Họp Mặt K1 tại Nam Cali_Tin Ảnh (Võ Thiệu)

(Tường trình của Võ Thiệu từ Nam California):

Kinh thưa Quý Anh Chị,
Lúc 11:00 AM ngày 25/8/2019, Quý AC Khóa l-HVCSQG & gia đình đã có buổi họp mặt tại nhà hàng Seafood Cove trên đường Westminster, TP Westminster. Cuối buổi tiệc, Anh Toán (TK1) có nêu ý kiến của một số bạn để nghị tổ chức họp mặt K1 mỗi 2 tháng một lần, Quý AC hiện diện đã thuận theo đề nghị này. Như vậy từ nay các Quý AC
Khoá l tại Nam California sẽ có những buổi họp mặt mỗi hai tháng 1 lần.
Xin Quý AC xem lại hình ảnh sinh hoạt trong lần họp mặt K1 hôm nay qua slideshow dưới đây.
Trân trọng kinh chào.
Thieu Vo

hoặc vào link dưới đây xem thêm các hình ảnh khác:

https://photos.google.com/share/AF1QipPNO6GYIeLZocmYYcSHgYv1xOU5c9tezSZkYaLWxmTdJes9K43aSVYxKqsdfD03jQ?key=N1V4TUJTcVVkcUt6NGxSTHpkd1luWDdicFJCcmJB

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Họp Mặt K1 tại Nam Cali_Tin Ảnh (Võ Thiệu)

Hội thoại về tổ chức cứu trợ TPB/VNCH_YouTube

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội thoại về tổ chức cứu trợ TPB/VNCH_YouTube

TÌM CON_Ca sĩ Don Hồ

TÌM CON_Ca sĩ Don Hồ

Image result for ca sĩ Don Hồ

Ca sĩ Don Hồ

Khi đang hát, sợ nhất là bị khán giả níu vai & chồm lên nói nhỏ vào tai. Chuyện này có nhiều cơ hội xảy ra khi người ca sĩ cầm Microphone rời sân khấu để đi xuống bên dưới. Và tại sao ” sợ ” ư ? Có thể bạn thắc mắc, chẳng hiểu.

– Thứ nhất Đang mải lo trình bày một nhạc phẩm, âm thanh đang ầm ầm thì người ca sĩ làm sao có thể nghe kịp & hiểu người kia đang muốn nói gì với mình?

– Thứ hai: Nếu lắng nghe coi nói gì thì bài hát sẽ có khả năng bị khựng lại & có nhiều khả năng bị phân tâm mà quên luôn cả câu hát kế tiếp.

Không tin bạn thử vừa hát vừa lắng nghe ai nói chuyện gì đó thử xem, nếu bạn làm được cả 2 chuyện cùng lúc thì có thể bạn là siêu nhân  ( Superman ) mà không biết đấy…

Tuần rồi trong một buổi gây quỹ, ban tổ chức nhờ cầm rổ đi xuống dưới khán giả, vừa hát vừa nhận phong bì tiền ủng hộ từ những vị hảo tâm, một Bác lớn tuổi đã níu vai thì thầm gì đó thì vào tai. Dĩ nhiên là đã … chẳng hiểu Bác nói gì, phải nói lẹ: ” Thưa, Cháu chẳng nghe được gì cả ! Ghế Bác chỗ nào, khi hát xong Cháu xin trở ra tận nơi ạ ? “

Và đúng như đã hứa, hát xong phần mình vào trong lau mồ hôi xong trở lại tìm.

Được níu lại chụp hình ở một số bàn, nhưng rồi cuối cùng cũng kiếm được.

Bác kéo tay bảo: ” Trong này ồn quá, ra ngoài Bác có tí chuyện xin nhờ đến Cháu… “

Chút hồi hộp lẫn với tò mò.

Mái tóc gần như bạc phơ, nhìn Bác có vẻ lớn tuổi lắm nhưng vẫn còn rất minh mẫn. Dáng người nhỏ nhắn, lịch sự, nói chuyện giọng của những người Bắc di cư giống hệt Mẹ. Bác như hơi đắn đo chút rồi bắt đầu:

– ” Bác xin lỗi có hơi chút đường đột, nhưng bác có chuyện này muốn nhờ đến Cháu vì Bác nghĩ Cháu có thể có khả năng giúp được … “

– ” Dạ… Bác cứ nói, nếu làm được gì Cháu sẽ làm. “

– ” Chuyện như thế này…. “

Ánh mắt Bác trở nên xa xăm, giọng trầm hẳn xuống ” Bác có đứa Con Gái nhỏ đi vượt biên năm 1980 rồi bặt tăm tin tức. Gia đình Bác nhiều năm đã nhờ rất nhiều nơi để kiếm Em nhưng không có kết quả. Không biết Cháu có thể giúp Bác, mỗi nơi Cháu đi qua để mắt kiếm dùm Em ? “

– ” Thưa…

Dường như Bác đã lạc vào một thế giới khác, chẳng còn nghe, còn thấy gì chung quanh…

– ” Em nó tên là Trần-Thị-Thanh-Lan, năm ấy Em nó mới có 13 tuổi, vẫn còn láu táu lắm, tóc dài chấm vai. Gia đình Bác thời ấy chỉ có khả năng cho mỗi một đứa Con đi nên mới gởi gấm Em đi theo gia đình người Bạn quen. Cả tàu không có một tin tức trở về, chẳng biết chết sống. Nếu Em nó còn, năm nay Em nó tròn 47… “

Tới phiên mình bị đẩy lạc trở về cái khoảng quá khứ đầy mộng mị.

Cũng cuối năm 1980 ấy, con tàu vượt biên nhỏ xíu chật ních những người, khoang tàu xâm xấp nước biển lẫn lộn cùng chất thải từ cơ thể bấy nhiêu hành khách. Con Bé tóc ngắn nằm sát bên cạnh dường như đi một mình, từ lúc đặt chân xuống ghe chẳng nghe mở miệng nói một câu. Mà mở miệng nói với ai bây giờ, cả chiếc ghe bốn mươi mấy người có mấy ai quen ai !

Con Bé dường như cũng bị say sóng nặng giống hệt mình, cũng ói lên ói xuống ngay tại chỗ và cũng lả đi nằm thiêm thiếp. Một lần quay đi không kịp, Con Bé ói văng đầy cả vào mặt mình sát cạnh !

Biết được nó còn sống là nhờ có một lần bắt gặp ánh mắt của Con Bé yếu ớt dòm qua. Ánh mắt dường như muốn xin lỗi. Anh mắt thăm thẳm, lạc lõng, vướng vất nhiều tảng mây xám ngắt chiều thu. Ánh mắt đã đi theo ám ảnh mình suốt cả mươi năm đầu lúc mới tới được Hoa Kỳ…

Con Bé chắc còn nhỏ lắm, cũng chỉ cỡ 12, 13 là cùng, và là người Con Gái đầu tiên bị thằng hải tặc ỡ trần vấn xà rông xốc cho ngồi lên, rồi chọc thẳng tay vào áo rờ rẫm mà rú lên cười !

Con Bé cũng là Bé Gái nhỏ nhất trong nhóm phụ nữ đầu tiên bị bắt chuyền qua tàu hải tặc và chẳng bao giờ còn nghe tin.

Con Bé nằm ngay sát cạnh mình mà chẳng hề biết được tên…

Giọng Bà Bác ngay sát tai mà như rất mơ hồ đến tự đâu đâu…

– ” 34 năm rồi đó Cháu, biết đâu Con Bé tội tình của Bác đang sống lưu lạc ở một nơi nào đó trên thế giới mà không có cách nào để tìm lại được gia đình. Biết đâu Em nó ở đâu đó trong những thành phố Cháu đi qua… “

Ôi… người Mẹ tội nghiệp tìm Con, đã chừng mấy năm rồi mà vẫn không vơi đi niềm hy vọng dù rất mỏng manh…

Tần ngần hỏi:

– ” Thưa Bác, Chị ấy đã … đi từ đâu ? “

Giọng 2 Bác Cháu đều trở nên tự lư, nhẹ như tơ tự lúc nào.

– ” Ghe Em nó đi từ Rạch Giá Cháu… “

Một phiến đá nặng chặn nghẹn nãy giờ bỗng được nhấc lên khỏi lồng ngực, không phải Con Bé ấy rồi ! Ghe mình đã xuất phát khời hành từ mũi Cà Mau…

– ” Anh Em Cháu cũng vượt biên vào khoảng thời gian ấy, tụi Cháu may mắn đã đến được bến bờ. Cháu … chưa biết sẽ phải làm gì, nhưng Cháu sẽ ráng… “

Trao đổi nhau số Phone.

Bác Gái nhũ danh: Trương thị Hoà, nhà đã ở khu Hoà Hưng Sài Gòn…

Sợ Bác sẽ khóc, nhưng nước mắt Bác chẳng ra. Chắc những dòng nước mắt đã chảy cạn khô trong suốt ba mươi mấy năm qua rồi, chẳng còn !

Bác run run siết chặt đôi bàn tay cảm ơn, xin lỗi đã làm phiền, rồi xiêu vẹo bước trở lại vào khán phòng.

Mình ngồi thừ lại ở bên ngoài phải cho mãi một thời gian.

Lâu lắm mới buồn như thế !

Và cái buồn chắc chắn sẽ còn vương vất mãi chẳng biết đến bao giờ…

Gần 35 năm rồi, khả năng còn sống sót của người con chắc không nhiều nhưng cũng có thể… Biết đâu ở đâu ở nước nào đó trong vùng Đông Nam Á không chừng….

Và không phải chỉ có mỗi Chị Thanh-Lan này, mà còn biết bao nhiêu người Con Gái khác cũng mất tích, biết đâu cũng đang lưu lạc ở đâu đó…

Và nếu đúng thế, biết đâu bạn … quen, bạn biết ? Biết đâu bạn có chút tin tức ?

Hoặc giả nếu như không thấy phiền bạn có thể ” Share ” dùm bài này đến bạn bè như một tờ truyền đơn nhắn tin, tìm kiếm. Biết đâu ở một mảnh đất nào đó có một người Con Gái cũng bao nhiêu năm mong mỏi tìm được lại gia đình của mình …

Thảm cảnh của cả một đất nước, của cả một dân tộc…

Buồn nhỉ !

Giá như mình có thể khóc được …

DON HỒ

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÌM CON_Ca sĩ Don Hồ

Căn Cứ Quân Sự Khổng Lồ của Mỹ ở Greenland

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Căn Cứ Quân Sự Khổng Lồ của Mỹ ở Greenland

BF là gì?_ST

BF LÀ GÌ?

boy-and-girl
Một cậu bé nói với một cô bé:
– Tớ là BF của cậu!
Cô bé hỏi:
– BF là gì?
Cậu bé cười hì hì trả lời:
– Nghĩa là Best Friend đấy. (Bạn tốt nhất)
Sau này họ hẹn hò, chàng trai lại nói với cô gái:
– Anh là BF của em!
Cô gái dựa nhẹ vào vai chàng trai, thẹn thùng hỏi:
– BF là gì hả anh?
Chàng trai trả lời:
– Là Boy Friend đấy! (Bạn trai)
Vài năm sau đó họ kết hôn, sinh được những đứa con thật xinh xắn, người chồng lại cười và nói với vợ rằng:
– Anh là BF của em!
Người vợ dịu dàng hỏi chồng:
– BF là gì hả anh?
Anh chồng nhìn đàn con xinh xắn và hạnh phúc trả lời:
– Là Babies’s Father. (Bố của các con)
Khi những đứa con lớn dần, nhìn vợ và những đưa con yêu quý, người đàn ông lại nói:
– Chúng mình là BF:
Người vợ tươi cười hỏi:
– BF là gì nữa đây anh?
Người chồng vui vẻ trả lời:
– Là Beautiful Family! (Gia đình tuyệt đẹp)
Khi họ già, cùng nhau ngồi ngắm hoàng hôn trước hiên nhà,
ông lão lại nói với vợ:
– Bà nó à! Tôi là BF của bà đấy!
Bà lão cười với những nếp nhăn trên mặt:
– BF là gì hả ông?
Ông lão mỉm cười thật hạnh phúc và trả lời một cách thần bí:
– Là Be Forever! (mãi mãi thuộc về nhau).
Khi ông lão hấp hối cũng nói :
– Tôi BF bà nha.
Bà lão trả lời với giọng buồn:
– BF là gì vậy ông??
Ông lão trả lời rồi nhắm mắt:
– Là Bye Forever! (Vĩnh biệt mãi mãi)
Vài ngày sau, bà lão cũng ra đi, trước khi nhắm
mắt, bà lão nói nhỏ bên mộ ông lão:
– BF (Beside Forever) nha ông. (Bên nhau mãi mãi)
Beside Forever
Beside Forever……. (Mãi mãi bên nhau!)

Kiên Tống (sưu tầm và chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BF là gì?_ST

Nỗi Niềm_Thơ Phiến Nguyễn

noi niem5

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nỗi Niềm_Thơ Phiến Nguyễn

Nguy Cơ Khó Lường Vì Ngồi Nhiều_ST

imageNhiều nguy cơ khó lường vì ngồi nhiều

Hầu như chúng ta đều biết ngồi quá lâu không hề tốt. Nhưng chính xác điều gì diễn ra trong cơ thể khi ngồi suốt 8 tiếng mỗi ngày hoặc lâu hơn?

Thói quen ngồi liên tục một chỗ trong thời gian dài gây tổn thương các cơ quan trong cơ thể, làm suy yếu chức năng các cơ, và là nguyên nhân cho nhiều vấn đề về cột sống.   Các Chuyên gia trên tờ Washingtonpost đã mô tả chi tiết một loạt vấn đề do ngồi liên tục nhiều giờ và một số lời khuyên giúp mọi người cải thiện sức khỏe.

image Tổn thương cơ quan bên trong cơ thể:

Bệnh tim:

Khi ngồi lâu, các cơ ít đốt cháy mỡ và tốc độ lưu thông máu chậm hơn, khiến các acid béo dễ làm tắc nghẽn tim. Tình trạng này kéo dài gây cao huyết áp, tăng nồng độ cholesterol trong máu..

Theo các Chuyên gia, những người càng ít vận động với “thời gian tĩnh” càng nhiều có nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn gấp 2 lần những người năng vận động.

Tụy tạng hoạt động quá mức:

Tụy tạng có nhiệm vụ sinh insulin, hormone giúp tế bào lấy glucozo từ máu và sử dụng để sinh năng lượng. Tuy nhiên, tế bào trong các cơ ở trạng thái không vận động không phản ứng với insulin khiến tụy tạng tiếp tục tiết ra nhiều hormone nữa. Đây là nguyên nhân gây tiểu đường và một số bệnh khác.

Điều nguy hiểm là sự suy giảm phản ứng với insulin xảy ra chỉ sau 1 ngày ngồi liên tục, theo kết quả một nghiên cứu năm 2011.

Ung thư ruột kết:

Nhiều nghiên cứu cho thấy sự liên quan giữa ngồi lâu với sự gia tăng nguy cơ ung thư ruột, ung thư vú, và nội mạc tử cung. Các nhà Khoa học vẫn chưa giải thích đầy đủ cho vấn đề này, nhưng đã có nhiều giả thiết được đưa ra. Giả thiết thứ nhất cho rằng insulin dư thừa kích thích sự phát triển của các tế bào có hại. Còn theo một lập luận khác, vận động thường xuyên sẽ đẩy mạnh hoạt động của các chất chống oxy hóa tự nhiên giúp ngăn ngừa quá trình phá hủy tế bào và các gốc tự do, tác nhân tiềm ẩn gây ung thư.

Thoái hóa cơ:

Chùng cơ bụng:

Khi đứng, di chuyển hay thậm chí ngồi ngay ngắn, cơ bụng căng ra và giữ cho dáng người thẳng. Ngồi sai tư thế không những làm căng cơ lưng mà còn khiến cơ bụng bị suy yếu gây cong vẹo cột sống.

 Hông thiếu linh hoạt:

Những người ngồi quá nhiều hiếm khi có cơ hội vận động để cơ hông phát triển. Do vậy, hông ngày càng kém linh hoạt. Đây là nguyên nhân hạn chế khả năng di chuyển và độ dài sải chân.

Nghiên cứu khoa học cũng chứng minh rằng: Suy giảm chức năng cơ hông là lý do khiến người cao tuổi dễ bị té ngã hơn.

Cơ mông suy yếu:

Ngồi nhiều khiến vùng mông không phải thực hiện “nhiệm vụ” nào và dần quen với tình trạng này. Vòng ba dần to ra một cách không mong muốn, nhưng cơ mông lại suy yếu, hạn chế khả năng vận động.

image

Các vấn đề về chân:

Lưu thông máu kém ở chân:

Thời gian ngồi nhiều khiến tuần hoàn máu ở chân giảm. Các vấn đề có thể phát sinh gồm: Sưng mắt cá chân, giãn tĩnh mạch cho tới hội chứng huyết khối trong tĩnh mạch (DVT) nguy hiểm.

Xương mỏng:

Các hoạt động đi, chạy… kích thích hông và xương ở phần dưới cơ thể phát triển với mật độ dầy hơn, chắc chắn hơn. Ngồi lâu khiến xương mỏng dần đi. Tình trạng thiếu vận động như trên là lý do cho sự gia tăng chứng loãng xương trong thời gian gần đây, theo ý kiến của các nhà Khoa học.

Kém tập trung:

Vận động giúp bơm máu và oxy lên não tốt hơn, đồng thời kích thích sinh sản các hóa chất cải thiện tâm trạng và trí óc. Khi ngồi một chỗ trong thời gian dài, mọi quá trình trong cơ thể đều diễn ra chậm chạp, bao gồm cả hoạt động của não bộ khiến chúng ta khó tập trung.

Đau mỏi cổ:

Phần lớn thời gian dân văn phòng “đóng đô” tại bàn làm việc với thói quen chúi đầu về phía bàn phím máy tính, hoặc nghiêng nghiêng đầu một bên nghe điện thoại. Hậu quả là các đốt sống cổ bị kéo căng và có thể mất cân đối vĩnh viễn.

 Đau vai và lưng:

Tư thế ngồi cúi về phía trước còn ảnh hưởng tới cả vai và lưng, đặc biệt là cơ cầu vai, nối cổ và vai.

Thoái hóa cột sống:

Ngồi trong thời gian dài với tư thế không đúng khiến đĩa đệm chêm giữa hai phần cứng xương đốt sống suy giảm chức năng giảm sốc cho cột sống, gây đau và phát sinh các vấn đề cột sống.

image

Thoát vị đĩa đệm:

Càng ngồi nhiều mọi người càng đối mặt với nguy cơ thoát vị đĩa đệm cao hơn. Ở tư thế ngồi, trọng lượng phần trên cơ thể dồn vào đốt sống thắt lưng thay vì được phân phối đều dọc theo cột sống.

Gia tăng nguy cơ tử vong:

Trong nghiên cứu kéo dài 8 năm rưỡi, những người có thời gian ngồi xem tivi nhiều nhất có khả năng tử vong cao hơn 61% so với những người xem tivi ít hơn 1 giờ mỗi ngày.

image

 Thu Hiền (Theo Washington Post)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nguy Cơ Khó Lường Vì Ngồi Nhiều_ST

Trái Tim Bồ Tát_Pha Lê

TRÁI TIM BỒ TÁT

(Việt Báo/VVNM): Jenny, cô phóng viên Mỹ tuổi đời chưa quá 30.

Ra trường đại học Stanford với số điểm khá cao, sau vài năm lăn lóc với những tờ báo địa phương, Jenny được thâu nhận làm phóng viên tại một tòa báo nổi tiếng tại Chicago.

trai timjChuyến đi xa làm phóng sự  đầu tiên của cô là bay sang Nhật, để viết về sự hồi sinh và công cuộc trùng tu của thành phố Miyako, một thành phố đã phút chốc bỗng trở thành bình địa khi cơn sóng thần Tohoku Tsunami khủng khiếp ập tới vào tháng 3, 2011.

Cô đã đi lòng vòng khắp nơi, điều làm cô sửng sốt nhất, là ở nhiều nơi, từ trong thư viện cho đến các nhà hàng, trên những bức tường, người ta vẽ hình một cậu bé Nhật với câu chuyện về nghĩa cử cao đẹp của cậu trong  những ngày tang thương của thành phố.

Jenny vẫn còn nhớ đó là chuyện một cậu bé khoảng trên 10 tuổi, trong khi cậu bé đang xếp hàng chờ đợi tới phiên mình được lãnh hàng cứu trợ thì bỗng một người lính cứu hỏa đến bên cạnh và đưa cho cậu một gói khá to với dấu Red Cross đóng bên trên, Đó  là một gói hàng cứu trợ nhưng có đầy đủ những đồ gia dụng cần thiết và có cả một ít hiện kim cho một cá nhân. Khẽ nghiêng mình kính cẩn cám ơn, và trước đôi mắt ngạc nhiên của người lính cứu hỏa, cậu bé bước tới góc phố, nơi người ta đã đặt sẵn một thùng giấy to để quyên góp những phẩm vật sẽ được  gởi đi cho những người kém may mắn khác. Nhón chân đặt gói quà vào trong thùng, cậu bé lặng lẽ bước về chỗ cũ và kiên nhẫn sắp hàng chờ đợi.
Câu chuyện thật đơn giản nhưng vô cùng xúc động đó đã nhanh chóng được loan truyền trên khắp thế giới. Hằng trăm hằng ngàn ý kiến, những lời cảm thông chia xẻ, cùng những câu ca ngợi nghĩa cử của cậu bé đã được gởi tới tấp trên internet, trên truyền thông truyền hình như những lời an ủi động viên trước những bất hạnh và khổ đau sau thảm họa sóng thần Tohoku Tsunami.

Sau một ngày lang thang trên đường phố Miyako, Jenny cảm thấy thật phí công khi cô phải viết bài phóng sự về sự hồi sinh và công cuộc xây dựng tái thiết  của thành phố Miyako, Jenny thầm nghĩ: “Người Nhật  rất quật cường và dũng cảm, họ là một dân tộc biết biến đau thương thành sức mạnh, viết lời ca ngợi hoặc tán dương  họ cũng bằng thừa.”cho nên cô chợt nẩy ra ý tưởng mới, là viết về tầm ảnh hưởng từ hành động cao cả của cậu bé đó với những người trẻ hôm nay.
Kết quả: Bài viết của Jenny khi phổ biến làm người đọc xúc động, tòa báo hài lòng. Ôâng chủ bút vui vẻ gợi ý cô có thể viết thêm về những người trẻ ở khắp nơi trên thế giới. Wow, cô mừng rỡ và quyết định cô sẽ tới Việt Nam.

Việt Nam, một đất nước tuy xa mà lại rất “gần” với cô. Rất gần vì Brittney Nguyen, người bạn thân nhất của cô trong 4 năm đại học, là người Việt Nam. Năm đầu tiên cô và Brittney cùng chia xẻ chung một phòng trong đại học xá. Brittney rất giỏi và rất lanh lẹ, nhưng điều mà Jenny cảm phục ở cô không phải sự thông minh, mà chính là tinh thần lạc quan của Brittney. Trong  bất cứ tình huống nào, cô bạn này luôn ltin rằng “Tomorrow will be better than today / ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay”! Lỡ tình trạng vẫn chưa “khá” hơn, thì Brittney lại cắt nghĩa hoặc bằng một câu khôi hài nào đó, hay bằng một câu chuyện tiếu lâm mà cô luôn có sẵn trong đầu.

Brittney thì dễ thương như vậy, mà  gia đinh cô thì càng tuyệt vời hơn nữa. Những ngày cuối tuần Jenny vẫn theo Brittney về nhà cô, một căn hộ chung cư 3 phòng ngủ cho 5 người! Dù căn nhà khá chật chội và hơi thiếu tiện nghi nếu so với căn nhà rộng thênh thang của Jenny ở Chicago, nhưng chính nơi đây Jenny mới hiểu được thế nào là tình gia đình. Cô đã được thưởng thức những món ăn Vietnam, được hưởng những sự thương yêu, chăm sóc, lo lắng từ những người thân của Brittney. Cô đã rưng rưng nước mắt khi gọi gia đình Brittney là gia đình thứ hai của cô.

Khi nghe Jenny nói như thế, Brittney trả lời với một nụ cười tươi tắn trên môi:

– Nếu đây là gia đình thứ hai, thì Jenny sẽ có thêm một đất nước thứ hai, đó là Vietnam, right?

Đúng như vậy, và bây giờ Jenny đang ngồi trên một chuyến bay, bay về Vietnam, một đất nước tuy xa xôi, nhưng lại rất gần gũi với cô.  Trước ngày đi, ông chủ bút tờ báo đã nhấn mạnh là cô chỉ có một tuần. Trừ ngày bay đi, bay về, chỉ còn đúng ba 3 ngày thôi đấy nhé.

***
Sau gần 2 tiếng đồng hồ chờ đợi thủ tục để lấy được hành lý, Jenny chậm chạp kéo lê chiếc vali bước ra phía cổng phi trường. Cô thắc mắc tại sao mọi người cứ phải xô đẩy, chen lấn không sắp hàng, chính điều này càng khiến mọi công việc trở nên phức tạp và mất nhiều thời gian hơn.

Khi cánh cửa phi trường vừa bật mở, Jenny gần như dội ngược về phía sau bởi hơi nóng hừng hực từ bên ngoài như táp vào mặt cô. Ngần ngừ vài giây, cô bước ra, bên ngoài khung cảnh thật tấp nập, xô bồ, mọi người bước đi vội vã  như ma đuổi!

Hình như 24 tiếng đồng hồ vẫn không đủ cho người VN, đó là cảm nhận đầu tiên của Jenny về đất nước này. Cảm thấy thật mệt mỏi vì chuyến bay quá dài, cộng với sự chờ đợi không cần thiết nơi cửa phi trường, Jenny giơ tay vẫy chiếc taxi, cô quyết định về nghỉ tại khách sạn đêm nay, ngày mai sẽ bắt đầu một ngày mới cho bài phóng sự của cô về những người trẻ Vietnam.

Bây giờ Jenny đang ngồi trong phòng ăn của khách sạn để dùng bữa điểm tâm với một người thông dịch.

Trước khi lên đường sang Việt Nam, cô bạn Brittney đã khăng khăng bắt Jenny phải có một hướng dẫn viên, vừa phải là người bản xứ, vừa phải biết tiếng Anh, để giúp cô  đi thăm viếng  thành phố, và Brittney đã giúp bạn tìm được người đó. Bà Hằng,  một  phụ nữ trung niên tuổi trên 50, khuôn măt khả ái với nụ cười dịu dàng đằm thắm trên môi, và nhất là cách phát âm tiếng Anh của bà khá chính xác khiến Jenny thật hài lòng. Khi Jenny nói điều này, bà Hằng chỉ mỉm cười khiêm tốn khẽ đáp:

– Tôi là giáo sư Anh văn của một trường đại học thành phố.

Jenny ngạc nhiên:

– Giảng sư dạy đại học mà tại sao bà lại làm thêm công việc này?

Hơi bất ngờ vì câu hỏi của Jenny, bà Hằng ngập ngừng vài giây rồi nói:

-Thật ra đây là cơ hội cho những người dạy Anh văn như chúng tôi  luyện giọng. Ngày xưa, khi tôi còn là học sinh, ngoài giờ học chính, chúng tôi thường ghi danh học thêm những course Anh Văn bên ngoài.  Trước đây  trung tâm Hội Việt Mỹ thường có những phòng thính thị cho chúng tôi luyện giọng, bây giờ thì khộng còn nữa.

Rồi bà bỗng đổi giọng vui vẻ nói:

– Dù sao đi nữa đây là một công việc vừa giúp tôi trau giồi nghiệp vụ, vừa được trả lương, còn gì bằng!

Vừa nghe xong câu đó, Jenny bật cười thoải mái.

Khi nắng chiều đã nhạt dần và cái nóng đã bớt gay gắt, Jenny và bà Hằng đang ngồi nơi quán ăn ở một góc đường. Cô đã đi lang thang qua nhiều dãy phố, đã thu  vào ống kính của cô  nhiều hình ảnh của đất nước này. Là một phóng viên, cô đã đi nhiều nơi trên thế giới, nhưng điều làm cô kinh ngạc hơn hết là sự tương phản rất rõ nét giữa cái giàu  và cái nghèo tại đây.

Trên đường phố chật hẹp, cô luôn nhìn thấy vài chiếc xe hơi thật đắt giá sang trọng đang cố luồn lách, chèn lấn để vượt qua những dòng xe  hai bánh, lẫn lộn cả những chiếc xe đạp trầy sơn cũ kỹ. Ở đây tất cả mọi người đều hối hả, hấp tấp, vội vàng khiến Jenny cảm thấy chóng mặt, và cổ họng cô thật khô rát,  Jenny quay lại nhờ bà Hằng gọi cho mình một “ly chanh đường”. Cô phát âm bằng tiếng Việt 3 chữ đó khá rõ ràng khiến bà Hằng thoáng ngạc nhiên. Có gì đâu, Jenny mỉm cười kể :

-Nhiều lần Brittney vẫn nói nếu có dịp trở về Saigon, cô sẽ gọi một ly chanh đường vì cô vẫn thường nghe các ông nhạc sĩ rên rỉ “…uống ly chanh đường, uống môi em ngọt …” nên cô muốn thử xem sao!

Bà Hằng bật cười thành tiếng, nhưng hình như trong đáy mắt bà chợt thoáng hiện một chút tiếc nuối xót xa.

Jenny nhìn quanh quan sát , cũng vẫn chỉ là khung cảnh cũ với những cụ già hay những em bé mệt mỏi với xấp vé số trên tay đang cố mời chào mọi người mua giúp. Những người hành khất già nua, bệnh hoạn ngồi la liệt chờ sự bố thí của người qua lại, chợt  Jenny bắt gặp hình ảnh khiến cô khựng lại. Nơi cuối dãy bàn sát tường, một cậu bé đang ngồi bó gối im lìm, cạnh cậu bé là một chú chó nhỏ.

Hình ảnh này khiến Jenny chợt nhớ đến phim Charlie Chaplin cô vẫn coi ngày còn bé. Cái anh chàng Charlie này thường  đóng cảnh nghèo khổ   với một khuôn mặt rầu rĩ, thiểu não, bên cạnh cũng có một chú chó con. Đua máy ảnh lên chụp cậu bé qua vài góc cạnh, Jenny  quay sang bà Hằng ngỏ ý cô muốn gặp cậu bé. Khẽ gật đầu, bà Hằng lặng lẽ bước về hướng cậu nhỏ đang ngồi.

***

 Bước tới và đứng sát cạnh bàn Jenny, nhưng  cậu bé vẫn cúi gằm mặt và hai tay buông thõng, chỉ có chú chó con vẫn hồn nhiên vẫy đuôi chạy loanh quanh. Jenny lặng lẽ kín đáo quan sát, cô thấy tim mình nhói đau khi nhìn thân hình gầy gò của cậu bé trong chiếc áo thun rộng thùng thình và rách lỗ chỗ. Cậu bé chắc chỉ khoảng trên 10 tuổi, Jenny thầm nghĩ, cô khẽ rút trong túi áo một khoản tiền và nhẹ nhàng nhét vào tay cậu bé. Cô nhờ bà Hằng nói với cậu những câu vỗ về an ủi. Bây giờ cậu bé mới ngẩng mặt lên lý nhí cám ơn, Jenny thoáng giật mình, vì trên khuôn mặt lem luốt xanh xao, là đôi mắt sáng, trong veo, đen láy toát lên sự linh hoạt, thông minh  . “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, Brittney thường hay đùa nói với cô như thế.

Sẵn trên bàn còn vài chiếc bánh bao, Jenny với tay đưa cho cậu bé hai chiếc bánh, đưa hai tay đón nhận, cậu cúi đầu thật thấp thay cho lời cám ơn và quay bước trở về góc tối nơi cậu ngồi lúc nãy. Jenny đưa máy hình lên, cô đã sẵn sàng chụp  những bức hình cậu bé và chú chó nhỏ cùng ngẫu nghiến ăn chiếc bánh, nhưng ô kìa, Jenny bỏ máy hình xuống sững người nhìn.

Cậu bé mở chiếc túi ny lông cậu vẫn đeo bên hông, bỏ một chiếc bánh vào. Tần ngần vài giây, cậu lại bẻ chiếc bánh còn lại làm đôi,  bỏ trở lại bao và cột lại cẩn thận. Còn nửa chiếc bánh trên tay, cậu bé vừa ăn vừa đút cho chú chó nhỏ nãy giờ vẫn ngoan ngoãn đứng chờ.

Bây giờ Jenny cảm thấy thật tức giận, tại sao cậu bé có thể ” ăn chận” phần bánh của chú chó bé nhỏ như vậy. Cô nhớ tới bên Mỹ, nhà cô có hai chú chó, hằng tuần mẹ cô vẫn phải khệ nệ bưng về những bao thức ăn được biến chế đặc biệt cho từng loại chó khác nhau với những “khẩu vị” khác nhau, khi thì cá, lúc thì bò hay gà. Rồi cứ hai tuần một lần, mẹ cô phải chở hai chú chó nhỏ này đến những trung tâm để họ chăm sóc, o bế bộ lông và cắt tỉa bộ móng của chúng,  “Pets are people too!  Thú vật cũng là con người!” Jenny luôn đươc nhắc nhở và bảo ban như vậy.

Nhìn chú chó vẫn đang liếm láp thèm thuồng, không dằn lòng nổi, Jenny cầm nguyên chiếc bánh bước về phía cậu bé, trước đôi mắt ngỡ ngàng của  bà Hằng và cái nhìn sững sờ của cậu, cô đút cho chú chó trọn vẹn chiếc bánh, nhưng Jenny cũng kịp nhìn thấy đôi môi mím chặt của cậu bé, trước khi cậu quay mặt nhìn về hướng khác.

Trời đã bắt đầu tối đen, Jenny vẫn ngồi nói chuyện với bà Hằng, nhưng cô mơ hồ cảm thấy bà trở nên tư lự và khép kín hơn, giọng nói của bà không còn cởi mở, vồn vã như lúc ban đầu. Bây giờ cậu bé đang đứng trước mặt Jenny, cậu nhờ bà Hằng cám ơn cô về những cái bánh, và nhất là cô đã cho chú chó nhỏ của cậu một bữa tối no nê, đêm nay chắc chắn nó sẽ ngủ yên không làm phiền cậu.

Khẽ mỉm cười, Jenny giảng nghĩa cho cậu bé hiểu  chó là người bạn vừa thân thiết, vừa trung thành với con người, cho nên cậu phải thương yêu và đối xử vừa đặc biệt, vừa công bằng với chúng. Bà Hằng thông dịch những câu nói đó cho cậu bé, nhưng đôi mắt bà xót xa như muốn nói thật nhiều những ý nghĩ trong đầu bà, nhưng bà đành khẽ thở dài cúi mặt.

Cúi đầu chào Jenny, cậu bé và chú chó quay bước, hối hả băng qua đường. Chăm chú nhìn theo bóng dáng vội vã của cậu bé, bỗng Jenny nẩy ra một ý định táo bạo, cô quay sang vắn tắt nói với bà Hằng cô sẽ đi theo và tìm xem chỗ ở của cậu bé và chú chó nhỏ. Không kịp chờ ý kiến của bà , Jenny đã đứng bật dậy và phóng theo cậu bé.

Khẽ thở dài, bà Hằng đành lật đật tất tả bước theo bóng Jenny. Không mấy khó khăn, Jenny đã bắt kịp cậu bé, nhưng không muốn cậu  biết có người theo dõi, cô cố giữ một khoảng cách khá xa.

Sau khi băng qua hai góc phố, vài con đường, cuối cùng cậu bé và chú chó nhỏ dừng lại dưới mái hiên của một tiệm sách đã đóng cửa. Jenny và bà Hằng vội ngồi thụp xuống bên lùm cây cách đó không xa, cô cố nhướng mắt nhìn về phía trước. Hình như cậu bé đang tìm ai, cậu nhớn nhác ngó quanh, chú chó cũng sủa lên vài tiếng.

Bỗng từ trong góc tối một bóng người xuất hiện, đúng  ra là một người đàn ông, nhưng ông lê “bước” ra bằng hai bàn tay, bởi đôi chân ông đã cụt qua quá khỏi đầu gối. Bên cạnh ông là một bé trai nhỏ khoảng 3, 4 tuổi. Cậu bé vội bước tới khẽ dìu ông và dắt tay người em trai nhỏ. Họ cùng ngồi xuống bên vệ đường, cậu mở vội chiếc túi và lôi ra chiếc bánh cậu để dành ban nãy đưa cho người đàn ông,  xong cậu quay sang ôm người em nhỏ vào lòng, cậu từ tốn đút từng mếng bánh nhỏ cho em. Điều kỳ lạ là chú chó nhỏ vẫn đứng  yên lặng vẫy đuôi, dường như đây là hình ảnh rất quen thuộc mà nó thấy mỗi ngày.

Jenny gần muốn như ngã khụyu khi nhìn hình ảnh đó, cô phải ngồi bệt ngay xuống bên vệ đường. Cô chợt nhớ lại lời khuyên  của cô với cậu bé khi nãy là hãy thương yêu loài vật, rồi cô lại liên tưởng những tháng ngày cô còn bé. Chỉ một bữa ăn sáng không đúng ý, chỉ vì không có đôi giầy đồng mầu với chiếc váy, cô đã giận mẹ cô cả tuần, không nói năng, thậm chí có lúc cô còn muốn “run away from home”, bỏ nhà đi bụi đời! Những lời cô vừa cao giọng giảng giải cho cậu bé thật lố bịch biết bao. So  sánh với cậu bé, Jenny cảm thấy mình chỉ như là một giọt nước trước một đại dương bao la.

Thò tay vào túi vét hết tất cả những đồng tiền cuối cùng, Jenny quay sang bà Hằng. Bà vẫn ngồi bó gối im lìm, đầu cúi thấp, bóng tối che khuất nên Jenny không thể nhìn thấy  khuôn mặt bà cũng đang nhạt nhòa nước mắt.

Vừa dúi vào tay bà những tờ tiền, có tờ còn hơi  ướt vì thấm nước mắt của cô, Jenny thổn thức nói:

– Hãy nói với cậu bé ấy là tôi xin lỗi, hãy tha thứ cho tôi.

Trước khi bà Hằng kịp trả  lời, cô đã vụt đứng lên và chạy ngược về phía khách san.

Suốt ngày hôm sau, Jenny và bà Hằng đã ngồi chờ cậu bé tại quán ăn, cô cũng quay lại góc phố đêm qua, đi loanh quanh mong sao gặp lại được cậu bé và chú chó, nhưng cậu bé vẫn biệt tăm.

Sáng nay khi chia tay với bà Hằng, cô đã dể lại số phone riêng của cô, hy vọng bà sẽ tìm ra cậu nhỏ và chú chó.

Khi nghe Jenny hứa sẽ quay lại đây và sẽ ở lại lâu hơn, bà Hằng nhẹ nhàng nói:

– Đến với VN, đôi khi mộtngày cũng quá đủ, nhưng lắm lúc  một trăm ngày vẫn cảm thấy thiếu!

Nói xong bà khẽ xiết chặt tay cô và chúc lời thượng lộ bình an.

Đưa tay cột lại giây an toàn, Jenny khẽ tựa đầu vào ghế. Cô chợt nhớ đến hình ảnh cậu bé người Nhật của Miyako, và cậu bé Vietnam của Saigon. Cả hai đều có một tấm lòng vị tha bao la, nghĩ đến người khác hơn nghĩ đến mình, cả hai đúng là có trái tim thật nhân ái tuyệt vời. Nhưng rồi cô bỗng so sánh, cùng bằng nhau số tuổi, nhưng  2 hình ảnh, 2 cuộc đời sao quá khác biệt.

Cậu bé người Nhật rất có thể ngay ngày hôm đó, cậu sẽ được đưa tới một nơi tạm trú, cậu có thể vẫn có những bữa ăn nóng sốt, chăn ấm nệm êm, từ những trung tâm cứu trợ, hay từ chính  những người hàng xóm tốt bụng đầy lòng nhân ái.
Có thể  cậu phải hứng chịu những sự đau thương, mất mát  những người thân yêu của cậu, nhưng chắc chắn Cậu bé vẫn được sống lại trong vòng tay che chở, ấp ủ thương yêu của những người thân còn lại trong gia đình. Cậu  rồi sẽ vẫn chân sáo đến trường, những khổ đau rồi cũng sẽ chìm dần vào quá khứ. Cậu bé vẫn có một tương lai tươi sáng trước mặt.

Còn cậu bé VN đáng thương kia, đừng nói đến tương lai với cậu, với cậu chỉ có ngày mai là làm sao kiếm đủ thức ăn cho người cha già tàn tật và cho cậu em nhỏ dại. Cậu bé là cần câu cơm cho cái gia đình khốn khổ dù cậu chỉ mới hơn 10 tuổi, cái tuổi mà đáng lẽ cậu chỉ biết học hành vui chơi. Đôi mắt trong sáng đầy ắp tình thương kia liệu  có biến đổi trước những tàn bạo khắc nghiệt của đường phố, hay những bầm dập của cuộc đời.

Jenny cảm thấy như có bàn tay ai đang bóp nát trái tim cô. Nước mắt quanh vành mi, Jenny khẽ kéo tấm che cửa sổ máy bay lên,  bên ngoài mặt trời vừa ló dạng, ánh lên những tia sáng ban mai trên những đám mây vàng rực rỡ, chợt Jenny nhớ đến một bài nhạc mà cô đã hát bao lần trong đại học:

We are the World ,
We are the children ,
We are the ones who’ll make a righter day,
So let’s start giving
. . .
It’s true we’ll make a better day
Just YOU and ME

Phải, chính bạn và tôi, chúng ta sẽ  tạo nên những ngày tươi đẹp hơn . Jenny cảm thấy như chợt có một làn hơi ấm áp đang len nhẹ vào hồn cô. Cô chưa biết mình sẽ phải viết thế nào về cậu bé Việt Nam nhưng biết rõ đây là nơi cô sẽ còn trở lại. Chắc phải rủ cô bạn thân Brittney cùng trở lại và ở lại lâu hơn.

Jenny nhè nhẹ khép đôi mắt và chìm dần vào giấc ngủ thật êm đềm có lẽ vì ” con tim đã vui trở lại!”

Thật ra khi Jenny ca ngợi cậu bé người Nhật và cậu bé VN, cô gọi đó là những  người có trái tim nhân ái tuyệt vời, nhưng cô đâu biết, chính cô cũng là người có trái tim thật từ bi.

Cô cũng không biết người Việt chúng ta thường gọi những tấm lòng nhân ái, từ bi là ‘Trái Tim Bồ Tát.”

Pha Lê

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trái Tim Bồ Tát_Pha Lê

Ở Hai Đầu Thành Phố_Châu Quang

Việt Nam dưới góc nhìn của một người Việt sống ở Mỹ:

Ở Hai Đầu Thành Phố / Châu Quang

(danchimviet.info): Đây là một câu chuyện hư cấu. Mọi sự trùng hợp với đời thường, nếu có, đều ngoài ý muốn. Tác giả đội ơn.

Washington, DC

Cách nay trên 15 năm, hãng tôi đang làm tà tà thua lỗ, đóng cửa. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, một người bạn giới thiệu tôi làm cho một công ty thông dịch có hợp đồng với các trường học trong vùng, khi họ cần cho những buổi họp giữa giáo viên và phụ huynh không rành tiếng Anh.

Trong một buổi họp của trường học có thông dịch viên thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, một đồng nghiệp thông dịch viên tiếng Thái mách tôi nếu muốn có thêm tiền, hãy ghi danh với hội American Translators Association (ATA). Mình đóng lệ phí mỗi năm cho hội, họ sẽ đưa tên mình vào trang mạng của họ và ai có nhu cầu dù ở bất cứ đâu cũng có thể truy cập và liên lạc với mình để mướn.

Job đến với tôi lai rai qua trang mạng của ATA và tình cờ một khách hàng, sau một buổi làm cho họ, khuyên tôi nạp đơn thi vào làm thông dịch theo hợp đồng cho Bộ Ngoại Giao Mỹ, và cuối cùng tôi đã làm cho bộ này trên 10 năm.

Làm theo hợp đồng có nghĩa là khi nào có việc thì họ kêu, và đối với bộ, tôi là một nhà thầu, không phải là nhân viên chính thức. Tôi vừa dịch viết, vừa dịch miệng cho bộ, vừa làm cho những công ty dịch thuật tư nhân khác, kiếm được tiền cũng gần bằng công việc cũ nên tôi cũng chẳng tích cực tìm lại việc cũ, cứ tiếp tục với việc dịch thuật, tự mình làm chủ, có dịp đi đây đi đó bên trong cũng như bên ngoài nước Mỹ, ai gọi mình thích thì nhận, không thích thì từ chối khéo, nghĩ trong bụng đời tỵ nạn không dễ gì kiếm được job nào như vậy.

Khi dịch cho bất kỳ tổ chức thông dịch nào, bạn cũng phải ký giấy cam kết không tiết lộ bất kỳ nội dung nào mình biết trong khi làm việc. Ví dụ như sau khi dịch cho một bác sĩ và một bệnh nhân, bạn không được cho ai biết bệnh nhân đó mắc bệnh gì, nặng nhẹ mức nào vì luật pháp Mỹ coi trọng quyền riêng tư của mỗi người. Ngoài ra, nếu bạn bô bô cái miệng, kể cho người khác bệnh trạng của bệnh nhân, có thể họ sẽ không mua được bảo hiểm nhân thọ, có thể con cháu họ tranh chấp gia tài… họ có quyền kiện bạn đi tù và đền tiền như chơi, đại khái là như vậy.

Vấn đề bảo mật lại càng được đặt nặng hơn nữa khi bạn dịch cho Bộ Ngoại Giao Mỹ, vì nhiều lúc bạn làm việc với những nhân vật tai to mặt lớn, họ bàn đến những chuyện quốc gia đại sự, ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều triệu đô la; cho nên những gì tôi sắp kể cho bạn nghe sau đây là những chuyện tôi thấy vô hại, không ảnh hưởng đến vấn đề bảo mật mà tôi đã hứa với bộ. Thế nhé.

Một trong những công việc mà Bộ Ngoại Giao Mỹ chỉ định cho các thông dịch viên là đi theo các đoàn quan chức của Hà Nội thăm nước Mỹ.

Thông thường, một đoàn gồm khoảng 10 quan chức của Hà Nội được 2 thông dịch viên của Bộ Ngoại Giao Mỹ đi kèm, ăn chung thì không bắt buộc nhưng nghỉ chung khách sạn, mỗi người một phòng. Mỗi chuyến đi kéo dài từ hai đến ba tuần, ghé vài thành phố; bắt đầu là Washington DC, nơi sẽ gặp cấp chính quyền liên bang và thường kết thúc ở miền Tây như Seattle, San Francisco hoặc Los Angeles để đoàn về Việt Nam cho nhanh.

Lấy ví dụ một đoàn thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì tại DC, thông dịch viên sẽ đưa họ đi gặp Cơ quan Quản lý Thực phẩm Dược phẩm (FDA) hoặc cơ quan phụ trách về vệ sinh an toàn thực phẩm. Sau đó đi thăm các lò mổ bò ở Nebraska hoặc các trại chăn nuôi ở Iowa.

Lấy ví dụ một đoàn thuộc Cục Hàng không thì tại DC, thông dịch viên sẽ đưa họ đi gặp Cơ quan Quản lý Hàng không Liên bang FAA, hoặc đến thăm NTSB để biết cách cơ quan này điều tra một tai nạn máy bay; sau đó đi thăm một hai phi trường lớn nhỏ ở miền Trung Tây để quan sát cách vận hành của ban quản lý phi trường, của đài kiểm soát không lưu, trước khi đi thăm dây chuyền sản xuất máy bay Boeing ở gần Seatlle.

Ngoài những buổi họp có tính cách chuyên môn, đoàn cũng được đưa đi xem một buổi tranh tài thể thao – bóng rổ/bóng chày/bóng bầu dục – hoặc một buổi văn nghệ – nhạc kịch Broadway/Con Ma nhà hát Opera – và đi ăn một bữa cơm tối với một gia đình người Mỹ ở địa phương để thưởng thức món ăn Mỹ nấu tại nhà và quan sát khung cảnh của một gia đình Mỹ trung lưu xem có giống như trên màn ảnh không.

Chương trình đi thăm nước Mỹ xuất phát từ cả hai phía. Thông qua đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Mỹ cho phía Việt Nam biết trong tài khóa năm nay sẽ có các chuyến đi thế này thế này, phía Việt Nam đề cử người tham gia. Ngoài ra, nếu phía Việt Nam có nhu cầu đặc biệt thì cứ nói với sứ quán Mỹ, nơi đây sẽ liên lạc với Washington và nếu OK thì chuyến đi sẽ thực hiện.

Có những chuyến Bộ Ngoại Giao Mỹ đài thọ từ A đến Z, có những chuyến phía Việt Nam phải tự chi vé máy bay quốc tế; phía Mỹ chỉ lo thu xếp các sự kiện, chi tiền khách san, vé máy bay nội địa, và tiền ăn theo ngày và theo thành phố.

Thành phần tham dự thông thường từ phó hoặc trưởng phòng hoặc đại biểu quốc hội trở lên ở cấp trung ương, hoặc phó hoặc giám đốc sở trở lên ở cấp tỉnh. Nếu là nhà binh hoặc công an thì thường từ đại tá trở lên. Nói chung là cấp đang lãnh đạo hoặc có tiềm năng sẽ là lãnh đạo.

Thu xếp các buổi họp là công việc của Bộ Ngoại Giao Mỹ, thông dịch viên chỉ việc đưa đoàn Việt Nam đến những nơi họp theo một danh sách đã ghi sẵn. Công việc của hai thông dịch viên là đưa đón đoàn ở phi trường, liên lạc xe cộ để đến các địa điểm, thay nhau dịch trong các buổi gặp mặt với người Mỹ, nhận chìa khóa phòng khách sạn để trao cho đoàn, kể cả đưa đi bác sĩ hoặc bệnh viện khi có người đau ốm.

Thông dịch viên ngoài tiền công thông dịch tính theo ngày, còn hưởng những công tác phí như taxi, ăn uống… y như chế độ dành cho công chức liên bang.

Bộ Ngoại Giao Mỹ đóng vai chủ nhà và các quan chức Hà Nội được đối xử như khách thăm. Bộ đã dặn dò các thông dịch viên rất cẩn thận khi “sống cùng” các khách thăm, ví dụ nếu có ăn chung thì không được để khách trả tiền mà phải đóng góp, ví dụ khi đi taxi chung thì thông dịch viên trả tiền-giữ biên lai-đòi lại bộ, ví dụ phải ứng xử ra sao khi khách yêu cầu dẫn đi ”vui vẻ tươi mát.”

Bộ cũng dặn dò các thông dịch viên ngoài chương trình làm việc và giải trí chính thức, hãy để cho khách thăm được tự do khám phá con người và đất nước Hoa Kỳ, nhất là bây giờ đã có Internet, cần gì cứ hỏi “bác Gúc” là ra ngay, thông dịch viên không nên đề nghị khách thăm đi ăn đi chơi chỗ này chỗ nọ, khiến khách có thể nghĩ rằng mình bị tuyên truyền, dàn dựng.

Ngoài chương trình làm việc chính thức, thông dịch viên không bắt buộc đi theo các quan chức Hà Nội khi họ đi shopping, có lẽ là vì muốn cho thông dịch viên khỏi bị ngộp khi thấy khách thăm từ Việt Nam móc những ông Franklin ra trả giống như ta đếm tiền lẻ. Nếu thông dịch viên được gọi là Việt Kiều thì đúng là bây giờ Việt Kiều làm chủ những ông Franklin không nhiều bằng Việt Cộng.
Người cộng sản có cách tuyên truyền theo kiểu cộng sản, người Mỹ cũng có cách tuyên truyền theo kiểu Mỹ. Vì thế Mỹ mới thua Việt Cộng?

Tuyên truyền kiểu Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, lấy thân người che lỗ châu mai… nếu đem áp dụng ở Mỹ sẽ bị lộ ngay, vì trình độ dân trí cao, anh xạo ke kiểu gì cũng không qua mặt được người nghe.
Tuyên truyền của Mỹ dựa theo nguyên tắc “một hình ảnh giá trị bằng ngàn lời nói” hoặc “trăm nghe không bằng một lần thấy.”

Anh cộng sản nói cho lắm vào về thế giới đại đồng, ba giòng thác cách mạng, thiên đường XHCN, ăn ngon mặc đẹp… cũng không thuyết phục bằng một chuyến đi thăm nước Mỹ.

Trong chuyến đi kéo dài hai ba tuần qua các thành phố lớn nhỏ, chủ nhà con cháu chú Sam sẽ cho các khách thăm con cháu bác Hồ thấy những cái xấu cái đẹp, cái hay cái dở của xứ cờ hoa để rồi con cháu bác Hồ tự đưa ra kết luận cho mình xem ai thắng ai, hoặc ai tốt hơn ai, cái nào là ưu việt.

Theo đúng lôgic của người cộng sản, sau chuyến đi như vậy, dù anh có ngu dốt, ngoan cố đến mấy đi nữa, anh cũng nhìn thấy sự thật nằm ở đâu. Anh đã thấy sự thật rồi nhưng cái cơ chế này không cho phép anh phát biểu công khai. Anh không dám phát biểu công khai nhưng anh có thể phát biểu với vợ anh, con anh, bạn thân anh… từ đó một đồn mười, mươi đồn trăm, chả cần bắc loa hò hét làm gì.
Xã hội XHCN vốn buộc người ta phải sống hai mặt, một mặt đưa ra ngoài xã hội, một mặt đưa ra với chính anh khi anh ngồi một mình.

Sài Gòn

Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng cung cấp thông dịch viên cho các cơ quan liên bang khác khi có nhu cầu.
Tháng 6 năm nay, bộ chỉ định tôi về Việt Nam làm cho Cơ quan Quản lý Thực phẩm Dược phẩm FDA. Tôi có nhiệm vụ đi cùng với Ted, một thanh tra của FDA cũng khởi hành từ DC, đến Sóc Trăng và Bạc Liêu để làm việc với hai doanh nghiệp xuất khẩu tôm sang Mỹ, mỗi nơi làm trong bốn ngày, tổng cọng tám ngày, cọng với hai ngày đi đường thành mười.

Phải mất bốn ngày mới thanh tra xong một doanh nghiệp vì công việc của một thanh tra FDA rất tỉ mỉ, chi tiết, khiến thông dịch viên cũng mệt theo.

Trong ngày đầu, Ted và tôi ngồi trong phòng họp của doanh nghiệp để đặt các câu hỏi mà doanh nghiệp xuất trình, kế tiếp là đi thăm chỗ sơ chế, rửa tôm, lựa tôm, bóc vỏ tôm, lưu giữ tôm… nếu thấy có vấn đề gì thì qua ngày thứ nhì, thứ ba, thứ tư; chúng tôi trở lại chỗ đó để kiểm tra nữa để xem đã giải quyết như đã hứa hay chưa.
Có những vấn đề có thể khắc phục ngay, có những vấn đề cần phải thời gian mới khắc phục được thì Ted sẽ ghi nhận để theo dõi, ghi nhận bằng camera, theo dõi bằng cách đến hẹn, doanh nghiệp phải chứng minh cho FDA thấy vấn đề đã được khắc phục. Nếu bằng chứng không đủ sức thuyết phục, FDA sẽ cho người qua kiểm tra lại.
Khi nói kiểm tra tỉ mỉ, chi tiết, ta có thể lấy ví dụ nước để rửa tôm phải là nước sạch và ở nhiệt độ thích hợp, thì Ted lôi ra các dụng cụ để đo đạc xem có sạch và đúng nhiệt độ không. Luật pháp Mỹ kỵ nhất là nhập tôm có dùng nhiều chất kháng sinh. Ted cũng có dụng cụ đo đạc để biết hàm lượng kháng sinh trong mẻ tôm đang kiểm tra là bao nhiêu.

Phòng chứa tôm đông lạnh thiếu ánh sáng cũng được yêu cầu mắc thêm đèn, vấn đề này thuộc loại có thể khắc phục ngay nên đến ngày kiểm tra cuối cùng vẫn chưa thay đổi thì Ted sẽ ghi báo cáo. Nếu bị báo cáo như vậy ở một mức nào đó, FDA, cụ thể là Ted, có thể đề nghị nhà nhập khẩu bên Mỹ không mua tôm của doanh nghiệp đó.

Kết quả thanh tra của FDA quan trọng ở chỗ chẳng những nó tác động vào các nhà nhập khẩu bên Mỹ mà các nước khác cũng dựa vào đó để mua hoặc không mua sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, bởi vì kết quả thanh tra được công bố trên trang mạng của FDA.
Môi trường lao động của công nhân cũng bị Ted để mắt tới. Ví dụ công nhân có đủ quần áo trang bị, giày ống cao su, khẩu trang, bao tay, mũ nón hay không. Khi đi kiểm tra, chúng tôi cũng phải trang bị y như công nhân vậy.

Thậm chí nhà vệ sinh của công nhân cũng bị soi. Chỗ đi tiêu đi tiểu này có được lau chùi định kỳ hay không, mỗi lần lau chùi có log và ký tên hay không, làm ơn cho xem cái log được không. Tại sao cái cần giựt nước này giựt được nhưng khi giựt không có nước, tại sao phòng đi tiêu này không có giấy đi cầu. Này, chị công nhân, mỗi lần đi vệ sinh xong chị có rửa tay không? Dạ có. Chị rửa tay thế nào chị làm ơn làm cho tôi coi coi… Chị cho hỏi, sếp có dặn chị mỗi lần rửa tay phải dùng xà bông không? Dạ có. Có nhưng tại sao tôi thấy chị không dùng? Dạ em quên. Ôi, những phụ nữ miền Tây chân chất, lập đi lập lại vài động tác giống nhau trong suốt ca làm để mỗi tháng nhận chưa tới 200 đô la.

Bạn hỏi tôi tại sao thanh tra của FDA khó khăn quá vậy, tôi chỉ có thể trả lời cái cơ chế nó là như thế. Thanh tra của FDA là một công chức liên bang, họ sống bằng lương chứ không bằng lậu. Nếu doanh nghiệp bạn làm đúng như những gì FDA yêu cầu thì bạn không cần lo lằng, bôi trơn gì cả.

Công chức hay tư chức Mỹ có tinh thần tự giác, có ý thức cao. Thanh tra FDA hiểu rằng công việc của họ quan trọng, liên quan đến sức khỏe của nhiều người, công việc của họ chịu sự giám sát của báo chí, của các tổ chức xã hội dân sự… cho nên nếu làm ẩu làm tả, ăn vào trúng độc là cả cơ quan mà họ đang phục vụ sẽ bị mang tiếng, phải trả lời đến nơi đến chốn trước pháp luật, chứ không được hạ cánh an toàn, nhận bản án bỏ túi, hoặc cứ câu giờ rồi để lâu hóa bùn, mọi chuyện rồi sẽ đi vào quên lãng.

Thông qua tôi, hai doanh nghiệp mà Ted đang thanh tra đã hơn một lần đề nghị quà tặng, phong bì nhưng lần nào Ted cũng từ chối.
Đi làm tại Sóc Trăng và Bạc Liêu thì Ted và tôi mỗi người mỗi ngày được 151 đô la tiền khách sạn và 98 đô la tiền ăn, dựa trên bảng công tác phí, tùy theo thành phố và quốc gia, mà chính phủ liên bang Hoa Kỳ đã quy định cho công chức mỗi khi đi công tác.

Khách sạn sang trọng nhất tại hai nơi này giá chưa bằng phân nửa giá cho phép trên bảng, nhưng chúng tôi không có quyền hưởng chỗ sai biệt, mà phải thanh toán trước bằng thẻ tín dụng và xin biên lai, sau khi công tác xong sẽ làm giấy tờ bồi hoàn.

Còn tiền ăn mỗi ngày được giao khoán, không cần phải chứng minh giấy tờ, lời ăn lỗ chịu, khi làm giấy tờ bồi hoàn sau công tác, chúng tôi cứ nhân mức giá mỗi ngày với số ngày đi làm thì nhà nước sẽ trả lại mà không một thắc mắc nào.

Trong thời gian ở Sóc Trăng và Bạc Liêu, Ted và tôi coi như không tốn đồng nào về ăn uống, vì ăn sáng đã có khách sạn bao gồm trong tiền phòng, ăn trưa và tối đã có doanh nghiệp bị thanh tra dành phần chi tiền. Trên nguyên tắc, chúng tôi không được để doanh nghiệp bị thanh tra trả tiền các bữa ăn, nhưng trong trường hợp này, nếu có ai thắc mắc, chúng tôi có thể du di bằng cách trả lời rằng, vì chúng tôi không phải là dân địa phương nên phải nhờ những người địa phương dẫn đi ăn cho nó lành.

Chuyến đi này, tôi xin ở lại Việt Nam thêm hai tuần sau khi xong công tác với FDA, cho nên trong hai tuần lễ về Sài Gòn, tôi có thể chi tiêu thoải mái với số tiền ăn mà nhà nước Mỹ cấp cho tôi nhưng tôi đã không dùng đến.

Ở Sài Gòn, tôi có quen với Hạnh, con một hạ sĩ quan làm cùng đơn vị với tôi trước 75. Hạnh năm nay trên 30, một phụ nữ có cá tính, đang làm cho một công ty nước ngoài. Nhan sắc Hạnh thuộc loại trên trung bình, ăn mặc rất lịch sự dù không phải hàng hiệu, nhưng có lẽ cá tính mạnh nên giờ này vẫn chưa lập gia đình. Hạnh nói thà ở vậy còn hơn rước phải ông chồng thiếu tư cách, tối ngày nhậu nhẹt, đánh vợ, xum xoe với thượng cấp.

Trong hai tuần ở Sài Gòn, ban ngày phải đi làm, Hạnh bảo chú tự mình đi thăm bạn bè bà con; còn buổi tối thì Hạnh sẽ tình nguyện chở chú đi ăn đi chơi những chỗ nào mà chú thích.

Thế là vào ban ngày tôi hay lang thang, thường là đi bộ, đi thăm những thằng bạn học, bạn lính, bạn tù còn sót lại, tà tà ở đường sách hoặc những nơi lúc còn trẻ có nhiều kỷ niệm. Tôi không muốn quay về khu nhà cũ vì bây giờ đã hoàn toàn thay đổi, các căn nhà mặt tiền đều do người gốc Bắc làm chủ, tôi sợ mình sẽ tủi thân như ông Hạ Tri Chương “Trẻ con trông thấy hững hờ; Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.”

Và hầu như mỗi tối, tôi chờ Hạnh đến đón tại khách sạn, đội mũ bảo hiểm nhảy phóc lên phía sau chiếc Vespa của Hạnh để được chở đi Saigon By Night.

Sinh hoạt buổi tối mà tôi thích nhất là đi xem kịch của nhóm Idecaf với cặp Thành Lộc và Hữu Châu, hai chàng quái kiệt diễn vai nào ra vai đó, thiện thì thật là thiện, mà ác thì thật là ác, luôn luôn tạo bất ngờ. Kịch của nhóm Idecaf theo tôi thú vị hơn kịch trước 75 của Kim Cương, Dân Nam hoặc Túy Hồng; nhất là kịch bây giờ được đi kèm bởi hệ thống âm thanh và sound effects rất tốt. Hai chàng phù thủy Thành Lộc và Hữu Châu mà châm biếm, móc méo những chuyện tiêu cực của chế độ thì khó có ai bắt bẻ, chụp mũ được.

Hạnh thích bolero thì tôi đề nghị đi nghe Lệ Quyên ở đường Lê Thánh Tôn, còn tôi thích nhạc ngoại quốc thập niên 60 và 70 nên rủ Hạnh lên sân thượng của Majestic và Rex nghe loại nhạc này vì đặc biệt có ban nhạc từ Philippines và Cuba.

Về ăn thì tôi đặt nguyên tắc với Hạnh là tìm đến những chỗ bình dân mà ngon, bụi bụi một chút cũng được, còn hơn là đến những chỗ sang trọng, nặng phần hình thức nghi lễ lỉnh kỉnh mà nhẹ phần nội dung.
Tối hôm đó, Hạnh và tôi chạy sang Thanh Đa ăn cháo vịt. Ở đây có hai “ông lớn”, được coi là những quán cháo vịt ngon và lâu đời, chỉ cần qua cầu Kinh, nhìn bên tay phải là thấy ngay. Cả hai đều nhận mình là quán gốc, giống như hai quán phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ.

Trước khi đến nơi, tôi nghĩ hai quán này chỉ là hai căn nhà nho nhỏ, bàn ghế xập xệ, có thể phải ngồi bệt ở ghế nhựa không chừng. Đến nơi mới biết mỗi quán chiếm hai ba căn nhà rộng rãi, bàn ghế thuộc loại gỗ chắc chắn, có chỗ dựa lưng.

Chúng tôi nhắm mắt vào đại một quán, quán nào cũng sạch sẽ, khách cũng đông, chỉ còn vài bàn trống phía bên trong. Người phục vụ dẫn Hạnh và tôi tới hai cái bàn vuông nhỏ được ghép lại thành một bàn lớn, mỗi bàn có 4 ghế, có nghĩa bàn đó dành cho 8 người, nhưng vì không còn bàn trống nên chúng tôi được ngồi trong một bàn, nhưng hai bàn vẫn được kê sát nhau.

Chúng tôi gọi gỏi vịt và cháo vịt, nước suối và trà đá.

Đánh giá cá nhân của tôi, thịt vịt ở quán này không được như mức tôi trông đợi, thịt nhạt nhạt, không có vị đặc biệt giúp ta phân biệt giữa gà và vịt, nước mắm gừng cũng không đạt yêu cầu. Đánh giá tổng quát, món này ở đây không ngon bằng DC, khoan nói đến Bolsa.
Hạnh và tôi ăn đâu được nửa phần thì một nhóm ba người đàn ông và một phụ nữ được người phục vụ dẫn đến một trong hai bàn ghép còn trống. Ba ông gần như giống nhau ở chỗ thân hình vạm vỡ, tối thiểu cũng bốn múi, tóc cắt sát, mặc áo thun đắt tiền có logo các đội bóng đá nổi tiếng của châu Âu. Cả ba đều xâm hình đầy người và nai nịt giây chuyền vàng sáng chói, đồng hồ loại xịn.

Cả ba có vẻ khúm núm trước người phụ nữ khoảng trên 40, ăn mặc đầm loại hàng hiệu nhưng thái độ của bà không thoải mái cho lắm, cho lẽ ít khi mặc đầm. Điểm nổi bật của bà này là khuôn mặt mà Hoàng Hải Thủy gọi là khuôn mặt của một người đàn ông không được đẹp trai cho lắm. Ngón tay nào của bà cũng đeo nhẫn và trên cổ là một sợi dây chuyền vàng, gọi là dây xích thì mới đúng, vì mắt xích rất to và dầy, nặng có đến cả kí.

Một ông tự động kéo hộp đựng chén đũa khăn giấy từ phía bàn tôi về phía họ. Một ông tự nhiên kéo hai chiếc ghế dư của bàn tôi đi chỗ khác để có thêm chỗ cho bàn của họ, vô tư xích thêm ghế của họ sang phía bàn chúng tôi, có nghĩa là bốn người bên họ chiếm một bàn rưỡi, Hạnh và tôi bây giờ chỉ còn nửa bàn.

Khi người phục vụ đến, họ gọi bốn ly đá không và hai đĩa lòng vịt để lai rai trước, khiến tôi cũng tiếc, lẽ ra lúc nãy mình cũng nên gọi đĩa lòng để thử xem sao.

Khi đã có lòng vịt và bốn ly đá trên bàn, một ông không hiểu móc ở đâu ra một chai Johnnie Walker nhãn xanh dương, lương thông dịch viên như tôi chỉ uống nhãn đen là cao. Một ông cung kính hai tay rót cho người phụ nữ trước, rồi cả bốn cụng ly dô dô một cách thoải mái, nói năng ồn ào.

Khi cần thêm khăn giấy, tôi chồm tay qua phía bàn bên kia để lấy thì nhận được những cặp mắt gầm gừ của những người đàn ông.
Chẳng mấy chốc, tôi có cảm giác họ đã bắt đầu chú ý đến Hạnh và tôi, họ đã hạ bớt giọng để nói về chúng tôi, hay là tôi nhột nên nghĩ như vậy?

Rồi chẳng hiểu sơ ý ra sao, một ông làm đổ ly rượu quý vào phía chén nước mắm gừng của Hạnh, rượu và đá tèm lem ra mặt bàn của Hạnh.

Anh chàng làm đổ rượu không thấy xin lỗi tiếng nào, chỉ gọi phục vụ này em ơi em ơi, cho anh nhờ cái.

Anh chàng đối diện cầm ly rượu đưa về phía Hạnh:
– Chào người đẹp. Để chuộc tội cho anh bạn của anh, anh đề nghị người đẹp dô với bọn anh một ly.

– Xin lỗi anh, tôi uống rượu không được.

Anh chàng xoay ly về phía tôi:

– Nếu vậy xin mời ông anh đây thay mặt cho người đẹp này uống hộ.
Tôi biết loại whisky của Scotland này hiếm quý, thơm ngon và đắt tiền; nhưng nguyên tắc của tôi là “rượu ngon phải có bạn hiền”, mà bạn hiền của tôi lúc này không có; hơn nữa, bộ tứ này làm cho tôi rơi vào hoàn cảnh rất khó xử, nên tôi chả có hứng thú gì để uống cả. Tôi bèn nêu một lý do rất phổ biến ở bên Mỹ:

– Cám ơn anh, tí nữa tôi phải lái xe nên có lẽ anh cho dịp khác.
Hạnh nhìn tôi thông cảm, vì biết tôi xạo. Cặp mắt của nàng còn ngụ ý nói tôi đừng chấp với mấy tay này. Nàng đứng dậy như muốn nói điều gì.

Anh chàng làm đổ rượu ngồi phía Hạnh cũng đứng lên và trách móc:

– Nhằm nhò gì ông anh ơi, làm một tí cho cho có khí thế để tối nay còn gặm cỏ non nữa chứ. Có phải vậy không người đẹp?

Âm thanh của từ “chứ” được kéo dài với ý mỉa mai, thích thú. Thì ra, bộ tứ này đang nghĩ tôi là một Việt kiều già về đây đi chơi với bồ nhí, chân dài. Họ nghĩ Hạnh là người lợi dụng mấy ông già Việt kiều để có tiền hoặc có vé đi Mỹ.

Chuyện đó không sao, có thể tha thứ được; nhưng chuyện tôi không thể tha thứ được là vừa nói xong “Có phải vậy không người đẹp?”, hắn lại vỗ vào mông Hạnh, khiến cho tôi lại rơi vào tình huống càng khó xử hơn nữa.

Trong cuộc đời, tôi đã mấy lần rơi vào hoàn cảnh tương tự. Những lúc đó, mình ước gì là Lý Tiểu Long hoặc Super Man hoặc có phép thần thông hô phong hoán vũ gì đó; nhưng thực tế không phải như vậy, những chuyện đó chỉ có trên xi nê, mình rút cục chỉ là một thằng bất lực, bó tay.

Giống như khi hàng chục tên trên chiếc tàu đánh cá lớn của Thái Lan đầu tóc bù xù, ăn mặc nhếch nhác, bôi phấn màu lên mặt dùng dao mác, súng ngắn hò hét uy hiếp chiếc ghe vượt biên của chúng tôi để bắt đi các phụ nữ lên tàu của chúng. Chúng tôi là những thằng đàn ông bất lực.

Giống như chúng tôi cũng bất lực nhìn cái đám cộng sản ăn hại, tàn phá cái đất nước này về đủ mọi mặt từ mấy chục năm qua.
Giữa lúc tôi bối rối, không biết nên xử trí như thế nào thì có tiếng la lớn:

– Ơ KÌA, ANH QUANG! ANH VÀO HÔM NÀO THẾ?

Washington, DC

Bạn hỏi tôi tại sao chính quyền liên bang Mỹ dùng tiền người dân đóng thuế để tổ chức những chuyến đi vô bổ như vậy cho các quan chức cộng sản?

Tôi không nghĩ là vô bổ, mà tôi nghĩ không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, không bổ nhiều cũng bổ ít.

Ngân sách của Bộ Ngoại Giao Mỹ đứng thứ nhì, chỉ thua Bộ Quốc Phòng, một bên sử dụng quyền lực mềm, một bên sử dụng quyền lực cứng, người nào việc nấy, có khi quyền lực mềm hiệu nghiệm hơn quyền lực cứng. Họ có nhiều tài nguyên, nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ được giao, ví dụ như gây ảnh hưởng đến quốc gia nào mà Mỹ muốn gây.

Đối với chế độ độc tài như Việt Nam, về mặt đường dài, thông qua chuyến đi hai ba tuần, tiếp xúc với nhiều thành phần, Mỹ muốn gieo vào đầu khách thăm những nguyên tắc chính của một nên kinh tế thị trường, tam quyền phân lập, đa đảng, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật… mặc dù những nguyên tắc này nếu bây giờ đem áp dụng ở Việt Nam thì không được, vì “không đúng quy trình”, hoặc vì “cái nước mình nó như thế”.

Cho dù Việt Nam do cộng sản hay không cộng sản cai trị, Mỹ vẫn muốn kéo Việt Nam về phía Mỹ, nhất là trong giai đoạn Mỹ có xung khắc với Tàu về vị trí lãnh đạo thế giới.

Chương trình mời khách đi thăm Mỹ hai ba tuần không những áp dụng cho Việt Nam mà còn cho các nước mà Mỹ thấy có lợi cho nước Mỹ. Cụ thể, Bộ Ngoại Giao Mỹ có nguyên một Vụ, trước 75 gọi là Nha, để tổ chức những chuyến đi như vậy. Vụ này có tên là Vụ đặc trách Văn hóa Giáo dục, nơi trực tiếp giao việc cho thông dịch viên.

Sau chuyến đi thực tế, được nhìn tân mắt nước Mỹ như thế nào, nếu khách thăm có “ấn tượng”, nôm na là nếu những người này phục Mỹ, sợ Mỹ thì coi như chương trình đã thành công.

Đối với những khách thăm “đặc biệt”, Vụ này có thể tổ chức những chuyến đi một mình với một thông dịch viên; do đó, nhóm thông dịch viên khoảng chục người chúng tôi có người đã có dịp “làm việc” với những vị mà sau này nhận mình là người buôn chổi đốt đến thối móng tay, hoặc người về sau đã vào Bộ Chính trị nhưng âm thầm biến mất vì một chứng bệnh mà quần chúng dân đen không rõ…

Đứng ở một khia cạnh khác, các chuyến đi như vậy cũng tạo thêm công ăn việc làm cho người Mỹ. Các hãng hàng không, các công ty cho thuê xe có tài xế, các khách sạn, nhà hàng, các nơi giải trí, và nhất là các khu shopping có dịp “ăn theo”, trong đó có cả… thông dịch viên.
Ngân sách các bộ đã được Quốc hội chuẩn chi cho mỗi tài khóa phải xài cho hết, hoặc phải giả vờ ra cái điều hơi bị thiếu; bằng không, qua tài khóa kế tiếp sẽ bị Quốc hội cắt bớt.

Nhân nói đến chuyện “ăn theo”, tôi có một kỷ niệm với một tài xế. Bộ Ngoại Giao Mỹ có hợp đồng với nhiều công ty cung cấp xe lớn nhỏ có tài xế để chở khách thăm. Bữa đó, tài xế lái chiếc xe mười mấy chỗ chở đoàn Việt Nam là một phụ nữ đứng tuổi.

Nhân dịp xe ngừng 20 phút để khách xuống đi bộ thăm đài tưởng niệm Jefferson, tôi nhờ anh bạn thông dịch đồng nghiệp một mình dẫn đoàn đi, vì tôi cần đi tiểu. Trở về lại xe, tôi có dịp tán gẫu với bà tài xế trong lúc chờ đoàn trở về.
Bà Pat cho biết đây là lần đầu tiên bà chở một nhóm người Việt. Sau khi biết tôi là người thuộc “bên thua cuộc”, bà mới thổ lộ, you biết hông, công ty của tao hôm nay cho tao rơi vào một hoàn cảnh trớ trêu. Tôi hỏi Pat bà nói vậy với ý gì?

Pat nói, you nghĩ coi, thằng em trai tao đi lính bên Việt Nam bị phục kích chết, thế mà hôm nay tao phải chở những thằng “assholes” đã giết em tao đi ngắm cảnh Washington thì thấy có đau không?
Tiếng chửi thề này nếu giảm nhẹ đi một tí thì có thể dịch là “chó đẻ”. Tôi nghe Pat nói như vậy cũng thấy nhột, bà nói cho bà hay nói cho tôi?

Bạn hỏi tôi chương trình khách thăm có bị lợi dụng, có bị sử dụng không đúng cách hay không?

Bạn cũng như tôi đều biết, giữa thế kỷ 21 này vẫn còn những chuyện “chỉ có ở Việt Nam”. Trên nguyên tắc, đại sứ quán Mỹ đã đặt ra một số điều kiện để tham gia các chuyến đi Mỹ này, ví dụ phải thuộc diện có kinh nghiệm trong ngành định đi, đang là hoặc có tiềm năng sẽ là cấp lãnh đạo; nhưng trên thực tế, không phải tất cả các điều kiện đó đều được đáp ứng.

Có những vị nhân cơ hội có vé máy bay miễn phí, ở lại thêm, đổi vé máy bay để đi thăm con đang học trung học hoặc đại học bên Mỹ.
Có những cô thư ký trẻ trung, mủm mỉm, được phong đại cho một chức vụ nào đó, kể ra một số thành tích ma nào đó để nhập vào đoàn, đi theo phục vụ riêng cho trưởng đoàn.

Có những vụ trưởng, cục trưởng sắp sửa nghỉ hưu, được thưởng một chuyến đi miễn phí, sang đến nơi chịu khó ngồi đồng mấy tiếng trong các buổi họp, sau đó là shopping mua đồ về xài hoặc tặng; những món này được xem là “có chất lượng”, vì là “hàng xách tay”.

Tại sao tôi biết những chuyện đó? Xin trả lời, một phần là do tình cờ hay đi lang thang trong khách sạn vào ban đêm sau khi ăn tối về, có khi là đến phòng tập thể dục để xả bớt stress thông dịch nhức đầu trong ngày; và một phần là do kinh nghiệm.

Thông thường trong một buổi họp, diễn giả người Mỹ nói thì thông dịch viên chúng tôi dịch cùng lúc qua micro là máy phát, và tai nghe là máy nhận. Sau khi nói và dịch xong là đến phần thảo luận hỏi đáp. Người không đủ tiêu chuẩn để đi với đoàn thường là những người hay ngủ gà ngủ gật hoặc chẳng bao giờ đặt câu hỏi, hoặc khi buộc vào thế phải đặt câu hỏi thì hỏi những câu thuộc loại “Trường Sơn đông Trường Sơn tây”, chẳng có ăn nhậu gì đến đề tài đang thảo luận cả.

Tại Vụ đặc trách Văn hóa Giáo dục, người gọi tôi đi theo đoàn thường là Brian. Có lần Brian nói với tôi, mình đã bảo với đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội hãy nói với phía Việt Nam là thành phần phái đoàn phải được trải đều ra, vừa có người ở trung ương, vừa có người ở địa phương, nhưng cuối cùng chỉ toàn người miền Bắc. Kỳ này, có một người giữ vị trí lãnh đạo ở Nha Trang, một ở Hậu Giang nhưng gốc của hai người này vẫn là gốc Bắc. Brian còn kết luận một câu xanh rờn: Việt Nam bây giờ đang ở thời kỳ người miền Bắc đô hộ miền Nam, chúng ta chỉ có bó tay.

Tôi nói với Brian, Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết va Nguyễn Tấn Dũng là người miền Nam đấy chứ; thì Brian trả lời, Sang gốc Hà Tĩnh, các tay còn lại đã bị Bắc hóa cả rồi.

Bạn hỏi tôi các quan chức cộng sản đối xử với thông dịch viên như tôi ra sao?

Trước tiên, họ gọi những người như tôi là phiên dịch thay vì thông dịch viên. Theo chỗ tôi biết, cấp bộ trưởng trở lên mỗi khi ra nước ngoài có quyền mang theo phiên dịch. Bên trong và bên ngoài các buổi họp, tôi thấy các quan chức này đối xử với các phiên dịch giống như một thư ký cao cấp, hoặc nôm na là một loại sai vặt.
Các quan chức của Mỹ thì phần lớn xem thông dịch viên là một chuyên viên, một người trợ giúp mình, nhất là người Mỹ rất lười hoc thêm một ngoại ngữ, cho nên nói chung, họ tôn trọng, đối xử rất lịch sự với thông dịch viên. Sau mỗi lần dịch, họ gửi thư cảm ơn là chuyện bình thường, cho dù chữ ký trong thư có thể là ký bằng máy.

Bạn hỏi tôi các quan chức cộng sản có đủ trình độ để tiêu hóa hết những gì người Mỹ nói trong các buổi họp hay không?

Sự giao thiệp, tương tác giữa đoàn quan chức và hai thông dịch viên lúc mới bắt đầu gặp nhau ở phi trường Dulles thì còn xa cách, bở ngỡ, ngại ngùng; nhưng càng gần đến ngày về lại Việt Nam, hai bên có dịp hiểu biết, thông cảm nhau hơn; mặc dù vẫn giữ một khoảng cách nhất định.

Trải qua hai ba tuần lễ với nhau, các quan chức cũng nhận ra thông dịch viên là những người có kiến thức, có phong cách riêng, làm đúng công việc chuyên môn được giao; thay vì là những công an văn hóa hoặc CIA được chính phủ Mỹ cử đi theo kềm kẹp mình.

Trong lúc họp với người Mỹ, trong đoàn có những thành viên rất hiểu những gì diễn giả nói, nhất là khi gặp đúng ngành nghề chuyên môn. Những người này thường thường ít đeo tai nghe, phần vì vốn tiếng Mỹ họ khá, phần vì họ muốn thử xem trình độ tiếng Anh của mình tới đâu.

Một trong những người thuộc loại này là Vinh, cấp vụ trưởng. Vinh có cảm tình với tôi và có những tối thường lấy cớ này cớ nọ để đến phòng tôi hoặc mời tôi đến phòng Vinh nói chuyện, trao đổi, tâm sự.
Mặc dù đậu thủ khoa ở trường Trung học Thái Bình và Đại học quốc gia Hà Nội, gia đình Tiến sĩ Vinh vẫn phải chạy cho Vinh có một chỗ trong sở rồi đến bộ, và từ từ kinh qua hơn 15 năm, trải qua nhiều cuộc đấu đá, bon chen, thủ đoạn, Vinh mới leo lên chức vụ trưởng, chủ yếu là nhờ có quan thầy vững chắc.

Vinh xác nhận muốn có tiền phải có quyền, thành thử phải chạy vào những vị trí có quyền thực sự thì mới ăn đậm. Nhờ vậy mà bây giờ Vinh cũng có nhà, có ô tô, có hai con tuổi teen, có thể đưa gia đình du lịch Bangkok, Singapore thoải mái; nhưng vợ vẫn phải đi làm.

Khi tôi hỏi đảng cộng sản đã đánh thắng được những đế quốc sừng sỏ, nhất là đế quốc Mỹ, vậy mà có cái nạn tham nhũng dẹp mãi không xong, thì Vinh gạt đi:

– Thôi anh ơi, thắng Mỹ là may mắn chứ có hay ho gì đâu, năm 1972, thằng Mỹ muốn bắt tay với Trung Quốc nên nhả miền Nam ra chứ nếu không thì còn lâu mới thắng.

Vinh cũng thừa nhận chống tham nhũng rất khó, nội cái chuyện kê khai tài sản cá nhân để phát hiện xem nhà cửa có bao nhiêu cái, nguốc gốc từ đâu ra mà cũng không dám làm thì chống thế nào.

Theo Vinh, các hình phạt dành cho tham nhũng quá nhẹ, cho nên các quan chức cứ tranh thủ tham nhũng càng nhiều càng tốt, tích lũy tối đa trước đã, bị phát hiện thì chạy để hạ cánh an toàn, chạy không xong thì sẵng sàng đi tù, vô tù thì chạy để được ăn uống sung sướng, sau vài năm ra tù hưởng thụ suốt mấy đời với số tài sản còn lại, đã được tẩu tán nhiều nơi.

Trước chiến dịch đốt lò hiện nay, Vinh nói chỉ hồi hộp thôi chứ không sợ vì “bề trên” của anh đang rất vững, hơn nữa, anh cũng thuộc loại cá bé, so với những con cá mập, ăn khủng.

Khi tôi hỏi có cách nào “thay đổi” tình hình hiện nay hay không,
Vinh nói chuyện thay đổi rất phức tạp, bởi vì mình phải nhìn nhận một thực tế như thế này anh à.

Sau 44 năm, chỉ có người miền Nam là thấy khổ, thấy luyến tiếc thời kỳ tạm gọi là dân chủ, văn minh trước “giải phóng”. Ngược lại, người miền Bắc cảm thấy đời sống họ bây giờ sướng hơn thời kỳ bao cấp, ăn độn, tem phiếu; họ cứ nghĩ rằng nhờ đảng cộng sản nên họ mới được như vậy, cho nên vẫn còn rất nhiều người miền Bắc ủng hộ đảng cộng sản, cám ơn bác Hồ; họ đâu biết phải có tiền của Việt kiều gửi về, có vay mượn của Ngân hàng Thế giới, có đầu tư FDI hoặc ODA của nước ngoài, đảng đã bắt chước một cách vụng về những gì mà chế độ miền Nam trước 75 đã làm, và nếu đã bắt chước thì giải phóng làm gì để đến nỗi hàng triệu người chết, trải qua 44 năm lòng người vẫn còn ly tán, cơ may hàn gắn bằng không.

Vinh còn nói, giả sử bây giờ có thay đổi chế độ, chính quyền mới sẽ đối mặt với hai vấn đề lớn, chưa chắc họ đã được đa số người dân ủng hộ, và hàng núi rác rưới do chế độ cũ để lại rất khó dọn dẹp, khắc phục.

Trong khoảng 10 năm tôi đi theo các đoàn quan chức, mỗi năm trung bình hai chuyến, tôi đã có dịp tiếp xúc với vài người hiếm hoi như Vinh.

Họ là những quan chức có hiểu biết, có nghiên cứu, đã dính chàm nhưng không thoát ra được vì cơ chế nó là như vậy, họ chỉ làm “đúng quy trình”, họ hiểu những khuyết điểm của chế độ nhưng không dám đứng lên kêu gọi thay đổi, sợ mất nồi cơm, sợ bị tù, sợ mang tiếng phản lại các bậc tiền bối đã cất nhắc họ, sợ đủ thứ. Họ thường sống hai mặt, ở nơi riêng tư với tôi họ có thái độ khác, ở chỗ có những người cùng đoàn họ chuyển sang vai cán bộ gương mẫu, nói vanh vách theo nghị quyết.

Người nào cũng đưa tôi danh thiếp hai mặt giống họ, một mặt tiếng Việt ghi đủ thứ học hàm học vị, mặt bên kia ghi tiếng Anh nhiều chỗ dịch rất ngây ngô. Họ ân cần dặn tôi khi nào về Việt Nam chỉ cần “nháy” một tiếng là họ sẽ lo cho tôi tất tần tật, có ông Hải quan còn bảo tôi, anh mang vào cả chục iPhone em cũng đảm bảo cho qua mà không mất xu thuế nào.

Tôi cũng ân cần nhận danh thiếp nhưng trong bụng nghĩ quan chức như các anh thời giờ là tiền bạc, lúc nào cũng bận rộn mánh mung, hơi đâu mà tiếp những thằng như tôi. Hơn nữa, nếu tôi có về Việt Nam, thời gian của tôi cũng không nhiều, đi thăm bà con, bạn bè, đi ăn uống, du lịch, tìm về những kỷ niệm cũ còn chưa đủ, huống chi tìm gặp các anh.

Ngày qua ngày, thời gian qua mau, tôi cũng quên đi những quan chức Việt Nam đặc biệt mà tôi đã đi cùng trong những chuyến công tác cho Bộ Ngoại Giao Mỹ.

Cho đến buổi tối khi tôi sắp sửa bị các ông xâm mình đầy người bắt nạt ở quán cháo vịt Thanh Đa.

Sài Gòn

Vâng, bạn đã đoán đúng. Người vừa lớn tiếng gọi tôi chính là Vinh. Và sự ngạc nhiên chẳng những đến với tôi mà còn đến với bốn người ngồi bàn bên cạnh Hạnh và tôi nữa. Có lẽ họ ngạc nhiên gấp mấy lần chúng tôi.

Vì câu chuyện đến đây đã khá dài nên tôi xin tóm tắt phần còn lại.
Vinh giới thiệu với bốn người kia tôi là “ông anh” ở bên Mỹ về chơi. Và trong vòng một nốt nhạc, tôi thấy thái độ của bốn người quay gắt 180 độ.

Chị Ba và ba đàn em có hẹn với Vinh tối nay tại đây để nhờ Vinh thu xếp cho một giấy phép khai thác gỗ ở miền Trung.

Sở dĩ phải hẹn ở một quán bình dân vì quán này có tiếng là ngon và đây mới chỉ là tăng một. Sau khi Vinh xác nhận giấy phép chắc chắn được ký thì sẽ có tăng hai ở một nơi hoành tráng.

Nhân tiện, chị Ba cũng xin lỗi tôi và Hạnh về sự “hiểu lầm” vừa rồi, xin anh chị bỏ qua và cho em được mời anh chị bữa ăn hôm nay, và sẵn dịp mời anh chị tham gia tăng hai với chúng em, có đủ mục từ A đến Zét. Giọng chị thuộc vùng Nghệ hay Quảng mà tôi nhận không ra.

Chẳng những nhóm chị Ba mời mà cả Vinh cũng nhiệt tình lôi kéo tôi tham gia tăng hai để “cho anh thấy cách ăn chơi ở Việt Nam có xịn hơn hơn bên Mỹ hay không.”

Tôi cũng thuộc loại thich trải nghiệm những chuyện mới lạ, mỗi năm vẫn theo lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma tìm đến “chỗ nào bạn chưa từng đặt chân đến”; tuy nhiên, chỉ trong một giây suy nghĩ, thứ nhất tôi phải đi cùng với Hạnh để Hạnh về đến nhà an toàn, thứ hai đây là một phi vụ hợp tác giữa xã hội đen và xã hội đỏ, tôi chẳng thuộc phe nào, có mặt tôi hai phe sẽ không thoải mái, mất tự nhiên, cho dù có JW Blue Label hay Macallan 25 năm, cộng thêm chân dài kế bên, tôi vẫn thấy bơ vơ, lạc lõng.

Tôi cám ơn chị Ba đã thanh toán bữa ăn và bịa với Vinh rất tiếc, tôi có chuyến bay về lại Mỹ quá khuya hôm nay.

Trên đường chở tôi về lại khách sạn, Hạnh nói xã hội bây giờ có câu nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, rồi mới đến bốn trí tuệ; chú thuộc loại thứ ba nên thoát được trận đòn của đám giang hồ.

Tôi trả lời Hạnh nói bậy rồi, bốn tiêu chuẩn đó chỉ dành cho người trong cuộc; còn chú bây giờ là người ngoại đạo.

Cái cảm giác bất lực, bó tay lại đến với tôi, tôi không muốn nói ra với Hạnh, vì ngại có nói, thế hệ của Hạnh cũng không hiểu.

Hạnh chỉ nghe tôi nói, thật ra cũng may đấy chứ, Hạnh còn nhớ mới xảy ra vụ dân giang hồ xâm trổ đầy người bao vây công an ở Đồng Nai gì đó không? Ngay cả trung tá đại tá công an còn bị anh em giang hồ bao vây định tẩn cho một trận, huống chi một gả Việt kiều già và dở hơi như chú.

Châu Quang 

https://www.danchimviet.info/o-hai-dau-thanh-pho/07/2019/15584/

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ở Hai Đầu Thành Phố_Châu Quang

Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

co lai do

(HNPD): Ngày kia, một Thiền sư phải qua sông. Vị Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp. Ngày kia, một Thiền sư phải qua sông. Vị Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp.Sau khi thuyền cặp bến, cô lái đò thu tiền từng người như bình thường, chỉ trừ nhà sư bị cô lái đò đòi tiền “gấp đôi.”Nhà Sư ngạc nhiên hỏi vì sao? Cô lái đò mỉm cười: “Thưa Thầy, vì Thầy đã nhìn em…”Nhà sư lặng lẽ trả tiền và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền “gấp ba.” Nhà sư ngạc nhiên lại hỏi vì sao? Cô lái đò cười bảo:“Thưa Thầy, Thầy đã nhìn em dưới nước.” Nhà sư nín lặng trả tiền “gấp ba” giá bình thường, và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định. Đò cập bến cô lái đò thu tiền “gấp năm” lần. Nhà sư ngạc nhiên, lại hỏi vì sao? Cô lái đò cười, đáp:“Thưa Thầy, Thầy không nhìn em, nhưng còn nghĩ đến em.” Lặng lẽ, nhà sư trả tiền gấp năm lần giá bình thường.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò…Đò cập bến, nhà sư cười hỏi: “Lần nầy tôi phải trả bao nhiêu?” Cô lái đò đáp: “Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.”Thiền sư hỏi: “Vì sao?” Cô lái đò cười và đáp: “Thầy đã nhìn em mà không còn nghĩ gì tới hình ảnh em nữa… Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi không lấy tiền…” …

(Chú ý: Chưa hết!  Xin xem thêm lời bàn và các lời kết bên dưới) _______

Lời bàn  Sau đây là 3 lời bàn (“comments”) trên mạng mà tôi thấy cũng   hay:

(1)- Tiếp cảnh sinh tư tình, rồi hành ý lãng tránh đều đã có dính mắc chấp giữ. Nhìn thẳng thấy rõ đúng như thực, bất khởi vọng niệm…

(2)- Đó thấy không?! Dzậy mà mấy bà cứ chửi mấy ông là “cứ thấy gái đẹp là tươm tướp, tươm tướp…”  nhưng thật ra đám lão nông chúng tôi là những người đã đắc đạo từ lâu rồi (?!): Chỉ nhìn mà không nghĩ gì cả (vì có nghĩ cũng chẳng được chi mà lại càng thêm tức… vì đã hết xí quách hết dzồi còn gì!!!)

(3)- Nói một cách khác, mọi sự từ TÂM mà ra, sống ở đời chỉ có chữ TÂM là đáng quý! Theo thiển ý của bỉ nhân, cô lái đò là hóa thân của một vị giác ngộ muốn dạy cho chúng ta một bài Pháp. Nhà sư gặp cô lái đò 4 lần:– Lần 1 bị trả tiền gấp 2 vì nhìn cô gái với tâm phàm (ham muốn).- Lần 2 bị trả tiền gấp 3 vì không dám nhìn thẳng, mà liếc bóng cô gái dưới nước. – Lần 3 bị trả tiền gấp 5 vì giả bộ nhắm mắt ngồi thiền nhưng vẫn tơ tưởng đến cô gái.- Lần 4 không phải trả tiền vì mặc dù nhìn thẳng cô gái nhưng tâm không bị dính mắc bởi những ý nghĩ xấu: Nhìn mà như không nhìn vậy! Trong Đạo Phật, có những câu nghe qua có vẻ nghịch lý nhưng rất thâm thúy như: – Giúp mà như không giúp, thế mới thật là  giúp.- Nhẫn mà như không nhẫn, thế mới thật là nhẫn.- Thương mà như không thương, thế mới thật là thương…________

Lời kết (Hai đoạn kết ngắn được Bác Mao Tôn Cương… Ẩu viết thêm vào phần cuối của câu chuyện “Thiền Sư và Cô Lái Đò” ở trên để gọi là góp… gió độc):

Lời kết số 1 viết thêm như sau: Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần này cô lái đò không những không lấy tiền mà còn xin được đi theo hầu.Nhà sư hỏi: “Vì sao?”Cô lái đò đáp:”Thầy không những nhìn em, mà còn nhìn vào giữa hai chân em, một cách đường đường chính chính, không úp mở, không én lút. Đấy gọi là an nhiên trực diện với cái thực thể uyên nguyên, chứ không giả điếc không nghe, giả mù không thấy, giả ngu không hiểu. Tâm thức này chỉ thấy ở những bậc đại chân tu đã đạt đến cảnh giới thượng thừa. Nên em bội phần khâm phục, muốn được theo thầy học đạo.”Nhà sư trầm tư một lúc rồi thong thả đáp:”Quả là ta đã nhìn vào giữa hai chân cô. Ta cứ tưởng tâm mình đã hoàn toàn tĩnh lặng, không ngờ tâm ta lại ba đào nổi sóng. Thế mới biết còn lâu lắm ta mới có thể đạt đến cái cảnh giới thượng thừa mà cô mong đợi. Ta đã phụ lòng cô, thật đáng tiếc!”Cô lái đò suy nghĩ một lúc rồi ngập ngừng:”Nhưng em… vẫn muốn… theo thầy.Nhà sư hỏi: “Vì sao?”Cô lái đò đáp:”Trước em tưởng thầy là bậc chân tu nên xin được theo để học đạo. Nay em biết thầy là kẻ chân tình nên xin được theo để nâng khăn sửa túi.”Nhà sư chắp tay:”Thiện tai! Thiện tai!” *

Lời kết số 2 viết thêm như sau: Một thời gian sau, những người thường qua đò không còn thấy cô lái đò nữa mà lại có người đàn ông lái đò…  nhìn kỹ ra thì chính là ông Thiền sư ngày nào!Có người khách cắc cớ hỏi:“Thế cô lái đò đâu rồi Thầy?”Nhà Sư (?) trả lời:“Cô ấy đi lấy chồng dzồi.”“Mà cổ ấy lấy ai dzậy hà?”“Thì cổ ấy lấy… tui… Chứ còn lấy ai!”“Trời đất!”

Trần Văn Giang (ghi lại và viết thêm)

Nguồn:https://cdhanqk.com/index.php/menu-phatphap-bskhoang/174-thia-n-s-va-ca-la-i-a

Phụ bản Anh ngữ:

A ZEN MONK AND A FERRYWOMAN Translated into English by Nguyen Giac: “One day a Zen monk had to cross a river. He went over a ferryboat which was rowed by a beautiful woman.After the boat reached the other shore, the ferrywoman collected the normal fares from all passengers except the monk, who was asked to pay double.The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, because you gazed at me.”Silently, the monk paid double the normal fare and stepped onto the river shore.One day the monk had to cross the river again. This time the ferrywoman asked for triple the normal fare.The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, you gazed at my underwater reflection.”Silently, the monk paid triple the normal fare and stepped onto the river shore.One day the monk had to cross the river again. After boarding the ferryboat, the monk closed his eyes and sat in meditation.This time the ferrywoman asked for five times the normal fare. The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, you didn’t gaze at me, but you thought of me.”Silently, the monk paid five times the normal fare.One day the monk had to cross the river again. This time, the monk looked at her in the eyes.After the ferryboat reached the shore, the monk smiled and asked how much the fare was.The ferrywoman replied that the monk should pay nothing.The monk asked why.The ferrywoman smiled and said, “You looked at me, and cling not to any image. Thus, I carry you to the other shore for free.”

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

Tự chuyển biến, tự chuyển hóa_Lính Dù (HNPĐ)

(HNPĐ): Tự chuyển biến, tự chuyển hóa” ở đây không phải là chuyện của cái nhà nước CHXHCN của Việt cộng, mà chúng nó hằng đang lo sợ điều này, đã luôn đề cao cảnh giác, học tập, kiểm soát, canh chừng rất kỷ trong nội bộ, để ngăn chặn sự diễn biến từ trong trứng nước….

… Mà đây là chuyện khởi đầu của một số dân cử gốc Việt trong dòng chính thuộc “băng Bố Già Trần Thái Văn”, mà trước đây họ luôn hiện diện tung hê chống cộng náo nhiệt vang trời rất được điểm trong các dịp sinh hoạt của các cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể chính trị, tôn giáo của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản… Chính nhờ thế mà họ có được lá phiếu để bước vào dòng chính trị Hoa Kỳ. Thế rồi, qua thời gian, tình thế đổi thay, Việt cộng ngày nay không còn là dép râu nón cối với “Đồng, Đài, Đạp, Honda” nữa mà đã trở nên những “Tư bản Đỏ” kếch sù hằng triệu, tỷ Dollars với quyền thế tuyệt đối trên 90 triệu dân Việt đang lầm than khốn khổ.

Các vị dân cử này nhìn về VN theo hướng của chính quyền Mỹ là … “miễn sao có lợi”, nhất là có lợi cho phe nhóm, cho bản thân. buộc họ phải… “tự chuyển biến, tự chuyển hóa”

Trong sinh hoạt chính trị của khối người Việt Quốc Gia, một điều có thể xác định rõ ràng là: cho đến nay, không có bất kỳ một vị Dân Cử gốc Việt nào đi vào được dòng chính của chính trường Mỹ mà không phải nhờ đến lá phiếu mang tính quyết định tích cực của cộng đồng Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản. Đó như là chân lý, là sức mạnh thực sự của đại khối đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới. Thành quả do “sức mạnh lá phiếu đoàn kết” của mình không phải để tự mãn, tự sướng, kiêu hãnh suông với những “đứa con cưng” tinh thần của mình nay là “ông nhà nước” là thị trưởng, là nghị viên, là ông bà Hội Đồng này nọ trong chính trường Hoa Kỳ….. “tuổi trẻ nó giỏi hơn mình, hậu sinh Khả Úy” được làm ông trời con, rồi buông xuôi cho nó làm gì thì làm, một mực nuông chiều !!! thế là hỏng !!!

Ông chủ tịch HĐ Giáo Dục Garden Grove Nguyễn Quốc Lân từng nói trong một chương trình YouTube THP. rằng các tổ chức gọi là cộng đồng, hội đoàn, này nọ của người Việt ở đây là những tổ chức tư nhân vô vụ lợi, chỉ có năm ba người hoặc nhiều lắm vài chục người không có một giá trị gì cả. !!!

Kinh nghiệm, chính trường Hoa Kỳ, thể hiện qua các vị dân cử mỗi khi đã được vào dòng chính, thì sẽ không bao giờ có chuyện luôn đồng hành với tinh thần, ý chí chống cộng của đồng bào tị nạn cộng sản đã bầu họ lên đâu, nếu có chẳng qua là hình thức xum xoe xu nịnh nhất thời đế lấy phiếu hoặc trong từng giai đoạn phù hợp nào dó, từng sự kiện phù hợp nào đó, hoặc mỗi khi thấy có lợi về chính trị, kinh tế chung …và…. ngay cả có lợi cho phe nhóm cũng như cá nhân bản thân, gia đình của họ mà thôi. Hoàn toàn không còn lý tưởng chống cộng gì ở nơi họ nữa. Đồng bào tỵ nạn đừng có cả tin trông chờ để rồi sẽ phải thất vọng ê chề.

Trước đây khi VN chưa có bang giao với Mỹ, Việt cộng còn nghèo đói, chưa có “Tư bản Đỏ” thì các vị dân cử luôn ôm cứng tinh thần chống cộng cùng đồng bào tỵ nạn là cái nôi đã “đẻ” ra họ để tồn tại và vươn lên trong dòng chính Hoa Kỳ, chứ nếu liên hệ với VC trong nước thời đó để mà ăn Bo Bo hay sao !!!…mấy đứa xướng ca như Khánh Ly, Thanh Tuyền, Chế Linh… còn nhận biết cái khôn vặt nầy huống chi là các ngài thị trưởng, nghị viên… ta.

Nhưng nay thì khác rồi, Việt cọng nó đã thành “tư bản đỏ”, nếu nó không mua ai đó được bằng nước bọt tuyên truyền như khi xưa hoặc …bằng tiền còm … thì nay nó sẽ mua được bằng… rất nhiều tiền, dễ dàng đánh tráo khái niệm bằng mọi mưu ma chước quỷ khôn lường.

Các vị dân cử gốc Việt do quyền thế chính trị dòng chính, nay có thêm được nguồn mối lợi rất hấp dẫn từ VN. Biết thế, Việt cộng đã và đang sử dụng ma lực kim tiền để mua cho bằng được với bất cứ giá nào !!!

Bởi vậy các Ngài dân cử trong băng “Bố Già Vĩ Đại” Trần Thái Văn đã và đang âm thầm “khẩn trương” tự chuyển biến, tự chuyển hóa như con bạch tuột đang đổi màu rình mồi mà một số đông đồng bào tị nạn không hề hay biết.

Diễn tiến……..

Không biết âm mưu manh nha hoạch định rồi đến hành động bí mật “tự chuyển biến, tự chuyển hóa” khởi sự từ lúc nào, nhưng… hội chứng đã lộ ra kể từ khi NV Tyler Diệp được tái cử vào HĐ TP Westminster, ông nầy ma-lanh nhất đám, khi đã bẻ lái được nàng NV Protegee Kimberly Hồ, một mình đã đưa ra đề mục (nay thì không được, vì thị trưởng Trí Tạ sau khi xảy ra vụ “Hai Phượng” đã ra nghị quyết phải có 3 người mới được đưa ra một đề mục để bàn thảo trong nghị trường theo chỉ thị phải đạt cho bằng được con “số 3” của thầy dùi Trần Thái Văn) tăng nhiệm kỳ của thị trưởng từ 2 năm lên 4 năm, đương nhiên với bộ ba “Diệp,Tạ, Hồ” đánh bại Margie Rice và Sergio Contreras dễ dàng để đưa ra nghị quyết ghi đề mục trong lá phiếu phổ thông. Trong cuộc tổng tuyên cử giữa kỳ năm 2018, đồng bào tỵ nạn lúc này rất yêu mến “con cưng Tạ Trí”, đã dồn phiếu ủng hộ, nhờ thế nghị quyết tăng nhiệm kỳ thị trưởng từ 2 năm lên 4 năm của TP Westminster đã thành Đạo Luật. ..Tạ Đức Trí là thị trưởng nhiệm kỳ 4 năm đầu tiên của TP Westminster, bà cựu thị trưởng Rice than trời như bọng….

https://www.youtube.com/watch?v=SXKyVBBU16E

Từ lúc nào…. Nghị viên Tyler Diệp, nay là dân biểu tiểu bang California đã hùn vốn làm ăn (kiêm bình luận gia) với VietfaceTV do Marie Tô Ngọc Thủy làm Tổng giám đốc kiêm Giám đốc ParisBynight con gái rượu của Tô văn Lai ?

Từ lúc nào… trạng cải kiêm Giám đốc học chánh TP Garden Grove Nguyễn Quốc Lân làm cố vấn chính trị cho VietFace TV, và đài nầy đã thông đồng làm ăn trao đổi văn hóa kiểu “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”, rồi kinh tế, tài chánh với đài Truyền hình Việt cộng Vĩnh Long TV trong nước do tư bản đỏ Việt cộng Lê quang Nguyên làm giám đốc ?

Từ lúc nào… con gái của VC Lê Quang Nguyên là Lê Hồng Hạnh nay làm phụ tá TGĐ VietFace TV tại Mỹ, là Boss của dân biểu Tyler Diệp và ông chủ tịch HĐ giáo dục Nguyễn Quốc Lân….. Nghe nói cha con đảng viên VC Lê Quang Nguyên có thị phần rất lớn trong VietFace TV.!!!

Ngày 1-1- 2018, qua trung gian kiều nữ Kiều Chinh, ngài thị trưởng Westminster Trí Tạ cùng phu nhân ký hợp đồng hợp tác kinh doanh sản xuất phim ảnh (lại ..văn hóa) thực hiện trong nước qua Alan Vo Ford thay mặt diễn viên Ngô Thanh Vân…..(lúc nầy còn bí mật, chua ai biết …)

Một năm sau, … đầu tháng 3-2019, phim Hai Phượng được chiếu ở Orange County, nhiều người VN đi xem khen phim đánh đấm hay, xã hội loạn lạc, bắt cóc buôn người, cảnh công an chìm, nổi triệt phá băng đảng tội phạm hấp dẫn…. đạo diễn Hai Phượng Lê văn Kiệt được Victoria Tố Uyên phỏng vấn trên SBTN, Ngô thanh Vân được ca ngợi đến trời xanh…

Thế rồi, đùng một cái…!!! trên 30 tờ báo Việt Cọng trong nước đồng loạt đưa tin, với hình ảnh chụp buổi lễ ngày 5-3-2019 tại văn phòng thị trưởng, Ngài thị trưởng TP Westminster đã ưu ái giới thiệu văn hóa phẩm Việt Nam ra với thế giới bằng việc trao tặng Nghị Quyết của TP Westminster vinh danh Ngô Thanh Vân diễn viên chính phim hành động “Hai Phượng” được ban Tuyên giáo TW, Bộ Thông Tin và Truyền Thông VC, đặc biệt bộ Công An giúp cố vấn kịch bản cũng như dàn dựng.

Sau này, qua những messages trao đổi trên T- Mobile phone với hình ảnh rõ ràng đầy đủ giữa những người ký hợp đồng làm phim, cũng như sự công khai nói về hợp dồng làm phim Hai Phương của Alan Vo Ford trong một sinh hoat sân khấu vào tháng 6/2018, chứng tỏ Tạ Trí và vợ có ký kết trong hợp đồng làm phim nầy.

Phim “Hai Phượng” với số vốn ban đầu xấp xỉ 2 trăm ngàn Dollars,

Nay sau sáu tháng từ khi ra mắt đến nay, doanh thu tính cả trong nước và hải ngoại đã lên trên 10 triệu Dollars.

Đồng bào người Việt Quốc gia Nam Cali ngơ ngác… bàng hoàng….

Thủ đô tỵ nạn Little Saigon, từ vĩa hè đường phố đến cafee terrasse, nhà hàng quán phở đâu đâu cũng âu sầu khi nói đến “Ngài Thị Trưởng Đổi Màu”.

Tối thứ Tư,13 -3-2019, HĐ Thành Phố Westminster với “Tam Đầu Chế” Trí Tạ, Kimberly Ho, Charlie Nguyễn đã thông qua 3/5 nghị quyết công nhận tháng Tư là tháng Người Mỹ gốc Việt, (không còn Tháng tư Đen nữa như thường được gọi trong hơn 40 năm nay). Tuy nhiên bị người dân phản ứng dữ dội, có thể diễn ra biểu tình phản đối, do đó trong phiên họp ngày 16-3-2019 HĐ TP đã biểu quyết hủy bỏ NQ tháng Tư là tháng Người Mỹ gốc Việt, và sau đó NV kimberly Hồ đề Nghị tu chính là tháng Tư Đen. Ông Bettenhausen nói:

– “Vì đây là cuộc họp bất thường, không phải họp thường kỳ, nên chúng ta không tu chính được.

Thị trưởng Trí Tạ nói:

– “Chúng ta không thể làm được hôm nay. Chúng ta sẽ đưa vụ này vào nghị trình cuộc họp kỳ tới để điều chỉnh lại.”

… tuy nhiên cho đến nay HĐTP chưa đưa ra được một nghị quyết chính thức để đặt tên cho tháng Tư. như đã hứa.

Đầu tháng Tư 2019, Cộng Đồng Người Việt QG Nam Cali, cùng các hội đoàn Dân Quân Cán Chính VNCH đang chuẩn bị cho lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30-4-2019 tại Tượng Đài CS Việt Mỹ, như bao năm nay thì…

… ngày 18-4-2019, các dân cử gồm có : thị trưởng Trí Tạ, P. thị trưởng Kimberly Hồ, NV Charlie Nguyễn, Chủ tịch HĐ GD Garden Grove Nguyễn Quốc Lân, Chủ tịch HĐGS Quận Cam Andrew Đỗ, NV Michael Võ họp báo công bố quyết định tổ chức khẩn cấp lễ Tưởng niệm Ngày 30-4. tại Parking lot tuần báo VietMy của David Võ chỉ cách tượng đài Việt Mỹ 300 mét, cùng ngày cùng giờ với buổi lễ bên tượng đài CS Việt Mỹ.

https://vietmynewspaper.com/2019/05/04/nhom-dan-cu-orange-county-to-chuc-tuong-niem-30-thang-tu-den/

(Đố quí vị tìm ra được cụm từ “NGÀY QUỐC HẬN” Trong bản tin buổi họp báo trên báo ViệtMỸ của David Vo)

Một điểm khác nhau đặc biệt về tên gọi buổi lễ:

– Buổi lễ bên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ có tên là: Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4-1975.

(https://www.youtube.com/watch?v=7V0Lo58k3EI&t=1204s)

– Bên parking lot báo ViệtMy của các dân cử được gọi là: Lễ Tưởng Niệm ngày 30 tháng tư Đen


https://www.youtube.com/watch?v=q-WUj2GbVqc

(đố quí vị tìm ra được cụm từ “NGÀY QUỐC HẬN” từ cửa miệng của các Dân cử như thị trưởng Tạ Đức Trí, GSV. Andrew Đỗ, LS Trần Thái Văn…..ngay cả MC Minh Phượng, -lạ lùng quá thưa quí vị !!!)

Khi lần lượt hệ thống lại những sự kiện trực tiếp cũng như gián tiếp, ngôn từ rồi sau cùng tổ chức một buổi lễ gọi là “Lễ tưởng niệm 30 tháng Tư Đen” chỉ cách 300 mét, cùng ngày cùng giờ Buổi lễ Tưởng Niệm Quốc Hận hằng năm được phối hợp tổ chức bởi các hội đoàn Quân, Dân Cán Chính VNCH và Cộng Đồng Người Việt QG Nam Cali. hậu duệ… thì ai cũng thấy rằng :

Những người một thời là “con yêu” của cộng đồng người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Orange County, một lòng nâng niu, một lòng gom hết toàn lực lá phiếu cho họ để họ vào chính trường Hoa Kỳ, rồi nay họ trở mặt, công khai chống đối lại vì những viên gạch lót đường cho họ đi lên: cộng đồng, các hội đoàn, đoàn thể Người Việt Quốc Gia chống cộng, nay ngẫu nhiên là vật cản khiến họ phải đạp bỏ trên con đường hướng về bên kia đã và đang dể dàng tạo cơ hội có được vinh thân phì da, họ chơi kiểu Mỹ mà !

Việt cộng gọi kiểu này là: “tự chuyển biến, tự chuyển hóa”
https://www.youtube.com/watch?v=uoI-NL5KBQs

Cơn mê Chiều

Lính Dù

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tự chuyển biến, tự chuyển hóa_Lính Dù (HNPĐ)

Ủng hộ Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông

GS Nguyễn Văn Canh, một người Thầy khả kính của LL/CSQG, đã dành nhiều tâm huyết cho “Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông S.1634” đã và đang được Thượng Viện HK chuẩn bị biểu quyết. Dự Luật có nhiều triển vọng sẽ được Thượng Viện chuẩn thuận và chuyển xuống Hạ Viện để biểu quyết.
Vì Dự Luật có liên hệ đặc biệt đến Việt Nam, nên theo đề nghị của GS Nguyễn Văn Canh, chúng ta cần vận động các vị dân biểu, nghị sĩ trong địa hạt của mình ủng hộ Dự Luật này bằng cách gởi thư (qua email) tới họ theo nội dung như mẫu thư dưới đây để yêu cầu họ vote “Yes” cho Dự Luật:

From: (Email của người gởi)

To: (Email của dân biểu liên bang trong đơn vị của người gởi)

· Subject: South China Sea and East China Sea Sanctions Act of 2019

· Message Body: 
I would like for you to support “The East China Sea and South China Sea Sanctions Act of 2019”. “Vote for it” means you contribute to stability in the region, also show that the USA is the only power that can maintain order  and security for the world.”
We believe that S.1634 – 116th Congress is a need for our country, and respectfully ask you to vote ‘Yes’ on it.

Sincerely,
(Tên và địa chỉ của người gởi

Thí dụ: Nguyễn Văn X.

            12345 ABC Street, OPQ City, Zip#……….)
Quý NT và C/H chỉ cần gởi thư tới các dân biểu trong đơn vị của mình. Để biết, tên dân biểu và gởi email tới vị đó, quý vị có thể vào website sau đây :

https://results.org/volunteers/action-center/legislator-lookup/?vvsrc=%2fAddress

Sau đó, click vào tên vị dân biểu liên bang của đơn vị mình rồi click vào ô “Compose Your Message” và điền các chi tiết như mẫu thư ở trên rồi gởi đi.

Rất mong quý NT và quý C/H hưởng ứng.

Thân kính,

NĐT

Sample Letter copy

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | 2 bình luận

Thư Cám Ơn & Biên Nhận của ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH Kỳ 12 do Hội H.O Cứu Trợ TPB/QP/VNCH tổ chức đã diễn ra ở Little Saigon (Nam CA) ngày 21/7/2019 vừa qua. Trong số các ân nhân đã đóng góp để gây quỹ giúp các TPB và Quả Phụ VNCH còn ở trong nước có sự đóng góp của nhiều AC K1-HVCSQG. Tổng cộng số tiền K1 đã quyên góp được là $7.700 USD, trong đó riêng Quỹ K1 đã ủng hộ $500 USD; toàn bộ số tiền đã chuyển tới BTC trong ngày ĐNH.

Dưới đây là phóng ảnh Thư Cám Ơn và Biên Nhận của Hội H.O…. gởi tới Ban Đại Diện K1:Thu-cam-on-DNH-COA k-12

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Cám Ơn & Biên Nhận của ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12

Hồn Sách Cũ_St

HỒN SÁCH CŨ

Đối với những người đang ở độ tuổi “ cố lai hy”, những cuốn sách như Quốc văn giáo khoa thư, Tâm hồn cao thượng, Thơ ngụ ngôn La Fontaine một thời đã là những cuốn sách “gối đầu giường ”. Đó như là những người bạn thân, đã gắn bó suốt khoảng thời gian thơ ấu của họ…

      Quốc văn giáo khoa thư là sách giáo khoa, vì thế rất gần gủi với nhiều thế hệ.học trò khắp mọi miền đất nước vào khoảng nửa thế kỷ trước. Thuở đó, ai cũng thuộc nằm lòng các câu văn thật giản dị, gần gủi  như  “Xuân đi học coi người hớn hở”, hay “cậu Thu đi ở giữa đường”. Ai cũng nhớ mãi hình ảnh cậu bé “ngất nghểu trên mình trâu”, hay hình ảnh cụ già hì hục khuân tảng đá, hoặc như vẫn còn nghe được tiếng ru của bà trong  buổi trưa “trời nắng chang chang, gió im phăng phắc”….

      Cũng nhờ  Quốc Văn Giáo Khoa Thư, tuổi học trò hồi đó mới biết được những mẫu chuyện bên Trung Quốc như thầy Tử Lộ đội gạo nuôi song thân, ông Lý Tích nấu cháo cho chị mà bị cháy râu, ông Lưu Khoan tha thứ cho người nữ tỳ đổ cháo lên áo ông, rồi cả chuyện bên trời Tây như ông Carnot trở lại trường xưa thăm thầy cũ; những gương hiếu học như Chàng Thừa Cung chăn lợn qua trường học, ông Châu Trí ở tại chùa Long Tuyền đốt lá đa làm đèn…Tất cả những nhân vật quen thuộc của “một thời giáo khoa thư” đều là những gương tốt, đôn hậu, thật thà, thương yêu, nhân ái với một ý tưởng luôn luôn nghĩ đến người khác.

      Quốc Văn Giáo Khoa Thư cũng chứa đựng nhiều vần thơ lục bát, mỗi bài chỉ có từ sáu đến mười câu nhưng chan chứa ý nghĩa thâm sâu, vần điệu ngọt ngào như những lời ru, nhiều câu đã trở thành những “thành ngữ” phù hợp với những chuyện thường xẩy ra trong đời thường. Ai cũng đã nghe và thuộc những câu “chốn quê hương đẹp hơn cả”, “ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”..

      Một cuốn sách khác tuy là phát xuất từ Tây phương, nhưng đã gây ấn tượng mạnh trong tâm hồn của những học cô cậu học trò thời đó, đó là  cuốn Tâm hồn cao thượng do ông Hà Mai Anh dịch từ cuốn Grand Coeur của Edmond De Amicis (1846-1908).  

 Những câu văn thật nhẹ nhàng như  “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè trôi qua như một giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba Lệ Tư để ghi tên lên lớp ba…” trên bài thứ nhất viết về tháng mười của cuốn Tâm Hồn Cao Thượng. Mặc dầu với những cái tên phiên âm rất trúc trắc, xa lạ, nhưng dường như ai cũng quen thuộc với những cái tên như An Di, Phan Tín, Hạ Long,…tất cả được coi  như những đứa bạn cùng lớp với mình, cũng như hình ảnh của thầy Bích Niên với mái tóc bạc, hay cô Đan Cát Tiên hiền lành trở nên rất gần gũi….

      Cuốn sách có mười chương, mỗi chương là một tháng học trong niên khóa, mỗi tháng có sáu câu chuyện thể ký sự của một cậu bé 11 tuổi tên An Di và một câu chuyện kể trong tháng. Những câu chuyện của An Di trong Tâm hồn cao thượng chỉ là những câu chuyện chung quanh rất “đời thường” xẩy ra trong lớp học, ở một thành phố nhỏ tên Turin ở phía bắc nước Ý. Tâm Hồn Cao Thượng là những chuyện về lòng thương yêu của cha mẹ, sự tận tụy của thầy cô giáo, lòng nhân ái của con người, làm cho người đọc dễ xúc động về những câu chuyện kể. 

    Trong sách, có câu chuyện kể về những trẻ em mù, một em bé đã thốt lên câu nói rất cảm động : “Lạy trời cho tôi được mở mắt một phút thôi, để tôi nhận lại mặt mẹ tôi mà tôi đã quên mất rồi!”. Cuốn Tâm hồn cao thượng  cho  ta biết hạnh phúc là gì, nói về những điều ai cũng  có mà  không hay biết. Đó là những câu chuyện kể rất bình thường, dịu dàng của một người thầy nói với học trò, một người mẹ nói với con, không chỉ làm rung động những tâm hồn ấu thơ , mà và ngay cả đối với những người lớn, những câu chuyện bình thường mà chan chứa những điều nhân nghĩa. Dù cuốn sách lấy bối cảnh của một thành phố tận nước Ý xa xôi, nhất là vào một thời điểm mà thế giới chưa rộng mở như ngày nay, nhưng người đọc vẫn cảm thấy gần gũi với những câu chuyện “rất Người”. Như tựa đề Tâm hồn cao thượng, cuốn sách làm cho tâm hồn người đọc hướng thượng, tốt hơn, hiền hơn, biết yêu thương hơn…

     Một cuốn sách khác là cuốn thơ ngụ ngôn Les Fables de La Fontaine do Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ Pháp ngữ, với phần minh họa của họa sĩ Mạnh Quỳnh. Chắc hẳn nếu không có học giả Nguyễn Văn Vĩnh, thơ ngụ ngôn của thi hào La Fontaine (1612-1695) không thể phổ biến đến đại đa số người Việt trong những thập niên 40, 50 của thế kỷ trước Ngày nay những lời dịch của ông  từ thơ La Fontaine đã thành những thành ngữ rất quen thuộc như “Lý kẻ mạnh bao giờ cũng đúng”, “Con Nhái Muốn To Bằng Con Bò”, “Con Cáo với Giàn Nho”, “Hội Đồng Chuột”, “Bán Da Gấu”, “Gà Đẻ Trứng Vàng”, “Chuyện Cô Bê Rét”…  Thơ ngụ ngôn của La Fontaine đã đưa ông lên vị trí của những nhà thơ cổ điển nước Pháp. Có những ví von, những câu nói cửa miệng, chúng ta dùng thường ngày, nhưng  ít ai khi nghĩ đến nó phát xuất từ những chữ nghĩa mỉa mai, răn đời của nhà thơ  La Fontaine.

       Đó là những cuốn sách đã đi vào tâm tưởng của nhiều thế hệ học trò của nửa đầu thế kỷ trước. Cho dù hôm nay da đã mồi, tóc đã bạc, nhưng mỗi khi ngồi giở lại từng trang sách, ai cũng thấy lại được những ngày xưa thơ ấu của mình… Và mặc dù ngày nay,  nó đã được in lại trên những trang giấy mới, bìa mới, thơm mùi mực mới, nhưng đây chính là…những cuốn sách rất cũ trong cái “thư viện tâm hồn” của những người đang hoặc đã bước vào cái tuổi  “  cổ lai hy..”

(NGUỒN: tuyendinh75.blogspot.com)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hồn Sách Cũ_St

Chiếc Nhẫn Ân Tình_Bùi Thượng Phong

ringChiếc nhẫn ân tình

* Bùi Thượng Phong

Khoảng cuối năm 1967 tôi nhận được Sự-vụ-lệnh về cầm một Đại Đội của một Tiểu Đoàn mới thành lập chưa được bao lâu, thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh lúc đó đang đồn trú tại quận Đức-Hòa.

TĐ này trước đó mấy tháng, được đặt dưới quyền chỉ-huy của một vị Thiếu Tá rất nổi tiếng bên Biệt-Động-Quân mới chuyển qua. Vì công-sự phòng-thủ chưa hoàn tất, BCH/TĐ phải tạm thời đóng trong một ngôi biệt thự của một nhà máy xay lúa. Lợi dụng cơ hội này, VC đã bất ngờ dùng đặc-công và nội-tuyến, trong một đêm đen tối, chúng đã tràn ngập vào được BCH/TĐ ngay từ những phút đầu, gây thiệt hại rất nặng cho bên ta. Tai hại nhất, chúng đã lấy đi mạng sống của cả hai vợ chồng vị Tiểu Đoàn Trưởng mà ai đã từng là Biệt-Động-Quân cũng đều phải nghe danh : “Thiếu Tá Cọp-Ba-Đầu-Rằn”!

Tiếc thương ông và người vợ nữ-lưu anh-hùng, nhưng mọi người thầm tự hỏi : Có phải ông đã quá khinh địch ? Hay ông có điều gì bất mãn khi đang trong một Binh chủng nổi tiếng, nay phải chuyển về một đơn vị Bộ binh khiến ông lơ là thiếu cảnh giác ? Điều này chỉ riêng mình ông biết!

Sau trận thảm bại này, các anh em Binh sĩ trong TĐ xuống tinh thần rất nhiều ! Tiểu-đoàn phải chờ bổ xung thêm quân số và cần được “hấp” lại. Và tôi được chuyển về đây cũng trong dịp này.

Được nương nhẹ rất nhiều, nhiệm vụ chính của TĐ lúc đó hầu như chỉ là hành quân mở đường và làm an ninh vòng ngoài cho BTL/SĐ25BB tại Đức Hòa. Lâu lâu cũng có hành quân, nhưng chỉ là những cuộc hành quân lục soát quanh vùng, sáng đi chiều về, như công chức !

Trong khoảng thời gian coi như nhàn hạ này, tôi đã quen biết một đứa bé gái tên là Hân, lúc đó khoảng 8, 9 tuổi, là cháu gọi bằng dì của cô Thanh, chủ ngôi nhà mà tôi đã xin phép để đặt BCH/ĐĐ.

Tôi chọn nhà cô Thanh vì không những nhà có một sân lớn, mà còn có cả một cái nhà cầu đàng hoàng ! Cô Thanh, một phụ nữ khoảng trên dưới ba mươi, không đẹp cũng không xấu, ăn nói rất nhỏ nhẹ, dễ thương. Tôi không thấy chồng cô. Dù cô nghỉ dạy học đã lâu để trông coi việc ruộng nương, nhưng bà con lối xóm vẫn quen gọi cô là Cô Giáo. Dĩ nhiên cô Thanh không hề là đối-tượng của những sĩ quan còn rất trẻ như chúng tôi hồi đó.

Còn nhớ ngày đầu tiên gặp và nói chuyện với cô ở ngoài sân, về việc xin tạm dùng căn nhà làm BCH/ĐĐ, tôi thấy có một đứa bé gái đứng dựa lưng một gốc cau gần đó, đang nheo mắt nhìn tôi rất chăm chú. Thấy nó dễ thương, tôi quì một chân xuống ngang tầm nó và ngoắc nó lại. Nó phụng phịu lắc đầu không chịu. Cô Thanh nói như hơi gắt :

– Hân không được hỗn, lại cúi đầu chào Thiếu-úy, đi con !

Vẫn còn phụng phịu, nó tiến lại gần tôi và lí nhí nói mấy câu gì tôi cũng không nghe rõ !

Tôi thông cảm sự thay đổi quá đột ngột đối với gia đình cô giáo, đang vắng vẻ, neo đơn ; nay bỗng dưng ồn ào náo nhiệt, ra vào toàn lính là lính !

Cô Thanh thì còn bận rộn với ruộng vườn, công thợ… chứ bé Hân thì ngoài giờ đi học, nó đụng độ tụi tôi suốt ngày ! Mấy ngày đầu, nó có vẻ còn tránh né, nhưng rồi sau đó quen hết anh hạ-sĩ y-tá này đến bác thượng-sĩ thường-vụ kia. Nó trở nên vui vẻ và hòa đồng rất nhanh với cái không khí ồn ào nhưng kỷ-luật của đời lính chúng tôi. Đặc biệt, Hân quí tôi hơn cả, vì có mấy lần tôi đã giúp em giải một vài bài toán khó trong lớp. Nó quấn quít bên tôi suốt ngày, chuyện trò líu lo không ngừng nghỉ. Có những lần tôi đi hành quân về, nó núp trong bụi, rồi chợt ùa ra ôm lấy chân tôi cười nức nở… Mới 8, 9 tuổi, mà em đã biết dành dụm tiền để mua đường, nấu đãi chúng tôi những bát chè thật ngọt ngào ấm bụng ! Bù lại, những lần đi phép, không lần nào tôi không mua cho em, khi thì đồ chơi, khi khác là sách, tập…

Hân mồ côi cả cha lẫn mẹ.

Quê em ở mãi đâu vùng An-Hiệp, Thái-Mỹ. Em kể với tôi, nước mắt lưng tròng : Cha em một hôm đi làm ruộng, đạp nhằm phải mìn VC, chết không kịp trăn trối ! Hơn năm sau, người mẹ cũng ra đi vì bịnh ! Thế là em phải về núp bóng dì em, là cô giáo Thanh.

Tôi lúc đó chưa lập gia-đình, thực tình, tôi thương Hân như thương người em út, nó còn kém đứa em út của tôi ba, bốn tuổi !

Tuy ở với dì ruột, tôi biết Hân đang thiếu một tình thương phụ mẫu, nhất là hình bóng của một người cha. Và… không phải là một nhà tâm-lý-học, tôi không thể biết nổi : ở tuổi nào sớm nhất, một đứa con gái có thể biết yêu ? Vì có một lần, mấy cô bạn gái của tôi từ Sài gòn lên thăm. Khi họ ra về, bé Hân đã đối xử với tôi một cách rất khác thường ! Nó lảng tránh và ít nói hẳn, không hồn nhiên như trước nữa ! Hình như nó cũng biết hờn, ghen ? Tôi nghĩ dù sao, nó chỉ là một đứa con nít ! Mà đúng thế, chỉ được hai hôm là cô nàng đã quên hết ! Lại dở trò nghịch ngợm, chọc phá như cũ…

Hồi đó cứ như thế, tôi lấy tình thương yêu của anh em binh sĩ dưới quyền và luôn của bé Hân như một hơi ấm gia đình. Đang ở cái tuổi tràn đầy nhựa sống, mấy anh chàng sĩ quan lóc chóc như tụi tôi, có thì giờ là la cà tán tỉnh mấy em cỡ tuổi đôi tám, chợt nở rộ như những bông hoa đầy hương sắc miền thôn dã, chẳng hạn như em Huệ con một ông chủ nhà máy xay, hoặc Giáng Tiên, hoa khôi tỉnh Hậu-Nghĩa !

Thế nhưng mấy tháng nhàn hạ qua nhanh như gió thổi, khi TĐ vừa có một sinh khí mới, thì biến cố Tết Mậu-Thân xẩy ra ! TĐ hành quân mệt nghỉ, ngày nào cũng có hành quân, ngày nào cũng có đụng độ, mà trận lớn nhất xẩy ra vào trước Tết khoảng 2, 3 ngày. ĐĐ của thằng bạn cùng khóa nhẩy vào giữa một TĐ VC. Chúng đang ếm quân trong khu vực Rạch Gấu, chờ xâm nhập để đánh vào Phú-Lâm ngày mồng một Tết. Hai trực thăng bị trúng đạn phải quay về, ĐĐ của nó thành ĐĐ trừ ! Không đủ trực-thăng, ĐĐ của tôi phải lội bộ vào tiếp cứu. Địch áp đảo về quân số, vũ khí có thừa, nhưng mục tiêu của chúng là vùng Chợ Lớn, ngày Tết, không phải là chúng tôi.. Thế nên chúng chỉ cầm cự, chờ đêm xuống là rút.

Vậy mà mãi mờ sáng hôm sau, tụi tôi mới thanh toán xong mục tiêu. Nhờ những phi-vụ oanh tạc và pháo binh bắn suốt đêm, VC dù đã cố kéo theo, nhưng cũng đành để lại rất nhiều xác chết và vũ khí. Mặc dù vậy, chúng tôi cũng không vui gì khi phải đem xác thằng bạn ĐĐ Trưởng và bốn Binh sĩ dưới quyền của anh ! Tội nghiệp, anh quê ở Hóc Môn, ra trường là xin ngay về SĐ 25 cho gần nhà !

Khóa chúng tôi đã có một số nhờ tài thao lược, lòng dũng cảm, cộng thêm sự may mắn, đã vượt qua nhiều gian khổ và nguy hiểm mang lại nhiều chiến công vẻ vang cho Quân đội, nổi bật nhất là Trung Tá BĐQ Lê-văn-Ngôn với 510 ngày trấn thủ Tống-Lê-Chân. Đa số còn lại đều đã hy sinh khi còn rất trẻ, trong những trận đánh tuy khốc liệt, nhưng không một ai biết, chẳng một ai hay ! Tên tuổi và thành tích hiếm khi được xuất hiện trên trang nhất các nhật báo, mà đa phần chỉ thấy nằm trong những khung hình chữ nhật, mầu tang đen nơi trang bốn !

Qua hai đợt Mậu-Thân, tôi sống sót và được thăng Trung-úy, nghĩa là sớm hơn quy định khoảng gần nửa năm, nhưng đến cuối năm 1969 tôi bị thương nặng, miểng mìn văng đầy người. Tệ nhất, có một miểng chém vào động mạch bên nách phải, máu ra rất nhiều và nếu không nhờ trực thăng tản thương về Bệnh viện Dã chiến của SĐ 25 Hoa-Kỳ, chắc chắn là tôi đã theo mấy thằng bạn vui vẻ về miền quá cố rồi !

Khi cơn thập tử nhất sinh đã qua, tôi được chuyển về nhà thương Cộng-Hòa.

Một hôm tôi đang nằm cho Y tá rửa vết thương và thay băng thì có mấy anh em Ban 5 Trung và Tiểu Đoàn lên thăm. Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy có cả bé Hân trong đó. Nó chạy ngay lại ôm lấy tôi, nước mắt đầm đìa… Ông Thượng-sĩ thường-vụ của tôi sau khi thăm hỏi xong, nói nhỏ vào tai tôi :

– Ngày nào nó cũng lên TĐ, xin bằng được nếu khi nào TĐ lên thăm thương bịnh binh, nhớ cho phép nó đi theo !

Tôi nhìn xuống con bé đang rúc cái đầu bé nhỏ vào bụng tôi, tấm thân mảnh mai của em thì rung rung theo tiếng nấc. Tôi cúi xuống hôn trên mái tóc mềm mại của nó và cứ để như vậy một lúc lâu, bởi vì chính trong lòng tôi cũng đang nghẹn ngào, xúc động !

Lúc sau, tôi nâng cầm nó lên, trấn an nó :

– Chú không sao đâu. Chỉ một thời gian ngắn nữa là chú sẽ lành vết thương và sẽ được xuất viện.

– Rồi chú có trở lại Đại đội không ? Nó ngước mặt e ngại hỏi tôi điều mà nó quan tâm nhất.

– Chú cũng không biết nữa, chắc là phải ra một Hội-đồng Quân-y để họ giám định. Sau đó, chú mới biết.

– Vậy khi nào xuất viện, chú xuống thăm Hân nha ? Tôi mỉm cười nhìn nó :

– Chắc chắn là chú sẽ đến thăm Hân và các anh em trong Đại-đội, ngay khi nào chú có thể đi được.

Lúc này mới thấy nó nở một nụ cười, rồi cúi xuống nhấc lên một túi nhỏ và lấy từ trong đó ra một ít trái cây để trên chiếc bàn nhỏ đầu giường. Thì ra nó cũng biết đem quà cho thương binh !

Phái đoàn thăm viếng lúc này đã xin phép tôi để qua thăm các anh em thương binh khác. Trước khi ra khỏi phòng, ông Thượng sĩ thường vụ cúi sát tai Hân dặn dò :

– Khoảng nửa tiếng nữa con ra chỗ đậu xe để về nha. Về sớm cho an toàn.

Nó ngoan ngoãn gật đầu, rồi bắt đầu bi bô :

– Tháng trước ai trong Đại đội cũng tin là chú đã chết rồi. Tiểu-đoàn không có tin tức gì vì chú nằm ở Bệnh viện Mỹ. Mãi sau, khi họ chuyển về Cộng-Hòa mới biết chú còn sống. Dì Thanh có dắt Hân đi cầu nguyện trên chùa hoài. Dì con nói gởi lời thăm chú.

Đến đây, nó bắt đầu quay qua nhìn mấy vị sĩ quan thương binh khác nằm cùng phòng. Chợt thấy chiếc nhẫn của tôi để trên mặt bàn lúc tháo ra cho Y tá rửa vết máu trong các ngón tay, nó cầm lên ngắm nghía rồi hỏi :

– Nhẫn này của chú ? Sao bự và đẹp quá vậy ?

– Ừa, nhẫn của chú. Đây là chiếc nhẫn lưu-niệm của trường Võ-Bị Đà Lạt, lúc mãn khóa ai cũng có.

– Chú quý nó lắm ?

– Chú rất quý nó, và chú đã đeo nó từ khi ra trường.

Nó nhẹ nhàng để lại chiếc nhẫn vào chỗ cũ, rồi quay ra ôm lấy tôi, như thể không muốn xa rời. Nó kể đủ thứ chuyện ở Đức-Hòa, đâu là Đại đội đã có Đại Đội Trưởng mới, nhưng không còn đóng ở nhà nó nữa, các chú trong BCH/ĐĐ vẫn thường ghé thăm luôn…

Nửa giờ sau, ông Thường-vụ đã xuất hiện ở cửa phòng, nói với vào.

– Chào Trung-úy đi Hân, đến giờ về rồi.

Hân bắt đầu lúng túng, vòng tay bé nhỏ, nó cố ôm lấy tôi. Mấy phút sau, tôi phải nhẹ nhẹ gỡ nó ra :

– Thôi Hân về đi không họ chờ.

Nó nhìn tôi như muốn khóc :

– Chú hứa nha ! Đừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đấy !

Nói rồi nó buông tôi, từ từ bước ra cửa, hình như nó đã khóc. Đến cửa phòng, nó quay lại nhìn tôi, bàn tay bé nhỏ của nó đang cố chùi những giọt lệ… Không cầm lòng được, tôi gọi nó :

– Hân lại đây với chú.

Tôi cầm chiếc nhẫn lưu-niệm của tôi, nhẹ nhàng để vào lòng bàn tay của nó :

– Hân giữ cho chú chiếc nhẫn này. Giữ thật kỹ và đừng cho ai biết. Hân biết là chú quý nó như thế nào rồi. Khi nào xuất viện chú sẽ đến thăm Hân và Hân đưa lại cho chú, Thế có được không ?

Thật không ngờ, cái ý-kiến bất chợt đến với tôi lúc đó lại có tác dụng ngay. Hân vui mừng ra mặt, ít nhất nó đã có một vật làm tin kèm theo lời hứa. Lau hết nước mắt nó thủ thỉ :

– Dạ, con sẽ giữ thật kỹ, chờ khi nào Trung-úy đến con giao lại.

Tôi xoa đầu nó rồi đẩy nhẹ nó về phía cửa. Lần này, nó quay lại mỉm cười nhìn tôi và rồi bóng nó từ từ lẫn vào với dòng người thăm viếng bên hành lang Bệnh-viện…

Tôi xuất viện sau đó chừng một tháng, và phục hồi mau lẹ. Tuy vậy, phải chờ đến tháng ba năm 1973 tôi mới nhận được giấy tờ giải ngũ chính thức. Nhìn ngó bên ngoài, tôi may mắn không mất mát gì cả, nhưng những ngón tay bên mặt, nhất là ngón trỏ, không co duỗi bình thường được. Cầm tờ Chứng-chỉ giải-ngũ trong tay, tôi ngậm ngùi : thế là vĩnh viễn giã từ vũ khí !

Trong khoảng thời gian chờ quyết-định của Hội-Đồng Quân-Y, tôi đã đi Đức-Hòa thăm lại chốn xưa. ĐĐ của tôi gần như hoàn toàn mới, chỉ trừ một vài anh em trong BCH/ĐĐ nhận ra tôi, còn lính tráng hầu hết là lính mới, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ ! Chiến tranh đã làm thay đổi nhanh không thể ngờ được !

Tôi lần mò đến nhà cô giáo Thanh để thăm cô và bé Hân nhưng thật không may, người nhà cho biết hai dì cháu cô đã đi ăn đám giỗ bên Bình Thủy, có lẽ đến chiều mới về.

Tôi buồn rầu về lại Sài Gòn, tự hứa sẽ trở lại vào một dịp khác.

Chiến tranh vẫn còn đó, chiến trận gia tăng khắp mọi nơi, nhưng Sài gòn vẫn còn là một mảnh đất khá bình yên ! Nó như một hải đảo nằm giữa một biển lửa. Và tôi đã phải cố gắng để thích ứng với cuộc sống hoàn toàn thay đổi. Dù sao, tôi vẫn còn trẻ. Tôi làm việc như một cái máy, nhưng tôi không còn bị cô đơn, cái cô đơn của một người chỉ huy, dù chỉ là một cấp nhỏ; tôi tự do, không còn bị ràng buộc vào một trách nhiệm có liên can đến sinh mệnh của nhiều người khác. Tâm trạng thả lỏng này đã dẫn tôi đắm mình trong thụ hưởng, để bù lại cho bao năm tháng tuổi xuân đã qua đi trong quân-trường và ngoài trận địa.

Bận rộn vì công việc lúc ban ngày, say mê trong ánh đèn mầu của các vũ-trường vào ban đêm, tôi gần như đã quên hẳn Hân, một đứa bé đang ở một nơi thiếu an ninh, mà chỉ một năm trước, tôi đã coi nó như một đứa em ruột thịt. Tôi đã tự khất lần, và ngần ngại không muốn ra khỏi Đô-thành, nơi mà lúc nào cũng có những cuộc vui đang chờ sẵn.

Khoảng đầu năm 1974, nhân một chuyến đi Trảng Bàng, tôi ghé vào Đức-Hòa và gặp lại Hân. Căn nhà vắng vẻ, khu xóm cũng thiếu bóng những người lính, có lẽ họ đang bận rộn trong một cuộc hành-quân nào đó. Khi tôi đến, chỉ có mình Hân ở nhà, cô Thanh có lẽ đang đi coi ruộng vườn.

Hân lúc này không còn bé nữa, em đang là một thiếu-nữ tràn đầy nhựa sống với một vẻ đẹp tự nhiên và tuyệt mỹ mà Thượng-Đế chỉ dành cho những người con gái đương độ thanh xuân. Em mừng đến rơi cả nước mắt khi thấy tôi. Rót nước mời, em vẫn thân mật nhưng tỏ ra hơi e thẹn, cái e thẹn dễ yêu của các cô gái đang dậy thì.

Hân cho biết em đã trông mong tôi từng ngày, và rất ân hận vì lần trước tôi đến, mà em không được gặp. Lấy chiếc nhẫn dấu kín trong hộc tủ, Hân đưa nó sát mặt tôi, rồi nắm vội nó trong bàn tay và ấp lên ngực :

– Hân biết đây là chiếc nhẫn lưu-niệm của chú, nó lưu lại những kỷ-niệm của chú với Quân-trường Đà Lạt; nhưng bây giờ, nó cũng đã trở thành một vật lưu-niệm của Hân. Nó đã lưu lại những kỷ-niệm giữa Hân và chú. Hân muốn được giữ nó lâu hơn nữa, như vậy có được không ?

Tôi cảm động trước những lý lẽ phát ra tự con tim của em :

– Hân cứ giữ nó đi, như vậy khi nào chú đến với Hân, chú sẽ được gặp cả hai.

Quá vui mừng, quên cả e thẹn, Hân chạy lại ôm tôi, và nói trong cảm động :

– Thực ra, khi có chiếc nhẫn bên mình, Hân có linh cảm là chú sẽ luôn luôn quay về tìm Hân, và như vậy Hân sẽ không bao giờ mất chú.

Tôi ôm chặt Hân, và hôn nhẹ trên trán em như vài năm trước, khi em còn rất nhỏ.

Hình như Hân muốn nhiều hơn thế, em từ từ ngước mặt lên để mong hai làn môi chạm nhau, nhưng tôi đã tự dừng lại bằng cách buông lỏng em. Có phải tôi đang còn bối rối giữa Hân, một đứa bé và Hân, một cô gái đang độ xuân thì ?

Chúng tôi chia tay nhau khi ánh chiều vừa xuống. Tôi hứa với Hân sẽ lên thăm em thường hơn. Cả hai cùng bịn rịn, không nỡ rời nhau, nhưng rồi phút chia ly cũng phải tới, tôi lên xe về lại Sài gòn mang theo một hình ảnh của Hân, đầy nước mắt…

Những tháng ngày sau đó, thời cuộc biến đổi không ngừng… Tất cả đều thất lợi cho miền Nam chúng ta. Ngay cả con đường từ Sài gòn đi Đức-Hòa cũng không còn an ninh nữa ! Tiếp đến là những biến cố dồn dập, nó đến nhanh quá, như dòng thác lũ, như cơn đại hồng thủy, nó cuốn đi hết cả… Không kịp nữa rồi, những gì ta không làm, hoặc chưa làm, đành phải xếp lại trong niềm hối hận khôn nguôi…

Câu “nước mất, nhà tan” thật là thấm thía với tâm trạng của những người bỏ nước ra đi ngày ấy ! Ra đi là không bao giờ nghĩ đến ngày trở lại, ra đi là chấp nhận cả một trời mù mịt, đau thương !

Tôi cũng ở trong số ít những người “bất hạnh nhưng may mắn” này ! Tất cả Nhân dân miền Nam coi như gẫy cánh nửa đường; có khác chăng, chỉ là mỗi người “gẫy” một kiểu.

Riêng tôi đã gẫy một lần rồi, vừa mới bắt đầu xây dựng lại, thì nay lại gẫy thêm một lần nữa…

***

Vật lộn với cuộc sống đến năm thứ 32 trên nước Mỹ, tôi quyết định nghỉ hưu vì đã thấm mệt, cả thể xác lẫn tinh thần.

Những chuyện ngày xưa khi nhớ, khi quên.

Nhiều chuyện quên hẳn, như gió thoảng, như mây bay !

Dòng đời thay đổi, cũng chỉ là lẽ tự nhiên của cuộc sống !

Những ngày, tháng buồn tênh, tôi chợt nhớ đến một câu thơ, không biết đã đọc được ở đâu và ai là tác giả :

Khi ta ở, đất chỉ là đất,
Khi ta đi, đất đã hóa linh hồn !

Vâng, linh hồn của đất, của những nơi ta đã từng đi qua, những nơi ta đã từng dừng lại… Nó đã có một linh-hồn, và linh-hồn đó đã ám ảnh tim ta, như muốn gọi ta về.

Và… tôi đã về thăm lại Sài gòn vào năm 2007 !

Vẫn biết đổi thay là lẽ tự nhiên của cuộc sống, sao tôi vẫn thấy bàng hoàng, tiếc nuối những ngày xa xưa ?!

Lang thang mãi ở Sài gòn, chán! Một hôm, tôi trở lại Đức-Hòa, tò mò muốn biết giờ nó ra sao ? và… những người muôn năm cũ…? Hơn ba mươi năm đã trôi qua, vật đổi sao rời, bóng chim tăm cá.

Đức-Hòa đã thay đổi theo một chiều hướng đi xuống ! Ngày xưa, dù đang là thời chiến tranh, nó vui nhộn biết là bao: hàng quán, lính tráng, người mua kẻ bán ồn ào, tấp nập. Những con đường, tuy chỉ nhỏ vừa cho hai xe nhà binh tránh nhau, nhưng đầy bóng mát của những hàng cây cao… Giờ đây, có những con đường mới mở, rộng thênh thang, thẳng tắp, nhưng trống trơn dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không một bóng cây; xe cộ thì lẻ loi vài chiếc ! Thị-xã giống như một cô gái quê, xấu, đang cố làm dáng với những vết son vụng về tô vội !

Đến khu Bình Tả, nơi ngày xưa tôi đã đóng quân. Cảnh vật không thay đổi nhiều, nhưng sao trông thật hoang sơ, buồn thảm. Tại một ngã ba, ngày ấy có một cái quán lụp xụp, lúc nào cũng ồn ào những lính. Chính tại nơi đây, tôi đã ăn một tô hủ tíu ngon nhất trong đời ! Đi vào sâu hơn khoảng trăm mét là ngôi biệt thự nhà máy xay. Căn nhà hình như đang bỏ hoang. Hỏi thăm thì biết cô Huệ đã định cư bên Úc từ lâu. Cô Giáng Tiên, hoa khôi Hậu-Nghĩa, nghe nói sau này lấy một Sĩ-quan Biệt-động-quân đẹp trai, giờ này chắc đang ở bên Mỹ. Đi sâu hơn nữa thì gặp tàn tích của một cái đồn, đồn này là của Tiểu-đoàn chúng tôi hồi đó. Gần đấy có cắm một cái bảng nhỏ, trên đề : Di tích lịch-sử – Cấm đến gần !

Tự nhiên, tôi thấy lạnh toát người. Có phải anh linh của bao nhiêu Chiến sĩ ngày xưa, vẫn như còn đang phảng phất đâu đây ?!

Ra thăm khu trung tâm Thị-xã, ở đây có thay đổi chút ít. BTL/SĐ25 BB nay hình như đang là một khu dành cho trẻ em, ngay trước cổng vào có một căn nhà nhỏ, trong đó trưng bầy hình ảnh và những kỷ-vật của ông Võ văn Tần !

Chợ Đức-Hòa có xây một mặt tiền mới, quay về hướng khác, nhưng bức tường mặt tiền cũ vẫn còn nguyên.

Đang ngơ ngáo nhìn ngó cảnh vật, tôi chợt để ý có một bà cụ cứ chăm chú nhìn tôi. Bước đi vài bước, bà lại quay đầu nhìn lại; cuối cùng bà cụ đến gần nhỏ nhẹ hỏi tôi :

– Nếu không phải, xin ông thứ lỗi. Phải ông đây là Trung-úy Phong không ?

Tôi giật bắn người. Chắc chắn đây là một người quen biết với tôi, nhưng nghĩ mãi, tôi đành chịu :

– Dạ, tôi là Phong đây ! Xin lỗi, trí nhớ tôi hơi kém, bà đây là…?

– Trời đất, Mô Phật ! Thiệt không ngờ cũng có ngày tôi lại gặp được Trung-úy ! Tôi là Thanh đây. Xưa Trung-úy có đóng quân nhà tôi, Trung-úy còn nhớ không ?

Lúc này thì hình ảnh của một cô giáo Thanh ngày xưa đã lờ mờ lẫn vào khuôn mặt già nua của bà cụ, tôi mừng rỡ :

– …Cô giáo Thanh.. Tôi nhận ra rồi. Tôi nhận ra rồi. Chà, cô trông còn mạnh lắm, đi không cần chống gậy mà. Xin mời cô vô quán nước đây ta ngồi nói chuyện.

Đôi mắt già nua của cô Thanh đã thấy có ánh nước, cô cầm tay tôi ân cần :

– Thôi, quán xá gì. Chắc là Trung-úy ở nước ngoài về thăm Quê hương? Trung-úy có rảnh mời ghé lại tôi uống miếng nước. Nhà cũng gần đây thôi.

– Dạ. Tôi ra khỏi nước từ năm 75, giờ nghỉ hưu rồi mới có dịp về thăm lại. Hồi nãy đi ngang, tôi thấy nhà cũ của cô giờ dường như là một nhà máy gì đó ?

– Bị nhà nằm trong khu “quy-hoạch”, nghe đâu họ đã bán đất đó cho Hàn quốc lập nhà máy may gì đó. Tôi phải mua bậy một căn nhà cũng gần chợ đây thôi, cho nó tiện.

Mời Trung-úy đi theo tôi, chút xíu là tới à.

Lẽo đẽo theo chân bà cụ đi sâu vào một con đường nhỏ ngang hông chợ, tôi ngần ngại ngỏ ý :

– Tôi giã từ Quân đội lâu lắm rồi, cô Thanh cứ gọi tôi bằng tên cho tiện.

– Không có sao đâu. Ở đây bà con cỡ tuổi tôi, ai cũng quý những người lính Cộng Hòa khi xưa ! Lại bởi tôi quen miệng rồi, tôi nhớ Trung-úy là Trung-úy, gọi khác nghe kỳ lắm.

Đến đây, mặc dù tận đáy lòng, như có một chút gì hơi hổ thẹn vì sự thất hứa năm xưa, nhưng tôi không thể quên được Hân :

– Thế cháu Hân giờ sao rồi ? Chắc cũng con cháu rầm rề cả !?

Cô Thanh bỗng như chùng xuống, cô nói rất nhỏ, giọng run run :

– Cháu… cháu nó không còn ở với tôi nữa.

Vừa lúc đó, cô dừng lại trước một căn nhà, nhà của cô. Phải qua một cái sân nhỏ trước khi vào tới phòng khách. Cô Thanh dơ tay :

– Dạ, mời ngồi. Để tôi lấy nước trà mời Trung-úy.

Trong nhà còn có hai vợ chồng người bà con của cô, tuổi khoảng ngũ tuần. Cô Thanh sai họ châm bình nước trà, đoạn rót ra trân trọng mời tôi. Không giữ được kiên nhẫn, tôi hỏi :

– Hồi nãy cô nói cháu Hân không còn ở với cô. Vậy giờ cháu đang ở đâu ?

Sau một hơi thở thật dài, cô Thanh bỗng bật lên khóc nức nở. Hai tay bưng mặt, cô nói trong tiếng nấc :

– Cháu nó đã mất rồi ! Nó bỏ tôi đã gần ba chục năm rồi Trung-úy ơi !

Tôi bàng hoàng, choáng ngợp như vừa bị dội cả một thùng nước lạnh vào người ! Qua một phút xúc động đến tột cùng, tôi lấy lại bình tĩnh :

– Cháu nó qua đời như thế nào, cô có thể cho tôi biết được không ?

– Chuyện cũng hơi dài dòng, vì vậy tôi có ý mời Trung-úy tới nhà, mình có nhiều thời gian hơn. Cô Thanh có vẻ đã lấy lại được chút bình tĩnh, cô tiếp :

– Tôi nhớ nó mất năm Mậu Ngọ, 1978. Lúc đó khó khăn lắm, cả nước đói ! Ở quê như chúng tôi mà cũng phải ăn độn ! Cháu Hân bỏ học ngay từ năm 75. Nó nói học hành gì mà tối ngày họp tổ, họp đoàn, rồi chửi bới chế độ cũ… Vậy mà cũng không thoát, nó phải nhập vào cái gì kêu là Thanh-niên Xung-phong gì gì đó, đi làm thủy lợi. Nghĩa là đào kinh, đắp mương đó, Trung-úy.

Ngừng lại vài giây như thể để lấy thêm sức, cô tiếp :

– Hồi đó nó đang tuổi con gái, mà ăn uống thì thiếu thốn. Lại thêm thi đua này nọ, nó bị mất sức nhiều lắm, rồi bị sốt xuất huyết. Bịnh cũng không đáng gì, nhưng thuốc men hồi đó hoàn toàn không có. Ăn còn không đủ, nói chi thuốc !… Lúc đó nó mới vừa 19 tuổi.

Đến đây, cô lại ôm mặt nức nở… Tôi lại gần cô, vỗ về an ủi :

– Số phận đã an bài như vậy, không cho em qua được cơn khó khăn. Cô cũng không nên rầu rĩ quá không có lợi. Tuổi cô cũng như tôi, ngày một yếu kém…

– Tôi cũng biết vậy, và tôi cũng đã cố giữ gìn sức khỏe, để sống đến ngày hôm nay…

Nói tới đây, cô Thanh từ từ đứng dậy, hướng dẫn tôi đi về phía bàn thờ giữa căn nhà.

Phía trên bàn thờ, tôi thấy có treo hai tấm hình lớn mà tôi đoán là song thân của cô Thanh; đặt trên mặt bàn thờ phía bên trái, có ba tấm hình mà một trong ba tấm đó, tôi nhận ra là em Hân.

Hình chụp có lẽ vào lúc em 17, 18 tuổi, trông xinh đẹp như một bông hoa đang nở.

Khi tôi nhìn em thì đôi mắt của em cũng đã nhìn vào tôi từ lâu lắm rồi, có lẽ ngay từ khi tôi bước vào căn nhà này ! Thắp nén nhang, tôi biết tim tôi đang chảy ra thành nước, và dòng nước ấm đó đang chảy ngược lên phía đôi con mắt … Khói nhang bốc lên không gian và tỏa rộng. Ánh sáng yếu ớt khúc-xạ qua làn khói, làm như em đang mỉm cười nhìn tôi. Có lúc lại không phải là cười, mà đang nhìn tôi như trách móc !?

Mắt tôi bỗng nhiên hơi mờ đi, hình ảnh của Hân, một buổi chiều xa xưa trong dĩ-vãng bỗng hiện về, bé nhỏ lẫn trong đám người thăm viếng ở Bệnh-viện Cộng-Hòa, em quay lại mỉm cười nhìn tôi…

Và rồi lần cuối cùng tôi gặp, cánh tay bé nhỏ dơ lên chào tạm biệt khi tôi trở về Sài gòn, mắt em đầy lệ…

Một âm thanh mơ-hồ như vọng lại từ một nơi nào xa, xa lắm :

– …Đừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đấy !…

Người tôi lúc đó như muốn rũ xuống, tôi cố gắng hết sức đứng thẳng người, nhìn tha thiết vào đôi mắt em, cầu xin một tha thứ.

Ngay trước bức hình của em, tôi thấy có một hộp nhỏ bằng nửa bàn tay, khảm xà cừ mầu đen rất đẹp. Thấy tôi nhìn vào chiếc hộp nhỏ, cô Thanh nói như khuyến khích :

– Trung-úy cứ cầm lên và mở ra coi.

Tôi nhẹ nhẹ cầm chiếc hộp lên bằng hai tay và mở nó. Một thứ ánh sáng như lóe lên : chiếc nhẫn Võ Bị năm xưa của tôi hiện ra, sáng bóng, nằm trong hộp trên một miếng nỉ trắng.

Cầm chiếc nhẫn trên tay, tôi chợt rùng mình, dường như có một luồng điện nhẹ đang chạy qua khắp châu thân ! Qua bao năm tháng, chiếc nhẫn vẫn còn đây mà người xưa đã mất. Chiếc nhẫn như nhắc tôi một lời hứa mà tôi không giữ trọn ! Nhìn giọt nước mắt rơi, tôi mới biết mình đang khóc. Thực lòng, tôi cũng không biết tôi đang khóc vì vui mừng thấy lại một kỷ-vật xưa, hay đang khóc vì tràn đầy ân hận.

Rồi như một phản xạ, tôi đưa nó lên gần miệng, hà một hơi ấm vào viên hồng ngọc rồi chà sát nhẹ nhẹ vào ngực, phía trái tim.

Nhạt nhòa trong nhang khói, tôi thấy Hân như lại mỉm cười. Có phải tôi tưởng tượng không, hay đang có một thần giao cách cảm ?

Cô Thanh từ nãy chỉ đứng yên lặng theo dõi, bỗng cô nói, giọng nhẹ như hơi thở :

– Những lúc còn tỉnh, cháu nó đã kể hết cho tôi nghe vì sao nó có chiếc nhẫn này. Trước đó, nó đã giấu cả tôi, giữ kín và âm thầm chờ mong cho đến những ngày cuối cùng. Trước khi nhắm mắt, nó còn dặn tôi phải để chiếc nhẫn này ngay trước hình thờ của nó, vì nó quả quyết là sẽ có một ngày, một ngày Trung-úy sẽ tìm đến.

Ngừng một phút, cô nói thật nhỏ, như nói với chính mình :

– Cũng phải mất hơn ba chục năm! Giờ thì châu đã lại về hiệp phố !

Đặt lại chiếc nhẫn vào trong hộp và trân trọng để chiếc hộp vào đúng chỗ ban đầu, tôi quay qua cô Thanh :

– Thưa cô, chắc nó không cần về “hiệp phố” nữa đâu. Tôi giữ nó chỉ có khoảng 5 năm, thế mà chiếc nhẫn này nó đã ở bên em Hân những trên ba mươi năm, những lúc em còn sống và cả những lúc em đã qua đời. Tôi không thể hình dung được rồi mai đây, bên hình của em sẽ chỉ còn là một khoảng trống. Tôi biết khi xưa, em luôn luôn muốn có chiếc nhẫn này ở bên cạnh. Cái chỗ đúng nhất của nó là ở trong cái hộp này, ở tại nơi đây ! Xin phép cô, cho tôi cứ để nó bên em Hân mãi mãi… Âm dương là muôn đời cách trở, nhưng tôi muốn mượn chiếc nhẫn này, như một vật xúc-tác giữa hai linh hồn, một linh hồn sống tha-phương nơi đất khách quê người, và một linh hồn mãi mãi trên Quê hương…

***

Cô Thanh ân cần mời tôi ở lại dùng cơm chiều, nhưng tôi phải từ chối vì không muốn trở lại Sài gòn khi quá tối. Tôi hẹn tuần sau sẽ lên để thăm mộ và đốt cho em Hân một nén nhang

Khi tiễn tôi qua chợ, cô cười nói với tôi :

– Trung-úy biết không, khi mua lại căn nhà gần chợ này, tôi cũng có chủ ý là được thấy thật nhiều du khách Việt-kiều. Thấy ai có dáng Việt-kiều là tôi ngó thiệt kỹ. Không dè cũng có ngày Trời Phật thương.

Tôi mỉm cười trước những ý nghĩ chân chất và đôn hậu của một người miền Nam như cô Thanh. Từ giã cô, tôi theo Tỉnh lộ 10 để về Sài gòn. Trước kia con đường này ít khi được xử dụng vì luôn luôn bị đắp mô, mìn bẫy…

Thương hải biến tang điền! Ngàn xưa đến ngàn sau, dù muốn hay không, đổi thay mãi mãi vẫn là một bản chất tự nhiên của cuộc sống!

Chỉ có tình-cảm của con người, có những thứ tình-cảm mà đời đời, không bao giờ thay đổi.

… Vậy mà nhiều khi tôi vẫn đinh ninh rằng: Đã mất hết cả rồi!

Bùi Thượng Phong

(Nguồn: kontumquetoi.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Nhẫn Ân Tình_Bùi Thượng Phong

Bài thơ của một anh thương binh VNCH

Image may contain: 1 person, sitting

Bài thơ của một anh thương binh VNCH

Tao Bị thương hai chân,

Cưa ngang đầu gối !

Vết thương còn nhức nhối.

Da non kéo chưa kịp lành…

Ngày “Giải phóng Miền nam”

Vợ tao “Ẵm” tao như một đứa trẻ sơ sanh…!

Ngậm ngùi rời “Quân-Y-Viện”

Trong lòng tao chết điếng,

Thấy người lính Miền bắc mang khẩu súng AK !

Súng “Trung cộng” hay súng của “Nga” ?

Lúc này tao đâu cần chi để biết.

Tao chiến đấu trên mảnh đất tự do Miền nam

-Nước Việt,

Mang chữ “NGỤY” thương binh.

Nên “Người anh, em phía bên kia…”

Đối xử với tao không một chút thân tình…!

Mày biết không !

Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.

Vợ tao: Như “Thiên thần” từ trên trời rơi xuống…

Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn,

Bụi đất đỏ mù bay !

Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay,

Làm sao “Ôm” nổi bốn con người trong cơn gíó lốc.

Cái hay là: Vợ tao giấu đi đâu tiếng khóc.

Còn an ủi cho tao, một thằng lính què !

Tao đóng hai cái ghế thấp, nhỏ bằng tre,

Làm “Đôi chân” ngày ngày đi lại

Tao quét nhà; nấu ăn; giặt quần; giặt áo…

Cho heo ăn thật là “Thoải mái” !

Lê lết ra vườn: Nhổ cỏ, bón phân

Đám bắp vợ chồng tao trồng xanh tươi

Bông trổ trắng ngần !

Lên liếp trồng rau, thân tàn tao làm nốt..

Phụ vợ đào ao sau vườn, rồi thả nuôi cá chốt.

Đời lính gian nan sá gì chuyện gíó sương…

Xưa, nơi chiến trường

Một thời ngang dọc.

Cụt hai chân. Vợ tao hay tin nhưng không “Buồn khóc”!

Vậy mà bây giờ…

Nhìn tao…nuớc mắt bả….rưng rưng !

Lâu lắm, tao nhớ mầy qúa chừng.

Kể từ ngày, mày “Được đi Cải tạo”!

Hàng thần lơ láo – Xa xót cảnh đời….

Có giúp được gì cho nhau đâu khi:

Tất cả đều tả tơi !

Rồi đến mùa “H.O”

Mầy đi tuốt tuột một hơi.

Hơn mười mấy năm trời…

Không thèm quay trở lại

Kỷ niệm đời Chiến binh

Một thời xa ngái.

Những buổi chiều ngồi hóng gió nhớ…buồn hiu !

Mai mốt mầy có về thăm lại Việt nam

Mầy sẽ là “Việt kiều”!

Còn “Yêu nước” hay không – Mặc kệ mầy.

Tao đếch biết !

Về, ghé nhà tao. Tao vớt cá chốt lên chưng với tương…

Còn rượu đế tự tay tao nấu

Cứ thế, hai thằng mình uống cho đến….điếc !

Trang Y Hạ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài thơ của một anh thương binh VNCH

Coi Chừng Tu Hú_Báo Việt Luận (Úc)

Coi chừng tu hú

Chim Tu hú là loài chim không ấp trứng, và cũng không nuôi con. Loài chim này chỉ đẻ trứng vào tổ chim khác. Ở Việt Nam tu hú thường đẻ vào tổ Sáo sậu rồi mặc kệ cho Sáo sậu ấp trứng nở và nuôi hộ con mình. Lý do đơn giản khiến Tu hú không gửi trứng vào tổ loài chim khác mà chỉ làm khổ Sáo sậu là vì Tu hú rất giống Sáo sậu, chỉ khác nhau ở tiếng hót (mà quả trứng thì không biết hót). Khi trứng nở thành chim con rồi lớn lên và biết hót thì lúc đó Sáo sậu mới biết không phải là con mình. Thế nhưng khi đó thì mọi sự đã muộn.

Tu hú có tên tiếng Anh là Asian Koel, còn tên Khoa học là Eudynamys scolopaceus, thuộc họ Cucu (Cuculidae) được tìm thấy ở Nam Á, Tàu, và Đông Nam Á. Từ “Koel” có gốc từ tiếng Hindi, còn gốc tiếng Phạn là “Kokila” (theo văn chương Phạn vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên loài chim này được gọi là Anya-Vapa có nghĩa là “lớn nhờ người khác nuôi”). Đặc điểm của loài Tu hú là loài đẻ nhờ (không bao giờ làm tổ mà chỉ tìm các tổ chim khác để đẻ). Vì vậy chim Tu hú non được các loài chim khác nuôi dẫn đến nhiều trường hợp chim con lớn gấp nhiều lần chim cha mẹ nuôi). Khi đẻ, Tu hú chỉ đẻ một trứng duy nhất của nó trong tổ của nhiều loài chim khác nhau, kể cả tổ của các loài chim nhỏ. Thường con Tu hú trống có nhiệm vụ bay vờn quanh tổ để thu hút sự chú ý của chim chủ nhà, và cố tình dụ cho chim chủ nhà bay ra khỏi tổ đuổi mình (để bảo vệ trứng) nhằm đánh lạc hướng cho Tu hú mái có cơ hội đẻ một quả trứng của mình vào tổ. Một nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy sau khi chim chủ của tổ chim đẻ trứng đầu tiên được một ngày rưỡi thì Tu hú tìm cách đẻ trứng vào đó. Trứng Tu hú thường nở trước 2, 3 ngày so với trứng của chim chủ nhà, nhưng để bảo đảm trứng của mình được chăm sóc, Tu hú mái ác độc thường ăn trứng hoặc làm hư hại trứng của chim chủ nhà, rồi mới đẻ trứng của mình vào. Chim Tu hú Á châu là loài ăn tạp, chúng ăn tất cả các loại côn trùng, sâu bướm, trứng, và các động vật có xương sống nhỏ, cũng như ăn cả trái cây.

Đó là nói chuyện chim. Chuyện Việt Nam cho tới bây giờ vẫn lắm điều chẳng khác gì chuyện Tu hú.

Năm 1954, Hiệp định Geneve ra đời. Nhiều thanh niên trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp (không ngờ cuộc kháng chiến đó của họ đã bị CS lợi dụng) theo lệnh trên, đã cưới vợ vội vã, gấp rút như kiểu cưới chạy tang. Sau đó, cũng theo lệnh cấp trên, họ rời bỏ người vợ mới cưới hay người họ mới yêu để tập kết ra Bắc. Ra ngoài Bắc rồi, nhiều người lập gia đình mới nhưng lại vẫn theo lệnh đảng CS và nhà nước CS ngoài Bắc, trở về Nam chiến đấu, họ tìm và được người vợ, người yêu khi xưa tận tình giúp đỡ, che chở, nuôi giấu. Hơn thế, cái trứng “Tu hú” trước kia gửi trong bụng vợ (hay người yêu), được sự bảo bọc của xã hội miền Nam, cũng sẵn lòng làm chuyện đó. Bởi thế CS mới phát động được cái gọi là “chiến tranh nhân dân”, nhất là ở những vùng xôi đậu. Bởi thế mới có chuyện con cái của đảng viên CS tập kết lớn lên trong miền Nam, cũng được học hành tử tế, cũng được phép phục vụ trong hàng ngũ quân cán chính miền Nam, và nhiều kẻ đã len lỏi vào tận những cơ quan, đơn vị nòng cốt của chế độ Cộng Hòa và chỉ lộ mặt sau ngày 30/4/1975! Bên cạnh đó cũng phải nhắc đến số đảng viên CS được lệnh theo chân đoàn người di cư vào Nam sau ngày Hiệp định Geneve 1954, để rồi trong 21 năm chiến tranh, cũng là những phần tử nằm vùng hoạt động cho miền Bắc.

Thế rồi ngày 30/4/1975 đến. Nhiều người dân miền Nam di tản kịp thời, được định cư ở các nước Âu Mỹ, và tiếp theo sau đó là những đợt thuyền nhân, bộ nhân lũ lượt bỏ quê hương, rời gia đình họ hàng vượt biên vượt biển đi tỵ nạn. Lại một lần nữa trong hàng ngũ tỵ nạn lại đầy dẫy những kẻ “ra đi theo chỉ thị”. Con cái những kẻ này trưởng thành, học hành, thành tài tử tế là nhờ sự che chở, giúp đỡ của các nước tự do, như thể chim Tu hú lớn lên trong tổ chim Sáo sậu và những đứa con ấy khi lớn lên, lại tiếp tục công việc của cha mẹ được đảng CS, và nhà nước CSVN giao phó là hòa trộn vào tập thể tỵ nạn, xúi giục gây mâu thuẫn, bất hòa để cái cộng đồng tỵ nạn ấy càng ngày càng suy yếu đi. Và trên hết là làm sao để nắm quyền lãnh đạo những hội đoàn, đoàn thể trong cộng đồng, dần dần lèo lái cộng đồng -và lớp trẻ con cái những người tỵ nạn chân chính rời xa lý tưởng mà cha mẹ đã phải liều mình hy sinh cố tìm ra sự sống trong cái chết của thuở ban đầu!

Công việc chống Cộng mỗi ngày một khó khăn. Đối phương ở xa chưa làm gì được mà nội bộ, đồng bào, chiến hữu từng cùng thân phận tỵ nạn đã xào xáo, chia rẽ. Mười hội thì ít ra cũng năm, sáu thể nào sau một thời gian hoạt động hăng say, đoàn kết gắn bó keo sơn cũng phân làm hai, cố dành bằng được vai trò “chân chính”, không ngại ngần thóa mạ, chụp mũ những người mới hôm trước còn là đồng chí, chiến hữu là “tay sai VC”, là “nằm vùng” Ai nói phải quấy thì chụp ngay cho cái “nón cối”. Chuyện buồn cười (và đắng cay ấy) như thế cứ liên tiếp xảy ra, hết lúc này đến lúc khác, hết nơi này tới nơi khác. Vì nếp sống tự do và nguyên tắc tôn trọng đa số của các nước định cư chỉ phù hợp với một nền sinh hoạt chính trị dân chủ kiểu Tây phương, dựa trên truyền thống phong tục đã có lâu đời; nhiều người có lòng nhưng vì tự trọng đành ngậm ngùi rút lui, từ giã mọi sinh hoạt để mặc cho kẻ khác tha hồ nhảy múa.

Tình thế lại càng trở nên khó khăn hơn cho những người còn có lòng, có chí tranh đấu cho một đất nước Việt Nam tự do dân chủ không Cộng sản kể từ khi Hoa Kỳ và các nước Tây phương theo chủ nghĩa tư bản bãi bỏ cấm vận, bắt tay với chế độ cầm quyền ở Việt Nam CS để làm ăn. Giao thương ngày càng tăng dẫn theo một làn sóng “Tu hú” mới từ trong nước ào ạt đổ ra hải ngoại để “đẻ trứng” vào những chiếc tổ mà đoàn “Sáo sậu tỵ nạn” đã dày công xây đắp.

Thử nhìn ở nước Úc này thì thấy ngay! Với làn sóng du học sinh và lấy chồng lấy vợ (thật lẫn giả) ngày càng gia tăng; chuyện thực tế phải đến đã đến là thành phần người tỵ nạn thật sự trong cộng đồng người Việt định cư ở Úc càng lúc càng hao hụt đi nhiều. Điều này khiến cho cuộc chiến nhằm đạt được tự do, nhân quyền và dân chủ cho người dân tại quê nhà vẫn còn đầy khó khăn. Chế độ CSVN trong bao năm qua vẫn không bao giờ lơ là việc tấn công vào thành trì tỵ nạn hải ngoại bằng đủ mọi phương cách qua việc ban hành và nỗ lực thi hành nghị quyết 36.

Sau thời kỳ hoạt động mạnh mẽ -cả về chính trị lẫn quân sự- của những năm đầu ngay sau 1975, nhiều tổ chức đảng phái của người Việt tại hải ngoại đã đóng góp khá nhiều vào cuộc đấu tranh chung. Nhưng đáng tiếc trong khoảng gần 2 thập niên trở lại tới nay, rõ ràng tình hình đã diễn biến theo chiều hướng bất lợi hơn cho khối người Việt tỵ nạn ở hải ngoại. Trong thời gian đó, một bên là lớp người tỵ nạn ban đầu (thế hệ thứ nhất) ngày càng già yếu, hao hụt dần, lý tưởng “chống Cộng” mỗi ngày mỗi bớt đi mà chiến thuật  “đẻ nhờ” của Tu hú vẫn được CSVN tận tình khai thác. Họ đem “trứng CS” gieo khắp nơi, bất cứ lúc nào thuận tiện ở bất cứ nơi đâu có người Việt định cư. Ba mươi năm qua, nhất là từ khi phải mở cửa từ năm 1990 đến nay, việc du lịch, du học, hay lập gia đình giữa trai hải ngoại, gái trong nước (hay ngược lại) đã thành chuyện bình thường. Nhưng có ai dám nói chắc rằng: Trong những cuộc hôn nhân ấy không có trường hợp CSVN dùng để tiếp tục gửi người ra ngoại quốc? Gửi “cái trứng” ra ngoài, cái trứng đó được người Việt ở hải ngoại chăm sóc; hay nói cho đúng hơn là “cái trứng” đó được xã hội các nước khác nuôi nấng bảo bọc; với việc gửi trứng đó, CSVN có thiệt thòi gì? Khi trứng phát triển, trưởng thành bắt đầu làm việc, để cung phụng lại nơi được coi là nguồn gốc, nơi đã gửi chúng ra ngoại quốc, đó là điều Hà Nội không trông mong gì khác hơn.

Chưa kể, khi nhà cầm quyền CSVN trước bờ vực sụp đổ vì kinh tế kiệt quệ, phải chọn con đường “mở cửa kinh tế” để vừa cứu vãn chế độ, vừa thu hút được lòng hám lợi của tư bản ngoại quốc và đặc biệt, không ít bọn “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, bọn chỉ vì đồng tiền sẵn sàng quay lưng 180 độ, phủ nhận ngay chính những gì chúng từng mạnh miệng khi vừa định cư để trở về ôm chân những Lãnh tụ CS, những kẻ mà mới hôm trước chúng còn đả đảo! Người Việt tỵ nạn ở Úc trong hai thập niên qua đã lần lượt chứng kiến tận mắt, nghe tận tai những vụ “trở cờ, đón gió”ấy. Và đáng buồn thay, những khuôn mặt phản bội ấy đa số là những kẻ từng cũng có thời là quân nhân, là công chức VNCH, từng cũng có thời là Chủ tịch Cộng đồng, Chủ tịch Cựu quân nhân… Vậy mà lần lượt “cóc chết ba năm quay đầu…” hết lời ca tụng “đất nước đổi mới, đời sống kinh tế phát triển” , liếm sạch những thứ mà chúng trước đó đã nhổ!

***

Cũng vẫn chuyện “Tu hú đẻ nhờ để rồi chiếm cả tổ Sáo sậu” trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc càng lúc càng có nhiều điều xác nhận rằng: “Công sức xây dựng cộng đồng đến mức phát triển như ngày nay” đang dần dà có nguy cơ về tay CS. Bao năm nay chúng ta nói nhiều đến chuyện CSVN ra sức xâm nhập vào cộng đồng về mọi mặt. Nếu chịu khó nhìn kỹ một chút thì không khó gì để không thấy. Trong mọi lĩnh vực, từ truyền thông, văn hóa đến xã hội, giáo dục; sau gần 40 năm định cư cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc đã xây dựng được rất nhiều cơ sở và dần dà phát triển càng ngày càng lớn mạnh. Thế nhưng có bao giờ chúng ta băn khoăn rằng “những cơ sở ấy tương lai sẽ do ai quản trị, ai điều hành và đường lối hoạt động có còn giữ nguyên vẹn như ban đầu là phục vụ, đáp ứng nhu cầu của người Việt tỵ nạn và tiếp tục công cuộc tranh đấu cho một nước Việt Nam thật sự dân chủ, tự do, cho người dân được hưởng mọi quyền làm người?

Những cơ quan truyền thông Việt ngữ – cả của tư nhân lẫn của chính phủ lập ra để phục vụ cộng đồng Việt tỵ nạn- đã có bao nhiêu bộ mặt mới? Bao nhiêu gia đình chỉ vì thích nghe tiếng Việt, đã mở cửa cho các chương trình truyền hình của nhà nước CSVN tiếp vận qua vệ tinh xâm nhập vào nhà 24 trên 24 giờ mỗi ngày? Bao nhiêu lớp học Việt ngữ dạy cho trẻ con tại Úc bằng giáo trình do Bộ Giáo dục CSVN soạn thảo? Những đoàn thể xã hội đã có thêm bao nhiêu thành viên mới, không ít người là những kẻ đến Úc theo diện di dân –đoàn tụ gia đình hay doanh nhân, và trong số đó bao kẻ là cán bộ, viên chức nhà nước CSVN tìm đủ mọi cách tẩu tán tài sản làm ăn bất chính? Biết bao nhiêu tu sĩ “quốc doanh” chễm chệ trong các cơ sở tôn giáo mà người tỵ nạn đã chắt bóp công sức bao năm xây dựng? Bao nhiêu kẻ -đã và sẽ- là người hưởng thụ những dịch vụ chăm sóc phụ nữ, người già –do chính phủ tài trợ, giúp đỡ cho các Hội đoàn đoàn thể trong cộng đồng lập ra, với sự đóng góp của biết bao nhiêu người hằng tâm hằng sản vô danh? Như thế nếu không gọi là “Tu hú xâm lăng chiếm tổ Sáo sậu” thì gọi là gì?

Nhưng quan trọng hơn, có ai nghĩ đến thế hệ tương lai con cháu chúng ta lớn lên chúng lâm cảnh “trông gà hoá cuốc”, kẻ thật tưởng người gian… và ngược lại, trông kẻ gian mà cứ ngỡ là người ngay thẳng để rồi như “Cô bé quàng khăn đỏ” bị chó sói ăn thịt mà vẫn cứ tưởng là mình được người bà kính mến yêu thương? Đến khi đó thì cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác đã sang trang. Và khi đó thì thế hệ thứ nhất này chắc chắn không thể nào ngậm cười nơi chín suối được.

(Nguồn: Báo Việt Luận Úc châu)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Coi Chừng Tu Hú_Báo Việt Luận (Úc)

Hoàng Hôn_Thơ. Tâm Hoàn HĐB

HoangHon Tho HDB

Thơ Tâm Hoàn (Hồ Đắc Biên):

                Chị đến mặt trời mới lặn

                Ráng chiều tím chỗ chị ngồi

                Hàng cây bên nhà soi bóng

                Con mắt chị có hoàng hôn

                Chớp bể mưa nguồn mấy độ

                Lạc xuống tận bờ sông Kiến

                Bốn giờ sáng dậy thổi cơm

                Chị đẹp như tranh mỗi bữa

                Cho em thơm mãi đến giờ

                              Tâm Hoàn

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hoàng Hôn_Thơ. Tâm Hoàn HĐB

TÌM NGƯỜI THÂN

TÌM BẠN  CSQG./VNCH:

       Như đã một lần loan tin trước đây, chiến hữu Phùng Sáu Sửu  K5/HVCSQG rất mong mỏi đươc biết tin chiến hữu ĐẶNG VĂN ĐỆ, tốt nghiêp K1 /HVCSQG, nhiệm sở phục vụ sau cùng là Ủy Ban Phụng Hoàng Trung Ương, BTL/CSQG Saigon.

      Tại Hoa Kỳ, những năm gần đây, được biết K1 Đặng văn Đệ đã từng sinh sống tại thành phố Tampa Bay, Florida, sau đó không còn liên lạc được nữa.

      Xin kính chuyển tin nhắn này đến quý Niên trưởng, quý Anh Chị chiến hữu, bằng hữu, đồng môn (đặc biệt quý AC K1) nếu có thông tin nào về K1 Đặng văn Đệ xin quý vị thông báo về:

       – K5 Phùng Sáu Sửu   Ph: (626) -371-5295

         Email: smai88vn@yahoo.com

         Xin chân thành cám ơn.

         (Võ Như Lăng)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÌM NGƯỜI THÂN

Cô Gái Bán Don_Hạo Nhiên Ng.Tấn Ích

Cô Gái Bán Don_Hạo Nhiên Ng. Tấn Ích

Đến định cư tại miền Bắc California Hoa Kỳ hơn nửa năm, bỗng một hôm, tôi nhận được cú điện thoại của Thung từ Texas gọi qua. Thung là bạn học, cũng là chiến hữu của tôi ngày xưa. Hắn đề nghị gởi vé máy bay mời tôi qua Houston chơi. Nhân tiện thăm viếng khu vực dễ làm ăn và giá nhà cửa cũng dễ thở hơn nhiều so với San Jose. Tôi đồng ý. Một tuần lễ sau, một vé máy bay và một cái check 300 Mỹ kim trong bì thư gởi đến. Đây là một món quà khá hậu hỉ ở đất lạ quê người. Ba ngày sau, tôi lên máy bay của hãng Continental Airlines đi Texas. Bay suốt bốn tiếng đồng hồ, chiếc Boeing mới hạ cánh xuống phi trường Houston. Thung đón tôi tại lối ra của khu hành khách. Lần gặp nhau cuối cùng ở quê nhà vào năm 1973, tại Đại Học CTCT Đà Lạt. Ngày ấy, trông hắn rắn rỏi, khuôn mặt sạm nắng mà hôm nay, sau mười sáu năm định cư tại Mỹ, hắn hoàn toàn lột xác. Nước da trắng hồng đỏ au, cái bụng căng tròn, dáng người bệ vệ trông “rất ông chủ”. Mà chủ thực. Thung làm chủ cái chợ bán đồ biển. Vợ và con quản lý còn Thung lo chạy vòng ngoài.

Ngày hôm sau Thung đưa tôi đến thăm cơ sở làm ăn của gia đình. Nào phòng mạch nha sĩ của đứa con trai đầu lòng, phòng dịch vụ về bảo hiểm của đứa con gái. Sau đó Thung mời tôi đi ăn trưa.

Nhà hàng có tên Cổ Lũy Restaurant tọa lạc tại khu sầm uất nhất của người Việt và Hoa tại thành phố Houston. Vào giờ xế trưa, nhà hàng vắng khách nên chúng tôi chọn chiếc bàn đặt gần quầy thu tiền. Người bồi bàn trao cho chúng tôi bản thực đơn. Cái tên Cổ Lũy nghe quen thân quá. Tôi nghĩ, có lẽ chủ nhà hàng là người Quảng Ngãi. Bởi Cổ Lũy là tên một cửa biển từ hai dòng sông Trà Khúc và Sông Vệ nhập vào. Nơi đây thuyền bè tấp nập ra vào bến tàu Phú Thọ. Trong tờ thực đơn có món “Hến xúc bánh tráng”. Nhìn thấy hến mình lại nhớ đến món don. Chẳng cần xem tiếp tờ thực đơn, tôi gọi ngay một tô don. Cô bồi bàn giọng miền Nam nhìn tôi ngạc nhiên hỏi:

– Don là món gì vậy, nghe lạ quá hỡ ông? Thực đơn nhà hàng này không có món đó.

– Cái món “Hến xúc bánh tráng” trong thực đơn có ghi, tại sao lại không có món don ?

Tôi vừa cự nự (kiểu Quảng Ngãi hay co) vừa chỉ cho cô chạy bàn cái món ruột hến, rồi tiếp:

– Nếu không có don thì cho tôi cái món số 15 này.

Cô gái bồi bàn đi vào bếp. Ngay sau đó, một phụ nữ đứng tuổi ăn mặc sang trọng từ quầy thu tiền đi thẳng đến bàn chúng tôi. Bà có mái tóc ngắn làm nổi bật khuôn mặt trái soan đầy đặn với làn da trắng mịn. Thung khều chân tôi nói nhỏ : “Bà chủ”

– Chào hai anh. Người đàn bà nở nụ cười thân thiện.

– Chào bà chủ, Thung đáp lễ.

– Vị nào thích món don ? bà chủ tươi cười hỏi.

– Thưa bà, tôi ạ.

– Xin lỗi, anh người quê Quảng Ngãi ?

– Tại sao bà biết ?

– Tôi chỉ đoán thôi, bởi vì chỉ có dân sống tại Quảng Ngãi mới thấy thích thú món don. Thế bà cũng là người Quảng Ngãi, đúng không?

– Anh nghĩ sao mà đoán ra thế?

– Chỉ nhìn cái tên hiệu Cổ Lũy của nhà hàng là biết ngay.

– Nầy ông anh, trước kia ở Quảng Ngãi, anh sống ở huyện nào vậy?

– Tôi ở thị xã, trên đường Quang Trung.
Người đàn bà nhìn tôi một chặp lâu rồi quay vào bên trong nhà hàng. Lát sau, món ăn được bưng ra. Một tô bún chả cá cho Thung và một dĩa ruột hến xúc bánh tráng cho tôi. Lâu lắm rồi tôi mới nghe lại mùi hến. Hến ở quê nhà ruột nhỏ, dai và thơm. Còn hến đóng hộp nhập cảng con lớn, mềm lại mất hết mùi vị. Ngày xưa, mỗi lần đi Huế, tôi nhất định phải ăn cho được một lần cơm hến. Đi đâu xa trở về Quảng Ngãi, tôi không thể nào quên ăn một bữa don cho đã cơn ghiền.

Cô bồi bàn bưng hai ly nước cam vắt đến bàn chúng tôi nói của bà chủ mời, có kèm theo một tấm danh thiếp trao cho tôi. Mặt sau danh thiếp là chữ viết của bà chủ nhà hàng mời riêng tôi đến nhà vào chiều Thứ Bảy. Đặc biệt, bà khoản đãi món don do bà nấu. Phần dưới là số phone và địa chỉ nhà riêng. Trên đường về, tôi hỏi Thung:

– Cậu nghĩ sao cái trường hợp lạ lùng này ?

– Ở quê người, nhớ cố hương, gặp người Việt đã mừng rồi huống chi lại là đồng hương Quảng Ngãi. Bà ấy mời cậu đến nhà có lẽ để hỏi thăm tin tức bà con ở quê nhà. Cứ nhìn dáng dấp bà ấy với cái cơ ngơi nầy là cậu hiểu ngay bà ta là dân trụ ở đây khá lâu. Biết đâu cơ may đem đến cho cậu công ăn việc làm ở thành phố này. Bạn tôi suy luận như thế. Riêng tôi, vì lạ đất lạ người nên có phần bồn chồn, áy náy.


Hến xúc bánh tráng

Hương vị của món hến xúc bánh tráng làm tôi nhớ đến kỷ niệm ngày mới lớn nơi quê nhà. Tôi từ trên quê xuống tỉnh học, ở trọ nhà người chị thứ Tư trên đường Quang Trung Thị xã Quảng Ngãi. Anh chị dành cho tôi căn phòng trên căn gác lửng. Có ban-công nhô ra làm mái hiên cho tầng dưới. Thông thường mỗi sáng, tôi thức dậy học bài rất sớm. Đường phố vẫn còn sương mù vướng mắc đó đây. Hàng cây bên đường trĩu nặng những hạt sương khuya, dấu kín bóng đêm trong vòm lá sum sê. Khi chân trời vừa rựng đỏ khuất sau hàng tre hướng Đông, là tiếng rao hàng ăn buổi sáng bắt đầu râm ran trước đường nhựa. Nào xôi, bánh bột lọc, cháo gà, bánh canh, bánh mì… đủ các loại hàng ăn vặt, và cũng đủ các loại âm thanh. Tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng hơi khàn, giọng Huế, giọng Bắc, giọng Nam… Duy có tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..o.. ông” là khiến tôi để ý. Tiếng “ho..o..o..ông” sau cùng kéo dài không đủ hơi chứng tỏ người rao hàng không phải giọng của người đứng tuổi. Tiếng rao nghe lánh lót như chim non mới tập hót, âm điệu ngây thơ rời rạc. Tôi ngồi học mà vẫn để ý đến tiếng rao bán don vang lên trước nhà. Tiếng rao như bị sương lạnh buổi sáng sớm làm đông lại không thoát ra được, nó nhỏ dần, nhỏ dần rồi hút mất ngoài xa.

Một hôm, tôi đang đứng tập mấy động tác hít thở trên ban-công, chợt tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” quen thuộc vang lên phía dưới đường. Tôi vạch bức mành nhìn xuống thấy một người con gái mặc chiếc áo bà ba trắng thân hình mỏng mảnh với gánh don trên vai.

“Ê don”, tôi gọi cô nàng đứng lại rồi vộï vàng xuống thang gác.

Gánh don đã được đặt trước hiên nhà, nàng đứng đó chờ tôi mở cửa.

– Anh ăn don? Nàng hỏi khi tôi nhẹ nhàng lách mình qua cánh cửa sắt. Là một cô bé ước chừng mười mười bốn, mười lăm. Mái tóc vừa chấm vai che một bên khuôn mặt trái soan còn măng tơ. Tôi nhìn vào ngực cô bé, đôi nhũ hoa hồng hồng như hai núm quả cau nhú bên trong làn vải mỏng không áo lót, khiến cô bé cúi mặt thẹn thùng. Bạn học của tôi, những cô nữ sinh cùng cỡ tuổi đã bắt đầu chưng diện se sua, áo ngoài áo trong, phần trên phần dưới đủ cả, không khác chi người lớn. Còn cô bé, với chiếc quần đen, áo bà ba trắng mộc mạc nổi bật nét đẹp của người con gái chân quê.

– Anh ăn don?

Cô bé nhắc lại lần nữa, tôi sực tỉnh trả lời :

– Không ăn don, kêu cô lại làm gì?

Cô bé chợt hiểu nở miệng cười chữa thẹn khoe hàm răng trắng đều như những hạt bắp nếp. Nụ cười hồn nhiên khiến người đối diện cũng thấy lòng dạt dào, xao xuyến. Cô bé hai tay thoăn thoắt múc don. Mùi don thơm nồng pha chút hương biển từ ui don bay lên ngào ngạt. Cô bé trao cho tôi tô don còn bốc hơi cùng với chiếc bánh tráng nướng và hai trái ớt xiêm tươi xanh. Ăn don đâu cần phải bàn ghế. Tôi đặt bát don xuống nền xi măng, bẻ bánh tráng bỏ vào tô giằm luôn hai trái ớt. Nước don ngọt và béo. Cái ngọt độc đáo không phải vị ngọt của thịt, cá mà vị ngọt rất đậm đà hương vị quê hương. Lại thêm vị nồng cay của ớt, mùi thơm của bánh tráng nướng nó quyện vào lưỡi, ngấm vào chân răng, kích thích tận cùng tế bào vị giác. Nước don nuốt tới đâu ấm tới đó. Trời lạnh mà ta ăn don vào buổi sáng thì mới thưởng thức được hết cái thú ăn don ở quê nhà. Miếng don cuối cùng để lại trong miệng, trong cổ của ta vị ngọt ngọt, cay cay, nồng nồng, béo béo quyến rũ lạ kỳ. Nó khiến người ăn don không muốn dừng ở tô thứ nhất.

Tôi ăn ngon lành. Miệng hít hà vì ớt cay. Cái lưỡi tê tê mùi cay nồng của loại ớt xiêm vô cùng hấp dẫn làm cho nước mắt nước mũi tuôn ra. Nhìn cách ăn rất thật tình của tôi, cô bé cứ che miệng cười. Một tô, hai tô rồi ba tô. Cô bé trợn trừng đôi mắt, đôi mắt bồ câu đen lay láy. Cô kêu lên :

– Coi chừng bể bụng đó, anh Hai !

Ô, lần đầu tiên tôi được một người con gái gọi bằng anh. Anh Hai. Mười sáu tuổi, học lớp đệ Tứ rồi đấy nhé. Thế mà cha mẹ, anh chị cứ gọi tôi là Út Đẹt. Mẹ tôi thường nhắc chuyện hồi tôi còn nhỏ. Đã bốn, năm tuổi rồi mà vẫn còn bú và ăn cháo. Các bà chị tôi chế nhạo hoài mỗi lần tôi ôm vú mẹ. Chị Hai tôi hay trách mẹ tôi nhiều nhất :

– Mẹ ơi, mẹ cưng chiều nó quá làm sao nó thành người lớn. Mẹ tôi cười, nhỏ nhẹ bảo :

– Các chị lớn cả rồi còn em nó út ít mà”. Chị tôi bực mình bảo:

– Chừng đó tuổi mà chưa chịu dứt sữa. Chẳng lẽ đến khi đi học, mẹ phải mang vú đến trường cho Út sao?

Chị Hai nói xong bỏ đi. Mẹ vò đầu tôi, tóc còn ướt nhẹp mồ hôi, âu yếm :

– Giàu út ăn, khó út chịu, Mẹ có sữa con nhờ.

Cái hòn đá bàn dưới bến sông, nơi để giặt áo quần là chỗ ngủ của tôi trong những buổi trưa hè. Nền nhà lót gạch trước bàn thờ là giường ngủ của tôi trong những đêm nóng bức. Các chị tôi thường hay đùa cợt:

– Thằng Út cứ ăn chay nằm đất kiểu nầy, lớn lên nó trở thành thầy chùa là cái chắc.
học sinh

Tôi là đứa con thứ bảy trong gia đình. Những tá điền, người làm cho cha mẹ tôi đều gọi tôi là cậu Bảy Út. Thế mà bác Tám Đang ở xóm dưới dám đặt cho tôi biệt danh “Bảy Thưa” chỉ vì mấy cái răng cửa của tôi mọc hơi sưa một chút. Cái thân hình của tôi hồi đó mỏng như thân con nhái bén. Da dẻ sần sùi khô khốc bởi suốt ngày cứ để lưng trần chạy ngoài nắng. Mỗi lần bạn bè rủ tôi đá banh trên ruộng lúa mới cắt, chúng nó cứ la oang oang cái tên “Bảy Thưa” nghe chẳng đẹp tý nào ấy:

– Ê, Bảy Thưa đưa banh qua cho tao. Nào, Bảy Thưa banh đây sút vào…

Tức lắm, tôi bèn ra một điều kiện:

– Nếu bọn bay còn gọi cái tên “Bảy Thưa” nữa là tao bỏ chơi. Nhóm thằng Thới xóm Thọ Đông đang chiêu dụ tao đó. Liệu hồn!…

– Nầy cô bé, sao không múc tiếp một tô nữa?

– Anh à, em chưa hề thấy người nào ăn đến ba tô don mà còn kêu thêm nữa, ăn no quá mất ngon, thôi để ngày mai nghe anh,

Tiếng “nghe anh” của cô bé sao mà êm đềm quá, ngọt ngào quá. Bỗng nhiên tim tôi đập rộn ràng. Tôi muốn hỏi tên cô bé nhưng cứ ngại ngùng, đành phải móc tiền ra trả. Cô bé đi rồi, tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” đã văng vẳng ngoài xa mà tôi vẫn còn đứng nhìn theo thẫn thờ. Sáng hôm sau, cô bé cất tiếng rao hàng rồi đặt gánh don trước hiên nhà chờ đợi. Tôi lại vội vàng mở cửa :

– Nầy, đằng ấy tên gì vậy ?

– Em tên Thuyền

Cô bé trả rồi dạn dĩ nhìn tôi hỏi:

-Thế còn tên anh ?”

– Hạo. Hạo, cái tên lạ quá ! Cô bé nhắc lại tên tôi rồi cười bẽn lẽn. Đôi tay Thuyền múc don lẹ làng, vén khéo không hề rơi rớt. Tôi để ý lần này, cô bé đem theo một cái tô cỡ lớn hơn, khác hẳn với những cái tô khác chồng trên miệng ui. Cô tự ý bẻ bánh tráng cho vào tô trước khi đổ don vào. Vừa làm cô bé vừa giải thích :

– Làm thế nầy don còn giữ được độ nóng, và hương don không bị loãng.

Cô bé trao tô don cho tôi, vô tình tôi đặt bàn tay chạm phải tay nàng. Bé cúi mặt thẹn thùng khiến hai tai nàng rựng đỏ, Thuyền bảo :

– Mỗi sáng anh ăn hai tô nầy là đủ rồi.

Từ đó, sáng nào tôi cũng ăn don của cô bé Thuyền. Thỉnh thoảng chị tôi mua ốc don tươi về nấu. Thông thường chị thêm vào nồi don cả thịt bằm, tóp mỡ, nhưng tôi ăn một cách lơ đãng chẳng thấy hấp dẫn tý nào. Chị tôi chế giễu :

– Thằng Út nó đâu có mê don, chỉ mê con nhỏ bán don.

Có lần tôi cố tình giữ bàn tay Thuyền bên dưới tô don, cô bé cứ để nguyên nhìn tôi với ánh mắt long lanh tình tứ.

Chặp lâu sau, nàng rút tay về hối thúc:

– Người ta thấy kìa, ăn đi kẻo nguội.

Thế là suốt mùa don, cô bé Thuyền ít có buổi sáng nào vắng mặt. Ăn hoài tôi đâm ghiền. Ngày nào Thuyền không đến là suốt ngày đó tôi thấy trống vắng lạ thường. Tôi nhớ hương vị của don, tôi nhớ khuôn mặt của Thuyền. Suốt ba tháng hè tôi không về quê lấy cớ học bài thi. Có lẽ nhờ ăn don mà thân thể tôi đẫy đà. Da dẻ tôi thêm hồng hào trắng mịn. Bà chị tôi phát giác sự “thay da đổi thịt” của thằng em út. Chị chế nhạo: “Nghèo nghèo, nợ nợ kiếm cô vợ bán don. Mai sau có chết cũng còn cặp ui”.

Năm đó tôi đậu bằng Trung Hoc Đệ Nhất Cấp, cha mẹ tôi cho tôi theo người anh họ vào Sài Gòn tiếp tục học. Tôi từ biệt Quảng Ngãi mà nghe lòng mình buồn tê tái. Tôi ra đi lúc trời chớm Thu, những cơn mưa đầu mùa đã làm cho nước sông dâng cao. Tôi còn nhớ lời Thuyền dặn: “Khi nào nước sông dâng cao thì don không còn nữa. Chừng ấy em sẽ không còn dịp gặp anh, chỉ còn biết hẹn anh vào mùa don tới đầu tháng Hai âm lịch”.

Biết như thế nhưng sáng nào tôi cũng trông tiếng rao của Thuyền. Tôi mong gặp nàng để nói lời từ biệt. Giờ phút chót ngồi trên xe đò mà tôi vẫn dõi mắt đợi chờ, hy vọng Thuyền xuất hiện. Khi xe chuyển bánh, mẹ và chị tôi mắt rưng rưng lệ nắm tay tôi từ giã. Tôi không cầm được xúc động đã òa khóc. Lần đầu tiên tôi xa mẹ xa chị, xa gia đình cách gần ngàn cây số. Tôi cảm thấy nỗi cô đơn như đè nặng lên lồng ngực mình. Tôi thương mẹ, thương chị. Nhưng tình của tôi đối với Thuyền vừa nồng nàn vừa xót xa. Tôi xót thương vì cuộc sống của nàng quá lam lũ. Tuổi vừa lên ba, cha Thuyền đã tử nạn theo tàu đánh cá ngoài khơi khi bị cơn bão bất ngờ ập tới. Mồ côi cha, mẹ ở vậy nuôi Thuyền ăn học hết bậc Tiểu học. Mới chừng ấy tuổi mà phải từ giã ghế nhà trường, lăn lộn vào trường đời. Mẹ nấu don, Thuyền gánh bán dạo hàng ngày đi về trên mười cây số.

* * *

Những đêm đầu tiên ở Sài Gòn, tôi nhớ day dứt nụ cười rạng rỡ của Thuyền. Nhớ đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng run run trong bàn tay tôi. Nhớ đến hương vị thơm lừng của tô don với chất béo của ruột don trộn mùi cay nồng của ớt, mùi bánh tráng nướng, mùi hành lá tươi. Nó tổng hợp thành hương vị không có món ăn nào so sánh được. Don Quảng Ngãi chiếm lĩnh cương vị độc tôn đối với người dân Quảng Ngãi bởi nó là món ăn quê hương. Và đối với riêng tôi có pha cả mùi hương con gái của Thuyền.
Xa nơi chôn nhau cắt rún lần đầu, tôi nhớ nhất là những chuyến đi chơi với bạn bè trên núi Thiên Ấn. Sau một hồi leo giốc mệt bở hơi tai, khát nước khô cả cổ chỉ cần uống mấy ngụm nước giếng của nhà chùa là cơn mệt cùng mồ hôi tan đi hết. Có người bảo đó là nước của Tiên Phật độ trì. Một truyền thuyết kể rằng có một vị sư đến đào giếng này suốt cả năm trời, khi giếng có nước thì vị sư ấy biến mất. Ngôi chùa Thiên Ấn tọa lạc trên đỉnh núi có mặt bằng vuông vức, cao hơn mặt nước biển trên trăm mét, nhưng nước giếng trong và ngọt cung cấp cho chùa không bao giờ cạn. Quả là điều rất hiếm. Đây là “Đệ nhất thắng cảnh” của quê nhà có tên là “Thiên Ấn Niêm Hà” do quan Tuần Vũ Nguyễn Cư Trinh đặt tên trong mười hai bài thơ Đường Luật. Mỗi bài ca ngợi một thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi. Đứng trên đỉnh núi nhìn bao quát ta thấy dòng sông Trà Khúc óng ánh bạc uốn mình theo những lũy tre xanh đến tận cùng cửa Cổ Lũy trước khi nhập vào biển Đông. Nơi đây ta có thể thưởng ngoạn thêm “Đệ nhị Thắng cảnh” của quê hương, đó là “Cổ Lũy Cô Thôn” nằm im lìm nơi cửa biển, nước bủa mênh mông. Nhìn chệch qua bên trái là mũi Ba-Tâng-Gâng phơi mình với sóng bão đại dương. Để hồn trải rộng đến cuối chân trời, ta có cảm tưởng như người được thoát tục về nơi tiên cảnh. Kẻ nào có tham vọng, mang ý đồ đen tối mà đối diện với cảnh sắc nầy, trong thoáng chốc cũng tạm thời quên đi.

Vào những ngày sắp nghỉ Hè, tôi nhận được thư của chị tôi : “…Đầu mùa don năm nầy, con bé bán don trở lại. Sáng nào nó cũng đặt gánh don trước cửa nhà chị. Lâu lâu nó rao lên “Ai ăn don hông” rồi đứng đó đợi chờ. Người ta không biết nó đợi chờ ai, nhưng chị, thì chị đoán biết. Thời gian kéo dài cả tháng trời, chị thấy tội nghiệp nên thỉnh thoảng kêu don của nó cho cả nhà ăn buổi sáng. Đôi mắt nó thật buồn, cứ lén nhìn sâu vào trong nhà mà không dám hỏi. Một hôm, cầm lòng không được, chị cho nó biết là em vào Sài Gòn học đã gần một năm. Sau đó chị không còn thấy con bé bán don trên con đường nầy nữa…”

Đêm đó tôi nằm mơ nghe thấy tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..ông” như tiếng chim cuốc lẻ đôi khắc khoải gào khan suốt mùa Hè thương nhớ rồi cuối cùng chết khô theo con trống, chung tình. Thuyền ơi, hãy tha thứ cho tôi. Những rạo rực tình yêu đầu đời đã làm cho con tim em phải se thắt vì phân ly.

Rồi thời gian trôi qua, ba năm miệt mài đèn sách đã giúp tôi quên hình ảnh cô gái bán don ngày nào. Sau khi lấy xong bằng Tú Tài toàn phần, tôi về thăm Quảng Ngãi. Vào buổị sáng, tôi dậy sớm cùng chị tôi chuẩn bị về quê thăm cha mẹ. Đang xếp áo quần vào va-li chợt tôi nghe tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông”. Tôi vội vàng chạy ra ban-công gọi :

– Ê ! Cô bán don.

Tôi nhanh chân xuống thang gác mở cửa. Cô bán don đứng đợi dưới mái hiên nhà. Thoáng nhìn, tôi tưởng một thiếu phụ nào khác không phải Thuyền. Nhưng không, làm sao tôi nhầm lẫn được. Âm thanh tiếng rao của Thuyền như mọc rễ trong ký ức của tôi. Cũng thân hình mảnh khảnh đó nhưng cao hơn và già dặn hơn. Chính là Thuyền của ba năm về trước.Tôi hỏi:

Thuyền phải không? Nàng nhìn tôi đăm đăm, rồi những giọt nước mắt lăn tròn trên má. Tôi thấy loáng thoáng trên ngực áo nàng vết ố của những giọt sữa đã khô. Đứng sát vào Thuyền, tôi đặt tay lên vai nàng bảo:

– Em để gánh xuống đây, múc don cho anh ăn nhé.

– Không. Don em đã cuối mùa, gặp luồng nước bạc (nước lụt), em không bán cho anh đâu.

Nói xong, nàng đưa tay áo quệt nước mắt, trở gánh quay lại con đường cũ. Tôi đứng nhìn theo nàng mà nghe hồn trĩu nặng. Tôi cố lắng nghe tiếng rao “ai ăn don ho..o..ông” lần cuối cùng của Thuyền lẫn lộn với tiếng rao hàng khác nhưng tuyệt nhiên im lặng, chỉ còn sót lại hương don thoảng bay trong gió.

* * *

Chiều Thứ Bảy, Thung bỏ tôi trước căn nhà số 28… trên đường White Forge thành phố Sugarland. Căn nhà lầu ở khu mới xây khá đồ sộ. Vách tường áp gạch màu nâu đỏ trông thật mát mắt. Tôi đứng tần ngần một hồi lâu mới bấm chuông. Người phụ nữ ở quán Cổ Lũy hôm trước mở cửa, gục đầu chào rồi mời tôi vào khu phòng khách trang hoàng lộng lẫy. Bộ sô-pha da màu vàng nhạt choán cả một góc phòng. Chiếc TV cỡ lớn cùng dàn karaoke với hệ thống âm thanh chiếm trọn góc phòng đối diện. Bà chủ rót trà :

– Mời anh dùng nước, nàng trao tôi tách nước rồi tự giới thiệu:

– Tôi tên là Mary, chồng tôi là người Mỹ đưa tôi sang đây từ năm 1972. Xa quê mình lâu quá, nay gặp người đồng hương tôi mừng lắm. Và đặc biệt là dân ở Quảng Ngãi mà lại thích ăn don như anh.

– Bà ở huyện nào ? tôi tò mò hỏi :

– Huyện Tư Nghĩa xã Tư Nguyên.

Bà Mary nhìn tôi định hỏi tiếp điều gì, nhưng bà lại đổi thế ngồi, xoay người sang hướng khác bưng bình trà rót thêm nước vào tách cho tôi. Bà nói :

– Thôi, để lát sau mình nói chuyện tiếp, giờ mời anh dùng món ăn quê nhà kẻo nguội mất.

Tôi theo nàng đến phòng ăn. Mùi don từ trên bếp bốc hơi thơm lừng. Bà chủ nhà bưng hai tô don hơi lên nghi ngút đặt trên bàn có cả bánh tráng nướng, đĩa ớt xiêm và lá hành xắt nhỏ.

Bà tươi cười bảo :

– Đây là don chính hiệu từ Quảng Ngãi đấy nhé. Người ở ngoài tỉnh cứ hiểu lầm don là hến. Thực ra don và hến là hai loại ốc khác nhau. Ốc don dài, vỏ mỏng, ruột don có tua màu hồng thoạt trông như cái đuôi. Nước don ngọt và ít nồng hơn hến vì don chỉ sống nơi vùng sông nước lợ gần cửa biển. Tôi bưng tô don ăn ngon lành, ăn thật tình. Ớt cay, don nóng, tôi hít hà, nước mắt nước mũi chảy ra. Bà chủ nhà đưa tissues cho tôi với ánh mắt đầy xúc động. Một tô rồi hai tô, bà ngồi nhìn tôi ăn và khuyến khích thêm tô nữa nhưng tôi vỗ bụng lắc đầu từ chối. Nàng bảo :

– Anh sợ vỡ bụng đấy à?


Quảng Ngãi

Câu nói của bà chủ khiến tôi sực nhớ đến Thuyền, cô gái bán don thời tôi còn trung học ở Quảng Ngãi. Cô bé đã từ chối bán cho tôi tô thứ tư với câu : “Coi chừng bể bụng”. Tôi ngước nhìn bà Mary, tâm sự:

– Ăn don hôm nay khiến tôi nhớ đến kỷ niệm thời niên thiếu ở quê nhà. Tôi là khách ăn thường xuyên của cô gái bán don tên Thuyền. Tôi thương nàng và tội nghiệp hoàn cảnh cô ấy. Mới mười mấy tuổi đầu đã phải bỏ học thay Mẹ đi bán don dạo. Buổi sáng nào Thuyền cũng gánh don đến trước nhà tôi trọ học và chăm sóc tô don cho tôi như người chị lo cho em. Sau nầy tôi vào Sài Gòn học đã quên bẵng cô bé bán don. Ba năm sau trở về Quảng Ngãi, tôi tình cờ gặp lại nàng cũng với gánh don trên vai, nhưng cô bé đã trở thành thiếu phụ. Thuyền đã từ chối không bán don cho tôi còn bảo… Vừa nói đến đây, chợt bà Mary cướp lời tôi, lên tiếng :

– Em không bán cho anh đâu, don em cuối mùa lại gặp luồng nước bạc!

Bà chủ nhà đã nói lên nguyên văn câu nói của Thuyền ngày xưa, ẩn chứa sự trách móc giận hờn, khiến tôi giật mình sửng sốt. Tôi nhìn vào mắt bà Mary, hình như long lanh ánh nước. Tôi kêu lên:

– Thuyền phải không?

Thuyền ngày xưa không trả lời câu hỏi của tôi chỉ đưa tay áo lau dòng lệ. Mary bây giờ với giọng ngậm ngùi:

– Vâng, em là Thuyền của 37 năm về trước. Em đã nhận ra anh ngay khi anh cho biết chỗ ở trước kia là đường Quang Trung. Đó là con đường dạt dào hạnh phúc trên mỗi bước đi của em hồi đó, mà cũng là con đường mang đầy xót xa thương nhớ ngày anh rời xa. Thuyền đứng dậy đến ôm vai tôi :

– Cảm ơn anh đã cho em một tình cảm trân quý, dù là đối với một cô gái bán don nghèo hèn. Suốt quảng đời đen tối về sau này, tình anh là ngọn đèn thắp sáng cho em trong những đêm mịt mù sương tuyết. Hạo ơi – cái tên nghe lạ quá – ngày đó em đã nói với anh như thế. Nhưng sau nầy mỗi khi gặp những đau khổ chất chồng, chính cái tên Hạo trở nên thân thương sưởi ấm lòng em.

Tôi nắm lấy tay nàng, nói như một triết gia:

– Đời như một dòng sông, chuyển đổi không ngừng. Xưa kia Thuyền là cô gái bán don, ngày nay Mary là chủ một nhà hàng lớn nhất nhì ở đây. Chúc mừng em. Chúc mừng người đồng hương Quảng Ngãi đã nắm bắt được cơ hội vươn lên trên xứ người.

Sau buổi hàn huyên, Thuyền đưa tôi ra tận xe khi bạn tôi đến đón. Lên xe rồi, tôi thấy nàng còn quyến luyến nhìn theo, đưa mấy đầu ngón tay áp vào môi hôn. Tôi hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, chợt nghe hương don còn nồng trong hơi thở.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

(Bài do Bửu Hồng chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cô Gái Bán Don_Hạo Nhiên Ng.Tấn Ích