“MỘT THẾ HỆ ĐANG DẦN BIẾN MẤT”
(Sưu tầm tren Internet)
(Sưu tầm tren Internet)






Đoàn Dự. –
TÔI ĐẬU Cử nhân Luật năm 1971, ít lâu sau thì xin được vào tập sự tại văn phòng của một vị luật sư nổi tiếng, bạn thân với bố vợ tôi. Làm luật sư tập sự thì nhàn, đồng lương tương đối cũng khá. Hàng tuần, đi làm về tôi thường tới Trung tâm văn hóa Nhật ở đường Phan Đình Phùng học thêm tiếng Nhật. Học cho biết vậy thôi, nghề luật sư không đòi hỏi phải biết tiếng Nhật.
Sau ba năm tập sự, tôi thi đậu và được Luật sư đoàn công nhận là luật sư chính thức, được phép treo bảng đồng, lập văn phòng riêng.
Chưa đầy một năm sau thì “giải phóng”, tôi thôi không làm luật sư nữa mà cũng thôi không đi học tiếng Nhật, bởi vì các trung tâm ngoại ngữ đã đóng cửa. Tôi ở nhà trông nom con cái cho vợ tôi đi dạy, thỉnh thoảng cũng kiếm ăn được chút đỉnh do liên lạc với các trung tâm dịch vụ pháp lý. Người ta đưa các đơn từ, giấy má tiếng Nhật hoặc tiếng Anh đến cho chúng tôi dịch. Tiền bạc trung tâm trả rất sòng phẳng nhưng chẳng được bao nhiêu vì cũng có ít người thuê dịch.
Sau gần 17 năm trời thất nghiệp, may sao đến năm 1992, nhờ chút ngoại ngữ tôi xin được vào làm trong một khách sạn kiêm nhà hàng sang trọng ở đường Đồng Khởi (Tự Do cũ). Tôi giữ chân đón khách, mời họ ngồi vào bàn, ghi những món họ kêu rồi báo cho nhà bếp biết, các cô tiếp viên sẽ bưng ra. Tiền lương khá lắm, đã vậy mỗi cuối tháng chúng tôi còn được thưởng thêm, vợ tôi có vẻ yên tâm lắm.
Một hôm, ông giám đốc khách sạn cho gọi tôi lên văn phòng. Ông chỉ chiếc ghế phía trước bàn giấy trong căn phòng gắn máy lạnh của ông, bảo tôi ngồi rồi lấy gói thuốc Ba số 5 trên bàn mời tôi hút.
– Ông quản lý nói anh biết tiếng Nhật?
– Vâng ạ. Thưa ông giám đốc, ngày trước tôi có học tại trung tâm Nhật ngữ mấy năm, giao dịch cũng được nhưng từ giải phóng đến nay, bỏ lâu rồi nên cũng quên mất nhiều.
– Bây giờ còn sử dụng được không?
– Vâng, có lẽ cũng được.
– Vậy thì tốt. Công việc tôi cần nhờ anh là thế này anh Trình ạ…
Ông ngừng câu chuyện, quay lại với tay lên chiếc tủ ở phía đằng sau, lấy hai chiếc cốc bằng pha lê rồi mở một chai Champagne của Pháp, rót ra hai ly, đưa tôi một ly, ông một ly và giơ cao lên:
– Nào, mời anh!
– Mời ông giám đốc.
Tôi ngập ngừng, không hiểu chuyện gì nên chưa dám uống. Ông giục:
– Anh dùng đi. Chúng ta làm vài ly rồi nói chuyện.
– Vâng ạ.
Ông lấy trong ngăn kéo ra một gói thuốc lá hiệu Dunhill loại “nhãn đen” – black label – còn mới nguyên chưa bóc băng garanti, gỡ ra, bảo tôi dụi điếu thuốc lá Ba số 5 đi rồi mời tôi hút thuốc Dunhill “nhãn đen”, ngon nhất trong các loại thuốc lá Dunhill.
– Uống Champagne của Pháp phải hút thuốc Ăng-lê mới tốt.
– Vâng ạ.
– Nào, mời anh!
– Không dám, mời ông giám đốc.
Chúng tôi cụng ly. Khốn khổ, rượu Champagne dù là của Pháp chăng nữa thì trước năm 1975 đối với tôi cũng đâu có gì là lạ. Vậy mà bây giờ sao tôi thấy nó ngon thế, cứ mát cả ruột. Nhưng cũng hơi sợ, phải có chuyện gì ông giám đốc mới trọng đãi tôi như thế chứ.
Rượu đã ngấm, ông giám đốc nói:
– Trên công ty du lịch họ báo cho tôi biết khách sạn của chúng ta sắp đón một vị khách quan trọng. Ông này người Nhật, muốn đích thân sang xem xét, ký kết hợp đồng gì đó với Tổng công ty điện tư, tôi không biết rõ. Công ty du lịch nhờ chúng ta…, nói đúng ra là họ chỉ thị cho chúng ta phải dùng mọi cách chiếm được cảm tình của vị khách này.
– Thưa ông giám đốc, chúng tôi vẫn tiếp đãi rất lịch sự với mọi khách hàng.
– Đúng thế, tôi hiểu. Khách sạn chúng ta hết sức chiều khách. Nhưng theo tôi biết, vị giám đốc người Nhật này hình như đã già nên rất khó tính. Ví dụ trên công ty họ báo cho tôi biết là ông ta chỉ nói tiếng Nhật, không nói tiếng Anh tiếng Pháp hay bất cứ một thứ tiếng nào khác. Ngoài ra, có lẽ cũng vì tuổi già nên tính nết ông ta khắc khổ, cố chấp, không thích giao thiệp với mọi người…
Xương sống tôi lạnh toát. Tôi hiểu ông giám đốc muốn nói điều gì rồi. Quả nhiên ông ta kết luận:
– Tôi đã bàn kỹ với ông quản lý. Trường hợp này ta phải đưa ra một người lớn tuổi, có căn bản học thức đàng hoàng, nghĩa là ta dùng người trí thức để ông ta nể chứ không thể đưa ra mấy cô chiêu đãi viên trẻ đẹp hoặc một nhân viên thông dịch tiếng Nhật bình thường. Anh đồng ý với tôi chứ?
Đồng ý cái con khỉ! Tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà đồng ý với chẳng đồng ý.
– Dạ vâng, thưa ông giám đốc, tôi nghĩ như vậy cũng đúng…
– Xét trong khách sạn, tôi với ông quản lý nhất trí với nhau là chỉ có anh phù hợp vơi vai trò đó. Tôi chỉ định cho anh làm công tác tiếp đón khách, giúp đỡ khách sạn. Nếu anh tranh thủ được cảm tình của ông ta, chẳng những khách sạn sẽ có hoa hồng cho anh mà trên công ty cũng có phần thưởng. Họ nói với tôi như vậy. Còn nếu anh không làm nên công chuyện…
Ông ta không nói tiếp nhưng tôi hiểu. Nếu tôi làm không được việc thì sẽ bị cho nghỉ việc, về nhà nấu cơm cho vợ với đồng lương giáo viên cấp 3 không đủ sống của nhà tôi, mặc dầu nàng đã từng tốt nghiệp ĐHSP Sàigòn trước năm 75.
– Thưa ông giám đốc, tôi không dám mong được thưởng, nhưng sợ tiếng Nhật lâu không dùng tôi đã quên mất nhiều…
– Không sao, nhớ tới đâu thì dùng tơi đó. Tôi cần cái vốn kiến thức của anh để đối chọi với ông giám đốc người Nhật chứ không phải cần người thông dịch. Nếu chỉ cần thông dịch, tôi hô một tiếng thì thiếu gì người.
Ông ta ghê thế đấy, biết sử dụng cái trí thức của người khác vào công việc của mình chứ chẳng phải tốt. Ai nghĩ ông ta tốt hoặc nghĩ tôi ca tụng ông giám đốc khách sạn là lầm. Tôi không ca tụng. Kiếm được một thông dịch viên tiếng Nhật thì dễ, còn kiếm được một luật sư biết tiếng Nhật để chinh phục cảm tình của một ông già khó tính không phải chuyện dễ.
– Anh cứ yên tâm, tôi sẽ đích thân theo sát việc này và sẵn sàng cung cấp cho anh mọi phương tiện kể cả tài xế, xe cộ và các thứ khác. Dứt khoát anh phải tranh thủ bằng được cảm tình của ông ta.
– Vâng, thưa ông giám đốc, tôi sẽ cố gắng.
Tôi dợm đứng dậy. Ông giám đốc ngăn lại, tìm các giấy tờ trên bàn:
– À này, họ cho tôi biết tên ông ta là Kwann Tae Palms… Ủa, cái giấy trên công ty họ ghi tôi bỏ đâu mất rồi…- À đây, anh nhớ cho rõ, chỗ nào tôi cũng ghim sẵn người của ta, họ sẽ hậu thuẫn cho anh một cách tốt đẹp.
Rồi ông hỏi tôi:
– Anh đã có áo vest, cravát nọ kia chưa nhỉ?
– Thưa có.
– Vậy thì tốt. Anh cầm giấy này xuống phòng kế toán, bảo cô kế toán trưởng tôi quyết định ứng trước cho anh hai tháng lương. Đây, giấy tạm ứng đây. Nếu công việc tốt đẹp sẽ tính vào tiền hoa hồng.
– Vâng ạ, cám ơn ông giam đốc.
Tôi đi, tay cầm mảnh giấy. Đầu óc tôi suy nghĩ mông lung. Kỳ lạ, lại sao ông giám đốc Nhật lại tên Kwann Tae Palms, cái tên chẳng giống với Nhật mà cũng chẳng giống với Tàu. Theo tôi hiểu, người Nhật thì phải là Watanabe, Sabura, Saburo, Yamamoto, Fuda, Fudo, Honda, Yamaha, Suzuki..vv… Riêng cái họ Palms thì lại giống với Mỹ. Ngay đến cái tên cũng khó hiểu như thế chẳng trách ông ta khó tính, lẩm cẩm là phải. Coi chừng tôi bị mất việc dễ như chơi. Một luật sư, bao nhiêu công phu học hành, đi làm thằng bồi khách sạn hầu hạ người ta, ăn cơm thừa canh cặn vậy mà chỉ lo mất việc, vợ con sẽ đói.
oOo
Hôm sau, tôi và anh phụ tá được chiếc xe du lịch màu trắng gắn máy lạnh đưa ra phi cảng, đón ông giám đốc Nhật tận chân cầu thang máy bay. Đây là ngoại lệ. Theo tôi hiểu, đáng lẽ chúng tôi phải đón ở phía trong, sau khi ông ta đã làm thủ tục, khám xét, trình các giấy tờ.
Sau cái đưa mắt “ra hiệu ngầm” và hơi liếc mắt kín đáo về phía đằng sau của cô tiếp viên phi cảng, tôi rất ngạc nhiên: Ông giám đốc Nhật trông hãy còn trẻ, chỉ trạc ngoài bốn mươi ngang với tuổi tôi, gương mặt già dặn, có thể nói là rất có duyên. Nước da ông ta ngăm ngăm đen, mắt hai mí trông rất nhanh nhẹn chứ không một mí như mắt người Nhật hay người Đại Hàn. Đặc biệt, ông ta ăn mặc theo kiểu du lịch, áo sơ mi sọc chìm, quần Jeans, áo bỏ trong quần, sợi dây nịt to bản bằng da cá sấu, giầy Adidas màu trắng. Ôi cha, tôi thấy ông ta đẹp trai quá, không già nua, khắc khổ một tí nào cả.
Anh phụ tá đỡ chiếc túi xách trong khi tôi cúi đầu thật thấp theo kiểu người Nhật, nghĩa là mình cứng đong đong, cúi người theo hình thước thợ, tay chắp trước ngực, cố nặn ra từng tiếng Nhật :
– Kon ni chi wa! I ras shai ma se? Ha ji me ma shi te!
(Xin kính chào ngài. Ngài đi đường bình an chứ ạ? Chúng tôi rất vui mừng được đón tiếp ngài).
Ông ta ngớ người nhìn tôi, hơi nhíu mày dường như suy nghĩ điều gì, sau đó khẽ nhún vai, quyết định cũng chắp hai tay, cúi đầu thật thấp, chào lại:
– Konnichiwa! Hajimemashite!
(Xin kính chào ông! Tôi rất vui mừng được gặp ông!)
Giọng ông ta nhanh vả mạnh, tất nhiên thông thạo như… tiếng mẹ đẻ chứ không ỷ ạch như tôi. Tôi đoán tôi nói hay quá nên thấy ánh mắt ông ta có gì vui vẻ, tinh nghịch, pha lẫn nụ cười. Tôi lại hăng hái “nặn” tiếp và tự giới thiệu:
– Wa ta shi wa Trinh de su, ho te ru Y… Do zo yo ro shi ku!
(Thưa ngài, tôi tên là Trình, nhân viên khách sạn Y… rất sung sướng được cử đến đây đón tiếp ngài!)
Nét mặt ông giám đốc Nhật hình như vui hẳn lên. Ông mỉm cười nhìn tôi có vẻ thân thiện, sau đó cũng tự giới thiệu :
– Watashi wa Kwann desu, dozo yoroshiku!
(Thưa ông tôi tên là Kwann, rất sung sướng được cử đến đây gặp ông).
Tiếng Nhật dùng ý giống như tiếng Việt hay tiếng Tàu, nhân xưng đại danh từ “tôi” và “chúng tói” nhiều khi dùng chung với nhau, những tiếng như irasshaimashita và yoroshiku vừa có nghĩa là đón tiếp lại vừa có nghĩa gặp gỡ, tùy câu sử dụng. Hừ, lạ thật, tôi là anh bồi khách sạn chứ là cái quái gì mà ông ta nói rất sung sướng được cử đến đây “gặp” tôi? Ngoài ra, tôi để ý thấy những câu ông ta dùng đều bắt chước tôi đúng y chang nhưng thu gọn lại, nhanh và thông thạo hơn. Tại sao ông ta chọc ghẹo tôi với ánh mắt hóm hỉnh như vậy? Tôi nói tiếng Nhật có gì sai sót chăng?
Kiểm tra và làm thủ tục tại khu hải quan tương đối đơn giản do có “người của ta” xong, chúng tôi ra xe. Ông giám đốc Nhật đi lầm lối khác, tôi đưa tay lễ phép:
– Ko chi ra e do zo!
(Xin mời ngài đi lối này)
Ông khách giật mình ngửng lên, vui vẻ :
– Arigato gozaimasu!
(Vâng, xin cám ơn)
A, bây giờ thì ông ta không “bắt chước” tôi nữa. Tôi thấy có cảm tình với ông ta. Rõ ràng là ông ta mau mắn, lịch duyệt, không già nua khắc khổ như ông giám đốc khách sạn đã cho biết.
Anh tài xế đã đợi sẵn bên cạnh chiếc xe, vội vàng mở rộng các cửa mời mọi người lên và xếp va ly vào phía đằng sau. Ông giám đốc ra hiệu cho tôi ngồi bên cạnh ông ta, anh phụ tá ngồi bên trên với lài xế. Sau đó chiếc xe chuyển bánh lướt êm, máy lạnh mát rượi.
Xe chạy qua cổng Phi Long, vị khách luôn luôn nhíu mày nhìn những tấm bảng quảng cáo “vĩ đại” có vẻ suy nghĩ. Cặp mắt ông ta đăm chiêu, tò mò nhìn từng gốc cây, từng ngôi nhà cao tầng hiện đang xây cất hoặc đã xây cất ở hai bên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa tức Công Lý cũ, không hiểu ông ta thấy nó như thế nào so với bên Nhật.
Tôi nhẹ nhàng lấy gói Ba số 5 và chiếc hộp quẹt ga mới tinh mang lô-gô của Công ty du lịch Việt Nam, lễ độ mời khách :
– lp pon i ka ga de su ka?
(Xin kính mời ngài hút thuốc?)
Ông ta giật mình quay lại, nhíu mày khe khẽ lắc đầu:
– Kekko desu, arigato!
(Không, tôi không hút, xin cám ơn!)
Đoạn, không hiểu nghĩ sao, ông ta cầm lấy gói thuốc ngắm nghía hồi lâu rồi bỗng ngửng lên nhìn tôi:
– Do you usually smoke this kind of Three fives cigarette?
Ôi chao, đó là một câu tiếng Anh với nghĩa: Các ông có hay hút loại thuốc lá Ba Số Năm này không. Vậy thì ông ta cũng nói tiếng Anh đấy chứ đâu phải chỉ dùng tiếng Nhật một cách cố chấp? Tôi sung sướng quá, bèn khẽ lắc đầu nói như cái máy:
– Oh no, sir, we don’t.
Ồ không, thưa ngài, chúng tôi không hút – tôi dùng tiếng “we” – chúng tôi – một cách tổng quát chứ không dùng tiếng “I” riêng rẽ. Ông ta hỏi tại sao, tôi đáp “Because…”, rồi cũng chẳng biết “because” thế nào nên bèn trả lời một cách thành thật:
– Because this kind of cigarette is more and more expensive than our salary. It’s out of our ability.
Ý tôi muốn nói bởi vì loại thuốc lá này rất mắc so với tiền lương của chúng tôi, vượt quá khả năng của tôi. Vị khách bật cười rồi tự nhiên khẽ vỗ vai tôi thân mật như một người bạn. Tiếng Anh ông ta dùng còn thông thạo hơn cả tiếng Nhật mẹ đẻ của ông ta nữa:
– Ông bạn thân mến, ông bạn nghèo lắm phải không?
Tôi lắc đầu:
– Không, tôi có công ăn việc làm, không quá nghèo nhưng cũng không nghĩ rằng tôi giàu. Chúng tôi tiết kiệm tiền bạc.
Vị khách trẻ tuổi gật đầu:
– Tôi hiểu. Tôi cũng có vài người bạn Việt Nam ở hoàn cảnh của ông. Thỉnh thoảng tôi có gửi quà sang giúp họ.
Chà chà, tay này được quá, người Nhật mà thông cảm với hoàn cảnh của người Việt Nam, thỉnh thoảng gửi tiền sang giúp thì thật là một kẻ có lòng.
Xe chạy ngang qua phía trước Nhà khách Thống Nhất tức Dinh Độc Lập cũ, phía bên trái cách không xa lắm là Nhà thờ Đức Bà. Vị khách ngắm nhìn ngôi nhà thờ lớn nhất miền Nam, gật đầu có vẻ bằng lòng. Sau đó tự nhiên ông ta hỏi:
– Tôi đoán trước năm 75 ông bạn là một luật sư?
Tôi giật mình kinh ngạc:
– Vâng, trước đây tôi theo ngành Luật. Nhưng tại sao ngài biết điều đó?
Ông ta cười, trả lời:
– Tôi là một nhà tiên tri. Tôi biết những điều người khác không biết.
Xe về tới đường Đồng Khởi và từ từ táp vào lề đường trước cửa khách sạn. Các cô tiếp viên ra đón, xách giùm va ly cho khách. Đích thân ông giám đốc cùng nhiều người khác dẫn vị khách lên lầu, giới thiệu từng ưu điểm của căn phòng hạng nhất sang trọng.
Lúc tôi xuống, ông giám đốc đứng lại chờ ở chân cầu thang, thân mật vỗ vai tôi :
– Khá quá, cậu được việc quá. Tôi đã nghe báo cáo đầy đủ. Từ nay tôi cử cậu đặc trách theo sát ông ta. Công việc đâu đấy xong xuôi kế toán sẽ tính hoa hồng cho cậu. Cả trên công ty cũng sẽ thưởng nữa, họ không quên đâu.Nếu họ quên tôi đòi giùm cho.
– Vâng ạ, cám ơn ông giám đốc.
Kể từ hôm ấy tôi luôn luôn đi kèm với vị khách Nhật. Hình như đối với tôi ông ta cũng có cảm tình nào đó đặc biệt. Mỗi lần tới các cơ quan, đáng lẽ tôi phải ngồi trên chiếc ghế ở phía sau lưng như một thông dịch viên, nhưng ông ta giới thiệu tôi là một luật sư, cho phép tôi ngồi bên cạnh để vừa thông dịch vừa bàn bạc chuyện này chuyện khác với ông ta.
Đi dự những cuộc họp như thế, tôi thấy người nước ngoài họ khôn lắm, có những điều mới nhìn mình tưởng họ dại, sự thực là họ rất khôn, nhường một bước để nhảy mười bước. Trong khi đó, về phía bên mình, tôi không nói họ dại nhưng nói họ lanh. Lanh một cách láu cá vặt theo kiểu “thắng lợi tinh thần” trong A.Q Chính Truyện của Lỗ Tấn. Toàn những thầy dùi cấp dưới “cố vấn” mà cứ tưởng là mình giỏi lắm, thông minh lắm. Quan hệ quốc tế không thể dùng những hạng ngu dốt. Phải có kiến thức, phải có trí tuệ, nếu không, được lợi về sợi dây thừng thì sẽ mất cả con trâu. Gặp những trường hợp như thế tôi chỉ im lặng. Tôi không có quyền được góp ý kiến với họ. Tất cả các ông bên phía Việt Nam đều biết tôi là một anh bồi khách sạn nhưng biết tiếng Nhật, nể khách thì họ cho tôi được ngồi cùng bàn với họ theo tính cách “quan sát viên” vậy thôi.
Một lần, thấy họ “khôn ngoan” quá, lúc về, tôi kể cho vị khách nghe một đoạn trong Tam Quốc Chí – một tác phẩm văn học cổ điển của Trung Quốc rất quen thuộc với người Việt Nam. Tào Tháo dàn 83 vạn quân trên sông Trường Giang, chuẩn bị đánh chiếm Đông Ngô. Chu Du, đại tướng Đông Ngô muốn dùng hỏa công phá giặc nhưng lại sợ các chiến thuyền Tào riêng rẽ, đốt không hết được, bèn nhờ Bàng Thống xúi cho Tào Tháo kết các thuyền lại với nhau. Tháo không phải dại nhưng lúc ấy quân Tào không quen thủy thổ, say sóng, hay bịnh. Bàng Thống “xúi khôn” là nên dùng vòng sắt kết các thuyền lại với nhau, lót ván lên trên, người và ngựa đều đi được, quân sẽ hết bệnh. Tào Tháo mừng lắm, nghe lời. Bàng Thống trở về, ra tới bờ sông, bị một người nắm áo giữ lại: “A, anh này gớm thật, dám xúi Tào Tháo kết thuyền lại cho Chu Du đốt! Tháo nó ngu, bộ anh tưởng chúng ta cũng ngu, không ai biết mưu kế của anh hay sao?”. Bàng Thống giựt mình ngửng lên, nhìn ra thì thấy đó là Từ Thứ.
Kể xong, tôi kết luận:
– Đất nào cũng có kẻ sĩ, nước nào cũng có kẻ sĩ. Chẳng qua là cái vận mệnh nước tôi, kẻ sĩ bị coi như rơm như rác. Nếu thấy ông này ông nọ của chúng tôi ngu dại, xin các ông đừng nghĩ chúng tôi hết người.
Ông ta khẽ gật:
– Có, tôi hiểu. Tôi nghĩ đó là một trong những điều đáng buồn của nước các ông. Chúng tôi muốn làm ăn một cách tương xứng, không muốn “đốt” ai cả. Nhưng theo quy luật làm ăn, nếu họ tự đốt chính họ thì họ phải chịu.
Vị khách lâu nay gần như chỉ nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật.
Một hôm, ông ta mua tặng tôi một chiếc đồng hồ Seiko Five giá 45 đô la tức hơn năm trăm ngàn đồng Việt Nam. Tôi bật cười nói đùa:
– Đây là “phẩn thưởng” cho sự im lặng của tôi?
Ông ta cũng cười, lắc đầu:
– Không, ở Việt Nam trí thức bị cho nằm chơi, chẳng ai dùng cả. Dù không cần thưởng thì các ông vẫn phải đóng vai trò im lặng.
– Vậy thì tôi có đồng hồ của tôi rồi.
– Nó đã cũ, ông nên dùng chiếc mới và giữ nó làm kỷ niệm giữa tôi với ông.
– Vâng, xin cám ơn ông.
Việc ký kết hợp đồng giữa ông ta với phía Việt Nam tiến triển tốt đẹp. Tôi nhận được phong bì “ứng trước” do ông giám đốc khách sạn trao. Ông giám đốc bảo tiền hoa hồng của tôi khá hậu, ông ứng trước một số để tôi có tiền tiêu xài. Ngoài ra, ông khách Nhật cũng cho biết chỉ còn ở lại đây hai ngày nữa, tức sáng Thứ hai ông sẽ lên máy bay về nước.
Hôm đó là chiều Thứ bảy, một buổi chiều Sài Gòn thật đẹp. Mọi việc đã xong xuôi, vị khách Nhật hình như hơi rảnh. Ông ta nhìn qua khung cửa kính, có vẻ suy nghĩ rồi bảo tôi :
– Ông bạn luật sư thân mến – ông vẫn nói tiếng Anh, không nói tiếng Nhật – tôi sắp về nước. Tôi nghe nói ở bên Việt Nam có món “thịt cầy” (dog-meat) ngon lắm. Ông làm ơn dẫn tôi đi ăn đi.
Tôi kinh ngạc trợn tròn mắt:
– Thịt chó? Ý ông muốn nói đó là… đó là… món thịt của con chó?
– Đúng vậy, thịt của con chó.
Đoạn, ông ta nói tiếp:
– Theo tôi hiểu, nhà văn Trung quốc Lâm Ngữ Đường (tên tiếng Anh: Lin Yutang) có lẽ cũng rất thích món thịt cầy nên ông ta viết một truyện ngắn rất hay lấy tên là “Tướng Quân Thịt Chó” (tên truyện của Lâm Ngữ Đường: The Dog-meat General), tôi có đọc qua.
Tôi như rơi từ trên trời xuống đất. Mặc dầu là dân Thái bình Thái lọ, rất khoái món “nai đồng quê” nhưng tôi giải thích với vị khách Nhật rằng các quán “nai đồng quê” không phải là nhà hàng sang trọng, nếu tôi dẫn ông ta đến đó, lỡ có chuyện gì xảy ra tôi sẽ phải chịu trách nhiệm.
Tôi giải thích:
– Ngoài món “dog-meat”, người Việt Nam chúng tôi còn có các món khác rất ngon như ếch chiên bơ, cua rang muối, rắn xào lăn .. vv…, chúng ta nên đến đấy thì tốt hơn là đến các tiệm dog-meat.
– Oh yes! Very good! Nhưng chỉ có ông với tôi đi thôi, và tôi lái xe.
Ôi chú mẹc ơi, tôi lại như người rơi từ trên trời xuống đất lần nữa. Nói thế nào ông ta cũng không đồng ý, tôi bèn báo cáo chuyện này với ban giám đốc. Ông quản lý lắc đầu, lè lưỡi :
– Chết, người nước ngoài mà lái xe trên đường Sài Gòn thì coi như tiêu tùng tính mạng. Ông ta có biết đường đâu mà lái. Thôi, ông Trình cố nói khéo khéo, dành lấy tay lái, đừng để ông ta lái.
Tôi nói tôi lái, ông khách Nhật đồng ý vì không thích có người tài xế đi theo. Ngoài ra ông ta cũng mỉm cười khi nghe tôi kể lại lời ông quản lý.
Chúng tôi tới quán Thanh Sơn ở đường Nguyễn Cư Trinh gần rạp Hưng Đạo. Đây là hậu thân của quán Ba Thừa ở đường Bùi Viện ngày trước. Thanh Hải, Ba Thừa trước ngày giải phóng rất nổi tiếng về món la-de đặc – la-de ướp lạnh đến mức đông lại, phải vỗ vỗ đáy chai mới chảy ra, không phai bỏ đá – và những món đặc sản miền Nam như cua rang muối, ếch chiên bơ như đã kể trên.
Chúng tôi đang ăn, ông khách Nhật luôn luôn tấm tắc khen ngon thì một bọn trẻ bán thuốc lá, bán vé số biết ông là người nước ngoài nên bu lại mời mua. Ông khách lấy một gói Ba số và đưa tờ năm đô la. “Nô, nô, cái này hơn năm chục ngàn, cái này có mười mấy ngàn, không có tiền thối, nô, nô…”. Ông ta ra hiệu cho cả, tụi nó mừng rỡ thánh kiu rối rít rồi kéo nhau đi. Một đứa khác tới trễ không được chia, bèn giơ cả xấp vé trước mặt ông ta, mời mua bằng được. Ông lắc đầu nhưng nó cứ năn nỉ và tì cả người như nằm trên bàn để “ăn vạ”. Tôi nói:
– Ông này sắp về nước, không mua vé số đâu em ạ.
Cậu thanh niên chạy bàn hình như con trai ông bà chủ tiệm, đi ngang qua bèn bợp tai cho nó một cái, đuổi nó ra ngoài. Lúc nó đứng dậy, ôi cha, khuỷu tay nó loạng quạng thế nào đụng phải dĩa lươn um, đổ ráo xuống quần tôi. Nóng thì không nóng lắm nhưng bẩn, nhoè nhoẹt. Tôi cáu tiết, đứng rột dậy không biết phải làm cách nào:
– Thấy mẹ người ta rồi! Đã bảo mà, làm thế nào bây giờ?
Thằng bé cũng lúng túng, đứng giương mắt nhìn. Cậu con trai ông bà chủ tiệm lại bợp tai cho nó một cái nữa rồi kêu người nhà ra thu dọn và đem nước lau cho tôi.
Ông khách vẫn ngồi im quan sát. Thấy việc đâu đấy xong xuôi, tôi đã đỡ bực, ông mỉm cười hỏi:
– Bạn vừa mới nói hai tiếng “thấy mẹ”. Vậy “thấy mẹ” là gì, một tiếng lóng (a slang) hay một câu chửi (a rebuke)?
Đến bố tôi cũng không biết “thấy mẹ” là một tiếng lóng hay một câu chửi. Đang ấm ức về việc chiếc quần bị bẩn, tôi trả lời đại thấy mẹ là … “see mother”!
– Oh no, no, it isn’t. – Ông ta cãi, sau đó giải thích – In Vietnamese, “thấy mẹ” , it means…
Tòi rất ngạc nhiên, ông ta nói tiếng Anh nhưng phát âm hai tiếng “thấy mẹ” rất chuẩn, đúng giọng như một người Việt Nam. Tôi hỏi lại:
– Do you understand Vietnamese?
Ông ta cười lớn và xổ ra… một tràng tiếng Việt, thông thạo như người Việt Nam:
– Hiểu chứ sao không hiểu! Bởi vì tao là một thằng Việt Nam chính gốc, đếch phải người Nhật!
Và ông ta lại cười:
– Mày ngốc lắm Trình ạ. Tao nhận ra mày ngay từ lúc vừa mới gặp ở chân cầu thang máy bay còn mày thì không nhận ra tao.
Một hình ảnh nào đó từ hồi còn đi học bỗng hiện ra trong trí óc tôi:
– Cậu… cậu là thằng Quân đen?
– Chứ còn thằng chó nào vào đấy nữa! Bạn bè, thật, học với nhau từ lớp Đệ Thất Nguyễn Trãi sau đó lên Chu Văn An mà mày không nhận ra tao!
– Xin lỗi, tớ trông cậu cũng quen quen nhưng cứ yên chí cậu là một tay giám đốc người Nhật. Hơn nữa cậu lấy tên là Kwann Tae Palms thành thử tớ lầm.
– Có gì lạ đâu, đây nhé, cậu biết tên tớ là Phạm Thế Quân. Lúc sang Mỹ, nhập quốc tịch Mỹ, tớ tinh nghịch đổi cái tên Phạm Thế Quân thành Quân Thế Phạm, tức “Kuann Tae Palms” chứ chẳng có gì khó.
– Cậu quốc tịch Mỹ, không phải quốc tịch Nhật?
– Không, tớ quốc tịch Mỹ, vợ tớ người Nhật.
Quân kể cho tôi nghe, hồi đó học xong kỹ sư Phú Thọ, hắn được bổ đi làm trưởng ty công chánh tại một tỉnh khỉ ho cò gáy ở ngoài miền Trung. Ngày “giải phóng” 30 tháng Tư, gặp tàu, hắn nhảy xuống tàu, sang được bên Mỹ, vừa đi làm vừa đi học về ngành kỹ sư điện tử. Trong lớp hắn học có một cô sinh viên người Nhật cũng chuyên về ngành điện tử. Hai bên yêu nhau, sau khi tốt nghiệp, có công ăn việc làm hắn bèn cưới cô ta làm vợ. Hai vợ chồng làm trong một công ty Mỹ, hắn rất siêng năng nên leo dần lên chức vị pnó giám đốc. Vợ hắn sinh đứa con gái đầu lòng, bố mẹ vợ hắn viết thư sang giục vợ chồng hắn đừng làm bên Mỹ nữa, về sống bên Nhật, bố vợ hắn sẽ thu xếp cho hắn làm giám đốc một trong các công ty của ông. Thì ra, bố vợ hắn là một nhà tư bản, tổng giám đốc một công ty lớn chuyên về điện tử tại Nhật. Bây giờ vợ hắn đã sinh đứa thứ hai rất xinh, con trai, còn hắn thì vẫn làm giám đốc một công ty của bố vợ hắn.
– Ông già đã lớn tuổi nên cẩn thận lắm cậu ạ. Cử tớ sang Việt Nam xem xét, ký kết hợp đồng nhưng lại sợ tớ là người Việt Nam, phía bên này sẽ ỷ y, bởi vậy ổng ra lệnh cho tớ phải nói toàn tiếng Nhật và đánh tiếng rằng ông giám đốc Nhật đã già nên rất khó tánh.
– Tớ hiểu, người nước ngoài họ vẫn cẩn thận như vậy.
Hắn cười:
– Tiếng Nhật thì tớ cũng tà tà như cậu vậy thôi, do vợ tớ dạy. Sang bên này, gặp cậu tớ mừng lắm. Không ngờ sau bao nhiêu năm trôi nổi, hai thằng chó chết tụi mình lại gặp nhau.
– Tớ mới chó chết, cậu không chó chết. Cậu tạo sự nghiệp bằng hai bàn tay, không phải là đứa chó chết.
Hắn thở dài:
– Nhiều lúc suy nghĩ tớ thấy buồn lắm, một đời du tử…
Và hắn nói tiếp:
– Tớ xin lỗi cậu về việc đã làm mặt xa lạ, bữa nay mới bày ra chuyện “dog-meat” để có thì giờ gặp riêng cậu. Tớ muốn nhờ cậu một việc…
– Việc gì vậy? Bạn bè với nhau từ nhỏ, cậu nhờ việc gì tớ cũng sẵn lòng.
Hắn lại suy nghĩ và khẽ thờ dài:
– Cậu biết đấy, tớ còn một bà mẹ già. Năm nay bà cụ tớ đã tám mươi mốt tuổi, hai mắt đã lòa, ở với ông anh tớ ở Nam Định ngoài Bắc. Tớ thương mẹ tớ lắm…
– Chuyện, tụi mình toàn những thằng nghèo khó như nhau, đứa nào mà chả thương bố mẹ.
– Cám ơn cậu. Ngày trước hồi mới di cư gia đình tớ cũng nghèo như gia đình cậu. Bà cụ tớ thắt lưng buộc bụng, buôn bán mấy trái cam trái quýt với đứa em gái tớ ở chợ Bà Chiểu, nuôi tớ ăn học. Tớ mới tốt nghiệp, có thể nói là chưa báo đền gì được thì việc đổ vỡ to lớn xảy ra, tớ gặp tàu bèn nhảy xuống tàu, sang sống một mình bên Mỹ, bỏ mẹ tớ với đứa em gái ở lại. Điều đó làm tớ rất đau lòng…
Hắn tiếp:
– Cách đây mấy năm tớ có viết thư về quê liên lạc được với ông anh tớ. Từ đấy tớ luôn luôn gửi quà về để ông ấy có phương tiện phụng dưỡng mẹ già. Nhưng tiền bạc là một chuyện mà tình cảm gia đình lại là chuyện khác…
– Đúng vậy, rồi sao nữa?
– Tớ định nhờ cậu đem một số tiền khá lớn ra Bắc, đưa cho ông anh tớ, giúp đỡ ý kiến để ông ấy sửa sang nhà cửa, xây lại ngôi từ đường thật khang trang theo ý muốn của bà cụ, và nói với cụ rằng tớ hứa nội trong năm tới thế nào cũng thu xếp công việc, đem vợ con về Việt Nam thăm mẹ. Tớ đã nói với tay giám đốc khách sạn là nhờ cậu ra Hà Nội xem xét giùm tớ tình hình giấy tờ ngoài ấy xem sao, có cần gì sửa chữa không. Tay giám đốc đồng ý lắm. Việc đó dễ, dưới con mắt của một luật sư như cậu, chỉ liếc qua là cậu biết liền có khi còn hơn tớ nữa. Nhưng vấn đề chính là cậu về Nam Định đưa tiền giùm cho ông anh tớ. Sáng mai cỡ chín giờ tớ đem tiền tới nhà cậu, ở chơi vơi cậu một ngày, tụi mình nói chuyện thật nhiều rồi sáng Thứ hai tớ lên máy bay về Nhật.
Và hắn hỏi tôi:
– Bà cụ cậu vẫn mạnh khoẻ chứ?
– Cám ơn cậu, bà cụ tớ còn nhưng năm nay đã bảy mươi chín tuổi, kém bà cụ cậu hai tuổi, không được khỏe lắm. Thỉnh thoảng cụ vẫn nhắc cậu Quân không biết bây giờ ở đâu, tớ nói có lẽ ở bên Mỹ.
– Thế này nhé, lát về cậu đưa tớ ghé vào thăm cụ một chút cho nhớ nhà rồi mai tớ đến. Nhà cậu vẫn ở Tân Định?
– Ừ.
Hôm sau hắn tới. Buổi trưa, ăn cơm xong, hắn ngồi một mình ngoài hiên trên lầu bên thành lan can. Nhà tôi vắt hai ly cam tươi bưng ra. Hắn mỉm cười nhìn tôi, khe khẽ lắc đầu :
– Chị cẩn thận giống hệt nhà tôi ở bên Nhật… À này, Trình, cậu có còn nhớ bài “Du tử ngâm” của Mạnh Giao ngày trước cụ Tú Anh dạy tụi mình hồi lớp Đệ Thất, Đệ Lục ở Nguyễn Trãi, sau đó lên Chu Văn An không nhỉ?
– Nhớ chứ, cụ Tú khó muốn chết, đứa nào không thuộc, không nhớ mặt chữ cụ mắng quá trời quá đất, đứa nào mà chả thuộc.
Tay hắn đang cầm chiếc que, hắn gõ nhè nhẹ vào thành lan can và đọc khe khẽ:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
Hắn thở dài :
– Ở bên Nhật, hễ bận thì thôi, cứ lúc nào rảnh đầu óc tớ lại nghĩ tới hình ảnh ba mẹ con tớ lúc mới di cư vào Nam. Ông cụ tớ mất hồi gia đình còn ở ngoài Bắc. Mẹ tớ một mình tần tảo nuôi tớ ăn học. Con Chi, em gái tớ chắc cậu đã biết, lúc ấy còn nhỏ, mới lên bốn còn tớ lên sáu. Mẹ tớ trước bán bánh cuốn, sau bán trái cây ở chợ Bà Chiểu. Lúc tớ thi đậu vào lớp Đệ Thất trường công là lúc mẹ tớ đã dành dụm được chút đỉnh, không còn phải bữa đói bữa no nữa. Vậy mà cậu thấy đấy, trong túi tụi mình có đứa nào có lấy được vài đồng đâu. Thỉnh thoảng bà cụ tớ hay bà cụ cậu cho được một đồng thì thì hai đứa tụi mình chia nhau uống chung một ly nước mía. Bà cụ tớ quý cậu lắm. Nay hai mắt cụ đã lòa…
– Có, tớ biết. Hồi ông anh cả vào đây đón cụ ra Bắc tớ có đi tiễn. Ông anh mua vé xe lửa Thống Nhất, ghế ngồi, bảo sẽ xuống ga Nam Định. Thấy đông người quá, trong tàu chật như nêm cối, ghế gỗ cứng ngắc mà lại phải ngồi ba ngày ba đêm không nhúc nhích nổi, tớ chảy nước mắt. Cụ cũng khóc, đưa hai tay quờ quạng sờ mặt tớ và nói sẽ chẳng bao giờ có dịp gặp lại nữa.Tớ ra ngoài ấy chắc cụ với ông cả mừng lắm….
Quân chớp mắt. Hắn cúi mặt như cố che giấu cảm động, sau đó khẽ thở dài bảo tôi:
– Tớ chỉ lo mẹ tớ mất trước khi tớ về cậu ạ. Bởi vậy ra đấy cậu nhớ lạy mẹ tớ một lạy xin cụ tha thứ cho tớ và nói năm tới thế nào tớ cũng về thăm mẹ.
– Được cậu cứ yên tâm.
– Ngồi ăn cơm với cụ và vợ chồng cậu tớ cảm động lắm. Tớ mong được tự tay xé thịt gà tiếp vào bát cho bà cụ tớ cũng giống như cậu. Mẹ tớ hai mắt đã lòa…
– Có tớ hiểu.
Thế rồi sáng Thứ hai hắn lên máy bay về Nhật thì sáng Thứ ba tôi ra Hà Nội. Tôi đi xe lửa, vé nằm, loại tàu nhanh hai ngày hai đêm, không đi máy bay vì tính tôi tiết kiệm. Những lúc ngồi bên cửa sổ ngắm cảnh núi non hùng vĩ của vùng đèo Hải Vân, đèo Ngang, đầu óc tôi lại miên man nghĩ tới hình ảnh lúc hắn sắp lên máy bay, chúng tôi đưa tiễn. Hắn giơ tay chào tạm biệt “Sayônara!”. Chúng tôi cũng “Sayônara!”. Rồi trong lúc mọi người không để ý, hắn kín đáo chắp tay lạy về phía tôi một lạy. Tôi hiểu ý nghĩa của cái lạy đó nên chỉ khe khẽ gật đầu cho hắn yên lòng, không cần lạy lại. Bây giờ tôi có bổn phận đem cái lạy đó ra ngoài Bắc cùng với lời dặn hắn sẽ trở về. Và đầu óc tôi cứ miên man nghĩ đến bài ca của người du tử:
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y…
Làm con thì phải như vậy. Tôi yêu bài thơ đó lắm.
Đoàn Dự
Hồi ký của LHN (Nghĩa LĐ)
(Sưu tầm trên Internet)
Một thanh niên Á Châu sau khi xếp đồ vào xe, đẩy chiếc xe chở đồ lại chỗ trả xe. Ông già vô gia cư – cứ tạm cho rằng ông già là người vô gia cư đi – đăm đăm nhìn người thanh niên. Hai mắt mở lớn. Hai con mắt mệt mỏi nhưng sao tôi vẫn thấy từ đó ánh lên cái gì như tia hy vọng. Có thể là tôi để trí tưởng tượng rong ruổi như con ngựa được nới lỏng dây cương. Người thanh niên đẩy chiếc xe chở đồ chợ lại chỗ trả xe.
Ngày trước, thiên hạ dùng xe chở đồ xong, thường hay bỏ đại trong bãi đậu xe, cửa tiệm phải thuê nhân viên đi gom những chiếc xe đẩy ấy về tiệm. Rồi người ta nghĩ ra cách gắn sợi dây xích vào xe. Muốn dùng xe, bạn phải gài một đồng bạc cắc vào cho sợi xích tuột ra. Dùng xong, trả xe lại chỗ cũ, gài sợi dây xích vào bộ phận khóa xe, đồng bạc rơi ra. Bạn lấy lại được đồng bạc và cùng lúc bạn trở thành người lịch sự vì đã trả chiếc xe đẩy hàng về chỗ cũ.
Ông già đứng chờ ở chỗ thiên hạ trả xe đẩy hàng, cạnh cửa ra vào tiệm thực phẩm Á Châu. Ông cụ mong ngóng từ tâm của khách hàng. Và con mắt ông cụ sáng lên khi người thanh niên đẩy chiếc xe lại chỗ trả. Anh ta gài sợi dây từ chiếc xe trước vào xe mình để đồng tiền cắc một đồng lọt ra. Ông già chớp vội hai mắt chờ đợi. Người thanh niên cầm đồng xu và ném về phía ông già. Ông già nhanh miệng cảm ơn và đưa tay đón bắt, nhưng hụt, và đồng tiền lăn tròn trên nền xi măng, phía dưới những chiếc xe đẩy cho khách dùng chất đồ mua trong tiệm. Đồng tiền mất hút khỏi tầm nhìn. Ông già khom lưng tìm. Nhưng dù có trông thấy đồng bạc cũng chẳng cách nào lấy ra được trừ khi tháo hết từng chiếc xe một để chừa ra khoảng trống. Ông cụ cứ loay hoay hết đứng thẳng lại cắm cúi tìm kiếm.
Một người đàn bà và một bé gái đi qua chỗ ông già. Bé gái chăm chăm nhìn ông già đang lom khom tìm kiếm kia. Bé gái níu tay người đàn bà. Và hai mẹ con – chắc là hai mẹ con – dừng lại. Em bé buông tay mẹ chạy đến bên ông già hỏi ông già tìm gì. Ông già chỉ vu vơ xuống khoảng nền xi măng phía dưới những chiếc xe đẩy dành cho khách hàng.
–The loonie. My loonie. Đồng bạc của tôi.
Loonie là tiền cắc một đồng ở Canada, có hình con loon, một loại chim có thể lặn dưới nước như vịt, sống nhiều ở bắc bán cầu. Đồng loonie lăn tận xó kẹt nào đó. Và ông già lom khom tìm kiếm. Bé gái cũng khom người nhìn theo hướng ngón tay chỉ của ông cụ.Buổi sáng, trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu, tôi ngồi đếm những tấm lòng. Tôi thầm tiếc người thanh niên đã có lòng cho ông cụ một đồng bạc mà không dám đưa tận tay ông già để đồng bạc lăn đi mất. Và bất chợt, tôi nhận ra rằng đó là hành vi thường thấy ở những nơi thiếu sự tôn trọng người khác. Ngay cả đối với loài vật cách cư xử của con người cũng khác biệt tùy nếp sống văn hóa của chính họ. Ở các nước như Việt Nam, người ta ném xương cho chó chứ ít có người đặt miếng ăn một cách từ tốn trước mặt con vật. Ở những nền văn hóa tôn trọng đối tượng (con vật hay con người) người ta đặt thức ăn trước mặt con vật, xoa đầu nó, nhiều người còn bon appétit! với nó. Với kẻ bần hàn, người ta đặt đồng bạc từ tâm vào lòng bàn tay họ chứ không quăng đồng bạc – một cách khinh mạn – như người thanh niên trước cửa tiệm thực phẩm Á Châu mà tôi gặp. Và tôi nhận ra sự khác biệt giữa hành vi chia sẻ và hành vi bố thí, dẫu cả hai cùng phát xuất từ một chút từ tâm. Phát sinh từ lòng trắc ẩn, đồng loonie của người thanh niên kia là đồng tiền bố thí cho kẻ khốn cùng, còn đồng loonie của cô bé là đồng tiền chia sẻ với một người nghèo khó.
2. Câu chuyện thứ hai: Người tù được thả vào buổi sáng tinh mơ, khi nắng còn le lói sau những ngọn cây. Đám người thăm nuôi vây quanh. Những câu chào xen lẫn những lời hỏi thăm tíu tít. Có gặp anh A, anh B, ông C… trong đó không. Có, tôi có gặp ông C nhưng không gặp ông A. Hình như ông A đã được chuyển trại cách đây mấy tuần rồi. Thế còn ông B. Ông B cũng vậy. Chuyển trại mà không báo cho người nhà biết à. Dĩ nhiên rồi. Chuyển trại. Đem đi đày nơi khác – một nơi không ai biết – là chuyện thường tình ở đất nước này. Tôi đang nói về đất nước Việt Nam, và năm xảy ra câu chuyện này là 1979 khi cả nước Việt Nam tội nghiệp đã loe loét sắc đỏ của cái chủ nghĩa tồi tàn. Năm ấy, tôi ở cái nơi có tên Trại Tạm Giam Kiên Giang, tôi bị giam TẠM trong khám lớn vì bị tình nghi “tham gia những hoạt động chống phá cách mạng.” Buổi sáng, tôi được trả tự do sau một năm tù đày. Cái đầu tóc vừa mới cạo lởm chởm được mấy hôm. Thằng bạn tù tự nhận là ngoài đời có nghề hớt tóc. Có nghề thì có việc làm, được đứng giữa trời nắng, phơi những mụn ghẻ và hít thở không khí trong lành, nghe được tiếng chim hót, thỉnh thoảng được ngắm nhìn những con chim chọc ghẹo nhau tíu tít trên những cành cây rậm lá. Tên bạn tù tự nhận là có nghề cắt tóc. Tôi đem cái đầu chấy rận bù xù ra cho nó thanh toán. Tên thợ cắt tóc như cóc gặm. Lũ bạn đồng tù nhìn tác phẩm của nó, phê bình như thế. Cái đầu cóc gặm. Nhưng như vậy vẫn hơn để nguyên mớ tóc rối bù suốt ngày gãi xồn xột, đôi khi làm rụng xuống những con chấy kềnh no nê bụng căng máu đỏ.
Buổi sáng, tôi mang cái đầu cóc gặm, đi chân đất – bởi đôi giầy đã bị chúng tịch thu ngay khi bị bắt khoảng một năm trước đó – loanh quanh giữa đám đông, tìm người nhà. Tôi chớp mắt ngỡ ngàng với nắng. Tôi luống cuống nhìn quanh. Bao nhiêu khuôn mặt xa lạ nhưng gần gũi. Những người mẹ đi thăm con, những người vợ đi thăm chồng, những người em gái đi thăm anh, những đứa con gái đi thăm cha. Những kẻ có người thân là tù nhân, buổi sáng, tụ đầy ngoài cổng khám lớn, chờ gửi quà vào cho người nhà đang bị giam cầm. Tôi cũng là tù nhân và họ là những kẻ đi thăm (nuôi) tù. Có lẽ vì vậy mà chúng tôi thấy gần gũi. Tôi ở tù, bố mẹ không biết tin nên chẳng được thăm nuôi. Và tôi đứng xớ rớ, ngẩn ngơ nhìn mọi người. Gần một năm trời co cụm giữa bốn bức tường. Hít chung bầu không khí nặng hơi người và đủ thứ mùi xú uế đã quen, bây giờ hít thở lại thứ không khí trong lành, tôi mang cảm giác của người đi lạc. Lạc tới một nơi chốn không quen, chưa hề đặt chân tới bao giờ. Tôi được trả tự do. Đôi giầy đã bị tước đoạt ngay lúc mới bị bắt. Giấy tờ tùy thân và quyết định phân công ra trường đám cai tù không biết ai giữ, tôi cũng không dám đòi vì đã từng có nhiều tù nhân khi được trả tự do, đã đòi lại giấy tờ, và vì không tìm thấy giấy tờ của họ, đám cai tù bắt giam họ trở lại để “chờ giải quyết sau.” Tóc tai lởm chởm. Mặt mũi hốc hác, xanh xao. Tay chân ghẻ lở trầy trụa. Mặt mũi ngơ ngáo. Tôi ngẩn ngơ cả với ánh nắng nóng ran trên da mặt. Tất cả như lạ, như quen. Một người đàn bà còn khá trẻ đứng xa xa nhìn về phía tôi khi tôi giải thích cho người nhà ông A, ông B biết cách người ta chuyển tù. Thế này nhé: không hề báo trước, người ta bất ngờ mở hé cái lỗ vuông vức trên khung cửa. Người ta chõ mồm vào đọc những cái tên. Trại giam đang ồn ào như phiên chợ bỗng dưng im bặt. Những cái tên được đọc lên. Người ta đọc nguyên một danh sách và bảo những người có tên trong danh sách ấy thu gom đồ đạc của mình trong vòng năm phút. Những người có tên trong danh sách ấy có thể sẽ được trả tự do, có thể được chuyển qua trại khác, có thể bị chuyển đi U Minh. U Minh là nơi người ta đày những người tù bất trị. Tóm lại đó đơn giản chỉ là một danh sách tù nhân. Có thể được trả tự do hay bị chuyển sang trại khác, có thể là đi đày. Chuyện gì xảy ra cho họ chỉ mình họ biết. Đám bạn đồng tù chỉ có thể đoán mò. Nghe giải thích xong, những người thăm nuôi tản mát về phía cổng trại giam. Chợt người phụ nữ còn khá trẻ kia tiến đến bên tôi. Tôi ngước nhìn, chờ câu hỏi thăm của chị nhưng chị bất ngờ giúi vào tay tôi mảnh giấy nhỏ. Tôi ngỡ ngàng nhìn tờ giấy trong lòng bàn tay mình. Đó là tờ giấy bạc năm mươi đồng. Bạn hãy hình dung năm mươi đồng ở nước Cộng Hòa Xả Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của năm 1979. Tôi ú ớ không biết nói sao. Nhưng chị đã mau miệng nói:
-“Anh cầm lấy để mua vé xe về nhà. Chừng nào trả cũng được.”
Và chị quay ngoắt đi, lẩn vội vào đám đông. Bạn có biết 50 đồng năm 1979 lớn cỡ nào không? Tôi hồi ấy, bác sĩ mới ra trường lương tháng trong hai năm đầu là 85% của 60 đồng tiền mới đổi (còn gọi là tiền Hồ).
Từ đó, khi nhìn thấy bất kỳ người phụ nữ Việt lam lũ, nghèo nàn nào ngoài đời sống hay trong hình chụp, trong hay ngoài đất nước Việt Nam, tôi cũng đều nghĩ là chị ấy; người đã giúi đồng năm chục vào tay anh chàng bác sĩ trẻ măng vừa mới ra tù; một kẻ không quen biết, cùng với lời dặn dò: “Chừng nào trả cũng được!”
Hôm nay tôi kể lại câu chuyện năm xưa. Biết đâu người chị không quen biết năm nào tình cờ đọc được. Chắc chị sẽ không tìm gặp người đã nhận sự giúp đỡ năm xưa của chị để nhận lại số tiền cho mượn. Tôi cũng không dám nghĩ sẽ gặp lại chị để trả lại chị năm mươi đồng bạc quý giá năm xưa, tôi chỉ mong gặp chị, để nói với chị một lời cảm ơn – bởi hôm ấy, trong lúc tôi còn ngẩn ngơ trước cử chỉ quá bất ngờ, chưa kịp nói câu gì thì chị đã biến đi. Chị biến đi như bà tiên trong chuyện cổ tích. Tôi muốn nói với chị lời cảm ơn bởi chị đã để lại trong tôi hình ảnh tuyệt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Bởi không biết chị là ai nên nhìn người nữ nào tôi cũng nghĩ là chị; người mẹ, người cô, người dì, người thím, người chị, người em gái đúng nghĩa.
Mấy mươi năm sau, ở quê hương thứ hai, tôi lại gặp một người nữ, một người nữ trẻ thơ, một người nữ có tấm lòng; người đã nhét vào lòng bàn tay ông già vô gia cư trước tiệm thực phẩm Á Châu đồng tiền nhân ái. Những người nữ đã làm rực rỡ thêm hình ảnh đẹp tuyệt vời nơi người phụ nữ. Và cho đến bây giờ tôi vẫn tin người phụ nữ đẹp là người có tấm lòng nhân ái.
À quên, lòng nhân ái và sự ngây thơ. Bởi buổi sáng hôm ấy, bạn biết không, khi bà mẹ nói với bé gái trước cửa tiệm tạp hóa Á Châu: You’re a good girl, bé gái đã nói với mẹ một câu dài mà tôi hiểu được như thế này:
-“Mẹ ơi con tiếc quá, phải như ông cụ không bị mất đồng loonie của ông ấy thì bây giờ ông ấy đã có tới hai đồng rồi!”
Ơi, cái ngây thơ đầy thánh thiện!
(Dựa theo một câu chuyện có thật của một cựu sĩ quan CSQG,
nhưng tên các nhân vật đã được thay đổi)


K1 Bửu Hồng cho biết vừa nhận tin từ K1 Bửu ở VN : K1 Nguyễn Văn Suốt bệnh nặng phải vào Nhà Thương và phải giải phẫu.
K1 Bắc Cali Hạp Đinh ,Nghiệp Phan và Nại Trần xin đóng góp mỗi người 50 (150$) . Xin quý anh chị cho biết con số đóng góp . Bửu Hồng sẽ gọi điện thoại về cho Bửu VN để ứng trước . Sau đó sẽ gởi hoàn lại cho K1 Bửu Hồng lo việc nầy .
Đinh Văn Hạp 50$00
Phan Quang Nghiep 50$00
Trần Quốc Nại 50$00
……………………………………
TM K1 Bắc Cali
Hạp+Nghiệp
4/6/2021
Nhân Quả Có Thật Không?
Nói tới chuyện Nhân Quả có khi người ta cho đó là “quê mùa” giống như chuyện “Rắn Báo Oán” chẳng hạn. Thế nhưng Luật Nhân Quả lại là định luật bất biến chi phối sự tồn vong của khoa học. Nếu mai đây khí Hydrogen và khí Oxygen hợp lại mà không thành nước thì khoa học xụp đổ, cuộc sống con người và thiên nhiên đảo lộn hòan tòan. Luật Nhân Quả (Cause and Effect Law) chi phối mọi họat động của con người, từng giờ , từng phút, từng sát na nhưng con người không thèm để ý. Chỉ khi hậu quả xảy đến người ta mới chịu tin. Chẳng hạn một cậu thanh niên gia nhập băng đảng, trộm cướp rồi vào tù. Trong tù cậu hối hận suy nghĩ. Cái chuyện ngồi tù ngày hôm nay chẳng phải tình cờ mà có hoặc do Thần Linh làm ra. Nguyên do, nguyên nhân hay cái Nhân của nó bắt nguồn từ lúc cậu không nghe lời cha mẹ, thầy cô, chơi bời lêu lổng. Từ chơi bời lêu lổng cho nên có dịp (có duyên) gần gũi với băng đảng, du đãng, trộm cướp, xã hội đen. Từ chuyện gia nhập băng đảng du đãng đưa tới việc làm phi pháp, bất chính. Việc làm phi pháp, bất chính đưa đến tù tội. Ngày hôm nay, dù cậu có ăn năn, hối hận thì cũng quá muộn màng. Muộn màng ở đây có nghĩa là cậu không thể thay đổi cái Quả – tức là bản án tù, hoặc cảnh tù tội đang diễn ra sờ sờ trước mắt. Cậu phải nhận lãnh cái Quả do việc mình làm. Tuy nhiên sự hối cải, sự ăn năn, sám hối lại rất tốt đẹp và không có gì muộn màng nếu nhìn về tương lai. Giả sử cậu thanh niên thật sự hối hận và không muốn sau này cuộc đời u ám nữa. Cậu bắt đầu hiểu sơ sơ về Luật Nhân Quả tức là sẽ không gieo nhân xấu nữa. Muốn gieo nhân lành thì không gì bằng không làm việc xấu hoặc làm việc tốt lành. Trong hòan cảnh tù tội, việc làm tốt lành có thể là: Tuân thủ mọi luật lệ của trại giam, giữ gìn hạnh kiểm tốt. Không kết bè, kết đảng trong tù để tranh giành một chút lợi lộc, thanh tóan lẫn nhau. Tham gia các chương trình huấn nghệ để sau này có một nghề nghiệp chân chính để sinh sống (Chánh Nghiệp). Xin phép giám thị trại giam đem sách vở, kinh Phật vào trau giồi thêm vì cuộc sống tù tội cách ly với thế giới bên ngòai khiến người tù trở nên lạc hậu. Nếu đêm đêm ngồi Thiền, quán tưởng được thì càng tốt. Trong những lúc đêm khuya vắng lặng hãy quán xét về những việc mình làm trong quá khứ xem có thật sự là những việc đúng đắn không? Nhớ giữ gìn sức khỏe, đừng bi quan, tiêu cực, hủy họai thân thể. Luôn luôn quán tưởng rằng “vạn vật vô thường” cho nên cái cảnh tù tội ngày hôm nay cũng là vô thường, tạm bợ. Rồi ngày mai đây sẽ là một ngày mới. Ngày mới có tốt đẹp hay không là tùy nơi ta. Rồi cậu có thể hình dung tới cha già, mẹ yếu, gia đình anh chị em đang ray rứt khổ đau vì đứa con, người cha, người chồng, người anh, đứa em đang trong vòng tù tội. Rồi quán tưởng tới bạn bè cũng đang mong ngóng mình trở về với thế giới an lành. Rồi nguyện rằng trong ngày trở về, cậu sẽ ôm cha mẹ khóc rồi hứa từ đây sẽ tu chỉnh lại, sẽ làm ăn chân chính, sẽ không ngại khó ngại khổ, sẽ cố gắng vươn lên với đời để đền đáp công ơn dưỡng dục.
Đấy là câu chuyện cậu thanh niên hư hỏng, còn chuyện hâm nóng địa cầu thì sao? Hơn 100 năm nay, do nhu cầu sản xuất đại quy mô, vừa để tiêu thụ, vừa để xuất cảng, các nhà máy cứ “ung dung” nhả khói lên trời và tưởng như chẳng gây hậu quả gì. Có ngờ đâu khí CO2 bốc lên đã làm cho lớp Ozone – có nhiệm vụ che chở trái đất bởi hơi nóng của mặt trời, mỏng đi. Hậu quả là trái đất nóng dần. Nơi thì lụt lội, nơi thì biến thành sa mạc. Trong tương lại một số hòn đảo sẽ vĩnh viễn chìm xuống mặt biển. Rồi còn nhiều tai họa nữa mà các khoa học gia chưa khám phá hết. Nhân lọai thấy cái Quả hiện lù lù trước mắt bèn cuống cuồng họp nhau ở Copenhagen (Đan Mạch) từ ngày 7-18/12/2009 để tìm phương giải quyết. Nhưng liệu những cam kết có được tôn trọng không? Hay lại tiếp tục tạo nghiệp, gieo Nhân tức là tiếp tục nhả khói lên trời? Chuyên địa cầu hâm nóng ngày hôm nay lại thêm một bằng chứng hùng hồn cho thấy sự tồn vong của trái đất, sinh mệnh của trái đất là do con người quyết định chứ chẳng phải do Thần Linh Tối Thượng nào cả. Dầu sao thì sự “ăn năn hối lỗi” (ở đây là ý thức của nhân lọai) dù muộn màng nhưng “có còn hơn không” giống như sự ăn năn của cậu thanh niên nói ở trên.
Thưa quý bạn. Nếu hiểu được như thế, nếu nhìn được như thế thì Luật Nhân Quả có gì gọi là “quê mùa” ? Có gì là mê tín dị đoan? Hiểu Luật Nhân Quả sẽ giúp chúng ta sống chừng mực, làm chuyện đúng đắn trong cuộc sống. Không tạo khổ đau cho chính mình. Không tạo khổ đau cho người, tạo sự an lành cho thế giới, như thế gọi là sống với tâm hồn cao thượng. Nếu mọi người, mọi nhà đều thực hành Luật Nhân Quả họăc biết sợ Nhân Quả thì thế giới này biến thành một Cung Trời mà chẳng cần phải bôn ba tìm kiếm Thiên Đường ở đâu khác.
Trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh, giáo hóa đệ tử, Đức Phật nói rất nhiều về Nhân Quả, đặc biệt tại pháp hội Linh Sơn. Trong pháp hội này, Đức Phật đã nói chi tiết hơn về Nhân Quả không ngòai mục đích nhắc nhở để chúng ta:
-Giúp đỡ kẻ nghèo túng.
-Kính trọng người cô quả, cô độc
-Không gian dâm với vợ người
-Không buông lung khinh rẻ chồng mình
-Không quên ơn phụ nghĩa
-Làm hết bổn phận trong việc giảng dạy, chỉ dẫn, cố vấn kẻ khác
-Không ác khẩu, mắng nhiếc, chửi rủa cha mẹ mình
-Không làm nghề trộm cướp
-Không quỵt nợ
-Không phỉnh gạt, dụ dỗ người khác
-Không làm ác
-Không âm mưu hại người
-Không buôn gian bán lận, cân non, cân thiếu, giả vờ quên rồi tính cao giá
-Không ghen tị, dèm pha
-Không làm ai phải mất danh dự, tủi nhục.
-Không giết hại bừa bãi các lòai vật.
-Cúng dường chư tăng/ni để quý vị có phương tiện sinh sống và cũng là dịp bày tỏ tấm lòng tôn kính đạo đức, tôn kính kẻ hy sinh cả đời mình cho lý tưởng cao cả.
Xét cho kỹ, đây là những lời giảng dạy thiết thực trong đời sống chứ không phải chuyện “trên trời dưới biển”, ban bố phép mầu, khấn vái cầu nguyện vu vơ. Dưới đây chúng ta sẽ bàn thêm về Luật Nhân Quả.
1) Việc mình làm là Nhân ( Nguyên Nhân), kết quả gây ra gọi là Quả (Hậu Quả). Quả có quả tốt, quả xấu.
-Trèo cao là Nhân, ngã đau là qủa.
-Học hành chăm chỉ là Nhân, thi đậu là Quả.
-Hành thiền là Nhân, an tĩnh tâm hồn là Quả.
-Tu là Nhân, giải thóat là Quả.
-Giết người là Nhân, bị người ta trả thù, hoặc bị giết hại là Quả.
-Nói dối là Nhân, người ta không còn tin tưởng mình nữa (bad credit) là Quả.
-Ham muốn là Nhân, bị khổ đau, dày vò vì lòng ham muốn là Quả.
-Yêu si mê là Nhân, phát điên phát cuồng rồi tự tử chết khi thất vọng là Quả.
-Phù thủy luyện âm binh để làm phép thuật là Nhân, lụy âm binh – tức không còn kiểm sóat được âm binh nữa, để âm binh làm loạn hoặc quật lại mình là Quả.
-Mắng chửi người ta là Nhân, bị người ta chửi lại, hoặc đi thưa kiện bị tù hoặc phải bồi thừơng là Quả.
-Lộng giả (dùng thủ đọan tuyên truyền lừa mị để cho người ta tin) gọi là Nhân. Anh em, bà con, bạn bè, quyến thuộc, tín đồ, dân chúng của mình tưởng đó là sự thực (Lộng Giả Thành Chân). Sau này mình nói ngược lại hoặc thú nhận mình nói dối người ta sẽ mắng chửi mình và cho là đồ gian dối, thậm chí có khi giết hại vì cho mình bất lương, đó là Quả.
-Ăn mặn là Nhân, khát nước là Quả.
-Tranh ảnh, báo chí, truyền hình, Internet phổ biến dâm ô là Nhân, trẻ con mang bầu, phá thai, hung bạo, bắt cóc, hãm hiếp phụ nữ là Quả.
-Phim ảnh bạo lực là Nhân, đem súng vào trường bắn giết bạn bè thày cô, đem súng vào công sở, chỗ làm, bắn giết đồng nghiệp là Quả.
-Tham vọng bành trướng, chạy đua vũ trang là Nhân, chiến tranh là Quả.
-Phá rừng là Nhân. Lụt lội là Quả.
-Nhả khói lên trời, thải thán khí, phá hủy môi trường là Nhân, quả đất nóng dần rồi từ từ biến thành sa mạc là Quả.
-Đánh cá bừa bãi là Nhân. Cá bị diệt chủng là Quả.
-Không nghe lời cha mẹ, thầy cô là Nhân. Bỏ học, chơi bời lêu lổng, xì ke ma túy, du đãng phá làng phá xóm rồi cuối cùng vào tù là Quả.
-Cha mẹ khắc nghiệt là Nhân. Con cái bỏ đi là Quả.
-Nuông chiều con cái là Nhân. Con cái hư hỏng là Quả.
-Dạy tín đồ giáo điều cuồng tín. Tín đồ hung dữ, gây bất ổn xã hội, xung đột với các tôn giáo khác là Quả.
-Chi tiêu bừa bãi là Nhân, thiếu hụt, nợ nần là Quả.
-Thi ân, bố đức là Nhân, tiếng thơm để đời cho con cháu là Quả.
2) Nhân có nhiều nguyên nhân gộp lại.
Ví dụ:
-Lười biếng+ u tối khiến thi rớt
-Báo chí + tranh ảnh dâm ô+ tự do phóng túng đưa tới nạn thiếu niên mang bầu, bắt cóc hãm hiếp phụ nữ diễn ra hằng ngày như ở Hoa Kỳ.Tại Thái Lan, người ta làm thống kê cho thấy phần lớn các cô gái bị bắt cóc, hãm hiếp là vì mặc váy ngắn khiêu gợi quá mức.
-Nghèo túng + giao du với băng đảng đưa tới trộm cướp.
3) Một Nhân nhưng có nhiều Quả:
Ví dụ:
– Gian dối khi bị phát giác đưa tới quả báo là xấu hổ, mất uy tín, không còn làm ăn được nữa, công ty đổ vỡ, sự nghiệp tiêu tan v.v..
3) Quả sinh ra rồi lại thành Nhân sinh ra Quả mới.
Ví dụ:
– Giáo điều cực đoan + giáo sĩ cuồng tín đẻ ra tín đồ cuồng tín. Từ tín đồ cuồng tín đưa đến việc giết hại lẫn nhau, giết hại, khủng bố tín đồ các tôn giáo khác. Từ đó đưa đến thù hận. Từ thù hận lại đưa đến giết chóc khủng bố. Càng giết chóc khủng bố lại càng cuồng tín, giáo điều. Thế là chuỗi Nhân-Quả
kết chặt lại không sao thóat ra được và luân hồi, quay đảo kiếp này sang kiếp khác trong cái trục gọi là Vô Minh.
– Giáo dục tốt lành, tôn giáo Từ Bi sản sinh ra thiện tri thức. Thiện tri thức vừa cứu đời vừa hoằng dương tư tưởng tốt lành. Thuấn nhuần tư tưởng tốt lành lại sản sinh ra Thiện Tri Thức. Thiện tri thức lại củng cố và phát huy giáo dục tốt lành. Chuỗi nhân quả cứ như thế mà tiếp nối liền liền không dứt, kiếp này sang kiếp khác. Do đó khi tư tưởng tốt lành bị hủy diệt thì trái đất này cũng bị hủy diệt theo do gian ác và tham vọng cuồng điên lên ngôi thống trị.
4) Có khi Quả đến liền, có khi phải đợi một thời gian:
– Trồng bầu, trồng bí vài tháng là có bầu bí ăn.
– Trồng nhãn, trồng xòai phải vài năm mới có quả.
– Một vụ án mạng, do may mắn, do nhiều nhân duyên yếu tố mà phát giác ngay ra thủ phạm và đưa thủ phạm ra tòa xét xử.
– Nhiều vụ án mạng, nhiều vụ thủ tiêu người mờ ám phải nhiều năm sau mới khám phá ra thủ phạm.
– Song cũng có nhiều vụ không sao tìm ra thủ phạm. Dù không tìm ra thủ phạm nhưng hồ sơ của nhà hữu trách đã ghi chép và lưu giữ sự kiện giết người đó.
5) Câu hỏi hóc búa cuối cùng phải trả lời: “Tại sao bao nhiêu kẻ làm tội ác tày trời mà vẫn sống khơi khơi, chẳng chịu quả báo gì cả?” Chúng ta phải công nhận rằng có những tổ chức, cá nhân gây tội ác kinh thiên động địa với nhân lọai nhưng nó vẫn chưa bị trừng phạt, chưa bị “trả quả”. Vì sao vậy? Lịch sử nhân lọai đã từng chứng tỏ rằng không phải con người chỉ đứng lên bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa, nhiều khi con người cũng còn liều chết để bảo vệ tội ác khi họ bị lừa dối và tưởng tội ác đó là thánh thiện. Những tổ chức, những cá nhân tạo ra tội ác như vậy thế lực của họ rất lớn. Họ có khả năng mua chuộc báo chí, truyền thông tuyên truyền lừa mị, liên kết với các thế lực quốc tế hùng mạnh để khỏa lấp tội lỗi. Họ có khả năng trả thù tất cả những ai dám nói lên sự thực về tổ chức của họ. Thế nhưng ngày hôm nay do tư tưởng tiến bộ, một số thiện tri thức đã dũng mãnh đứng lên tố cáo tội ác của những tổ chức và những cá nhân này. Dù họ chưa bị “trả quả” nhưng Nhân tội lỗi đã nằm sẵn ở đó, nằm trong trí nhớ, nằm trong lương tâm của nhân lọai. Rất tiếc đời sống của chúng ta quá ngắn ngủi, không đủ dài để chứng kiến “ngày tàn” của những con người và tổ chức gian ác này. Nếu đời sống của chúng ta “đủ dài” chúng ta sẽ có dịp chứng kiến ngày “trả quả” của họ.
6) Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả:
Khi đã hiểu Luật Nhân Quả rồi thì sợ không dám làm điều bất thiện chứ đừng nói tới làm điều ác. Bồ Tát là bậc đại trí, nhìn xa trông rộng mà lại tu Thánh Đạo cho nên rất sợ gieo nhân. Còn hàng chúng sinh như chúng ta coi thường Luật Nhân Quả cho nên “rất thích” gieo nhân. Khi quả xảy đến hối hậncũng quá muộn màng. Một vài thí dụ sau đây cho thấy thế nào là “gieo nhân”. Gặp một cô gái đẹp/một chàng trai đẹp, động tâm, nói lời bóng gió như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng mơ mộng rồi có ngày “cá mắc câu”. Thấy sì-ke ma túy hút thử chơi thôi, tức là đã “gieo nhân” thế nào cũng có ngày dính vào nghiện ngập. Thấy của cải của người ta sinh lòng tham, như vậy gọi là “gieo nhân” thế nào cũng có ngày tìm cách cướp bóc, chiếm đoạt. Thấy chuyện đời, bàn tán, mỉa mai chơi như vậy gọi là “gieo nhân”, thế nào cũng có ngày bị vạ miệng, gây thù chuốc oán. Đem bài bạc về nhà chơi, đem gia đình con cái viếng Casino giải trí, thế nào trong số con cái cũng có đứa “Cửa nhà bán hết tra chân vào cùm.”
Tôi có một kỷ niệm gặp gỡ một vụ “gieo nhân” cười ra nước mắt như sau: Tại một trường trung học đệ nhất cấp (Middle School) ở California mà tôi phục vụ, có một nữ sinh Việt Nam, lớp 8 mới 13 tuổi. Cô bé thường xuyên trốn học và hút xì-ke ma túy. Vì thường xuyên bỏ học, không theo kịp chương trìnhcho nên bà giáo nhờ tôi kèm và giảng thêm bài cho em. Nhìn cô bé tôi thương cảm vì cô bé ngoan, thông minh và chịu khó nghe giảng bài. Tôi nói, “Con à, con thông minh và xinh xắnnhư thế này, thế nào con cũng có một tương lai vô cùng tốt đẹp. Con ráng đi học và đừng làm cái gì bậy bạ nghe con.” Tôi không biết cô bé có xúc động gì với lời khuyên của tôi không. Nhân dịp này nhà trường cũng cho mời phụ huynh lại để thông báo. Trong lúc chờ đợi phiên họp với ông phó hiệu trưởng, tôi hỏi mẹ cô bé, tuổi chừng 40, “Em làm nghề gì vậy?” Người mẹ đáp, “Dạ, em mở quán cà-phê.” Tôi hỏi tiếp, “Cà-phê tên gì vậy em?” Người mẹ nói, “Cà-phê Quên Đời!” (2) Nghe thế tôi buột miệng kêu lên, “Trời đất quỷ thần ơi! Thiếu gì tên đẹp như Cà-phê Ban Mai, Cà-Phê Nắng Mới, Cà-phê Vui v.v.. sao em không đặt mà chọn cái tên Cà-phê Quên Đời?” Nghe phê bình vậy, người đàn bà nhìn tôi không nói gì. Có thể cô ta hối hận vì con cái hư hỏng, nhưng cũng có thể là, “ Trời ơi! Cái ông thầy này ở Mỹ sao lạc hậu quá! Chọn những cái tên như thế thì quán cà-phê làm sao sống được.” Quả thật vậy! Nếu quý vị tới Thành Phố Tacoma Tiểu Bang Washington, Nam hoặc Bắc Cali như Los Angeles, Westminster hoặc San Jose quý vị sẽ thấy những quán cà-phê Việt Nam với đèn mờ mờ, bồi bàn bưng cà-phê là những cô gái trẻ, đi giày cao gót, ăn mặc hở hang (sexy) quá mức và được quảng cáo công khai trên báo. Sở cảnh sát địa phương rất bực bội với những quán cà-phê này vì nó còn là nơi lén lút tiêu thụ xì-ke ma túy. Nhưng thành phố lại cho mở, vì thương mại phát triển, thành phố thu được nhiều thuế. Khách hàng thường trực của những quán này là thanh niên độc thân, hoặc gia đình đổ vỡ, thảng hoặccũng thấy một vài ông già đầu bạc. Họ tới uống cà-phê, ngắm nghía “ rửa mắt” hoặc tán dóc (tán gẫu) với mấy cô hầu bàn, hoặc coi truyền hình rồi cá độ, nhất là các trận đấu bóng bầu dục (Football). Họ cho tiền “típ” hay ” pour bois” rất nhiều. Cứ thử tưởng tượng với một khung cảnh mờ mờ, ảo ảo “quyến rũ” như thế, một cô bé học sinh ngây thơ, một ngày nào đó vì mẹ bận, thay mẹ ngồi ở quầy tính tiền, sẽ thấy những gì và sẽ nghĩ như thế nào? Với cái Nhân xấu như thế thì cô bé có hư hỏng cũng là chuyện đương nhiên thôi. Nghĩ thật đáng thương.
Vậy các bạn trẻ ở Việt Nam đừng tưởng Mỹ không có Luật Nhân Quả. Đừng tưởng Luật Nhân Quả chỉ ứng dụng cho các xứ nghèo như Việt Nam, Lào, Kampuchia, Miến Điện…chứ ở Mỹ, Úc, Âu Châu thì chẳng có Nhân-Quả gì hết. Đừng nghĩ vậy. Thống kê của Bộ Tư Pháp năm 2002 cho biết con số tù nhân bị giam giữ tại các nhà tù Tiểu Bang và Liên Bang Hoa Kỳ đã vượt quá 2 triệu người – con số cao nhất trong lịch sử lập quốc. Còn tại Tiểu Bang Victoria, Úc Châu, số nữ tù nhân gốc Việt đông đảo nhất, chiếm 16% trong tổng số 312 người. Trồng cần sa, gian lận trợ cấp, buôn bán ma túy, và nhất là ham mê cờ bạc đã là những lý do khiến những người phụ nữ này phải vào tù. (Thời Báo Online)
Thưa các bạn, vì cuộc sống và vì “ đắm nhiễm trần cấu” mà con người đã gây Nhân, tạo Nghiệp một cách “ngay tình”mà không hề hay biết. Chúng ta tự “gieo nhân xấu” để gây khổ lụy cho gia đình, bạn bè, làng xóm, xã hộivà đất nước chứ chẳng có Thần Linh(God) nào can dự vào đây. Khi Quả vụt tới thì cuống cuồng cầu nguyện van vái Thần Linhcứu giúp. Nếu Thần Linh có thật, có một chút hiểu biết và Thần Linh nói được chắc chắn đã quát mắng, “Ngươi tự gây ra tai họa thì ngày hôm ngươi phải nhận lãnh hậu quả. Giả sử ta có khả năng cứu giúp nhà ngươi thì tại sao ta không hóa phép để cả thế giới này không bao giờ có khổ đau để cho ta đỡ mệt? Khổ đau do chính các ngươi tạo ra. Ta thì giờ đâu, từng giây, từng phút tạo ra hàng vạn, hàng vạn thứ khổ đau? Thôi đừng nói chuyện ba lơn nữa!”
Vậy nếu không muốn “gieo nhân”, ngoài việc ý thức về Luật Nhân Quả, hành giả lúc nào cũng phải giữ gìn “Chánh Niệm” không để Tâmmình buông thả mông lung như “Ngựa phi ngoài đồng. Khỉ leo trên cành”. Hành giả luôn luôn ở trong trạng thái cảnh giác, giống như Lão Tử nói rằng phải luôn luôn ý thức như mình đang đi trên nước sông nước đóng băng. Nếu cảnh giác được thì gọi là Định. Nói khác đi, biết mà không nói, thấy mà không bình phẩm, nghe mà không khen chê, không động tâm, đó là trạng thái “Đối cảnh vô tâm” của Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông. Đối cảnh mà vô tâm thì chẳng “gieo nhân” gì hết. Nếu có “gieo nhân” thì gieo nhân lành chứ không phải nhân xấu. Khi không “gieo nhân” nữa thì không có Quả. Không Nhân – Quả thì Luân Hồi chấm dứt. Không gieo nhân, không tạo ác nghiệp, an nhiên tự tại là cảnh giới của Chư Phật và Chư Vị Bồ Tát vậy.
Kết Luận:
Dù bạn có coi thường Luật Nhân Quả, dù bạn không tin Luật Nhân Quả, dù bạn phủ nhận Luật Nhân Quả nhưng không bao giờ bạn thóat khỏi Luật Nhân Quả. Làm ác sẽ gặp ác (Ác Giả Ác Báo) dù bạn có chạy trốn lên cung trời nào, thế giới nào, dù Thần Linh Tối Thượng nào có che chở cho bạn cũng không được. Thi hành luật pháp, truy tố kẻ phạm pháp ra trước pháp đình là ứng dụng Luật Nhân Quả. Thế giới hiện nay vẫn tiếp tục truy lùng những tòng phạm giết người hàng lọat trong các lò sát sinh thời Đức Quốc Xã ra trước Tòa Án Quốc Tế, cho dù kẻ đó đã thay đổi quốc tịch, thay đổi tên họ, cho dù có kẻ ngày nay đã già yếu nhưng vẫn phải điệu ra trước tòa để “trả quả”. Có nhìn thấy, có hiểu được như thế mới thấy Luật Nhân Quả thật đáng sợ. Hệ thống luật pháp, tòa án để trừng trị kẻ có tội là sự ứng dụng hiển nhiên của Luật Nhân Quả. Nếu không có luật pháp, không có tòa án để trừng trị kẻ có tội thì thế giới này sẽ biến thành thế giới của lòai muôn thú, tức là làm ác mà không bị trừng phạt gì cả. Để tạm thay cho lời kết luận không gì bằng trích dẫn ở đây lời nhận xét của Tỳ Kheo Thích Chơn Quảng trong cuốn sách Luận Về Nhân Quả xuất bản ở trong nước năm 1988 và tái bản ở Hoa Kỳ năm 2551 (Phật Lịch) tức năm 2007 (Tây Lịch) nơi trang 11 viết như sau “ Luật Nhân Quả là nền đạo đức, công bằng hơn mọi nền đạo đức nào khác và chính Luật Nhân Quả cũng chính là lương tri của nhân lọai.” Và lời phát biểu của Bà Christa Bentendieder, pháp danh Agganyani – Tổng Thư Ký Liên Đoàn Phật Tử Đức Quốc: “Đạo Phật chính là quy luật tự nhiên của trí tuệ, đó là Luật Nhân Quả.” (Buddhism as the natural law of the mind, the law of cause and effect.)
Đào Văn Bình
(Trích sách Đạo Phật: Đất Nước, Cuộc Sống và Tâm Linh xb năm 2017 phát hành trên Amazon)
Nguyễn Văn Vinh Sưu tầm

(Nguyễn Văn Vinh sưu tầm)

Lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong 31/5/2021 tại Little Saigon, Westminster, Nam California
Ngô Viết Trọng
(Sài Gòn trong tim tôi)
Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn. Cửa phòng là một bửng sắt khá dày, bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay. Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.
Bạn phải đăng nhập để bình luận.