thấy dép của cổ và cục xà bông ở bờ sông sau nhà. Tui nghe xong cảm thấy choáng váng như bị trúng gió. Hôm đó tui về nhà khóc. Vợ tui hỏi. Tui kể lại sự tình. Tội nghiệp vợ tui. Thắm làm 1 bàn thờ cho TUĐ trên nóc tủ kế bên bàn thờ của Tía và Má, và tối đó cúng 1 chén cháo trắng.

Làm ăn ở chợ Ô Môn khó khăn, gia đình tui mướn 1 miếng đất cách Ô Môn 20 cây số để trồng khoai mì và khoai lang. Tui dậy 2 đứa nhỏ làm bẫy bắt chuột đồng, làm ná bắn chim, … Vợ chồng tui thì quen cảnh nghèo rồi. Chỉ tội 2 đứa nhỏ thiếu ăn và tương lai mù mịt. Nhiều đêm nóng nực hổng ngủ được, tui cứ nhớ lại những ngày tui ở Suối Dây. Nhớ TUĐ và nhớ cả người đã cứu hai thầy trò. Chỉ biết chắc lưỡi thở dài cho người vắn số.

Sau nhiều kế hoạch kinh tế đảng CS đưa ra đều thất bại, chính quyền thả lỏng và có ý muốn đi theo kinh tế thị trường tự do. Cuộc sống dân nghèo trở nên dễ thở hơn một chút. Gia đình tui bắt đầu nuôi heo để thanh toán số khoai lang ung thúi khi bán hổng hết.

Làm sao tui quên được buồi chiều hôm ấy. Đó là một buổi chiều đầu tháng Tư năm 1995, khi tui đang làm rẫy, ngăn nước không cho vào đất trồng trọt quá nhiều, thì Thắm ra rẫy gọi về nhà có khách. Khi về nhà thì thấy 2 người ăn mặc sang trọng có vẻ đàng hoàng. Tui không nhận ra người đàn bà, nhưng người đàn ông thì nhìn quen lắm. Sau vài giây ngỡ ngàng, người đàn ông nhìn tui và nói một cách ngậm ngùi trong nước mắt:

– Chú Sơn có nhận ra tôi không? … anh Đức đây?

– “Hả, … ôi trời, Thiếu Úy Đức, … ông Phó!…”; Tui trả lời khi nước mắt bắt đầu ứa ra vì quá mừng.

– Đừng gọi như vậy. Gọi là anh hay anh Đức vì chú là em của tôi mà.

– Dạ, dạ … ông Phó, à quên, … anh Đức. Tưởng là anh đã … Gia đình tui làm bàn thờ cho anh mười mấy năm nay.

– Thắm ơi, đây là anh Đức. Thằng Tân, thằng Hoàng, ra chào Bác Đức.

– Còn đây là bà xã của anh.

– “Dạ, chào chị. Dạ, chị tên gì?”; Tui hỏi.

– “Chú nhìn kỹ xem ai ? Cô Hân ở Suối Dây đó”; TUĐ trả lời.

Tui lặng cả người và đứng chết trân. Người ơn của tui bằng xương bằng thịt ngay trước mặt. Thời gian như dừng lại. Nước mắt bắt đầu chảy tràn trên mặt, và giọng nói lạc đi:

– Tui hổng có dè có ngày này… 20 năm rồi. Cám ơn anh chị … đã nhớ đến tui… Tui mừng quá. Sao … tới bây giờ anh chị mới tới ? Tui có nằm mơ hông ?

TUĐ lau nước mắt, rồi chậm rãi nói:

– Chuyện dài lắm. Sẽ kể sau. Bây giờ anh chị mời cả nhà đi ăn mừng. Tốn cả tuần đi kiếm cô chú đó.

* * *

Nghe anh kể lại chuyện trốn khỏi trại tù năm 1979, và bao nhiêu lần vượt biên hụt, tui nể quá. Chuyện chị giả chết trôi để trốn khỏi Suối Dây và những lần vượt biên bị bắt thì cũng ly kỳ quá trời. Rồi đến khúc hai người gặp lại nhau bên Mỹ, tui mừng như là chuyện của mình. Tui hãnh diện có được ông anh và bà chị dâu giỏi như vậy.

Mấy bữa sau, vợ chồng anh mướn xe đưa gia đình tui đi thăm Suối Dây. Trên đường về, có ghé Vũng Tàu tắm biển. Thấy thương bà xã và 2 đứa con tui quá. Lần đầu tiên vợ con tui được đi xe hơi, được đi ra khỏi Cần Thơ, được lên Sài Gòn, được đi Suối Dây, được ra tắm biển Vũng Tàu, được đi ăn nhà hàng, được uống nước ngọt cô ca cô la, …

Trước khi về Mỹ, tui hổng dè vợ chồng anh lại giúp một số tiền lớn để mua một cửa hàng gần chợ Ô Môn buôn bán nông phẩm cho gia đình tui đỡ cực. Anh chị nói sẽ về thăm thường xuyên hơn.

Tối hôm đó tui thắp nhang cho Tía và Má. Tui thì thầm “Má ơi, Má luôn muốn là con có người anh để che chở cho con. Má ơi, điều Má muốn đã xẩy ra. Con cám ơn Tía và Má”

Như tui đã nói, cuôc đời tui như có sự an bài hay sắp xếp. Vào sanh ra tử bao lần, mà hổng sao. Duyên phận củng thẳng tắp. Khúc sau cuộc đời, cực thiệt, nhưng lại có thêm người anh nuôi và chị dâu hổ trợ. Bây giờ tui hổng có kỳ vọng nào hơn là sẽ có một ngày cái nhóm mắc dịch, khốn nạn, vô thần, vô đạo đức này tan rã cho tui nhờ và cho người dân bớt khổ.

Ngày đó chắc là phẻ re, há?

Seattle, một ngày buồn cuối tháng 4, 2019.

Nguyễn Vô Danh

Nguồn: hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/v%C4%83n-ngh%E

(Truyện do Tâm Nguyễn sưu tầm và chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Hạ Sĩ Nhứt_Nguyễn Vô Danh

Người Không Nhận Tội – Tác giả Duy Nhan

NGƯỜI KHÔNG NHẬN TỘI: Kha Tư Giáo

DUY NHAN

Tôi biết anh khi cùng đến trình diện “học tập” tại trường Pétrus Ký ngày 24 tháng 6 năm 1975. Anh sinh năm 1942, tốt nghiệp khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt. Sau khi ra trường, anh bị động viên khóa 9/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, rồi được biệt phái làm việc ở Kỹ Thương Ngân Hàng, tức Ngân hàng Quân Đội ở đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Anh là một thanh niên khỏe mạnh, to cao, chưa lập gia đình. Vì cận thị nên lúc nào cũng mang kính trắng. Trông anh ai cũng dễ nhận ra anh là một trí thức giàu tiềm năng, nhiều nghị lực. Anh có người chú ruột là kỹ sư làm bộ trưởng bộ công nghiệp nhẹ của chế độ Cộng Sản Bắc Việt. Sở dĩ tôi biết nhiều về anh là do khi bị đưa vào trại tập trung ở Thành Ông Năm, Hốc Môn, cũng như khi ra Phú Quốc tôi lúc nào cũng được “biên chế” cùng tổ, đội với anh, chỗ nằm cũng sát bên anh, vì người ta căn cứ theo thứ tự A, B, C của tên mỗi người khi lập danh sách. Tên anh rất lạ và dễ nhớ, Kha Tư Giáo.

Khi mới vào trại tập trung, ngoài giờ lao động khổ nhọc, các “cải tạo viên“ còn phải học mười (10) bài chánh trị. Sau mỗi bài học là những buổi thảo luận trong tổ, đội. Mỗi ngưởi phải viết “bài thu họach” những gì mình “tiếp thu” được sau những bài giảng của cán bộ tuyên truyền, được gọi là giáo viên. Sau bài học đầu tiên đề tài thảo luận đưa ra là mọi người phải “liên hệ bản thân,” xác định mình là người có tội với nhân dân, với “cách mạng.” Người cầm súng thì giết bao nhiêu cách mạng trong từng trận đánh. Bác sĩ thì chữa trị cho binh sĩ lành bệnh để đánh phá cách mạng như thế nào. Người làm ngân hàng (như tôi và anh Kha Tư Giáo) thì có tội phục vụ cho nền tài chánh, dùng tiền nuôi dưỡng chiến tranh. Cảnh sát thì đàn áp nhân dân ra làm sao, vân vân…Trại của chúng tôi đa số là sĩ quan biệt phái. Họ nói biệt phái là phái làm công tác đặc biệt. Thí dụ giáo viên biệt phái là những người lãnh lương hai đầu, một bên là quân đội, một bên là giáo dục, được phái về dạy học để đánh rớt học sinh, buộc học sinh phải đi lính, biệt phái ngân hàng là sĩ quan được đưa về làm công tác ngân hàng, kiếm thêm thu nhập cho người lính để có thêm sức cầm súng. Do đó, sĩ quan biệt phái là những người có tội rất nặng với cách mạng và nhân dân hơn những người khác. Anh KTG thì cho rằng anh và các bạn anh không ai là người có tội. Các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa cầm súng chống lại bộ đội Bắc Việt và quân nằm vùng là để tự vệ mà không hề chống lại nhân dân, đồng bào ruột thịt trong Nam cũng như ngoài Bắc. Riêng bản thân anh, sanh ra và lớn lên ở miền Nam, học hành và làm công tác chuyên môn ngân hàng để sống và phục vụ cho đất nước thì sao gọi là có tội. Lập trường anh Giáo không đáp ứng yêu cầu của Việt Cộng. Đó là tấn thảm kịch của anh. Anh bị bắt làm kiểm điểm liên tục còn những người khác thì cũng bị bắt phải “giúp đỡ” anh nhìn thấy được tội lỗi của mình để được cách mạng và nhân dân khoan hồng. Càng kiểm điểm anh càng thấy mình là người vô tội. Bài viết lúc đầu thì dài, về sau chỉ còn bốn chữ thật to chiếm hết trang giấy: TÔI KHÔNG CÓ TỘI. Việt Cộng hỏi, anh trả lời những gì cần nói, anh nói hết rồi. Bạn bè trong đội thấy anh giữ lập trường như thế thì rất nguy hiểm cho anh mà bạn bè cũng khổ. Vì sau giờ lao động cực nhọc đáng lẽ được nghỉ ngơi, lại phải ngồi kiểm điểm với anh đến mỏi mệt, chán chường. Nhiều người trách anh sao không biết “ nín thở qua sông ”, họ khuyên anh cứ viết đại vào giấy là mình có tội một cách chung chung, miễn là thực tế không làm gì hại nước, hại dân là được. Anh bảo như vậy là mắc lừa Cộng Sản và lương tâm không cho phép.

Khi tất cả cán bộ ở trại đều bất lực thì cán bộ cao cấp từ Sài Gòn được cử xuống.. Những người này tỏ ta có tay nghề hơn. Nghe đâu là sư trưởng VĐG từng là thành viên của phái đoàn đàm phán Bắc Việt tham dự hội nghị Paris năm 1973, cùng với một đại tá chánh ủy sư đoàn ( ?). Họ không trấn áp anh mà tỏ ra lắng nghe và chịu đối thọai. Anh Giáo đã chứng tỏ bản lĩnh của mình bằng những câu hỏi đặt ra mà họ không trả lời được. Ngược lại, anh còn phản công, vạch trần tội ác của họ. Từ vai một người tù, một tội nhân anh trờ thành một công tố viên trước tòa, luận tội Việt Cộng. Bằng một giọng đầm ấm và trầm tĩnh, anh Giáo nói :

– Chúng tôi là những người sanh ra và lớn lên ở miền Nam. Nhờ hạt gạo của đồng bào miền Nam nuôi lớn và trưởng thành từ nền văn hóa và giáo dục khoa học, nhân bản và khai phóng. Chúng tôi có lý tưởng của chúng tôi cũng như các anh có lý tưởng của các anh. Lý tưởng của các anh là dùng bạo lực để lật đổ chánh phủ hợp hiến, hợp pháp Việt Nam Cộng Hòa để bành trướng chủ nghĩa Cộng sản. Lý tưởng của chúng tôi là bảo vệ Tự Do, Dân Chủ. Các anh từ miền Bắc vào xâm lăng miền Nam, buộc lòng dân quân miền Nam phải cầm súng tự vệ. Chúng tôi có câu “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Chẳng lẽ một công dân cầm súng chống lại kẻ thù để bảo vệ bà con mình, gia đình mình, tổ quốc mình thì có tội?

Hai cán bộ Việt Cộng im lặng, chỉ gật gật cái đầu. Một lúc sau, viên đại tá chính ủy lên tiếng:

 Các anh chỉ là tay sai đế quốc Mỹ. Ở đâu có Mỹ, có bom đạn Mỹ thì chúng tôi đánh. Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…

Anh Giáo ngắt lời:

– Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi, chớ gì? Các anh chỉ biết lặp lại mà không biết gì về quốc tế công pháp. Tôi nhắc lại, hiệp định Genève năm 1954 mà các anh đã ký ngày 20/7/1954 quy định từ vĩ tuyến 17 trở ra là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào là nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận.

Tên sư trưởng phản ứng:

– Các anh là công cụ Đế quốc Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn đất nước. Còn chúng tôi đánh Mỹ là để thống nhất đất nước, mang lại Độc Lập cho Tổ Quốc, Tự Do, Hạnh Phúc cho đồng bào.

Anh KTG:

– Nên nhớ, các anh mới là người âm mưu cùng thực dân Pháp chia cắt đất nước bằng hiệp định Genève năm 1954. Chúng tôi không hề ký vào hiệp định đó. Đồng minh chúng tôi không phải chỉ có Mỹ mà có Đại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi và tất cả quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Các anh mới là tay sai Liên Xô và Trung Cộng. Chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương bành trướng, xâm lược, nhuộm đỏ toàn thế giới chớ không riêng gì Việt Nam..

Tên sư trưởng:

– Người Cộng Sản làm cách mạng là để giải phóng các dân tộc khỏi áp bức, bóc lột mà đầu sỏ là đế quốc Mỹ để mang lại công bằng xã hội, ấm no, hạnh phúc cho mọi người.

– Tôi thiết nghĩ những người cần được giải phóng là nhân dân miền Bắc đang thiếu Tự Do, Dân Chủ, đang sống đời lầm than cơ cực. Chúng tôi không cần các anh giải phóng.

Bất ngờ, tên đại tá chánh ủy đập tay xuống bàn cái rầm. Ly nước trước mặt hắn ngã đổ tung tóe:

– Quân phản động!

Anh KTG vẫn giữ điềm tĩnh và im lặng.. Thời gian trôi qua nặng nề. Tên sư trưởng dịu giọng:

– Các anh ôm chân đế quốc, bị đầu độc bởi vật chất xa hoa và văn hóa đồi trụy của chủ nghĩa tư bản thối tha nên không nhìn thấy tội lỗi của mình.

Bằng một giọng ôn tồn mà cương quyết, anh Giáo trả lời:

– Chúng tôi là người Việt quốc gia, không theo chủ nghĩa nào cả. Chủ nghĩa chỉ là lý thuyết, là giáo điều do con người đặt ra để phục vụ cho những mục tiêu chánh trị nhất định trong một giai đọan lịch sử nhất định. Đến lúc nào đó nó sẽ bị đào thải do không theo kịp sự tiến hóa không ngừng của xã hội. Còn chủ nghĩa Cộng Sản chỉ là chủ nghĩa ngoại lai, duy vật và sai lầm khi chủ trương vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc, đi ngược lại bản chất con người, ngược lại truyền thống duy tâm, trọng đạo và nền văn hóa cổ truyền của người Việt. Nó quá tàn nhẫn và sai lầm khi chủ trương đấu tranh giai cấp bằng chuyên chính vô sản. Tôi cho rằng nó sẽ không tồn tại lâu dài.

Thấy hai tên Việt Cộng vẫn im lặng, anh Giáo nói tiếp:

– Trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968 các anh đã đồng ý hưu chiến để đồng bào an tâm vui đón ba ngày lễ cổ truyền của dân tộc. Vậy mà các anh lại tấn công vào các đô thị miền Nam, gieo rắc kinh hoàng, chết chóc cho người dân vô tội. Khi các anh rút lui khỏi Huế lại nhẫn tâm sát hại, chôn sống hàng ngàn dân lành. Các anh ký hiệp định Paris năm 1973 để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Lúc nào các anh cũng giương cao ngọn cờ chống Mỹ cứu nước như chánh nghĩa đấu tranh của mình, nhưng khi Mỹ rút đi rồi thì các anh dốc toàn lực đánh chiếm miền Nam. Vậy mà các anh nói được là hòa bình, hòa giải dân tộc!

Nói tới đây anh Giáo ngừng lại trong giây phút, rồi bất ngờ anh chỉ tay về phía hai cán bộ Việt Cộng:

– Vậy thì giữa chúng tôi và các anh, ai mới là người có tội?

Bấy giờ thì hai tên Việt Cộng giận run, nét mặt đanh lại, xám ngắt.. Chúng không trả lời câu hỏi của anh Giáo mà đuổi anh ra khỏi phòng.

Bằng đủ mọi cách đấu tranh buộc anh Giáo nhận tội không kết quả, bọn Việt Cộng để cho phong trào lắng xuống. Ai cũng hồi hộp, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy đến cho anh KTG. Việt Cộng có thể mang anh ra bắn công khai về tội phản động như họ đã từng làm ở trại này mà anh Giáo cũng như mọi người trong trại đều biết. Thời gian này anh Giáo cho biết các em của anh đi học tập cùng đợt đã được ông chú bảo lãnh về hết, trong đó có người em ở trại kế bên, chỉ cách nhau một hàng rào dây thép gai. Ngày hai anh em chia tay nhau bên hàng rào,

anh Giáo dặn em hãy về lo cho mẹ và gia đình và đừng lo gì cho anh, chắc là lâu lắm anh mới được về.

 Phần anh vẫn vui vẻ sống cùng anh em với tinh thần bình thản, một đôi khi còn tiếu lâm, khôi hài nữa. Anh thường hay hát những bài như Hà Nội, Niềm tin và Hy vọng, Anh lính quân bưu vui tính…Tôi hỏi sao không hát những bản nhạc của mình, anh nói hãy cố giữ nội quy của họ để họ không nói được mình.

Anh Giáo là thế, lúc nào cũng tự trọng. Mười bài học chánh trị rồi cũng qua. Chúng tôi có nhiều giờ rảnh hơn vì lúc này không còn phải ngồi hàng giờ để thảo luận và “giúp đỡ” anh Giáo nữa. Nghĩ lại,Việt Cộng dùng từ cũng ngộ, như từ “giúp đỡ” được dùng trong trường hợp này. Chúng tôi xét thấy chẳng có ai đủ tư cách để giúp đỡ anh Giáo, ngược lại rất nể trọng anh và được anh giúp đỡ rất nhiều.

Vào những buổi chiều sau khi cơm nước xong, anh và tôi thường hay đi bách bộ dưới tàng những cây sứ có hoa màu trắng, tỏa hương thơm ngát. Chúng tôi thường trao đổi với nhau về chuyện ngân hàng và những vấn đề mà cả hai cùng quan tâm. Thấy anh nhặt rất nhiều bông sứ, tôi hỏi:

– Chi vậy?
– Mai mốt về tặng người yêu – Anh trả lời.
– Chắc là cô bạn rất thích hoa này?
– Vì nó trắng tinh khiết và thơm dịu dàng.
– Sợ tới chừng đó nó sẽ phai màu đi – Tôi e ngại.
– Không sao. Dù hoa có phai màu nhưng chắc sẽ giữ được tình cảm của mình trong đó!
– Anh lãng mạn quá – Tôi nhận xét.

Anh Giáo cười để lộ hai cái răng khểnh và một đồng tiền dưới khóe miệng bên phải. Trông anh dễ thương hơn bao giờ hết!

Có lần trong lúc trò chuyện anh nói hiện nay anh ghét nhất là cái khẩu hiệu “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Bản thân chủ nghĩa xã hội không ra gì thì làm sao mà yêu cho được. Theo anh Giáo, yêu nước là yêu nước. Không thể và không nên gán ghép nước Việt Nam với bất cứ một chủ nghĩa nào, dù là Chủ Nghĩa Xã Hội, Cộng Sản hay Tư Bản. Nếu những chủ nghĩa này sụp đổ thì không yêu nước nữa hay sao?

Đêm 21 tháng 6 năm 1976 chúng tôi được chở bằng Motolova đến Tân Cảng xuống tàu há mồm 503 ra Phú Quốc. Chuyến đi thật kinh hoàng như địa ngục trần gian mà con người có thể tưởng tượng được. Hàng ngàn người bị dồn trên con tàu đóng kín cửa. Ăn uống, ói mửa, tiểu tiện chỉ có một chỗ, cho vào thùng phuy. Khi tàu cập bến Phú Quốc có nhiều tù nhân bị xỉu, những người còn lại đều kiệt sức. Tù nhân phải dùng chính những thùng phuy này để nấu cháo ăn ngay trong đêm. Cho tới hôm nay, khi tôi viết bài này là ba muơi bốn năm, hình ảnh hãi hùng này vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi ghi vào nhật ký:

Đau đớn thay những linh hồn cháy lửa
Suốt đêm ngày tắm rửa với mồ hôi
Với cao tay quờ quạng chút hơi người
Miệng gào thét những âm thanh khiếp đảm

Ở Phú Quốc ngoài việc trồng rau để “cải thiện” bửa ăn, việc lên rừng đốn củi là công tác thường xuyên và cực nhọc nhất. Nhiều anh em nghe lời Việt Cộng, đi tìm vác những cây to để chứng tỏ mình là người “tiến bộ”. Anh Giáo thì không. Lúc nào anh cũng ung dung, tự tại. Anh chỉ tìm vác những cây vừa sức mình. Khi thấy cần phải nghỉ thì anh dừng lại nghỉ, mặc cho bọn vệ binh ôm súng canh giữ cho tới lúc hết mệt anh mới đứng lên đi tiếp. Anh khuyên anh em phải biết giữ gìn sức khỏe vì thời gian “học tập” hãy còn dài. Giờ đây ngồi ghi lại những dòng này, cảnh tượng của năm nào lại hiện ra trước mặt: Trong một buổi chiều ảm đạm, gió thổi ào ào. Một bên là biển, một bên là rừng.

Đoàn tù cả trăm người, dài hơn cây số, xếp hàng đôi, áo quần lôi thôi lếch thếch, vai vác những thân cây nặng nề, mồ hôi lã chã, chậm chạp lê bước trên những con dốc ngoằng ngoèo, trơn trợt. Nhiều người té lên té xuống. Hai bên và phía sau là những tên vệ binh ôm súng AK thúc giục. Tới đầu một con dốc, anh Giáo đặt thân cây xuống, ngồi trên đó nghỉ mệt. Khi một người không đi nổi thì cả đoàn phải dừng lại chờ. Điều này bọn cai tù Việt Cộng không muốn. Tên chỉ huy đến chỗ anh Giáo bắt phải đứng lên đi tiếp Anh Giáo trả lời mệt quá nên phải nghỉ. Tên cán bộ không chịu. Thế là cuộc đấu trí bắt đầu. Đến khi đuối lý, tên cán bộ rút khẩu K 54 ra khỏi vỏ. Cả đoàn tù hồi hộp. Cả khu rừng như nín thở. Tên cán bộ đến bên anh, nghiêm sắc mặt:

– Anh có đứng lên không?
– Tôi còn mệt.
– Anh không chấp hành lệnh phải không?
– Tôi đã nói là tôi còn mệt. Bao giờ hết mệt tôi sẽ đi.

Tên cán bộ hướng khẩu K54 về phía anh Giáo:

– Anh không đứng lên tôi bắn.

Anh Giáo vẫn ngồi bất động, lạnh lùng đáp:

– Anh cứ bắn đi!

Tên cán bộ Việt Cộng bóp cò. Hai tiếng nổ chát chúa vang động cả khu rừng. Một bầy chim bay lên tán loạn , kêu quang quác… Nhiều người tù gục xuống, ôm ngực:

– Lại Chúa tôi.

Sự việc diễn ra chỉ trong vài giây ngắn ngủi nhưng đã nói lên tất cả nét bi hùng của cuộc chiến sau “Hòa bình” mà kẻ có vũ khí trong tay đã thua, đồng thời tính chất anh hùng của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong hoàn cảnh sa cơ thất thế vẫn sáng ngời, chói lọi. Người tù đã thắng! Không biết vì sợ hãi hay run tay mà đường đạn nhắm vào anh Giáo đã đi trượt một bên tai, làm bể nát phần thân cây mà anh Giáo đang ngồi trên đó. Tôi thì sửng sốt, bàng hoàng, tưởng như mình vừa trải qua một giấc mơ, vừa chứng kiến một cảnh chỉ có thể xảy ra trên màn ảnh, truyền hình!

Anh Giáo thường hay kể truyện Tam Quốc, truyện Thần Điêu Đại Hiệp, truyện Tây Du Ký cho chúng tôi nghe. Hết truyện Tàu đến truyện tiếu lâm, làm cho đời sống tù tội bớt căng thẳng.

Sau một thời gian ở Phú Quốc, Việt Cộng nhiều lần cho họp liên trại, phát động lại chiến dịch đấu tranh bắt anh Giáo nhận tội, nhưng rồi không thể nào lay chuyển được tư tưởng của anh. Riêng đám tù binh chúng tôi bấy giờ rất thoải mái chớ không còn căng thẳng như lúc ở Hốc Môn. Người ta chỉ tổ chức đấu tranh với anh Giáo cho có lệ. Những lần như thế chúng tôi khỏi phải lên rừng vác củi, được nghỉ lao động, lại thích hơn.

Nhưng thời khắc định mệnh đã tới! Một hôm trong lúc xếp hàng điểm danh cuối ngày, cán bộ Việt Cộng ra lệnh cho anh Giáo phải bỏ kính ra. Anh trình bày vì cận thị từ lâu nên không bỏ ra được. Chỉ chờ có thế, chúng ra lệnh nhốt anh vào cũi sắt làm bằng dây thép gai, thứ mà chúng ta hay gọi là chuồng cọp, diện tích rất hẹp, nằm không được mà ngồi cũng không được. Chuồng cọp để giữa trời, không có mái che mưa che nắng.

Ngay từ năm 1930, khi thành lập đảng Cộng Sản, họ đã có chính sách “Trí, Phú, Địa, Hào, đào tận gốc bốc tận rễ.” Anh KTG là một trí thức mặc dầu thua trận vẫn cương quyết giữ vững lập trường chống Cộng và quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc Gia thì sẽ bị tiêu diệt là điều khó tránh khỏi. Tiến sĩ toán ĐXH, cá nhân tôi và biết bao anh em khác cùng đội cũng mang kính trắng giống như anh KTG mà không hề bị làm khó dễ. Điều này được giải thích như thế nào đây? Mỗi ngày Việt Cộng chỉ cho anh Giáo nửa chén cơm lạt. Anh lại tuyệt thực để đấu tranh và phản đối chính sách dã man và sự trả thù hèn hạ của chúng. Ngoài tuyệt thực, anh Giáo còn dùng lời ca, tiếng hát để làm vũ khí đấu tranh. Bài hát anh Giáo sử dụng là bài Đêm Nguyện Cầu, trong đó có những câu:

Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối…
Nghẹn ngào cho non nước tôi, trăm ngàn ưu phiền…”

Có lẽ trong giờ phút đó, anh Giáo biết rằng mình đã ở vào thế hoàn toàn tuyệt vọng và chỉ có thể nguyện cầu mà thôi. Đây là lần đầu tiên mà có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi nhìn thấy một người hát bằng tất cả linh hồn như vậy. Anh Giáo thường cất tiếng hát của mình vào những đêm khuya thanh vắng. Giọng hát của anh bay vào không gian, vào từng lán, trại, có lúc thật cảm xúc, có lúc nghe rợn người như âm thanh phát ra từ cõi chết. Nhiều người nghe anh hát thì ngủ không được, nhiều người đang ngủ thì bừng tỉnh dậy và khóc nức nở. Bài Đêm Nguyện Cầu là của Lê- Minh- Bằng. Anh Bằng năm nay vẫn còn sống ở Mỹ, chắc anh không ngờ sáng tác của anh lại có người sử dụng trong hoàn cảnh đắng cay như vậy. Giờ đây mỗi lần nghe lại bài hát này tôi không cầm được nước mắt vì nhớ tới người bạn của mình. Lời ca của anh Giáo rồi thì cũng yếu dần và tôi không nhớ cho đến khi nào thì tắt lịm. Anh bị xuống sức rất nhanh. Từ một thanh niên khỏe mạnh cao hơn một thước bảy, chỉ trong vòng một tháng anh chỉ còn là một bộ xương, duy có đôi mắt là còn tinh anh, sáng ngời, khiến cho nhiều người không dám nhìn thẳng vào mắt anh, nhất là cán bộ Việt Cộng.

Ngày 20 tháng 6 năm 1977 Việt Cộng cho di chuyển một số tù nhân từ Phú Quốc về Long Giao, Long Khánh. Anh Giáo di chuyển đợt đầu, tôi thì đi đợt kế tiếp. Trong lúc di chuyển, anh Giáo bị còng tay, lúc nào cũng có vệ binh ôm súng canh chừng. Ngay khi về tới Long Giao tôi vội đi tìm anh Giáo. Khi gặp được anh thì anh đang hấp hối. Tôi nắm tay anh, bàn tay lạnh ngắt Lời nói cuối cùng anh nhắn lại với tôi là khi nào được về thì nói tất cả sự thật cho gia đình anh biết. Tôi hỏi địa chỉ ở đâu thì anh thều thào trong hơi thở rất yếu. Hình như anh thốt ra hai chữ Huyền Trân. Sau này khi đi lao động tình cờ tôi gặp được nấm mộ của anh, phủ đầy cỏ dại ở một góc sân banh hoang vắng.

Trên mộ có tấm bảng gỗ nhỏ có đề tên anh, nét chữ nhạt nhòa.

Tôi được tha về cuối năm 1977. Mặc dầu phải đương đầu với biết bao khó khăn trong đời sống hàng ngày đối với một người vừa mới ra tù, tôi vẫn để tâm đi tìm gia đình anh Kha Tư Giáo. Theo quyết định ra trại, tôi chỉ được tạm trú ở nhà một tháng, sau đó phải chịu sự điều động của địa phương đi “Kinh Tế Mới”. Nhờ may mắn, tôi xin được giấy chứng nhận là thuộc diện sử dụng vào công việc của thành phố. Từ đó tôi xin được việc làm và dần dần ổn định được đời sống. Tôi đã tìm khắp mọi nẻo đường, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, Bà Chiểu, Phú Nhuận, nhất là đường Huyền Trân Công Chúa, đường có hai chữ Huyền Trân mà tôi đã nghe anh Giáo thốt ra trong lúc lâm chung. Nhưng con đường này toàn là biệt thự, có vẻ là công sở hơn là nhà tư nhân. Tôi cứ đi qua, đi lại con đường này không biết bao nhiêu lần. Khi tôi vào hỏi đều nhận được cái lắc đầu của chủ nhà. Cũng có lần tôi cầu may lên Thành Ủy Sài Gòn ở đường Trương Định, quận Ba để hỏi thăm về đồng chí KVC, Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp Nhẹ nhưng tôi không qua được cổng bảo vệ vì khi được hỏi quan hệ như thế nào với đồng chí bộ trưởng thì tôi trả lời quanh co mà không chứng minh được gì cả.

Trong suốt hai mươi năm ở SàiGòn không tìm được gia đình anh Giáo thì tôi được người em vợ bảo lãnh đi Mỹ, định cư ở Chicago vào cuối năm 1997. Sang Mỹ tôi vẫn tìm cách thực hiện nguyện vọng cuối cùng của người bạn quá cố. Tôi cố gắng dò hỏi trong số bạn bè mà tôi liên lạc được xem có ai biết gia đình họ Kha ở đâu không. Một lần nữa tôi không có tin vui. Điều tôi làm được là cuối tháng 12 năm 2001 tôi viết lại câu chuyện về anh Kha Tư Giáo, đặt tựa đề Người Không Nhận Tội và gửi cho tờ Việt Báo ở California, mục “Viết về nước Mỹ”.Tôi chọn mục này vì đây là diễn đàn có số độc giả rất lớn, ở khắp nơi trên thế giới, biết đâu gia đình anh Giáo sẽ đọc được. Hy vọng của tôi rất mong manh vì bài của tôi không nói gì về nước Mỹ mà chỉ viết về người bạn của mình đã ngã gục trong tù Cộng Sản. Vậy mà không ngờ, bài viết cũng được chọn đăng và được phổ biến trên hệ thống thông tin toàn cầu. Tôi lại hồi hộp chờ đợi bài viết của mình đến với gia đình anh KTG. Ngày 23 tháng 1 năm 2002 tôi nhận được email của Ban Chủ Nhiệm Việt Báo chuyển cho cùng với bức điện thư của anh KTC, em của anh KTG gửi từ Autin, Texas, báo tin gia đình anh đã đọc được bài viết của tôi. Bức điện thư ngắn ngủi nhưng đã gây cho tôi một cảm xúc mạnh, một niềm vui lớn. Bạn hãy tưởng tượng cũng biết được là tôi hạnh phúc như thế nào khi nỗi niềm đã được giải tỏa, khi ước mơ 25 năm đã thực hiện được, nhất là ước mơ đó là của người quá cố, nên có tính cách linh thiêng. Chiều chủ nhật 27 tháng 1 năm 2002, tôi đang ở nhà thì nhận được điện thọai từ Texas:

– Hello! Tôi là KHT, em ruột anh Kha Tư Giáo. Xin lỗi có phải…
– Tôi, Duy Nhân đây.
– Chào anh Duy Nhân! Có phải anh là tác giả bài viết Người Không Nhân Tội?
– Tôi đây chị.
– Hân hạnh được nói chuyện với anh. Gia đình tôi đọc được bài viết của anh trên Internet. Không ngờ sự thật như vậy…

Tới đây thì tiếng nói đứt quãng. Tôi nghe được cả sự nghẹn ngào bên kia đầu dây. Chị HT quá xúc động. Tôi cũng vậy. Tôi giữ được im lặng trong một phút, rồi nói:

– Đây là giây phút mà tôi chờ đợi suốt hai mươi lăm năm nay.
– Gia đình chúng tôi cám ơn anh nhiều lắm.
– Tôi chỉ làm nhiệm vụ đối với anh Giáo, một người bạn của tôi.
– Bài viết của anh nói lên được nhiều điều. Qua đó, gia đình tôi hiểu rõ sự thật về anh Giáo, về Cộng Sản mà nhiều cán bộ cao cấp theo Cộng Sản suốt đời cũng không hiểu được.

Tôi lại nghe tiếng nức nở bên kia đầu dây. Chị HT lại khóc. Sau đó chị kể cho tôi nghe những sự kiện tiếp theo cái chết của anh Giáo. Chín tháng sau khi anh Giáo chết thì Việt Cộng mới báo tin về gia đình, Họ có hoàn lại cho gia đình một số vật dụng cá nhân, trong đó có cặp kính trắng. Bây giờ tới phiên tôi đau lòng và xót xa khi nghe nhắc tới cặp kính trắng. Đó chứng tích của sự trả thù hèn mọn và một chính sách sai lầm đối với trí thức, đối với người thuộc chế độ cũ mà tôi là nhân chứng từ đầu tới cuối. Khi gia đình nhận được giấy báo tử của anh Giáo thì mẹ và các em đi gặp cán bộ có chức quyền để hỏi tin tức. Họ nói anh Giáo nhịn ăn cho tới chết. Mẹ anh hỏi lý do gì khiến anh Giáo phải tuyệt thực, anh Giáo có tội gì phải biệt giam, đề nghị cho xin bản án hoặc biên bản về cái chết của anh Giáo. Việt Cộng không trả lời. Mặc dầu uất ức nhưng mẹ anh cố kiềm nước mắt không bật khóc trước mặt Việt Cộng. Đến khi mẹ anh Giáo đề nghị được dẫn đi tìm mộ thì bọn Việt Cộng lại tỏ ra khó chịu và đòi hối lộ. Cuối cùng, bà và các em phải đi tìm một mình và dĩ nhiên là không thể nào tìm được! Vì quá đau buồn, mẹ anh Giáo qua đời sau đó ít lâu. Khi tôi nhắc đến tên Huyền Trân thì chị nói đó không phải là tên đường mà là tên của chị. Có lẽ trong lúc lâm chung anh Giáo gọi tên chị mà tôi tưởng là tên đường. Chị HT nói cho tới bây giờ gia đình chị không ai biết anh Giáo nằm ở đâu. Tôi thì biết rất rõ. Ngôi mộ quay đề về hướng Đông ở một góc sân banh.

Trên mộ có xuất hiện một cây hoa dại có bông rất lạ. Ngày xưa mỗi lần đi lao động về ngang qua ngôi mộ tôi đề bứt vài bông đem về cắm trong lọ mà tưởng tượng anh Giáo như còn sống.. Anh Giáo đã chết một cách vô danh mà anh hùng như loài hoa kia đã dũng cảm vươn lên giữa khô cằn và gai góc.

Sau chi HT thì anh KTH, em kế anh Giáo từ bên Pháp đã liên lạc với tôi bằng thư và nói chuyện qua điện thọai.. Anh cho biết rõ hơn về tính tình ngay thẳng, cương trực của anh Giáo. Anh H tỏ ra rất hãnh diện và tự hào về người anh của mình, đã chọn cái chết mà không phải ai cũng làm được. Anh đã thanh thản đi vào trang sử bi hùng của Quân Lực VNCH và dân tộc.

Anh Kha Tư Giáo ơi! Ở một nơi nào đó chắc là anh đã mãn nguyện vì ước muốn sau cùng của anh đã được thực hiện, dầu có muộn màng. Bài mà tôi viết về anh người ta đã lấy dựng thành kịch (1), cho phổ biến, trình chiếu khắp nơi mà không xin phép tác giả. Thôi thì hãy ngậm cười mà tha thứ cho họ, tha thứ tất cả. Tha thứ cho những kẻ đã hành hạ anh, những kẻ bỏ đói anh, tha thứ luôn cho cái chuồng cọp nhốt anh đêm ngày và cái còng sắt siết chặt tay anh rớm máu! Bây giờ đã là ba mươi bốn năm, vậy mà tôi tưởng như mới ngày nào…

 Lịch sử vẫn đang ghi nhận những sự thay đổi, những bước tiếp diễn lạnh lùng của nó. Có những điều anh nhận định, anh mong mỏi bây giờ đã là sự thật, ngọai trừ Tự Do và Hạnh Phúc cho mọi người.

Gia đình anh có nhiều thay đổi: Mẹ anh đã qua đời, ông chú anh cũng đã ra đi. Người ta dùng tên chú anh để đặt tên một con đường nhỏ ở Thủ Đức nhưng lại viết sai chính tả! Anh còn lại những người thân nhưng đã phân tán mỗi người mỗi ngã. Có người còn ở Việt Nam, có người ở Pháp, ở Mỹ… Tôi vẫn đang liên lạc với họ, vẫn nghe tiếng họ nói mà chưa một lần gặp mặt. Vậy mà cảm thấy như đã thân quen tự thuở nào. Về phần tôi, khi nào điều kiện cho phép tôi sẽ về lại Việt Nam. Tôi sẽ đi tìm ngôi mộ của anh, sẽ thắp lên đó một nén hương và trồng bên cạnh đó một cây sứ có bông màu trắng.

GHI CHÚ: (1) Bài viết Người Không Nhận Tội đã được Trung Tâm Băng Nhạc Asia dàn dựng với cùng tựa đề, do Ban kịch Sống – Túy Hồng trình diễn trong cuốn Asia số 36 (chủ đề Người Lính) tưởng niệm 27 năm tháng 4 đen (30/4/1975 – 30/4/ 2002). Bài này được viết lại tháng 4 năm 2010 để tưởng niệm 35 năm ngày mất nước

(Bài do Huynh Hung và Tuan Hoang sưu tầm)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Không Nhận Tội – Tác giả Duy Nhan

Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975? (Nguyễn Quang Duy)

Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa

sụp đổ năm 1975 ?

Nguyễn Quang Duy

Sau 46 năm chấm dứt chiến tranh, nhiều người, kể cả những học giả ngoại quốc, vẫn tin rằng cuộc chiến tại miền Nam là cuộc chiến giữa hai ý thức hệ quốc gia và cộng sản.

Nhưng ý thức hệ quốc gia hay chủ nghĩa quốc gia Việt Nam là gì và lý do ý thức hệ cộng sản thắng thế vẫn chưa được tìm hiểu và phân tích cặn kẽ để biết đâu là sự thật.

Chủ nghĩa quốc gia đến với Việt Nam

Trước thế kỷ thứ 20, nước là của vua, dân là con vua, việc bảo vệ và mở mang bờ cõi là trách niệm của nhà vua, làm dân có bổn phận phải trung thành với vua và sẵn sàng chết theo lệnh của nhà vua.

Cụ Phan Chu Trinh, cụ Phan Bội Châu là hai trong số những người Việt quốc gia đầu tiên, một người chịu ảnh hưởng chủ nghĩa quốc gia Pháp còn một người chịu ảnh hưởng chủ nghĩa quốc gia Trung Hoa và Nhật Bản, nên có hai khuynh hướng phụng sự quốc gia rất khác biệt.

Nhà cách mạng Nguyễn Thái Học (Quốc Dân Đảng), Đức Huỳnh Phú Sổ (đạo Hòa Hảo), Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (đạo Cao Đài), Vua Bảo Đại, ông Phạm Quỳnh, ông Ngô Đình Diệm, ông Trần trọng Kim, học giả Lý Đông A (đảng Duy Dân), ông Trương Tử Anh (đảng Đại Việt) và rất nhiều người khác là những người Việt quốc gia của thời kỳ tiếp theo.

Những người kể trên về mặt tư tưởng họ khác nhau một trời một vực, có khi còn đối chọi với nhau, cho thấy ở thời điểm 1945 vẫn chưa có một hệ tư tưởng có thể coi là hệ tư tưởng quốc gia hay chủ nghĩa quốc gia.

Năm 1949 khi người Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, Quốc trưởng Bảo Đại đặt tên nước là Quốc Gia Việt Nam, lập Quân Đội Quốc Gia, Chính Phủ Quốc Gia, và cờ Vàng ba sọc đỏ được gọi là cờ Quốc Gia.

Vua Bảo Đại từ lâu đã muốn xây dựng một chủ nghĩa quốc gia riêng cho Việt Nam, nhưng vì hoàn cảnh đất nước chưa hoàn toàn độc lập, và vẫn còn chiến tranh nên không thực hiện được ý muốn.

Chủ nghĩa quốc gia là gì ?

Là hệ tư tưởng soi sáng và hướng dẫn chúng ta làm những việc có ý nghĩa, có đạo đức, biết việc gì cần làm và tạo cho chúng ta sáng kiến đạt được kết quả tốt nhất trong cạnh tranh sinh tồn và phát triển đất nước.

Mỗi quốc gia đều có những khác biệt về lịch sử, sắc tộc, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, bởi thế chủ nghĩa quốc gia Việt Nam phải khác hẳn với chủ nghĩa quốc gia ở các quốc gia khác.

Chủ nghĩa quốc gia Việt Nam phải nối kết được những tư tưởng, những tình cảm, những truyền thống, những ước mong, những ý hướng trong tâm trí của mọi người thuộc mọi sắc tộc sống trên đất nước Việt Nam.

Có chủ nghĩa quốc gia mới có thể định hình được một cách rõ rệt những khái niệm về tổ quốc, về nòi giống, về lòng yêu nước, về tình đồng bào, xây dựng lý tưởng làm chuẩn mực cho đời sống của người Việt Nam.

Chủ nghĩa quốc gia chính là những nguyên tắc căn bản để chính phủ đề ra những chiến lược và đường lối kinh tế, văn hóa, xã hội hợp lòng dân và để người dân biết cách suy nghĩ và hành động vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Việt Nam chưa có hệ tư tưởng quốc gia

Tháng 8/1945, cộng sản nổi dậy cướp chính quyền, đến năm 1947 khi những người Việt quốc gia muốn ôn hòa giành lại độc lập phải cộng tác với người Pháp thì đảng cộng sản cướp luôn cả chính nghĩa quốc gia.

Trong hoàn cảnh chiến tranh những người Việt quốc gia chỉ duy trì tinh thần quốc gia rời rạc, không thể kết lại một cách chặt chẽ như một ý thức hệ hay một hệ tư tưởng có luận lý (lô gích), có đạo đức, dựa trên lợi ích quốc gia và dân tộc.

Vì thiếu một ý thức hệ quốc gia làm căn bản nên người quốc gia và các đảng phái quốc gia liên tục chia rẽ không thể tập trung được sức mạnh chiến đấu và tồn tại trong hoàn cảnh chiến tranh 1945-75.

Xem lại Đệ Nhất Cộng Hòa

Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa thay vì tìm cách xây dựng ý thức hệ quốc gia, lại lo xây dựng chủ nghĩa nhân vị ông Cao Xuân Vỹ Thủ lãnh Phong trào Thanh niên Cộng Hòa từng nghe Tổng thống Ngô Đình Diệm than phiền:

“Ngay cả đến các vị Bộ trưởng cũng không hiểu được (chủ nghĩa) nhân vị là gì, thì làm sao mà chúng ta thực hiện được cuộc cách mạng quốc gia ?”

Ông Diệm nói rất đúng vì khi tầng lớp lãnh đạo không hiểu được đường lối chiến lược quốc gia thì làm sao tầng lớp cán bộ có thể hiểu được để truyền bá chính nghĩa (việc làm đúng).

Và làm sao người dân, nhất là những nông dân chiếm đến 90% dân số lại có thể biết đến đường lối, chiến lược và viễn kiến của tầng lớp lãnh đạo quốc gia.

5 năm vàng son 1955-60 nhanh chóng trôi qua, khi cộng sản từ miền Bắc bắt đầu xâm nhập và cộng sản ở miền Nam nổi dậy, thì rõ ràng Việt Nam Cộng Hòa không có một chủ nghĩa đúng mức để vừa giữ được đất, vừa giữ được dân.

Chính phủ Mỹ sợ cộng sản thắng thế muốn trực tiếp mang quân vào tham chiến thì bị Tổng thống Ngô Đình Diệm phản đối họ mới nhúng tay vào cuộc đảo chánh 1/11/1963 lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

Mỹ Hóa chiến tranh

Miền Nam lọt vào vòng khủng hoảng chính trị, đảo chánh này sang đảo chánh khác, miền quê càng ngày càng mất an ninh, nhiều địa phương sáng quốc gia đêm cộng sản.

Ngày 8/3/1965, Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào bãi biển Đà Nẵng, người Mỹ mở rộng chiến tranh thả bom miền Bắc và trực tiếp điều khiển chiến tranh từ Tòa Bạch Ốc và Ngũ Giác Đài.

Người Mỹ nhúng tay đảo chánh Tổng thống Ngô Đình Diệm đã là một sai lầm lớn, việc Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam là sai lầm lớn hơn khiến họ phải trả một giá rất đắt về sinh mạng và tiền bạc.

Cho đến phút cuối người Mỹ vẫn không hiểu người Việt cả phía quốc gia lẫn bên cộng sản, nên trong chiến tranh Việt Nam người Mỹ liên tục mắc sai lầm là nguyên nhân chính dẫn đến ngày 30/4/1975.

Chiến tranh càng leo thang, người miền Nam càng phải tập trung bảo vệ miền Nam, nên càng ít quan tâm đến mặt lý thuyết xây dựng một ý thức hệ quốc gia.

Nói về Chủ nghĩa tự do

Khi ý thức hệ quốc gia chưa hình thành và khi người Mỹ đổ quân vào miền Nam chủ nghĩa tự do kiểu Mỹ đã phát triển một cách vô cùng mạnh mẽ.

Trong thời chiến cá nhân cần đặt lợi ích quốc gia và dân tộc bên trên, thì chủ nghĩa tự do lại dựa vào cá nhân để phát triển từ văn hóa, xã hội, kinh tế và nhất là chính trị (thể chế dân chủ pháp trị).

Một số thí dụ dưới đây cho thấy phần nào chủ nghĩa tự do đã dẫn đến ngày 30/4/1975.

Ở miền Nam tự do báo chí không khác gì ở Mỹ các nhà lãnh đạo thường xuyên được đưa lên mặt báo.

Tờ Tin Sáng là nhật báo đối lập với Chính phủ có mục “Tin Vịt” do “Tư trời biển” viết nêu đích danh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là tham quyền cố vị, hiếu chiến, thất học, tham nhũng, bất tài hay gọi ông là “Tổng Thẹo”, “Sáu Thẹo”…

Báo chí có quyền chỉ trích Chính phủ và chỉ trích cá nhân các nhà lãnh đạo miễn là không nhằm mục đích tuyên truyền cho cộng sản, nhưng các tờ báo vẫn thường dịch các bài viết từ phe cánh tả chống chiến tranh thì có khác gì tiếp tay tuyên truyền cho cộng sản.

Báo chí ngoại quốc cũng được tự do xuất bản tại miền Nam, người Việt vốn suy nghĩ người ngoại quốc đưa tin khách quan và trung thực, nên nhiều bài viết thuộc phe cánh tả chống chiến tranh cũng được rất nhiều người đọc và tin theo.

Về truyền hình thì có đài Quân đội Hoa Kỳ phát trên băng tần số 11 đưa những hình ảnh chiến trường mà lính Mỹ thua đến nỗi phải tháo chạy bằng các trực thăng, những hình ảnh này ảnh hưởng nặng đến tâm lý người Việt và rất có lợi cho phe cộng sản.

Giáo dục thì phi chính trị nên học sinh và sinh viên đều ít quan tâm đến tình trạng đất nước, một số còn xuống đường biểu tình chống chiến tranh hay leo núi theo cộng sản, số khác sống phóng túng, đua đòi theo cách sống Hippie kiểu Mỹ…

Văn học, âm nhạc, nghệ thuật ở miền Nam bao gồm đủ mọi khuynh hướng, từ tự do cá nhân, đến chuyện đất nước, tình tự dân tộc, nhân bản, khai phóng, hiện thực, chống chiến tranh và chống cả chính phủ.

Kinh tế thì tự do nên vì tiền mà một số thương gia sẵn sàng cung cấp hàng hóa cho cộng sản hay đầu cơ tích trữ phá hoại thị trường và cũng vì tiền mà một số giới chức tham nhũng đã tiếp tay với gian thương nuôi dưỡng cộng sản.

Ngay trong Quốc Hội, Khối Đối Lập liên tục chỉ trích Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, họ còn chủ trương nói chuyện với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản), chính trị miền Nam không khác gì sinh hoạt chính trị tại Hoa Kỳ.

Tự do thua cộng sản?

Một số người quan sát cuộc chiến ở miền Nam rồi vội vã cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã thắng chủ nghĩa tự do.

Nhưng nếu so Tây Đức và Đông Đức, Nam Hàn và Bắc Hàn, Trung Quốc và Đài Loan, Khối Tự Do chống lại Khối Cộng Sản thì rõ ràng ý thức hệ tự do đã là bên thắng cuộc.

Đại Hàn và Đài Loan là hai quốc gia Á châu bị phân đôi, chủ nghĩa quốc gia ở đó đã phát triển thành những ý thức hệ có thể đón nhận và hài hòa chủ nghĩa tự do kiểu Mỹ.

Sau một quá trình chọn lọc nhiều thập niên cho mãi đến những năm đầu của thập niên 1990 Đài Loan và Nam Hàn mới tiến hành dân chủ hóa đất nước của họ.

Còn Việt Nam Cộng Hòa vì chưa có được một chủ nghĩa quốc gia, một ý thức hệ quốc gia, một hệ tư tưởng hướng dẫn, nên chủ nghĩa tự do đã phản tác dụng phá hoại và tiêu hủy nền Cộng Hòa non trẻ ở miền Nam Việt Nam.

Theo tôi, đây là bài học cho cả hôm nay: Việt Nam vẫn đang cần chủ nghĩa quốc gia

Chiến tranh đã chấm dứt hơn 46 năm, so với các quốc gia trong vùng, Việt Nam vẫn thua kém cũng vì thiếu một chủ nghĩa quốc gia đúng đắn.

Trước thời chiến tranh Đài Loan và Đại Hàn về kinh tế chỉ tương đương với Việt Nam, nhưng ngày nay hai quốc gia này đã vượt xa chúng ta.

Đài Loan và Đại Hàn áp dụng chiến lược xuất cảng thúc đẩy tăng trưởng (export led growth strategy), nhưng nhờ họ có được hệ tư tưởng quốc gia vững chắc, nên có được chiến lược xây dựng kinh tế dựa trên nội lực quốc gia và kết quả tăng trưởng kinh tế thuộc về người dân của xứ họ.

Hà Nội cũng áp dụng chiến lược xuất cảng thúc đẩy tăng trưởng nhưng lại xây tổ đón phượng hoàng xứ người, nên người Đài Loan và người Đại Hàn nay đã trở thành những ông chủ, những con phượng hoàng trên đất nước Việt Nam.

Còn người Việt phải làm công bộc cho chủ nhân ngoại quốc hay phải sang tận xứ người để làm công cho họ.

Chiến lược tăng trưởng dựa trên xuất cảng biến Việt Nam thành một quốc gia lắp ráp trong chuỗi dây chuyền sản xuất của các công ty đa quốc gia.

Việt Nam được giao cho sản xuất các mặt hàng dựa trên lao động tay chân mang lại rất ít giá trị gia tăng cho quốc gia.

Các nghiệp đoàn tự do bảo vệ quyền lợi công nhân thì chưa có nên người Việt làm công nhận được một mức lương thật thấp, thậm chí không đủ sống qua ngày, còn lợi nhuận thì vào tay tư bản ngoại quốc và được họ đưa về chính quốc.

Dựa trên tỉ lệ thương mãi xuất và nhập cảng, Việt Nam nay là nước có mức độ toàn cầu hóa cao nhất thế giới, nguyên liệu chủ yếu phụ thuộc vào nhập cảng từ Trung Quốc và sản phẩm sản xuất thì chủ yếu xuất cảng sang Mỹ.

Chủ quyền kinh tế nay phụ thuộc nặng nề vào hai quốc gia này, Hoa Kỳ đe dọa trừng phạt kinh tế cũng sợ, mà Trung Quốc đe dọa trừng phạt kinh tế thì cũng lo.

Nếu các hãng xưởng Đài Loan và Đại Hàn rút khỏi Việt Nam thì nền kinh tế Việt Nam xem như sụp đổ, rõ ràng chủ quyền quốc gia Việt Nam đã bị lệ thuộc quá nặng vào ngoại bang.

Còn các mặt khác như văn hóa, giáo dục, xã hội, chính trị, và cả quân sự Việt Nam đều thua xa hai quốc gia Đài Loan và Đại Hàn.

Ở trong nước ai biểu lộ bất đồng chính kiến thì bị đảng Cộng sản cho công an cô lập và đàn áp.

Người Việt hải ngoại sống trong môi trường tự do nhưng vì thiếu một chủ nghĩa quốc gia dẫn dắt nên người đấu tranh luôn bị động, chẳng ai nghe ai, càng ngày càng chia rẽ và càng xa lìa chính những đồng hương đang sống ở hải ngoại.

Ôn lại lịch sử Việt Nam Cộng Hòa và nhìn vào hiện tình đất nước, người Việt muốn giữ được chủ quyền quốc gia vẫn cần phải xây dựng một hệ tư tưởng cho chính người Việt Nam, một chủ nghĩa quốc gia Việt Nam vẫn thật sự cần thiết.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

18/5/2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chủ nghĩa nào đã làm Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975? (Nguyễn Quang Duy)

DẠY HỌC: NGHỀ HAY NGHIỆP_Lê Phương Lan

DẠY HỌC: NGHỀ HAY NGHIỆP

Tác giả: Lê Phương Lan (Phu nhân K1 Nguyễn văn Vinh)

Bài được viết nhân ngày lễ Bế Giảng năm học online đặc biệt 2020-2021 và cũng là để chuẩn bị bài cho tập san kỷ yếu nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập trường GLVN giáo xứ Chúa Ba Ngôi sắp đến.

Một con người trưởng thành và có trách nhiệm luôn phải tìm cho mình một công việc để mưu cầu cuộc sống cho chính mình và cho gia đình. Một khi công việc này cứ mãi theo ta hay là đã trở thành động lực hướng dẫn ta trong cuộc sống thì nghề này nay đã trở thành nghiệp. Đó chính là “nghề  nghiệp” của mình.

Đối với tôi thì công việc dạy học là một nghề và nghiệp thật đúng nghĩa. Đầu tiên công việc này đến với tôi thật tình cờ: Vào đầu năm 1974 tôi có dạy học tại trường trung tiểu học Chí Thiện một thời gian rất ngắn. Nhưng cũng chính nhờ đó mà đến mùa nhập học sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 do nhu cầu cấp bách cần phải mở lại các trường học tại Sài Gòn của chính quyền mới mà tôi được gọi cho đi dạy lại. Vào thời điểm này nghề dạy học như một cái phao cấp cứu cho gia đình tôi qua khỏi một thảm họa phải bị đuổi ra khỏi thành phố để đi vùng kinh tế mới. Tôi được phân công dạy môn Văn hai cấp lớp 8 và 9 tại trường trung học Đắc Lộ. Rất may cho tôi là vào những năm đầu chương trình ngữ văn cũng còn được đưa thêm vào những áng văn thơ cổ . Bên cạnh những “Dũng sĩ Điện Ngọc”, “Dáng Đứng Việt Nam” vẫn còn có được “Hịch Tướng Sĩ”, “Bình Ngô Đại Cáo”để cho tôi đưa vào lòng yêu nước chân chính cho các em học sinh . Nhất là vẫn còn “Kim Vân Kiều” một tác phẩm mà trong đó tính chất giàu đẹp của tiếng Việt đã được thi hào Nguyễn Du sử dụng tuyệt vời trong nghệ thuật tả người, tả cảnh, tả tình đến nỗi học giả Phạm Quỳnh đã nhắc nhở hậu thế rằng:”Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”.

 Người dân thành phố Sài Gòn lúc này đang vật vã tìm đủ mọi cách để kiếm sống dưới bàn tay sắt của người chủ mới. Nhưng chính lúc đó tình người trong gia đình, trong khu xóm, trong học đường đã được thể hiện rõ nét nhất. Trong suốt cuộc đời đi dạy học đây là giai đoạn cảm động nhất mà tôi luôn khắc ghi trong tâm khảm. Các học sinh của tôi lúc bấy giờ cũng đủ lớn để thấy được hiện trạng đất nước. Khi đến thăm các em đã thấy hoàn cảnh của gia đình tôi. Các em nam sinh thì tình nguyện đến giúp cô giáo đóng lại trần nhà đã gần như bị rớt ra vì mưa dột. Các em nữ thì cứ đến gần ngày đi thăm nuôi chồng tôi lại đến giúp tôi làm bánh chế biến từ bột mì và khoai lang được mua theo khẩu phần từ hợp tác xã. Cảm động nhất là khi em Hoa, một nữ sinh lớp 9 sau buổi học phải đẩy xe bán trái sê ri nhưng đã có lần em ghé vào nhà để đưa cho tôi một chén thịt kho mắm ruốc rất mặn. Em còn dặn tôi ”Cô để dành ít thịt này để đi thăm nuôi thày!”

Tuy nhiên, dù tình thày trò có tha thiết đến đâu tôi cũng phải đành bỏ nghề sau bốn năm dạy học vì đồng lương không còn đủ nuôi sống gia đình!

Cho đến khi biết được rằng gia đình chúng tôi sẽ được đi định cư tại Mỹ tôi cũng không mảy may nghĩ đến việc trở lại nghề cũ. 

Sau khi được đến tái lập nghiệp tại miền đất Cali trù phú ngày 20 tháng 5 năm 1991, tôi hăm hở tìm hiểu các nghề mà một số người quen giới thiệu như nhận may hàng gia công, nghề làm tóc, làm móng tay hay theo một người bạn phụ nấu ăn trong một xe Lunch  cung cấp thức ăn nóng cho các cơ sở kỹ nghệ điện tử.

Lần thứ hai nghề dạy học đã trở lại với tôi hoàn toàn không nằm trong dự tính. Nguyên nhân là do việc chúng tôi bất ngờ có được thêm một bé út nên tôi quyết định đi học trở lại khởi đầu tại Evergreen Valley College để có thêm tiền trợ cấp học bổng. Tuy nhiên, niềm mơ ước được quảng bá nền văn hóa Việt Nam chính là động lực thúc đẩy và rất may mắn cho tôi là đã được bước vào nghề dạy học thật đúng lúc. Tôi đã được học với tiến sĩ Mai Đào lúc đó đang phụ trách các giáo trình nhằm đào tạo các thày cô giáo cho chương trình song ngữ tiếng Việt (Vietnamese Bilingual Program) của San Jose State University. Giáo sư Mai Đào đang rất cần người phụ tá khi bà được cấp ngân sách mở trường Việt Ngữ Kiểu Mẫu tại đây. Tôi được giáo sư Mai Đào giao cho việc giảng dạy và soạn bộ sách dạy học vần cho các lớp Việt Ngữ. 

Tôi ra trường SJSU năm 1997 và bắt đầu đi dạy khi chương trình song ngữ vẫn còn trong giai đoạn huy hoàng và học sinh Việt Nam có mặt khá đông trong các học khu tại quận hạt Santa Clara. Lớp học tôi được giao cho dạy thực tập khi chuẩn bị vào nghề là một kỷ niệm rất đẹp. Đó là một lớp dạy mùa hè mà học sinh toàn là các cháu Việt Nam ngoan ngoãn vô cùng trong đó có hai anh em Khoa và Thư. Sau này Khoa đã trở thành linh mục Khoa Vũ và đã từng phục vụ tại giáo xứ Saint Francis of Assisi .

Cho dù sau này chương trình dạy song ngữ không còn nữa, hàng năm tôi vẫn luôn cùng với các bạn đồng nghiệp liên tục giới thiệu các nét văn hóa Việt trong hai ngày hội truyền thống là Tết Trung Thu và nhất là trong ngày Tết Nguyên Đán. Trong mỗi chương trình văn nghệ những màn hợp ca, các màn vũ dân tộc luôn được tham gia bởi các giáo viên và học sinh người Mỹ, Mễ của toàn trường. 

 Dạy học tại nhà trường Mỹ có những khó khăn riêng của nó. Trong một xã hội tự do dân chủ thì quyền góp ý, phê phán của phụ huynh ngay cả của học sinh đã được pháp luật bảo vệ. Thày cô giáo cũng chỉ được đối xử như những người công chức của chính phủ mà thôi. Tuy vậy cũng không thiếu những món quà kỷ niệm được lưu giữ nói lên lòng biết ơn và trân trọng của phụ huynh và học sinh trong suốt 20 năm dạy học của tôi.

Tôi bắt đầu để ý đến các chương trình dạy Giáo lý và Việt ngữ khi cô con gái út được đi học Giáo lý và Việt ngữ tại giáo xứ Saint Patrick. Lòng nhiệt thành trong việc giữ vững đức tin và gìn giữ văn hóa dân tộc thúc giục tôi tham gia vào việc dạy học tại giáo xứ Chúa Ba Ngôi từ khi Sơ Trần Lệ Huyền Angeline nhận chức hiệu trưởng tại đây năm 2005 cho mãi đến bây giờ. Tôi yêu thích và  hăng say với công việc dạy học Giáo Lý và Việt ngữ còn hơn là việc dạy học chính tại nhà trường công lập. Theo tôi thì việc dạy học chính quy dù cho đó là sự chọn lựa đúng nhất của tôi thì dẫu sao vẫn chỉ là một “nghề” vì qua đó sức lao động bằng trí óc của tôi đã được trả công. Việc dạy học tại giáo xứ mới chính là “nghiệp” mà tôi thiết tha, gắn bó. Các thày cô giáo tại đây làm việc hoàn toàn tự nguyện, vô vị lợi. Chúng tôi làm việc hoàn toàn là vì lòng yêu thương thế hệ trẻ. Khi yêu thương thật lòng chúng ta luôn muốn để dành những gì tốt nhất cho người mình thương.

 Giáo dục là món quà tốt nhất. Sự học cần thiết cho cả đời sống tinh thần lẫn đời sống vật chất. Mục đích của giáo dục chẳng những để đào luyện cho con người trở nên giỏi giang về mặt kiến thức (knowledge) và kỹ năng (skills) mà còn làm cho con người trở nên cao thượng (noble), để có sự nhận định, suy xét đúng đắn (wise judgment). Cái đẹp của học vấn là không ai có thể tước đoạt được kiến thức của mình “The beautiful thing about learning is that no one can take it away from you” (B.B. King). Mà cái đẹp nhất trong đời người còn gì hơn là có một đức tin cao đẹp và một nền văn hóa truyền thống dân tộc?

Đức tin của tôi là tin vào một Đấng Toàn Năng:

Tiến sĩ Phan Như Ngọc bị nhồi nhét thuyết vô thần từ nhỏ và lớn lên trong lòng xã hội chủ nghĩa. Nhân một chuyến công tác ở nước ngoài ông đã xin tỵ nạn và đã xin gia nhập đạo Thiên Chúa. Ông viết: ”Tính muôn màu muôn vẻ của thiên nhiên, tính di truyền kỳ diệu: hạt giống nào sinh trái đó, con người từ hàng ngàn năm qua vẫn sản sinh ra con người, vẻ đẹp tuyệt vời của hoa lá, sự hài hòa và hoàn thiện của cơ thể con người, sự hùng vĩ của vũ trụ, thiên nhiên; tất cả những cái đó cộng với ý kiến của các vĩ nhân mà tôi hằng kính phục, chính là sự chứng minh tuyệt vời làm cho tôi tin rằng phải có Đấng Sáng Tạo.”

Khoa học dẫn đến Thiên Chúa:

Bác học Becquerel:”Nhờ nghiên cứu khoa học đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đức tin.”

Bác học Isaac Newton khi nhìn thấy sự kỳ diệu và trật tự của bầu trời đã thốt lên:”Tôi thấy Thượng Đế qua viễn vọng kính!”

Bác học Albert Einstein:” Khoa học không tôn giáo là mù lòa, tôn giáo thiếu khoa học là què quặt.” “Tôi chưa hề gặp điều gì trong khoa học của tôi mà lại đi ngược với tôn giáo.” “Sự ác là do vắng bóng Thượng Đế trong tâm hồn.”

Charles Nicolle, người đoạt giải Nobel Y học năm 1928:”May mắn thay trong tôn giáo có những bí nhiệm. Nếu không tôi sẽ hoài nghi nó, vì cho rằng tôn giáo do trí óc con người tạo ra. Bí nhiệm làm tôi vững tâm. Đó là dấu ấn của Thiên Chúa.”

Bác học Chevreul:”Tôi không thấy Thiên Chúa vì Ngài thiêng liêng, nhưng tôi thấy công trình tạo dựng của Ngài.”

Bác học Edison đã ghi vào sổ vàng khi ông đến thăm tháp Eiffel:”Edison hết sức khâm phục và ca ngợi tất cả các kỹ sư, trong đó gồm cả Thiên Chúa.”

Bác học Diderot:”Chỉ cần cái cánh và con mắt của con bướm, cũng đủ diệt tan mọi lý lẽ của kẻ vô thần.”

Văn hóa truyền thống dân tộc:”Văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết những gì đã học tại học đường” (Culture is what remains after one has forgotten everything he learned in school.) Albert Einstein

Thật đúng như vậy, sau một cuộc đổi đời tang thương, những gì còn lại trong tôi bây giờ không phải là những công thức toán, vật lý, hóa học mà chính là văn hóa truyền thống dân tộc, là kết quả của một nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa. Đó là một nền giáo dục nhân bản (lấy con người làm gốc), dân tộc (tôn trọng giá trị truyền thống dân tộc), và khai phóng (mở rộng, không bảo thủ, tiếp nhận văn hóa, văn minh nhân bản thế giới). Một nền giáo dục mà tôi không hề bị dạy dỗ phải căm thù, dối trá mà chỉ là yêu thương, nhân đạo từ những câu ca dao, tục ngữ dạy tình thương yêu đồng bào:”Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng”, dạy sống sao cho trong sạch”Đói cho sạch, rách cho thơm” cho đến bài học trong Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi:”Thương người như thể thương thân… Thấy ai đói rách thì thương. Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn”. Tôi đã được học lịch sử hào hùng của dân tộc, những thi ca, hùng ca của tiền nhân mà không phải là những anh hùng được ngụy tạo. Nhưng do vận mệnh xót xa, cả một công trình gây dựng trong 20 năm của nền văn học của miền Nam Việt Nam sau 1975 đã bị hủy diệt với từng núi sách bị đốt phá trên các đường phố! Chỉ riêng nhà sách Khai Trí số lượng sách bị đốt là 60 tấn sách!

Viết đến đây tôi nhớ lại bài thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:

Vịnh Bức Dư Đồ Rách (bức dư đồ: tấm bản đồ)

Kìa bức dư đồ thử đứng coi.

Sông sông núi núi khéo bia cười!

Ông cha xưa gắng công gìn giữ.

Mà nay con cháu lấy làm chơi!

Thôi thì đáng trách thay đàn trẻ!

Thôi, để rồi ta sẽ liệu bồi!

Ngày nay nhờ vào những tiến bộ vượt bậc trong kỹ nghệ tin học người dân trong nước đã có thể tìm hiểu và nói lên những sự kiện chính thực mà không còn phải mang tâm trạng như các văn thi sĩ của vụ án Nhân Văn Giai Phẩm tại Hà Nội(1955-1957):”Bút tôi ai cướp mất rồi! Tôi sẽ dùng dao khắc văn trên đá!” nhất là những người dân Việt đang được định cư tại các nước tự do, với phương tiện thông tin sẵn có cả hai chúng ta cùng cố gắng tìm đọc những bản văn gốc, những bộ sách lịch sử, văn học chân chính để trân trọng gìn giữ và bồi đắp những viên ngọc quý còn lưu trữ lại được. Người Việt hải ngoại xin hãy trải rộng ký ức của mình để làm những chứng nhân lịch sử xác thực nhất cho con cháu, để bảo vệ tiếng nói là linh hồn và văn hóa truyền thống là vốn liếng quý nhất của dân tộc Việt Nam.   

Đó cũng chính là những gì tốt đẹp nhất mà tôi đã có được nhờ công ơn gìn giữ của các bậc tiền nhân hàng ngàn năm qua văn chương truyền khẩu, qua văn chương bác học (tên gọi của nền văn chương chữ Hán và chữ Nôm) nhất là qua nền văn hóa của miền nam Việt Nam thời kỳ cận đại . Và công việc dạy học vẫn mãi là một NGHỀ NGHIỆP được viết bằng nét chữ hoa trân trọng nhất của tôi.

Lê Phương Lan

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở DẠY HỌC: NGHỀ HAY NGHIỆP_Lê Phương Lan

Thơ Xướng Họa “Hoan Hô Khóa 1 Bắc Cali”

60866292_1363816170426486_2398788025644482560_n

HOAN HÔ KHÓA 1 BẮC CALI

Nghe tin khóa 1 Bắc Ca-li
Họp mặt hè nầy thích quá đi
Hâm lại tình đồng môn Học Viện
Quên đi cái đại dịch cô vi
Bún bò, mì quảng, Mai Hương nấu
Nước ngọt, rượu bia, có kẻ chi
Cầu chúc bạn hiền vui hội ngộ
Hoan hô khóa 1 Bắc Ca li.

Cóc Nhà

Họa1: HỌP MẶT BẮC CA-LI

Hè nầy nghe nói bắc Ca-Li
Khóa một gọi nhau hãy gắng đi
Hội ngộ đồng môn ôn chuyện cũ
Quây quần bạn hữu giải huyền vi
Qủy đời cạn kiệt không màng tới
Đại dịch chích ngừa chẳng sợ chi
Tình nghĩa anh em luôn gắn bó
Mong về họp mặt bắc Ca-Li

CH 

Họa 2: Welcome

Vui cùng Khóa 1 Bắc Cali
Đã đến một lần chẳng muốn đi
Ôn lại quãng đời trong Học Viện
Bỏ qua thời khắc dịch Cô Vi
Quên đi mọi việc không như ý
Nhớ đến đồng môn chẳng ngại chi
Quý bạn phương xa nghe tiếng gọi
Về đây Khóa 1 Bắc Cali.

TQN.

Họa 3: VINH DANH KHÓA I

Hoa kỳ đẹp nhất xứ Ca li
Tỵ nạn đến đây hết muốn đi
Xã hội tăng cường lo cứu đói
Người dân góp sức diệt cô vi
ĐỒNG MÔN gắn bó luôn phù trợ
Thân hữu chung hòa chẳng ngại chi
Tiêu biểu cựu sinh viên Học Viện
Vinh danh Khóa I Bắc Ca Li

 Phiến Nguyễn

Họa 4: CHÚC MỪNG HỘI NGỘ BẮC CALI

Khoá một hợp đàn hết cách ly
Đồng môn hớn hở rủ nhau đi
Hơn năm cầu khẩn đừng vương bệnh
Hai mũi chích ngừa chẳng sợ vi (rút)
Bạn hữu vừa qua nhiều mất mát
Anh em còn lại chớ lo chi
Chào mừng hội ngộ vui thân ái
Giữ trọn tình nồng chúc cụng ly

Cóc QT-TP

Họa 5: HOAN HÔ K1 BẮC CALI

Phe ta khóa 1 Bắc Cali
Họp mặt rủ nhau nhất định đi
Mặc kệ dịch lan con Vũ Hán
Sá gì họa đến cái Cô Vi
Cả năm đóng cửa lo quanh quẩn
Mấy tháng nằm nhà nghĩ ngợi chi
Xem Bắc Cali mà hám quá
Tới luôn các bạn ngoài Cali

NĐT

Họa 6: Nàm Thao???

Mấy năm rồi hổng tới Cali
Họp bạn, nghe tin rất muốn đi
Đã thế thì thây cha ả Chệt
Cũng đành thôi mặc kệ em Vi
Lo phòng, còn chuyện cần nhiều thứ
Hỏi date, chưa ai báo cái chi
Chưa biết ngày giờ sao chuẩn bị?
Lấy gì book vé hỡi Cali?

LHN

Họa 7 :  MỪNG HỌP MẶT

Tin mừng họp mặt ở Ca Li
Nhớ bạn lâu ngày rất muốn đi
Tạm ổn qua cơn lây đại dịch
Còn lo biến thể nhiểm siêu vi
Đường xa thăm thẳm không hề nản
Sức khỏe mỏi mòn chẳng sá chi
Bạn hữu đến nay đều lão cả
Gặp nhau vui vẻ chúc nâng ly.

CÓC BIỂN

         

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa “Hoan Hô Khóa 1 Bắc Cali”