Các Danh Mục

Diễn văn của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu (ST)
ISRAEL, PALESTINE VÀ JERUSALEM (Tài liệu copy từ FB https://www.facebook.com/100001162542779/posts/3960969137285132/?d=n )
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Diễn văn của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu (ST)
Chắc Không Còn Lâu Nữa!
CHẮC KHÔNG CÒN LÂU NỮA !
(Chuyện về ĐKG Nguyễn Thanh Thu, tác giả của bức tượng Thương Tiếc tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa)
Dưới đây là bức ảnh mới nhất của một ông cụ già, được chụp ngày hôm qua 12/05/2021, tại nhà riêng của ông số 176 Nguyễn thượng Hiền,P1, Gò vấp (Cafe Tượng Đá) với bước đi khó nhọc, ông cụ hầu như không còn khả năng giao tiếp với mọi người nữa, do bị điếc đặc (Hậu quả của những ngày bị tra tấn sau năm 1975), và có lẽ do bị ám ảnh của những ngày tù ngục, nên bây giờ thấy ông lê những bước chân khó nhọc, tôi tính bước tới dìu ông đi, nhưng bị người thân của ông cản lại và bảo rằng :
– Ông sẽ giật mình và phản ứng lại, khi bất kỳ ai đụng vào người của ông…!
Với đôi mắt mờ đục, lạc thần, đôi tai bị điếc… khả năng nhận thức rất kém, cùng bước chân chập choạng, run rẩy… Những ngày cuối đời của ông, bây giờ là thế đấy.
Thế hệ sau này ít người biết đến ông, cuộc sống của ông trong hiện tại như đèn treo trước gió. Nhưng cuộc đời của ông đã trở thành huyền thoại, từ đỉnh cao của vinh quang và danh vọng, xuống đến tận cùng đau khổ của kiếp người….!
Bằng tài hoa của mình tác phẩm của ông đã làm lay động con tim của biết bao thế hệ, đã từng là biểu tượng cho quân đội của một chính thể, đặc tả được thân phận của người lính VNCH trong cuộc chiến vừa qua, đó là bức tượng THƯƠNG TIẾC và bức tượng đã trở thành ký ức, “Tình yêu và nỗi nhớ” trong tâm tưởng của biết bao người…!
Người có khả năng làm được chuyện đó, chính là cụ già áo đỏ trong hình, cụ là NGUYỄN THANH THU, điêu khắc gia lỗi lạc và kiệt xuất của Việt Nam thời đương đại !
Chúng ta có hân hạnh và diễm phúc được là người cùng thời với ông, xin hãy trân trọng những khoảnh khắc này, vì nay mai theo quy luật, sự vô thường sẽ tiễn huyền thoại ấy đi về cõi hư vô, chắc không còn lâu nữa…!
Saigon ,trưa 13/05/2021 – NT
(Bài do K1 Nguyễn văn Vinh sưu tầm và chuyển)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chắc Không Còn Lâu Nữa!
Cái chết của một dòng sông _Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng (K10)
Cái chết của một dòng sông
đoản văn: Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng
Con người có một thế giới quan riêng biệt được cho là bản thể của tâm hồn vĩnh viễn hiện hữu đến cuối cuộc đời. Bản thể tâm hồn sẽ thăng hoa hướng tích cực hay tiêu cực ” chết ” tùy hoàn cảnh ngoại vi tác động lên cảm quan (hỉ nộ ái ố bi lạc dục) do sự gạn lọc của tâm thức .
“Đất nước tôi…khóc cười theo vận nức nổi trôi…”. Từ những trang lịch sử chống giặc phương bắc bi hùng lồng trong những trang đen tối của máu thịt tương tàn (thập nhị xứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh, chiến tranh quốc cộng, …vv ) dường như chưa có chương dài bình yên ngưng nghỉ đấu tranh để xây dựng cuộc sống ấm êm hạnh phúc do định mệnh nghiệt ngã an bài lên số phận dân tộc hay gọi đơn giản đó là…thiên mệnh. 4 ngàn năm có gì để người Việt chúng ta lấy làm tự hào ngoài sự phân hóa của nhân sinh quan với nỗi ám ảnh giết chóc đau thương khó gột rửa trong tâm thức hằng in hận thù …
Và cảm quan phẫn nộ của dòng tâm thức êm ả bị bóp chết đã tự nhiên trở thành di sản của hệ lụy tiếp nối từ khi chấm dứt chiến tranh quốc cộng mà kẻ chiến thắng đã dùng máu cộng sản vun bồi tâm thức hận thù dài lâu quyết liệt chôn vùi dòng tâm thức êm đẹp của chúng ta vào nghĩa trang lịch sử từ khi nào. Và có hay không dòng tâm thức hoan lạc có thể nào tự chảy xuôi trong tinh thần yêu thương giống nòi từ hệ quả mê muội cực đoan cuồng tín … ? (hãy học lịch sử Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến để suy gẫm cách hành xử tình dân tộc )
Trên vỉa hè Cần Thơ, bên ly cà phê chia tay tan loãng thằng Ái nhìn tôi với ánh mắt xa xăm …” tụi mình sẽ không có cuộc tương phùng lần nữa…mày tin tao đi…bởi cuộc đời này không còn chúng ta…! ” (Lê Khắc Chiếu cao học tư pháp đã đi tìm “động hoa vàng” thảnh thơi cửa Phật và biết bao thằng nữa đi tìm dòng sông về nguồn …? ) 46 năm qua cuộc đời như giấc mộng mà dòng sông tâm thức ngập tràn tình tự êm đềm tha thiết xa xưa vẫn hiện hữu như cứu cánh bên cuộc đời lặng lẽ trôi để ta luôn mặc niệm cho lần mất mát như tấm gương đối chiếu tương phản với cảm quan lạc lõng trôi dạt bên cuộc đời vật chất phồn vinh .
Dòng Cữu Long từ xa ngàn trùng Tây Tạng chảy qua thác gềnh núi cao vực thẩm chia ra bao nhánh sông Lan Thương, Trường Giang, Dương Tử…đến Hậu Giang chúng ta có khi là dòng chảy êm đềm có lúc cuồng nộ phong ba nhưng người đời không quan tâm nước từ đâu đến và về đâu bởi tự thân nó dù thiên nhiên tác động thế nào thì nó vẫn là dòng nước nguyên thể xuôi ngược với chiều không và thời gian của nó. Con người sẽ đổ vỡ tâm thức bởi sự dẫn dắt theo một hướng sùng bái tư tưởng như kiểu nhồi nhét chủ nghĩa cộng sản sẽ là hệ lụy của di sản không lối thoát và sẽ là dòng nước đứt đoạn hay bị ngăn chận bởi cuồng phong … Dòng nước chia bao nhánh sông vẫn chảy về nguồn. Con người không như dòng nước và không ai tắm được hai lần một dòng sông…
Ước mơ một dòng tâm thức chảy xuôi trong tình dân tộc trên dòng sông quê hương để có thể trở thành dòng tâm thức nguyên thể được không ? như dòng chảy trên quê hương thứ hai…Hoa Kỳ .
K10 Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cái chết của một dòng sông _Nhơn Mỹ Nguyễn Hùng (K10)
Hồi ký của một người Việt Nam_Trần Mộng Lâm
Sống Chẳng Còn Quê: Hồi ký của một người Việt Nam
Cuộc chiến Việt Nam 1954-1975 sau cùng xét lại chỉ là một cuộc chiến tranh tàn hại trong lịch sử nhân loại nói chung, và của nước Việt Nam nói riêng. Sự kết thúc của nó đã đẩy ra khỏi đất nước gần 3 triệu người Việt và đưa dân tộc này vào một sự chia rẽ vô phương hàn gắn. Thường thì sau mỗi cuộc chiến tranh như vậy xuất hiện những tác phẩm văn chương nói lên thân phận của những người vì tai trời, ách nước phải trở thành nạn nhân bất đắc dĩ của thời cuộc. Họ không phải là những người lãnh đạo, cũng chẳng có danh phận, chức tước nào ngoài danh phận phó thường dân nhưng ở vị trí này, họ trở thành những nhân chứng quan trọng cho một thời đại, một biến cố mà Lịch Sử chính thức không thể ghi lại một cách trung thực được.
Chúng ta đã đọc Chiến Tranh và Hòa Bình, Cuốn Theo Chiều Gió, Bác Sĩ Zhivago, Giờ Thứ 25… và say mê với các tác phẩm này. Thế nhưng cuộc chiến vừa qua tại đất nước chúng ta thì chỉ thấy xuất hiện về sau những tập hồi ký ghi lại những sự kiện riêng biệt của một nhân vật nào đó, vào một giai đoạn nào đó, có thể là một trận đánh, một thời gian cải tạo, một cuộc vượt biên, một cuộc đời làm lại nơi xứ người. Hiếm có một hồi ký nào ghi lại cả một cuộc đời, tương tự như cuốn tiểu thuyết Bác Sĩ Zhivago của nhà văn Nga, Boris Pasternak. Rất may, cuốn hồi ký Sống Chẳng Còn Quê của Trần Xuân Dũng vừa xuất hiện năm 2018 đã giúp chúng ta và con cháu thấy được cái thảm kịch của Việt Nam thế kỷ 20 qua những gì ghi lại của một người Việt Nam, một thanh niên tầm thường như hàng triệu thanh niên khác, không phải là một nhà cách mạng hay lý thuyết gia, cũng không phải lãnh tụ tôn giáo như các ông Hồ Chí Minh, Ngô đình Diệm, Ngô đình Nhu hay Thích Trí Quang, v.v…
Cuốn Hồi Ký Sống Chẳng Còn Quê của Trần Xuân Dũng dầy 683 trang, trình bầy trang nhã. Hình bìa là hình một căn nhà bằng gỗ, có dàn muớp hoa vàng, trái xanh. Hình bìa sau là một nông trại tại Úc, với cây cổ thụ cao ngất trời. Hai tấm hình, hai nơi chốn, hai giai đoạn của một đời người, đời tác giả. Nếu chỉ hiểu cuốn sách này là một hồi ký của một cuộc đời, thì cuộc đời đó đầy chông gai, nước mắt. Tuy nhiên, người đọc có cảm tưởng là mục đích của tác giả khi ngồi viết 683 trang sách không phải là chỉ để ghi lại cuộc đời mình, mà tác giả muốn qua nó, viết lại lịch sử của toàn thể Việt Nam, từ năm 1939, là năm sinh của tác giả, cho đến ngày hôm nay. Có thể nói, tác giả khi ngồi viết lại cuốn hồi ký này, ông đã làm cái việc mà nhà văn Đoàn Thêm gọi là Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử. Có lẽ chúng ta không cần biết đến thân thế của chàng trai Việt này, tuy việc tìm hiểu không khó. Cái mà chúng ta cần biết là ông là một nhà thơ rất có tài, và đồng thời ông là một nhiếp ảnh gia, đồng thời là một nhà khoa học. Hai yếu tố này khiến ông mô tả rất chính xác những sự kiện ông chứng kiến trong cuộc sống hàng ngày.
Trần Xuân Dũng đã trải qua một thời thơ ấu rất gian truân, đánh dấu bằng nạn đói năm Ất Dậu 1945. Năm đó, vì sự ác độc của quân đội Nhật, bắt dân bỏ việc trồng lúa để trồng đay cung cấp cho chiến trường (Thế Chiến Thứ 2), Việt nam trải qua một nạn đói vô cùng khủng khiếp. Hãy xem ông thu vào ống kính cảnh tượng thê thảm của nạn đói này:
Một buổi sáng, tôi đang ngồi trong cửa sổ nhìn ra ngoài đường, chợt nghe tiếng lọc cọc. Tiếng xe bò lăn trên đường. Từ phía thành Vinh về hướng nhà Ga. Xe tới gần, không thấy bò kéo xe mà là người. Hai người gầy yếu cố kéo cái xe đi từng chút một, trên xe có vài xác chết trộn lẫn với một ít bột vôi trắng. Những cái xác nằm trên xe đã rất gầy. Mặt thụt vào, da nhăn nhúm, tay chân không còn thịt. Có xác chỉ mặc có một cái quần đùi. Có xác mặc áo quần, nhưng đã tả tơi rách nát. Nhưng có điều là khuôn mặt nào cũng gần như giống nhau. Da bám sát vào xương mặt. Mầu trắng bệnh nhợt nhạt, như không có máu đã lâu ngày. Môi họ đều khô cong, dường như có nhiều lằn nứt dọc… Những đám ruồi hiện đang bay hay đậu vào mặt những xác này.
Như thế đó, nạn đói năm Ất Dậu tại thành phố Vinh.
Chính trong hoàn cảnh đau thương này mà đảng Công Sản Việt Nam có cơ hội nắm chính quyền. Việt Minh, thuở khởi đầu, chỉ là một bọn cơ hội chủ nghĩa. Với quyền sinh sát trong tay, nhân danh Cách Mạng, chúng làm mưa làm gió, giết người qua những bản án trời ơi đất hỡi, tuyên án bởi những quan tòa chưa từng học qua một ngày tại các trường Luật.. Những ai tưởng rằng những người CS hồi đó trong sạch, có lý tưởng lầm to. Cha của tác giả chỉ vì đã làm việc trong một nhà ga nên coi như là đã cộng tác với thực dân Pháp nên bị họ bắt cầm tù. Việc đó khoan nói là oan hay ưng. Chỉ biết rằng việc ông được thả ra hoàn toàn là do đút lót và mỹ nhân kế, qua sự trung gian của một người đàn bà có nước da trắng, ăn mặc tân thời, người ta gọi là cô giáo, nhưng có vóc dáng của một cô đầu. Việt Minh tham nhũng và dâm ô kể từ những năm cuối của thập niên 40 chứ không phải sau này. Tiếng cách mạng chỉ là trên đầu môi chót lưỡi, và người dân cũng biết là như vậy nhưng với vũ khí cung cấp bởi Mao Trạch Đông, người dân Việt không làm gì được để chống đối. Họ chỉ có thể bỏ vùng do Việt Minh kiểm soát để về Hà Nội, tuy là thành phố này do người Pháp cai trị.
Trái với những gì CS sau này tuyên truyền, tác giả cho biết quang cảnh Hà Nội trước Genève:
Năm 1953, tình hình Hà Nội sáng sủa nhất. Thủ đô phát triển về mọi mặt rất nhanh. Sự thịnh vượng và huy hoàng lộ rõ. (trang 179).
Rất tiếc tại các nơi ngoài thành phố, vùng do họ kiểm soát, Việt Minh khủng bố người dân với những cuộc đấu tố của Cải Cách Ruộng đất, chém giết thẳng tay. Bởi vậy, việc người dân Miền Bắc di cư vào Miền Nam sau Hiệp định Genève chỉ chứng tỏ một điều là lòng dân chán ghét CS ngay từ những năm 50 của thế hệ trước. Chẳng có chiến đấu vì độc lập, tự do gì hết. Tất cả đều do họng súng và do Cộng Sản Quốc Tế, đặc biệt là Cộng Sản Tầu. Cuốn hồi ký của Trần Xuân Dũng nói rõ điều này và những gì CS tô hồng chuốc lục cho sự nhiệp Cách Mạng của họ sau này đều là nói láo. Việc này mọi người đều rõ, và sự sợ hãi, cúi đầu cam chịu của người dân trước sự lộng hành của CS chỉ cắt nghĩa được bằng sự sợ hãi. Sợ đến nỗi một người như Nguyễn Tuân sau này phải thú nhận là ông ta sở dĩ sống sót được là vì biết sợ. Nói điều này chỉ là để xác nhận một điều: Công Sản chẳng qua chỉ là một bọn cướp, một bọn Mafia gieo rắc kinh hoàng cho người dân chẳng khác Al Capone tại Nữu Ước ngày xưa.
Sau hiệp địmh Geneve, tác giả theo gia đình di cư vào Miền Nam. Tại đây, dưới chế độ Tự Do của Việt Nam Cộng Hòa, Trần Xuân Dũng đã có những năm tháng hạnh phúc. Tại trang 267 của tập hồi ký, ông viết: Học sinh vui sướng, tinh thần thoải mái. Chẳng ai bảo ai, toàn bộ học sinh CVA đều rất kính phục TT Ngô đình Diệm. Và cảm ơn nữa. Nhưng dòng này tác giả viết tại Úc, sau khi TT Ngô đình Diệm đã qua đời trên 60 năm, không thể nói là để tuyên truyền hay vì áp lực nào khác. Đó là sự thực, 100% sự thực. Những ai thuộc thế hệ tác giả, trong đó có tôi, có thể xác nhận điều này. Nếu không có bọn CS và cuộc chiến sau này do chúng gây ra, thì chắc chắn là Việt Nam ngày nay đã khác xa, đã tiến bằng hay tiến hơn Đại Hàn.
Cuộc sống của người dân Miền Nam sau 1954 là một cuộc sống đã dược tác giả tả lại tại trang 279: Sài Gòn sống trong cảnh thanh bình, thịnh vượng. Tôi đậu tú tài một, rồi tú tài hai, ban toán. Nhờ Việt Nam Cộng Hòa, Trần Xuân Dũng lên đại học và vào trường Y Khoa. Rất tiếc, đến giai đoạn này, cuộc sống của người Miền Nam không còn được CS để yên nũa. Chúng đã một mặt mua chuộc được những người Miền Nam nhẹ dạ (như một ông trưởng giả người miền Nam là hàng xóm của ông trong đồng Ông Cộ), một mặt xua quân vượt vỹ tuyến 17 vào Miền Nam gây nên một cuộc chiến tranh vô cùng thảm khốc kéo dài mãi đến 1975, trong đó gần 3 triệu thanh niên đã bỏ mình, lãng nhách, không có gì có thể biện minh cho sự cần thiết của cuộc chiến này.
Bác sĩ Trần Xuân Dũng
Như đa số các thanh niên Miền Nam, Trần Xuân Dũng đã vào quân đội, không vì muốn chiến thắng ai, mà chỉ để bảo vệ nếp sống mà mình đã chọn. Nhưng người thanh niên Miền Nam, ưa hoà bình nhưng không còn một lưa chọn nào khác là hy sinh. Hãy nghe tác giả nói về trường hợp một người lính Miền Nam ở trang 373:
Một người từ ngày nhập ngũ tính đến nay đúng mười năm. Anh ta cứ ở nguyên một chỗ trên một nơi hẻo lánh, đó là một ngọn núi trong tình trạng vô cùng nguy hiểm, Hàng ngày, pháo kích của Việt Công rơi xuống chỗ đóng quân đều đặn. Từ ngọn núi này đi ra, không thể dùng đường bộ. Xe cộ sẽ bị Việt Công phục kích. Đời sống của những người tại đơn vị nhỏ này lệ thuộc vào những chuyến tiếp tế. Từ lương thực đến súng đạn, tất cả đều phải bằng máy bay…
Anh lính này cưới vợ xong là đi lính, mỗi năm về phép hai lần, mỗi lần 7 ngày. Anh ở Long An. Những người như người thanh niên Miền Nam này sau đó bị gán cho hai chữ ngụy quân. Không có gì vô lý hơn việc này. Nếu không có chiến tranh mà người CS gây nên, anh ta đã có mười năm hạnh phúc bên vợ con tại Long An. Anh ta có buôn bán gì với người Mỹ mà nói đến chuyện bán nước? Nói đi nói lại chỉ để nói lên một sự thực là đảng Công Sản phải chịu trách nhiêm về những đau đớn hy sinh của thế hệ này, trong Nam cũng như ngoài Bắc.
Sau khi cuộc chiến chấm dứt một cách tức tưởi dưới súng đạn mà Tầu Công cung cấp để người Việt Nam chém giết nhau dẫn đến cuộc Bắc Thuộc hiện nay mà nguy cơ mất nước lên cao độ hơn bất cứ thời đại nào, Trần Xuân Dũng còn phải chia sẻ với những người thanh niên Miền Nam thuộc thế hệ anh 3 kiếp nạn khủng khiếp nữa là Học Tập Cải Tạo, Vượt Biên và làm lại cuộc đời nơi xứ người (Úc).
Học tập cải tạo của bọn Việt Cộng thực ra chỉ là một loại ngục tù giống như Quần Đảo Goulag bên Nga mà Soljenitsyne đã mô tả, trong đó bọn cai tù dùng những biện pháp khủng bố về vật chất và tinh thần để triệt tiêu ý chí người tù, sao cho đối với họ, chỉ còn miếng ăn là quan trọng. Không còn chống đối, không còn ý chí, không còn danh dư, không còn nhân phẩm. Thời gian ở tù dài hay ngắn, người đi cải tạo hoàn toàn không biết. Trong đêm tối, họ dùng phương pháp chuyển trại, kẻ đi không biết tại sao mình đi, kẻ ờ lại không biết tại sao mình phải ở lại, từ đó phát sinh ra những lời bàn bạc, phỏng đoán vu vơ, chủ yếu gây sự hoang mang, và người tù sống trong một không khí kinh hoàng, tuyệt vọng, đến nỗi nhiều người phải đi đến chỗ tự tử, vì họ không chịu được sư tra tấn về tinh thần này. Nếu không tự tử, thì sự thiếu dinh dưỡng, bệnh tật cũng tàn phá thân thể người tù. Đó là chỉ tiêu, là mục đích của cái gọi là học tập cải tạo. Hãy xem Trần Xuân Dũng tả lại quang cảnh trong trại học tập:
Mỗi sáng, để chối bỏ tình trạng xuống dốc của cơ thể, anh em ráng tập đi bộ quanh những căn nhà… Nhìn họ, tôi biết họ đang lâm vào một chứng bệnh thuộc về thần kinh tâm lý. đó là chứng bệnh khước từ hiện trạng, chối bỏ sự thật, tiếng Anh là denial.
Và cái đêm kinh hoàng anh bị chuyển trại:
Vài tháng sau, đến lượt tôi bị gọi tên.. Gói ghém vật dụng, lên xe Molotova. Khuya đến, đoàn xe chuyển bánh. Xe không có mui, không có ghế. Cả người lẫn hành lý chồng chất lên nhau. Xe chạy suốt đêm. Lệnh cai tù là tiêu tiểu tại chỗ. BS Chi, thuộc bộ binh, vãi cứt đái ra quần. Gió bạt hơi thối, lúc hương này, lúc hương khác.
Tất cả bài bản học tập cải tạo này, thực ra Việt Công học từ bọn Nga, mà tác giả của nó là những chuyên viên tâm lý lỗi lạc. Chúng ta đã nghe nói về những trại giam vùng Tây Bá Lợi Á bên Nga, không phải chỉ là tàn bạo đâu, có nghiên cứu, có bài bản khoa học hẳn hoi.
Nếu cuộc sống trong trại cải tạo đen tối, thì cuộc sống bên ngoài cũng không hơn gì. Người dân Miền Nam đã được hưởng tư do trong khoảng hai chục năm, dưới thời Cộng Hòa I, rồi Cộng Hoà II, khác với người Miền Bắc, họ không chịu nổi cái chế độ hà khắc là chế độ Cộng Sản, với sự quản trị cái bao tử của người dân, và những đợt dánh tư sản, đổ tiền làm họ khánh kiệt. Thời gian này là thời gian họ tổ chức những chuyến tầu vượt biên, nhất quyết rời bỏ Việt Nam, là quê hương họ, không luyến tiếc, chấp nhận những rủi ro, chết chìm tại biển đông, hay chết vì hải tặc. Nếu cái cột đèn Miền Nam có chân, chúng cũng bỏ đi.
Mấy chục năm sau, hiện nay, năm 2018, ra ngoại quốc vẫn là giấc mơ của người Việt Nam. Tại sao như vậy, nếu không là việc lòng dân đã quá chán ghét Cộng Sản. Giấc mơ rời bỏ Việt Nam dù có hấp dẫn đến thế nào chăng nữa cũng không phải là dể thực hiện. Phải có phương tiện, có tiền và nhất là phải có sự may mắn nũa. Giỏi giang cách mấy cũng không thoát khỏi cái số phận con người, cái phước, cái đức mà tổ tiên để lại cho con cháu. Trần Xuân Dũng đã được hưởng cái phước đó và đã đem được gia đình sang Úc. Xem những trang giấy anh viết về quãng đời này của anh, không thể không có cảm nghĩ là anh này có phước quá. Cuộc đời của anh coi như 99% tàn tạ, chỉ có 1% may mắn thoát, vậy mà anh có được cái 1% đó, không hiểu tại sao.
Trần Văn Thủy, một đạo diễn Miền Bắc viết trong tác phẩm của ông Nếu Đi Hết Biển đại khái:
Nếu đi hết biển qua Các Đại Dương, Châu Lục, đi mãi, đi mãi, thì sau cùng cũng lại trở về với quê mình, làng mình. Ý của ông này là tình Quê Hương trong một con người mãnh liệt và không gì có thể tiêu diệt được tình cảm này. Trần Văn Thủy đã lầm. Người ta yêu quê hương nhưng khi quê hương ấy nằm trong tay những kẻ trời không dung, đất không tha như bọn Việt Cộng, thì thà Sống Chẳng Còn Quê như Trần Xuân Dũng còn hơn.
Hãy nghe lời tâm sự của tác giả: Lúc nào tôi cũng khắc khoải về nước Việt Nam đã mất.
Và bài thơ này của thi sĩ:
Nghe chó sủa khuya, thấy não nề
Nhắc đời đất khách kéo lê thê.
Ta vì thảm họa Miền Nam mất.
Sống chẳng còn quê, thác chẳng về
Tôi đã đọc say mê liền một lèo trong một đêm mùa đông năm 2018 tại nơi tôi ở là thành phố Montréal, kho tuyết rơi, và ngoài trời giá lạnh, tập hồi ký của người bạn đồng môn. Gấp cuốn sách lại, tôi trầm ngâm suy nghĩ. Ái nữ của tác giả, cô Chim Khuyên viết trong trang cuối cuốn sách: Tôi coi nước Úc là nhà, nhưng tôi biết rằng bố mẹ tôi lúc nào cũng vẫn cảm thấy như ở ngoại quốc.
Tôi biết rằng cũng như tôi, Trần Xuân Dũng lúc nào cũng vẫn thiết tha với Việt Nam, nhưng không về Việt Nam nếu vẫn còn Việt Cộng.
Trần Mộng Lâm
(Nguồn: tvvn.org)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Hồi ký của một người Việt Nam_Trần Mộng Lâm
Cờ Vàng trong trái tim tôi_Destiny Nguyễn

Cờ Vàng trong trái tim tôi
Tác giả: Destiny Nguyễn
Tôi lớn lên trong nỗi nhọc nhằn của mẹ, trên đôi gánh trĩu nặng trên vai bà.Tôi lớn lên mười năm đầu tiên trong đời không có người cha thân yêu bên cạnh. Tôi lớn lên vào cái thời mà không ai được nhắc đến 4 chữ VNCH. Tôi lớn lên 10 năm dưới mái trường XHCN, mỗi tuần tôi và các bạn cùng trang lứa vẫn hát vang vang bài chào quốc kỳ nhưng chẳng hiểu gì về lá cờ và cũng chưa một thầy cô giáo nào của CS dạy cho học sinh về nguồn gốc của lá cờ cả (mãi đến sau này tôi mới hiểu vì sao).
Cho đến một ngày gia đình tôi đặt chân đến xứ sở tự do trên tinh thần “nhân đạo “của hai bên chính phủ, và cũng từng ấy năm kể từ ngày Sài Gòn thất thủ mới được thấy cảnh “chung một nhà”.
Thế là thế hệ những người như tôi một lần nữa lớn lên nhưng trong một xã hội hoàn toàn khác hẳn ở VN. Những ngày đầu bỡ ngỡ nơi xứ người tôi có rất nhiều thứ phải học, phải thay đổi nên chưa bao giờ để ý đến lá cờ ba tôi trân trọng treo ngay giữa nhà. Sau đó vài năm do còn trẻ nên tôi cũng bắt kịp nhịp sống và hoà nhập với cuộc sống ở đây. Khi đó tôi bắt đầu nhận thức những gì diễn ra xung quanh mình.
Cái mà hằng ngày đập vào mắt tôi đó là lá cờ của Mỹ, nó hiện hữu khắp nơi từ các cơ quan chính phủ, trường học, bệnh viện, văn phòng cảnh sát, nhà thờ v.v..và rất nhiều nơi trên mọi nẻo đường đến cả nhà ở của người dân. Ngày lễ ngày tết người dân tự ý thức treo cờ chứ không cần ai nhắc nhở. Cũng không phải riêng về việc treo cờ mà cả trong sinh hoạt thường ngày, trong những hoạt động nơi công cộng cũng như trong việc tổ chức xã hội tình cảm của công dân Mỹ đối với lá cờ của họ rất đồng thuận và trân trọng.
Ngày tháng trôi qua tôi bước vào ngưỡng cửa đại học và quyết định trở thành công dân Mỹ. Một điều bắt buộc khi trở thành công dân Mỹ là phải biết sơ lược về lịch sử của Mỹ và nguồn gốc của lá cờ. Và giờ đây tôi mới hiểu vì sao người Mỹ họ yêu nước, yêu lá cờ đến thế. Người ta yêu lá cờ vì nó đại diện cho vô số điều tốt đẹp ở phía sau. Tự do, dân chủ, nhân quyền, cũng như sự đồng lòng của tất cả người dân trong việc tạo ra một xã hội công bằng, văn minh và thịnh vượng. Một xã hội mà trong đó mỗi người đều có quyền lựa chọn cuộc sống cho riêng mình và quyền thực hiện ước mơ của mình.
Nhìn cách người Mỹ đối xử với lá cờ nước họ làm tôi giật mình nhìn lại tôi cũng có một đất nước, một quê hương nhưng sao tôi không biết gì về lá cờ của mình. Rồi tôi nhớ đến lá cờ ba tôi treo ở nhà sao không thấy giống lá cờ mà khi còn cắp sách đến trường tôi vẫn thấy nó nhỏ xíu, bạc màu, cũ kỷ nơi sân trường trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình ? Tôi đem tâm tư nặng trĩu về nhà hỏi ba tôi. Thì ra đất nước tôi, dân tộc tôi có một chiều dài lịch sử bi thương đến như vậy. Sau những gì ba tôi nói tôi bắt đầu đi tìm hiểu, tôi lật tung hết những quyển sách trong thư viện Mỹ nói về VNCH. Tôi đi ngược dòng lịch sử của miền Nam VN tìm về hai chế độ đệ I và đệ II VNCH. Càng tìm hiểu tôi càng thấy xót xa phía sau lá cờ vàng ba sọc đỏ ấy là máu và nước mắt của rất nhiều đồng bào đỗ xuống chỉ cho một miền Nam hòa bình và tự do.
Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con
Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.
Trung Tá Long !
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.
Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời
Tô thắm đường các em sẽ đến
Các em là thuyền nhờ có anh là bến
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi
Ðường tự do dù còn lắm chông gai
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước
Cám ơn anh, người con yêu đất nước
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.
( Trích Hơi thở Việt Nam, thơ Trần Trung Đạo)
Tôi yêu lá cờ VNCH từ những hiểu biết của riêng tôi nhìn về thực trạng VN trong chế độ CS sau hơn bốn mươi năm ngày càng tồi tệ. Tôi may mắn đang sống trong một xã hội luôn bảo vệ phụ nữ và trẻ em rồi nhìn lại thân phận người phụ nữ nơi quê nhà bị chà đạp nhân phẩm một cách thô bạo và trắng trợn, nhìn những em bé thơ vô tội không đủ ăn,không đủ mặc, ngay cả khi vừa chào đời cũng bị vứt vào thùng rác.
Vậy thì các bạn trẻ VN ơi các bạn chào cờ mỗi tuần mà có bao giờ đi tìm hiểu về lá cờ đó hay không?
Ngày nay tôi thấy các bạn xem phim Mỹ rất nhiều nhưng có khi nào các bạn để ý trong bất cứ một cuốn phim nào của người Mỹ cũng đều thấp thoáng lá cờ của họ trong đó còn phim ảnh của VN thì sao?
Thế đấy ! chính lòng yêu nước, yêu lá cờ của người Mỹ đã dạy tôi yêu lá cờ vàng ba sọc đỏ vì ngoài sự nhân bản ra nó còn mang nặng cả tình yêu quê hương, yêu mảnh đất mình sinh ra và lớn lên.
Có một lần khi đi làm Report cho buổi lễ Vinh Danh QLVNCH trong quốc hội tiểu bang VA tôi vô cùng xúc động khi bước vào phòng làm việc của thượng nghị sĩ Black. Ngay cạnh bàn làm việc của ông có 4 lá cờ mà một trong 4 lá cờ đó là cờ VNCH. Tôi vui mừng đến nỗi cứ kéo tay Tướng Trần Quang Khôi đến đấy đứng làm mẫu cho tôi chụp hình. Rồi những lần đi vận động nhân quyền cho VN trong Quốc Hội Mỹ, biểu tình trước Toà Bạch Ốc chỉ cần tôi cầm lá cờ vàng trong tay là người ta biết tôi đang làm gì.
Có thể mỗi người có một quan điểm riêng về lá cờ nhưng riêng tôi dù tôi có ủng hộ một lá cờ nào khác đi nữa trong tim tôi vẫn có lá cờ vàng vi ít nhất cho đến bây giờ nó vẫn là một lá cờ chính nghĩa, ngoài ra nó còn có một phần xương máu của ba tôi, của những đồng đội ông. Nó có cả nước mắt của bà nội tôi, của mẹ tôi khóc con, chờ chồng.
Tôi cảm ơn nước Mỹ đã cho tôi có cơ hội nói những gì mình muốn nói, tôi cảm ơn người dân Mỹ đã dạy tôi biết trân quý một lá cờ và cũng chính vì vậy mà tôi có cơ hội tìm về cội nguồn lịch sử và yêu quý cha mẹ tôi hơn !!!
Bài copy từ Fb Destiny Nguyen
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Cờ Vàng trong trái tim tôi_Destiny Nguyễn
Má ơi! Con vịt chết chìm – Tác giả Hàn Sĩ Nguyên
“Má ơi! Con vịt chết chìm”
Hàn Sĩ Nguyên
Tôi vốn người miền Bắc, quê quán ở xứ lụa La Phù, Hoài Đức, Hà Đông, được thấm đẫm những lời ru “Ạ ơi ơi, Ạ ời ời” đầy tình tự quê hương từ thuở nhỏ. Tình cảm đối với điệu ru ấy là trường cửu, là vĩnh viễn, là bất diệt.
điệu ru con

(Tranh minh họa qua vovworld.vn)
Thế rồi, cuộc đời đưa đẩy, mười năm lăn lóc ở Vĩnh Long, và Trà Vinh giúp tôi biết đến và yêu mến vô cùng những câu hát “Ầu ơ”. Sau này, dù đi đâu, về đâu, ở đâu thì những câu hát điệu hò ấy vẫn mãi mãi còn nguyên trong ký ức. Đây là vài câu hát tiêu biểu của điệu ru “Ầu ơ” phương Nam ấy:
Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi
Khó đi, mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Bước ngang qua nhà má
Tay tui xá
Cẳng tui quỳ
Vì thương con má sá gì thân tui
Chiều chiều ong nữ đi đăng
Cá tôm nhảy hết nhăn răng cười hoài
Má ơi con vịt chết chìm,
Con thò tay con vớt,
Con cá lìm kìm nó đớp tay con!…
Một điều lạ lùng là nội dung những câu hát ấy nhiều khi đơn sơ lắm, thậm chí… vô nghĩa nữa… nhưng hiệu quả thấm nhuần của chúng vẫn là vô cùng vô tận: mãi mãi đi sâu vào lòng người, nghe một lần rồi không thể nào mà quên đi cho được!
“Má ơi! Con vịt chết chìm”
Lại nói về mấy câu hát:
“Má ơi! Con vịt chết chìm
Con thò tay con vớt,
Con cá lìm kìm nó đớp tay con”
Tôi tách ra thành ba dòng, nhưng thật ra xét về mặt hình thức, chỉ có hai câu thuộc thể loại “Lục bát MORE” (Lục bát thêm vào):
Má ơi ! Con vịt chết chìm
(Con thò tay con vớt) Con cá lìm kìm nó đớp tay con
Vần được gieo ở chữ thứ tư trong câu bát chính thể (chìm – kìm).
Lời thơ thì vô cùng đơn sơ, với những hình ảnh chân quê “con vịt, con cá lìm kìm” . Thật là bình dị thế thôi, không có văn chương, hoa hoè, hoa sói chi hết!
Về mặt nội dung, khởi đầu bằng tiếng gọi “Má ơi!” ngọt ngào, dễ thương. Tiếp ngay theo đó là cái hình ảnh ngược đời “Con vịt chết chìm”, “Cá lìm kìm đớp tay con”. Vịt thì có chết chìm bao giờ? Cá lìm kìm cũng vậy nữa, con cá nhỏ xíu chuyên bơi lội trên mặt nước này hễ thấy nước xao động là… nhảy, là lặn mất tăm luôn, nó có bao giờ cắn, đớp, hoặc chích ai đâu!
Nhưng chính từ những cái ngược đời ấy mà thể hiện được hình ảnh một cô gái bé nhỏ rõ là thơ ngây, đang nhõng nhẽo mẹ!
Đọc lời thơ chân quê ấy đã thấy hay, nghe ru “Ầu ơ” mấy câu ấy lại càng thấm thía, nhớ đời vậy. Cái ngày mà tôi được nghe ru Ầu ơ mấy câu ấy cách nay đã lâu lắm rồi, chính xác là 29 năm. Hai mươi chín năm ròng, các bạn ạ! Hai mươi chín năm nhưng “Con vịt chết chìm” và “Con cá lìm kìm đớp tay” vẫn như còn quanh quất đâu đây!
Gặp Lại “Con cá lìm kìm”
Ngày đó, trong một lúc buồn tênh, thả lòng vòng trong trang thơ Trinh Nữ, tôi tình cờ gặp lại những hình ảnh thân thương ấy trong bài thơ “Hát về con mương nhỏ” của tác giả Thu Nguyệt do thi sĩ Huyền Lâm giới thiệu.
Với mật độ mỗi ngày đăng hơn 50 bài thơ mới, một bài thơ nào đó dù vừa mới ra lò, cũng nhanh chóng bị các bài đăng sau đẩy lùi xuống tận… trang 5. Do đó, có rất nhiều bài thơ hay chưa kịp xem đã… mất hút ! Người đọc nếu bận rộn một chút, sẽ dễ dàng bỏ lỡ những bài ấy.
Bài thơ “Hát về con mương nhỏ” này cũng vậy, nó được anh Huyền Lâm giới thiệu, đăng ngày 26/9, và nửa tháng sau, khi tôi tình cờ xem được thì nó đã ở tuốt tận trang thứ 78!
Xin mời các bạn cùng đọc lại bài thơ ấy:
Hát về con mương nhỏ
Thu Nguyệt
“Má ơi! Con vịt nó chết chìm…
Con thò tay xuống vớt cá lìm kìm nó cắn tay con”
Con mương nhỏ mỗi chiều tôi nghịch nước
Chú cá lìm kìm đang cắn khúc Ca Dao
Mười năm qua không ai đắp ai đào
Lá tre rụng con mương sâu thành cạn!
Chú cá lìm kìm giờ đây bỏ bạn.
Trôi dạt phương nào theo lời mới dân ca?
Chiều nay buồn tôi trở lại quê nhà
Tay khỏa nước gọi lìm kìm đâu hỡi?!
Mười năm nữa con mương thành lộ mới
Mẹ tôi rồi phải quét lá tre rơi!
Tôi trở về nhớ mãi nước mương vơi
Những mắt cá lìm kìm đầy cơn khát.
Con vịt có chết đâu mà tôi buồn tôi hát?
Để cá lìm kìm cắn mãi trái tim tôi!
Thu Nguyệt & Huyền Lâm giới thiệu để nhớ về Tố Quyên – BN – Th. Nguyệt
Một luồng cảm xúc bất chợt nổi dậy trong tôi, chẳng khác nào một luồng điện xẹt ngang qua vậy!
Mở đầu vẫn là những hình ảnh “Con vịt chết chìm” và “Con cá lìm kìm” thân quen, xa xưa ấy, nhưng tác giả không nói về một cô bé nhõng nhẽo mẹ, mà khéo léo dùng chúng như một cách “nhập đề ngẩu hứng”, để nói về một hình ảnh, một câu chuyện khác: Hình ảnh một con mương xưa đầy nước, với những chú cá lìm kìm bơi lội nhởn nhơ, mơ màng… cắn khúc ca dao (!). Ý tưởng cá lìm kìm mê ca dao thật là đặc sắc vậy!
Con mương nhỏ mỗi chiều tôi nghịch nước
Chú cá lìm kìm đang cắn khúc Ca Dao
Bất chợt, mạch thơ chuyển gắt sang “chuyện đời tang thương, dâu bể”, do quy luật của tự nhiên (lá tre rụng) hoặc do sự vô tâm, hoặc thiếu quan tâm của con người mà giờ đây con mương nhỏ nên thơ ấy đã dần dần cạn nước.
Mười năm qua không ai đắp ai đào
Lá tre rụng con mương sâu thành cạn!
Hậu quả là những con cá lìm kìm ngày xưa ấy giờ đã đi xa, không về con mương ấy nữa.
Chú cá lìm kìm giờ đây bỏ bạn
Trôi giạt phương nào theo lời mới dân ca
Chuyện tang thương dâu bể nào cũng buồn cả, đặc biệt với những tâm hồn sâu lắng, thì cái buồn sẽ mênh mang vô tận, dẫu chỉ là cái hình ảnh tượng trưng “con mương đầy, khô cạn”. Tâm sự của người trở về đứng trước con mương cạn, vắng bóng cá lìm kìm mới thắt lòng làm sao:
Chiều nay buồn tôi trở lại quê nhà
Tay khỏa nước gọi lìm kìm đâu hỡi?!
Mười năm nữa con mương thành lộ mới
Mẹ tôi rồi phải quét lá tre rơi!
Đưa được hình ảnh người mẹ già còng lưng quét lá tre rơi vào đây thật là tinh xảo! Chính câu này đã làm sâu lắng thêm, gợi cảm hơn cho toàn bài thơ vậy!
Đặc biệt, nỗi buồn mênh mang của tác giả hiện hữu không chỉ lúc đối diện con mương, mà sau này, khi đi xa rồi, nỗi buồn ấy vẫn trầm trầm đeo đẳng:
Tôi trở về nhớ mãi nước mương vơi
Những mắt cá lìm kìm đầy cơn khát.
Đến 2 câu kết lại càng ảo diệu hơn, tác giả trở lại với hình ảnh con vịt, và cá lìm kìm nhập đề, để kết một cách độc đáo:
Con vịt có chết đâu mà tôi buồn tôi hát?
Để cá lìm kìm cắn mãi trái tim tôi!
Hàn Sĩ Nguyên
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Má ơi! Con vịt chết chìm – Tác giả Hàn Sĩ Nguyên
Lịch sử không phải do “Bên Thắng Cuộc” viết_Nguyễn Quang Duy
Lịch sử không phải do “Bên Thắng Cuộc” viết.
Nguyễn Quang Duy
Ngày 30/4/1975 là một ngày lịch sử, ngày mà quân đội Bắc Việt vượt vĩ tuyến 17 tấn công và chiếm được Dinh Độc Lập buộc Đại Tướng Dương Văn Minh phải ra lệnh đầu hàng.
Chỉ riêng những sự kiện xảy ra trong ngày 30/4/1975, đã có rất nhiều điều bị cộng sản dấu diếm hay được dàn dựng chỉ nhằm mục đích tuyên truyền cho chế độ.
Vào dịp 30/4 năm 2020 tôi cho biết khoảng 4 giờ chiều ngày 30/4/1975, khi đó tôi đang ở Chợ Sài Gòn thì nghe nhiều tiếng nổ lớn như đạn súng cối, từ phía Dinh Độc Lập, tiếp theo là những tiếng súng đủ loại…
Năm nay trang BBC cho đăng bài viết “Xét lại vai trò Tướng Giáp: Một quan điểm viết sử mới tại Việt Nam” về một quyển sách viết bởi Tiến sĩ Lê Trung Nguyệt là con gái của ông Lê Đức Thọ từng là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, người mà quyền lực chỉ đứng sau Tổng Bí Thư Lê Duẩn.
Quan điểm này đã bị Facebooker Huy Đức tác giả “Bên Thắng Cuộc” cho là không đúng sự thật về Tướng Võ Nguyên Giáp, có đoạn ông Huy Đức viết:
“… Cho đến giờ này ít ai biết là ngay chiều 30/4/1975, đã có những loạt súng giận dỗi trong khuôn viên Dinh (Độc Lập) của những người lính thuộc đơn vị được Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ chọn ‘cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập’.
“Cũng trong chiều hôm đấy, Lữ 203 của trung tá Bùi Văn Tùng phải rút về Long Thành nhường Dinh Độc lập cho Sư 7. Lữ 203 thuộc Quân đoàn II, nằm trong đội hình của ‘Cánh quân phía Đông’ dưới quyền tướng Lê Trọng Tấn, vị chỉ huy trung thành với tướng Giáp.”
Trên trang wikipedia về Sư đoàn 7 có viết: “Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư 7 do (Trung Tướng) Lê Nam Phong làm Sư đoàn trưởng, ưu tiên nhiệm vụ cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Ngày 30/4/1975, Sư 7 được Quân đoàn 2 bàn giao tiếp quản Dinh Độc Lập.”
Nếu thế thì quả là mỉa mai khi “bên thắng cuộc” không tốn một viên đạn để chiếm Dinh Độc Lập, nhưng ngay sau đó hai phe cánh lại tranh giành công trạng nổ súng vào nhau.
Mất chính danh …
Theo báo chí trong nước Trung Tướng Lê Nam Phong Sư Đoàn 7 đến Dinh Độc Lập chỉ trễ chừng 30 phút khi đó Đại Tướng Dương Văn Minh đã được “hộ tống” đến Đài Phát Thanh để đọc tuyên bố đầu hàng do Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng soạn.
Những chi tiết nhỏ này có thể giải thích được lý do là ngay từ khoảng 10 giờ 30 phút sáng ngày 30/4/1975, Đài phát thanh Sài Gòn đã liên tục phát đi lời Tướng Dương Văn Minh kêu gọi binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa ngừng bắn sửa soạn bàn giao cho phía bên kia.
Nhưng sau đó chỉ có lời tuyên bố đầu hàng của Tướng Minh được phát trên Đài Phát thanh Sài Gòn mà không có lấy một buổi lễ bàn giao đơn giản hay một biên bản ký kết bàn giao chính quyền.
Được biết Tướng Minh muốn bàn giao chính quyền Việt Nam Cộng Hòa nhưng phía quân đội Bắc Việt trả lời là không có gì để bàn giao và buộc ông Minh phải đầu hàng vô điều kiện.
Đối với Quốc Tế
Về Công Pháp Quốc Tế biên bản bàn giao là văn bản phía cộng sản được sở hữu đầy đủ giấy tờ chuyển giao quyền lực, quyền tài phán, quan hệ ngoại giao với 77 quốc gia, quyền thừa kế Việt Nam Cộng Hòa về phương diện quốc tế.
Không có biên bản bàn giao nhà cầm quyền cộng sản không thể chứng minh được quyền thừa kế nên đã mất quyền đòi lại các bất động sản, các máy bay, tầu thuyền của Việt Nam Cộng Hòa và những khoản tiền được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ký gửi tại các ngân hàng nước ngoài.
Nhà báo Phạm Cao Phong cho biết hiện Pháp còn giữ khoảng 40 triệu đô la từ thời điểm 1975, giá trị lãi suất và tỷ suất hiện nay gấp nhiều lần con số đó, chưa kể những tài khoản khác của Việt Nam Cộng Hòa đã bị Mỹ phong tỏa.
Việc tranh giành công trạng giữa tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Văn Tiến Dũng, ông Lê Đức Thọ còn ảnh hưởng lâu dài đến thế chính danh thừa kế các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam Cộng Hòa trước quốc tế.
Hiệp Định Geneve 1954 và Hiệp Định Paris 1973 là những tài liệu vẫn được Quốc Tế cộng nhận, nên nếu Hà Nội có đưa Trung cộng ra tòa án quốc tế để đòi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ khó có thể chứng minh được tính hợp pháp và hợp lý của họ đối với hai quần đảo thuộc Việt Nam Cộng Hòa.
Đại tướng hay Tổng thống …
Cũng theo báo chí trong nước khi đọc lời tuyên bố đầu hàng do Trung tá chính ủy Bùi Văn Tùng viết Tướng Minh bị yêu cầu phải bắt đầu là: “Tôi, Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn…”
Nhưng ông Minh chỉ muốn đọc là: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh…”
Phía cộng sản không chịu buộc ông Minh phải đọc là: “Tôi, đại tướng Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn…”.
Không rõ lý do ông Minh từ chối nhận vai trò Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, nhưng “danh có chính thì ngôn mới thuận” bấy lâu nay đã có rất nhiều tranh cãi về tính hợp hiến của ông Minh trong vai trò tổng thống và tính hợp pháp của lời tuyên bố đầu hàng.
Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn viết trong hồi ký “Đất Nước Tôi” trước sức ép của cộng sản, Mỹ và Pháp chiều ngày 27/4/1975 Quốc Hội lưỡng viện đã họp để quyết định đồng ý cho Tổng thống Trần Văn Hương từ chức.
Đồng thời Quốc Hội đã tranh luận sôi nổi về việc trao quyền cho Đại tướng Dương Văn Minh, ông Cẩn cho biết điều lạ lùng và mâu thuẫn là các nghị sĩ và dân biểu đối lập lại không chịu biểu quyết ủng hộ.
Bên ngoài cuộc họp một số nghị sĩ và dân biểu đối lập cho biết: “sở dĩ việc họ chống lại trao quyền cho Tướng Minh là vì họ nghĩ rằng ông không đủ tài ba để giữ nước mà sẽ làm mất nước vào tay cộng sản.”
Những nghị sĩ và dân biểu này còn cho biết: “Chúng tôi (trước đây) nào có tín nhiệm Tướng Minh, chúng tôi chỉ dùng Tướng Minh để phá Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mà thôi.”
Các nghị sĩ và dân biểu tranh luận vì theo Điều 56 Hiến pháp: a) Tổng thống nếu từ nhiệm trước khi dứt nhiệm kỳ, Phó tổng thống sẽ trở thành Tổng thống; b) Nếu Phó tổng thống cũng từ nhiệm, chức vụ Tổng thống sẽ do Chủ tịch Thượng viện đảm nhiệm, trong thời hạn 3 tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và Phó Tổng Thống.
Khi Tổng thống Trần Văn Hương từ chức, theo điều 56 của Hiến pháp, Chủ tịch Thượng viện bấy giờ là ông Trần Văn Lắm sẽ phải giữ vai trò Tổng thống, và ông Lắm không được giao chức vụ Tổng thống cho ai khác.
Tổng thống chính thức chỉ có thể được quyết định qua một cuộc phổ thông đầu phiếu, các Nghị Sĩ và Dân Biểu Quốc Hội không có thẩm quyền bỏ phiếu quyết định giao chức Tổng thống cho tướng Minh.
Các nghị sĩ và dân biểu dự buổi họp ngày 27/4/1975 cũng không có quyền sửa Hiến Pháp vì theo Điều 105 quyết định tu chính Hiến Pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ.
Quốc Hội ở thời điểm đó gồm 60 nghị sĩ và 159 dân biểu, muốn đạt được 2/3 số phiếu thì phải cần ít nhất 146 người đồng ý. Nhưng buổi họp hôm ấy chỉ còn 138 người tham dự nên mọi quyết định sửa đổi Hiến Pháp là vi hiến.
Nhưng cuối cùng các dân biểu và nghị sĩ đã đồng ý với tỉ số 136/138 trao quyền cho Tướng Minh, ông Nguyễn bá Cẩn có đưa ra 3 lý do chính dẫn đến quyết định:
(1) để tránh một cuộc đảo chánh làm mất uy tín Tổng thống Trần văn Hương, gây thêm chia rẽ và bất ổn chính trị;
(2) để tránh chuyện cộng sản pháo kích vào thủ đô Sài Gòn gây thương vong cho dân chúng như họ đe dọa; và
(3) trao quyền để ông Minh có thể chính thức bàn giao quyền thừa kế Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng theo Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn quyết định trao quyền cho Tướng Minh chẳng khác nào các dân biểu và nghị sĩ Quốc Hội đã khai tử nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Về việc đầu hàng…
Nếu theo đúng Hiến Pháp ông Trần Văn Lắm hay Tổng thống Trần Văn Hương là những người có thẩm quyền để ký kết bàn giao hay đầu hàng.
Ngay sau khi chủ tọa Quốc Hội ông Trần Văn Lắm rời Việt Nam, sau này chính ông Lắm phủ nhận tính hợp hiến của quyết định Tướng Minh làm tổng thống.
Vì ông Lắm không nhận quyền tổng thống nên ông Trần Văn Hương vẫn là người lãnh đạo quốc gia, với ông Hương cho đến lúc lìa đời vẫn nhất quyết không công nhận nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội và không nhận quyền “công dân” do họ muốn trao cho ông.
Đại Tướng Dương Văn Minh ở thời điểm 30/4/1975 chỉ là một tướng về hưu không thực quyền nên nhiều người miền Nam vẫn tin rằng Việt Nam Cộng Hòa không đầu hàng cộng sản và vẫn tiếp tục chiến đấu không chịu bỏ cuộc.
Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận vi phạm Hiến Pháp đưa ông Minh ra thương thuyết với phía cộng sản với kỳ vọng ít ra nếu có bàn giao đàng hoàng thì biên bản bàn giao cũng có giá trị đối với quốc tế.
Thật mỉa mai các phe cánh trong đảng Cộng sản mải lo tranh giành chiến công, chạy đua chiếm Dinh Độc Lập, đến độ phải bắn nhau nên phía cộng sản không lo nhận bàn giao theo đúng với thủ tục quốc tế.
Lịch sử là sự thật, bởi thế mới nói lịch sử không đứng về phía Tướng Võ Nguyên Giáp, Tướng Văn Tiến Dũng, Tướng Lê Đức Anh, ông Lê Đức Thọ hay không như “bên thắng cuộc” đã viết.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
7/5/2021
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Lịch sử không phải do “Bên Thắng Cuộc” viết_Nguyễn Quang Duy
CHUYỆN RUỒI BU_Đạt Nhân LVT
Thân gởi cụ Lão Bút cùng quí cụ thi hữu, thân hữu,
Cách đây vài tuần cụ Lão Bút gọi thăm hỏi sức khỏe của lão tôi. Hôm đó tôi trả lời: lại thêm bệnh đau đầu gối. Lão Bút khuyên tôi nên nhỏ nhẹ nói chuyện với đầu gối vì bấy lâu nay tôi chê không thèm nói chuyện với đầu gối. Sau khi nói chuyện với đầu gối ,đầu gối làm lơ và ra dấu là tôi nói phét (fake).Nói chuyện tào lao,chuyện láo mà nhiều người tin. Tôi tạm dịch là chuyện ruồi bu vì chuyện có tẩm mật ong nên ruồi bu. Và hôm nay đầu gối của tôi vẫn đau trở lại như thường. Tôi cảm tác bài thơ CHUYỆN RUỒI BU nầy thân gởi đến quí cụ đọc cho vui mà “cười ra nước mắt “nhân những ngày cuối tháng tư. Đồng thời nhờ quí cụ chỉ giáo giùm cách nói thế nào cho đầu gối nghe. Thân nhờ thi hữu Nguyên Đình mời giùm BS Thảng trị giùm bệnh câm điếc của đầu gối (BS đừng cho toa “dùi cui”, bệnh nhân đã dùng không hiệu nghiêm).
CHUYỆN RUỒI BU
Đầu gối không kê để gối đầu
Mà sao âm ỉ ngấm ngầm đau?
Đã không Thái Thú quỳ phò Hán
Mà chẳng Quan Nô quỵ lụy Tàu
Bớt nhức vài tuần sau uống thuốc
Qua cơn ít phút hết xoa dầu
Nói gì đầu gối đều lơ cả !
Toàn chuyện ruồi bu đâu có đâu .
ĐẠT NHÂN (aka K1-Lê Văn Thuận)
Kính thư.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở CHUYỆN RUỒI BU_Đạt Nhân LVT
CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…_Lê Phương Lan
CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…
Tác giả: Lê Phương Lan (Phu nhân K1 Nguyễn văn Vinh)
Viết để riêng tặng các em thân yêu.
Tháng Tư mà cứ nhắc đến những câu chuyện buồn thì chỉ làm cho “Dột lòng mình cũng nao nao lòng người” (thơ Nguyễn Du). Vậy hôm nay người viết xin đổi đề tài để kể lại cho các em, con cháu và mọi người thân quen về những kỷ niệm vui để chứng minh rằng trong gian khổ chúng ta vẫn có những nụ cười và niềm hạnh phúc.
Bắt đầu bằng những kỷ niệm sau ngày 30 tháng 4, 1975. Sau ngày này thì hai cột trụ chính trong gia đình là bố tôi và ông xã đã trở thành tù nhân! Mẹ thì bị thương nặng. Anh tôi là chuẩn úy mới ra trường nên thân phận cũng mong manh lắm! Chỉ còn mấy chị em đều phải dựa vào nhau để tìm đủ phương cách mà kiếm sống. Trong những tháng ngày đầu, tôi và cô em kế là hai chị lớn phải bán rau muống, cà ghém ngoài chợ thì hai cô em nhỏ nhất được mẹ giao cho hai ấm trà đá và mấy cái ly nhựa. Hai đứa khởi hành từ nhà thờ Ba Chuông sang đến chợ Ông Tạ. Đến trưa trở về nhà hai ấm trà cạn trơn mà không có đồng nào trong tay! Hỏi ra mới biết là hai đứa rao hàng rát cổ quá nên đã chia nhau uống hết sạch hai ấm trà đá! Cô em thứ năm có tài nấu nướng, may mặc nên buổi tối ra đầu ngõ kê vài cái ghế gỗ bán khô mực nướng và nước sinh tố. Cô lại còn kiêm luôn nghề thợ may. Cô vừa mới mở hàng được vài bữa thì có một chị đến đặt may cho một bé trai bộ đồ gồm quần tây và áo sơ mi. Chẳng may cu tí “cháu ngoan bác hồ” này lại có thân hình bụng ỏng, đít teo, nên khi cứ cắt may theo lý thuyết thì lúc cháu mặc vào người áo và quần vạt trước đều bị kéo xếch lên cả tấc! Cũng may là nhà vẫn còn xấp vải cùng loại mua ở hợp tác xã để may đền cho khách hàng!
Tôi và cô em kế tuy sau này có được đi dạy học một thời gian nhưng sau vì đồng lương chết đói, không đủ nuôi sống gia đình và còn phải để dành lương thực để đi thăm nuôi hai người thân yêu đang bị giam cầm ở “hai phương trời cách biệt”, nên cũng phải bỏ nghề để ra bán hàng ngoài lề đường. Chúng tôi xoay sở đủ mọi mặt hàng để buôn bán. Tuy nhiên, một kỷ niệm cười ra nước là khi hai chị em bán guốc. Lúc bấy giờ đóng guốc là phải đóng đế cao su vào guốc, rồi đo chân khách hàng để đóng quai. Đây là công đoạn khổ nhất! Mỗi khi khách đến chừng hai, ba người là hai chị em quýnh lên, đóng búa cả vào ngón tay bầm tím! Một hôm, hai chị em đóng xong đôi guốc cho một khách hàng lựa chọn loại quai rất kiểu cọ. Khi cô ta xỏ chân vào guốc bước đi hai chị em mới nhận ra rằng mình đã đóng lộn ngược vị trí của quai vào cả hai chiếc guốc, nhưng hai đứa nín khe không dám gọi người khách quay trở lại vì sợ rằng có tháo ra chưa chắc đã biết đóng lại làm sao cho đúng!
Một kỷ niệm nữa cũng đáng cười ra nước mắt lại cũng liên quan đến đôi guốc. Đó là thời gian kinh hoàng nhất của người dân thành phố trong đợt “đánh tư sản”. Khi nhà cửa của những người “tư sản” hay bị gán cho là “tư sản” đều bị xông vào lục tung để ngang nhiên cướp đoạt tài sản. Còn chủ nhân thì bị đuổi đi các vùng “kinh tế mới”! Lo sợ rằng gia đình mình có thể bị xem là đối tượng của chính sách này có thể bị lục soát bất cứ lúc nào nên theo ý kiến của mẹ chồng tôi, tôi đục phía dưới đôi guốc to bản đều từ trên xuống dưới, nhét vào đó những tư trang của hai mẹ con, đóng đế cao su lại để mang theo khi đi dạy học. Trên đường đạp xe đến trường rồi sau đó lại đạp xe từ trường về nhà, mặt mày tôi vẫn còn bị tái nhợt đi vì sợ hãi. Nhất là khi đạp xe qua các ngã tư có công an đứng gác, chỉ sợ vô phúc các mối đinh đóng dưới đế guốc sút ra khiến mấy gói nữ trang đó bị rớt tung tóe ra mặt đường!
Thời gian qua, đến năm 1991 cả hai gia đình chúng tôi đều được đi định cư tại Mỹ. Và đây là những mẩu chuyện vui xảy ra trong thời gian đầu còn “chân ướt, chân ráo”: Gia đình riêng của hai chúng tôi qua Mỹ trước và được hai ân nhân người Việt bảo trợ đến thị trấn San Pablo gần thành phố Oakland, California. Sau hai tuần lễ đầu quan sát, hai chúng tôi không muốn quá nhờ vả vào lòng tốt của họ nên quyết định tìm cách tự đi chợ để mua thức ăn Việt Nam tại Oakland bằng xe bus. Trước khi bước lên xe, tôi cẩn thận xem trên đầu xe bus có chạy chữ “Oakland”. Vào trong xe, tôi đưa tờ giấy 20 đồng, người tài xế lắc đầu, ra hiệu tay là không có tiền thối! Tôi đi suốt từ đầu đến cuối trong xe không ai có đủ tiền lẻ để đổi cho chúng tôi! Tôi đành phải xuống xe ở trạm kế để kiếm ra người đổi tiền rồi mới tiếp tục cuộc hành trình! Mua thức ăn xong, chúng tôi quay lại đúng vị trí của chỗ xe bus đã thả chúng tôi xuống nhưng mấy chuyến xe chạy qua mà không thấy xe nào có chạy chữ”Oakland” mà chỉ toàn là “Richmond”! Sau cùng tôi leo lên một xe vừa chạy tới để hỏi xem. Thì ra Richmond cũng là một địa điểm của San Pablo và xe bus thì lại chạy chữ theo mỗi điểm xe chạy đến!
Lại cũng lên quan đến chuyện xe cộ trong buổi đầu bỡ ngỡ: Khi dọn về San Jose ông xã tôi thi đậu bằng lái xe trước tiên nhưng chưa có đủ tiền mua xe. Trong khi chú em rể chưa có bằng lái mà đã mua lại được một chiếc xe Toyota cũ. Hôm đó hai chúng tôi và hai vợ chồng cô em cùng đi khám sức khỏe. Đang khi lái xe thì trời đổ mưa xối xả. Hơi nước mờ mịt trong chiếc xe bị đóng kín cửa mà không ai biết sử dụng cái nút heater để làm khô hơi nước! Trong hoàn cảnh “nguy cấp” này chú em rể không ngớt trấn an ông anh:”Anh bình tĩnh lái xe nghe! Đừng lo! Để em lau cửa kính xe cho anh cho!”. Hai chị em tôi ngồi ở băng sau cứ thế xé và vò nát mấy trang giấy của tờ báo “Thằng Mõ” để đưa cho chú em lau kiếng xe! Vừa đến nơi thì hết mưa và tờ báo cũng chỉ còn lại hai tờ bìa!
Khi biết được mình đã có thai cháu út, tôi quyết định đi học để trở lại để bước vào nghề dạy học. Tôi bắt đầu ghi danh học tại Evergreen Valley College. Bước đầu học Anh ngữ cũng có mấy chuyện vui để nhớ: Đầu tiên tôi có vài người bạn Mỹ, Mễ trong đó có cô bạn Mỹ rất dễ thương. Tôi muốn khen cô bằng câu nói đơn giản:”You are my best friend.” nhưng vì chưa biết cách ”xì gió” hai phụ âm cuối của chữ”best”nên khi phát âm chỉ nghe ra như “bết, bát” thôi! Tôi thấy lông mày cô hơi nhíu lại nên phải nói lại và đánh vần chữ “best”. Nghe xong cô cười và giúp tôi sửa cách phát âm cho đúng chữ mà mình muốn diễn tả này!
Lần khác, trong lớp học về Writing tôi được bà giáo rất thương mến với những bài viết kể lại những kỷ niệm tại quê nhà của tôi. Một hôm bà muốn sửa lại cho tôi một bài văn tôi còn nhớ có tựa đề” The Boy With a Window on His Shirt” trong đó tôi viết – hơi hư cấu- câu chuyện về thời thơ ấu của ông xã. Tóm tắt bài viết: “Ông xã tôi mồ côi cha từ nhỏ nên hai mẹ con sống rất khó khăn. Thuở nhỏ khi đi học, anh chỉ có duy nhất một chiếc áo đồng phục trắng. Một hôm vì vô ý anh làm rách áo ở ngay trên ngực. Mẹ anh phải cặm cụi vá lại chiếc áo bằng một miếng vải trắng cũ. Rồi một ngày kia anh nhất định không chịu đến trường vì bị bạn bè chọc ghẹo là “thằng nhỏ với cái áo có cửa sổ”. Và rồi sau đó anh đã khóc khi mẹ cho anh xem chiếc áo dài cưới trắng đã cũ. Chiếc áo mà mẹ giữ mãi nay đã mất một miếng để lấy vải vá vào chiếc áo bị rách cho anh!” Bà giáo xem xong muốn sửa văn phạm và ngữ pháp của bài văn để đọc cho cả lớp nghe. Ở Việt Nam thì khi muốn gọi ai người gọi để bàn tay úp xuống, nhưng tại Mỹ thì người gọi lại mở bàn tay hướng lên dùng mấy ngón tay để vẫy gọi. Khi bà vẫy gọi tôi như vậy vào lúc cuối giờ học, tôi lại đang vội vã ra về vì sợ lỡ chuyến xe bus. Tôi hồn nhiên vẫy chào:”Bye teacher! See you tomorrow!” Hôm sau bà đến gần bàn học và hỏi hôm qua tại sao tôi không đến gặp bà. Khi nghe tôi giải thích sự hiểu lầm biểu hiện về cách gọi, bà cười thông cảm và dặn tôi hôm nay ở lại để bà giúp cho sửa lại bài văn!
Lần khác nữa cũng làm tôi toát mồ hôi hột. Hôm đó là ngày thi về cách sử dụng computer là môn học mới mẻ mà tôi sợ nhất. Tôi làm bài thi trên computer mấy câu đầu thì máy cho comment “Good” rồi đến “Excellent”. Khoảng năm câu hỏi cuối thì cứ thấy hiện lên chữ”Terrific”! Làm đi làm lại cũng vẫn cứ”Terrific!” Tôi muốn khóc luôn! Thầy giáo phụ trách thấy gần hết giờ mà tôi còn khổ sở quá! Thấy tôi gần như muốn khóc với kết quả, thầy tiến đến xem rồi ngạc nhiên lắm:”Look! You are OK! Terrific means very good!” Oh! My God! Từ nãy đến giờ tôi cứ ngỡ terrific là terrible!
Trong chập chùng nỗi nhớ vẫn có những niềm vui thật là ngây ngô, dễ thương làm sao! Thời gian trôi qua đã hơn “bảy mươi năm cuộc đời” mà bộ nhớ của tôi vẫn “còn một chút gì để nhớ, để quên”: Nhớ quê hương, nhớ người thân, nhớ bạn bè với bao kỷ niệm đẹp, quên đi những hận thù, những tiếc nuối về tất cả những gì đã mất mát. Tôi nghĩ rằng những mất mát về vật chất chúng ta vẫn có thể tự nỗ lực xây dựng lại được. Chỉ sợ những mất mát, tổn thương về tinh thần mà phải cần đòi hỏi sự tha thứ, thông cảm của cả hai bên liên hệ.
Anh cả đã mất! Chị em chúng ta nay đều đang vác trên vai sáu, bảy bó tuổi đời. Ngày nhắm mắt xuôi tay trở về cát bụi không biết đến lúc nào nhưng chắc cũng không còn xa lắm nữa! Chỉ sợ rằng lúc đó khi gặp mặt Chúa, Ngài sẽ không hỏi rằng chúng ta đã có được bao căn nhà, mà chỉ hỏi xem chúng ta thực thi được những gì Ngài đã dạy. Rồi chúng ta cũng sẽ gặp lại những người thân yêu đã khuất. Lúc đó, điều chúng ta cần là phải sửa soạn ngay từ bây giờ hai cách sẽ được đón tiếp: một là cúi mặt để tránh cái nhìn trách móc hay là được ngẩng lên tươi cười đón nhận sự thương yêu của bố mẹ.
Lê Phương Lan (Trích từ FB Lan Lê Nguyễn)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ…_Lê Phương Lan
Tô Phở_Ngô Đình Hải
Tô Phở thật tình người
Tác giả: Ngô Đình Hải
Vậy là hắn được tha về. Thứ gì của hắn còn xài được, hắn để lại hết cho anh em. Trong này quý. Chỉ giữ lại bộ đồ duy nhất mặc trên người. Miếng giấy ra trại xếp làm bốn, nhét mấy chục ngàn vô giữa, hắn cắm đầu đi thẳng. Không ngó lại. Tuyệt đối không ngó lại. Là mấy tay ở tù nhiều lần dặn vậy. Lưu luyến gì? Tiếc rẻ gì? Nhìn lại lỡ có huôn. Mình không nhớ nó, nhưng nó nhớ mình, nó khiến cho có chuyện vô lại thì sao?
Chưa có một dự tính nào trong đầu, nhưng hắn tự hứa với mình. Sẽ không bao giờ! Không bao giờ, trở lại nơi này lần nữa. Về đã! Về rồi tính tiếp. Chỉ cần nhảy lên hai chuyến xe đò là hắn tới quê. Là thấy được con mương trước nhà. Thấy hàng so đũa và cái mái lá xác xơ. Không biết má hắn giờ ra sao? Lâu lắm rồi không thấy bà lên thăm. Hắn đã nghĩ tới tình huống xấu nhứt. Hay bà chết rồi không chừng. Mấy năm trước, lúc mới vô tù, bà có lên thăm nuôi hắn đâu được một, hai lần rồi thôi. Thấy yếu lắm. Nói chuyện với hắn như trối! Câu nào cũng đầy nước mắt. Lớp già, lớp nghèo, sống lủi thủi một mình, thêm lớp nhớ con, bà như cây đèn chông lắc lư trước gió hằng đêm, tắt hồi nào không hay! Hắn đã sợ hãi khi nghĩ tới điều này. Sợ còn hơn lúc người ta tuyên án 3 năm tù ở với hắn. Hắn ăn năn, hắn hối hận, hắn tự nguyền rủa con người mình, ngày này qua ngày khác. Ngày tháng ở tù thì kéo dài tưởng chừng như vô tận. Hắn chai lỳ với mọi cảm xúc, chịu đựng vượt mức mọi thứ, để chờ ngày hôm nay. Ruột hắn nóng như lửa đốt, mà cái xe đò cứ rề rề, chạy rồi ngừng, ngừng rồi chạy liên tục. Tới thành phố thì đã quá trưa.
Chỉ cần thêm 2 chuyến xe nữa là hắn đã có mặt ở nhà. Hắn hối hả tìm trạm xe buýt ra bến xe miền Tây. Miệng khô khốc, bụng đói cồn cào. Hắn dừng lại ở thùng bánh mì từ thiện, may mắn không chào đón hắn, thùng bánh mì trống trơn. Hắn uống liền 2 ca trà đá ở cái bình nước miễn phí đặt gần đó. Đầu hắn quay cuồng, cái đói ở đâu kéo tới thiệt lẹ.
Hai chân hắn bắt đầu run. Con đường trước mặt như quen như lạ. Đã có một thời hắn kiếm miếng ăn trên những con đường. Hắn khéo tay. Không có cái khoá xe nào mà hắn cần quá 1 phút để mở. Hắn mở khoá xe điệu nghệ như một nhà ảo thuật. Cái điệu nghệ đưa tới một án tù! Với hắn, trộm cắp cũng phải có nghệ thuật và nguyên tắc riêng của nó. Thứ nhứt, không chôm…xe cùi bắp! Bán chẳng được bao nhiêu, phí một lần ra tay. Lại nữa, chủ nhân thường là những người nghèo. Chiếc xe là cái cần câu cơm, là cả một gia tài. Mất đi, lập tức…đời là bể khổ! Chôm không đành. Thứ nhì, có lựa xe dữ, thì cũng không chơi ở mấy cửa hàng, trường học. Ở đó có người coi, có bảo vệ. Khó chơi đã đành. Chơi được, thì nạn nhân không phải người mất xe, mà là chính họ. Những người đi làm cái nghề giữ xe được mấy đồng bạc. Đền một chiếc xe là mạt, là ăn mày. Kẹt mấy cũng đừng chơi! Tội…
Ngon nhứt là canh me chôm trước cửa nhà, chôm của mấy tay có tiền, chạy xe xịn đi ăn chơi, mua sắm. Ăn hàng xong là nhẹ nhỏm, là khỏi băn khoăn, thắc mắc…
Hắn lắc lắc đầu, cố thoát ra khỏi cái ám ảnh ngứa nghề để đi tiếp. Ngẩng lên, thấy ngay tấm bảng đập vô mắt:
“Phở bình dân. Tái Nạm Gàu Gân. 35k 1 tô”. Xe phở đặt phía trước tiệm. Thùng nước lèo kế bên. Mấy tảng thịt bò treo lủng lẳng bắt mắt. Không nhớ đã bao lâu hắn không được ăn phở. Thèm và đói. Cái đói réo gọi. Đói dữ dội. Đói chảy nước mắt. Đói leo qua sức chịu đựng của hắn. Hắn lôi tiền ra đếm. Còn vỏn vẹn 30 ngàn về xe. Hắn cay đắng. Hắn bực tức. Tô phở bốc khói nhảy vô đầu hắn ngồi. Tô phở vực cái thói quen cũ trồi dậy. Hắn bắt đầu quan sát. Phố xá đông đúc, hàng quán san sát, xe gắn máy đậu dài hai bên lề đường. Hắn tản bộ thêm một đoạn, ngó mấy cái ngã tư, tính toán đường thoát. Hắn nhìn quanh quất, phải kiếm đồ nghề trước. Cái này thì dễ. Gần đèn xanh, đèn đỏ, có một tiệm sửa xe. Hắn lượm một cây căm xe cũ. Lượm thêm một cục đá xanh làm búa. Hắn ngồi ngay xuống lề đường, lo việc của mình, mặc kệ thiên hạ. Người qua lại đông, xe cộ chen nhau, không ai thèm để ý tới hắn. Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ, biết càng thêm rắc rối chứ ích gì. Hắn bẻ gập cây căm cho ngắn lại, lấy cục đá đập dẹp cái đầu, rồi uốn, rồi mài dưới mặt đường, cẩn thận từng chút. Một bài học trong tù. Ở trong đó hắn còn làm ra nhiều thứ vật dụng quái chiêu hơn nhiều. Không có gì là không thể nếu chịu khó và kiên nhẫn. Xong, hắn đưa lên trước mặt ngắm nghía. Không ngon lắm, nhưng cũng tạm được. Dân trong nghề kêu bằng đoản, trong tay hắn là cái chìa khoá vạn năng. Hắn đút cây đoản vô túi áo. Tay hắn chạm tờ giấy ra trại. Chạm vào thực tại. Tờ giấy nhắc cho hắn cái lý do hắn ở đây. Hắn hơi chựng lại. Hắn xoè tay ra trước mặt, hai bàn tay nhạy bén như của một nghệ sĩ ngày nào, giờ xám xịt, chai sần và thô kệch. Những ngón tay cứng đơ nằm gần nhau mệt mỏi. Hắn hoang mang, hắn không còn đủ tin tưởng vô chúng. Hắn co duỗi, hắn nhấp thử vài lần trong không khí. Chậm và thô quá. Hắn đốt điếu thuốc còn sót lại, hy vọng xoa dịu cơn đói. Khói thuốc làm người hắn nhộn nhạo. Hắn nhớ tới má hắn dưới quê, không biết sống chết ra sao. Một phần trong hắn lên tiếng:
– Thôi bỏ đi. Đã thề bỏ rồi mà. Làm khổ bà già nhiêu đó chưa đủ sao, thằng bất hiếu! Về! Về gấp như đã hứa. Về! Đói no gì cũng kệ, miễn là có mẹ có con. Cái nghề này đâu có bền. Sớm muộn gì cũng trở vô trỏng thôi!…
Hắn cúi xuống nhìn bộ quần áo mình đang mặc. Nhìn cái con người thân tàn ma dại của mình. Một phần khác trong hắn lên tiếng:
– Về! Dĩ nhiên là phải về. Nhưng về trong tình cảnh này sao? Chơi đại một chiếc kiếm vốn, đua về trốn luôn ở dưới mà làm lại cuộc đời! Chơi đi, đâu có khó gì…
Hắn đứng bật dậy. Người hắn loạng choạng. Từ sáng tới giờ hắn có miếng nào trong bụng đâu! Đói chịu hết xiết. Muốn làm gì thì cũng phải ăn cái đã. Mọi chuyện tính sau. Tiệm phở đông nghẹt. Hắn bước vô, đứng ngay xe. Mùi phở bốc lên nồng nực, thơm phức. Cái mùi đủ làm cho người chết sống dậy. Hắn ấp úng gọi:
– Bà chủ…
Người đàn bà đứng nấu, đang tất bật với múc, chan. Mồ hôi nhể nhại. Nghe hắn gọi, không thèm ngó, sẳng giọng:
– Tui không phải chủ. Chủ ngồi trong kia kìa…
Hắn nuốt nước miếng ừng ực, nói tiếp:
– Bán cho tui tô 30 ngàn nhiều bánh được không?
Chị ngừng tay, ngước lên nhìn hắn:
– Vô bàn ngồi đi!
Hắn tìm cho mình một chỗ trống, ngồi xuống. Tô phở đầy ắp, thịt cả đống, được thằng nhỏ bưng ra. Ngó chừng có phần còn nhiều hơn những tô khác. Hắn cắm cúi ăn, nghe từng miếng trôi qua miệng xuống bụng, nghe cái ngọt ngào của từng muổng nước lèo thấm ra da thịt. Tới lúc hắn buông đủa, thì cái tô sạch nhách, một miếng hành cũng không còn. Mắt hắn sáng lên. Người hắn phấn chấn. Hắn kêu tính tiền. Thằng nhỏ chạy lại, hắn đưa tiền. Thằng nhỏ đếm:
– Thưa, mới 30, 35 ngàn một tô…
Hắn sượng ngắt, chỉ tay về phía người đàn bà:
– Tui kêu tô 30…
Thằng nhỏ day qua ngó chị như hỏi. Vài người ngồi quanh ngó qua hắn, nghi nghi, ngờ ngờ. Không lẽ cái bộ dạng của hắn tệ dữ vậy sao? Chị rời chỗ đứng đi về phía hắn, ngó cái tô phở trống trơn, rồi ngó hắn:
– Ăn được không chú Tư? No chưa?
Hắn gật, rồi nhắc lại:
– Tui kêu tô 30…
Chị gạt ngang, cười:
– Ai chẳng có lúc quên. Cái này là tui quên chứ không phải chú quên, bỏ qua nhe!
Giọng chị nhỏ lại:
– Tui để ý chú tự nảy giờ. Về quê hả? Về đời lâu mau rồi? Mới ra hả?…
Hắn lại gật:
– Sáng nay…
Chị giằng lấy 30 ngàn trong tay thằng nhỏ, nhét sâu vào túi áo hắn, để tay ở đó một chập, rồi nói lớn:
– Đi cho kịp chuyến xe, chú Tư.
Lại Tư! Hắn cu ky một mình, có anh có em gì đâu mà Ba, mà Tư! Người đâu ngộ thiệt! Quen biết hồi nào đâu mà kêu hắn thứ Tư, trật lất. Hắn nhìn chị, nghẹn ngang. Lí rí cám ơn, rồi đi thẳng.
Ngoài cửa, một cặp trai gái vừa tấp chiếc SH, nắm tay nhau đi vô, cùng lúc với hắn đi ra. Tay hắn giựt giựt. Cơ hội ngon ăn hết biết! Hắn vịn tay lên ghi đông chiếc xe, lắc nhẹ như tình cờ đi ngang bị vướng, tay kia rờ lên túi. Thò luôn tay vô trong. Tấm giấy ra trại còn nguyên. Tiền chị nhét vô còn nguyên. Cây đoản mở khoá biến đâu mất. Hắn thở dài, coi như xong! Chắc Trời khiến!
Hắn đi thật nhanh như chạy. Tiếng chị vang theo sau lưng:
– Về khoẻ nhe chú Tư. Có lên chơi nhớ ghé nhe…
Chị nói mà bàn tay nắm lại, hình như có cái gì của hắn trong đó…
Tác giả: Ngô Đình Hải
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tô Phở_Ngô Đình Hải
MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ_Nguyễn Kiên
MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ
Mẹ tôi chỉ là một thư ký cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30.4.1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và bọn giặc cướp Cộng sản đang từ từ tiến vô Sài Gòn, Mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá Cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giỗ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó, chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá Cờ Quốc Gia, nên Mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà Mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được. Mẹ tôi nói:
– «Biết bao nhiêu anh Chiến Sĩ Quốc Gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!».
Thế rồi, những năm tháng sống dưới chế độ Cộng sản man rợ bắt đầu đến với người dân miền Nam. Như bao nhiêu gia đình khác, gia đình tôi ngơ ngác, bàng hoàng qua những chiến dịch, chính sách liên tiếp của bọn Việt Cộng; hết “chiến dịch đổi tiền”, “chính sách lương thực, hộ khẩu”, đến “chính sách học tập cải tạo đối với ngụy quân, ngụy quyền”, “chiến dịch đánh tư sản mại bản”, «chính sách kinh tế mới » … và nhiều nữa không thể nào kể hết. Ai nói lũ Cộng sản ngu ngốc, chứ riêng tôi thì thấy bọn chúng chỉ là một loài vô đạo đức, vô học, vô nhân cách và kém văn hoá, kỹ thuật; chứ thủ đoạn chính trị thì thật thâm hiểm, lưu manh, gian trá, quỷ quyệt, tráo trở, lật lọng! Chính sách nào của lũ Cộng sản cũng cốt là để làm cho người dân miền Nam khốn đốn, kiệt quệ, nghèo đói, dìm sâu con người miền Nam xuống đến tận bùn đen để không còn sức phản kháng lại bọn chúng.
Đầu tiên là: «chiến dịch đổi tiền», bọn chúng phát cho mỗi gia đình một số tiền bằng nhau, như vậy mỗi gia đình đều nghèo như nhau, không ai có thể giúp ai được. Để ăn cướp của người dân miền Nam, bọn chúng trắng trợn và trâng tráo tuyên bố vàng, bạc, quý kim, đá quý là thuộc tài sản của nhà nước, ai mua, bán, cất giữ thì bị tịch thu. Kế đến là: «chính sách hộ khẩu», tức là mổi gia đình phải kê khai số người trong gia đình để được mua lương thực (tức là gồm khoai, sắn và gạo mốc) theo tiêu chuẩn, nghĩa là mỗi người (mà chúng gọi là «nhân khẩu») được 13 kg lương thực mổi tháng.
Bao vây như vậy vẫn chưa đủ chặt, bọn Cộng sản sau đó còn ban hành lệnh cấm người dân mang gạo và các loại hoa màu khác từ vùng này sang vùng khác, bất kể là buôn bán hay chỉ là để cho bà con, con cháu. Thành thử các vùng thôn quê miền Nam (vốn dư thừa lúa gạo) mà lúc bấy giờ cũng không thể đem cho bà con, con cháu ở thành phố; nhiều bà nội, ngoại phải giấu gạo trong lon sữa guigoz để đem lên thành phố nuôi con cháu bị bệnh hoạn, đau ốm… Như vậy là bọn chúng đã hình thành một cái chuồng gia-súc-người khổng lồ, con vật-người nào ngoan ngoãn thì được cho ăn đủ để sống, con nào đi ra khỏi cái chuồng đó thì chỉ có chết đói.
Chính sách này của bọn chúng còn thâm hiểm và ác độc ở chỗ mà Miền Nam ngày trước không có là không thể có cái việc: «các má, các chị nuôi giấu cán bộ giải phóng trong nhà» như lũ giặc cướp cộng phỉ đã đĩ miệng, phỉnh phờ lừa gạt những người dân nhẹ dạ theo chúng trước đây. Ba tôi rồi cũng đi tù lao động khổ sai như bao nhiêu sĩ quan, công chức Miền Nam khác, Mẹ tôi ở lại một mình phải nuôi bầy con nhỏ. Bây giờ mổi khi hồi tưởng lại đoạn đời đã qua, tôi vẫn tự hỏi, nếu mình là mẹ mình hồi đó, liệu mình có thể bươn chải một mình để vừa nuôi chồng trong tù, vừa nuôi một đàn con dại như vậy không? Trong lòng tôi vẫn luôn có một bông hồng cảm phục dành cho Mẹ tôi và những phụ nữ như Mẹ tôi đã đi qua đoạn đời khắc nghiệt xưa đó.
Từ một công chức cạo giấy Mẹ tôi trở thành: “bà bán chợ trời” (bán các đồ dùng trong nhà để mua gạo ăn), rồi sau khi kiếm được chút vốn đã “tiến lên” thành một: «bà bán vé số, thuốc lá lẻ» đầu đường.
Thời đó, cái thời chi mà khốn khổ! Mẹ tôi buôn bán được vài bữa thì phải tạm nghỉ vì hễ khi có: «chiến dịch làm sạch lòng, lề đường», bọn công an đuổi bắt những người buôn bán vặt như Mẹ tôi, thì phải đợi qua “chiến dịch” rồi mới ra buôn bán lại được. Có khi Mẹ tôi đẩy xe vô nhà sớm hơn thường lệ, nằm thở dài, hỏi ra mới biết Mẹ tôi bị quân lưu manh lường gạt, cụt hết vốn. Thời bấy giờ, do chính sách: «bần cùng hoá nhân dân» của lũ giặc cướp Cộng sản miền Bắc đã tạo ra những tên lưu manh, trộm cắp nhiều như nấm. Có tên đến gạt Mẹ tôi đổi vé số trúng mà kỳ thật là vé số cạo sửa, vậy là Mẹ tôi cụt vốn; có tên đến vờ hỏi mua nguyên một gói thuốc lá Jet (thời đó người ta thường chỉ mua một, hai điếu thuốc lẻ, nên bán được nguyên gói thuốc là mừng lắm), thế rồi hắn xé bao lấy một điếu, rồi giả bộ đổi ý, trả gói thuốc lại, chỉ lấy một điếu thôi, vài ngày sau Mẹ tôi mới biết là hắn đã tráo gói thuốc giả!
Một buổi tối, tôi ra ngồi chờ để phụ Mẹ tôi đẩy xe thuốc vô nhà, thì có một tên bộ đội, còn trẻ cỡ tuổi tôi, đội nón cối, mặc áo thun ba lỗ, quần xà lỏn (chắc là đóng quân đâu gần đó) đến mua thuốc lá.
Hồi đó, bọn bộ đội Cộng sản, vốn bản chất xảo trá, quỷ quyệt cộng với cái bản chất hèn hạ, nên thường che giấu không mang quân hàm, nên chẳng ai biết lũ chúng là cấp bậc nào, chỉ đoán là tên nào trẻ, mặt mày ngố ngố đần độn là lũ bộ đội thường, cấp nhỏ, tên nào người lùn tẹt, răng hô, môi tím tái, da xanh bủng, mặt mày thâm hiểm, quắt queo, kinh tởm như mặt loài chuột bẩn thỉu thì có thể là lũ công an hay chính trị viên… Tên bộ đội hỏi mua 3 điếu thuốc lá Vàm Cỏ, rồi đưa ra tờ giấy một đồng đã rách chỉ còn hơn một nửa. Mẹ tôi nói:
– «Anh đổi cho tờ bạc khác, tờ ni rách rồi, người ta không ăn».
Tên bộ đội trẻ măng bỗng đổi sắc mặt, cao giọng lạnh lùng:
– «Chúng tôi chưa tuyên bố là tiền này không tiêu được!».
À, thì ra những thằng oắt con Cộng sản rừng rú, lếu láo, vô học và vô nhân cách này cũng biết lên giọng của kẻ chiến thắng (nhờ cúi đầu làm tay sai đánh thuê cho bọn ngoại bang Trung Cộng – Liên Xô), giọng của kẻ nhân danh một chính quyền! Lúc này, tôi mới sực thấy cái quần xà lỏn màu vàng mà tên thổ phỉ rừng rú này đang mặc được may bằng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ! Mẹ tôi lẳng lặng lấy tờ tiền rách và đưa cho hắn 3 điếu thuốc lá. Khi hắn đã đi xa, Mẹ tôi vò tờ bạc vất xuống cống và nói nhỏ đủ cho tôi nghe:
– «Thôi kệ, một đồng bạc, cãi lẫy làm chi cho mệt! Thí cho bọn cô hồn ăn cướp đó đi! Hắn mặc cái quần… làm chi rứa, thắng trận rồi thì thôi, sỉ nhục người ta làm chi nữa, con hỉ?».
Thì ra Mẹ tôi cũng đã nhận ra cái quần hắn mặc may bằng lá Cờ Vàng Quốc Gia và điều mà Mẹ tôi quan tâm nhiều hơn là lá cờ, chứ không phải tờ bạc rách! Khi bọn Cộng sản mới cưỡng chiếm Miền Nam, nhiều người vẫn tưởng bọn Cộng sản cũng là người Việt, không lẽ họ lại đày đọa đồng bào. Nhưng sau nhiều năm tháng sống dưới chế độ Cộng sản, tôi hiểu ra rằng bọn Cộng sản xem dân Miền Nam như kẻ thù muôn kiếp, bọn chúng tự cho bọn chúng là phe chiến thắng «vẻ vang» và có quyền cai trị tuyệt đối đám dân xem như không cùng chủng tộc này.
Một hôm, đang ngồi bán thuốc lá, Mẹ tôi tất tả vô nhà, kêu đứa em tôi ra ngồi bán để mẹ đi có việc gì đó. Một lúc sau Mẹ tôi trở về và kể cho chúng tôi một câu chuyện thật ngộ nghĩnh. Mẹ kể:
– «Mẹ đang ngồi ngoài đó thì nghe mấy bà rủ nhau chạy đi coi người ta treo Cờ Quốc Gia trên ngọn cây. Té ra không phải, có cái bao ny-lông màu vàng có dãi đỏ, chắc là gió thổi mắc tuốt trên ngọn cây cao lắm, người ta tưởng là Cờ Vàng Quốc Gia. Mà lạ lắm con, có con chó nó cứ dòm lên cây mà sủa ra vẻ mừng rỡ lắm, rứa mới lạ, chắc là điềm trời rồi !».
Mẹ tôi là vậy đó, bà hay tin dị đoan, nhưng chính ra là Mẹ tôi nhìn mọi việc bằng tình cảm trong lòng mình. Thời gian trôi mãi không ngừng… Cuối cùng rồi Ba tôi cũng may mắn sống sót trở về sau gần 10 năm trong lao tù khổ sai Cộng sản, Mẹ tôi vẫn bán thuốc lá lẻ, chúng tôi sau nhiều lần bị đánh rớt Đại Học, đành phải tìm việc vặt vãnh để kiếm sống. Đôi khi tôi tự hỏi, cuộc đời mình sẽ ra sao, liệu mình có thể có một mái gia đình, vợ con như bao người khác không trong khi mà cả gia đình mình không hề thấy một con đường nào trước mặt để vươn lên, để sinh sống với mức trung bình!? «Mọi người sinh ra đều bình đẳng… và ai cũng được quyền mưu cầu hạnh phúc…» Câu ấy nghe có vẻ hiển nhiên và dễ dàng quá; nhưng phải sống dưới chế độ Cộng sản, việc gì cũng bị truy xét lý lịch đến ba đời, mới thấm thía ý nghĩa và hiểu được vì sao người ta dùng câu ấy để mở đầu cho bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bất hủ.
Một ngày khoảng đầu năm 1990, bọn công an phường đến đưa cho Ba tôi một tờ giấy có tiêu đề và đóng dấu của công an thành phố, nội dung vỏn vẹn “đến làm việc”. Gia đình tôi lo sợ là Ba tôi sẽ bị bắt vô tù lại, Ba tôi thì lẳng lặng mặc áo ra đi, hình như các ông sĩ quan đi tù khổ sai của bọn Cộng sản về đều trở thành triết gia, bình thản chấp nhận thực tại. Hay là thân phận của con cá nằm trên thớt, thôi thì muốn băm vằm gì tuỳ ý. Rồi Ba tôi về nhà với một tin vui mà cả nhà tôi có nằm mơ cũng không thấy được, bọn công an thành phố kêu Ba tôi về làm đơn nộp cho Sở Ngoại Vụ vì gia đình tôi đã được cho đi định cư ở Hoa Kỳ! Thật không sao kể xiết nỗi vui mừng của gia đình tôi với tin này, đang từ một cuộc sống tuyệt vọng nơi quê nhà mà nay được ra đi đến một quốc gia tự do, giàu mạnh nhất thế giới! Những ngày sau đó lại cũng là Mẹ tôi đi vay mượn, bán những món đồ cuối cùng trong nhà chỉ để có tiền làm bản sao photocopy các giấy tờ “Ra Trại” của Ba tôi, khai sinh của chúng tôi, đóng tiền cho “Dịch Vụ”… để làm thủ tục xuất cảnh.
Chỉ khoảng 6 tháng sau là gia đình tôi lên máy bay để bay qua trại chuyển tiếp bên Thái Lan. Tôi lên máy bay, ngồi nhìn xuống phi trường Tân Sơn Nhất dưới kia mà nước mắt cứ trào ra không ngăn được. Thế là hết, đất nước này của tôi, thành phố Sài Gòn này của tôi, nơi mà tôi sinh ra và lớn lên, một lát nữa đây sẽ vĩnh viễn rời xa, bao nhiêu vui buồn ở đây, mai sau chỉ còn trong kỷ niệm! Tôi quay lại nhìn thấy Ba tôi mặt không lộ vẻ vui buồn gì cả, còn Mẹ tôi thì nhắm mắt như đang cầu nguyện và Mẹ tôi cứ nhắm mắt như thế trong suốt chuyến bay cho đến khi đặt chân xuống Thái Lan, Mẹ tôi mới nói:
– “Bây giờ mới tin là mình thoát rồi!”.
Sau khoảng 3 tuần ở Thái Lan, gia đình chúng tôi lên máy bay qua Nhật, rồi đổi máy bay, bay đến San Francisco, California, Hoa Kỳ.
Ngày đầu tiên đến Mỹ được người bà con chở đi siêu thị của người Việt, thấy lá cờ Việt Nam Cộng Hòa bay phất phới trên mái nhà, Mẹ tôi nói:
– «Úi chao, lâu lắm mình mới thấy lại lá cờ ni, cái Lá Cờ Quốc Gia VNCH của mình răng mà hắn hiền lành, dễ thương hí?»
Rồi Mẹ kêu tôi đi hỏi mua cho mẹ một lá Cờ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa bằng vải, đem về cất vào ngăn trên trong tủ thờ. Chúng tôi dần dần ổn định cuộc sống, cả nhà đều ghi tên học College, Mẹ tôi cũng đi học College nữa và xem ra bà rất hứng thú với các lớp ESL (English as a Second Language); đặc biệt là các lớp có viết essays (luận văn).
Mẹ tôi viết luận văn rất ngộ nghĩnh, thí dụ đề tài là: «Bạn hãy nói các điểm giống nhau và khác nhau của một sự việc gì đó giữa nước Mỹ và nước của bạn» thì Mẹ tôi lại viết về lá Cờ Quốc Gia. Ý Mẹ tôi (mà chắc chỉ có mình tôi hiểu được) là nước Việt Nam có đến hai lá cờ khác nhau với hai chế độ tương phản nhau mà người Mỹ thời này hay ngộ nhận cờ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng; trong khi lá cờ đó không phải là lá cờ thiêng liêng của người Việt tại Mỹ. Rải rác trong suốt bài luận văn dài tràng giang đại hải của Mẹ tôi là những mẩu chuyện thật mà Mẹ tôi đã trải qua suốt thời gian sống dưới chế độ Cộng sản man rợ. Mẹ tôi kể là mẹ thấy bà giáo Mỹ đọc say mê (tôi nghĩ có lẽ là bà giáo Mỹ sống ở nước tự do, dân chủ không thể ngờ là có những chuyện chà đạp, bức hiếp con người như thế dưới chế độ Cộng sản tàn ác và man rợ). Khi bài được trả lại, tôi cầm bài luận của Mẹ tôi xem thì thấy bà giáo phê chi chít ngoài lề không biết bao nhiêu là chữ đỏ: «interesting!», «Narrative», «I can’t believe it!”… . và cuối cùng bà cho một điểm “D” vì… lạc đề!
Cuộc sống chúng tôi dần dần ổn định, vô Đại Học, lấy được bằng cấp, chứng chỉ, rồi đi làm, cuộc sống theo tôi như thế là quá hạnh phúc rồi. Dạo đó, có anh chàng Trần Trường nào đó ở miền Nam California, tự nhiên giở chứng đem treo lá cờ đỏ sao vàng bẩn thỉu kinh tởm của bọn Cộng sản trong tiệm băng nhạc của anh ta làm cho người Việt quanh vùng nổi giận. Đồng bào tỵ nạn đã đem cả ngàn Lá Cờ Quốc Gia, Nền Vàng Ba Sọc Đỏ đến biểu tình trước tiệm anh ta suốt mấy ngày đêm. Mẹ tôi ngồi chăm chú xem trên truyền hình và nói với tôi:
– “Tinh thần của người ta còn cao lắm chớ, mai mốt đây mà về thì phải biết!”
Ý Mẹ tôi nói là sau này khi không còn Cộng sản ở Việt Nam nữa thì chắc đồng bào sẽ hân hoan trở về treo lên cả rừng Cờ Quốc Gia chớ không phải chỉ chừng này đâu. Thời gian trôi nhanh quá, chúng tôi đã xa quê hương gần 20 năm, Việt Cộng vẫn còn đó, vẫn cai trị đất nước tôi. Sau này do chúng tôi, kể cả cha chúng tôi nữa, đều học xong và ra đi làm, không ai có thể chở Mẹ tôi đi học ESL nữa nên Mẹ tôi phải ở nhà thui thủi một mình, buồn lắm. Có lần tôi hỏi mẹ có muốn về Việt Nam một chuyến để thăm bà con lần cuối không, Mẹ tôi nói:
– “Không, về làm chi, rồi mình nhớ lại cảnh cũ, mình thêm buồn; khi mô mà hoà bình rồi thì mẹ mới về!”
Ý mẹ nói “hoà bình” nghĩa là khi không còn Cộng sản nữa.
Rồi Mẹ tôi bệnh, đưa vô nhà thương, bác sĩ chẩn đoán Mẹ tôi bị ung thư phổi, cho về nhà để Hospice Care đến chăm sóc (Hospice là các tổ chức thiện nguyện ở khắp nước Mỹ, nhiệm vụ của họ là cung cấp phương tiện, thuốc men miễn phí nhằm giảm nhẹ đau đớn cho những người bệnh không còn cứu chữa được nữa). Mẹ tôi mất không lâu sau đó. Mẹ nằm lại đất nước Mỹ này và vĩnh viễn không còn nhìn thấy lại quê hương mình lần nào nữa.
Trong lúc lục giấy tờ để làm khai tử cho mẹ, tôi tìm thấy chiếc ví nhỏ mà Mẹ tôi vẫn thường dùng để đựng ít tiền và các giấy tờ tuỳ thân như thẻ an sinh xã hội, thẻ căn cước… Trong một ngăn ví là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bằng giấy, khổ bằng chiếc thẻ tín dụng mà có lẽ Mẹ tôi đã cắt ra từ một tờ báo nào đó. Tôi bồi hồi xúc động, thì ra Mẹ tôi vẫn giữ mãi lá Cờ Quốc Gia bên mình, có lẽ lá Cờ Vàng hiền lành này đối với Mẹ tôi cũng thiêng liêng như linh hồn của những người đã anh dũng chiến đấu và hy sinh để bảo vệ Tự Do, Công Bằng và Bác Ái cho miền Nam Việt Nam.
(Sài Gòn trong tôi – Nguyễn Kiên)
Fb Anna NX chia sẻ.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở MẸ TÔI & LÁ CỜ VÀNG BA SỌC ĐỎ_Nguyễn Kiên
MẸ TÔI_Hoàng Nguyên Linh
MẸ TÔI
(Viết theo tâm sự của người con một đời phải xa mẹ)
Hoàng Nguyên Linh
Sách vở, báo chí, đài phát thanh và truyền hình người ta nói nhiều về mẹ. Đa số đều nhắc đến những kỷ niệm êm đềm bên người mẹ hiền, nhưng tôi thì khác. Tôi có mẹ mà như không có. Nỗi buồn này hầu như theo đuổi suốt cuộc đời tôi…
Mẹ tôi là người vợ thứ hai của bố tôi. Bố tôi là một địa chủ khá giầu, đã có vợ cả và nhiều con nhưng bố tôi lại là một người ham mê sắc đẹp nên ông đã lấy mẹ tôi. Tôi không nhớ rõ mẹ tôi đẹp thế nào, chỉ nhớ mẹ tôi có đôi môi hồng, làn da trắng, người cao cao, mặt trái xoan, nhưng nghe bố tôi nói thì mẹ tôi đẹp lắm nên ông quyết lấy cho bằng được dù phải bỏ ra rất nhiều tiền.
Gia đình bên ngoại không giầu bằng bên nội nhưng ông ngoại tôi có nhiều con, hình như có tới tất cả 11, 12 người, trong đó có 8 người con gái. Hai người chị của mẹ tôi đã lấy hai người em họ của bố tôi. Cũng vì bố tôi hai vợ nên tôi đã phải chịu những sự đau buồn, tủi nhục.
Ở ngòai Bắc thời xưa, đa số các ông địa chủ có tiền đều thi nhau lấy nhiều vợ. Ông nội tôi có 3 vợ, bố tôi có 2, nhưng ông nội tôi là người có bổn phận và có trách nhiệm. Tuy có 3 vợ nhưng mỗi bà ở một nơi, mỗi bà một giang sơn riêng nên không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, nếu có ghen tuông chắc không đến nỗi trầm trọng. Bố tôi không như ông nội tôi, bố tôi lấy vợ hai về song lại để hai bà ở chung với nhau nên mới gây ra nhiều chuyện phiền phức sau này, sự ghen tuông hầu như đã xẩy ra hàng ngày, tôi nghe cô tôi nói vậy. Tôi ra đời một năm sau khi mẹ tôi lấy bố tôi. Cũng vì tôi là con trai nên sự ghen tuông càng đi đến chỗ quyết liệt hơn. Bà cả sau khi sanh người con trai đầu lòng thì sanh liên tiếp 4 người con gái. Bà đi xem bói, thầy bói nói rằng số của bố tôi chỉ có 2 người con trai thôi, bà cả nghĩ rằng bà không thể có con trai thêm nữa, vậy là tại mẹ tôi đã lấy đi phần con trai của bà. Như sợ mất thế lực với mẹ tôi nên sự ghen tuông càng tăng lên, bà cả bảo với bố tôi là một mình bà đẻ đủ rồi, lấy mẹ tôi về là để làm lụng chứ không phải để đẻ nên bà nghĩ cần phải loại trừ mẹ tôi ra khỏi nhà cho bằng được. Trời mùa Đông gía lạnh mà bà cả nhẩy xuống ao đòi tự tử. Bố tôi sống trong cảnh ghen tuông thì mệt quá, đáng lẽ làm như ông nội tôi tức là đưa bà hai ra ở riêng một nơi thì bố tôi lại không làm thế… Mẹ tôi sau khi sanh ra tôi vì không trưng diện, ăn mặc xuề xoà nên sắc đẹp không đủ để lôi cuốn bố tôi. Bố tôi một phần vì mệt với sự ghen tuông, một phần vì nhan sắc mẹ tôi không còn như xưa nữa nên ông đã thờ ơ, lạnh nhạt với mẹ tôi, để mặc mẹ tôi muốn làm gì thì làm.
Mẹ tôi sống trong cảnh ghen tuông của bà cả và sự thờ ơ của chồng nên đã phải ra đi, chịu cảnh bơ vơ trong tay không có một đồng ! Tôi được giữ lại trong nhà để làm em một anh và bốn chị.
Giai đọan này tôi còn bé nên không biết gì, lại nữa vì thầy bói nói số của bố tôi chỉ có hai con trai nên vai trò “con trai” của tôi đã giúp tôi đỡ khổ. Tôi thực sự khổ từ khi biết nhận thức, tức là lúc 6,7 tuổi trở đi.
Khi tôi được 5 tuổi thì bà cả sanh thêm được người con trai nữa, thế là thầy bói đã nói sai và vai trò “con trai” của tôi không còn cần thiết, tôi như bị bỏ rơi. Hai người hành hạ tôi nhiều nhất là bà nội và người chị lớn. Bà nội rất mực yêu thương người con trai mới sanh sau này của bà cả. Bà nội yên tâm khi có được người cháu trai phòng hờ để sau này có người cúng giỗ và thờ phượng, chứ một người cháu lớn bà chưa yên tâm…
Người ta nói đến mẹ, nói đến bà như một kỷ niệm đẹp, nào bà ôm cháu vào lòng, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe, mẹ thì xoa lưng con, hát ù ơ ru con ngủ v.v.. nhưng tôi lại khác, tôi không có được cái kỷ niệm đó. Bà nội tôi và chị tôi thường hay đánh tôi vào đầu, hai người này thường dùng tay để “cốc” tôi. Cốc tức là cong ngược 4 ngón tay lại để chìa ra 4 đốt xương và đập vào đầu. Chỉ những ai đã bị cốc mới biết được cái đau buốt trong đầu, nhất là đầu của một đứa trẻ mới 6,7 tuổi. Tự điển Nguyễn Văn Khôn định nghiã “cốc” ( knuckle) tức là đánh một vật gì bằng khớp xương của ngón tay, thực ra phải nói “cốc” tức là đánh vào đầu bằng khớp xương của ngón tay mới đúng, chứ nếu đánh vào tay, chân, lưng, bụng thì không đau và cũng không ai nói “cốc” vào lưng, vào bụng bao giờ. Không những chỉ đánh mà còn chửi, mang tên mẹ tôi ra để chửi, gọi mẹ tôi là con này, con nọ, mang cả tên ông ngoại tôi ra chửi, gọi tôi là “ giống thằng cả Thiều ” tức là tên ông ngoại tôi. Chị tôi có nét mặt thật ác, bố tôi bảo những đứa mà mắt nó có ve là ác lắm, tôi cũng không biết mắt có ve là mắt thế nào, chỉ nghe bố tôi nói vậy. Nhưng trái ngược với chị tôi, bà nội tôi ai cũng khen là bà cụ đẹp lão và phúc hậu, tóc bà bạc trắng hết cả đầu. Mỗi khi tôi thấy có người khen dù còn bé nhưng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên, bà nội ác với tôi như thế mà họ khen bà phúc hậu kể cũng lạ. Ngày nay tôi mới hiểu ra là sở dĩ bà nội ghét tôi là để lấy lòng bà cả. Bà nội tưởng bà cả ghét mẹ tôi tức là ghét tôi nên bà nội muốn mọi người thấy rằng nay bà nội đứng về phía bà cả và những người con bà cả. Ngoài tôi ra, bà nội chưa hề đánh hay chửi một người cháu nào bao giờ. Việc đánh chửi tôi nhiều quá đã khuấy động lương tâm bà cả. Chính bà cả đã than với nhiều người mà tôi nghe được “Ngày xưa mẹ nó ở nhà thì bà bênh vực mẹ nó, về phe với mẹ nó, nay mẹ nó đi rồi sao bà lại ghét nó quá vậy !”. Bà cả chỉ ghen với mẹ tôi nhưng tốt với tôi và cũng rất thương tôi, có lẽ bà tội nghiệp tôi, tội nghiệp cho một đứa trẻ cô thế. Tôi không hề oán trách bà về chuyện ghen tuông với mẹ tôi vì tôi hiểu đó chỉ là sự thường tình giữa hai người đàn bà có chung một chồng. Tôi vẫn thầm cám ơn bà đã không đối xử tệ với tôi như những người mẹ ghẻ khác. Trước khi chết bà còn căn dặn người chị kế tôi là lúc nào cũng phải nóí tôi là con trai của bà. Chỉ nói có thế rồi bà nhắm mắt. Có thể trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời bà đã có sự ân hận. Ngày nay tôi vẫn thờ cúng bà như mẹ ruột của tôi đúng như bà đã mong muốn. Nỗi khổ thứ hai của tôi là bị chế diễu, trêu chọc bởi những đứa cùng lớp, cùng tuổi. Chúng gọi tôi là “ thằng không có mẹ ”. Tôi rất xấu hổ khi có người biết tôi không có mẹ, biết tôi là con người vợ thứ hai của bố tôi. Đã thế tôi còn bị đặt tên là “Thứ” (là con người vợ thứ) để khỏi lẫn với con người vợ cả. Cũng vì sợ có người biết và chế nhạo nên mỗi lần gặp mẹ là tôi sợ run lên. Nhưng mẹ tôi không biết tôi sợ nên bà hay đón tôi lúc tan trường. Mẹ tôi thường mặc áo nâu, yếm màu đỏ nhạt, trên đầu chít khăn mỏ quạ, miệng cười rất tươi mỗi khi gặp tôi. Mẹ tôi từ khi bỏ nhà ra đi , bà buôn bán hàng xén, gánh những đồ lặt vặt ra chợ bán như cái kim, sợi chỉ để sống qua ngày. Tôi không biết rõ mẹ ở đâu, hình như vừa ở nhà ông ngoại, vừa ở nhà họ hàng hay bạn bè gì đó. Tôi sợ bị chế diễu nên tuyệt đối không dám nghĩ tới mẹ và cũng không dám nói chuyện với ai về mẹ. Mỗi khi đi học về gặp mẹ là tôi chạy trốn để khỏi phải ở bên bà. Tôi chưa kịp trông thấy mẹ thì mấy đứa trẻ cùng lớp đã gọi “Thứ kìa, bu của Thứ kìa !” thế là tôi lại phải một phen sợ hãi. Có lần đi ngược chiều với mẹ, tôi không thể chạy thoát được. Mẹ tôi nắm tay tôi và nói: “Thứ lại đây vơí bu, con của bu ngoan, bu thương con…” Tôi giật tay ra khỏi mẹ và hét: “Bỏ tay người ta ra, bỏ ra ! bỏ ra !” rồi tôi vụt chạy. Cũng có lần mẹ nắm được tay tôi lâu hơn và bỏ tiền vào túi tôi. Hôm ấy về nhà, bị bà chị lớn vặn hỏi, tôi sợ quá vất tiền vào gầm giường và thầm trách sao mẹ tôi lại cho tiền để tôi bị mắng. Tuy sợ hãi như vậy nhưng tôi lúc nào cũng mong mẹ tôi về với tôi, để tôi có mẹ ở bên như những đứa trẻ khác, tôi sẽ không bị mấy đứa trẻ chê cười là “thằng không có mẹ” nữa. Sự khao khát có mẹ không phải chỉ trong lúc còn bé mà ngay cả khi tôi trưởng thành. Tôi nhớ lúc đã là sinh viên ban Cao học, tôi quen một cô nữ sinh Trưng Vương, tôi với nàng tình cảm chưa có gì đậm đà nhưng tôi quý bà mẹ của nàng, bà rất dịu dàng, ôn tồn, bà bảo tôi: “ cháu uống ly nước chanh cho mát ”, “ cháu uống ly nước trà cho ấm ” mỗi khi trời trở lạnh hoặc “ cháu đợi một lát em ra bây giờ … ”. Bà ngồi bên tôi, nụ cười của bà thật hiền hậu, bà hỏi han tôi những câu chân tình mà trong đời tôi chưa bao giờ có ai hỏi tôi như vậy. Mỗi lần đến chơi tôi mong được gặp bà, được nói chuyện với bà hơn là gặp người con gái út của bà. Ngày nay mỗi khi tôi nghe ai nói đến mẹ hiền là tôi liên tưởng tới bà. Tôi cũng hay đi chơi với người con trai thứ hai của cô tôi. Cô tôi thương con trai rất mực, mỗi khi bọn tôi đi chơi về khuya cô tôi nhẹ nhàng trách con “ Sao con đi chơi về khuya quá vậy? ” hoặc “ Con nhớ về sớm không rồi lại ho ”. Con trai cô muốn được tự do, không muốn bị gò bó, nhưng ngược lại tôi thèm có được người mẹ săn sóc như vậy mà tôi không có. Tôi đã đọc nhiều lần cuốn Bông Hồng Cài Áo. Mỗi lần đọc càng khiến tôi thêm buồn, thêm tủi cho một người con có mẹ mà không được ở bên, có mẹ mà không dám nhận mẹ mình là mẹ.
Tôi sống trong sự khiếp sợ mọi người trong gia đình. Bản năng tự vệ của một đứa trẻ trong tôi thúc đẩy tôi phải thật ngoan, thật lễ phép cho tôi bớt bị hành hạ. Tôi nghĩ rất đơn giản là mẹ tôi bị mọi người trong nhà ghét, tôi cần phải từ khước mẹ thì tôi mới là đứa trẻ ngoan, đứa trẻ có hiếu trong gia đình. Nhưng mấy người thợ làm cho nhà tôi, họ không biết lại chửi tôi là đứa con bất hiếu, tệ bac, không nhìn nhận mẹ đẻ ra mình. Lúc đó tôi không hiểu và lấy làm lạ tại sao tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, không bao giờ dám cãi lại ai trong gia đình mà họ lại chửi tôi là đứa con bất hiếu. Tôi nghe người nhà nói mẹ tôi tranh để làm vợ cả không được nên bỏ nhà ra đi. Như vậy là mẹ tôi bỏ tôi, chứ tôi đâu có bỏ mẹ, còn tôi đến gần mẹ thì tôi bị chế diễu, chê cười và nhất là sợ người nhà, tôi đâu có làm gì khác hơn được… Sự ngoan ngoãn, sợ sệt của tôi chỉ được lòng bà cả và người anh lớn, còn đối với bà nội và người chị thì không lay chuyển được. Có lần chị lớn đánh tôi đau quá cũng động lòng bố tôi. Bố tôi không có một sự ngăn cản nào nhưng rủ tôi ra ngoài ruộng xem mấy người nông dân gặt lúa cho nhà tôi. Gió đồng thổi nhẹ làm lay động những bông lúa vàng tạo nên âm thanh êm dịu và bay lên mùi thơm của lúa mới. Tôi cảm thấy thật thoải mái, tôi chạy nhẩy tung tăng đi bắt những con cào cào, châu chấu và đã quên đi cái đau do chị tôi đánh lúc ban trưa. Nhưng tối về tôi bị người chị chửi một trận: “ Chỉ có một mình bố bênh mày, còn mọi người ghét mày, bố không làm gì được đâu ! ”. Gần đây tôi có đọc một truyện ngắn của một tác giả vô danh, đại ý câu chuyện nói về tâm sự của một người con có mẹ mù một mắt. Đứa trẻ bị bạn bè chế nhạo và gọi là “ cái thằng có mẹ một mắt ” nên rất xấu hổ khi đi với mẹ, không muốn ai biết về mẹ mình, không dám nhận mẹ mình là mẹ. Tôi hiểu được tâm trạng của tác giả lúc đó, tâm trạng của một đứa trẻ như tôi, nhưng tôi không hiểu được khi tác giả của câu chuyện này lúc đã trưởng thành, đã có vợ con, mẹ từ nơi xa sang tận Singapore để thăm mà còn sợ bị vợ con chê cười để xua đuổi mẹ vì mẹ có một mắt. Điểm cảm động nhất của câu chuyện là sở dĩ mẹ có một mắt vì lúc còn nhỏ con bị tai nạn và hỏng một bên mắt người mẹ đã hy sinh để bác sĩ lấy mắt mình thay cho con nên mẹ chỉ còn một mắt. Khi người con biết được việc này thì mẹ đã chết… Đọc xong chuyện tôi thấy bàng hoàng và gần gũi với tác giả. Nhưng tôi cầu mong đây không phải là chuyện thật, nếu có thật thì chỉ thật ở phần trên chứ không thể thật ở phần dưới, tức là phần người con đã trưởng thành, đã có đầy đủ lý trí mà còn trốn chạy mẹ, hất hủi mẹ thì không chấp nhận được.
Cuộc di cư năm 1954 xẩy ra, bố tôi vào Nam, tôi được cho đi theo để sau này săn sóc bố. Gia đình tôi ở miền quê, một vùng trước kia đã từng là nơi kháng chiến nên sự ra đi rất khó khăn, phải đi thành từng nhóm nhỏ. Bố tôi đi trước, tôi đi sau và giữ khoảng cách khá xa để không ai biết. Tôi phải gỉa làm đứa trẻ đi câu, chân đi đất, quần xắn đến đầu gối và đi tắt qua những cánh đồng lúa. Hai bố con đi bộ từ sáng sớm đến tối và nằm ở dưới thuyền bến đò Khuể chờ gần nửa đêm người lái đò mới dám chở sang đất Kiến An. Sang được Kiến An rồi bố con tôi không biết ở đâu cho hết đêm. Ban đầu chúng tôi định ngồi ở gốc cây đa bên đường đợi sáng về sau nghĩ lại thấy tình trạng an ninh có vẻ nguy hiểm nếu ngồi đó nên đã cố gắng đi tìm một nơi khác trú ngụ cho an toàn hơn. Sao may đi được chừng nửa giờ thì gặp một ngôi chùa. Chúng tôi vào xin tạm trú, mới đầu sư bà rất ngại vì là chùa nữ và đã quá khuya nhưng lòng từ bi đối với khách lỡ độ đường nên đã thuận cho chúng tôi ở tạm nơi gác chuông bên ngoài chứ không cho vào trong chùa. Sư bà sai người mang nước uống và cho mượn chăn đắp. Tôi nghe tiếng cầu kinh và tiếng gõ mõ nho nhỏ biết là sư bà đã thức suốt đêm hôm đó như để cầu nguyện và canh chừng khách lạ. Sáng sớm hôm sau bố con tôi cám ơn sư bà rồi đáp xe đò đi Hải Phòng và ở trại tạm trú Lạch Chay, nơi đây cũng có rất nhiều gia đình trú ngụ để đợi chuyến tàu vào Nam. Khoảng hơn một tuần lễ hai bố con tôi xuống được tàu vào Sài Gòn. Giai đoạn này thật là đen tối vì gia đình tôi ra đi với hai bàn tay trắng, mọi tài sản phải bỏ lại hết. Người chị lớn và bà nội bị kẹt lại ngoài Bắc không vào Nam được. Tôi được người cô, chị ruột của bố tôi ở Sài Gòn nuôi hai năm cho đi học. Cũng tại đây, cô tôi đã cho tôi biết sự thật về mẹ tôi, khác hẳn với những tin tức trước kia mà gia đình nói sai về bà.
Tôi ý thức được và đã ngẩng đầu lên nhìn nhận mẹ đẻ ra mình chứ không như trước nữa, nhưng không có cách nào để gặp mẹ. Khi tôi vào Nam rồi mẹ tôi vì nhớ con, đã đi khắp nơi dò hỏi, mãi sau mới biết được địa chỉ của tôi tại Saì Gòn do con trai lớn của cô tôi ở lại Hà Nội cung cấp nên đã viết bưu thiếp cho tôi. Bưu thiếp là một miếng bìa cứng to bằng nửa trang giấy học trò theo điều kiện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chứ không được viết thư có phong bì dán kín để cho hai bên dễ kiểm soát. Đại ý mẹ tôi hỏi thăm tôi và mong tôi học giỏi, khỏe mạnh v. v. . Tôi rất cảm động về tấm lòng rộng lượng của mẹ vì đã nhiều lần tôi chạy trốn mà mẹ không bỏ rơi tôi, vẫn tìm tôi và vẫn muốn đến gần tôi. Lòng mẹ thật bao la như người ta đã nói. Tôi viết hồi âm cho mẹ, lần đầu tiên tôi được gọi mẹ tôi là mẹ, xưng con, và an ủi mẹ tôi là vì chế độ phong kiến, lạc hậu nên hai mẹ con phải xa nhau và hứa với mẹ là sẽ chăm học rồi ký tên: “ Thứ, con trai của mẹ bên này vĩ tuyến”. Viết xong nước mắt tôi tự nhiên chảy ra, nếu có mẹ ở bên chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ để khóc thật to cho vơi đi nỗi buồn bao năm tôi phải ôm giữ. Sau này tôi được biết khi nhận được tin, mẹ tôi mừng lắm và mang tờ bưu thiếp đi khoe với mọi người là tôi không còn trốn chạy mẹ tôi. Mẹ con tôi đã nhận nhau, hiểu nhau và thương nhau tuy không còn cơ hội gần nhau nữa…
Cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt, thư từ Nam-Bắc bị gián đoạn, tôi không sao liên lạc được với mẹ tôi thêm một lần nào nữa kể từ đấy.
Rồi vận nước nổi trôi, tôi sang được Hoa Kỳ. Sau một thời gian đời sống nơi đây đã tạm ổn định, đường bưu điện giữa hai quốc gia Mỹ và Việt Nam được thiết lập, tôi cố gắng liên lạc về Sài Gòn để nhờ tìm mẹ. Tiếc thay, tôi được tin mẹ tôi đã qua đời từ lâu tại vùng quê xứ Bắc. Mẹ tôi chết trong cô đơn, mang theo xuống huyệt lạnh tất cả nỗi buồn khổ của một người đàn bà không chồng, không con bên cạnh…
Hôm nay là ngày giỗ mẹ, tôi viết những dòng này là tâm sự của một người con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.
Cám ơn mẹ đã gửi bưu thiếp cho con để trong đời con được một lần gọi “ Mẹ ”.
Hoàng Nguyên Linh
(Trích trong tập truyên “Mẹ Và Những Mùa Xuân” của Hoàng Nguyên Linh)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở MẸ TÔI_Hoàng Nguyên Linh
Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan _ Chu Kim
Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan – Chu Kim
(Viết để bái vọng hương linh Tướng Nguyễn Ngọc Loan, người đã một thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia VNCH)
Ở tuổi bảy mươi, người ta thường nghĩ đến hưởng nhàn, quên đi mọi sự đời để vui chơi đây đó cho khoẻ cái thân già. Tôi thì khác, tuổi càng cao, ký ức thời gian càng cuồn cuộn dâng lên, lôi kéo hồn tôi tìm về quá khứ, một thời mà tôi đã sống và làm việc cùng với bạn bè, cấp trên, cấp dưới của tôi trong cái gia đình Cảnh Sát Quốc Gia đầy nhọc nhằn vất vả ấy. Hơn bốn chục năm đã trôi qua, lòng tôi vẫn mang nặng những hoài niệm về một vị Tướng, người đã một thời đảm nhiệm chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia và Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội. Ông có cái tên gọi lên êm ái như tên của một nữ nhân, nhưng giới truyền thông và bạn bè đương thời thường gọi ông bằng một biệt danh “Sáu Lèo”. Chẳng biết biệt danh này do đâu mà có, nghe như đượm chất khôi hài, thế mà ông vẫn hề hà chấp nhận như một cái tên trời cho. Đó là Tướng Nguyễn Ngọc Loan!
Ngày ông về làm trưởng tộc gia đình CSQG, tôi chỉ một lần được thấy ông mặc quân phục ka-ki màu vàng, đội chiếc mũ chào mào và đeo hững hờ cặp lon ba bông mai bạc trên đôi vai gầy guộc khi ông bước lên lễ đài trong buổi bàn giao. Sau đó, chẳng biết ông để quên cặp lon ở đâu mà chỉ thấy ông đến nhiệm sở trong bộ cánh bèo nhèo, quần dài, áo sơ mi cộc tay và đôi dép nhựa lẹp xà lẹp xẹp. Ngay cả khi lên cấp Tướng trang phục cũng vẫn thoải mái như vậy. Có ai cắc cớ hỏi ông ngôi sao để đâu, ông chỉ tủm tỉm trả lời: – “Ngôi sao tớ gửi trên trời!” Thời gian đó, tôi đang làm việc tại Sở Tâm Lý Chiến dưới quyền chỉ huy của Chánh sở Võ Lương, một Quận trưởng CSQG có nhiều thâm niên công vụ và dày dạn kinh nghiệm. Ông vừa có tài ứng biến lại vừa khéo léo trong cách ứng xử với mọi người. Tôi và thi sĩ Quách Đàm phụ trách soạn bài vở cho chương trình phát thanh hằng tuần của CSQG trên đài Saigon. Anh Quách Đàm, ngoài tài viết đầy truyền cảm mà nhiều thính giả đã được thưởng thức mỗi khi anh cất tiếng lên trong chương trình Thi Văn Tao Đàn do anh Đinh Hùng làm chủ sự. Con người tài ba đó lại mang một cái tật “bất cần đời”, không xu nịnh cấp trên, không bon chen danh lợi để đến khi nhắm mắt lìa trần cũng vẫn chỉ là một Phó Thẩm Sát Viên nhỏ bé.
Tướng Loan ngồi chức vụ chưa được bao lâu thì miền Trung và thủ đô Saigon bỗng bùng lên những cuộc chống đối chính phủ do Thích Trí Quang phát động nhằm hạ bệ Tướng Nguyễn Cao Kỳ ra khỏi chức vụ chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương. Miền Trung ồn ào biểu tình, lính tráng công chức thi nhau rã ngũ đào nhiệm! Thành phố Saigon, vang động hò hét xuống đường, phố xá ngổn ngang bàn thờ Phật! Trước cảnh dầu sôi lửa bỏng, Tướng Loan đã tức tốc điều động một số sĩ quan An Ninh Quân Đội và một số viên chức CSQG ra miền Trung để thay thế những cấp chỉ huy nhút nhát bạc nhược hoặc bị lôi cuốn vào những âm mưu đen tối. Những người được ông tuyển chọn đều có đầy đủ khả năng ứng phó và lòng can đảm dám gồng mình chấp nhận những hậu quả rủi ro đến với bản thân. Điển hình cho những nhân tố tích cực này là Quận Trưởng Võ Lương được bổ nhiệm Giám đốc Nha CSQG Vùng I, Quận Trưởng Trần Minh Công giữ chức vụ Trưởng Ty CSQG Đà Nẵng. Tại thủ đô Saigon, tướng Loan đã cương quyết làm tròn sứ mạng của mình không phải bằng cách ngồi tại văn phòng chỉ tay hò hét ra lệnh mà bằng cách đưa cá nhân mình vào nơi sôi động. Vị Tướng không giày không lon đó đã chấp nhận những ngày giờ sống bụi đời trên đường phố, sát cánh cùng đội ngũ nhân viên, trực tiếp nhận trách nhiệm và chia xẽ nỗi gian nan nhọc nhằn cùng thuộc cấp. Từng nơi từng lúc, ông tiến thẳng đến đám đông cuồng nộ, giải thích thuyết phục ai về nhà nấy, đồng thời kính cẩn vái lạy trước các bàn thờ Phật, xin phép được đưa ảnh tượng hương khói trở lại chùa chiền cho xứng đáng với vị trí trang nghiêm thờ phượng. Bóng đen u ám của một biến cố ngậm ngùi đã được xua đi, Saigon và miền Trung lại rạng lên những tia sáng thanh bình.
Lần đầu tiên tôi được tháp tùng Tướng Loan là dịp đi theo ông Chánh Sở Tâm Lý Chiến làm tin cho buổi phát quà Trung Thu tại Cô Nhi Viện Gò Vấp. Khi xe chúng tôi vào trong sân Cục An Ninh Quân Đội, đã thấy Tướng Loan ngồi chờ sẵn trên xe Jeep lùn của ông, miệng phì phèo điếu thuốc, tay cầm chai bia 33 lắc qua lắc lại. Ông Dẫn tiến đến đứng nghiêm toan giơ tay chào thì Tướng Loan phất tay như ra hiệu bảo về xe đi và nói: – “Thôi, mình đi chứ.” Lúc sắp khởi hành, Tướng Loan bỗng xuống khỏi xe, tiến về phía chúng tôi và nói với tài xế của ông Dẫn: – “Chú em ra ngồi phía sau, để tớ lái xe cho ông Chánh Sở.” Trước một tình huống quá bất ngờ, ông Dẫn bị lúng ta lúng túng, chỉ còn biết ngồi cứng người như tượng gỗ, hai tay thu gọn trong lòng bắp vế. Tôi và tài xế đã phải nín cười đến đau cả bụng.
Tới cổng Cô Nhi Viện, Tướng Loan rời bỏ tay lái, lè phè lê đôi dép nhựa đi cạnh ông Chánh Sở uy nghi sắc phục lon mũ chỉnh tề đang giơ tay chào hàng quân tiếp đón. Thình lình, ông Trưởng Chi Gò Vấp, người phụ trách dàn chào chạy đến bên tôi hỏi nhỏ: – “Nghe nói có Chuẩn Tướng đến, sao giờ này chưa thấy?” Tôi chỉ tay về phía trong và nói: – “Ông Tướng kia kìa, người mặc thường phục đó.” Trưởng chi thảng thốt kêu lên: – “Chết cha! Tôi cứ tưởng đó là anh tài xế của ông Chánh Sở!” Tướng Loan là vậy đó! Một con người bình dị, không câu nệ hình thức, không đặt nặng lễ nghi. Hôm đó, chính vị Tướng Tổng Giám Đốc CSQG là người đã tạo nên một bầu không khí đầy ấm cúng, sưởi ấm những tâm hồn trẻ thơ sớm mang một số phận hẩm hiu từ lúc chào đời khi ông đến trọ chuyện nâng niu vỗ về và tặng quà cho từng em nhỏ. Câu ví: “Tướng Loan hiền như ma-sơ” có lẽ từ đó mà ra.
…….. Vào những ngày tháng giữa năm 1967, thời kỳ tiền bầu cử Tổng Thống, tôi được tướng Loan gọi ra gặp riêng ông hai lần tại cục An Ninh Quân Đội để gợi ý cho tôi viết một số bài quan điểm liên quan đến cuộc vận động bầu cử đồng thời ông cho biết một số kỹ xảo sẽ áp dụng trong việc thông tin tuyên truyền yểm trợ cho một liên danh. Tôi xin mạn phép không kể ra đây vì người được ông ủng hộ đã làm ông quá thất vọng đến nỗi có lúc ông phải kêu lên “đem bắn tên đó cho rồi.” Đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ, tướng Loan không tin cậy cho lắm từ khi CSQG bắt một tên có dấu tích là một tên cán bộ cộng phỉ nội tuyến trong Toà Đại Sứ Hoa Kỳ mà toà đại sứ này cứ khăng khăng đòi thả. Bực mình vì người Mỹ quá xen sâu vào nội bộ Việt Nam nói chung và hoạt động của CSQG nói riêng, Tướng Loan xin từ chức, nhưng Tổng Thống Thiệu không chấp thuận. Nhưng ngày giáp Tết Mậu Thân, trong lúc đồng bào đang nô nức chuẩn bị đón Xuân, Tướng Loan đã âm thầm cùng đoàn tuỳ tùng rong ruổi đến thăm các ty CSQG xa xôi hẻo lánh, những nơi được mệnh danh là chốn khỉ ho cò gáy, ngày đêm phải đương đầu với những áp lực quấy phá của lũ khủng bố phiến cộng bạo tàn. Phước Long, Bình Long, Kiến Tường, Kiến Hoà, Ninh Thuận, Quảng Đức, Hậu Nghĩa là những nơi tôi được theo gót chân ông. Mỗi buổi sáng, chúng tôi tụ tập tại tư dinh của ông trong trại Phi Long, Tân Sơn Nhứt để rồi từ đó lên hai chiếc trực thăng đến các nơi trên. Ông đến để nắm rõ tình hình địa phương, để thăm hỏi nhân viên các cấp và để tặng chút tiền làm tiệc Tất Niên cho anh em. Đến bất cứ đơn vị nào, ông đều đi quanh xem xét hệ thống phòng thủ và cho ý kiến tại chỗ. Với các đơn vị có nhiều vọng gác xây bằng bê-tông kiên cố, ông nhẹ nhàng nhắc nhở: – “Nước mình nghèo, phải đánh giặc theo lối nhà nghèo, ụ bê tông cứng nhưng không chịu đựng loại đạn xuyên phá, tốt hơn nên dùng nhiều bao cát vừa đỡ tốn kém lại vừa an toàn.”
Những ngày giờ đi theo, tôi thấy ông sống và làm việc như một con thoi, quên cả giờ giấc với gia đình, quên cả những cơn đau bao tử và quên cả những hiểm nguy đến với bản thân. Một lần, ngồi trên máy bay, dáng vẻ mỏi mệt, ông che miệng ngáp dài rồi nói một cách tự nhiên: – “Tối hôm qua tớ chẳng ngủ được chút nào, bà ấy cằn nhằn cả đêm chỉ vì làm việc mà quên đi lời hứa về đúng giờ để cùng ăn một bữa cơm với gia đình.” Hình như cách ăn uống của ông cũng đơn giản như cách ăn mặc. Trong các bữa ăn tại các ty CSQG hoặc tại các toà Tỉnh Trưởng, tuy có đủ thịt cá, rượu Tây thuốc Mỹ trên bàn, tôi vẫn chỉ thấy ông nhâm nhi một tô hủ tiếu hoặc tô bún canh bên cạnh chai bia 33 và gói thuốc lá Ruby màu hồng.
Nói về máu “liều” của Tướng Loan chắc ít ai bì kịp. Tôi nhớ lần đến thăm Ty CSQG Hậu Nghĩa, sau khi dùng bữa cơm khét do Đại Tá Tỉnh Trưởng Mã Sanh Nhơn thết đãi, ai ai cũng chuẩn bị lên trực thăng ra về. Lúc đó vào khoảng 3 giờ chiều, bỗng Tướng Loan đổi ý, ông bảo hai phi công lái trực thăng về trước để ông và đoàn tuỳ tùng dùng đường bộ cho thoải mái. Cái quyết định “bốc đồng” đó đã báo hại Trưởng Ty Ngô Văn Huế phải một phen hết vía chỉ vì con đường độc đạo đó thường bị bọn khủng bố cộng phỉ gài mìn phục kích bất ngờ. Trời cuối Đông, mặt trời muốn đi ngủ sớm thế mà Tướng Loan cứ nhất định phải ghé thăm một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến nơi mà các nhân viên của ông đã oanh liệt chống trả một cuộc tấn kích của giặc thù vào đêm hôm trước. Ông đến bắt tay từng chiến sĩ, ngợi khen tinh thần quả cảm và ghi công trạng của tất cả mọi người. Chiều hôm đó, khi về đến nhà, ông kéo chúng tôi vào một căn phòng nhỏ, chỉ vào hai thùng giấy lớn và khoe: – “Đây là số pháo hồng do một người bạn ở Hồng Kông gửi biếu.” Nói xong, ông tự tay mở một thùng phát cho mỗi người ba phong, ngoại trừ Thiếu Tá Tiến, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh đang ngẩn tò te chìa tay ra hỏi: – “Còn phần của em đâu?” Tướng Loan không đưa pháo mà còn cười hỏi lại: – “Cậu hả? Chuyện đó tính sau. Cậu về tắm rửa sạch sẽ rồi lên đây cùng tôi khuân thùng pháo đây ra dinh Độc Lập để hai ông Thiệu, ông Kỳ làm gì thì làm, nhà mình thấp lè tè treo vào đâu.” Thiếu Tá Tiến vừa gãi đầu vừa quay sang chúng tôi phân bua: – “Các cậu thấy chưa, Chuẩn Tướng thấy tôi đẹp trai nên đi đâu cũng kéo theo.” Tướng Loan tảng lờ như không nghe, nhưng miệng lại tủm tỉm cười thích thú.
Rồi Xuân Mậu Thân đã trở về! Xuân đến từng nhà, Xuân vô giáo đường, Xuân lên đình chùa, Xuân vào lăng miếu. Hương Xuân tràn ngập mọi nơi. Tiếng Xuân vang vọng trên đài, ngọt ngào đi vào lòng người bằng những lời thơ cung nhạc chúc tụng một năm mới an khang hạnh phúc. Nửa đêm về sáng của ngày đầu năm, giữa lúc khói hương thiêng liêng còn đang nghi ngút thì bỗng nhiên từng loạt âm thanh của súng đạn vang lên khiến ai nghe cũng phải bàng hoàng kinh động. Thoạt đầu, tôi cứ nghĩ đó là một cuộc đảo chánh nên vội vặn radio để nghe tin tức. Im lặng và im lặng! Đài không phát ra một tiếng nói hay một lời ca. Trong khi đó, từng loạt đạn vẫn tiếp tục vun vút bay trên nóc nhà kèm theo tiếng la oai oái “Vi Xi! Vi Xi!” của những người lính Mỹ đóng quân trong khu nhà của bà Bút Trà trên đường Nguyễn Huệ cạnh bên con hẻm nhà tôi. Đêm đó, tiếng trẻ thơ cứ thét lên, sau mỗi loạt súng nổ, tôi vội đem hai cháu nhỏ, nhét chúng nằm sát dưới chân cầu thang còn mình và vợ ngồi bó gối ngay bên cạnh để chờ trời sáng. Khoảng sáu bảy giờ sáng, đài bỗng vang lên tiếng nói của Phó Tổng Thống Kỳ, nội dung vắn tắt cho biết bọn khủng bố việt cộng đã bội phản những cam kết hưu chiến trong ba ngày Tết, xua quân tổng công kích 32 tỉnh lỵ và thủ đô Saigon. Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã đích thân chỉ huy lức lượng Cảnh Sát Dã Chiến và Quân Đội quét sạch bọn giặc cướp cộng phỉ ra khỏi Đài Phát Thanh Saigon từ lúc 4 giờ sáng. Tôi vừa mở cửa đã thấy bốn tên cán binh cộng phỉ tay ghìm súng AK, băng đạn quấn quanh mình, đứng khuất trong hè nhà tôi và các nhà đối diện, mắt đăm đăm nhìn ra đường cái. Không hiểu sao lúc đó tôi lại tỏ ra rất bình tĩnh, bình tĩnh quan sát trang phục của bọn chúng và còn thầm nghĩ bọn chúng là những binh sĩ thuộc một đơn vị chính quy nào đó chứ không phải là bọn du kích thổ phỉ. Cùng lúc, một số đông đồng bào từ trong các hẻm sâu phía trong ùn ùn bồng bế dắt dìu người già con trẻ chạy ra, mặt người nào cũng xanh như tàu lá. Họ vừa đi vừa thông báo cho mọi người biết bọn khủng bố việt cộng về nhiều lắm, tràn ngập trong khu Cây Quéo, khu phía sau chùa Quảng Đức, khu gò mả và khu đường rầy dẫn đến Cầu Hàng. Tôi vội quay vào nhà, quơ quào ít quần áo rồi cùng vợ con lên xe máy đến nhà người quen ở chợ Tân Định. Đến nơi, tôi mới chợt nhớ để quên bóp giấy tờ ở nhà, đành phải một mình quay lại. Về tới đầu hẻm, một người cùng xóm ở phía ngoài khuyên tôi đừng vào vì mới tức thì có mấy nhân viên Cảnh Sát sắc phục đã bắn nhau với bọn khủng bố việt cộng ở phía trong. Lúc đó, trực thăng võ trang đã xuất hiện. Hai con chuồn chuồn bay lên xà xuống khạc đạn ào ào vào những mục tiêu. Đạn dưới bắn lên, đạn trên bắn xuống, trận chiến cứ thế tiếp diễn vô cùng ngoạn mục. Tôi rời khỏi xóm mà lòng cứ nơm nớp lo sợ căn nhà mình bị ăn đạn phá.
Đến Tổng Nha CSQG, tôi nhận lệnh đi cùng một nhiếp ảnh viên lên vùng Ngã Bảy nơi tướng Loan đang trực tiếp chỉ huy các đơn vị Cảnh Sát và Quân Đội bao vây cô lập và tiểu trừ các đám giặc cướp cộng phỉ xâm nhập. Ông mắc đồ trận, áo giáp khoác ngoài, đầu không nón sắt, sông pha vào nơi súng nổ đạn rơi như một người lính can trường không nề nguy hiểm. Phải nói rằng, trận chiến nơi đây đã diễn ra ác liệt ngay từ những giây phút ban đầu trên một địa hình rộng lớn bao gồm các khu vực Phú Thọ, Nguyễn Tri Phương, hẻm Chuồng Bò, Vườn Lài… Khởi đầu, bọn việt cộng tấn công vào doanh trại của Biệt Đoàn 222 Cảnh Sát Dã Chiến ở góc đường Nguyễn Văn Thoại và Trần Quốc Toản giữa lúc toàn thể nhân lực ứng chiến được điều động đi giải toả Đài Phát Thanh Saigon, số nhân viên phòng thủ còn lại khoảng hơn bán tiểu đội. Lợi dụng thời cơ, bọn việt cộng tập trung lực lượng ào ạt xua quân từ phía vườn ươm cây ở góc đối diện toan chiếm cho bằng được doanh trại này. Nào ngờ, các chiến sĩ CSDC đã bình tĩnh nã từng loạt đại liên khiến bọn chúng không sao vượt qua ngã tư, đành phải mang theo một số đồng bọn thương vong rút về khu chợ Thiếc. Cũng thời gian đó, một số lớn bọn việt cộng nằm vùng cùng các tên chỉ điểm giả dạng nhân dân nổi dậy chia nhau chặn đường chặn ngõ lùng xục trong các khu dân cư bắt bớ một số Quân Nhân, Cảnh Sát và Công Chức dem ra xử bắn với lời kết tội “có nợ máu với nhân dân”. Tôi có một người em họ là Đại Úy Quân Y cũng bị bắt vào đêm đó. Chúng lột trần em tôi, trói rặt cánh khuỷu toan đem xử bắn. Trong lúc thế cùng, em tôi la lên: – “Tôi là Bác Sĩ Quân Y bị trưng dụng vào quân đội, không hề có nợ máu.” Tên chỉ huy nghe vậy, bèn nói: – “Nó còn dùng được, đưa nó ra chỗ thương binh.” Lúc băng bó cho các tên cán binh khủng bố cộng phỉ, em tôi đã lẩn vào nhà dân trốn thoát.
Ngày 1-2-1968, Tướng Loan đã xử bắn tên khủng bố cộng phỉ Nguyễn Văn Lém tức Bảy Lém, bí danh Ba Lốp ngay trên đường phố khu Ngã Bảy để rửa hận cho những đàn em của ông đã bị tên này sát hại dã man. Ngay chiều hôm đó, tôi rủ hai người bạn phóng viên báo ngoài đánh một vòng đảo qua Dinh Độc Lập, Toà Đại Sứ Mỹ trên đại lộ Thống Nhất. Hai phóng viên cho biết có chụp một vài hình ảnh những tên khủng bố việt cộng bị chết trên lề đường và trong khuôn viên Toà Đại Sứ. Từ đó chúng tôi xuống đường Hai Bà Trưng nồi rẽ vào đường Phan Thanh Giản tìm về xa lộ. Bên lề con lộ thênh thang, năm bảy xác những tên khủng bố cộng phỉ nằm ngửa trơ trơ với sợi dây thừng cột cứng ở cổ chân. Bọn chúng được đồng đội kéo đi, nhưng nửa chừng bị bỏ lại. Đến khu Hàng Sanh, chúng tôi rẽ về khu Lăng Tả Quân tiến đến đường Ngô Tùng Châu để nhập vào khu Cây Quéo. Đường xá trong khu vực này vắng teo vắng ngắt, cả ba chúng tôi bắt đầu thấy lạnh xương sống khi phát hiện ra một số xác những tên bộ đội cộng sản xâm lược nằm rải rác khắp mọi nơi trong vườn ngoài ngõ. Tôi run cả người, chỉ muốn quay lại. Nhưng trót vào sâu rồi, đành chịu. Ba xe gắn máy của chúng tôi cứ luân phiên đổi chỗ, anh nào cũng muốn mình vào giữa. Bất ngờ, từ trong căn nhà có khu vườn rộng vang lên tiếng gọi: – “Các chú ơi! Xin vào giúp một tay.” Chúng tôi vừa ngừng xe, một bà và hai thiếu niên chạy ra kéo chúng tôi vào nhà, chỉ cho thúng tôi thấy hai xác khủng bố việt cộng đặt trên bộ ván gõ với tờ giấy viết nguệch ngoạc “nhờ đồng bào chôn cất giùm” Bà giơ tay phàn nàn: – “Thiệt là khổ! Chết rồi thì để bên ngoài cho xong, đem vào nhà làm chi cho đám nhỏ sợ hết hồn hết vía. Bây giờ tôi nhờ các chú khiêng họ ra ngoài đường để chính quyền chôn cất.” Anh em chúng tôi làm giúp bà, lòng thấy áy náy tội nghiệp cho những người lính bên kia bị bọn đầu sỏ độc tài xô đẩy họ vào nơi tử địa.
Mặt trận vùng ngã Bảy đã gần như đi vào kết thúc. Cộng quân ở nơi này, một số bị bắt, một số ra chiêu hồi, số còn lại co cụm trong khu dân cư đong đúc như cá nằm trong rọ chờ ngày bị tóm. Khi Tướng Loan ra lệnh cho Cảnh Sát và Quân Đội khai pháo dứt điểm toàn bộ thì cái đám tàn binh ngoan cố đó đã giở một thủ đoạn đê hèn, táng tận lương tâm. Chúng khống chế cư dân không cho ra ngoài đồng thời dùng xăng đốt nhà gây nên những đám cháy mịt mù khói lửa để trà trộn trong dân tìm đường tẩu thoát. Nhiều xe cứu hoả đước điều động đến. Lúc đầu, các nhân viên chữa cháy rất rụt rè e ngại chưa dám áp sát vào nơi súng đạn thét gầm, tướng Loan đã phải giựt lấy vòi rồng phun nước lên cao khống chế từng cơn bão lửa. Hình ảnh hiên ngang đó, tôi đã dùng làm bìa cho Nguyệt San Rạng Đông trong số báo đầu năm Mậu Thân. Hàng trăm cán binh địch đã bị bắt lôi ra tập trung trước tiệm đò gỗ trên lề đường Minh mạng trong trận đánh cuối cùng ở khu vức ngã Sáu trước sự chứng kiến của tướng Loan. Ông đi loanh quanh quan sát từng người. Thấy ai bị thương nặng, ông nhắc nhở nhân viên Y tế băng bó gấp cho họ và chuyển đến bịnh viện ngay. Ngày hôm sau, Tướng Loan đã cùng Đại Tá Đô Trưởng Văn Văn Của đến thị sát mặt trận tại Quận 8 bên kia cầu chữ Y. Phái đoàn đã dùng con đường đi qua cầu xóm Củi men theo đường Phạm Thế Hiển tiến đến ty CSQG quận 8. Đây là một ty CSQG nằm ở vị trí ven đô trên một diện địa trống trải đồng ruộng mênh mông và sông rạch chằng chịt. “
….Khởi đầu, cộng quân dàn binh ngay trên đồng ruộng ở phía sau ty, bắn hạ một nhân viên Cảnh Sát gác trên chòi cao đồng thời dùng B40 chóc thủng một lô cốt ở góc trái phía sau với ý đồ cho vài đắc công chui qua lỗ hổng tung lựu đạn và trái phá gây náo loạn phía trong trước khi xua quân chiếm lĩnh mục tiêu. Một vài nhân viên Cảnh Sát “điếc không sợ súng” đã bò ra lô cốt phục sẵn phía trong tỉa từng tên một và lấy xác chúng chèn vào lỗ hổng. Đội hình phòng thủ trong ty đã được củng cố, bình tĩnh chống lại từng đợt tấn công để chờ lực lượng tiếp viện. Trời gần sáng, trực thăng võ trang xuất hiện đổ rốc-kết và đại liên lên đầu giắc khiến chúng phải rúc vào các khu dân cư ẩn náu và rút về khu vực phường Rạch Ông mang theo một số thương vong đồng đội chất lên ghe thuyền luồn trốn trong các kinh rạch…..” Trên đây là lời kể lại của Phó Ty Khưu Ngọc Đa, một người bạn cùng khoá 14 Biên Tập Viên Rạch Dừa với tôi, trong lúc đoàn xe di chuyển từ ty CSQG đến vùng Rạch Ông. Anh Đa đang thao thao bắt tuyệt, bỗng một loạt đạn AK vun vút lướt trên nóc xe, anh vẫn giữ vững tay lái tiếp tục mối theo phái đoàn và quay sang tôi cười khì khì sảng khoái như thầm hỏi tôi “sợ không?” Chiến cuộc tại thủ đô Saigon đã hoàn toàn chấm dứt sau ngày hôm đó, nhưng lòng tôi vẫn không sao quên được những hình ảnh điêu tàn do Cộng quân gây ra. Hình ảnh thương tâm mà tôi không thể nào quên là hình ảnh một gia đình năm người co quắp ôm nhau chết cháy tại khu Nguyễn Thiện Thuật gần chợ Bàn Cờ…
Gần một tháng sau, tôi và một nhiếp ảnh viên lại được một dịp theo chân tướng Loan phi hành ra Huế. Chuyến đi vỏn vẹn có một ngày. Ông trở về cái nơi chốn mà ông đã sống trong những ngày niên thiếu không phải để tìm lại cảnh xưa chốn cũ mà là để chia xẻ những đau thương mất mát của tất cả mọi người ở chốn Cố Đô. Vừa ra khỏi phi trường Phú Bài, Tướng Loan đã cùng Giám Đốc Võ Lương bắt tay vào việc ngay. Ông đến thăm các đơn vị Cảnh Sát, ngậm ngùi nhìn những nấm mồ chôn tạm ngay trong khuôn viên của cơ quan. Ngay sau đó, ông cùng các viên chức CSQG địa phương rong ruổi trên đại lộ Lê Lợi vượt qua cầu Bạch Hổ, men theo bờ sông Hương, vượt qua cửa Thương Tứ đến chợ Đông Ba rồi qua Gia Hội để động viên tinh thần những nhân viên Cảnh Sát Quốc Gia đang tham gia xây dựng cư xá Tình Thương. Đây là một công trình do ngành CSQG đài thọ từ A đến Z mà Tướng Loan coi đó như một món quà trao tặng đến các gia đình đồng bào nạn nhân chiến cuộc đang gặp quá nhiều khó khăn. Chiều về, khung cảnh cố đô mới ảm đạm làm sao! Phố xá thưa thớt bóng người, nhà nhà cửa đóng then cài. Đất Thần Kinh ủ rũ như một người bịnh chưa hồi lại sức. Cầu Tràng Tiên gục đầu trên mặt Hương Giang như cùng thì thầm thổn thức tiếc nuối cho những ngày thơ mộng thuở nào: Tôi đứng trên đầu cầu phía chợ Đông Ba nhìn xuống phía dưới thấy hai em gái nhỏ khoảng chín mười tuổi mặc áo màu hồng đang đưa đôi bàn tay bốc từng bụm cát đắp lên hai ngôi mộ mới. Tự nhiên tôi thấy tim mình se thắt lại, thầm cầu mong đó không phải là chỗ ở của cha mẹ các em.
Sau một đêm không ngủ, sáng hôm sau chúng tôi lại theo gót tướng Loan trở về Saigon. Tôi vội ghi bài ký sự “Một ngày ở Huế” cho số báo tới với hai câu thơ mộc mạc mở đầu: Ngày xưa Huế đẹp Huế mơ Bây giờ Huế bị xác xơ điêu tàn.
Cuộc tấn công của bọn cộng phỉ vào những ngày Tết Mậu Thân 1968 đã kết thúc với những kết quả vô cùng thê thảm và nhục nhã cho bọn chúng. Hơn sáu mươi ngàn tên cán binh đối phương bị loại khỏi vòng chiến kéo theo bao nhiêu sinh mạng của đồng bào vô tội bị chúng sát hại man rợ và để lại một đống hoang tàn trên khắp miền Nam tự do và cũng không hề có bất cứ cuộc tổng nổi dậy nào như bọn chúng mộng du ngáo đá hoang tưởng Vài tháng sau, bọn lãnh đạo ngoan cố bất nhân cộng sản miền Bắc lại xua đám tàn quân tiến hành một trận tấn công đợt hai giữa lúc nhân dân miền Nam còn đang thổn thức ngậm ngùi sau cơn ác mộng ngày Xuân. Tướng Loan, một lần nữa cùng lực lượng Cảnh Sát Thủ Đô xuất trận vào lúc 4 giờ sáng tiến thẳng về trại gà Thanh Tâm bên xa lộ ngăn chặn không cho địch quân tấn chiến Đài Phát Thanh Saigon. Tám giờ sáng hôm đó, tôi và một nhiếp ảnh viên được lệnh lên đường thu lượm tin tức. Đến cầu Phan Thanh Giản, thấy súng bắn rát quá, người tài xế nhất định quay xe trở lại. Ba giờ chiều cùng ngày, tin tức từ Trung Tâm Hành Quân cho biết Tướng Loan đã bị trúng đạn gẫy chân và được đưa về điều trị tại bệnh viện. Để giữ vững tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ đang chiến đấu và đánh tan các lời đồn đãi bất lợi, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng đã cho chụp một bức hình tướng Loan đang nằm trên giường bệnh, nói trong máy bộ đàm phổ biến trên các nhật báo với lời chú thích “Mặc dù bị thương, Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc CSQG vẫn tiếp tục chỉ huy các lực lượng hành quân truy quét bọn giặc cướp việt cộng. Cùng thời gian này, một biến cố đau lòng đã xảy ra tại Trường Phước Đức trên đường Khổng Tử thuộc quận 5 Chợ Lớn. Khoảng bốn năm giờ chiều, bộ tham mưu hành quân CSQG đang họp tại trường này bỗng lãnh một trái đạn rocket từ trên trực thăng Mỹ bắn xuống gây tử thương cho Đại Tá Luân, Giám Đốc Nha CSQG Thủ Đô; Quận Trưởng Nguyễn Ngọc Xinh, Phụ Tá Giám Đốc Nha CSQG Thủ Đô; Thiếu Tá Lê Ngọc Trụ, Trưởng Ty CSQG quận 5 cùng một số sĩ quan khác bị thương trong đó có Đại Tá Trần Văn Phấn, Trưởng Khối Nhân Huấn thuộc Tổng Nha CSQG cụt một chân. Tôi đến làm bản tin lễ truy điệu tại hội trường nha CSQG Saigon mà lòng không sao kìm được nỗi xúc động bồi hồi khi thấy Thủ Tướng Trần Văn Hương đứng trước các quan tài đầm đìa nước mắt. Ít ngày sau, Tướng Nguyễn Ngọc Loan âm thầm rời khỏi chức vụ và Đại Tá Trần Văn Hai về thay thế. Phần tôi, sau một lần họp với Thiếu Tá Trần Hữu Kinh, Chánh Văn Phòng Đặc Biệt của Đại Tá tân Tổng Giám Đốc, tôi cũng xin rút lui khỏi việc làm báo để đi một nơi xa xôi làm công tác khác. Từ đó, tôi không có dịp gặp lại Tướng Loan nữa, nhưng trong lòng vẫn luôn luôn nhớ về ông, một tôn trưởng đầy quí mến trong gia đình Cảnh Sát Quốc Gia VNCH.
Chu Kim . ( Saigon trong tôi )
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tướng “Sáu Lèo” Nguyễn Ngọc Loan _ Chu Kim
Tài Liệu: Phỏng vấn Liên Thành, tác gỉa “Biến Động Miền Trung” (Toàn Như)
Tài Liệu: Phỏng vấn Liên Thành, tác gỉa “Biến Động Miền Trung”
LGT: Nhân dip cựu Thiếu Tá Liên Thành, nguyên CHT/CSQG Thừa Thiên-Huế vừa từ trần (tháng 4/2021) tại Quân Cam, Nam California, xin mời quý bạn xem lại bài phỏng vấn Liên thành do Toàn Như thực hiện vào tháng 2-2010. Bài phỏng vấn này đã được phổ biến trên bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong số 822 vào tháng 3-2010.
Khoảng giữa năm 2008, tác phẩm Biến Động Miền Trung (BĐMT) của tác gỉa Liên Thành lần đầu tiên ra mắt tại Quận Cam đã được sự đón nhận nồng nhiệt của độc gỉa. Cuốn sách đã ghi lại những biến cố tại miền Trung Việt Nam trong thập niên 1960 của thế kỷ trước, một thời kỳ đầy những biến động và khủng hoảng chính trị tại Miền Nam. Tác gỉa cuốn sách là một cựu Thiếu Tá, nguyên Chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên – Huế nên ông đã có khá nhiều kinh nghiệm cũng như tài liệu sống để viết lại một giai đoạn lịch sử quan trọng này. Cuốn sách ngay sau đó đã gây đuợc một tiếng vang rất lớn và tiếp tục được ra mắt ở nhiều nơi khác, phần lớn rất được mọi người hoan nghênh và ủng hộ. Tuy nhiên, tại một số nơi, như tại Texas và Âu châu, cũng có một vài sự chống đối khiến cho việc ra mắt sách đã gặp trở ngại khiến cho ban tổ chức đã phải dời địa điểm ra mắt sách hoặc hủy bỏ chương trình đã dự trù. Để tìm hiểu về những nguồn dư luận xung quanh BĐMT, chúng tôi đã tìm gặp ông Liên Thành, hiện cư ngụ tại Quận Cam, và ông đã vui vẻ dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn ngắn để giải tỏa một số những thắc mắc của độc gỉa. Dưới đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn:
Phóng viên (PV): Sau lần ra mắt sách Biến Động Miền Trung lần đầu tiên tại Quận Cam năm 2008 và sau đó ở nhiều nơi khác rất thành công, được bà con ủng hộ rất đông đảo; tuy nhiên, chúng tôi được biết cũng có một vài nơi phản đối sự ra mắt sách của anh, như tại Texas và ở Âu châu,… Lý do tại sao có những sự chống đối này và những sự chống đối ấy có gây trở ngại gì cho việc ra mắt của BĐMT hay không?
Liên Thành trả lời: Lần ra mắt sách tại Texas có sự chống đối của 9 đảng phái chinh trị với lý do: Sách gây chia rẽ tôn giáo, bất lợi cho sự đoàn kết của cộng đồng tại Houston,
và Liên Thành là công giáo trá hình, v.v… Thực chất 9 đảng nầy chẳng có thực lực và bị
nhóm sư và chùa quốc doanh tại Houston xúi giục. Tại Âu Châu, lúc đầu thì hội đoàn Cựu quân nhân đứng ra tổ chức cho tôi nói chuyện tại Đức, Pháp, Hòa Lan. Nhưng khi trong loạt bài viết về Trịnh Công Sơn của tôi có đề cập tới lời khai của tên Trung tá điệp viên Hòang Kim Loan khai là Tuớng Trần Văn Trung đã bị Tổng cục 2 Tình báo của Việt cộng móc nối hoạt động, thì ngay lập tức hội đoàn cựu quân nhân không muốn tổ chức cho tôi nữa, vì tôi đã xúc phạm đến Tướng Trung, và vì Trung Tướng Trung đang làm cố vấn cho một số hội đoàn bên Âu Châu.
PV: Chúng tôi được biết anh tức Liên Thành là cháu nội Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, tức thuộc dòng dõi Hoàng Tộc Triều Nguyễn, nhưng vì sao Hội Đồng Hoàng Tộc Nguyễn Phước Hải Ngoại lại không ủng hộ BĐMT? Anh nghĩ sao về một Bản Lên Tiếng trong đó có nhiều thành viên của Hội Đồng Hoàng Tộc Nguyễn Phước Hải Ngoại ký tên không ủng hộ anh?
Liên Thành: Tại Việt Nam, trước 1975 chúng tôi có Hội Đồng Nguyễn Phuớc Tộc, nhưng sau 1975 thì cũng có nhưng là của Việt Cộng thành lập, mà tôi được biết Giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ tịch Hội Đồng Nguyễn Phước Tộc này. Giáo sư Hanh dạy môn hóa học tại Đại Học Huế trước 1975. Tại hải ngọai chưa có H/Đ Nguyễn Phước Tộc, cái hội đồng mà anh nói và tôi cũng có đọc được toàn là của mấy ông Tây, bà Đầm và ông Nhiếp chính Vương mang họ Bửu tôi mới nghe lần đầu. Nếu đúng mấy ông đó là hội đồng Nguyễn Phuớc Tộc, thì cũng chẳng cần mấy ông khai trừ, tôi cũng tự động xin ra khỏi và chạy cho mau kẻo mang nhục vào thân. Họ khai trừ tôi vì theo họ, tôi xúc phạm đến quí thầy Trí Quang, Đôn Hậu, Thiện Siêu, v.v… Có một điều họ quên sao không khai trừ những người trong hoàng tộc hoạt động hoặc là cán bộ cao cấp của Việt cộng như Tôn Nữ Thị Ninh, v.v… mà lại đi khai trừ một người lính VNCH như tôi
Còn nữa, tôi là cháu nội của Đức Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, thuộc dòng Đông Cung Anh Duệ Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trưởng của Vua Gia Long, huyết thống chính thống; vì vậy nếu muốn khai trừ tôi khỏi Hoàng Tộc thì phải tốn tiền thay máu tôi, còn bằng không thì cũng hơi khó.
PV: Anh nghĩ sao về 2 người lên tiếng chống đối BĐMT và Liên Thành nhiều nhất và mạnh mẽ nhất là Trần Kiêm Đoàn và Bảo Quốc Kiếm? Anh có biết họ là ai không?
Liên Thành: Chống đối BĐMT là một điều rất tốt, tôi rất cần chuyện đó, nhưng chống đối để sửa sai và xây dựng, bổ túc, tôi rất cám ơn; còn nếu với ý khác thì thật tình tôi không để ý đến. Vâng tôi biết rõ ông Trần Kiêm Đoàn, biết rất rõ.
Còn ông gọi là Bảo Quốc Kiếm thì tôi lại còn biết rõ ông ta hơn cả ông Trần Kiêm Đoàn nữa, như tên tuổi thật ông ta là gì, hiện tại ở đâu, ngay cả số cell phone của ông ta tôi cũng biết. Tôi đưa một nửa số phone của ông ta ra đây để làm bằng chứng [để tránh ông ta kiện tôi vì vi phạm an ninh đời tư của ông ta]. Số phone đó là: Area Code: 615 và bốn số sau cùng là 8907. Còn trước 1975, lý lịch của ông ta tôi biết rất rõ từ tuổi tác, học lực, cho đến nghề nghiệp, v.v…Tôi đã từng lên tiếng thách thức cả Trần Kiêm Đoàn lẫn Bảo Quốc Kiếm cũng như những ai chống đối gặp gỡ tôi trực tiếp đối thoại, nhưng không có người nào nhận lời. Họ chỉ giỏi đánh phá tôi và BĐMT trên thế giới ảo, các diễn đàn internet. Gần đây nhất, trong tháng 11/2009 vừa qua, tôi có ra mắt sách BĐMT tại Sacramento, Bắc California, , nơi cư ngụ của ông Trần Kiêm Đoàn nhưng rất tiếc ông ấy cũng không đến dự để tôi có dịp đối thoại.
PV: Ngoài những chống đối Liên Thành và BĐMT trên các diễn đàn internet, anh có gặp những sự chống đối nào ở thực tế ngoài đời không? Chẳng hạn như thơ rơi, email, điện thoại hăm dọa hay hành hung chẳng hạn.
Liên Thành: Hoàn toàn không, vì để bảo vệ an ninh, tôi thường xuyên thay đổi Email và số phone.
PV: Trong BĐMT, anh có nói Thượng tọa Thích Trí Quang là đảng viên cộng sản căn cứ vào tài liệu của Sở Liêm Phóng Pháp còn lưu trữ tại văn khố Bộ chỉ huy CSQG Thừa Thiên – Huế và căn cứ vào lời khai của tên Trung tá điệp báo cộng sản Hoàng Kim Loan. Ngoài hai nguồn tin này, anh còn có thêm những bằng chứng nào khác để củng cố cho nguồn tin của anh hay không? Có người cho rằng những tài liệu của Pháp để lại đã qúa lâu không được cập nhật, như có nhiều người từng theo Việt Minh kháng chiến nhưng sau đã trở về làm việc trong hàng ngũ Quốc gia, họ đâu còn theo Việt Minh hay cộng sản nữa, và biết đâu Thích Trí Quang cũng ở trong số này. Ngoài ra, người ta cũng cho rằng không nên tin vào lời khai của tên trung tá điệp báo VC, vì có thể y cố tình khai như thế để gây ly gián. Anh nghĩ sao về các gỉa thuyết đó?
Liên Thành: Chuyện ông Trí Quang là cộng sản thật tình xưa hơn trái đất , nhưng vì một số người sợ “Thầy” không dám nói ra, một số khác thì không quan tâm. Riêng cơ quan Cảnh Sát Quốc Gia chúng tôi có đủ hồ sơ để chứng minh Trí Quang là đảng viên cộng sản nên không thể có gỉa thuyết đó.
PV: Anh nghĩ sao khi có dư luận cho rằng BĐMT của anh đã đánh phá Phật giáo, chụp mũ các nhà lãnh đạo Phật giáo là cộng sản? Hiện nay tại Hoa Kỳ có 2 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất: một là GHPGVNTN Hải Ngoại trực thuộc GHPGVNTN ở trong nước hiện có Văn Phòng II Viện Hóa Đạo tại Quận Cam và một là GHPGVNTN Hải Ngoại/Hoa Kỳ thường được gọi là Nhóm Về Nguồn. Hai GHPGVNTN này có giáo hội nào phản đối BĐMT hay không?
Liên Thành: Xin dẫn chứng chữ nào, câu nào, đoạn nào , trang nào trong cuốn BĐMT của tôi đánh phá Phật giáo. Những kẻ đội lốt tu hành lợi dụng Phật giáo để hoạt động cho Cộng Sản tôi đã nêu danh tánh rõ ràng trong cuốn BĐMT, tôi không mù mờ vơ đũa cả nắm. Hơn nữa gia đình tôi còn là một gia đình Phật giáo chánh gốc trong đó chú của tôi, anh của tôi đều là những Đại Lão Hòa Thượng trong giáo hội. Riêng hai tổ chức mà anh nói đó, cả hai đều phản đối BĐMT.
PV: Trong BĐMT anh đã viết, căn cứ vào lời khai của tên Trung tá điệp báo Hoàng Kim Loan, y đã móc nối được một sĩ quan cấp tướng của VNCH. Mặc dù trong sách anh không nêu tên vị tướng này, nhưng nay thì bí mật đó đã được anh bật mí (trong một bài viết khác) là Trung Tướng Trần Văn Trung, nguyên Tổng Cục Trưởng Chiến Tranh Chính Trị của QLVNCH. Vào thời điểm có biến động Miền Trung, trước nguồn tin quan trọng này anh đã trình lên trên thượng cấp và đã có phản hồi gì hay không? Được biết, trung tướng Trung hiện nay đang định cư tại Pháp, ông có phản ứng gì trước tiết lộ của anh về ông?
Liên Thành: Trường hợp Trung Tướng Trần Văn Trung như tôi đã trinh bày nhiều lần:
Tôi ghi nhận lời khai của tên Trung tá VC đó và đã làm phiếu trình thượng cấp lời khai và sự việc, mà không có kết luận Trung Tướng Trung hoạt động cho VC vì còn cần một khoảng thời gian điều tra, theo dõi lâu dài để phát hiện và như vậy mới kết luận được.
Bây giờ để hàng ngũ anh em quân đội khỏỉ thắc mắc buồn lòng, người phải giải thích, biện minh không phải là tôi, mà là đích thân Trung Tướng Trần Văn Trung phải nói lên điều đó.
PV: Trong BĐMT anh cũng có đề cập đến việc từng phải đối đầu với hai người từng là thầy cũ là Hoàng Phủ Ngọc Tường và ‘thằng’ bạn học cũ là Nguyễn Đắc Xuân; nhưng gần đây Nguyễn Đắc Xuân đã post trên trang mạng talawas phủ nhận việc từng là bạn học cũ thời niên thiếu với anh. Anh đã đọc bài viết của Nguyễn Đắc Xuân chưa và anh nghĩ sao về việc phủ nhận đó? Cũng trong bài viết này, Xuân nói anh là người đã từng ra chỉ thị thủ tiêu Ngô Kha, một nhà giáo tham gia phong trào tranh đấu lúc đó và Kha còn là một người có liên hệ bà con với Phạm Bá Nhạc (một sĩ quan Khóa I – Học Viện CSQG làm việc dưới quyền anh), sự thật về việc này như thế nào?
Liên Thành: Việc Nguyễn Đắc Xuân phủ nhận việc tôi không phải là bạn chung trường với hắn là quyền của y. Tuy nhiên sự thật vẫn là sự thật. Hơn nữa có vinh dự gì đâu là bạn học chung với một tên sát nhân từng vấy máu hàng ngàn người dân Huế vô tội trong Tết Mậu Thân để mà khoe khoang. Vừa rồi hôm 2 tháng 1/2010, trong buổi hội luận và ra mắt BĐMT tại Atlanta, tiểu bang Georgia, cũng có người hỏi tôi câu hỏi tương tự, tôi có hỏi lại và trả lời anh ta rằng: “Sao anh không cùng tôi, chúng ta cùng đưa bọn sát nhân đã tàn sát đồng bào Huế ra tòa Hình sự Quốc tế hỏi tội bọn chúng tại sao lại giết 5327 thuờng dân vô tội, và 1200 người bị mất tich còn sống hay đã chết. Như vậy chúng ta đã làm một việc đúng đắn là lấy lại Công Bằng và Công Lý cho số người đó, còn việc chết sống của ông Ngô Kha, một cán bộ trí vận của cơ quan Thành Ủy Huế là chuyện quá nhỏ so với số nạn nhân kia, hơn nữa cũng chẳng liên quan gì đến tôi, đến lực luợng CSQG Thừa Thiên – Huế, vì chúng tôi không ra lệnh thủ tiêu ông ta. Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia pháp trị, chúng tôi là nhân viên công lực, nhiệm vụ phải bảo vệ và thi hành luật pháp quốc gia, hành động thủ tiêu người là bất hợp pháp, là vi luật. Đề nghị những ai nuốn biết vụ Ngô Kha xin hỏi Tống Hoàng Nguyên, Truởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên VC, và Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, Trưởng ty Công an Thừa Thiên – Huế.” Về trường hợp anh Phạm Bá Nhạc, anh ta đã phủ nhận tất cả những lời của Nguyễn Đắc Xuân. Anh Nhạc hiện ở tại San Diego, ai cần số điện thoại anh ta để xác minh xin liên lạc với tôi.
PV: Vì sao hơn 30 năm định cư tại hải ngoại, anh mới cho trình làng tác phẩm BĐMT? Như vậy có phải là qúa muộn hay không? Và làm sao có những con số anh có thể ghi lại một cách chính xác chi tiết như trong sách, chẳng hạn như con số nạn nhân bị VC thảm sát trong Tết Mậu Thân 1968 ở Huế?
Liên Thành: Vi luơng tâm nghề nghiệp nên không thể tiết lộ sớm vì nguy hại đến những người còn ở VN. Những con số tôi có là do chính cơ quan cảnh sát của chúng tôi lập biên bản, làm báo cáo những con số xác nạn nhân được tìm thấy hay bị mất tích.
PV: Câu hỏi chót: sau Biến Động Miền Trung anh có dự định ra mắt một tác phẩm nào khác không? Nếu có, anh có thể bật mí cho biết đó là tác phẩm gì không, và khi nào sẽ ra mắt độc gỉa?
Liên Thành: Vâng tôi sắp xong cuốn số II có tựa đề là “Biến Động Miền Trung, những chuyện chưa nói hết” sẽ ra mắt một ngày rất gần đây. Ngoài ra, tôi đang vận động đòi hỏi công bằng và công lý cho các nạn nhân trong Tết Mậu Thân tại Huế qua việc thu thập tài liệu và chứng cớ để kiện Đảng Cộng Sản VN ra trước tòa án quốc tế về tội diệt chủng. Tôi rất ước mong được mọi người hưởng ứng tiếp tay với tôi trong công tác này.
PV: Xin cám ơn anh Liên Thành đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn đầy thân hữu và thú vị này.
Người thực hiện phỏng vấn: TOÀN NHƯ
(tháng 2/2010)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Tài Liệu: Phỏng vấn Liên Thành, tác gỉa “Biến Động Miền Trung” (Toàn Như)
Chuyện Nhà Chồng Tôi Sau 30/4/75 – Tác giả Phạm Thanh Nghiên
Chuyện nhà chồng tôi –
một bi kịch không hồi kết sau ngày
‘kết thúc’ tiếng súng chiến tranh
(GIẢI NHÌ cuộc thi của tuần báo Saigon Nhỏ)
LTS: Với những ai quan tâm đến hoạt động đấu tranh dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, Phạm Thanh Nghiên không là cái tên xa lạ. Cô đã và vẫn là “đối tượng” được nhà cầm quyền Việt Nam xếp vào cái gọi là thành phần “phản động.” Cô đã bị cướp mất tự do với những năm tháng trong tù và cô đã bị cướp mất nơi ăn chốn ở khi căn nhà của cô ở vườn rau Lộc Hưng bị đập phá tan nát. Nước mắt đã chảy trên khuôn mặt hằn khổ đau của Nghiên không biết bao nhiêu lần.
Bi kịch của Nghiên chưa dừng lại. Và nó không chỉ là bi kịch đối với cá nhân cô. Dưới đây là những gì cô Nghiên vừa kể thêm, gửi riêng cho Saigon Nhỏ. Xin trân trọng giới thiệu…

Ông Phạm Văn Vinh, ông ngoại của anh Tú. (Hình tác giả cung cấp)
“Mày có biết cái này là cái gì không?”
Sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975, gia đình ông Huỳnh Kim Sơn cả thảy 11 người đang ở trong nhà thì nghe tiếng ồn ào ngoài đường Phạm Thế Hiển. Ông Sơn là một thiếu úy cảnh sát, làm việc tại quận 8 thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia VNCH. Mặc dù ông đã dặn các con, các cháu không đứa nào được ra khỏi nhà, nhưng cậu bé Tú, khi ấy mới bảy tuổi, con trai thứ ba của ông vẫn rình lúc ông không để ý, rón rén mở cổng vọt ra ngoài. Từ nhà ông Sơn ra đường Phạm Thế Hiển đâu khoảng dăm trăm mét.
Cậu bé Tú thấy họ, những người mặc áo xanh, đội nón cối, đông lắm. Lớp thì đi bộ, lớp ngồi trên xe lam. Ai cũng vác theo súng. Có người còn mang cả cành cây cắm trên balo nữa. Cậu bé chưa từng chứng kiến cảnh tượng như thế tại Sài Gòn. Họ reo hò, la hét và ca hát vang cả phố phường, đại loại như: “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù,” “Sài Gòn đây rồi,” “Đập tan bè lũ ngụy quân ngụy quyền”… Đó cũng là lần đầu tiên Tú nghe đến cái tên Hồ Chí Minh phát ra từ giọng nói rất khác của lũ người xa lạ kia.
Tú không phải đứa trẻ duy nhất hiếu kỳ đứng xem. Lũ bạn cùng xóm chen chúc trong đám đông, mắt ngơ ngác, láo liên nhìn ngó. Có mấy cái bàn ai đó đã kê sẵn trên vỉa hè từ bao giờ, đặt những thùng bìa các-tông. Trong các thùng bìa ấy là những lá cờ xanh đỏ, không giống như lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc treo ở trụ sở cảnh sát, nơi ba của Tú làm việc, hay ở trường học mà cậu vẫn nghiêm trang giơ tay chào mỗi Thứ Hai đầu tuần.
Những nhóm người mặc áo xanh, đội nón cối hoặc đeo khăn rằn, vai mang súng bắt đầu đi phát cờ cho mọi người. Họ phát cả cho bọn con nít. Tú cũng được một cái. Cậu bé Tú mang lá cờ xanh đỏ ấy về, vừa đi vừa nhảy chân sáo. Mới bước vào nhà, chưa kịp khoe với ai thì ông Sơn đã giật phắt lá cờ trên tay thằng con, ném nó xuống đất rồi lấy chân giẫm lên. Vợ ông tái mặt, vội chạy ra cổng xem có ai đi ngang qua không. Tú ngơ ngác, tim đập thình thịch tưởng là sẽ bị ăn đòn can tội trốn đi chơi.
-Mày có biết cái này là cái gì không mà tha về đây?
Ông Sơn rít lên, cố nén cơn tức giận. Giẫm giẫm mấy cái cho bõ ghét rồi nhặt lên, vo viên lá cờ giấy trong tay trước khi mang xuống bếp, châm lửa đốt. Mới bảy tuổi, Tú chưa đủ khôn để biết chuyện gì đang xảy ra. Nhưng cậu bé đã lờ mờ cảm nhận về những điều bất thường đang đến với gia đình mình. Thảo nào mấy bữa nay ba không tới nhiệm sở, các anh chị em Tú cũng không đi học.
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, giống như các quân nhân cán chính chế độ VNCH, ba và ông ngoại của Tú đều phải đi “học tập cải tạo,” nghĩa là đi tù. Cả ba và ông ngoại của cậu đều là sĩ quan cảnh sát với cấp bậc thiếu úy, do đó bị chính quyền mới liệt vào thành phần “ác ôn.” Ông ngoại Phạm Văn Vinh từng là “trưởng ban Tình Hình Ban Chỉ Huy Cảnh Sát Quận 4,” một chức vụ thuộc bên tình báo. Cậu bé Tú còn nhớ, hàng ngày ông ngoại đi làm đều có xe của nhiệm sở đến đưa đón. Ông ngoại Phạm Văn Vinh bị lưu đày ba năm ở nhà tù Hàm Tân. Trong Giấy Ra Trại mà nhà tù Cộng Sản cấp cho ông có ghi rõ: “Họ tên: Phạm Văn Vinh, sinh năm 1922. Trú quán tại: số 3 Cư Xá, Bến Vân Đồn, quận 4. Số quân, cấp bậc, chức vụ trong bộ máy chính quyền, quân sự và các tổ chức chính trị phản động của chế độ cũ: Thiếu úy, trưởng Ban Tình Hình B.C.H.C.S quận 4.”
Cơn thảng thốt của ngày 30 Tháng Tư
Ông Huỳnh Kim Sơn may mắn hơn nên chỉ đi tù vài tháng rồi được tha, do từng cứu mạng một viên cán bộ Cộng Sản Bắc Việt. Đó là một cuộc cứu mạng “bất đắc dĩ” xảy ra vào năm 1972. Một tên Việt Cộng bị cảnh sát truy đuổi, trong lúc cấp bách đã chạy vào nhà ông trốn. Lúc cảnh sát ập vào, họ hỏi bà Kim Anh – vợ ông Sơn – xem có người lạ nào chạy vô không. Bà Kim Anh, khi ấy đang mang bầu người con thứ tư, dù sợ hãi nhưng vẫn cố trấn tĩnh, trả lời gọn lỏn một câu “không!” Vừa lúc ông Sơn ở nhiệm sở về tới nhà, trên người vẫn mặc sắc phục.
Vì nể đồng nghiệp nên nhóm cảnh sát chỉ khám xét qua loa rồi bỏ đi. Bà Kim Anh vội ra đóng cổng, rồi trở lại vào trong nhà, lắp bắp nói với chồng “ổng… ổng… trong hồ nước”. Ông Sơn chết lặng người. Ông chạy ra sau nhà, thấy người đàn ông kia đang lóp ngóp từ trong bể nước ngoi lên. Bị vợ đặt vào “sự đã rồi,” ông không còn lựa chọn nào khác là phải thuận theo. Nếu kêu cảnh sát tới, vợ ông sẽ mang tội che giấu Việt Cộng, mà thả đi cũng không cam lòng. Bà Kim Anh van lơn: “Em sắp sinh con, thôi thì mình làm phước cứu một mạng người. Để đức để phúc cho con sau này.”
Trước khi đi, viên cán bộ Việt Cộng quỳ xuống, lạy hai vị ân nhân cứu mạng. Rồi ông ta đưa cho ông Sơn mảnh giấy, có ghi chép ký hiệu gì đó, dặn rằng nếu sau này có bề gì, tìm ông ta sẽ trả ơn. Đúng như lời đã hứa trước đó ba năm, viên cán bộ Cộng Sản trả ơn cho ông thật. Ông Sơn thoát cảnh tù đày, nhưng không thoát được cơn đau mất nước, không thoát được cảnh sống bị bủa vây với vô vàn tủi hờn, căm hận. Và chính đứa con còn trong bụng mẹ ngày nào, cái cớ để vợ ông lấy đó mà tha cho viên cán bộ nọ, 42 năm sau đã chết thảm trong tay nhà cầm quyền Cộng Sản. Trí chết sau khi vừa mới kết thúc 14 năm dài bị cầm tù. Cái “phúc” mà ông bà Sơn tạo dựng cho con, không lớn bằng cái “họa” của “bên thắng cuộc” giáng xuống gia đình họ.
Những gì tôi vừa kể là một phần câu chuyện diễn ra trong và sau ngày 30 Tháng Tư, 1975 của gia đình chồng tôi, anh Huỳnh Anh Tú, do chính anh kể lại. Tất nhiên, ngày ấy anh Tú còn nhỏ nên có chuyện anh nhớ được, có chuyện phải hỏi lại ba anh. Chuyện nhà chồng tôi, không chỉ có thế. Nếu viết đủ, theo trình tự thời gian, nó sẽ là một cuốn sách dày, đẫm nước mắt. Cuộc “giải phóng” của người Cộng Sản miền Bắc không chỉ khiến gia đình anh Tú lâm vào cảnh khốn cùng, nó còn khởi đầu cho những rạn nứt, ly tán và nhiều biến cố đau thương sau này. Số phận của gia đình chồng tôi, của ba má, của từng anh chị em bên chồng là những câu chuyện buồn trải dài trong suốt cuộc đời mỗi người. Đó là câu chuyện của một gia đình trong hàng vạn gia đình miền Nam khác đã bị một thứ “nhân mệnh” giáng xuống khi cơn thảng thốt của cái ngày 30 Tháng Tư còn chưa kịp cất lời.

Giấy ra tù của ông Phạm Văn Vinh. (Hình tác giả cung cấp)
Ly tán trong cái gọi là nền “hòa bình” mới
Bi kịch của gia đình chồng tôi, của cả dân tộc này suốt 46 năm qua vẫn chưa chấm dứt. Gốc gác VNCH (người Cộng Sản gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”) như một dấu gạch chéo trên gương mặt, ký hiệu để nhận biết về một hạng người phải bị loại trừ, phải bị vùi dập, phải bị khinh ghét dưới cái gọi là “chế độ XHCN.” Sau năm 1975, ba má chồng tôi phải bán dần bán mòn tài sản, của cải để lấy tiền nuôi các con. Đầu tiên bán nữ trang, rồi bán xe, sau đó bán nhà. Dần dà không còn thứ gì có thể bán ra tiền. Sau gần 20 năm làm lụng cực nhọc, cố gắng đến kiệt lực vẫn không ngóc đầu lên nổi, gia đình chồng tôi lần lượt vượt biên sang Cambodia, rồi Thái Lan.
Duy nhất có một người chị ở lại Sài Gòn. Sau này, trong thời gian sống bên Thái Lan, chồng tôi cùng anh trai là Tuấn và em trai là Trí đều tham gia một tổ chức chống Cộng. Năm 1999, trong lần nhận nhiệm vụ về nước, chồng tôi và Trí bị bắt, mỗi người bị kết án 14 năm tù. Trong thời gian ở tù, Trí bị nhiễm bệnh AIDS – hậu quả của những lần bị cùm chân có dính máu, thịt của người tù bị cùm trước. Ra tù được sáu tháng, Trí chết. Một cái chết đầy đau đớn, oan khuất và tức tưởi. Sau khi chồng tôi và Trí bị bắt, anh Tuấn mất tích. Một số người hoạt động cùng anh nói rằng anh bị Việt Cộng giết. Vài năm sau khi anh Tuấn chết, vợ anh cũng qua đời để lại đứa con mồ côi cho cô Trang, em chồng tôi nuôi dưỡng. Má chồng tôi bị bệnh tiểu đường, do không đủ tiền thuốc thang nên bà qua đời tại Thái Lan năm 2010, khi anh Tú và Trí thụ án được 11 năm. Lúc còn sống, má chồng tôi bị cưa hai chân do bị hoại tử. Sau thời gian sống ở Thái Lan, ba chồng tôi lưu lạc sang Malaysia, thỉnh thoảng qua Thái Lan thăm má. Em chồng tôi lập gia đình, sinh được ba đứa con nhưng khi đứa út còn nhỏ, chồng cô ấy bạo bệnh rồi qua đời.
Sau khi lấy anh Tú, tôi những muốn đón ba chồng tôi về ở hẳn Việt Nam để thuận tiện cho việc phụng dưỡng. Ở trọ cũng được, khi nào có đủ tiền thì xây nhà. Ba tôi chấp thuận. Ông đặt vé về Sài Gòn vào ngày 9 Tháng Hai, 2017, nhưng buổi chiều hôm trước, mồng 8 Tháng Hai, ông đột ngột qua đời tại Malaysia. Vuốt mắt cho ông cũng là một người lưu vong khác. Tháng Tư, 2016, khi chúng tôi chuẩn bị làm đám cưới, người em trai út của anh Tú đã hẹn sẽ về tham dự vì nhiều năm rồi cậu ấy chưa trở lại Việt Nam. Nhưng rồi lại là một giấc mơ không thành khác. Trước đám cưới chừng một tháng, chúng tôi nhận được tin Quốc bị tai biến. Suốt mấy năm nay, Quốc phải ngồi xe lăn, không thể đi làm kiếm tiền nuôi con. Mọi gánh nặng đổ dồn lên cô Trang, em gái chồng tôi.
Anh Tú kể, từ năm 1981 cho đến mãi về sau, gia đình anh chưa bao giờ có một ngày sum họp kể cả vào những sự kiện trọng đại nhất của đời người như cưới hỏi, tang chế. Cả ba và má đều chết trên xứ lạ quê người mà con cháu không thể đến tiễn đưa, vĩnh biệt. Anh Tú lấy tôi, lại cũng là một người tù, một kẻ “phản động” theo cách kết tội của nhà cầm quyền. Thỉnh thoảng tôi nói đùa “vợ chồng mình tiền án nhiều hơn tiền mặt.” Và “nếu xét theo bên ngoại, bé Tôm là Cộng Sản con. Xét theo bên nội, nó mang gốc gác ‘ngụy quân ngụy quyền.’” Tôm có ba mẹ, có chú đều là tù nhân chính trị dưới chế độ Cộng Sản. Tức là nhà tôi vừa có tù anh, tù em, tù vợ, tù chồng, vừa có tù em, tù chị, đủ cả. Nếu nhắc thêm sự kiện nhà tôi ở Vườn Rau Lộc Hưng bị đập, thì bé Tôm cũng là một “dân oan nhí.” Vợ chồng tôi vừa là cựu tù chính trị, kiêm luôn danh hiệu bất đắc dĩ “dân oan.” Số phận cứ buộc chúng tôi vào cảnh ngộ éo le, bi đát.
***
Khi viết những dòng này, vào dịp Tháng Tư, năm 2021, chồng tôi vẫn là một người vô tổ quốc, vẫn phải sống lưu vong trên chính quê hương ruột thịt mình. Từ khi ra tù vào Tháng Mười Hai, 2013, anh Tú vẫn không có nổi một mảnh giấy tờ tùy thân. Gia đình tôi vẫn tiếp tục sống, cuộc sống của những phận người Việt với điệp trùng khốn khó, hiểm nguy vây bủa. 46 năm là một khoảng dài trong đời người, vậy mà nỗi đau cứ như vừa mới hôm qua. Làm sao quên được khi thế lực tà ác thay vì sám hối, lại reo rắc tư tưởng thù hận, vùi dập nạn nhân tới tận cùng của mọi nỗi đau. Nạn nhân nào có phải vài chục con người, đấy là triệu triệu con người. Biết bao giờ đất nước này mới thay da đổi thịt, người người mới biết ăn năn?
Cưu mang nỗi đau quá khứ không phải để thù hận, mà để nuôi dưỡng ước vọng tương lai. Tương lai cho gia đình bé nhỏ của tôi. Tương lai cho người Việt.
Sài Gòn, Tháng Tư, 2021
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Nhà Chồng Tôi Sau 30/4/75 – Tác giả Phạm Thanh Nghiên
Thơ Mừng Ngày Mẹ Hiền – Cóc Nhà
Nhân đây Cóc Nhà có bài thơ ” Mừng Ngày Mẹ Hiền” Happy Mother’s Day, mời các bạn thưởng thức

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Mừng Ngày Mẹ Hiền – Cóc Nhà
Happy Mother’s day

Căn Nhà Nhỏ kÍnh chúc Quý Phu Nhân trong Đại Gia Đình K1 ngày Mother’s Day thật đầm ấm, vui tươi và tràn đầy Hạnh Phúc bên đức lang quân cùng các con cháu thân thương.
HAPPY MOTHER’S DAY
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Mother’s day
Mừng Ngày Hiền Mẫu “Happy Mother’s Day”
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng Ngày Hiền Mẫu “Happy Mother’s Day”
VỀ BẮC… (Lê Thy Ka)
VỀ BẮC… (Lê Thy Ka)
(Hồi Ký của một người sinh ra ở miền Bắc trở về quê cũ)
Tôi sinh ra ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1953. Khi di cư vào miền Nam năm 1954, tôi chẳng biết gì.
Lớn lên ở Sài Gòn, trải qua biết bao nhiêu là những biến cố lịch sử, để rồi ngày 30/04/1975, Cộng sản lại chiếm miền Nam. Nơi sinh ra và lớn lên, ai cũng muốn được trở về để được nhìn thấy nó một lần. Ngay từ nhỏ, Bố Mẹ vẫn kể về miền Bắc với biết bao nhiêu là kỷ niệm ngày thơ ấu. Mình chỉ biết nghe. Họ hàng nhà tôi đâu có còn ai là ruột thịt, chỉ còn vài người anh em họ bên Mẹ, tính ra cũng đến đời thứ ba rồi. Vài năm trước về Hải phòng, chưa về được Hưng yên, nhưng tôi đã thấy hoảng vì những câu chửi tục của những kẻ bán hàng. Hơi một tí là họ địt, mà họ vừa địt vừa trợn mắt, nghiến răng mới là khiếp! Mình từ miền Nam ra là họ biết ngay. Chỉ cần nghe giọng nói và cách ăn mặc là họ nắm ngay chóc. Vài ông anh thì cứ nay gọi điện, mai gọi điện vào hỏi thăm và mời ra Bắc chơi một lần cho biết quê hương làng mình.
Thứ Hai tuần trước, suy nghĩ mãi tôi mới quyết định về Bắc một chuyến cho biết “Nơi chôn nhau cắt rốn”. Trước khi ra Bắc, tôi đã phải gửi tấm hình mới nhất của mình ra ngoài đó để các anh nhận ra mà đón.
15g chiều, máy bay đáp xuống sân bay Nội Bài. Sau khi làm thủ tục xong, tôi bước ra ngoài dân bay. Hình ảnh đầu tiên mà tôi nhìn thấy là cánh xe ôm, họ mời chào rất nhiệt tình. Có nhiều tay xe ôm đi giày trông rất lịch sự và hầu hết tay nào cũng lù lù chiếc nón cối trên đầu. Có lẽ hình ảnh của ông Hồ đã gắn chặt trong ký ức người dân miền Bắc, cho nên ngoài đó rất nhiều người đội nón cối. Mặc áo sơ mi, bỏ áo trong quần, giày tây bóng lộn mà chơi cái nón cối trên đầu thì nhìn rất buồn cười, nhưng có lẽ ngoài đó, người ta đã quen với cái kiểu như thế rồi.
Cánh xe ôm mời chào kinh quá, nhớn nhác mãi, vừa nhìn chung quanh vừa ôm cái giỏ cho chặt, vì lơ mơ mà kẻ nào nó giật mất thì chỉ có ăn “cái ấy” cho no rồi đi bộ về Miền Nam. “Ka ơi! Anh đây này”. Đang ngơ ngác thì ông Anh gọi và lấy tay vẫy vẫy. Anh tôi mặc bộ quần áo bộ đội đã cũ, chân đánh đôi giày da và trên đầu là chiếc nón cối. Một tay xe ôm tưởng ông Anh đón tôi giành khách, anh ta đi ra chỗ ông Anh và nói gì đó mà tôi không nghe. Tôi chỉ thấy Anh tôi trợn mắt và quát lên: “ĐM! Em tao trong Nam vừa ra đấy. Tay kia biến mất, tôi lên chiếc xe Dream và trực chỉ Kim động-Hưng yên. Xe đang ngon trớn bỗng đảo nghiêng sang bên kia đường. Anh tôi lẩm bẩm: “ĐM! Chó toàn ra đường ỉa bậy”. Tôi buồn cười mà không dám cười. Đang chạy xe, Anh tôi dừng lại, trước mặt là anh thanh niên giơ tay chào. Anh tôi hỏi: “Đi đâu mà vất thế? Vãi cả mồ hôi ra vậy?
– “Em đi mua tí thịt chó, hôm nay nhà có khách”
– “ĐM! Có khách thì phải làm con gà, thịt chó thì đéo ra gì rồi”
– “Mà bác đèo ai đấy?”
– “ĐM! Cô em trong Nam ra chơi”
16g30 thì xe về đến làng, mấy đứa con chạy ra vỗ tay mừng bố đã về. Bố nói với thằng lớn: “Vỗ, vỗ cái đéo gì! Vào bảo mẹ thịt ngay con gà hôm qua mổ vỡ trứng”. Bữa cơm tối có thịt gà luộc, vài lon bia Hà nội. Anh tôi bảo là ăn thịt gà là phải có con bia này nó mới hợp. Ngoài Bắc họ uống bia không có đá thì phải, tôi thấy Anh tôi mở bia là rót ngay vào ly, tôi cũng không dám đòi đá. Bia Hà nội uống cũng tạm được. Anh tôi nổ trong bữa cơm kinh quá: Nào là làng mình kỳ này cũng phất lên rồi, không đến nỗi vất như ngày xưa, nhà nào cũng nuôi vài con lợn, chó thì vô tư. Mà tôi phải công nhận là nhà Anh-Chị tôi lắm chó thật. Nhà xây cấp bốn bình thường, mà tôi nhìn thấy tám con chó. Anh tôi bảo là có khi thịt hết lứa chó này là chúng nó sẽ cấm ăn thịt chó. Mà ĐM! mấy thằng rỗi hơi, tự nhiên lại nghĩ ra cái trò cấm ăn thịt chó. Chị tôi góp chuyện: “Cấm cái đéo gì! Toàn chuyện não lợn”. Tôi không nhịn được cười và buộc phải cười và cười rất lớn. Hình như văng tục là một nét văn hoá của những người Miền Bắc thì phải! Chuyện gì cũng địt được và cái gì cũng văng đéo.
Tôi vừa bước xuống sân sau để rửa mặt, đánh răng thì dẫm ngay phải bãi cứt chó. Anh tôi nhìn thấy: “Em ra rửa chân đi. Mẹ nó ơi! ĐM! Xem con chó nào vừa ỉa ra sân, ngày mai thịt luôn, để làm cái đéo gì”. Cứt chó nhiều thật! Mà hình như cả nhà quen rồi thì phải, vì đâu có ai đi mà dẫm vào cứt chó, chỉ có tôi là dẫm phải, bởi vì mình chưa quen đường lối.
Sáng hôm sau, Anh-Chị tôi dẫn tôi đi xem làng xóm, nhìn lại căn nhà xưa mà Bố-Mẹ tôi đã ở, nơi mà tôi chào đời. Căn nhà rộng tám mét và sâu chừng hai mươi lăm mét, nhà bây giờ là chủ khác ở, chứ không phải là họ hàng, vì khi mình di cư, Nhà nước đã lấy hết và sang nhượng cho nhau. Làng tôi còn nghèo lắm! Tôi thấy cô bé bán thịt đặt vài ký thịt trên mặt bốn cái ghế đôn chập lại, tôi hỏi nó ngày bán được mấy ký thịt thì nó trả lời: “Báo cáo với bà, cả ngày cháu bán được năm cân. Hôm nào ế thì đéo bán được ký nào!”. Chung quanh làng không có nhiều quán xá và chỗ nhậu nhẹt như ở trong mình. Anh tôi dẫn tôi đi chung quanh xóm, trên đường nhiều cứt chó lắm. Anh tôi bảo là: “ĐM! Ở đây cả làng đều như thế! Đi đường là phải tinh mắt…
Vừa tờ mờ sáng, tôi đã nghe thấy tiếng chó kêu, tôi ra sân thì đã thấy con chó bị xích dưới gốc cây mít. Thấy tôi dậy, Anh tôi lên tiếng: “Em ngủ nữa đi, dậy làm đếch gì mà sớm thế?”. Tôi bảo là lạ nhà nên khó ngủ. Thật ra là cả đêm tôi ngửi thấy mùi cứt chó, nó cứ phảng phất đâu đây. Phải nói là ngoài Bắc họ nhiệt tình. Đúng là làng quê có khác! Mới tám giờ sáng mà cả chục tay thanh niên trong xóm đã tụ tập để làm thịt chó. Vài bà hàng xóm mua hộ Anh tôi cặp gà để thịt. Anh tôi phấn khởi lắm, một tý lại: “Em báo cáo với các bác, các chú, hôm nay em làm thịt con chó để mừng cô em trong nam ra”. Một tay thanh niên nói: “ĐM! Thảo nào cỗ lớn là phải!”…
Tôi đã bỏ thịt chó từ lâu nên cũng chẳng tha thiết gì với món này. Vào những năm 1977, 1978, được con chó như thế này mà thịt thì còn gì bằng, nhưng cái thời khốn nạn ấy đã qua lâu rồi. Bữa cơm ồn ào quá! Họ uống toàn rượu, chỉ có đàn bà là uống bia. Tiếng chửi tục vang lên loạn xạ. Đàn bà cũng văng tục. Từ nhỏ đến bây giờ tôi mới được ăn bữa cơm như thế này. Đàn bà cứ nói là chửi tục, đàn ông thì văng còn mạnh hơn nữa. Mà họ chửi tục không phải vì giận nhau hay cãi nhau, họ chửi tục vui cơ mới là buồn cười. Đang uống rượu, anh thanh niên đứng dậy: “ĐM! Em còn mấy lít rượu rễ cây đinh lăng, để làm đéo gì. Biết có sống được đến mai không mà để dành củ khoai đến tối. Em mang sang đánh luôn”…
Mới ở được hai ngày là tôi đã thấy chán! Chị tôi bảo hay là mình thuê xe cho em nó ra Ba Đình thăm lăng Bác. Anh tôi nói luôn: “Thăm cái đéo gì mà thăm, Anh vào một lần từ lâu rồi, đéo nhìn thấy gì vì cách xa lắm”.
Ngày thứ tư là tôi quyết định ra về, vì tôi mua vé khứ hồi. Bữa cơm trưa lúc mười giờ và chỉ có gia đình. Tôi biết hoàn cảnh của Anh-Chị tôi mà! Tôi biếu Anh-Chị tôi ít tiền. Chị tôi bảo là: “Chị đéo có nghĩ gì đâu, Em làm như thế Chị ngại lắm”. Anh tôi chen vào: “Ngại cái đéo gì mà ngại! Em nó cho thì cứ cầm lấy để hôm nào vào Nam chơi”…
Ngồi trên máy bay, tôi cứ thắc mắc một điều là tại sao họ lại văng tục nhiều thế? Có thể vì họ không được giáo dục, cũng có thể là do thói quen đã nhiễm vào đầu óc từ đã lâu.
Kỷ niệm chuyến đi về Miền Bắc.
Lê Thy Ka
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở VỀ BẮC… (Lê Thy Ka)
Chuyện một người mang tên Nguyễn Thị Di Tản _ Hoàng Thị Tố Lang
Chuyện một người
mang tên Nguyễn Thị Di Tản
* Hoàng Thị Tố Lang
(Bài do K1 Nguyễn Văn Vinh sưu tầm và chuyển)
Tên tôi là Nguyễn thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.
Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.
Tôi đã là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Thế mà đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 35 năm qua…
Đã 35 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người di tản buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người di tản buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:
Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau.
Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa
Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!
Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi mẹ, đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ :
– “Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc”.
Mẹ ôm tôi vào lòng và nói
– “Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao”.
Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:
– Con là người gì?
– Dạ thưa con là người Việt nam
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!
Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường tiểu học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái apartment mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.
Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về. Tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi– “What is your name?”.
Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”.
Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi- “your name is Đaithen”.Tôi lắc đầu và lập lại- “Di Tản”.
Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp. Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà Tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi
– “Con đi học có vui không”.
Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, Tôi òa lên khóc và bảo:
– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.
Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con. Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.
Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?
Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của ngươì Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.
Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi. Mẹ chỉ còn cái tên Việtnam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?
Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn me, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ.Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.
Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.
Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.
Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp mẫu giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.
Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ huắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài Test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linhda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:
– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.
Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặt đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.
Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.
Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.
Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi laị đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản. Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.
Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.
Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.
Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.
Ngoài giờ ở sở. Về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.
Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.
Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm… v.v… và v.v…
Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.
Mẹ cười thật dễ thương.
Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.
Tôi không ích kỷ. Song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.
Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 35 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.
Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con… Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!
Hoàng Thị Tố Lang
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện một người mang tên Nguyễn Thị Di Tản _ Hoàng Thị Tố Lang













Bạn phải đăng nhập để bình luận.