Chiếc Nhẫn Ân Tình_Bùi Thượng Phong

ringChiếc nhẫn ân tình

* Bùi Thượng Phong

Khoảng cuối năm 1967 tôi nhận được Sự-vụ-lệnh về cầm một Đại Đội của một Tiểu Đoàn mới thành lập chưa được bao lâu, thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh lúc đó đang đồn trú tại quận Đức-Hòa.

TĐ này trước đó mấy tháng, được đặt dưới quyền chỉ-huy của một vị Thiếu Tá rất nổi tiếng bên Biệt-Động-Quân mới chuyển qua. Vì công-sự phòng-thủ chưa hoàn tất, BCH/TĐ phải tạm thời đóng trong một ngôi biệt thự của một nhà máy xay lúa. Lợi dụng cơ hội này, VC đã bất ngờ dùng đặc-công và nội-tuyến, trong một đêm đen tối, chúng đã tràn ngập vào được BCH/TĐ ngay từ những phút đầu, gây thiệt hại rất nặng cho bên ta. Tai hại nhất, chúng đã lấy đi mạng sống của cả hai vợ chồng vị Tiểu Đoàn Trưởng mà ai đã từng là Biệt-Động-Quân cũng đều phải nghe danh : “Thiếu Tá Cọp-Ba-Đầu-Rằn”!

Tiếc thương ông và người vợ nữ-lưu anh-hùng, nhưng mọi người thầm tự hỏi : Có phải ông đã quá khinh địch ? Hay ông có điều gì bất mãn khi đang trong một Binh chủng nổi tiếng, nay phải chuyển về một đơn vị Bộ binh khiến ông lơ là thiếu cảnh giác ? Điều này chỉ riêng mình ông biết!

Sau trận thảm bại này, các anh em Binh sĩ trong TĐ xuống tinh thần rất nhiều ! Tiểu-đoàn phải chờ bổ xung thêm quân số và cần được “hấp” lại. Và tôi được chuyển về đây cũng trong dịp này.

Được nương nhẹ rất nhiều, nhiệm vụ chính của TĐ lúc đó hầu như chỉ là hành quân mở đường và làm an ninh vòng ngoài cho BTL/SĐ25BB tại Đức Hòa. Lâu lâu cũng có hành quân, nhưng chỉ là những cuộc hành quân lục soát quanh vùng, sáng đi chiều về, như công chức !

Trong khoảng thời gian coi như nhàn hạ này, tôi đã quen biết một đứa bé gái tên là Hân, lúc đó khoảng 8, 9 tuổi, là cháu gọi bằng dì của cô Thanh, chủ ngôi nhà mà tôi đã xin phép để đặt BCH/ĐĐ.

Tôi chọn nhà cô Thanh vì không những nhà có một sân lớn, mà còn có cả một cái nhà cầu đàng hoàng ! Cô Thanh, một phụ nữ khoảng trên dưới ba mươi, không đẹp cũng không xấu, ăn nói rất nhỏ nhẹ, dễ thương. Tôi không thấy chồng cô. Dù cô nghỉ dạy học đã lâu để trông coi việc ruộng nương, nhưng bà con lối xóm vẫn quen gọi cô là Cô Giáo. Dĩ nhiên cô Thanh không hề là đối-tượng của những sĩ quan còn rất trẻ như chúng tôi hồi đó.

Còn nhớ ngày đầu tiên gặp và nói chuyện với cô ở ngoài sân, về việc xin tạm dùng căn nhà làm BCH/ĐĐ, tôi thấy có một đứa bé gái đứng dựa lưng một gốc cau gần đó, đang nheo mắt nhìn tôi rất chăm chú. Thấy nó dễ thương, tôi quì một chân xuống ngang tầm nó và ngoắc nó lại. Nó phụng phịu lắc đầu không chịu. Cô Thanh nói như hơi gắt :

– Hân không được hỗn, lại cúi đầu chào Thiếu-úy, đi con !

Vẫn còn phụng phịu, nó tiến lại gần tôi và lí nhí nói mấy câu gì tôi cũng không nghe rõ !

Tôi thông cảm sự thay đổi quá đột ngột đối với gia đình cô giáo, đang vắng vẻ, neo đơn ; nay bỗng dưng ồn ào náo nhiệt, ra vào toàn lính là lính !

Cô Thanh thì còn bận rộn với ruộng vườn, công thợ… chứ bé Hân thì ngoài giờ đi học, nó đụng độ tụi tôi suốt ngày ! Mấy ngày đầu, nó có vẻ còn tránh né, nhưng rồi sau đó quen hết anh hạ-sĩ y-tá này đến bác thượng-sĩ thường-vụ kia. Nó trở nên vui vẻ và hòa đồng rất nhanh với cái không khí ồn ào nhưng kỷ-luật của đời lính chúng tôi. Đặc biệt, Hân quí tôi hơn cả, vì có mấy lần tôi đã giúp em giải một vài bài toán khó trong lớp. Nó quấn quít bên tôi suốt ngày, chuyện trò líu lo không ngừng nghỉ. Có những lần tôi đi hành quân về, nó núp trong bụi, rồi chợt ùa ra ôm lấy chân tôi cười nức nở… Mới 8, 9 tuổi, mà em đã biết dành dụm tiền để mua đường, nấu đãi chúng tôi những bát chè thật ngọt ngào ấm bụng ! Bù lại, những lần đi phép, không lần nào tôi không mua cho em, khi thì đồ chơi, khi khác là sách, tập…

Hân mồ côi cả cha lẫn mẹ.

Quê em ở mãi đâu vùng An-Hiệp, Thái-Mỹ. Em kể với tôi, nước mắt lưng tròng : Cha em một hôm đi làm ruộng, đạp nhằm phải mìn VC, chết không kịp trăn trối ! Hơn năm sau, người mẹ cũng ra đi vì bịnh ! Thế là em phải về núp bóng dì em, là cô giáo Thanh.

Tôi lúc đó chưa lập gia-đình, thực tình, tôi thương Hân như thương người em út, nó còn kém đứa em út của tôi ba, bốn tuổi !

Tuy ở với dì ruột, tôi biết Hân đang thiếu một tình thương phụ mẫu, nhất là hình bóng của một người cha. Và… không phải là một nhà tâm-lý-học, tôi không thể biết nổi : ở tuổi nào sớm nhất, một đứa con gái có thể biết yêu ? Vì có một lần, mấy cô bạn gái của tôi từ Sài gòn lên thăm. Khi họ ra về, bé Hân đã đối xử với tôi một cách rất khác thường ! Nó lảng tránh và ít nói hẳn, không hồn nhiên như trước nữa ! Hình như nó cũng biết hờn, ghen ? Tôi nghĩ dù sao, nó chỉ là một đứa con nít ! Mà đúng thế, chỉ được hai hôm là cô nàng đã quên hết ! Lại dở trò nghịch ngợm, chọc phá như cũ…

Hồi đó cứ như thế, tôi lấy tình thương yêu của anh em binh sĩ dưới quyền và luôn của bé Hân như một hơi ấm gia đình. Đang ở cái tuổi tràn đầy nhựa sống, mấy anh chàng sĩ quan lóc chóc như tụi tôi, có thì giờ là la cà tán tỉnh mấy em cỡ tuổi đôi tám, chợt nở rộ như những bông hoa đầy hương sắc miền thôn dã, chẳng hạn như em Huệ con một ông chủ nhà máy xay, hoặc Giáng Tiên, hoa khôi tỉnh Hậu-Nghĩa !

Thế nhưng mấy tháng nhàn hạ qua nhanh như gió thổi, khi TĐ vừa có một sinh khí mới, thì biến cố Tết Mậu-Thân xẩy ra ! TĐ hành quân mệt nghỉ, ngày nào cũng có hành quân, ngày nào cũng có đụng độ, mà trận lớn nhất xẩy ra vào trước Tết khoảng 2, 3 ngày. ĐĐ của thằng bạn cùng khóa nhẩy vào giữa một TĐ VC. Chúng đang ếm quân trong khu vực Rạch Gấu, chờ xâm nhập để đánh vào Phú-Lâm ngày mồng một Tết. Hai trực thăng bị trúng đạn phải quay về, ĐĐ của nó thành ĐĐ trừ ! Không đủ trực-thăng, ĐĐ của tôi phải lội bộ vào tiếp cứu. Địch áp đảo về quân số, vũ khí có thừa, nhưng mục tiêu của chúng là vùng Chợ Lớn, ngày Tết, không phải là chúng tôi.. Thế nên chúng chỉ cầm cự, chờ đêm xuống là rút.

Vậy mà mãi mờ sáng hôm sau, tụi tôi mới thanh toán xong mục tiêu. Nhờ những phi-vụ oanh tạc và pháo binh bắn suốt đêm, VC dù đã cố kéo theo, nhưng cũng đành để lại rất nhiều xác chết và vũ khí. Mặc dù vậy, chúng tôi cũng không vui gì khi phải đem xác thằng bạn ĐĐ Trưởng và bốn Binh sĩ dưới quyền của anh ! Tội nghiệp, anh quê ở Hóc Môn, ra trường là xin ngay về SĐ 25 cho gần nhà !

Khóa chúng tôi đã có một số nhờ tài thao lược, lòng dũng cảm, cộng thêm sự may mắn, đã vượt qua nhiều gian khổ và nguy hiểm mang lại nhiều chiến công vẻ vang cho Quân đội, nổi bật nhất là Trung Tá BĐQ Lê-văn-Ngôn với 510 ngày trấn thủ Tống-Lê-Chân. Đa số còn lại đều đã hy sinh khi còn rất trẻ, trong những trận đánh tuy khốc liệt, nhưng không một ai biết, chẳng một ai hay ! Tên tuổi và thành tích hiếm khi được xuất hiện trên trang nhất các nhật báo, mà đa phần chỉ thấy nằm trong những khung hình chữ nhật, mầu tang đen nơi trang bốn !

Qua hai đợt Mậu-Thân, tôi sống sót và được thăng Trung-úy, nghĩa là sớm hơn quy định khoảng gần nửa năm, nhưng đến cuối năm 1969 tôi bị thương nặng, miểng mìn văng đầy người. Tệ nhất, có một miểng chém vào động mạch bên nách phải, máu ra rất nhiều và nếu không nhờ trực thăng tản thương về Bệnh viện Dã chiến của SĐ 25 Hoa-Kỳ, chắc chắn là tôi đã theo mấy thằng bạn vui vẻ về miền quá cố rồi !

Khi cơn thập tử nhất sinh đã qua, tôi được chuyển về nhà thương Cộng-Hòa.

Một hôm tôi đang nằm cho Y tá rửa vết thương và thay băng thì có mấy anh em Ban 5 Trung và Tiểu Đoàn lên thăm. Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy có cả bé Hân trong đó. Nó chạy ngay lại ôm lấy tôi, nước mắt đầm đìa… Ông Thượng-sĩ thường-vụ của tôi sau khi thăm hỏi xong, nói nhỏ vào tai tôi :

– Ngày nào nó cũng lên TĐ, xin bằng được nếu khi nào TĐ lên thăm thương bịnh binh, nhớ cho phép nó đi theo !

Tôi nhìn xuống con bé đang rúc cái đầu bé nhỏ vào bụng tôi, tấm thân mảnh mai của em thì rung rung theo tiếng nấc. Tôi cúi xuống hôn trên mái tóc mềm mại của nó và cứ để như vậy một lúc lâu, bởi vì chính trong lòng tôi cũng đang nghẹn ngào, xúc động !

Lúc sau, tôi nâng cầm nó lên, trấn an nó :

– Chú không sao đâu. Chỉ một thời gian ngắn nữa là chú sẽ lành vết thương và sẽ được xuất viện.

– Rồi chú có trở lại Đại đội không ? Nó ngước mặt e ngại hỏi tôi điều mà nó quan tâm nhất.

– Chú cũng không biết nữa, chắc là phải ra một Hội-đồng Quân-y để họ giám định. Sau đó, chú mới biết.

– Vậy khi nào xuất viện, chú xuống thăm Hân nha ? Tôi mỉm cười nhìn nó :

– Chắc chắn là chú sẽ đến thăm Hân và các anh em trong Đại-đội, ngay khi nào chú có thể đi được.

Lúc này mới thấy nó nở một nụ cười, rồi cúi xuống nhấc lên một túi nhỏ và lấy từ trong đó ra một ít trái cây để trên chiếc bàn nhỏ đầu giường. Thì ra nó cũng biết đem quà cho thương binh !

Phái đoàn thăm viếng lúc này đã xin phép tôi để qua thăm các anh em thương binh khác. Trước khi ra khỏi phòng, ông Thượng sĩ thường vụ cúi sát tai Hân dặn dò :

– Khoảng nửa tiếng nữa con ra chỗ đậu xe để về nha. Về sớm cho an toàn.

Nó ngoan ngoãn gật đầu, rồi bắt đầu bi bô :

– Tháng trước ai trong Đại đội cũng tin là chú đã chết rồi. Tiểu-đoàn không có tin tức gì vì chú nằm ở Bệnh viện Mỹ. Mãi sau, khi họ chuyển về Cộng-Hòa mới biết chú còn sống. Dì Thanh có dắt Hân đi cầu nguyện trên chùa hoài. Dì con nói gởi lời thăm chú.

Đến đây, nó bắt đầu quay qua nhìn mấy vị sĩ quan thương binh khác nằm cùng phòng. Chợt thấy chiếc nhẫn của tôi để trên mặt bàn lúc tháo ra cho Y tá rửa vết máu trong các ngón tay, nó cầm lên ngắm nghía rồi hỏi :

– Nhẫn này của chú ? Sao bự và đẹp quá vậy ?

– Ừa, nhẫn của chú. Đây là chiếc nhẫn lưu-niệm của trường Võ-Bị Đà Lạt, lúc mãn khóa ai cũng có.

– Chú quý nó lắm ?

– Chú rất quý nó, và chú đã đeo nó từ khi ra trường.

Nó nhẹ nhàng để lại chiếc nhẫn vào chỗ cũ, rồi quay ra ôm lấy tôi, như thể không muốn xa rời. Nó kể đủ thứ chuyện ở Đức-Hòa, đâu là Đại đội đã có Đại Đội Trưởng mới, nhưng không còn đóng ở nhà nó nữa, các chú trong BCH/ĐĐ vẫn thường ghé thăm luôn…

Nửa giờ sau, ông Thường-vụ đã xuất hiện ở cửa phòng, nói với vào.

– Chào Trung-úy đi Hân, đến giờ về rồi.

Hân bắt đầu lúng túng, vòng tay bé nhỏ, nó cố ôm lấy tôi. Mấy phút sau, tôi phải nhẹ nhẹ gỡ nó ra :

– Thôi Hân về đi không họ chờ.

Nó nhìn tôi như muốn khóc :

– Chú hứa nha ! Đừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đấy !

Nói rồi nó buông tôi, từ từ bước ra cửa, hình như nó đã khóc. Đến cửa phòng, nó quay lại nhìn tôi, bàn tay bé nhỏ của nó đang cố chùi những giọt lệ… Không cầm lòng được, tôi gọi nó :

– Hân lại đây với chú.

Tôi cầm chiếc nhẫn lưu-niệm của tôi, nhẹ nhàng để vào lòng bàn tay của nó :

– Hân giữ cho chú chiếc nhẫn này. Giữ thật kỹ và đừng cho ai biết. Hân biết là chú quý nó như thế nào rồi. Khi nào xuất viện chú sẽ đến thăm Hân và Hân đưa lại cho chú, Thế có được không ?

Thật không ngờ, cái ý-kiến bất chợt đến với tôi lúc đó lại có tác dụng ngay. Hân vui mừng ra mặt, ít nhất nó đã có một vật làm tin kèm theo lời hứa. Lau hết nước mắt nó thủ thỉ :

– Dạ, con sẽ giữ thật kỹ, chờ khi nào Trung-úy đến con giao lại.

Tôi xoa đầu nó rồi đẩy nhẹ nó về phía cửa. Lần này, nó quay lại mỉm cười nhìn tôi và rồi bóng nó từ từ lẫn vào với dòng người thăm viếng bên hành lang Bệnh-viện…

Tôi xuất viện sau đó chừng một tháng, và phục hồi mau lẹ. Tuy vậy, phải chờ đến tháng ba năm 1973 tôi mới nhận được giấy tờ giải ngũ chính thức. Nhìn ngó bên ngoài, tôi may mắn không mất mát gì cả, nhưng những ngón tay bên mặt, nhất là ngón trỏ, không co duỗi bình thường được. Cầm tờ Chứng-chỉ giải-ngũ trong tay, tôi ngậm ngùi : thế là vĩnh viễn giã từ vũ khí !

Trong khoảng thời gian chờ quyết-định của Hội-Đồng Quân-Y, tôi đã đi Đức-Hòa thăm lại chốn xưa. ĐĐ của tôi gần như hoàn toàn mới, chỉ trừ một vài anh em trong BCH/ĐĐ nhận ra tôi, còn lính tráng hầu hết là lính mới, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ ! Chiến tranh đã làm thay đổi nhanh không thể ngờ được !

Tôi lần mò đến nhà cô giáo Thanh để thăm cô và bé Hân nhưng thật không may, người nhà cho biết hai dì cháu cô đã đi ăn đám giỗ bên Bình Thủy, có lẽ đến chiều mới về.

Tôi buồn rầu về lại Sài Gòn, tự hứa sẽ trở lại vào một dịp khác.

Chiến tranh vẫn còn đó, chiến trận gia tăng khắp mọi nơi, nhưng Sài gòn vẫn còn là một mảnh đất khá bình yên ! Nó như một hải đảo nằm giữa một biển lửa. Và tôi đã phải cố gắng để thích ứng với cuộc sống hoàn toàn thay đổi. Dù sao, tôi vẫn còn trẻ. Tôi làm việc như một cái máy, nhưng tôi không còn bị cô đơn, cái cô đơn của một người chỉ huy, dù chỉ là một cấp nhỏ; tôi tự do, không còn bị ràng buộc vào một trách nhiệm có liên can đến sinh mệnh của nhiều người khác. Tâm trạng thả lỏng này đã dẫn tôi đắm mình trong thụ hưởng, để bù lại cho bao năm tháng tuổi xuân đã qua đi trong quân-trường và ngoài trận địa.

Bận rộn vì công việc lúc ban ngày, say mê trong ánh đèn mầu của các vũ-trường vào ban đêm, tôi gần như đã quên hẳn Hân, một đứa bé đang ở một nơi thiếu an ninh, mà chỉ một năm trước, tôi đã coi nó như một đứa em ruột thịt. Tôi đã tự khất lần, và ngần ngại không muốn ra khỏi Đô-thành, nơi mà lúc nào cũng có những cuộc vui đang chờ sẵn.

Khoảng đầu năm 1974, nhân một chuyến đi Trảng Bàng, tôi ghé vào Đức-Hòa và gặp lại Hân. Căn nhà vắng vẻ, khu xóm cũng thiếu bóng những người lính, có lẽ họ đang bận rộn trong một cuộc hành-quân nào đó. Khi tôi đến, chỉ có mình Hân ở nhà, cô Thanh có lẽ đang đi coi ruộng vườn.

Hân lúc này không còn bé nữa, em đang là một thiếu-nữ tràn đầy nhựa sống với một vẻ đẹp tự nhiên và tuyệt mỹ mà Thượng-Đế chỉ dành cho những người con gái đương độ thanh xuân. Em mừng đến rơi cả nước mắt khi thấy tôi. Rót nước mời, em vẫn thân mật nhưng tỏ ra hơi e thẹn, cái e thẹn dễ yêu của các cô gái đang dậy thì.

Hân cho biết em đã trông mong tôi từng ngày, và rất ân hận vì lần trước tôi đến, mà em không được gặp. Lấy chiếc nhẫn dấu kín trong hộc tủ, Hân đưa nó sát mặt tôi, rồi nắm vội nó trong bàn tay và ấp lên ngực :

– Hân biết đây là chiếc nhẫn lưu-niệm của chú, nó lưu lại những kỷ-niệm của chú với Quân-trường Đà Lạt; nhưng bây giờ, nó cũng đã trở thành một vật lưu-niệm của Hân. Nó đã lưu lại những kỷ-niệm giữa Hân và chú. Hân muốn được giữ nó lâu hơn nữa, như vậy có được không ?

Tôi cảm động trước những lý lẽ phát ra tự con tim của em :

– Hân cứ giữ nó đi, như vậy khi nào chú đến với Hân, chú sẽ được gặp cả hai.

Quá vui mừng, quên cả e thẹn, Hân chạy lại ôm tôi, và nói trong cảm động :

– Thực ra, khi có chiếc nhẫn bên mình, Hân có linh cảm là chú sẽ luôn luôn quay về tìm Hân, và như vậy Hân sẽ không bao giờ mất chú.

Tôi ôm chặt Hân, và hôn nhẹ trên trán em như vài năm trước, khi em còn rất nhỏ.

Hình như Hân muốn nhiều hơn thế, em từ từ ngước mặt lên để mong hai làn môi chạm nhau, nhưng tôi đã tự dừng lại bằng cách buông lỏng em. Có phải tôi đang còn bối rối giữa Hân, một đứa bé và Hân, một cô gái đang độ xuân thì ?

Chúng tôi chia tay nhau khi ánh chiều vừa xuống. Tôi hứa với Hân sẽ lên thăm em thường hơn. Cả hai cùng bịn rịn, không nỡ rời nhau, nhưng rồi phút chia ly cũng phải tới, tôi lên xe về lại Sài gòn mang theo một hình ảnh của Hân, đầy nước mắt…

Những tháng ngày sau đó, thời cuộc biến đổi không ngừng… Tất cả đều thất lợi cho miền Nam chúng ta. Ngay cả con đường từ Sài gòn đi Đức-Hòa cũng không còn an ninh nữa ! Tiếp đến là những biến cố dồn dập, nó đến nhanh quá, như dòng thác lũ, như cơn đại hồng thủy, nó cuốn đi hết cả… Không kịp nữa rồi, những gì ta không làm, hoặc chưa làm, đành phải xếp lại trong niềm hối hận khôn nguôi…

Câu “nước mất, nhà tan” thật là thấm thía với tâm trạng của những người bỏ nước ra đi ngày ấy ! Ra đi là không bao giờ nghĩ đến ngày trở lại, ra đi là chấp nhận cả một trời mù mịt, đau thương !

Tôi cũng ở trong số ít những người “bất hạnh nhưng may mắn” này ! Tất cả Nhân dân miền Nam coi như gẫy cánh nửa đường; có khác chăng, chỉ là mỗi người “gẫy” một kiểu.

Riêng tôi đã gẫy một lần rồi, vừa mới bắt đầu xây dựng lại, thì nay lại gẫy thêm một lần nữa…

***

Vật lộn với cuộc sống đến năm thứ 32 trên nước Mỹ, tôi quyết định nghỉ hưu vì đã thấm mệt, cả thể xác lẫn tinh thần.

Những chuyện ngày xưa khi nhớ, khi quên.

Nhiều chuyện quên hẳn, như gió thoảng, như mây bay !

Dòng đời thay đổi, cũng chỉ là lẽ tự nhiên của cuộc sống !

Những ngày, tháng buồn tênh, tôi chợt nhớ đến một câu thơ, không biết đã đọc được ở đâu và ai là tác giả :

Khi ta ở, đất chỉ là đất,
Khi ta đi, đất đã hóa linh hồn !

Vâng, linh hồn của đất, của những nơi ta đã từng đi qua, những nơi ta đã từng dừng lại… Nó đã có một linh-hồn, và linh-hồn đó đã ám ảnh tim ta, như muốn gọi ta về.

Và… tôi đã về thăm lại Sài gòn vào năm 2007 !

Vẫn biết đổi thay là lẽ tự nhiên của cuộc sống, sao tôi vẫn thấy bàng hoàng, tiếc nuối những ngày xa xưa ?!

Lang thang mãi ở Sài gòn, chán! Một hôm, tôi trở lại Đức-Hòa, tò mò muốn biết giờ nó ra sao ? và… những người muôn năm cũ…? Hơn ba mươi năm đã trôi qua, vật đổi sao rời, bóng chim tăm cá.

Đức-Hòa đã thay đổi theo một chiều hướng đi xuống ! Ngày xưa, dù đang là thời chiến tranh, nó vui nhộn biết là bao: hàng quán, lính tráng, người mua kẻ bán ồn ào, tấp nập. Những con đường, tuy chỉ nhỏ vừa cho hai xe nhà binh tránh nhau, nhưng đầy bóng mát của những hàng cây cao… Giờ đây, có những con đường mới mở, rộng thênh thang, thẳng tắp, nhưng trống trơn dưới ánh nắng như thiêu như đốt, không một bóng cây; xe cộ thì lẻ loi vài chiếc ! Thị-xã giống như một cô gái quê, xấu, đang cố làm dáng với những vết son vụng về tô vội !

Đến khu Bình Tả, nơi ngày xưa tôi đã đóng quân. Cảnh vật không thay đổi nhiều, nhưng sao trông thật hoang sơ, buồn thảm. Tại một ngã ba, ngày ấy có một cái quán lụp xụp, lúc nào cũng ồn ào những lính. Chính tại nơi đây, tôi đã ăn một tô hủ tíu ngon nhất trong đời ! Đi vào sâu hơn khoảng trăm mét là ngôi biệt thự nhà máy xay. Căn nhà hình như đang bỏ hoang. Hỏi thăm thì biết cô Huệ đã định cư bên Úc từ lâu. Cô Giáng Tiên, hoa khôi Hậu-Nghĩa, nghe nói sau này lấy một Sĩ-quan Biệt-động-quân đẹp trai, giờ này chắc đang ở bên Mỹ. Đi sâu hơn nữa thì gặp tàn tích của một cái đồn, đồn này là của Tiểu-đoàn chúng tôi hồi đó. Gần đấy có cắm một cái bảng nhỏ, trên đề : Di tích lịch-sử – Cấm đến gần !

Tự nhiên, tôi thấy lạnh toát người. Có phải anh linh của bao nhiêu Chiến sĩ ngày xưa, vẫn như còn đang phảng phất đâu đây ?!

Ra thăm khu trung tâm Thị-xã, ở đây có thay đổi chút ít. BTL/SĐ25 BB nay hình như đang là một khu dành cho trẻ em, ngay trước cổng vào có một căn nhà nhỏ, trong đó trưng bầy hình ảnh và những kỷ-vật của ông Võ văn Tần !

Chợ Đức-Hòa có xây một mặt tiền mới, quay về hướng khác, nhưng bức tường mặt tiền cũ vẫn còn nguyên.

Đang ngơ ngáo nhìn ngó cảnh vật, tôi chợt để ý có một bà cụ cứ chăm chú nhìn tôi. Bước đi vài bước, bà lại quay đầu nhìn lại; cuối cùng bà cụ đến gần nhỏ nhẹ hỏi tôi :

– Nếu không phải, xin ông thứ lỗi. Phải ông đây là Trung-úy Phong không ?

Tôi giật bắn người. Chắc chắn đây là một người quen biết với tôi, nhưng nghĩ mãi, tôi đành chịu :

– Dạ, tôi là Phong đây ! Xin lỗi, trí nhớ tôi hơi kém, bà đây là…?

– Trời đất, Mô Phật ! Thiệt không ngờ cũng có ngày tôi lại gặp được Trung-úy ! Tôi là Thanh đây. Xưa Trung-úy có đóng quân nhà tôi, Trung-úy còn nhớ không ?

Lúc này thì hình ảnh của một cô giáo Thanh ngày xưa đã lờ mờ lẫn vào khuôn mặt già nua của bà cụ, tôi mừng rỡ :

– …Cô giáo Thanh.. Tôi nhận ra rồi. Tôi nhận ra rồi. Chà, cô trông còn mạnh lắm, đi không cần chống gậy mà. Xin mời cô vô quán nước đây ta ngồi nói chuyện.

Đôi mắt già nua của cô Thanh đã thấy có ánh nước, cô cầm tay tôi ân cần :

– Thôi, quán xá gì. Chắc là Trung-úy ở nước ngoài về thăm Quê hương? Trung-úy có rảnh mời ghé lại tôi uống miếng nước. Nhà cũng gần đây thôi.

– Dạ. Tôi ra khỏi nước từ năm 75, giờ nghỉ hưu rồi mới có dịp về thăm lại. Hồi nãy đi ngang, tôi thấy nhà cũ của cô giờ dường như là một nhà máy gì đó ?

– Bị nhà nằm trong khu “quy-hoạch”, nghe đâu họ đã bán đất đó cho Hàn quốc lập nhà máy may gì đó. Tôi phải mua bậy một căn nhà cũng gần chợ đây thôi, cho nó tiện.

Mời Trung-úy đi theo tôi, chút xíu là tới à.

Lẽo đẽo theo chân bà cụ đi sâu vào một con đường nhỏ ngang hông chợ, tôi ngần ngại ngỏ ý :

– Tôi giã từ Quân đội lâu lắm rồi, cô Thanh cứ gọi tôi bằng tên cho tiện.

– Không có sao đâu. Ở đây bà con cỡ tuổi tôi, ai cũng quý những người lính Cộng Hòa khi xưa ! Lại bởi tôi quen miệng rồi, tôi nhớ Trung-úy là Trung-úy, gọi khác nghe kỳ lắm.

Đến đây, mặc dù tận đáy lòng, như có một chút gì hơi hổ thẹn vì sự thất hứa năm xưa, nhưng tôi không thể quên được Hân :

– Thế cháu Hân giờ sao rồi ? Chắc cũng con cháu rầm rề cả !?

Cô Thanh bỗng như chùng xuống, cô nói rất nhỏ, giọng run run :

– Cháu… cháu nó không còn ở với tôi nữa.

Vừa lúc đó, cô dừng lại trước một căn nhà, nhà của cô. Phải qua một cái sân nhỏ trước khi vào tới phòng khách. Cô Thanh dơ tay :

– Dạ, mời ngồi. Để tôi lấy nước trà mời Trung-úy.

Trong nhà còn có hai vợ chồng người bà con của cô, tuổi khoảng ngũ tuần. Cô Thanh sai họ châm bình nước trà, đoạn rót ra trân trọng mời tôi. Không giữ được kiên nhẫn, tôi hỏi :

– Hồi nãy cô nói cháu Hân không còn ở với cô. Vậy giờ cháu đang ở đâu ?

Sau một hơi thở thật dài, cô Thanh bỗng bật lên khóc nức nở. Hai tay bưng mặt, cô nói trong tiếng nấc :

– Cháu nó đã mất rồi ! Nó bỏ tôi đã gần ba chục năm rồi Trung-úy ơi !

Tôi bàng hoàng, choáng ngợp như vừa bị dội cả một thùng nước lạnh vào người ! Qua một phút xúc động đến tột cùng, tôi lấy lại bình tĩnh :

– Cháu nó qua đời như thế nào, cô có thể cho tôi biết được không ?

– Chuyện cũng hơi dài dòng, vì vậy tôi có ý mời Trung-úy tới nhà, mình có nhiều thời gian hơn. Cô Thanh có vẻ đã lấy lại được chút bình tĩnh, cô tiếp :

– Tôi nhớ nó mất năm Mậu Ngọ, 1978. Lúc đó khó khăn lắm, cả nước đói ! Ở quê như chúng tôi mà cũng phải ăn độn ! Cháu Hân bỏ học ngay từ năm 75. Nó nói học hành gì mà tối ngày họp tổ, họp đoàn, rồi chửi bới chế độ cũ… Vậy mà cũng không thoát, nó phải nhập vào cái gì kêu là Thanh-niên Xung-phong gì gì đó, đi làm thủy lợi. Nghĩa là đào kinh, đắp mương đó, Trung-úy.

Ngừng lại vài giây như thể để lấy thêm sức, cô tiếp :

– Hồi đó nó đang tuổi con gái, mà ăn uống thì thiếu thốn. Lại thêm thi đua này nọ, nó bị mất sức nhiều lắm, rồi bị sốt xuất huyết. Bịnh cũng không đáng gì, nhưng thuốc men hồi đó hoàn toàn không có. Ăn còn không đủ, nói chi thuốc !… Lúc đó nó mới vừa 19 tuổi.

Đến đây, cô lại ôm mặt nức nở… Tôi lại gần cô, vỗ về an ủi :

– Số phận đã an bài như vậy, không cho em qua được cơn khó khăn. Cô cũng không nên rầu rĩ quá không có lợi. Tuổi cô cũng như tôi, ngày một yếu kém…

– Tôi cũng biết vậy, và tôi cũng đã cố giữ gìn sức khỏe, để sống đến ngày hôm nay…

Nói tới đây, cô Thanh từ từ đứng dậy, hướng dẫn tôi đi về phía bàn thờ giữa căn nhà.

Phía trên bàn thờ, tôi thấy có treo hai tấm hình lớn mà tôi đoán là song thân của cô Thanh; đặt trên mặt bàn thờ phía bên trái, có ba tấm hình mà một trong ba tấm đó, tôi nhận ra là em Hân.

Hình chụp có lẽ vào lúc em 17, 18 tuổi, trông xinh đẹp như một bông hoa đang nở.

Khi tôi nhìn em thì đôi mắt của em cũng đã nhìn vào tôi từ lâu lắm rồi, có lẽ ngay từ khi tôi bước vào căn nhà này ! Thắp nén nhang, tôi biết tim tôi đang chảy ra thành nước, và dòng nước ấm đó đang chảy ngược lên phía đôi con mắt … Khói nhang bốc lên không gian và tỏa rộng. Ánh sáng yếu ớt khúc-xạ qua làn khói, làm như em đang mỉm cười nhìn tôi. Có lúc lại không phải là cười, mà đang nhìn tôi như trách móc !?

Mắt tôi bỗng nhiên hơi mờ đi, hình ảnh của Hân, một buổi chiều xa xưa trong dĩ-vãng bỗng hiện về, bé nhỏ lẫn trong đám người thăm viếng ở Bệnh-viện Cộng-Hòa, em quay lại mỉm cười nhìn tôi…

Và rồi lần cuối cùng tôi gặp, cánh tay bé nhỏ dơ lên chào tạm biệt khi tôi trở về Sài gòn, mắt em đầy lệ…

Một âm thanh mơ-hồ như vọng lại từ một nơi nào xa, xa lắm :

– …Đừng quên đến thăm Hân nha, Hân chờ đấy !…

Người tôi lúc đó như muốn rũ xuống, tôi cố gắng hết sức đứng thẳng người, nhìn tha thiết vào đôi mắt em, cầu xin một tha thứ.

Ngay trước bức hình của em, tôi thấy có một hộp nhỏ bằng nửa bàn tay, khảm xà cừ mầu đen rất đẹp. Thấy tôi nhìn vào chiếc hộp nhỏ, cô Thanh nói như khuyến khích :

– Trung-úy cứ cầm lên và mở ra coi.

Tôi nhẹ nhẹ cầm chiếc hộp lên bằng hai tay và mở nó. Một thứ ánh sáng như lóe lên : chiếc nhẫn Võ Bị năm xưa của tôi hiện ra, sáng bóng, nằm trong hộp trên một miếng nỉ trắng.

Cầm chiếc nhẫn trên tay, tôi chợt rùng mình, dường như có một luồng điện nhẹ đang chạy qua khắp châu thân ! Qua bao năm tháng, chiếc nhẫn vẫn còn đây mà người xưa đã mất. Chiếc nhẫn như nhắc tôi một lời hứa mà tôi không giữ trọn ! Nhìn giọt nước mắt rơi, tôi mới biết mình đang khóc. Thực lòng, tôi cũng không biết tôi đang khóc vì vui mừng thấy lại một kỷ-vật xưa, hay đang khóc vì tràn đầy ân hận.

Rồi như một phản xạ, tôi đưa nó lên gần miệng, hà một hơi ấm vào viên hồng ngọc rồi chà sát nhẹ nhẹ vào ngực, phía trái tim.

Nhạt nhòa trong nhang khói, tôi thấy Hân như lại mỉm cười. Có phải tôi tưởng tượng không, hay đang có một thần giao cách cảm ?

Cô Thanh từ nãy chỉ đứng yên lặng theo dõi, bỗng cô nói, giọng nhẹ như hơi thở :

– Những lúc còn tỉnh, cháu nó đã kể hết cho tôi nghe vì sao nó có chiếc nhẫn này. Trước đó, nó đã giấu cả tôi, giữ kín và âm thầm chờ mong cho đến những ngày cuối cùng. Trước khi nhắm mắt, nó còn dặn tôi phải để chiếc nhẫn này ngay trước hình thờ của nó, vì nó quả quyết là sẽ có một ngày, một ngày Trung-úy sẽ tìm đến.

Ngừng một phút, cô nói thật nhỏ, như nói với chính mình :

– Cũng phải mất hơn ba chục năm! Giờ thì châu đã lại về hiệp phố !

Đặt lại chiếc nhẫn vào trong hộp và trân trọng để chiếc hộp vào đúng chỗ ban đầu, tôi quay qua cô Thanh :

– Thưa cô, chắc nó không cần về “hiệp phố” nữa đâu. Tôi giữ nó chỉ có khoảng 5 năm, thế mà chiếc nhẫn này nó đã ở bên em Hân những trên ba mươi năm, những lúc em còn sống và cả những lúc em đã qua đời. Tôi không thể hình dung được rồi mai đây, bên hình của em sẽ chỉ còn là một khoảng trống. Tôi biết khi xưa, em luôn luôn muốn có chiếc nhẫn này ở bên cạnh. Cái chỗ đúng nhất của nó là ở trong cái hộp này, ở tại nơi đây ! Xin phép cô, cho tôi cứ để nó bên em Hân mãi mãi… Âm dương là muôn đời cách trở, nhưng tôi muốn mượn chiếc nhẫn này, như một vật xúc-tác giữa hai linh hồn, một linh hồn sống tha-phương nơi đất khách quê người, và một linh hồn mãi mãi trên Quê hương…

***

Cô Thanh ân cần mời tôi ở lại dùng cơm chiều, nhưng tôi phải từ chối vì không muốn trở lại Sài gòn khi quá tối. Tôi hẹn tuần sau sẽ lên để thăm mộ và đốt cho em Hân một nén nhang

Khi tiễn tôi qua chợ, cô cười nói với tôi :

– Trung-úy biết không, khi mua lại căn nhà gần chợ này, tôi cũng có chủ ý là được thấy thật nhiều du khách Việt-kiều. Thấy ai có dáng Việt-kiều là tôi ngó thiệt kỹ. Không dè cũng có ngày Trời Phật thương.

Tôi mỉm cười trước những ý nghĩ chân chất và đôn hậu của một người miền Nam như cô Thanh. Từ giã cô, tôi theo Tỉnh lộ 10 để về Sài gòn. Trước kia con đường này ít khi được xử dụng vì luôn luôn bị đắp mô, mìn bẫy…

Thương hải biến tang điền! Ngàn xưa đến ngàn sau, dù muốn hay không, đổi thay mãi mãi vẫn là một bản chất tự nhiên của cuộc sống!

Chỉ có tình-cảm của con người, có những thứ tình-cảm mà đời đời, không bao giờ thay đổi.

… Vậy mà nhiều khi tôi vẫn đinh ninh rằng: Đã mất hết cả rồi!

Bùi Thượng Phong

(Nguồn: kontumquetoi.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Nhẫn Ân Tình_Bùi Thượng Phong

Bài thơ của một anh thương binh VNCH

Image may contain: 1 person, sitting

Bài thơ của một anh thương binh VNCH

Tao Bị thương hai chân,

Cưa ngang đầu gối !

Vết thương còn nhức nhối.

Da non kéo chưa kịp lành…

Ngày “Giải phóng Miền nam”

Vợ tao “Ẵm” tao như một đứa trẻ sơ sanh…!

Ngậm ngùi rời “Quân-Y-Viện”

Trong lòng tao chết điếng,

Thấy người lính Miền bắc mang khẩu súng AK !

Súng “Trung cộng” hay súng của “Nga” ?

Lúc này tao đâu cần chi để biết.

Tao chiến đấu trên mảnh đất tự do Miền nam

-Nước Việt,

Mang chữ “NGỤY” thương binh.

Nên “Người anh, em phía bên kia…”

Đối xử với tao không một chút thân tình…!

Mày biết không !

Tao tìm đường về quê nhìn không thấy ánh bình minh.

Vợ tao: Như “Thiên thần” từ trên trời rơi xuống…

Nhìn hai đứa con ngồi trong căn chòi gió cuốn,

Bụi đất đỏ mù bay !

Tao thương vợ tao yếu đuối chỉ có hai tay,

Làm sao “Ôm” nổi bốn con người trong cơn gíó lốc.

Cái hay là: Vợ tao giấu đi đâu tiếng khóc.

Còn an ủi cho tao, một thằng lính què !

Tao đóng hai cái ghế thấp, nhỏ bằng tre,

Làm “Đôi chân” ngày ngày đi lại

Tao quét nhà; nấu ăn; giặt quần; giặt áo…

Cho heo ăn thật là “Thoải mái” !

Lê lết ra vườn: Nhổ cỏ, bón phân

Đám bắp vợ chồng tao trồng xanh tươi

Bông trổ trắng ngần !

Lên liếp trồng rau, thân tàn tao làm nốt..

Phụ vợ đào ao sau vườn, rồi thả nuôi cá chốt.

Đời lính gian nan sá gì chuyện gíó sương…

Xưa, nơi chiến trường

Một thời ngang dọc.

Cụt hai chân. Vợ tao hay tin nhưng không “Buồn khóc”!

Vậy mà bây giờ…

Nhìn tao…nuớc mắt bả….rưng rưng !

Lâu lắm, tao nhớ mầy qúa chừng.

Kể từ ngày, mày “Được đi Cải tạo”!

Hàng thần lơ láo – Xa xót cảnh đời….

Có giúp được gì cho nhau đâu khi:

Tất cả đều tả tơi !

Rồi đến mùa “H.O”

Mầy đi tuốt tuột một hơi.

Hơn mười mấy năm trời…

Không thèm quay trở lại

Kỷ niệm đời Chiến binh

Một thời xa ngái.

Những buổi chiều ngồi hóng gió nhớ…buồn hiu !

Mai mốt mầy có về thăm lại Việt nam

Mầy sẽ là “Việt kiều”!

Còn “Yêu nước” hay không – Mặc kệ mầy.

Tao đếch biết !

Về, ghé nhà tao. Tao vớt cá chốt lên chưng với tương…

Còn rượu đế tự tay tao nấu

Cứ thế, hai thằng mình uống cho đến….điếc !

Trang Y Hạ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài thơ của một anh thương binh VNCH

Coi Chừng Tu Hú_Báo Việt Luận (Úc)

Coi chừng tu hú

Chim Tu hú là loài chim không ấp trứng, và cũng không nuôi con. Loài chim này chỉ đẻ trứng vào tổ chim khác. Ở Việt Nam tu hú thường đẻ vào tổ Sáo sậu rồi mặc kệ cho Sáo sậu ấp trứng nở và nuôi hộ con mình. Lý do đơn giản khiến Tu hú không gửi trứng vào tổ loài chim khác mà chỉ làm khổ Sáo sậu là vì Tu hú rất giống Sáo sậu, chỉ khác nhau ở tiếng hót (mà quả trứng thì không biết hót). Khi trứng nở thành chim con rồi lớn lên và biết hót thì lúc đó Sáo sậu mới biết không phải là con mình. Thế nhưng khi đó thì mọi sự đã muộn.

Tu hú có tên tiếng Anh là Asian Koel, còn tên Khoa học là Eudynamys scolopaceus, thuộc họ Cucu (Cuculidae) được tìm thấy ở Nam Á, Tàu, và Đông Nam Á. Từ “Koel” có gốc từ tiếng Hindi, còn gốc tiếng Phạn là “Kokila” (theo văn chương Phạn vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên loài chim này được gọi là Anya-Vapa có nghĩa là “lớn nhờ người khác nuôi”). Đặc điểm của loài Tu hú là loài đẻ nhờ (không bao giờ làm tổ mà chỉ tìm các tổ chim khác để đẻ). Vì vậy chim Tu hú non được các loài chim khác nuôi dẫn đến nhiều trường hợp chim con lớn gấp nhiều lần chim cha mẹ nuôi). Khi đẻ, Tu hú chỉ đẻ một trứng duy nhất của nó trong tổ của nhiều loài chim khác nhau, kể cả tổ của các loài chim nhỏ. Thường con Tu hú trống có nhiệm vụ bay vờn quanh tổ để thu hút sự chú ý của chim chủ nhà, và cố tình dụ cho chim chủ nhà bay ra khỏi tổ đuổi mình (để bảo vệ trứng) nhằm đánh lạc hướng cho Tu hú mái có cơ hội đẻ một quả trứng của mình vào tổ. Một nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy sau khi chim chủ của tổ chim đẻ trứng đầu tiên được một ngày rưỡi thì Tu hú tìm cách đẻ trứng vào đó. Trứng Tu hú thường nở trước 2, 3 ngày so với trứng của chim chủ nhà, nhưng để bảo đảm trứng của mình được chăm sóc, Tu hú mái ác độc thường ăn trứng hoặc làm hư hại trứng của chim chủ nhà, rồi mới đẻ trứng của mình vào. Chim Tu hú Á châu là loài ăn tạp, chúng ăn tất cả các loại côn trùng, sâu bướm, trứng, và các động vật có xương sống nhỏ, cũng như ăn cả trái cây.

Đó là nói chuyện chim. Chuyện Việt Nam cho tới bây giờ vẫn lắm điều chẳng khác gì chuyện Tu hú.

Năm 1954, Hiệp định Geneve ra đời. Nhiều thanh niên trong hàng ngũ kháng chiến chống Pháp (không ngờ cuộc kháng chiến đó của họ đã bị CS lợi dụng) theo lệnh trên, đã cưới vợ vội vã, gấp rút như kiểu cưới chạy tang. Sau đó, cũng theo lệnh cấp trên, họ rời bỏ người vợ mới cưới hay người họ mới yêu để tập kết ra Bắc. Ra ngoài Bắc rồi, nhiều người lập gia đình mới nhưng lại vẫn theo lệnh đảng CS và nhà nước CS ngoài Bắc, trở về Nam chiến đấu, họ tìm và được người vợ, người yêu khi xưa tận tình giúp đỡ, che chở, nuôi giấu. Hơn thế, cái trứng “Tu hú” trước kia gửi trong bụng vợ (hay người yêu), được sự bảo bọc của xã hội miền Nam, cũng sẵn lòng làm chuyện đó. Bởi thế CS mới phát động được cái gọi là “chiến tranh nhân dân”, nhất là ở những vùng xôi đậu. Bởi thế mới có chuyện con cái của đảng viên CS tập kết lớn lên trong miền Nam, cũng được học hành tử tế, cũng được phép phục vụ trong hàng ngũ quân cán chính miền Nam, và nhiều kẻ đã len lỏi vào tận những cơ quan, đơn vị nòng cốt của chế độ Cộng Hòa và chỉ lộ mặt sau ngày 30/4/1975! Bên cạnh đó cũng phải nhắc đến số đảng viên CS được lệnh theo chân đoàn người di cư vào Nam sau ngày Hiệp định Geneve 1954, để rồi trong 21 năm chiến tranh, cũng là những phần tử nằm vùng hoạt động cho miền Bắc.

Thế rồi ngày 30/4/1975 đến. Nhiều người dân miền Nam di tản kịp thời, được định cư ở các nước Âu Mỹ, và tiếp theo sau đó là những đợt thuyền nhân, bộ nhân lũ lượt bỏ quê hương, rời gia đình họ hàng vượt biên vượt biển đi tỵ nạn. Lại một lần nữa trong hàng ngũ tỵ nạn lại đầy dẫy những kẻ “ra đi theo chỉ thị”. Con cái những kẻ này trưởng thành, học hành, thành tài tử tế là nhờ sự che chở, giúp đỡ của các nước tự do, như thể chim Tu hú lớn lên trong tổ chim Sáo sậu và những đứa con ấy khi lớn lên, lại tiếp tục công việc của cha mẹ được đảng CS, và nhà nước CSVN giao phó là hòa trộn vào tập thể tỵ nạn, xúi giục gây mâu thuẫn, bất hòa để cái cộng đồng tỵ nạn ấy càng ngày càng suy yếu đi. Và trên hết là làm sao để nắm quyền lãnh đạo những hội đoàn, đoàn thể trong cộng đồng, dần dần lèo lái cộng đồng -và lớp trẻ con cái những người tỵ nạn chân chính rời xa lý tưởng mà cha mẹ đã phải liều mình hy sinh cố tìm ra sự sống trong cái chết của thuở ban đầu!

Công việc chống Cộng mỗi ngày một khó khăn. Đối phương ở xa chưa làm gì được mà nội bộ, đồng bào, chiến hữu từng cùng thân phận tỵ nạn đã xào xáo, chia rẽ. Mười hội thì ít ra cũng năm, sáu thể nào sau một thời gian hoạt động hăng say, đoàn kết gắn bó keo sơn cũng phân làm hai, cố dành bằng được vai trò “chân chính”, không ngại ngần thóa mạ, chụp mũ những người mới hôm trước còn là đồng chí, chiến hữu là “tay sai VC”, là “nằm vùng” Ai nói phải quấy thì chụp ngay cho cái “nón cối”. Chuyện buồn cười (và đắng cay ấy) như thế cứ liên tiếp xảy ra, hết lúc này đến lúc khác, hết nơi này tới nơi khác. Vì nếp sống tự do và nguyên tắc tôn trọng đa số của các nước định cư chỉ phù hợp với một nền sinh hoạt chính trị dân chủ kiểu Tây phương, dựa trên truyền thống phong tục đã có lâu đời; nhiều người có lòng nhưng vì tự trọng đành ngậm ngùi rút lui, từ giã mọi sinh hoạt để mặc cho kẻ khác tha hồ nhảy múa.

Tình thế lại càng trở nên khó khăn hơn cho những người còn có lòng, có chí tranh đấu cho một đất nước Việt Nam tự do dân chủ không Cộng sản kể từ khi Hoa Kỳ và các nước Tây phương theo chủ nghĩa tư bản bãi bỏ cấm vận, bắt tay với chế độ cầm quyền ở Việt Nam CS để làm ăn. Giao thương ngày càng tăng dẫn theo một làn sóng “Tu hú” mới từ trong nước ào ạt đổ ra hải ngoại để “đẻ trứng” vào những chiếc tổ mà đoàn “Sáo sậu tỵ nạn” đã dày công xây đắp.

Thử nhìn ở nước Úc này thì thấy ngay! Với làn sóng du học sinh và lấy chồng lấy vợ (thật lẫn giả) ngày càng gia tăng; chuyện thực tế phải đến đã đến là thành phần người tỵ nạn thật sự trong cộng đồng người Việt định cư ở Úc càng lúc càng hao hụt đi nhiều. Điều này khiến cho cuộc chiến nhằm đạt được tự do, nhân quyền và dân chủ cho người dân tại quê nhà vẫn còn đầy khó khăn. Chế độ CSVN trong bao năm qua vẫn không bao giờ lơ là việc tấn công vào thành trì tỵ nạn hải ngoại bằng đủ mọi phương cách qua việc ban hành và nỗ lực thi hành nghị quyết 36.

Sau thời kỳ hoạt động mạnh mẽ -cả về chính trị lẫn quân sự- của những năm đầu ngay sau 1975, nhiều tổ chức đảng phái của người Việt tại hải ngoại đã đóng góp khá nhiều vào cuộc đấu tranh chung. Nhưng đáng tiếc trong khoảng gần 2 thập niên trở lại tới nay, rõ ràng tình hình đã diễn biến theo chiều hướng bất lợi hơn cho khối người Việt tỵ nạn ở hải ngoại. Trong thời gian đó, một bên là lớp người tỵ nạn ban đầu (thế hệ thứ nhất) ngày càng già yếu, hao hụt dần, lý tưởng “chống Cộng” mỗi ngày mỗi bớt đi mà chiến thuật  “đẻ nhờ” của Tu hú vẫn được CSVN tận tình khai thác. Họ đem “trứng CS” gieo khắp nơi, bất cứ lúc nào thuận tiện ở bất cứ nơi đâu có người Việt định cư. Ba mươi năm qua, nhất là từ khi phải mở cửa từ năm 1990 đến nay, việc du lịch, du học, hay lập gia đình giữa trai hải ngoại, gái trong nước (hay ngược lại) đã thành chuyện bình thường. Nhưng có ai dám nói chắc rằng: Trong những cuộc hôn nhân ấy không có trường hợp CSVN dùng để tiếp tục gửi người ra ngoại quốc? Gửi “cái trứng” ra ngoài, cái trứng đó được người Việt ở hải ngoại chăm sóc; hay nói cho đúng hơn là “cái trứng” đó được xã hội các nước khác nuôi nấng bảo bọc; với việc gửi trứng đó, CSVN có thiệt thòi gì? Khi trứng phát triển, trưởng thành bắt đầu làm việc, để cung phụng lại nơi được coi là nguồn gốc, nơi đã gửi chúng ra ngoại quốc, đó là điều Hà Nội không trông mong gì khác hơn.

Chưa kể, khi nhà cầm quyền CSVN trước bờ vực sụp đổ vì kinh tế kiệt quệ, phải chọn con đường “mở cửa kinh tế” để vừa cứu vãn chế độ, vừa thu hút được lòng hám lợi của tư bản ngoại quốc và đặc biệt, không ít bọn “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”, bọn chỉ vì đồng tiền sẵn sàng quay lưng 180 độ, phủ nhận ngay chính những gì chúng từng mạnh miệng khi vừa định cư để trở về ôm chân những Lãnh tụ CS, những kẻ mà mới hôm trước chúng còn đả đảo! Người Việt tỵ nạn ở Úc trong hai thập niên qua đã lần lượt chứng kiến tận mắt, nghe tận tai những vụ “trở cờ, đón gió”ấy. Và đáng buồn thay, những khuôn mặt phản bội ấy đa số là những kẻ từng cũng có thời là quân nhân, là công chức VNCH, từng cũng có thời là Chủ tịch Cộng đồng, Chủ tịch Cựu quân nhân… Vậy mà lần lượt “cóc chết ba năm quay đầu…” hết lời ca tụng “đất nước đổi mới, đời sống kinh tế phát triển” , liếm sạch những thứ mà chúng trước đó đã nhổ!

***

Cũng vẫn chuyện “Tu hú đẻ nhờ để rồi chiếm cả tổ Sáo sậu” trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc càng lúc càng có nhiều điều xác nhận rằng: “Công sức xây dựng cộng đồng đến mức phát triển như ngày nay” đang dần dà có nguy cơ về tay CS. Bao năm nay chúng ta nói nhiều đến chuyện CSVN ra sức xâm nhập vào cộng đồng về mọi mặt. Nếu chịu khó nhìn kỹ một chút thì không khó gì để không thấy. Trong mọi lĩnh vực, từ truyền thông, văn hóa đến xã hội, giáo dục; sau gần 40 năm định cư cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Úc đã xây dựng được rất nhiều cơ sở và dần dà phát triển càng ngày càng lớn mạnh. Thế nhưng có bao giờ chúng ta băn khoăn rằng “những cơ sở ấy tương lai sẽ do ai quản trị, ai điều hành và đường lối hoạt động có còn giữ nguyên vẹn như ban đầu là phục vụ, đáp ứng nhu cầu của người Việt tỵ nạn và tiếp tục công cuộc tranh đấu cho một nước Việt Nam thật sự dân chủ, tự do, cho người dân được hưởng mọi quyền làm người?

Những cơ quan truyền thông Việt ngữ – cả của tư nhân lẫn của chính phủ lập ra để phục vụ cộng đồng Việt tỵ nạn- đã có bao nhiêu bộ mặt mới? Bao nhiêu gia đình chỉ vì thích nghe tiếng Việt, đã mở cửa cho các chương trình truyền hình của nhà nước CSVN tiếp vận qua vệ tinh xâm nhập vào nhà 24 trên 24 giờ mỗi ngày? Bao nhiêu lớp học Việt ngữ dạy cho trẻ con tại Úc bằng giáo trình do Bộ Giáo dục CSVN soạn thảo? Những đoàn thể xã hội đã có thêm bao nhiêu thành viên mới, không ít người là những kẻ đến Úc theo diện di dân –đoàn tụ gia đình hay doanh nhân, và trong số đó bao kẻ là cán bộ, viên chức nhà nước CSVN tìm đủ mọi cách tẩu tán tài sản làm ăn bất chính? Biết bao nhiêu tu sĩ “quốc doanh” chễm chệ trong các cơ sở tôn giáo mà người tỵ nạn đã chắt bóp công sức bao năm xây dựng? Bao nhiêu kẻ -đã và sẽ- là người hưởng thụ những dịch vụ chăm sóc phụ nữ, người già –do chính phủ tài trợ, giúp đỡ cho các Hội đoàn đoàn thể trong cộng đồng lập ra, với sự đóng góp của biết bao nhiêu người hằng tâm hằng sản vô danh? Như thế nếu không gọi là “Tu hú xâm lăng chiếm tổ Sáo sậu” thì gọi là gì?

Nhưng quan trọng hơn, có ai nghĩ đến thế hệ tương lai con cháu chúng ta lớn lên chúng lâm cảnh “trông gà hoá cuốc”, kẻ thật tưởng người gian… và ngược lại, trông kẻ gian mà cứ ngỡ là người ngay thẳng để rồi như “Cô bé quàng khăn đỏ” bị chó sói ăn thịt mà vẫn cứ tưởng là mình được người bà kính mến yêu thương? Đến khi đó thì cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác đã sang trang. Và khi đó thì thế hệ thứ nhất này chắc chắn không thể nào ngậm cười nơi chín suối được.

(Nguồn: Báo Việt Luận Úc châu)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Coi Chừng Tu Hú_Báo Việt Luận (Úc)

Hoàng Hôn_Thơ. Tâm Hoàn HĐB

HoangHon Tho HDB

Thơ Tâm Hoàn (Hồ Đắc Biên):

                Chị đến mặt trời mới lặn

                Ráng chiều tím chỗ chị ngồi

                Hàng cây bên nhà soi bóng

                Con mắt chị có hoàng hôn

                Chớp bể mưa nguồn mấy độ

                Lạc xuống tận bờ sông Kiến

                Bốn giờ sáng dậy thổi cơm

                Chị đẹp như tranh mỗi bữa

                Cho em thơm mãi đến giờ

                              Tâm Hoàn

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hoàng Hôn_Thơ. Tâm Hoàn HĐB

TÌM NGƯỜI THÂN

TÌM BẠN  CSQG./VNCH:

       Như đã một lần loan tin trước đây, chiến hữu Phùng Sáu Sửu  K5/HVCSQG rất mong mỏi đươc biết tin chiến hữu ĐẶNG VĂN ĐỆ, tốt nghiêp K1 /HVCSQG, nhiệm sở phục vụ sau cùng là Ủy Ban Phụng Hoàng Trung Ương, BTL/CSQG Saigon.

      Tại Hoa Kỳ, những năm gần đây, được biết K1 Đặng văn Đệ đã từng sinh sống tại thành phố Tampa Bay, Florida, sau đó không còn liên lạc được nữa.

      Xin kính chuyển tin nhắn này đến quý Niên trưởng, quý Anh Chị chiến hữu, bằng hữu, đồng môn (đặc biệt quý AC K1) nếu có thông tin nào về K1 Đặng văn Đệ xin quý vị thông báo về:

       – K5 Phùng Sáu Sửu   Ph: (626) -371-5295

         Email: smai88vn@yahoo.com

         Xin chân thành cám ơn.

         (Võ Như Lăng)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÌM NGƯỜI THÂN

Cô Gái Bán Don_Hạo Nhiên Ng.Tấn Ích

Cô Gái Bán Don_Hạo Nhiên Ng. Tấn Ích

Đến định cư tại miền Bắc California Hoa Kỳ hơn nửa năm, bỗng một hôm, tôi nhận được cú điện thoại của Thung từ Texas gọi qua. Thung là bạn học, cũng là chiến hữu của tôi ngày xưa. Hắn đề nghị gởi vé máy bay mời tôi qua Houston chơi. Nhân tiện thăm viếng khu vực dễ làm ăn và giá nhà cửa cũng dễ thở hơn nhiều so với San Jose. Tôi đồng ý. Một tuần lễ sau, một vé máy bay và một cái check 300 Mỹ kim trong bì thư gởi đến. Đây là một món quà khá hậu hỉ ở đất lạ quê người. Ba ngày sau, tôi lên máy bay của hãng Continental Airlines đi Texas. Bay suốt bốn tiếng đồng hồ, chiếc Boeing mới hạ cánh xuống phi trường Houston. Thung đón tôi tại lối ra của khu hành khách. Lần gặp nhau cuối cùng ở quê nhà vào năm 1973, tại Đại Học CTCT Đà Lạt. Ngày ấy, trông hắn rắn rỏi, khuôn mặt sạm nắng mà hôm nay, sau mười sáu năm định cư tại Mỹ, hắn hoàn toàn lột xác. Nước da trắng hồng đỏ au, cái bụng căng tròn, dáng người bệ vệ trông “rất ông chủ”. Mà chủ thực. Thung làm chủ cái chợ bán đồ biển. Vợ và con quản lý còn Thung lo chạy vòng ngoài.

Ngày hôm sau Thung đưa tôi đến thăm cơ sở làm ăn của gia đình. Nào phòng mạch nha sĩ của đứa con trai đầu lòng, phòng dịch vụ về bảo hiểm của đứa con gái. Sau đó Thung mời tôi đi ăn trưa.

Nhà hàng có tên Cổ Lũy Restaurant tọa lạc tại khu sầm uất nhất của người Việt và Hoa tại thành phố Houston. Vào giờ xế trưa, nhà hàng vắng khách nên chúng tôi chọn chiếc bàn đặt gần quầy thu tiền. Người bồi bàn trao cho chúng tôi bản thực đơn. Cái tên Cổ Lũy nghe quen thân quá. Tôi nghĩ, có lẽ chủ nhà hàng là người Quảng Ngãi. Bởi Cổ Lũy là tên một cửa biển từ hai dòng sông Trà Khúc và Sông Vệ nhập vào. Nơi đây thuyền bè tấp nập ra vào bến tàu Phú Thọ. Trong tờ thực đơn có món “Hến xúc bánh tráng”. Nhìn thấy hến mình lại nhớ đến món don. Chẳng cần xem tiếp tờ thực đơn, tôi gọi ngay một tô don. Cô bồi bàn giọng miền Nam nhìn tôi ngạc nhiên hỏi:

– Don là món gì vậy, nghe lạ quá hỡ ông? Thực đơn nhà hàng này không có món đó.

– Cái món “Hến xúc bánh tráng” trong thực đơn có ghi, tại sao lại không có món don ?

Tôi vừa cự nự (kiểu Quảng Ngãi hay co) vừa chỉ cho cô chạy bàn cái món ruột hến, rồi tiếp:

– Nếu không có don thì cho tôi cái món số 15 này.

Cô gái bồi bàn đi vào bếp. Ngay sau đó, một phụ nữ đứng tuổi ăn mặc sang trọng từ quầy thu tiền đi thẳng đến bàn chúng tôi. Bà có mái tóc ngắn làm nổi bật khuôn mặt trái soan đầy đặn với làn da trắng mịn. Thung khều chân tôi nói nhỏ : “Bà chủ”

– Chào hai anh. Người đàn bà nở nụ cười thân thiện.

– Chào bà chủ, Thung đáp lễ.

– Vị nào thích món don ? bà chủ tươi cười hỏi.

– Thưa bà, tôi ạ.

– Xin lỗi, anh người quê Quảng Ngãi ?

– Tại sao bà biết ?

– Tôi chỉ đoán thôi, bởi vì chỉ có dân sống tại Quảng Ngãi mới thấy thích thú món don. Thế bà cũng là người Quảng Ngãi, đúng không?

– Anh nghĩ sao mà đoán ra thế?

– Chỉ nhìn cái tên hiệu Cổ Lũy của nhà hàng là biết ngay.

– Nầy ông anh, trước kia ở Quảng Ngãi, anh sống ở huyện nào vậy?

– Tôi ở thị xã, trên đường Quang Trung.
Người đàn bà nhìn tôi một chặp lâu rồi quay vào bên trong nhà hàng. Lát sau, món ăn được bưng ra. Một tô bún chả cá cho Thung và một dĩa ruột hến xúc bánh tráng cho tôi. Lâu lắm rồi tôi mới nghe lại mùi hến. Hến ở quê nhà ruột nhỏ, dai và thơm. Còn hến đóng hộp nhập cảng con lớn, mềm lại mất hết mùi vị. Ngày xưa, mỗi lần đi Huế, tôi nhất định phải ăn cho được một lần cơm hến. Đi đâu xa trở về Quảng Ngãi, tôi không thể nào quên ăn một bữa don cho đã cơn ghiền.

Cô bồi bàn bưng hai ly nước cam vắt đến bàn chúng tôi nói của bà chủ mời, có kèm theo một tấm danh thiếp trao cho tôi. Mặt sau danh thiếp là chữ viết của bà chủ nhà hàng mời riêng tôi đến nhà vào chiều Thứ Bảy. Đặc biệt, bà khoản đãi món don do bà nấu. Phần dưới là số phone và địa chỉ nhà riêng. Trên đường về, tôi hỏi Thung:

– Cậu nghĩ sao cái trường hợp lạ lùng này ?

– Ở quê người, nhớ cố hương, gặp người Việt đã mừng rồi huống chi lại là đồng hương Quảng Ngãi. Bà ấy mời cậu đến nhà có lẽ để hỏi thăm tin tức bà con ở quê nhà. Cứ nhìn dáng dấp bà ấy với cái cơ ngơi nầy là cậu hiểu ngay bà ta là dân trụ ở đây khá lâu. Biết đâu cơ may đem đến cho cậu công ăn việc làm ở thành phố này. Bạn tôi suy luận như thế. Riêng tôi, vì lạ đất lạ người nên có phần bồn chồn, áy náy.


Hến xúc bánh tráng

Hương vị của món hến xúc bánh tráng làm tôi nhớ đến kỷ niệm ngày mới lớn nơi quê nhà. Tôi từ trên quê xuống tỉnh học, ở trọ nhà người chị thứ Tư trên đường Quang Trung Thị xã Quảng Ngãi. Anh chị dành cho tôi căn phòng trên căn gác lửng. Có ban-công nhô ra làm mái hiên cho tầng dưới. Thông thường mỗi sáng, tôi thức dậy học bài rất sớm. Đường phố vẫn còn sương mù vướng mắc đó đây. Hàng cây bên đường trĩu nặng những hạt sương khuya, dấu kín bóng đêm trong vòm lá sum sê. Khi chân trời vừa rựng đỏ khuất sau hàng tre hướng Đông, là tiếng rao hàng ăn buổi sáng bắt đầu râm ran trước đường nhựa. Nào xôi, bánh bột lọc, cháo gà, bánh canh, bánh mì… đủ các loại hàng ăn vặt, và cũng đủ các loại âm thanh. Tiếng trầm, tiếng bổng, tiếng hơi khàn, giọng Huế, giọng Bắc, giọng Nam… Duy có tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..o.. ông” là khiến tôi để ý. Tiếng “ho..o..o..ông” sau cùng kéo dài không đủ hơi chứng tỏ người rao hàng không phải giọng của người đứng tuổi. Tiếng rao nghe lánh lót như chim non mới tập hót, âm điệu ngây thơ rời rạc. Tôi ngồi học mà vẫn để ý đến tiếng rao bán don vang lên trước nhà. Tiếng rao như bị sương lạnh buổi sáng sớm làm đông lại không thoát ra được, nó nhỏ dần, nhỏ dần rồi hút mất ngoài xa.

Một hôm, tôi đang đứng tập mấy động tác hít thở trên ban-công, chợt tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” quen thuộc vang lên phía dưới đường. Tôi vạch bức mành nhìn xuống thấy một người con gái mặc chiếc áo bà ba trắng thân hình mỏng mảnh với gánh don trên vai.

“Ê don”, tôi gọi cô nàng đứng lại rồi vộï vàng xuống thang gác.

Gánh don đã được đặt trước hiên nhà, nàng đứng đó chờ tôi mở cửa.

– Anh ăn don? Nàng hỏi khi tôi nhẹ nhàng lách mình qua cánh cửa sắt. Là một cô bé ước chừng mười mười bốn, mười lăm. Mái tóc vừa chấm vai che một bên khuôn mặt trái soan còn măng tơ. Tôi nhìn vào ngực cô bé, đôi nhũ hoa hồng hồng như hai núm quả cau nhú bên trong làn vải mỏng không áo lót, khiến cô bé cúi mặt thẹn thùng. Bạn học của tôi, những cô nữ sinh cùng cỡ tuổi đã bắt đầu chưng diện se sua, áo ngoài áo trong, phần trên phần dưới đủ cả, không khác chi người lớn. Còn cô bé, với chiếc quần đen, áo bà ba trắng mộc mạc nổi bật nét đẹp của người con gái chân quê.

– Anh ăn don?

Cô bé nhắc lại lần nữa, tôi sực tỉnh trả lời :

– Không ăn don, kêu cô lại làm gì?

Cô bé chợt hiểu nở miệng cười chữa thẹn khoe hàm răng trắng đều như những hạt bắp nếp. Nụ cười hồn nhiên khiến người đối diện cũng thấy lòng dạt dào, xao xuyến. Cô bé hai tay thoăn thoắt múc don. Mùi don thơm nồng pha chút hương biển từ ui don bay lên ngào ngạt. Cô bé trao cho tôi tô don còn bốc hơi cùng với chiếc bánh tráng nướng và hai trái ớt xiêm tươi xanh. Ăn don đâu cần phải bàn ghế. Tôi đặt bát don xuống nền xi măng, bẻ bánh tráng bỏ vào tô giằm luôn hai trái ớt. Nước don ngọt và béo. Cái ngọt độc đáo không phải vị ngọt của thịt, cá mà vị ngọt rất đậm đà hương vị quê hương. Lại thêm vị nồng cay của ớt, mùi thơm của bánh tráng nướng nó quyện vào lưỡi, ngấm vào chân răng, kích thích tận cùng tế bào vị giác. Nước don nuốt tới đâu ấm tới đó. Trời lạnh mà ta ăn don vào buổi sáng thì mới thưởng thức được hết cái thú ăn don ở quê nhà. Miếng don cuối cùng để lại trong miệng, trong cổ của ta vị ngọt ngọt, cay cay, nồng nồng, béo béo quyến rũ lạ kỳ. Nó khiến người ăn don không muốn dừng ở tô thứ nhất.

Tôi ăn ngon lành. Miệng hít hà vì ớt cay. Cái lưỡi tê tê mùi cay nồng của loại ớt xiêm vô cùng hấp dẫn làm cho nước mắt nước mũi tuôn ra. Nhìn cách ăn rất thật tình của tôi, cô bé cứ che miệng cười. Một tô, hai tô rồi ba tô. Cô bé trợn trừng đôi mắt, đôi mắt bồ câu đen lay láy. Cô kêu lên :

– Coi chừng bể bụng đó, anh Hai !

Ô, lần đầu tiên tôi được một người con gái gọi bằng anh. Anh Hai. Mười sáu tuổi, học lớp đệ Tứ rồi đấy nhé. Thế mà cha mẹ, anh chị cứ gọi tôi là Út Đẹt. Mẹ tôi thường nhắc chuyện hồi tôi còn nhỏ. Đã bốn, năm tuổi rồi mà vẫn còn bú và ăn cháo. Các bà chị tôi chế nhạo hoài mỗi lần tôi ôm vú mẹ. Chị Hai tôi hay trách mẹ tôi nhiều nhất :

– Mẹ ơi, mẹ cưng chiều nó quá làm sao nó thành người lớn. Mẹ tôi cười, nhỏ nhẹ bảo :

– Các chị lớn cả rồi còn em nó út ít mà”. Chị tôi bực mình bảo:

– Chừng đó tuổi mà chưa chịu dứt sữa. Chẳng lẽ đến khi đi học, mẹ phải mang vú đến trường cho Út sao?

Chị Hai nói xong bỏ đi. Mẹ vò đầu tôi, tóc còn ướt nhẹp mồ hôi, âu yếm :

– Giàu út ăn, khó út chịu, Mẹ có sữa con nhờ.

Cái hòn đá bàn dưới bến sông, nơi để giặt áo quần là chỗ ngủ của tôi trong những buổi trưa hè. Nền nhà lót gạch trước bàn thờ là giường ngủ của tôi trong những đêm nóng bức. Các chị tôi thường hay đùa cợt:

– Thằng Út cứ ăn chay nằm đất kiểu nầy, lớn lên nó trở thành thầy chùa là cái chắc.
học sinh

Tôi là đứa con thứ bảy trong gia đình. Những tá điền, người làm cho cha mẹ tôi đều gọi tôi là cậu Bảy Út. Thế mà bác Tám Đang ở xóm dưới dám đặt cho tôi biệt danh “Bảy Thưa” chỉ vì mấy cái răng cửa của tôi mọc hơi sưa một chút. Cái thân hình của tôi hồi đó mỏng như thân con nhái bén. Da dẻ sần sùi khô khốc bởi suốt ngày cứ để lưng trần chạy ngoài nắng. Mỗi lần bạn bè rủ tôi đá banh trên ruộng lúa mới cắt, chúng nó cứ la oang oang cái tên “Bảy Thưa” nghe chẳng đẹp tý nào ấy:

– Ê, Bảy Thưa đưa banh qua cho tao. Nào, Bảy Thưa banh đây sút vào…

Tức lắm, tôi bèn ra một điều kiện:

– Nếu bọn bay còn gọi cái tên “Bảy Thưa” nữa là tao bỏ chơi. Nhóm thằng Thới xóm Thọ Đông đang chiêu dụ tao đó. Liệu hồn!…

– Nầy cô bé, sao không múc tiếp một tô nữa?

– Anh à, em chưa hề thấy người nào ăn đến ba tô don mà còn kêu thêm nữa, ăn no quá mất ngon, thôi để ngày mai nghe anh,

Tiếng “nghe anh” của cô bé sao mà êm đềm quá, ngọt ngào quá. Bỗng nhiên tim tôi đập rộn ràng. Tôi muốn hỏi tên cô bé nhưng cứ ngại ngùng, đành phải móc tiền ra trả. Cô bé đi rồi, tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông” đã văng vẳng ngoài xa mà tôi vẫn còn đứng nhìn theo thẫn thờ. Sáng hôm sau, cô bé cất tiếng rao hàng rồi đặt gánh don trước hiên nhà chờ đợi. Tôi lại vội vàng mở cửa :

– Nầy, đằng ấy tên gì vậy ?

– Em tên Thuyền

Cô bé trả rồi dạn dĩ nhìn tôi hỏi:

-Thế còn tên anh ?”

– Hạo. Hạo, cái tên lạ quá ! Cô bé nhắc lại tên tôi rồi cười bẽn lẽn. Đôi tay Thuyền múc don lẹ làng, vén khéo không hề rơi rớt. Tôi để ý lần này, cô bé đem theo một cái tô cỡ lớn hơn, khác hẳn với những cái tô khác chồng trên miệng ui. Cô tự ý bẻ bánh tráng cho vào tô trước khi đổ don vào. Vừa làm cô bé vừa giải thích :

– Làm thế nầy don còn giữ được độ nóng, và hương don không bị loãng.

Cô bé trao tô don cho tôi, vô tình tôi đặt bàn tay chạm phải tay nàng. Bé cúi mặt thẹn thùng khiến hai tai nàng rựng đỏ, Thuyền bảo :

– Mỗi sáng anh ăn hai tô nầy là đủ rồi.

Từ đó, sáng nào tôi cũng ăn don của cô bé Thuyền. Thỉnh thoảng chị tôi mua ốc don tươi về nấu. Thông thường chị thêm vào nồi don cả thịt bằm, tóp mỡ, nhưng tôi ăn một cách lơ đãng chẳng thấy hấp dẫn tý nào. Chị tôi chế giễu :

– Thằng Út nó đâu có mê don, chỉ mê con nhỏ bán don.

Có lần tôi cố tình giữ bàn tay Thuyền bên dưới tô don, cô bé cứ để nguyên nhìn tôi với ánh mắt long lanh tình tứ.

Chặp lâu sau, nàng rút tay về hối thúc:

– Người ta thấy kìa, ăn đi kẻo nguội.

Thế là suốt mùa don, cô bé Thuyền ít có buổi sáng nào vắng mặt. Ăn hoài tôi đâm ghiền. Ngày nào Thuyền không đến là suốt ngày đó tôi thấy trống vắng lạ thường. Tôi nhớ hương vị của don, tôi nhớ khuôn mặt của Thuyền. Suốt ba tháng hè tôi không về quê lấy cớ học bài thi. Có lẽ nhờ ăn don mà thân thể tôi đẫy đà. Da dẻ tôi thêm hồng hào trắng mịn. Bà chị tôi phát giác sự “thay da đổi thịt” của thằng em út. Chị chế nhạo: “Nghèo nghèo, nợ nợ kiếm cô vợ bán don. Mai sau có chết cũng còn cặp ui”.

Năm đó tôi đậu bằng Trung Hoc Đệ Nhất Cấp, cha mẹ tôi cho tôi theo người anh họ vào Sài Gòn tiếp tục học. Tôi từ biệt Quảng Ngãi mà nghe lòng mình buồn tê tái. Tôi ra đi lúc trời chớm Thu, những cơn mưa đầu mùa đã làm cho nước sông dâng cao. Tôi còn nhớ lời Thuyền dặn: “Khi nào nước sông dâng cao thì don không còn nữa. Chừng ấy em sẽ không còn dịp gặp anh, chỉ còn biết hẹn anh vào mùa don tới đầu tháng Hai âm lịch”.

Biết như thế nhưng sáng nào tôi cũng trông tiếng rao của Thuyền. Tôi mong gặp nàng để nói lời từ biệt. Giờ phút chót ngồi trên xe đò mà tôi vẫn dõi mắt đợi chờ, hy vọng Thuyền xuất hiện. Khi xe chuyển bánh, mẹ và chị tôi mắt rưng rưng lệ nắm tay tôi từ giã. Tôi không cầm được xúc động đã òa khóc. Lần đầu tiên tôi xa mẹ xa chị, xa gia đình cách gần ngàn cây số. Tôi cảm thấy nỗi cô đơn như đè nặng lên lồng ngực mình. Tôi thương mẹ, thương chị. Nhưng tình của tôi đối với Thuyền vừa nồng nàn vừa xót xa. Tôi xót thương vì cuộc sống của nàng quá lam lũ. Tuổi vừa lên ba, cha Thuyền đã tử nạn theo tàu đánh cá ngoài khơi khi bị cơn bão bất ngờ ập tới. Mồ côi cha, mẹ ở vậy nuôi Thuyền ăn học hết bậc Tiểu học. Mới chừng ấy tuổi mà phải từ giã ghế nhà trường, lăn lộn vào trường đời. Mẹ nấu don, Thuyền gánh bán dạo hàng ngày đi về trên mười cây số.

* * *

Những đêm đầu tiên ở Sài Gòn, tôi nhớ day dứt nụ cười rạng rỡ của Thuyền. Nhớ đôi bàn tay nhỏ nhắn của nàng run run trong bàn tay tôi. Nhớ đến hương vị thơm lừng của tô don với chất béo của ruột don trộn mùi cay nồng của ớt, mùi bánh tráng nướng, mùi hành lá tươi. Nó tổng hợp thành hương vị không có món ăn nào so sánh được. Don Quảng Ngãi chiếm lĩnh cương vị độc tôn đối với người dân Quảng Ngãi bởi nó là món ăn quê hương. Và đối với riêng tôi có pha cả mùi hương con gái của Thuyền.
Xa nơi chôn nhau cắt rún lần đầu, tôi nhớ nhất là những chuyến đi chơi với bạn bè trên núi Thiên Ấn. Sau một hồi leo giốc mệt bở hơi tai, khát nước khô cả cổ chỉ cần uống mấy ngụm nước giếng của nhà chùa là cơn mệt cùng mồ hôi tan đi hết. Có người bảo đó là nước của Tiên Phật độ trì. Một truyền thuyết kể rằng có một vị sư đến đào giếng này suốt cả năm trời, khi giếng có nước thì vị sư ấy biến mất. Ngôi chùa Thiên Ấn tọa lạc trên đỉnh núi có mặt bằng vuông vức, cao hơn mặt nước biển trên trăm mét, nhưng nước giếng trong và ngọt cung cấp cho chùa không bao giờ cạn. Quả là điều rất hiếm. Đây là “Đệ nhất thắng cảnh” của quê nhà có tên là “Thiên Ấn Niêm Hà” do quan Tuần Vũ Nguyễn Cư Trinh đặt tên trong mười hai bài thơ Đường Luật. Mỗi bài ca ngợi một thắng cảnh của tỉnh Quảng Ngãi. Đứng trên đỉnh núi nhìn bao quát ta thấy dòng sông Trà Khúc óng ánh bạc uốn mình theo những lũy tre xanh đến tận cùng cửa Cổ Lũy trước khi nhập vào biển Đông. Nơi đây ta có thể thưởng ngoạn thêm “Đệ nhị Thắng cảnh” của quê hương, đó là “Cổ Lũy Cô Thôn” nằm im lìm nơi cửa biển, nước bủa mênh mông. Nhìn chệch qua bên trái là mũi Ba-Tâng-Gâng phơi mình với sóng bão đại dương. Để hồn trải rộng đến cuối chân trời, ta có cảm tưởng như người được thoát tục về nơi tiên cảnh. Kẻ nào có tham vọng, mang ý đồ đen tối mà đối diện với cảnh sắc nầy, trong thoáng chốc cũng tạm thời quên đi.

Vào những ngày sắp nghỉ Hè, tôi nhận được thư của chị tôi : “…Đầu mùa don năm nầy, con bé bán don trở lại. Sáng nào nó cũng đặt gánh don trước cửa nhà chị. Lâu lâu nó rao lên “Ai ăn don hông” rồi đứng đó đợi chờ. Người ta không biết nó đợi chờ ai, nhưng chị, thì chị đoán biết. Thời gian kéo dài cả tháng trời, chị thấy tội nghiệp nên thỉnh thoảng kêu don của nó cho cả nhà ăn buổi sáng. Đôi mắt nó thật buồn, cứ lén nhìn sâu vào trong nhà mà không dám hỏi. Một hôm, cầm lòng không được, chị cho nó biết là em vào Sài Gòn học đã gần một năm. Sau đó chị không còn thấy con bé bán don trên con đường nầy nữa…”

Đêm đó tôi nằm mơ nghe thấy tiếng rao: “Ai ăn don ho..o..ông” như tiếng chim cuốc lẻ đôi khắc khoải gào khan suốt mùa Hè thương nhớ rồi cuối cùng chết khô theo con trống, chung tình. Thuyền ơi, hãy tha thứ cho tôi. Những rạo rực tình yêu đầu đời đã làm cho con tim em phải se thắt vì phân ly.

Rồi thời gian trôi qua, ba năm miệt mài đèn sách đã giúp tôi quên hình ảnh cô gái bán don ngày nào. Sau khi lấy xong bằng Tú Tài toàn phần, tôi về thăm Quảng Ngãi. Vào buổị sáng, tôi dậy sớm cùng chị tôi chuẩn bị về quê thăm cha mẹ. Đang xếp áo quần vào va-li chợt tôi nghe tiếng rao “Ai ăn don ho..o..ông”. Tôi vội vàng chạy ra ban-công gọi :

– Ê ! Cô bán don.

Tôi nhanh chân xuống thang gác mở cửa. Cô bán don đứng đợi dưới mái hiên nhà. Thoáng nhìn, tôi tưởng một thiếu phụ nào khác không phải Thuyền. Nhưng không, làm sao tôi nhầm lẫn được. Âm thanh tiếng rao của Thuyền như mọc rễ trong ký ức của tôi. Cũng thân hình mảnh khảnh đó nhưng cao hơn và già dặn hơn. Chính là Thuyền của ba năm về trước.Tôi hỏi:

Thuyền phải không? Nàng nhìn tôi đăm đăm, rồi những giọt nước mắt lăn tròn trên má. Tôi thấy loáng thoáng trên ngực áo nàng vết ố của những giọt sữa đã khô. Đứng sát vào Thuyền, tôi đặt tay lên vai nàng bảo:

– Em để gánh xuống đây, múc don cho anh ăn nhé.

– Không. Don em đã cuối mùa, gặp luồng nước bạc (nước lụt), em không bán cho anh đâu.

Nói xong, nàng đưa tay áo quệt nước mắt, trở gánh quay lại con đường cũ. Tôi đứng nhìn theo nàng mà nghe hồn trĩu nặng. Tôi cố lắng nghe tiếng rao “ai ăn don ho..o..ông” lần cuối cùng của Thuyền lẫn lộn với tiếng rao hàng khác nhưng tuyệt nhiên im lặng, chỉ còn sót lại hương don thoảng bay trong gió.

* * *

Chiều Thứ Bảy, Thung bỏ tôi trước căn nhà số 28… trên đường White Forge thành phố Sugarland. Căn nhà lầu ở khu mới xây khá đồ sộ. Vách tường áp gạch màu nâu đỏ trông thật mát mắt. Tôi đứng tần ngần một hồi lâu mới bấm chuông. Người phụ nữ ở quán Cổ Lũy hôm trước mở cửa, gục đầu chào rồi mời tôi vào khu phòng khách trang hoàng lộng lẫy. Bộ sô-pha da màu vàng nhạt choán cả một góc phòng. Chiếc TV cỡ lớn cùng dàn karaoke với hệ thống âm thanh chiếm trọn góc phòng đối diện. Bà chủ rót trà :

– Mời anh dùng nước, nàng trao tôi tách nước rồi tự giới thiệu:

– Tôi tên là Mary, chồng tôi là người Mỹ đưa tôi sang đây từ năm 1972. Xa quê mình lâu quá, nay gặp người đồng hương tôi mừng lắm. Và đặc biệt là dân ở Quảng Ngãi mà lại thích ăn don như anh.

– Bà ở huyện nào ? tôi tò mò hỏi :

– Huyện Tư Nghĩa xã Tư Nguyên.

Bà Mary nhìn tôi định hỏi tiếp điều gì, nhưng bà lại đổi thế ngồi, xoay người sang hướng khác bưng bình trà rót thêm nước vào tách cho tôi. Bà nói :

– Thôi, để lát sau mình nói chuyện tiếp, giờ mời anh dùng món ăn quê nhà kẻo nguội mất.

Tôi theo nàng đến phòng ăn. Mùi don từ trên bếp bốc hơi thơm lừng. Bà chủ nhà bưng hai tô don hơi lên nghi ngút đặt trên bàn có cả bánh tráng nướng, đĩa ớt xiêm và lá hành xắt nhỏ.

Bà tươi cười bảo :

– Đây là don chính hiệu từ Quảng Ngãi đấy nhé. Người ở ngoài tỉnh cứ hiểu lầm don là hến. Thực ra don và hến là hai loại ốc khác nhau. Ốc don dài, vỏ mỏng, ruột don có tua màu hồng thoạt trông như cái đuôi. Nước don ngọt và ít nồng hơn hến vì don chỉ sống nơi vùng sông nước lợ gần cửa biển. Tôi bưng tô don ăn ngon lành, ăn thật tình. Ớt cay, don nóng, tôi hít hà, nước mắt nước mũi chảy ra. Bà chủ nhà đưa tissues cho tôi với ánh mắt đầy xúc động. Một tô rồi hai tô, bà ngồi nhìn tôi ăn và khuyến khích thêm tô nữa nhưng tôi vỗ bụng lắc đầu từ chối. Nàng bảo :

– Anh sợ vỡ bụng đấy à?


Quảng Ngãi

Câu nói của bà chủ khiến tôi sực nhớ đến Thuyền, cô gái bán don thời tôi còn trung học ở Quảng Ngãi. Cô bé đã từ chối bán cho tôi tô thứ tư với câu : “Coi chừng bể bụng”. Tôi ngước nhìn bà Mary, tâm sự:

– Ăn don hôm nay khiến tôi nhớ đến kỷ niệm thời niên thiếu ở quê nhà. Tôi là khách ăn thường xuyên của cô gái bán don tên Thuyền. Tôi thương nàng và tội nghiệp hoàn cảnh cô ấy. Mới mười mấy tuổi đầu đã phải bỏ học thay Mẹ đi bán don dạo. Buổi sáng nào Thuyền cũng gánh don đến trước nhà tôi trọ học và chăm sóc tô don cho tôi như người chị lo cho em. Sau nầy tôi vào Sài Gòn học đã quên bẵng cô bé bán don. Ba năm sau trở về Quảng Ngãi, tôi tình cờ gặp lại nàng cũng với gánh don trên vai, nhưng cô bé đã trở thành thiếu phụ. Thuyền đã từ chối không bán don cho tôi còn bảo… Vừa nói đến đây, chợt bà Mary cướp lời tôi, lên tiếng :

– Em không bán cho anh đâu, don em cuối mùa lại gặp luồng nước bạc!

Bà chủ nhà đã nói lên nguyên văn câu nói của Thuyền ngày xưa, ẩn chứa sự trách móc giận hờn, khiến tôi giật mình sửng sốt. Tôi nhìn vào mắt bà Mary, hình như long lanh ánh nước. Tôi kêu lên:

– Thuyền phải không?

Thuyền ngày xưa không trả lời câu hỏi của tôi chỉ đưa tay áo lau dòng lệ. Mary bây giờ với giọng ngậm ngùi:

– Vâng, em là Thuyền của 37 năm về trước. Em đã nhận ra anh ngay khi anh cho biết chỗ ở trước kia là đường Quang Trung. Đó là con đường dạt dào hạnh phúc trên mỗi bước đi của em hồi đó, mà cũng là con đường mang đầy xót xa thương nhớ ngày anh rời xa. Thuyền đứng dậy đến ôm vai tôi :

– Cảm ơn anh đã cho em một tình cảm trân quý, dù là đối với một cô gái bán don nghèo hèn. Suốt quảng đời đen tối về sau này, tình anh là ngọn đèn thắp sáng cho em trong những đêm mịt mù sương tuyết. Hạo ơi – cái tên nghe lạ quá – ngày đó em đã nói với anh như thế. Nhưng sau nầy mỗi khi gặp những đau khổ chất chồng, chính cái tên Hạo trở nên thân thương sưởi ấm lòng em.

Tôi nắm lấy tay nàng, nói như một triết gia:

– Đời như một dòng sông, chuyển đổi không ngừng. Xưa kia Thuyền là cô gái bán don, ngày nay Mary là chủ một nhà hàng lớn nhất nhì ở đây. Chúc mừng em. Chúc mừng người đồng hương Quảng Ngãi đã nắm bắt được cơ hội vươn lên trên xứ người.

Sau buổi hàn huyên, Thuyền đưa tôi ra tận xe khi bạn tôi đến đón. Lên xe rồi, tôi thấy nàng còn quyến luyến nhìn theo, đưa mấy đầu ngón tay áp vào môi hôn. Tôi hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, chợt nghe hương don còn nồng trong hơi thở.

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

(Bài do Bửu Hồng chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cô Gái Bán Don_Hạo Nhiên Ng.Tấn Ích

Phân Ưu Thân Mẫu K1 Ng. T Vân Hòa

Phan Uu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu Thân Mẫu K1 Ng. T Vân Hòa

Thư của Giám đốc Căn Nhà Nhỏ NCV

Thưa các bạn,
Giám đốc CNN Nguyễn Công Vinh đang có mặt tại VN vừa gởi về 1 lá thư có nội dung kèm theo 3 tấm hình như sau:
 
Ông trời thương cho kẻ phương xa về thăm quê nên chiều chiều có một trận mưa rào để xua đi cái khg khí nóng bức ngày hè. Hai bạn già hẹn gặp nhau uống cà phê Đà Lạt Phố. Mấy tháng trước nghe tin mình bịnh làm cả nhà rất lo âu và khi nghe tin khỏi bịnh thì mấy em mua cho vé máy bay về VN thăm. Gặp Bửu mới biết BH cũng sắp về, rất tiếc khg có duyên gặp nhau. Thằng Bửu bị binh thần kinh toạ thấp nó đi đứng hơi khó khăn thật tội nghiệp. Nghĩ lại thấy mình thật may mắn đối với căn bịnh nầy. Vài tháng nữa BH về mua cho hắn lọ Flex ở Costco đang on sale có $18 . Hai tuần nữa mình về Trung thăm bà cô 98 tuổi bịnh nằm một chỗ sợ khi bà 100 tuổi khg về được.
Thăm các bạn nhé (NCV)
 

Toán Nhữ (XLTV dám đốc CNN) tường trình

Inline image

Inline image

Inline image

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư của Giám đốc Căn Nhà Nhỏ NCV

Những bức tường biên giới_sưu tầm

Những bức tường biên giới

Gần đây chúng ta vẫn nghe những bàn tán, bình luận về đoàn người di dân từ Nam Mỹ muốn vượt biên giới để tràn vào Hoa Kỳ khiến chính phủ muốn xây tường biên giới để ngăn chặn.

Tường biên giới không phải là điều mới lạ, mà đã có từ thời thượng cổ, với Vạn Lý Trường Thành của Trung Hoa được xây từ năm 771 trước Lịch La Mã và của người La Mã xây dọc chiều ngang của Anh Quốc từ thế kỷ thứ nhất.

baomai.blogspot.com

Mời quý vị xem một số bức tường biên giới nổi tiếng trên thế giới để thấy rằng những bức tường biên giới không chỉ được dựng lên  để phân chia lãnh thổ, bảo vệ quốc gia, mà còn được dùng để phân chia cộng đồng tôn giáo.

baomai.blogspot.com

Với số lượng người nhập cư ngày càng tăng, hoạt động khủng bố, buôn bán ma túy, và các cuộc chiến kéo dài đã châm ngòi cho việc xây dựng các hàng rào biên giới tạm thời và vĩnh viễn ở nhiều khu vực trên toàn thế giới. 

Trong số 51 ranh giới kiên cố được xây dựng giữa các quốc gia kể từ khi kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến, khoảng một nửa được xây dựng từ năm 2000 đến 2014. 

Dưới đây là một số ít rào cản nổi tiếng được biết đến trên thế giới.

Vạn Lý Trường Thành – Tàu

baomai.blogspot.comHình chụp một phần của Vạn Lý Trường Thành gần Bắc Kinh. Vạn Lý Trường Thành là tập hợp của các hàng rào kiên cố được xây dựng qua hàng trăm năm để bảo vệ các đế chế khác nhau của Tàu ngăn ngừa sự tấn công của các bộ lạc du mục ở phía bắc.

Tường Ngăn Morocco và Tây Sahara

baomai.blogspot.com

Bức không ảnh chụp ngày 4 tháng 1 năm 2002 cho thấy một phần của một bức tường kiên cố chạy dài 1,700 dặm (2,735.885 km) qua biên giới của Morocco và Tây Sahara.

Bức tường và một bãi mìn rộng được xây dựng trong suốt thập niên 1980 để tách các khu vực phía tây do Morocco kiểm soát khỏi các khu vực ở phía đông do Mặt Trận Polisario kiểm soát. Polisario là một nhóm phiến quân đang cố gắng đẩy Morocco ra khỏi phía tây Sahara.

Rào Cản Giữa Bulgaria và Turkey

baomai.blogspot.comNhân viên đang sửa chữa hàng rào kẽm gai ở khu vực thuộc thành phố Lesovo ngày 21 tháng 2 năm 2017.

Tường Phân Chia Khu Vực ở Đông Jerusalem (Do Thái)

baomai.blogspot.com

Hình chụp ngày 18 tháng 10 năm 2016 cho thấy bức tường ngăn cách giữa Jerusalem (Do Thái) và khu vực của người Ả Rập Palestinian thuộc thành phố Issawiya.

Tường Biên Giới Ấn Độ và Pakistan

baomai.blogspot.com
baomai.blogspot.comHình chụp từ Trạm Không Gian Quốc Tế  (International Space Station) ngày 21 tháng 8 năm 2011 cho thấy bức tường biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan được rọi sáng để dễ kiểm soát, nên có màu cam của ánh đèn.

Tường Biên Giới Giữa Hoa Kỳ và Mễ (Mexico)

baomai.blogspot.com

Hình chụp ngày 14 tháng 3 năm 2009 một phần tường biên giới từ thành phố Yuma, Arizona tới Calexico, California. Đoạn tường này cao 15 feet (4.572 m) được đặt trên những đồi cát, có thể di chuyển được trong trường hợp lâu ngày bị cát phủ lấp.

Hàng Rào Biên Giới Morocco và Melilla

baomai.blogspot.com

Hình chụp ngày 13 tháng 8 năm 2014 cho thấy cảnh sát Spain (Tây Ban Nha) đang canh chừng những di dân Bắc Phi đang ngồi trên hàng rào có ý định vượt qua Tây Ban Nha.

Bức Tường Hadrian ở Anh Quốc 

baomai.blogspot.com
Hình chụp ngày 6 tháng 8 năm 2018 cho thấy di tích của bức tường Hadrian được người La Mã xây vào thế kỷ thứ Nhất dài suốt chiều ngang của nước Anh từ Irish Sea (Biển Ái Nhĩ Lan) đến North Sea (Biển Bắc) để chống lại sự tấn công của dân miền bắc.

Ngăn Chia Giữa Hy Lạp (Greek) và Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey)

baomai.blogspot.com
Hình chụp ngày 7 tháng 3 năm 2017 cho thấy chướng ngại vật được dùng để ngăn chia biên giới giữa thành phố Nicosia, Cyprus thành hai phần phía nam thuộc Hy Lạp và phía bắc thuộc Thổ Nhĩ Kỳ sau một trận chiến nhắn ngủi nhưng tàn khốc năm 1974.

Tường Biên Giới Hoa Kỳ, Mễ (Mexico) 

baomai.blogspot.com

Hình chụp ngày 31 tháng 10 năm 2012 cho thấy một chiếc xe của kẻ đưa người lậu tìm cách vượt qua rào cản ở gần Yuma, tiểu bang Arizona nhưng không thành công.

Rào Cản Giữa Tàu cộng và Bắc Hàn

baomai.blogspot.com
Hàng rào ngăn cản người Bắc Hàn trốn qua Tàu cộng ở thành phố Dandong, đông bắc Tàu. Hình chụp ngày 14 tháng 10 năm 2006.

Tường Biên Giới Giữa Palestine và Do Thái

baomai.blogspot.com
Hình chụp ngày 25 tháng 7 năm 2018 cho thấy một họa sĩ người Ý đang vẽ hình một thiếu nữ tên Ahed Tamimi người Palestinian đang bị giam cầm lên phần tường biên giới thuộc Bethlehem ở West Bank.

Hàng Rào Biên Giới Ấn Độ, Pakistan

baomai.blogspot.com
Hình chụp ngày 2 tháng 8 năm 2012 cho thấy một đồn canh của Ấn Độ ở biên giới Ấn Độ – Pakistan gần Jammu, Ấn Độ. Hai quốc gia này đã có tranh chấp lãnh thổ từ năm 1947 và được xem là khu vực được quân sự hóa mạnh nhất trên thế giới.

Tường Biên Giới Giữa Hungarian và Serbian

baomai.blogspot.com
Một người Serbian đang cố chạy để tránh xe cảnh sát sau khi vượt qua một hàng rào tạm thời ngăn cách hai quốc gia ngày 7 tháng 9 năm 2015.

Bức Tường Bá Linh (Berlin Wall)

baomai.blogspot.comHình chụp ngày 9 tháng 11 năm 1989, sau khi có lời tuyên bố về việc cánh cửa biên giới giữa Đông và Tây Đức sẽ được mở rộng và chính phủ Tây Đức sẵn sàng nhận bất cứ người dân Đông Đức nào muốn tìm tự do ở Tây Đức. Người dân Đông Đức nóng lòng tìm tự do nên chỉ một vài giờ đã đập vỡ một phần của bức tường bằng dụng cụ riêng của họ, và bức tường bị phá xập chỉ vài ngày sau đó.

Hàng Rào Biên Giới Hoa Kỳ, Mễ

baomai.blogspot.com

Cư dân của Naco, Arizona, tham gia cùng cư dân của Naco, Sonora, Mexico, trong một trận đấu bóng chuyền giao hữu trong ngày “Fiesta Binacional – Lễ Hội Của Hai Quốc Gia” tại hàng rào ngăn cách Hoa Kỳ (trái) và Mexico (phải) vào ngày 14 tháng 4 năm 2007.

Bức Tường Phân Chia Cộng Đồng Tôn Giáo

baomai.blogspot.com

Có lẽ đây là bức tường duy nhất được dựng lên vì lý do tôn giáo. Được gọi là “Bức tường hòa bình – Peace Wall” được dựng lên từ năm 1969 để phân chia cộng đồng Thiên Chúa Giáo (Catholic) và Tin Lành (Protestant) ở Belfast, bắc Ireland (Ái Nhĩ Lan). Bức tường được xem là cần thiết để tránh việc đụng độ vũ lực giữa hai cộng động tôn giáo, cho dù đã cùng ký kết Thỏa Thuận Thứ Sáu An Lành (Good Friday Agreement) từ năm 1998.

Hàng Rào Biên Giới Ukraine, Nga

baomai.blogspot.com

Hình chụp ngày 18 tháng 4 năm 2015 tại biên giới Ukraine-Nga gần Hopunchka, khu vực Kharkov, miền đông Ukraine. Hàng rào mỏng manh bằng kẽm gai nhưng lại là tuyến phòng thủ đầu tiên để chống lại cuộc xâm lăng đáng sợ của Nga.

Hàng Rào Biên Giới Zimbabwe – South Africa (Nam Phi)

baomai.blogspot.com

Một người dân Zimbabwean đang cố leo qua hàng rào để vượt qua Nam Phi. Hình chụp ngày 27 tháng 5 năm 2008.

Hàng Rào Biên Giới Nam – Bắc Hàn

baomai.blogspot.com

Một du khách quay phim qua hàng rào được trang trí bằng những dải ruy băng mang thông điệp của du khách để lại mong muốn thống nhất hai miền Triều Tiên tại Imjingak gần biên giới Triều Tiên ở Paju, Hàn Quốc, vào ngày 15 tháng 4 năm 2016.
( Lâm Viên )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những bức tường biên giới_sưu tầm

Tạ Ơn Đời_Thơ (sưu tầm)

Inline image

TẠ ƠN ĐỜI

Tạ ơn đời hôm nay Tôi còn sống
Mắt còn nhìn, còn đọc được Emails
Đời còn vui, đâu đến nỗi cô liêu.
Thêm kiến thức, thêm từ tâm hỷ xả !

Tạ ơn các bạn gần xa
Hằng ngày chia sẻ cùng ta đủ điều.
Emails nhận được bao nhiêu
Là bao tình cảm thương yêu nồng nàn.

Thăm hỏi Bạn, biết rằng người còn đó
Nỗi mừng vui tràn ngập cõi lòng tôi
Cuộc đời này bao sóng gió, nổi trôi
Vui được biết, Bạn bình an vui sống

Đời trần thế ví như là huyễn mộng
Kiếp nhân sinh là sinh tử, tử sinh
Quý nhau chăng chỉ ở một chữ Tình
Tình cha mẹ, tình vợ chồng, bè bạn

Tình cảm ấy ta không treo giá bán
Khi con tim không đơn vị đo lường
Bàn cân nào, cân được chữ Yêu Thương
Thế mới biết Thương Yêu là vô giá!

Cuộc đời dẫu đảo điên, nhiều dối trá
Nếu chúng ta thực sự mến thương nhau
Thì tiếc chi một lời nói, câu chào
Hãy trao gửi, sưởi ấm tình nhân thế

Có hơn không dù biết rằng chậm trễ
Vì con người ai cũng thích yêu thương
Được thương người và cũng được người thương
Hãy bày tỏ yêu thương dù có chậm

Bạn còn đó ! Tôi còn đây ! Mừng lắm !
Vì chúng ta còn cơ hội gặp nhau
Để trao nhau lời nói với câu chào
Đầy thân ái, đầy yêu thương, quý mến

Chuyện dĩ vãng, chuyện tương lai sắp đến
Hãy quên đi, xin nhớ hiện tại thôi
Nếu tâm bình trí lạc! Thế đủ rồi!
Người còn đó ! Tôi còn đây ! Phúc lắm

(Bài ST trên net, không rõ tác giả)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tạ Ơn Đời_Thơ (sưu tầm)

Lịch Ngủ để phục hồi nội tạng cơ thể_St

lich ngu

(copy từ Fb của bạn Nhi Nguyen)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lịch Ngủ để phục hồi nội tạng cơ thể_St

Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông_GS Nguyễn Văn Canh (thuyết trình)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông_GS Nguyễn Văn Canh (thuyết trình)

TRUMP . . . NGU TOÀN DIỆN _ CÓC TÍA

1546707506731

CÓC TÍA : Trump-…NGU TOÀN DIỆN

(Ghi chú của CNN: Để tránh ngộ nhận, tác giả bài này là Cóc Tía do CNN lượm lặt được trên net, nhưng Cóc Tía này không phải là Cóc Tía của Nhóm Đường Cóc K1)

Thấy mọi người cứ tâng bốc lão Trump quá chừng, còn lãnh đạo thiên tài của nhà mình thì dè bỉu, chê bai đủ thứ, tui thấy bực mình. Bực thì tui phải phân tích cho mọi người thấy chớ nhịn quài ko chịu được.

Trước hết, lão Trump ko phải dạng con ông, cháu cha, chắt nội, chít ngoại của thằng tổ tiên là quan triều đình chó nào cả. Nên ko thể liệt vào loại tinh hoa quý xờ tộc, là hồng phúc của dân tộc khi được làm TT.

Thứ hai, lão cũng éo phải gs, ts, thạc sĩ…con mịe gì hết. Cũng chưa qua lớp ný nuận chính trị trung cấp hay cao cấp nào. Triết học Mác Lê chưa chắc đọc quá 5 trang.

Thứ ba, lão chưa từng được đảng đưa vào diện quy hoạch cán bộ nguồn hay cán cuốc cấp chiến lược một lần nào cả nhé.

Thứ tư, lão cũng chưa hề cống hiến cc. gì cho đất nước như đi nghĩa vụ quân sự hay một lần được làm cán bộ cấp xã hoặc cấp quận, huyện. Thậm chí đến chuyện làm tà lọt cho CA phường chuyên đi bắt, tịch thu hàng của mấy người mua gánh bán bưng, lấn chiếm vỉa hè, hoặc đi cưỡng chế nhà dân…như đám dân phòng, DQTV…lão cũng chưa từng tham gia một lần nào. Cho nên chuyện được luân chuyển cán bộ để trau dồi kỹ năng, học hỏi kinh nghiệm lãnh đạo…thì thành tích của lão là con số 0 to tướng.

Thứ năm, tui dám chắc rằng Bằng A, B, C…ngoại ngữ lão cũng không có. Bằng cấp PTTH hoặc ĐH giả lão cũng không dùng. Đoàn, Đảng gì cũng không chịu tham gia.

Thứ 6, Ăn hông dám ăn, uống hông dám uống. Rượu nhấp một giọt sợ say. Thuốc lá rít một hơi sợ sặc. Ma tuý hít một phát sợ nghiện. Không đàn đúm, phe cánh, móc ngoặc với ai…vậy thì rõ ràng lão ko có một chút bản lĩnh của thằng đàn ông. Vậy mà hông hiểu cách gì lão ta lại leo tọt lên được tới chức Tổng Thống Hợp chủng Quốc Huê Kỳ phát một mới ghê chứ? Không chừng lão lại dùng tiền lo lót, hối lộ cũng nên?!

Khi làm được TT Mỹ rồi thì nói năng, phát biểu hùng hồn trước công chúng Thậm chí không soạn nổi một bài diễn văn cho ra hồn rồi cầm ê a đọc giống như ngừ ta.
Đã vậy, khi lên nắm quyền chưa hết nhiệm kỳ đã gây gổ tá lả, làm mấy thằng trùm khủng bố trên TG như Syria, Iran …mặt xanh như đít nhái. Còn mấy thằng độc tài cs phải lao đao lận đận sắp đi ăn mày cả đám như TQ, Bắc Hàn, Cuba, Vê nê….Gieo rắc kẻ thù khắp nơi sướng ích gì hông? Vợ đẹp, con ngoan hông chịu ở nhà mà hưởng. Tuổi cao sức yếu hông chịu nghĩ ngơi giữ sức phẻ…lại đâm đầu vô đi làm chính chị, chính em…để mấy thằng đảng dân chủ với cs chửi rủa suốt ngày. Hỏi như vậy thì có ngon lành gì đâu?

Còn nữa, cái dzụ này mới ngu nhất nè. Làm Tổng thống một đại cường quốc mà ngay cả mấy đồng tiền lương cũng hông dám nhận. Vậy thì có cửa nào dám tham nhũng, tơ hào một đồng nào của dân Mỹ.

Con cái thì không dám đưa sang VN du học. Tiền thì ko dám gửi nhà băng uy tín ở Venezuela. Không dám qua Bắc Hàn mua cái nhà để nghỉ mát…Thế thì làm TT để làm cái gì?

Kết luận: Nói chung, lão Trump là ngu toàn diện ngoại trừ việc lão chỉ giỏi cái chiện làm ăn đàng quàng nên thành tỷ phú đô la khi chưa làm TT.
Mà cái này cũng chưa chắc đâu nha? Biết đâu lão giàu cũng nhờ chạy xe ôm, nuôi lợn, buôn chổi đít, lá đót…hoặc làm đến thối cả mồm cả mũi thì sao nhễ. Vụ này lẽ ra phải thanh tra nè!

Còn khi lão thành TT rồi thì chỉ được mỗi một việc là làm cho nước Mỹ hùng mạnh thiêm. Dân Mỹ bớt thất nghiệp và KT Mỹ có phát triển hơn xưa thôi. Còn ngoài ra hông làm nên cái tích sự gì! Lời thật mất lòng. Tui thấy lão Trump là khùng nặng hết thuốc chữa rầu. Dzẩy á! Đứa nào còn đu càng, đem lão khùng này ra so sánh với lãnh đạo thiên tài của tui, tui lock luôn!
Cóc Tía

Copy từ fb Cóc Tía .

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TRUMP . . . NGU TOÀN DIỆN _ CÓC TÍA

Để Trả Lời Một Câu Hỏi_ST (Vô Danh)

ĐỂ TRẢ LỜI MỘT CÂU HỎI

Có lần mình đã gặp một anh người Bắc, nói năng nho nhả cũng thuộc dạng trí thức, anh đã hỏi mình một câu như vầy: “Em người miền Nam sống ở Saigon từ nhỏ, anh hỏi thật em trả lời đúng sự thật với suy nghĩ của người Saigon nhé. Tại sao cũng là người Bắc, nhưng Bắc 54 di cư vô miền Nam, tới giải phóng là 21 năm. Anh vô miền Nam năm 75 đến giờ là 43 năm gấp đôi dân 54. Thế nhưng tại sao người SàiGòn. Lại coi Bắc 54 là một phần của họ gặp nhau tay bắt mặt mừng như ruột thịt, anh để ý riêng bản thân anh thôi nha. Có thân lắm có vui lắm dân SàiGòn vẫn luôn mang một khoảng cách khi tiếp xúc với anh, nếu họ biết anh đến với Sài Gòn năm 75”. Trời một câu hỏi khó cho thí sinh à nha. Em trả lời thật anh đừng giận em nói. Tách riêng 2 phần chính trị và văn hoá nghệ thuật ra đi ha. Phần chính trị, thật ra khi giải phóng vô em mới có gần 15 tuổi thôi về quan điểm thắng, thua em chưa đủ trình độ nhận xét. Nhưng nếu nói về cuộc sống của thời trước, và thời sau 75 khác nhau nhiều lắm sướng khổ rõ rệt. Má em chỉ là công chức nhỏ của tổng nha kiều lộ, bây giờ mấy anh gọi là cầu đường đó, nhưng hồi nhỏ em rất sướng đi học toàn trường dòng, em không biết ngoài Bắc, anh có không chứ thời đó mà học nội trú là mắc lắm đó, nhà em không giàu, cậu đi lính “ngụy” -lính Quốc Gia-, dì và ông ngoại đều dân Kiều lộ, nhưng sống rất thanh thản, mặc dầu lúc đó chiến tranh tràn lan, khắp nơi. Thời đó người Bắc di cư vô Nam, thường sống từng vùng do chánh phủ chỉ định, rồi từ từ lan ra, người miền Nam học được người Hà Nội nhiều điều : Cần kiệm, lễ giáo, nếp sống thanh lịch quý phái và trí thức. Người miền Bắc vô Nam học được của người Sài Gòn nói riêng và người miền Nam nói chung : Sự giản dị, chân thật, tốt bụng, phóng khoáng. Không câu nệ bắt bẻ, hay khó khăn. Và cả hai miền học được của miền Trung cái chịu thương chịu khó. Cái đùm bọc tình đồng hương. Cả ba miền hoà nhập với nhau, ảnh hưởng nhau lúc nào không hay… Hồi đó em đi học gặp mấy đứa bạn Bắc Kỳ rốn vẫn hay chọc tụi nó là Bắc Kỳ con bỏ vô lon kêu chít chít mà tụi nó cũng không giận, chọc lại em mày Nam Kỳ ga guộng bắt con cá gô bỏ dô gổ kêu gột gột, rồi lại khoác tay nhau chơi bình thường, trẻ con thì như vậy người lớn gặp nhau ba miền chung bàn nhậu là dô đi anh hai mình, là tay bắt mặt mừng. Em nói dài dòng để cho anh hiểu rõ hơn vì sao Bắc 54 trở thành người miền Nam. Chưa kể đến cái tình nha anh. Tình đồng đội khi chiến đấu chung. Ngoài anh chắc gọi đồng chí, trong đây em nói quen tiếng dân Sai Gòn xưa, lúc chiến tranh mà đi lính thì cũng phải đi chung cả ba miền gặp nhau giữa lúc thập tử nhất sinh thân nhau là chuyện bình thường, đó là lính, còn người dân giữa cái tang tác đau thương chạy loạn lạc chết chóc hầu như từ mũi Cà Mau đến sông Bến Hải nơi nào không có. Từ đó người ta thương yêu nhau và không ai nghĩ miền nào là miền nào. Người ta gọi đó là tình đồng bào, tình quân dân cá nước nói theo kiểu miền Nam của em. Đó là nói hơi thiên về chính chị chính em đó nha. Bây giờ bàn hơi sâu văn hoá nghệ thuật thời đó nha. Em nói với anh ngay từ đầu rồi nhé. Lúc đó em chỉ mới 15 tuổi làm sau đủ tư cách phê bình văn học. Em chỉ kể cho anh nghe theo cái hiểu biết nhỏ bé của em thôi. Người miền Bắc 54 vô miền Nam đem theo được gì nhỉ ? Người thì chắc cũng không có của cải gì nhiều rồi, đi giống như đi vượt biên mà có gì ! Sao anh cười ? Em nói thiệt mà, nhưng có một di sản khổng lồ. Mà người miền Bắc 54 đã đem cho miền Nam, đó là văn hoá, nghệ thuật. Nếu xét kỹ nhà văn thời đó của người Nam bộ vẫn ít hơn người Trung và Bắc. Những tác phẩm giá trị, từ dịch thuật đến thơ văn hầu như tác giả người Hà Nội, người Huế, Đà Nẵng, Saigon, v.v. toàn những tác phẩm để đời… Em xin lỗi giải phóng 42 năm rồi, nhưng nếu ai có hỏi em đã đọc được cuốn sách nào để lại ấn tượng trong em chưa… Xin chào thua giận em, em chịu, vì có đọc đâu mà nhớ. Chả có gì cho em ấn tượng, chắc một phần do em dốt anh ạ nên không hiểu nổi văn học thời này thôi. Nói đến nghệ thuật. Cái này thì em thích ca thích hát nên hơi rành một chút. Chắc anh không ít thì nhiều cũng phải có nghe Khánh Ly, hay Sĩ Phú, Duy Trác, Tuấn Ngọc… những người con Hà Nội, hát trước 75. Nói về văn học có thể anh không biết chứ hát hò anh phải biết sơ thôi. Vâng, Hà Nội 36 phố phường để lại cho người miền Nam nhiều ca khúc để đời của Phạm Duy, chắc anh không biết bài Việt Nam, Việt Nam, bài Tình ca, Con đường cái quan của bác ấy ? Em nói nhiều về Phạm Duy vì đúng là dân Hà Nội 45 đó anh. Oh, anh biết nhiều về Phạm Duy, như vậy chắc anh cũng biết rõ những nghệ sĩ nổi tiếng trước 75, đến bây giờ vẫn ăn khách, những người ca sĩ mà anh biết không, cái thời ngăn sông cấm chợ, muốn được nghe phải thức canh đài BBC hay đài VOA vừa nghe vừa khóc vì quá xúc động. Đó là lý do tại sao ca sĩ hải ngoại khi về nước người ta đi đón rân trời, một cái vé có khi nửa tháng lương người ta vẫn cắn răng để nghe cho bằng được thần tượng của mình hát. Đó là ca sĩ Hà Nội còn trong Nam hay ngoài Huế cũng rất nhiều ca sĩ nổi tiếng kiểu Chế Linh, Nhật Trường, Duy Khánh v.v. Em xin lỗi anh nhé. Có thể ca sĩ ngày xưa người ta hát không cần phải là học trường lớp thanh nhạc như cái cô Thanh Lam gì ngoài Bắc của anh bây giờ đâu, nhưng vẫn đi vào lòng người nghe mãi không quên, còn cô ấy học cao quá diva đi viếc gì đó, nói thiệt anh đừng cười em lạc hậu với thời cuộc quá anh ạ. Nhờ cái chuyện cổ chửi ca sĩ miền Nam thất học dư luận ồn ào quá em mới để ý chứ thiệt tình bình thường em mà biết cô này… em chết liền đó anh, chưa từng nghe giọng hát này bao giờ. Thì đó nhờ những tác phẩm giá trị của văn học nghệ thuật, những nhạc sĩ, ca sĩ, kịch sĩ đều có sự đóng góp của Huế, Saigon, Hà Nội… đã đưa ba miền Nam Trung Bắc, gần nhau hơn hoà quyện lại với nhau thành một. Cám ơn anh chịu khó nghe em phân tích một cách dài dòng xoay quanh câu hỏi của anh. Vì đây là lần đầu tiên em được nghe một câu hỏi rất thật của một người Bắc vào trong Nam… năm 1975. Thế cho nên em cũng trả lời rất thật lý do vì sao Bắc 54 lại là dân miền Nam dầu chỉ mới sống với nhau có 21 năm. Và dân Bắc 75 dầu sống trong Nam đến 42 năm vẫn mãi mãi là… người Bắc chứ không thể nào là người Hà Nội của dân miền Nam xưa. Với một ít kiến thức nhỏ nhoi, một ít kinh nghiệm sống từng trải qua những thăng trầm của đất nước. Em xin các cô bác, anh chị đã, đang và sắp đọc những giòng tự sự này một lời xin lỗi nếu như em có viết sai một ít chi tiết nào đó các bậc cao nhân, tiền bối làm ơn bỏ qua cho kẻ hậu bối này. Câu trả lời mơ hồ của em chắc chưa đủ sức thuyết phục cho anh bạn miền Bắc của chúng ta hiểu rõ hơn, nhưng sức người có hạn, em nói với tầm hiểu biết của em hạn hẹp bao nhiêu đấy thôi. Xin chỉ giáo thêm ạ.

Vô Danh (bài sưu tầm trên net)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Để Trả Lời Một Câu Hỏi_ST (Vô Danh)

ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12_YouTube

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12_YouTube

Người Việt Gốc Mỹ_Nguyễn Thế Thăng

Tác giả Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khóa K2DH/DH/CTCT, định cư tại Mỹ 1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregon ..
Công việc: Sỹ quan điều hành tổ thông dịch viên của Lực Lựơng Phòng Vệ thuộc Vệ Binh Quốc Gia, Oregon , cấp bậc Thiếu Tá.
( Oregon Army National Guard/State Defense Force/Interpreters Team/X.O) (ORANG/SDF/Interp. Team/XO).
Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là chuyện về một người bạn cựu chiến binh Mỹ tự xưng là “người Việt gốc Mỹ”.
***

NGƯỜI VIỆT GỐC MỸ

Tôi biết Mike khoảng hai năm sau ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Dù hành trang sẵn có chút ít tiếng Anh từ trước 1975, tôi vẫn phải vất vả hội nhập vào xã hội mới bằng những bước chân chập chững, e dè trong độ tuổi “bất hoặc”.

Thật may mắn, tôi tình cờ được gặp và quen biết Mike. Anh đã cho tôi một cái nhìn khá bao quát nước Mỹ từ phong tục tập quán đến văn hóa xã hội lẫn chính trị. Mike đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cả vật chất tinh thần để tôi có được một nghị lực, niềm tự tin, sự phấn khởi tràn trề khi bắt đầu nửa cuộc đời còn lại nơi tha phương, đất khách.

Trong buổi họp mặt cựu Chiến Binh nhân dịp Memorial Day của State Guards Association of U.S (SGAUS), bàn của tụi tôi rất ồn ào với đủ mọi vấn đề trên trời dưới đất, vui nhất là những chuyện tiếu lâm xoay quanh đời sống thường nhật của người Mỹ, đặc biệt lớp tuổi về hưu phải đương đầu với nhà dưỡng lão, bệnh tật, nhất là bệnh lãng trí Alzheimer… .

Hôm ấy, tôi kể chuyện một đôi vợ chồng già, Bác Sĩ nói với người vợ: tôi thấy sức khỏe ông nhà ngày càng khá hơn khi ông tìm được niềm vui nơi Thượng Đế, tin tưởng nhiều hơn vào Chúa Quan Phòng, đến nỗi, ông nghĩ Chúa đang theo giúp đỡ ông trong mọi việc, trong từng bước chân đi. Ông nói với tôi, đêm qua, khi ông vừa mở cửa nhà vệ sinh để đi tiểu thì Chúa bật đèn lên cho ông liền….

Bà vợ la lên, ngắt lời Bác Sĩ:

– Ôi lạy Chúa tôi, ổng lại đái vào tủ lạnh của tôi rồi!!!

Cả bọn cười bò lê bò càng. Cười lớn nhất là một chàng cao lớn, tóc vàng tên là Mike.

Anh vỗ vai tôi:

– Ê, bạn người gốc nước nào?

– Việt Nam.

Mike bật đứng dậy, bàn tay như hộ pháp chụp lên đầu tôi, nói thật lớn, nguyên văn bằng tiếng Việt đặc sệt giọng miền nam:

– Đ.M. nãy giờ sao hổng nói?

– Ủa, anh biết tiếng Việt hả?

Mike vênh mặt lên, tay phải vỗ bồm bộp vào cái ngực đang ưỡn, vẫn dùng tiếng Việt:

– Hai lần công tác Việt Nam, đem về Mỹ một cô giáo dạy tiếng Việt tại gia từ 1972, học và nói tiếng Việt từ hồi đó đến giờ, bộ ngu lắm sao mà không biết, biết rành quá đi chứ!!

Không ngờ trong bàn lại có một số cựu chiến binh Việt Nam khác, đua nhau xổ ra những câu tiếng Việt họ còn nhớ lõm bõm:

– Chòi đắt ui (trời đất ơi)

– chào cắc Ong, mành giỏi? (chào các Ông, mạnh giỏi)

– Con gái Viết Nàmdde.p lám (con gái VN đẹp lắm)

– Ngùi Viết Nàmtót lám, đi đi mao, đin – kí đàu (người VN tốt lắm, đi đi mau, điên cái đầu !)….

Riêng Mike nói tiếng Việt rất lưu loát, không hề sai một âm nào (giống như ca sĩ Delena hát tiếng Việt vậy), kể cả cách dùng chữ rất trí thức, đôi khi dí dỏm, có lúc thật tiếu lâm.

Tôi đã gặp một nhân viên Bộ Ngoại Giao rành tiếng Việt đến nỗi khi tôi đùa hỏi “Anh người gì mà nói tiếng Việt ngon lành vậy” Anh trả lời tỉnh bơ “Tôi người Bắc !”.

Tôi cũng đã gặp một số người Mỹ chính gốc, thuộc giáo phái Mormon, họ thảo luận Kinh Thánh, đi truyền đạo Tin Lành bằng tiếng Việt thật trôi chảy, nhưng đó là nghề của họ.

Còn Mike, anh nói tiếng Việt bằng cả tấm lòng: tên Mỹ của tôi là Micheal, tên Việt của tôi là Mai, theo giọng Việt Nam có nghĩa là hên, là may mắn, còn giọng Việt Bắc (?) hay Việt Trung (?) có nghĩa là hoa mai, một loài hoa rực rỡ mùa xuân !

Vợ tôi vẫn thích kêu tôi là Mai Cồ, hay Anh Cồ, hoặc Cồ ơi chỉ vì tôi bự con! Con rể của nước Đại Cồ Việt mà! Một ông thày bói VN nói số tôi phải cưới vợ họ Trần vì cả đời tôi không thích mặc áo..vv và vv … tôi há hốc miệng ngồi nghe một chàng mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng 100% Anglo-Saxon đang chơi chữ bằng chính ngôn ngữ của tôi !!!

Một đêm hội ngộ tuyệt vời, vui như chưa từng thấy từ ngày sống kiếp lưu vong.

Một tuần sau, Mike điện thoại mời tôi đến nhà.

Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: gia đình Mike gồm vợ chồng và 2 con hoàn toàn sinh hoạt theo truyền thống Việt Nam và tự nhận là người VN. Mike nói: đúng ra tôi là người Việt gốc Mỹ! Người bản xứ khi nghe tôi giới thiệu là người VN, nói tiếng VN thì họ vui lắm, vài người lúc đầu cứ tưởng nước VN ở đâu đó bên Đông Âu nên mới tóc vàng, mắt xanh!

Người gốc VN lại tưởng tôi là Mỹ lai, càng vui hơn, gần gũi hơn vì có 50% máu Việt Nam trong người mà, ai cũng vui. Mike dùng chữ “vui cả làng”!

Cả gia đình dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính.

Sống trên đất Mỹ, Mike tâm sự, nói tiếng Anh là việc đương nhiên, thế mà nhiều gia đình VN từ vợ chồng con cái đều ra vẻ hãnh diện với mớ tiếng Mỹ đôi khi trật giọng, sai văn phạm….hoặc nói đệm, câu nào cũng chêm thêm chữ Mỹ vào, trong khi cố tình lơ lớ tiếng mẹ đẻ của mình, dễ mất gốc quá, tủi hổ ông bà tổ tiên quá, uổng phí quá.
Lại có cả vài người viết văn, nhiều chữ thông thường không biết, hay giả vờ không biết, lại phải dùng tiếng Anh mới thấy dổm làm sao.
Tôi rất khâm phục những gia đình còn giữ vững truyền thống tốt đẹp VN. Tôi thấy những em bé VN thật dễ thương với tiếng Việt líu lo như chim hót nhưng tôi nhìn các em với cặp mắt bình thường nếu các em nói tiếng Anh, thật bình thường vì đây là nước Mỹ, sau này khi lớn lên phải học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Anh, họ sẽ hối hận. Tiếc quá, Mike chặt lưỡi, lập đi lập lại, tiếc quá !!

Anh có biết “bà lang kẹt” là ai không? Thế mà một ông VN đã tuyên bố tự nhiên như người Sàigòn, vào mỗi mùa Đông, trên giường của ông phải có ít nhất hai bà lang kẹt ngủ mới đã, mới đủ ấm !?!?

Mai Liên, vợ anh, một sinh viên Đại Học Cần Thơ sinh quán Sóc Trăng.

Hai người quen nhau khi Mai Liên đi học thêm Anh ngữ trong một lớp do chính Mike phụ trách phần đàm thoại và luyện giọng. Thế rồi hai người yêu nhau nhưng không thể tiến đến hôn nhân vì gia đình hai bên đều không tán thành.

Mike phải xin trở lại Việt Nam lần thứ hai, kiên trì thuyết phục cha mẹ Mai Liên bằng chính tiếng Việt anh đã học được từ người tình. Cuối cùng không những cha mẹ, anh chị em của Mai Liên mà cả bà con xóm giềng cũng hài lòng với “thằng Cồ” vui tánh dễ thương lúc nào, nơi nào cũng pha trò được.

Riêng gia đình Mike lúc đầu vẫn chưa mấy thiện cảm với người dâu dị tộc. Hai vợ chồng son cố gắng sống hòa hợp với mọi người, không tỏ ra khó chịu mà còn thấy vui vui với cái tên Liên vài người cố tình đọc trại thành Alien (=người lạ).

Chẳng bao lâu sau tình thế hoàn toàn đảo ngược. Khi cha mẹ Mike dọn vô nhà dưỡng lão chỉ có vợ chồng Mike thăm viếng thường xuyên.

Ông bà rất cảm động, thỉnh thoảng lại công khai ngỏ lời xin lỗi Mai Liên và giới thiệu với mọi người Liên là đứa con gái yêu quý nhất.

Bốn gia đình anh chị của Mike tan vỡ hết ba, sự kiện phổ thông với trên 60% gia đình Mỹ bị rắc rối trong hôn nhân. Cứ một lần li dị lại một lần chia gia tài, riết giống như chuyện thường tình. Tuy nhiên, có điều lạ là sau khi chia tay, họ vẫn liên lạc qua lại với nhau, coi nhau như bạn, không ai ghen tuông gì hết.

“Tạ ơn trời đất (Mike không dùng chữ Chúa) tôi có được một bà vợ tuyệt vời. Liên lo lắng chăm sóc tôi kỹ lắm từ mọi sinh hoạt đến từng miếng ăn hàng ngày. Tôi đã quen và rất thích thức ăn Việt Nam. Rất hợp lý nếu ta không biết kiêng cữ, cứ ăn tầm bậy là đưa đủ thứ bệnh tật vào thân thể mình thôi. Anh ăn cái gì anh sẽ như thứ ấy (1).

Ăn nhiều rau, đậu, trái cây tươi, da thịt anh sẽ tươi. Anh ăn mỡ, cơ thể anh sẽ phải đeo mỡ (2).

Tốt nhứt nên ăn chay. Gia đình tôi ăn chay mỗi tuần một lần, nhiều nhất là các loại rau. Đồ chay Liên làm ngon lắm. Món nào cũng ngon, cũng tốt cho sức khỏe vì Liên chỉ dùng dầu olive thay cho mỡ động vật, không mặn lắm, không ngọt quá như đồ ăn Mỹ, nhất là hoàn toàn không dùng bột ngọt. Đặc biệt nước mắm ăn riết rồi mê luôn nhưng điều cần thiết nước mắm mua ở chợ về phải đem nấu cho sôi lên rồi đổ lại vô chai xài vì trong nước mắm có thể có nhiều siêu vi trùng, nhất là siêu vi bệnh gan, các loại mắm cũng vậy.

Chế độ ăn uống như thế làm sao bị phát phì như ba phần tư dân Mỹ hiện nay. Đến như con nít trên 6 tuổi thì phân nửa đã vượt quá trọng lượng được coi là mập rồi. Còn về thẩm mỹ, Anh thấy không, thông thường da người Mỹ trắng lại quá trắng, trắng nhễ nhại (?!)trắng như Bạch Tuyết nên trông có vẻ yếu đuối, bệnh tật, vì vậy họ phải đi phơi nắng ngoài biển hay vô các phòng nhuộm da trong các tanning clubs để cho da họ có màu đồng nâu hay màu bánh mật, nhìn rất khỏe mạnh, thể thao hơn, mốt thời thượng mà! Bà xã tôi được Trời Đất thương cho cái màu tự nhiên đó từ bé nên Ông Bà Ngoại sắp nhỏ mới đặt cho cái tên Mai Liên, anh đọc lái lại coi?!”

Nghe đến đây chính tôi đã phải kêu lên: chu choa mệ tổ ơi, mần răng mà cái chi mô anh cũng biết hết rứa chừ hết biết luôn.

Mike hiện nguyên hình một “chú Sam” há hốc miệng “Wh…what? What d’you say?”

Ngay sau khi dành thắng lợi đem được Mai Liên về Mỹ, Mike giải ngũ. Liên đi làm 2 nghề khác nhau cho phép Mike trở lại Đại Học lấy xong bằng Kỹ Sư Điện Tử.

Mike rất vui mỗi lần nhắc lại giai đoạn này:

Tôi sướng như Ông Trời con, ngày ngày đi học, còn Liên cực lắm, hy sinh vừa đi làm vừa lo cho tôi còn hơn Ba Má tôi ngày xưa, dĩ nhiên tôi yên tâm học xong rất nhanh.

Bên Mỹ này anh muốn học là phải được, muốn học gì cũng được, muốn lấy bằng gì cũng có, chỉ cần anh có ý thích và có ý chí. Anh có thể học toàn thời gian, bán thời gian, học hàm thụ hay học ngay cả trên online. Không có tiền thì Chánh Phủ hoặc một cơ sở, một công ty hay một tổ chức nào đó ứng tiền cho mượn nếu đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên khi nộp đơn xin việc làm, người chủ chỉ căn cứ một phần trên bằng cấp, còn phần lớn dựa trên kinh nghiệm việc làm đã qua và sự giới thiệu, phê bình của các chủ cũ.

Tôi là cựu chiến binh, gần lấy xong bằng Kỹ Sư thì hãng Điện Tử Intel đã nhận trước rồi.

Năm đầu tiên tôi đi làm Liên chỉ còn làm một nghề, đến năm thứ hai Liên nghỉ việc hoàn toàn để đi học ngành Y tá. Đó là lý do chúng tôi chậm có con và chỉ có hai đứa.

Bên Mỹ này nghe nhà nào có 3,4 con là thiên hạ lắc đầu, le lưỡi liền. Có bầu, sanh con thật dễ dàng nhưng khó nhất, đau đầu nhất là vấn đề giáo dục, không dạy dỗ con được thì lại đổ thừa “cha mẹ sanh con, Trời sanh tánh”, chưa chắc vậy đâu !

Có rất nhiều gia đình nuôi con đến 18 tuổi là bắt nó phải tự lập, nghĩa là đẩy nó ra ngoài xã hội, xét cho cùng điều này cũng có phần tốt.

Vì vậy, cũng rất công bằng khi bố mẹ già yếu, đến phiên chúng nó sẽ đẩy bố mẹ vô nhà hưu dưỡng thôi!

– Mai Lan ơi, ra chào chú đi con, Mike gọi.

Một cô gái Mỹ đẹp như tài tử điện ảnh Hollywood tươi cười bước ra, hai tay khoanh trước ngực, đầu cúi xuống, nói bằng tiếng Việt rất chuẩn:

– Cháu tên Mai Lan, cháu chào chú.

Tôi đứng dậy, Mai Lan bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay:

– Chú tên là Long, Chú rất hân hạnh được biết cháu, được quen biết gia đình cháu, một gia đình tuyệt vời, cháu là một cô gái tuyệt vời. Cháu có về VN lần nào chưa?

– Dạ, cám ơn lời khen của Chú. Cháu đã về VN hai lần. Năm rồi cháu đi VN miễn phí.

– Sao vậy?

– Cháu có hai người bạn, hai chị em, bố mẹ họ là người Việt, hai bạn cháu không rành tiếng Việt nên bao cháu đi chung về VN để làm thông ngôn. Vui quá chừng. Bà con chòm xóm dưới quê cứ nhìn cháu chằm chằm: sao kỳ quá hè, Mỹ nói tiếng Việt còn Việt đặc thì bù trất, kỳ hén !

Lại nữa, Mỹ thì tên Việt còn Việt lại lấy tên Mỹ, ngộ ghê!!

Cháu dịch lại cho hai đứa bạn nghe, tụi nó mắc cỡ quá, về đến Mỹ bắt đầu học tiếng Việt ngay.

Ba má tụi nó kèm riết, cháu cũng dạy thêm, bây giờ nói được hơi nhiều rồi. Hè năm nay tụi cháu lại về VN nhưng lần này cháu phải trả tiền vé máy bay vì bạn cháu không cần thông ngôn nữa, thông ngôn thất nghiệp rồi !!

Ông bà ngoại cùng gia đình mấy Cậu, mấy Dì thương cháu lắm. Cũng có thể sẽ có anh Liêm đi cùng.

– Liêm là ai?

– Anh Hai cháu. Ảnh tên là Uy Liêm.

– Có phải đó là phiên âm tiếng Việt của chữ William không?

– Dạ đúng

– Thế anh cháu thích tên nào?

– Cả nhà cháu thích tên Uy Liêm hơn vì đa số tên riêng của Mỹ không có ý nghĩa gì hết, thường được bắt chước từ trong Kinh Thánh. Còn tên VN có lồng nghĩa trong đó, có khi mang cả ước vọng của cha mẹ đặt ở người con..

– Vậy Uy Liêm nghĩa là sao? Tôi giả vờ hỏi.

– Uy là uy phong, uy nghi, uy quyền, uy lực… còn Liêm là liêm chính, liêm sỉ, thanh liêm.

Người có quyền uy thì phải liêm chính. Người ta khi có chút quyền chức thường hay sanh tật xấu, rồi tham nhũng, rồi phách lối.

Ba má cháu muốn anh Hai khi nào có địa vị lớn thì phải sống thanh liêm.

– Anh hai cháu đã có địa vị lớn chưa?

– Dạ ảnh chỉ mới là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang chiến đấu ở Iraq . Còn 4 tháng nữa ảnh sẽ xong nghĩa vụ, khi trở lại Mỹ, được nghỉ phép, anh Hai sẽ theo tụi cháu về thăm Ngoại.

– Anh Hai có biết tiếng Việt không?

– Hết sẩy Chú ơi, dù dở nhứt nhà nhưng cũng gần ngang tầm với Ba cháu …

Mike ngồi nghe tôi khảo hạch cô con gái, miệng cứ tủm tỉm cười.

Tôi thật sự cảm động, nếu không nói là choáng váng, cứ ngây người ra. Giả sử có ai đó kể tôi nghe về một gia đình như thế này, về một cô gái Mỹ thế này, về một Đại Úy Đại Đội Trưởng TQLC Mỹ như vậy… chắc chắn tôi không thể tin vì tôi đã phải chứng kiến nhiều hoàn cảnh trái ngược.

Có lần, vừa bước vô nhà một người bạn VN, ngay tại phòng khách treo một tấm bảng bằng carton với chữ: “No Vietnamese!” tôi ngập ngừng, hơi tái mặt, rồi lẳng lặng, chẳng nói chẳng rằng bước ra ngoài. Chủ nhà chạy theo đon đả.

Tôi nuốt nước miếng cho dằn cái gì đó nghèn nghẹn trong cổ họng rồi chậm rãi: có phải ông không muốn tiếp khách người VN hay ông không cho phép ai ngồi trong phòng đó nói tiếng Việt ?

Anh ta phân bua: tôi chỉ muốn bà Xã và các cháu luyện tiếng Anh cho thật nhuyễn để mau thành dân Mỹ thôi !?!?

Vậy nếu ông vào một nhà hàng, một công viên, lên máy bay, xe lửa, xe buýt hay vô nhà một người Mỹ nào đó, ông thấy hàng chữ này, ông hiểu nó thế nào?!?!

Cách đây vài chục năm, khi tình trạng kỳ thị chủng tộc còn tồn tại trên đất nước Mỹ, người ta thường thấy trên xe buýt hay công viên có đeo bảng: No dogs and negroes (cấm chó và người da đen). Đến thập niên 60 mới chấm dứt. Bây giờ ông treo “No Vietnamese” trong phòng khách nghĩa là làm sao?!?!

Ông ta gỡ bảng xuống liền.

Ông bà này nghe nói qua Mỹ có mấy năm đã về VN xum xue, bà con bên nhà ngạc nhiên thấy ông và gia đình lột xác nhanh quá, sức mạnh một đại cường quốc có khác.

Bên này cả hai ông bà đi làm vệ sinh, quét dọn trường học, về VN khoe làm trong ngành giáo dục nên rất ít nói tiếng Việt.

Riêng dân Mỹ hay người VN tại Mỹ chỉ nghe âm Mít đặc, không cần nhìn, đều biết ngay ông chánh gốc là “dân địa phương” Alaska vì, mười câu hết chín, ông đều nhắc đến tên một thành phố lớn của Tiểu Bang này: Du nô (3).

Nhưng thôi, đây là đất nước tự do mà! Tự do dân chủ với lưỡng đảng đàng hoàng.

Mike thường nói đùa với tôi “coi dzậy chứ hổng phải dzậy mà còn quá cha dzậy nữa” khi đề cập đến hệ thống lưỡng đảng của Hoa Kỳ hiện nay.

Cứ nhìn vô gia đình Thống Đốc Tiểu Bang California : Ông chồng Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa trong khi bà vợ lại theo Dân Chủ. Khi làm việc, hai đảng kiểm soát lẫn nhau như vợ theo dõi chồng, như chồng để ý coi chừng bà vợ.

Nhưng khi có những sự kiện trọng đại liên quan đến an ninh đất nước, đến sự tồn vong của quốc gia, đến sự sống còn của dân tộc Hoa Kỳ thì hai đảng chỉ là một như sau vụ 9/11 mấy năm trước đây. Hình như có một thứ siêu chính quyền đâu đó quyết định tất cả, tương tự ảnh hưởng nội ngoại trên hai vợ chồng giữ cho hạnh phúc lứa đôi bền vững, từ đó nuôi dạy con cái thành công, kinh tế gia đình thịnh vượng, cho nước Mỹ chỉ mới hơn 200 năm lập quốc đã tiến lên bá chủ hoàn cầu. Nước Mỹ đang đứng nhất trên toàn thế giới về mọi phương diện nhưng rất tiếc, nhất luôn về vô luân thường, vô đạo lý và nhất luôn về cả lãnh vực tội phạm!

Đấy, Mike hướng dẫn cho tôi nhiều, rất nhiều điều, nhiều chuyện.

Chúng tôi ngày càng thân hơn khi biết tôi ngày xưa cũng có một thời gian đi dạy học. Vợ chồng Mike và cháu Lan lại thích tìm hiểu sâu xa tiếng Việt hơn qua những từ ngữ Hán Nôm mà tôi đã được Ông Ngoại, một Cử Nhân Hán Văn, khoa thi cuối cùng, dạy dỗ.

Nhờ vợ chồng Mike, tôi thực sự hội nhập vào xã hội Mỹ lúc nào không hay. Từ sự nhiệt tình giới thiệu của Mike, tôi được một chân Technician trong hãng Merix ở Forest Grove. Một năm sau, Mike khuyến khích và hướng dẫn vợ chồng tôi mua một cơ sở kinh doanh riêng ngay trung tâm thành phố Tigard đến nay đã tròn 12 năm.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi nhanh như những áng mây ngoài khung trời rộng. Thênh thang như giấc mơ Hoa Kỳ của gia đình tôi liên tiếp nở hoa.

Cho đến một ngày… Tin như sét đánh ngang tai. Hai vợ chồng Mike vừa qua đời trong một tai nạn xe! Cháu Lan gọi báo cho tôi bằng tiếng được tiếng mất, tức tưởi, nghẹn ngào.

Một anh Mễ nhập cư bất hợp pháp say rượu lái xe vào đường cấm ngược chiều. Xe Toyota Camry của vợ chồng Mike nằm bẹp dí dưới gầm chiếc xe tải F350 chở đầy đồ nghề làm vườn cắt cỏ.

Toán cấp cứu phải cưa xe mới đem được hai người ra nhưng cả hai đều đã tắt thở vì sức va chạm quá mạnh và vì vết thương quá nặng….

Lại thêm một nhức nhối của người Mỹ trước làn sóng nhập cư bất hợp pháp… lại thêm một vết đen tệ nạn say rượu, say xì ke lái xe DUII (4) ngày càng nhiều….

Tang lễ thật đơn giản gồm đa số người quen gia đình, bạn bè làm chung Intel với Mike và đồng nghiệp trong bệnh viện của Mai Liên.

Cháu Uy Liêm được thông báo từ Iraq về để vừa kịp nhìn cha mẹ lần cuối trước khi đóng nắp quan tài.

Trời Oregon chiều nay mưa buồn day dứt. Nghĩa trang Finley Sunset Hills với những dốc thoai thoải quay về hướng Tây, về hướng Thái Bình Dương mà tận cùng bên kia bờ có một vùng đất mang tên VN, quê hương yêu dấu của Mike và Mai Liên suốt cả đời người. Gió buốt miên man như xoáy sâu vào tận xương tủy. Như chưa bao giờ.

Vài tia sáng yếu ớt long lanh trên những ngọn cỏ đầm đìa. Mắt tôi nhạt nhòa trong cái lạnh tái tê. Cũng xong một kiếp trong vô lượng luân hồi. Một chút gì đó có lẽ hai người đang hài lòng là vẫn còn được đi chung với nhau, vẫn còn được tay trong tay, cùng qua một thế giới khác, hy vọng sẽ tốt đẹp hơn.

Ít nhất về vật chất bây giờ xác hai người vẫn còn được nằm bên nhau, hai ngôi mộ song song, cùng nhìn về quê hương VN tít mù xa thẳm cuối chân trời.

Riêng tôi lòng trĩu nặng mối ân tình chưa thanh thỏa.

Trong suốt cuộc đời còn lại, dù còn sống trên đất Mỹ này, hay giang hồ đó đây, hình ảnh tươi vui khỏe mạnh, tràn đầy sinh lực, gương mặt dễ thương, cử chỉ ân cần, lời nói nhã nhặn nhiệt tình và đặc biệt ân nghĩa của vợ chồng Mike đã dành cho gia đình tôi chắc chắn sẽ khó phai mờ.

Cám ơn Michael Erickson. Cám ơn Mai liên Trần.

Xin tạm biệt.

NGUYỄN THẾ THĂNG

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Việt Gốc Mỹ_Nguyễn Thế Thăng

Hồi ký của Gà Mái Tre_ Sinh Con Đầu Lòng

Ba giờ sáng nghe đau bụng , khều chồng anh ơi đau bụng quá . Lấy dầu thoa bụng rồi ngủ lại đi . ….Bốn giờ ….anh ơi không bớt mà còn đau hơn . Em ráng ngủ đi . Bây giờ mới bốn giờ sớm quá làm sao đi bác sĩ . Mà chắc hồi chiều em ăn trúng món gì độc nên đau bụng đó . Thôi để anh thoa thêm dầu rồi ráng ngủ chắc sẽ bớt . Thoa dầu ….Chờ ….hai phút . Ba phút . Bốn năm phút ….Bớt chút xíu ….Nhắm mắt cố ngủ …Anh ơi , dậy . Dậy mau . Đau quá không chịu nổi rồi anh ơi ! Bị sao ? Đau lắm . Đau lắm …. Rên !
Thôi chết rồi anh ơi . Nước gì mà chảy ra nhiều lắm . Chạy kêu Mạ mua lên . Mạ vô . Con ơi , chở nó đi bịnh viện gấp . Con Oanh sao vậy Mạ . Nó sắp sinh rồi . Đi mau lên kẻo không kịp con ơi .
Thay áo quần cho vợ , cho mình xong . Mạ không kịp đưa áo quản khăn tã đã chuẩn bị sẵn …..Đưa vợ ra xe ( bồng ẵm gì nổi ! ) , rồ xe chạy . Thay vì chạy đường Gia Long cho mau tới bịnh viện Thánh Gia , lại không . Chạy qua Phan Bội Châu ! Vì Gia Long một chiều mình là trưởng phòng cảnh sát mà không làm gương cho dân thì còn nói ai nghe !
Ôi chở vợ đi sinh mà ! Không được . Rồ ga chạy ….Anh ơi , mau lên ….con nó đã chui đầu ra rồi ….Mau lên giùm . Đến nơi ……phải chạy bộ vô kêu mấy bà Soeur ra ….mang theo cái cáng …..Sao ông chở bà ấy đến trễ thế ……Dạ tại tui không biết . Vợ sinh mà không biết . Dạ không biết thiệt . Nhanh lên cô ( cô y tá ) . Chạy theo … cầm tay vợ ……không sao đâu . Có mấy cô y tá đây rồi , em đừng lo .
Chưa kịp đưa lên bàn sinh thì đã nghe tiếng tu oa của thằng con …..Ôi mừng đến khóc vì dù đau đớn cũng ráng chồm lên nhìn con đang nhắm mắt mà la ….Khi cô y tá tắm rửa , quấn con trong khăn xong , bồng tới đặt trên ngực Mẹ ….hạnh phúc ngút ngàn ôm con trong tay . Nó nghe hơi ấm của Mẹ không khóc nữa , nằm im . Nhưng nghe cu cậu chóp chép miệng như đòi ăn !
Nó đẹp trai lắm ! Nó ngoan lắm vì bú sữa xong là ngủ . Không quấy rầy Mẹ …..
Thời gian vun vút như thoi đưa , nó lớn . Nó đẹp trai và ngoan . Đứa con hiếu thảo vô vàn mà Ông Trời ban tặng cho tôi .
Và hôm nay là ngày tôi sinh . Nó ra chào cuộc đời này đã bốn mươi mấy năm ….vào lúc 5 giờ sáng ngày 19 tháng 7 năm 1971 !
Nó đây …
Nó đây , thằng Lê Quang Hoàng Đức .

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hồi ký của Gà Mái Tre_ Sinh Con Đầu Lòng

Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm_ST

Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm

 

Image may contain: one or more people

Hoàng Linh

Tránh cái chết đột ngột vào ban đêm, một bác sĩ đưa ra lời khuyên.
Dành cho những ai thức dậy vào ban đêm để kiểm tra những vấn đề về đêm hay thường đi tiểu đêm. Mỗi người đều phải lưu ý ba phút rưỡi. Nó thường xảy ra: một người luôn có vẻ khỏe mạnh đã qua đời vào ban đêm. Chúng tôi thường nghe những câu chuyện của người ta nói: “hôm qua, tôi đang nói chuyện với anh ấy, tại sao anh ấy lại chết đột ngột? Lý do là khi bạn thức đêm đi vệ sinh, nó thường xảy ra nhanh chóng. Chúng tôi dừng ngay lập tức và não bộ không có máu lưu thông. Tại sao lại là” Ba phút rưỡi ” quan trọng lắm sao? Vào nửa đêm, khi việc buồn tiểu đánh thức bạn, mô hình ecg có thể thay đổi. Tự nhiên tăng lên, não sẽ bị thiếu máu và sẽ gây ảnh hưởng tới tim mạch vì thiếu máu.Bạn nên dành ra 3 phút rưỡi để làm những việc sau đây, đó là:
1. Khi bạn thức dậy, nằm trên giường một phút rưỡi.
2. Ngồi trên giường trong nửa phút tiếp theo;
3. Hạ chân và ngồi trên mép giường trong nửa phút. Sau ba phút rưỡi, não của bạn sẽ không còn bị thiếu máu và trái tim của bạn sẽ không làm suy yếu, mà sẽ làm giảm nguy cơ chết đột ngột.
Điều này có thể xảy ra bất kể tuổi tác. Trẻ hay già.
Gia đình bạn cũng nên theo dõi nó.
-st-

(Bài do Võ Thiệu chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những điều nên biết để tránh cái chết đột ngột vào ban đêm_ST

Văn Hóa Lon_Ng. Thị Cỏ May

cai lu

Nói «Văn hóa lon» vì tiếng «LON» trong câu quảng cáo của Coca Cola «Mở lon Việt nam» bị bà Ninh thị Thu Hương, Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở, phê phán là «thiếu văn hóa. Vậy «Lon» vốn có sẵn tính văn hóa mà nay do dùng không đúng mà nó thiếu. Vì cách sử dụng làm thiếu văn hóa nên «Lon» bị Cục Trưởng Văn hóa lên án thêm là «phản cảm, trái thuần phong mỹ tục». Sẵn đà, bà Cục trưởng còn phán tiếp theo «trong tiếng Việt không có từ lon. Chưa kể bản thân chữ «lon» đặt cạnh cái khác…. Ví dụ như có thể thêm mũ thêm rất nhiều thứ. Nó mà ở các phương tiện quảng cáo ngoài trời, có nhiều tình huống có thể thêm mũ thêm dấu vào từ đó. Vì vậy nó rất là khủng khiếp nếu chữ đó nó chềnh ềnh ra trên biển quảng cáo ngoài trời» (Thanh Niên, 29/6/2019, Chu Mộng Long trích dẫn trong «Thân phận cái lon»).

Với vc văn hóa là vô cùng quan trọng bởi nó định hướng cho mọi sanh hoạt của chế độ và của nhơn dân. Không thấy sao ở Việt nam nhan nhản những tấm bảng lớn kẻ chữ đỏ lòm «Nếp sống văn hóa, Khu phố văn hóa, … ». Nghĩa là Việt nam dưới chế độ ta là nước đầy văn hóa. Không có ở đâu bằng!

Do tính siêu văn hóa đó nên tưởng nay có nói thêm đôi chút về câu chuyện «lon» của bà Cục Trưởng Thu Hương để hiểu quan niệm văn hóa của ta, chắc sẽ không đến nỗi bị bạn đọc quở. Vẫn biết không thiếu bạn đọc sẽ quát lên rằng «Thứ chuyện tào lao, hơi đâu làm mất thì giờ»!

Lon của Việt nam

Bà Thu Hương, Cục Trưởng Văn hóa Cơ sở, cho rằng từ «lon» không có trong tiếng Việt nam. Cục Trưởng Văn hóa nói, lời của bà phải có trọng lượng về văn hóa. Cỏ May tôi thiệt tình không dám nói «Trong tiếng Việt nam có từ «lon» và càng không dám nói từ «lon đúng là tiếng Việt nam». Mà chỉ dám nêu ra vài trường hợp từ «lon» được người Việt nam, không lai căng Tàu hay Cu-ba hay Vénézuela, dùng rất phổ thông, trên đất nước Việt nam không xhcn và từ khá lâu, phải từ trước khi bà Cục Trưởng Thu Hương sanh ra đời.

Trẻ con từ trước 1950, từ thành thị tới thôn quê, có trò chơi tập thể «tạc lon». Chắc quí vị bạn đọc có mặt ở thời điểm đó còn nhớ hoặc cũng có chơi. Vì lúc bấy giờ Việt nam đang chiến tranh, đồ chơi của trẻ con, như xe hơi, banh, búp bế,… chỉ dành riêng cho con em nhà giàu, tây tà, … Muốn đá cầu, lấy lông gà, kết với những khoanh giấy cạt-tông mỏng cắt tròn, giây thung cột lại. Đá banh, lấy trái bưởi rụng, quấn thêm giấy hoặc rơm làm banh, …

«Tạc lon» là trò chơi khá phổ biến trong giới trẻ xóm lao động của thành phố. Lấy cái lon sữa bò (lon bơ hiếm, lon coca cola hay bia, nước ngọt chưa có), dĩ nhiên hết sữa, đặt giữa một vòng tròn, khoanh lớn nhỏ tùy theo sự đồng ý chung, cách mức qui định cho chỗ đứng của người chơi, cũng tùy sự đồng ý chung (chừng 3,4m). Tham dự trò chơi «tạc lon» phải từ 2 người tới 4, 5 người mới hào hứng. Chơi lần lượt từng người một. Người chơi đứng vào mức qui định, tay cầm chiếc dép của mình hoặc mượn dép nếu đi chơn không, mắt nhắm cái lon là mục tiêu, tay ném chiếc dép thẳng vào cái lon. Cái lon văng ra khỏi cái vòng tròn là thắng. Trò chơi «tạc lon» mang tính thuần văn hóa vô sản, vì chơi vui, không ăn tiền vì trẻ con nhà nghèo cũng không có tiền để cờ bạc.

«Lon – Gáo gì cũng vậy» mà, con ơi! Một bà già trầu từ xẻo rô lặn lội, khăn gói lội lên Sài gòn tìm thăm con gái. Bà tới xóm lao động bên Xóm Chiếu, Quận IV (Thời Tây là Quận VI), tay cầm tờ giấy có ghi địa chỉ của con gái. Bà tới đúng nhà nơi con gái của bà ở. Không thấy con, bà hỏi người trong nhà lạ hoắc với bà. Một cô gái, trạc tuổi con gái của bà, bước ra tiếp chuyện với bà, trả lời:

Bác ơi, ở đây, không có ai tên Gáo hết. Ở đây có chị tên Thanh Loan, quê ở Rạch giá, ở đậu ở đây được mấy tháng rồi, để đi làm. Mà tối chị ấy mới đi làm. Chị vừa ngủ dậy, đi ra ngoài trước đường ăn sáng, chút xíu về. Bác bước vô, ngồi nghỉ tạm, đợi chị ấy về, bác coi có phải con gái của bác không?

Bà già thấy cô gái nói chuyện tử tế, không ngần ngại, vào nhà ngồi chờ. Bà vừa uống xong tách nước, cô Thanh Loan cũng về tới.

Thấy mẹ, cô gái kinh ngạc, lo sợ mà không kịp mừng rở:

Trời ơi ! Má đi đâu vậy? Con đã dặn, con gởi tiền về cho má. Lâu lâu, con về thăm má. Đi chi vậy. Cho khổ thân.

Nói xong, cô gái ôm chầm lấy mẹ.

Bà già cảm động, mừng gặp con, cũng xụt xùi nước mắt. Kéo cái khăn trên cổ, chậm nước mắt, vuốt tóc con gái, vừa nói:

Má hỏi, may có cô chủ nhà nói ở đây có cô L…on, quê ở Rạch giá ở đậu …Má nghi nghi nên ngồi chờ. May ra. Đi bộ lâu, cũng mỏi cẳng rồi.

Ai ngờ là con ở đây. Mà con ơi, con đổi tên của cha mẹ đặt chi vậy?

«L…on – Gáo» gì, cũng vậy, chớ có gì khác đâu. Con đổi tên làm chi vậy, cho má khó kiếm con nữa. May mà có cô ở đây …tử tế … (Loan, bà già không phát âm được nên với bà, đó là LON).

Gáo là dụng cụ múc nước rất thông dụng ở nhà quê miền nam, làm bằng cái vỏ cứng của trái dừa khô, sau khi đã lấy uuớc và cơm dừa rồi. Hai bên, người ta đục 2 cái lổ thẳng hàng, xỏ vào một thanh tre làm cáng cầm khi sử dụng. Múc nước xong, gáo được móc lên cây đinh đóng vào cây cột hoặc vách ván cạnh lu nước.

Cái Gáo bên cạnh lu nước là hình ảnh quên thuộc của xóm nhà là ở nhà quê miền nam.

Lon và tiếng Việt

Trong thực tế đời sống xã hội Việt nam từ xa xưa, ít lắm cũng cách nay hơn nửa thế kỷ, đã có từ LON và rất phổ thông.

Từ LON được đem vào Từ điển Việt nam, nghĩa là nó đã trở thành chánh thức cho  sử dụng. LON được Từ điển Việt nam (internet) định nghĩa rất chi tiết:

LON là danh từ có nghĩa như dưới đây:

– thú rừng cùng họ với cầy móc cua, nhưng nhỏ hơn.

– hộp đựng sữa hoặc nước giải khát, thường bằng kim loại

bia lon

lon nước ngọt

– bơ (phương ngữ)

đong mấy lon gạo nếp

nấu ba lon gạo

– vại nhỏ, chậu nhỏ bằng sành

lon nước gạo

nén một lon cà

-phù hiệu quân hàm (khẩu ngữ)

đeo lon đại uý. Xin nói thêm khi được lên Lon, được móc Lon, người này phải đãi bạn bè một chầu nhậu, gọi là «Rửa Lon».

Thông thường, khi một tiếng được đưa vào Từ điển, tiếng ấy đã trải qua một thời gian dài trong sử dụng. Tiếng LON được nhắc lại trong trò chơi của đám trẻ con nhà nghèo cách nay hơn nửa thế kỷ, như vậy tiếng LON phải xuất hiện trước đó khá lâu. Và chắc từ thời Tây ở Việt nam, dùng đồ hộp. Trước khi cái Bộ Văn hóa ra đời. Hay còn trước cả cái Việt nam Dân chủ Cộng hòa nữa kìa! Chắc chắn Lon là tiền bối của Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở!

Như người Bắc gọi cái cốc, dân Nam kỳ kêu cái ly. Cái «cốc» (cup – tasse) do người Hòa-lan đem tới Miền Bắc rất sớm, từ thế kỷ XVII.

Phản cảm, thiếu Văn hóa, trái Thuần phong mỹ tục

Đó là khẳng định của Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VH-TT-DL) trong công văn gửi các Sở VH-TT-DL các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương về việc chấn chỉnh hoạt động quảng cáo sản phẩm Coca-Cola, được đăng trên Cổng thông tin Điện tử của Bộ VH-TT-DL vào chiều 28/6/2019. Ngay lập tức công văn này vấp phải ý kiến trái chiều của dư luận. Một số nhà nghiên cứu ở Việt nam có ý kiến: «Không phản cảm, không thiếu Văn hóa, không trái Thuần phong mỹ tục».

Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hoàng Tuấn Công, tác giả sách “Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu” cho biết: Những cuốn từ điển trước năm 1930, ví dụ như cuốn “Việt Nam từ điển” của Hội Khai trí Tiến đức đã ghi nhận từ “lon”.

Giải nghĩa của chữ “lon” theo Từ điển này như sau: “Lon là một chậu lòng nông, thành cứng”. Ví dụ như “lon giã cua”, hay câu “Cái lon xách nước, cái lược chải đầu..”.

Trong các câu hát đồng giao thì từ lon cũng đã được sử dụng từ lâu trong dân gian và quá thông dụng.

Theo từ điển ghi nhận đến bây giờ từ “lon” cũng đã xuất hiện gần 100 năm. Và từ “lon” đã tồn tại từ trước đó rồi, không phải đến khi từ điển ghi nhận thì nó mới xuất hiện.

Trả lời câu hỏi của Phóng viên Báo NNVN về cụm từ “Mở lon Việt Nam” theo đánh giá của Cục Văn hóa cơ sở là “vi phạm thuần phong mỹ tục”, ông Hoàng Tuấn Công khẳng định: “Theo tôi, cụm từ “Mở lon Việt Nam” không có gì trái thuần phong mỹ tục cả, đấy đều là những từ thông dụng. Chẳng qua trong ngữ cảnh “lon Việt Nam” thì nghe nó lạ, đáng nhẽ nếu gọi là “lon Coca – Cola Việt Nam” thì sẽ không gây nên sự nghi ngại gì. Việc gọi tắt là “Mở lon Việt Nam” thì tự các nhà quản lý văn hóa nghĩ nó trái thuần phong mỹ tục thế thôi, còn về nguyên tắc cụm từ “Mở lon Việt Nam” không có gì là trái thuần phong mỹ tục cả”.

Còn PGS. TS Phạm Văn Tình, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt nam khẳng định: Tổ hợp “Mở lon Việt Nam” của Coca – Cola không có vấn đề gì. Luật Quảng cáo được áp dụng cho tất cả người Việt Nam và những đối tác kinh doanh với người Việt Nam ở trên đất nước Việt Nam, cho nên sử dụng từ Việt Nam chẳng có vấn đề gì là vi phạm.

Honda họ sử dụng slogan “Tôi yêu Việt Nam”, Bitis có slogan “Nâng niu bàn chân Việt”, hay những chương trình khác vẫn dùng 2 chữ Việt Nam đi cùng đấy chứ. Một trong những nguyên tắc người ta làm slogan hay làm quảng cáo, người ta có quyền rút gọn hoặc tạo ra các cấu trúc mới, lạ, gây ấn tượng, miễn là nó không đi quá xa. Cho nên cấm không cho sử dụng từ Việt Nam, từ Hà Nội hay bất kỳ từ nào đi kèm trong quảng cáo sản phẩm nghe nó không ổn. Ông Tình, Tổng Thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, quả quyết thêm: “Trong tất cả các từ “lon” tồn tại trong tiếng Việt thì không hề có nghĩa xấu” (Báo Nông Nghiệp, Khải Mông – Như Đông).

Thế mà khi thực hiện chỉ đạo của Cục Văn hóa cơ sở, Sở VH-TT-DL Hà Nội đã chỉ đạo tháo dở biển quảng cáo với slogan “Mở lon Việt Nam” ở khu vực Ô Chợ Dừa và phạt hành chính 25 triệu đồng với sự việc này (Báo Nông Nghiệp, Khải Mông – Như Đông).

Văn hóa LON

Bà Cục Trưởng Ninh thị Thu Hương cho rằng «mở lon là phản cảm, thiếu văn hóa, trái thuần phong mỹ tục» vì bà nghĩ khi nói LON là bà phải thêm dấu, đội nón cho nó. Làm Văn hóa tới Cục Trưởng Cục Văn hóa, bà không thể nghĩ gì khác hơn. Không nghĩ phải thêm dấu, đội nón chữ Lon là chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Là tha hóa, là mất lập trường giai cấp.

Nhơn cơ hội này, tưởng cũng nên nhắc lại Người với vài «thành tích Lon» theo nghĩa «lon» của bà Cục Trưởng Thu Hương, để nhờ đó làm toát lên thêm nghĩa của từ «Lon và văn hóa lon» của bà.

Bác Hồ của Cục Trưởng, năm 1924 ở Quảng châu, được gia đình bên vợ cửa Lâm Đức Thụ cho ăn ở và qua sự giới thiệu của Lâm Đức Thụ, bác lấy cô Lý Huệ Khanh là em của bà Lý Huệ Quần, vợ của Lâm Đức Thụ, tuy Hồ đã có Tăng Tuyết Minh rồi. Số Hồ hên về Lon, có 2 Lon «ma – zê in china» cùng lúc.

Sau khi vượt ngục Hồng kông được tổ chức an toàn năm 1932, Hồ Chí Minh qua Nga dưỡng bịnh. Ở đây, Hồ có cô bồ người Nga, Vera Vasilievna, người đã hết lòng bảo vệ Hồ  khi Hồ bị Ban Thẩm Tra ở Quốc Tế Cộng Sản điều tra, và bị bắt buộc học tập cải tạo tập trung, có thời gian khá dài, bị Staline cho đi lao động tại nông trường. Nơi đây, Hồ có bắt bồ với một nữ nông dân Nga, có với cô bồ này một người con trai. Khi Hồ làm Chủ tịch, người con trai này sống ở Nga và được Tòa Đại sứ Hà nội tại Moscou trợ cấp hàng tháng. Cứ mỗi đầu tháng, anh chàng tới Tòa Đại sứ lãnh tiền (Vũ Thư Hiên kể, do lúc Vũ Thư Hiên học ở Nga; nhờ bạn xắp xếp, được trông thấy 1 lần).

Theo địa chỉ tìm thấy trong cuốn sổ Voyageur Représentant Placier Cách mạng (VRP de la Révolution), cảnh sát Anh ở Hồng kông, vào 2 giờ sáng ngày 6/6/1931, đột nhập tầng lầu 2, nhà của T.V.Wong mướn tại số 168 đường Tam Công (Tam Kung), khu người Hoa ở Cửu Long. Nhà chức trách bắt được 2 người cùng nằm trên một giường, y phục thiếu, có lẽ vì Hồng kông oi bức do người đông đúc, nhà cửa chật hẹp. Người đàn ông khai tên là Sung Man Sho (Tống Văn Sơ). Người đàn bà trẻ tự khai là người Quảng Đông , tên Li Sam (Lý Tam). Cuộc thẩm vấn tại chỗ cho biết Wong, người thuê nhà, và Sung, người ngủ trên giường cùng người nữ, chỉ là một và đó là Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau này.

Về  Li Sam, tên thật là Ly Ung Thuan (Lý Phương Thuận hay Lý Huệ Phương). Theo Nguyệt Tú (Chị Minh Khai, NXB Phụ Nữ, Hà Nội 1980, trang 42): “Từ ngày đặt chân lên đất Trung Quốc, với bộ quần áo cải trang làm người con gái Trung Hoa, dưới cái tên Duy, rồi Trần Thái Lan, rồi Lý Huệ Phương khác nhau, Minh Khai nhiều lần vượt qua lưới mật thám Anh, Pháp ”.

Thế là bác của Cục Trưởng Thu Hương có thêm 1 cái Lon “ma-zê in liên-xô ” và 1 cái Lon “ma–zê in Việt nam”. Sau đó, bác đẩy qua cho đồng chí Lê Hồng Phong. Từ đó, bác còn thêm bao nhiêu cái Lon nữa? Phải Bộ Chánh trị ở Hà nội mới biết.

Như vậy phải nói bác Hồ đúng là người của văn hóa lon. Nhưng vốn con người cộng sản tinh ròng, bác chỉ sử dụng Lon, mà không bao giờ giữ Lon. Vì giữ riêng Lon cho mình là nặng tinh thần sở hữu, thứ văn hóa tư sản, mất quan điểm giai cấp. Với cộng sản, tất cả là của ta cả mà!

Năm 1990, rất tiếc Unesco đã không chọn Hồ Chí Minh là nhà văn hóa. Nay Cục Trưởng Cục Văn hóa Cơ sở còn đợi gì nữa mà không suy tôn bác là nhà văn hóa Lon trác tuyệt?

Nguyễn thị Cỏ May

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Văn Hóa Lon_Ng. Thị Cỏ May

Chiếc Lá Cuối Mùa_Nhạc Lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chiếc Lá Cuối Mùa_Nhạc Lê Hữu Nghĩa