Những Khó Khăn của VN hiện nay_Fb Diệu Hằng

Dieu HangNhững khó khăn của Việt Nam hiện nay

DIỆU HẰNG

2 ngày sau khi đăng bài viết đầy tâm huyết này lên FB của cô, FBer Diệu Hằng, tức Huỳnh Thị Tố Nga, bác sĩ tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn, đã bị công an bắt đi vào ngày 28.1.2019.

Dù là chính phủ lâm thời của ông Juan Guiado vẫn chưa được ổn định vì sẽ còn đối mặt rất nhiều khó khăn trước mắt, nguy cơ khó khăn nhất là sự “giãy chết” của cựu Tổng thống độc tài Maduro, chắc chắn là Maduro sẽ tìm mọi cách gây biến động và Chính phủ ông Juan Guiado phải đối phó mọi mặt, nhưng bù lại, họ có sự trợ giúp từ Quốc Tế, cụ thể là Hoa Kỳ. Khó khăn kế tiếp là Juan Guiado tiếp nhận một đất nước đã bị tàn phá về kinh tế nặng nề, việc sắp xếp các phe phái chính trị và kiến thiết lại quốc gia sẽ không dễ dàng cho ông.

Nhưng dù sao, kiến thiết quốc gia vẫn sẽ dễ dàng hơn là quá trình lật đổ cả một chế độ độc tài, những khó khăn đó họ còn vượt qua được thì việc kiến thiết quốc gia họ sẽ cùng nhau xây dựng lại nhanh chóng mà thôi. Tuy chưa chính thức nhưng chúng ta vẫn chúc mừng cho Venezuela sẽ có một tương lai tươi sáng.

VIỆT NAM THÌ SAO?

Rất nhiều người nhìn về Venezuela rồi tự nhiên so sánh với Việt Nam, sự so sánh hiển nhiên bởi vì trong mỗi con người Việt Nam, họ khao khát điều đó, khao khát tự do, dân chủ.

Ở đây, chúng ta nhìn thấy sự khó khăn của Việt Nam so với Venezuela thế nào?

Nhìn bề ngoài, có lẽ đa số sẽ nghĩ hiện tình ở Việt Nam dù sao cũng tốt hơn Venezuela, ít nhất kinh tế Việt Nam vẫn chưa kiệt quệ đến nỗi người dân phải bới thùng rác tìm thức ăn, ít nhất Chính trị Việt Nam vẫn chưa xảy ra bạo lực khắp nơi, ít nhất Việt Nam vẫn chưa xảy ra tình trạng hàng triệu người phải di dân sang các nước lân cận,…

Đúng vậy, nhìn bề ngoài thì như thế, có vẻ Việt Nam chưa khánh kiệt như Venezuela. Thế nhưng, người viết nói rằng, Việt Nam so với Venezuela sẽ khó khăn nghiêm trọng hơn nhiều, nguy hiểm hơn nhiều thì quý vị nghĩ sao? Và tại sao như vậy?

Muốn hiểu rõ những điều này, chúng ta hãy nhìn vào cơ chế chính trị của hai quốc gia.

Thứ nhất, đối với Venezuela, mặc dù suốt gần hai trăm năm kể từ khi độc lập, đã trải qua các chế độ chính trị không thật sự là dân chủ nhưng họ vẫn duy trì được đa đảng, vẫn duy trì đảng đối lập, mặc dù đảng cầm quyền độc tài, nhưng ít nhất, người dân của họ cũng đã có ý thức về dân chủ, có ý thức đấu tranh chống độc tài. Còn ở Việt Nam, Miền Bắc đã trải qua hơn 73 năm và Miền Nam hơn 43 năm dưới ách cai trị của cộng sản, chỉ có độc đảng cầm quyền, lại bị tuyên truyền, nhồi nhét ý thức hệ của cộng sản, mặc khác, phong trào đấu tranh dân chủ bị đàn áp triệt để cho nên hầu như người dân Việt Nam đã muốn tê liệt và mất ý chí đấu tranh. Đây là yếu tố quan trọng nhất làm cho công cuộc đấu tranh ở Việt Nam rất khó khăn.

Thứ hai, sự tê liệt của Venezuela chủ yếu là do tê liệt về kinh tế hơn là về chính trị. Bởi vì đảng cầm quyền Venezuela độc tài và tham tàn, cho nên họ duy trì chính sách thâu tóm quyền lợi kinh tế, bóp nghẹt sự phát triển kinh tế tư nhân, nạn tham nhũng tràn lan làm cho kinh tế lâm vào khủng hoảng, thời kỳ thịnh vượng của họ chẳng qua phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ rất lớn. Venezuela duy trì đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa và kết cục chúng ta đã thấy. Còn Việt Nam, về kinh tế, cũng duy trì đường lối độc tài, thâu tóm quyền lợi kinh tế quốc gia về cho đảng cầm quyền, lại thêm sự độc tài toàn trị về chính trị làm cho nhân dân Việt Nam phải chịu nhiều tầng áp bức, nghèo nàn về kinh tế, ngạt thở về chính trị làm cho sự nhận thức u tối đi.

Thứ ba, ý thức và tư tưởng rất quan trọng cho sự phát triển và phát huy tiềm năng của con người, thế nhưng dưới chế độ cộng sản, ý thức và tư tưởng hầu như bị triệt tiêu, chúng giáo dục công dân đi theo một đường lối duy nhất do chúng đưa ra, nhồi nhét công dân trở nên u tối, có lẽ công dân venezuela vẫn còn may mắn hơn công dân Việt Nam vì họ không bị nhồi sọ để trở nên vô cảm, thờ ơ với chính trị.

Thứ tư, Venezuela giống như hầu hết các quốc gia Nam Mỹ, là một quốc gia theo Công giáo Rôma. Ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo ở nước này có từ thời thực dân Tây Ban Nha. Theo ước tính của chính phủ, 92% dân số trên danh nghĩa là tín hữu Công giáo Rôma, và còn lại 8% là Tin Lành, các tôn giáo khác, hoặc vô thần. Chúng ta có thể thấy, gần 100% công dân các quốc gia này có tôn giáo rất phát triển, vậy nên công dân họ được giáo dục tốt, có đức tin và đạo đức cũng sẽ không suy thoái như cộng sản chủ trương vô thần. Đạo đức là một đức tính quan trọng để chấn hưng Nhân Khí cho mỗi quốc gia.

Thứ năm, một yếu tố cực kỳ nguy hiểm mà Venezuela không bị như Việt Nam đó là sự xâm lược, muốn đồng hóa giống nòi của Trung cộng. Lịch sử dân tộc đã chứng minh, Trung cộng không bao giờ từ bỏ dã tâm chiếm lấy và đồng hóa Việt Nam vì chúng cho rằng Việt Nam là một phần của chúng và Việt Nam phải thu về mẫu quốc. Đây là dã tâm muốn diệt tận gốc giống nòi Lạc Việt và đồng hóa trở thành Hán Trung. Người viết đã khóc khi đọc qua những tài liệu lịch sử ghi chép về sự dã tâm của Trung cộng muốn diệt chủng nòi Việt của chúng ta. Nếu quý vị có tinh thần Dân Tộc, quý vị sẽ thấy, sự nghèo đói, sự ô nhiễm môi trường, sự đàn áp cướp bóc, …tất cả điều gây đau khổ cho nhân dân, nhưng tất cả những điều đó nó không là gì so với sự diệt chủng giống nòi Lạc Việt của chúng ta. Và Trung cộng vẫn đang làm điều đó dưới sự tiếp tay ngu dốt của ĐCS. Vậy nên, tình hình của chúng ta nguy cấp hơn so với các quốc gia khác.

Quý vị có thể nhìn thấy, Việt Nam thật sự đang đối mặt khó khăn hơn bất cứ quốc gia cộng sản nào, thế nhưng có thể nói tinh thần đấu tranh của người Việt Nam lại kém cỏi nhất. Bởi vì tầng lớp đáy tầng chiếm hơn 70% dân số nhưng kiến thức chính trị của họ rất thấp, bởi vì nghèo nàn làm họ phải bươn chải kiếm sống, lại thêm sự nhồi nhét đường lối của CS làm cho họ thờ ơ tìm hiểu về chính trị. Tầng lớp trung lưu trí thức chiếm tỷ lệ ít hơn (khoảng 20%) có tư tưởng tìm hiểu chính trị nhưng họ cũng chưa dứt khoát bày tỏ quan điểm của họ. Còn lại là đảng viên đảng CS. Việt Nam ví như con sóng ngầm dữ dội đang bị kiềm nén chứ không phải yên bình như bề ngoài giả tạo của nó.

Những khó khăn là vậy, hiểu được nó để xác định được chúng ta cần làm gì là chính yếu, và làm như thế nào. Vạn sự điều có lối đi, mọi con đường đều sẽ đến La Mã. Muốn bớt gian nan thì tìm đường thuận lợi mà đi, không tìm được thì phải đi con đường khó khăn hơn, còn nếu không muốn đi thì mọi con đường sẽ đóng lại.

Không có gì cao xa cả, vạn vật trong vũ trụ đều có quy luật vận hành của nó, quan trọng là thấy được nó, hiểu được nó và muốn đi theo sự vận hành của nó hay không là do chúng ta!

FB. Diệu Hằng

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những Khó Khăn của VN hiện nay_Fb Diệu Hằng

Thư cám ơn của Nguyễn văn Suốt (Mỏ Cày/Bến Tre)

“Ngày 19 tháng 1 năm 2019
Quý Bằng Hữu Đồng Môn Thân Kính,
Suốt đã qua cơn phẫu thuật đại tràng xuất huyết nặng, nằm bệnh viện hôm 24/12/2019. Hôm nay hồi phục được 70% (về nhà nghỉ dưỡng).
Anh Trần Ngọc Bửu (ở Saigon) gọi điện thoại thông báo: Anh Bửu Hồng gởi về một số tiền (đâu khoảng 1000 USD) của tất cả bằng hữu bên ấy gởi giúp (tôi sẽ xác nhận khi nhận đủ).
Gia đình tôi xúc động và vui mừng, tri ân những tấm lòng vàng mà quý bằng hữu đã cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ tôi đủ đầy từ vật chất đến tinh thần, hiện tại cũng như quá khứ! Không biết phải nói gì hơn nữa.
Kính chúc quý Bằng Hữu cùng toàn thể quý quyến Năm Mới (Kỷ Hợi 2019) luôn được Bình An, Khỏe Mạnh, Hạnh Phúc và May Mắn.
(Anh chị Mã Thành Vinh về có ghé thăm tôi)
Thành kính chào quý bằng hữu.
Ký tên: Suốt“
Ghi chú : Số tiền Khóa 1 đã thu góp được tổng cộng là $1940 USD . Bạn Bửu Hồng sẽ nhờ bạn TN Bửu ở VN chuyển cho Suốt, CNN sẽ báo cáo sau.
20190221_193752
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư cám ơn của Nguyễn văn Suốt (Mỏ Cày/Bến Tre)

Xa Cách Muôn Trùng_(Nhạc) Lê Hữu Nghĩa

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Xa Cách Muôn Trùng_(Nhạc) Lê Hữu Nghĩa

Vài Suy Nghĩ Về Chuyện Phủ Cờ_Toàn Như

H1Vài Suy Nghĩ Về Chuyện Phủ Cờ

TOÀN NHƯ

(ĐS Phượng Hoàng Xuân Kỷ Hợi 2019) Người lính trẻ của Việt Nam Công Hoà nhập ngũ vào đầu năm 1975 trước khi miền Nam sụp đổ nếu còn sống sót đến hôm nay chắc chắn đã trở thành những người lính già trên xứ tạm dung. Những người lính già một thời trai trẻ ấy nay hầu hết đã và đang bước vào tuổi cổ lai hy mà theo quy luật của đời người, họ đang đi dần đến chặng cuối của vòng sinh lão bệnh tử. Hàng ngày, nhìn vào những trang cáo phó, phân ưu, lòng không khỏi chùng xuống khi đọc tới tên những người quá cố phần lớn là tên của những chiến hữu mà tuổi thọ cũng chỉ vừa trên dưới độ tuổi được cho là cổ lai hy này.

Những người lính trẻ năm xưa đó một số không nhỏ đã và đang bước đến chặng ga cuối của cuộc đời nói gì đến những người lính cũ có số thâm niên quân ngũ hay công vụ nhiều hơn trước họ. Nhưng không chỉ những người lính cũ mà cả những người ‘di tản buồn’ năm nào cũng không vượt thoát ra khỏi số phận. Chuyện tử sinh là lẽ thường tình của thế gian, nhưng điều đáng nói là, nhiều người trong số họ trước khi xuôi tay về bên kia thế giới rất muốn hình hài họ được ấp ủ dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam Cộng Hòa mà một thời họ đã từng phục vụ và chiến đấu vì nó. Thế nhưng ước nguyện ấy, việc làm ấy nhiều khi đã không được đáp ứng chỉ vì đã có những sự chỉ trích, dèm pha bị cho là lạm dụng, thậm chí mỉa mai là làm thân chiến bại lạc loài nơi đất khách còn vinh dự gì để được phủ lá quốc kỳ.

Trong năm vừa qua, một chiến hữu trong Ban Chấp Hành Hội CSQG Nam Cali, anh PVC* bỗng đột ngột từ trần. Sự ra đi của anh đã để lại nhiều thương tiếc cho bạn bè và người thân. Anh là một chiến hữu rất tích cực trong nhiều sinh hoạt cũng như công tác của Hội. Trước năm 1975, anh từng là một sĩ quan CSQG tốt nghiệp Học Viện CSQG, rất tận tụy với công vụ, và trong nhiệm vụ bảo quốc an dân anh đã có nhiều đóng góp đáng kể vào những thành quả của ngành CSQG tại địa phương nơi anh phục vụ. Sau năm 1975, cũng như bao quân dân cán chính khác, anh đã bị 7 năm tù cộng sản, và suốt trong thời gian bị tù đày trải qua nhiều trại tù từ Nam ra Bắc, qua các bạn tù kể lại, anh vẫn giữ vững khí tiết của một người sĩ quan CSQG, không làm điều gì hổ thẹn cho mầu cờ sắc áo.

Sau khi nghe tin anh PVC qua đời, người viết đã liên lạc với vợ của anh, để hỏi thêm một vài chi tiết liên quan đến cái chết của anh để Hội có những sự giúp đỡ tương trợ cần thiết. Qua điện thoại, chị N., vợ anh đã nói trong nước mắt rằng, anh C. là một người rất trân quý lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lúc còn sinh tiền, Anh đã từng nhiều lần thổ lộ với chị rằng, nếu một mai anh chết đi, anh ước nguyện được ấp ủ dưới lá cờ thân yêu của tổ quốc VNCH. Do đó, chị thỉnh cầu Hội hãy giúp chị thực hiện ý nguyện của anh bằng một lễ phủ cờ trong tang lễ của anh.

Người viết cũng thực sự xúc động khi nghe chị N nhắc lại ước nguyện của anh PVC. Sau đó, chúng tôi đã truyền đạt lại lời thỉnh cầu của chị N. tới quý anh trong Hội CSQG Nam CA và Tổng Hội CSQG. Nghe xong, mọi người đều đồng ý sẽ thực hiện di nguyện của anh vì anh xứng đáng được hưởng cái vinh dự này. Thế nhưng thật đáng tiếc, sau khi tang lễ anh C. đã hoàn mãn, vẫn có lời ong tiếng ve, người nói ra kẻ nói vào một việc làm đầy ý nghĩa này.

Thật ra, đã từ lâu việc phủ cờ trên quan tài một người vừa nằm xuống tại hải ngoại vẫn gây ra nhiều tranh cãi. Việc tranh luận về việc phủ hay không phủ Cờ Vàng lên quan tài người cựu chiến sĩ hay người tị nạn qúa cố có lẽ sẽ còn là đề tài gây tranh luận kéo dài không bao giờ chấm dứt. Bên nào cũng có những lý lẽ hợp lý theo ý chủ quan của họ. Tuy nhiên, có nên qúa khắt khe đối với việc phủ cờ này hay không?

Theo thiển ý của người viết, việc phủ cờ hôm nay ở hải ngoại chỉ là một hình thức để vinh danh những người đã từng phục vụ cho Tổ quốc (VNCH). Những cống hiến của họ, trước năm 1975, không nhiều thì ít, đã góp phần vào công cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam trước sự xâm lăng và phá hoại của cộng sản; nhưng tiếc thay, họ chưa được vinh danh thì miền Nam đã rơi vào tay cộng sản. Vì vậy, ngày nay, khi họ nằm xuống, nếu có vinh danh họ (muộn màng) bằng một lá cờ vàng thì cũng nào có gì quá đáng. Dĩ nhiên, việc phủ cờ này sẽ không dành cho những người đã phản bội tổ quốc bằng cách này hay cách khác, như hợp tác với kẻ thù xưa cộng sản, hay phá hoại sự đoàn kết của người Việt quốc gia tại hải ngoại. Chính vì có những trường hợp lạm dụng việc phủ cờ một cách bừa bãi và đôi khi bất xứng (như trường hợp ông tướng NCK ngày nào) đã làm mất đi ý nghĩa và gía trị cao quý của lá cờ vàng, biểu tượng thiêng liêng của người Việt tự do tại hải ngoại. Đối với những người Việt lưu vong tại hải ngọai hôm nay, nếu họ đã có một thời tận hiến, đã từng chiến đấu, phục vụ cho nền Cộng Hòa Việt Nam, dù họ không thành công bảo vệ được Tổ quốc trước sự xâm lăng của cộng sản, thiết tưởng họ vẫn xứng đáng để được phủ lá cờ mà họ đã thương yêu, đã từng sống và chiến đấu vì nó.

Nhiều người lầm tưởng rằng việc phủ cờ chỉ áp dụng cho những quân nhân đã hy sinh ngoài mặt trận; tuy nhiên, nó cũng có thể áp dụng cho cả những người dân sự, công chức đã hy sinh vì công vụ vì cái chết của họ cũng là phục vụ cho tổ quốc. Riêng tại hải ngoại, đó là cách để xác định căn cước tị nạn của người vừa nằm xuống. Bởi họ đã từng là công dân của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa và đã từng phục vụ và chiến đấu dưới lá cờ vàng này.

Có lần, người viết được một hậu duệ là con của một thân hữu nguyên là một cựu quân nhân Quân Lực VNCH báo tin thân phụ anh vừa qua đời. Anh khẩn khoản nhờ tôi giúp cho thân phụ anh có được một lễ phủ lá cờ vàng theo nguyện vọng của người cha trước phút lâm chung. Khi người viết nêu vấn đề này ra với hội đoàn mà thân phụ anh từng sinh hoạt, nhiều người ngần ngại tỏ ý không tán thành vì sợ rằng họ sẽ bị phê phán là lạm dụng. Tuy nhiên, sau nhiều ý kiến tranh luận, mọi người cuối cùng cũng đã đồng ý rằng việc thực hiện theo nguyện vọng của người đã khuất không phải là một sự lạm dụng mà là để xác định người quá cố đã từng là một chiến sĩ quốc gia VNCH đã từng chiến đấu dưới lá cờ này. Sự phủ lá cờ thiêng của tổ quốc chẳng khác gì người chiến sĩ ấy đã nằm lại trên quê hương Việt Nam, mặc dù người ấy đã bỏ thân xác ở hải ngoại. Nhờ có lá cờ thiêng mà vong linh người ấy luôn luôn được ấp ủ bởi hồn thiêng của sông núi Tổ quốc VNCH. Khi nghe được quyết định ấy, người con của người chiến sĩ vừa nằm xuống đã không giấu được niềm xúc động, lệ đã tràn trên khoé mắt anh vì anh đã thực hiện được lời ước nguyện cuối cùng của người cha quá cố.

Người Mỹ khi nói về ý nghĩa của việc phủ cờ, họ đã giải thích rằng đó là việc để “Honoring Those Who Served”, nghĩa là vinh danh những người đã từng phục vụ cho đất nước. Sự phục vụ phải hiểu theo một nghĩa rộng rãi, không chỉ dành riêng cho các quân nhân tử trận hay hy sinh vì công vụ, mà còn dành cho cả những viên chức ngoài quân đội đã hy sinh. Việc phủ quốc kỳ trên quan tài người quá cố là một hành động để vinh danh và ghi công về những việc làm hay những đóng góp của người quá cố đối với quốc gia.

Nếu hiểu như vậy thì tại sao chúng ta không bao dung áp dụng việc phủ cờ cho những người đã một thời từng phục vụ cho tổ quốc Việt Nam Cộng Hoà. Tại sao chúng ta cứ qúa câu nệ và có những đòi hỏi khắt khe đối với việc phủ cờ cho những người đã từng sống, chiến đấu và phục vụ dưới lá Cờ Vàng nếu họ không làm điều gì sai trái hổ thẹn với tổ quốc?

Cuối cùng, người viết xin mượn vài câu thơ mang ý nghĩa “mai tôi chết Cờ Vàng xin được phủ” lượm lặt được trên ‘net’ xin phổ biến lại thay cho một lời kết:

“…Mai tôi chết Cờ Vàng xin được phủ,

Để xác thân ấp ủ với sơn hà,

Để hồn tôi trọn nghĩa với Quốc gia,

Để sống thác được hoài mang lý tưởng.

Trước vận nước gieo neo,

Vững tay chèo định hướng.

Dù nhiễu nhương che lấp khắp nẻo đường,

Dù thân mình có lắm nỗi tang thương,

Ta cũng quyết không lùi một bước…” (Thơ Lê Chân)

Hay:

 “…Khi tôi chết xin Cờ Vàng che phủ
Như một lời nhắn nhủ với quê hương
Với Cộng nô tôi quyết chẳng chung đường
Tôi khinh bỉ vô cùng phường bán nước…” (Thơ Nguyễn Đạt)

TOÀN NHƯ

*PVC là C/H Phạm Văn Cư, cựu SVSQ K1/HVCSQG, nguyên Phó Nội Vụ HAH/CSQG Nam CA.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vài Suy Nghĩ Về Chuyện Phủ Cờ_Toàn Như

Chú Xe Ôm_Truyện ngắn

xe omCHÚ XE ÔM

(Không rõ tác giả)

Cả một đời ta học qua nhiều thầy cô giáo quá nên không thể nhớ hết, không thể đền ơn hết. Nhưng mong rằng trong trái tim ta, bất cứ thầy cô nào cũng tràn đầy ân nghĩa.

Chú xe ôm dừng xe trước cổng cho cô sinh viên xuống. Bất ngờ cô đưa chú gói quà và nói:

– Chú về nhà rồi mở ra xem nhé. Bắt đầu ngày mai cháu không đi học nữa, hôm nay cháu đã tốt nghiệp rồi. Cám ơn chú nhiều.

Chú xe ôm về nhà, cất xe, vào phòng mở gói quà ra, ngoài bộ quần áo còn có cả số tiền rất lớn, và một bức thư như sau:

”Thưa thầy, em là Tuyết Lan học toán với thầy năm lớp sáu ở trường Nguyễn Trãi. Lên lớp chín thì em nghe tin thầy bị giảm biên chế, đồng thời thầy cũng bị đau dây thanh quản nên khó nói. Từ đó thầy đi lái xe ôm kiếm sống, lúc nào cũng đeo khẩu trang kín mít để đừng có học trò nào nhận ra. Nhưng em đã nhận ra thầy khi thầy ngồi đón khách ở ngã tư Bình Hưng. Từ đó, em không tự đạp xe đi học nữa mà đặt mối thầy chở em đi học suốt hết lớp chín, hết phổ thông, và lên đại học.

Sáng nào đi học em cũng lấy theo 3 phần ăn, một cho em đến lớp ngồi ăn, hai biếu thầy một phần, và ba là  biếu bà bán vé số nghèo ở góc đường Nguyễn Du. Ngày nào em cũng mua cho bà mấy tờ vé số, rất mong trúng số, nhưng chẳng hy vọng lắm.

Bố mẹ em hay thắc mắc về hành vi của em, nhưng vì cưng em nên bố mẹ cũng chìu ý em.

Em phát hiện thầy rất yêu nghề dạy học. Dù không đến lớp nữa, nhưng thầy đã lập một trang web dạy kèm cho tất cả ai bị yếu toán. Thầy đã dạy dỗ tận tình, giúp nhiều bạn lấy lại căn bản toán bị mất, để các bạn có nền tảng học tiếp. Thầy cứ tập trung hướng dẫn biết bao học sinh trung học cơ sở trở nên vững về toán.

Thì ra ban ngày thầy chạy xe ôm, ban đêm thầy lên internet để dạy học miễn phí. Em nhận ra thầy vì cái cách nói quen thuộc của thầy  “Học như các em thì còn lâu mới thành bác sĩ”. Lên mạng rồi mà thầy vẫn nói câu bông đùa như thế. Thầy vẫn hay nói vào cuối các buổi học là các em gắng học để sau này phụng sự cho đời. Bây giờ lên mạng thầy vẫn nói câu đó. Trong cuộc đời thực, thầy là chú xe ôm đen đúa vất vả, nhưng trên mạng thầy vẫn còn uy phong của một thầy giáo tận tụy hiền lành thông minh.

Hình như trời không phụ lòng người, thầy không biết là em  mua mãi rồi cũng trúng số độc đắc, lúc đó em đang học năm thứ ba. Em lĩnh tiền rồi đưa hết vào gửi tiết kiệm ở ngân hàng. Em kiên nhẫn chờ đến hôm nay.

Hôm nay em đã tốt nghiệp nên sẽ không còn đi xe ôm nữa mà sẽ tự lái xe máy đi làm. Em kính biếu thầy toàn bộ số tiền trúng số độc đắc của em như chút tấm lòng của người học trò ngày xưa, mà sự thành công của em hôm nay đã có bàn tay tấm lòng của thầy trong đó.”

Bụi phấn rơi cho lòng ai mở lối

Làm nhịp cầu thuở trước nối thuở sau

Bài chưa xong ngồi cặm cụi đêm thâu

Ơn người dạy, bạc mái đầu khó trả.  (sưu tầm)

Cả một đời ta học qua nhiều thầy cô giáo quá nên không thể nhớ hết, không thể đền ơn hết. Nhưng mong rằng trong trái tim ta, bất cứ thầy cô nào cũng tràn đầy ân nghĩa. Còn thầy cô nào có duyên thì ta cố gắng giữ liên hệ để luôn bày tỏ tấm lòng của mình. 

(Nguồn: haingoaiphiemdam.net)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chú Xe Ôm_Truyện ngắn

Chân Dung Người Lính VNCH_Ng~T. Thảo An

Image result for chân dung người lính VNCHCHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH VNCH

Nguyễn thị Thảo An

Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.
Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.
Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.
Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.
Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả… cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.
Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.
Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.
Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.
Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.
Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.
Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.
Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.
Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.
Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
Image result for chân dung người lính VNCHNgày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.
Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?
Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.
Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?
Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.
Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.
Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.
Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.
Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.
Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.
Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.
Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên)
Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?
Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.
Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.
Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.
Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.
Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.
Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.
Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.
Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề “xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản”. Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.
Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà. 
Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ 
như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, 
thì dân tộc ta mới mong có được những
truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.
Nguyễn thị Thảo An

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chân Dung Người Lính VNCH_Ng~T. Thảo An

DƯỚI BÓNG MÁT CỦA LÁ CỜ “BA QUE”_Hoàng Ngọc Mai

picDƯỚI BÓNG MÁT CỦA LÁ CỜ “BA QUE”

* HOÀNG NGỌC MAI

(HNPĐ) Bài nầy tôi muốn nói cho những kẻ cứ mỗi lần vén hai cái mép mồm lên nói là phát ra tiếng “Ba Que”.

Theo tôi thấy, thì những kẻ hay dùng cái từ 3/// đó thường còn trẻ, đa số chưa đến 60, có nghĩa là vào năm 1975 chỉ còn là con nít. Còn những người lớn tuổi hơn, thậm chí cả đảng viên, họ cũng nói một cách khác. Ngay cả từ Ngụy Quân và Ngụy Quyền cũng đã được chính thức gỡ xuống.

Cho rằng họ là những kẻ “chiến thắng” một cuộc chiến đi, nhưng tâm lý mặc cảm thua kém của họ vẫn thể hiện qua rất nhiều mặt. Những giá trị của xã hội thời VNCH vẫn còn đó, làm cho kẻ chiến thắng ăn ngủ không yên. Hằng triệu người Bắc di cư vào Nam, sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Hằng triệu người khác vượt biển Đông để từ bỏ chế độ CS sau chiến thắng 1975.

Rồi sau 1975, bao nhiêu triệu người miền Bắc lũ lượt kéo vào miền Nam làm việc và sinh sống. Hà Nội là thủ đô, được đảng CS chăm sóc trước miền Nam những 30 năm cơ mà? Sao không có làn sóng dân Nam kéo về Hà Nội? Đảng tuyên truyền rằng nhờ Mỹ đổ tiền vô nên miền Nam phồn thịnh! Sao lại bảo là Mỹ ác lắm đem quân vô giết dân Việt.

Điều nào đúng? – Cả hai đều sai !

Nói rằng thiên nhiên miền Nam trù phù hơn. Đó là ngụy biện hoặc là dốt nát. Karl Marx đã sai lầm cơ bản ở điểm nầy khi xây dựng lý thuyết Cộng Sản. Theo lý thuyết đó, đất đai và phương tiện sản xuất là suối nguồn của sự giàu có, nên CS không cho tư nhân có quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất.

Nhưng thật ra sự phong phú nằm nơi con người, đất nước nào biết chăm sóc và trân trọng con người, đất nước đó sẽ hưởng được sự thịnh vượng. Hãy so sánh Nam và Bắc Hàn. Nam Việt và Bắc Việt cũng không ngoại lệ.

Miền Nam lúc nào cũng bị quân CS đánh phá và khủng bố, chính quyền dân chủ non trẻ với nhiều CS nằm vùng, mà vẫn xây dựng được cuộc sống hài hòa cho người dân. Phát triển mọi mặt từ kinh tế, giao thông công cộng, y tế , giáo dục… Đó là lý do tại sao miền Nam thịnh vượng. Và cái trình độ dân trí đó đã kéo miền Nam vượt lên hẳn so với Hà Nội.

Rồi những người miền nam liều mình vượt biển để tìm con đường sống trong cái chết. Nếu chẳng may bị bắt trở lại thì bị tù đầy với tội danh là “phản quốc”. Khi họ ổn định cuộc sống nơi nước ngoài, gửi những đồng tiền do chính sức lao động của họ về cho thân nhân ở trong nước thì  đảng lại gọi họ là “kiều bào”, “khúc ruột ngàn dặm”, nghe sự nịnh nọt trơ trẽn mắc ói! Còn mấy cái mồm tuyên truyền thì kêu đi ra nước ngoài ăn bơ thừa sữa cặn…Nhờ những đồng tiền “bơ thừa sữa cặn” đó mà kinh tế VN vượt qua thời kỳ khô cằn do đường lối kinh tế XHCN, mọi thứ đều quốc doanh hóa, nhà nước quản lý hết….Đến lúc hết thở, nên nhà nước hết hồn, đành buông xả ra gọi là “đổi mới” !

Qua đó, có phải cái bóng mát của VNCH vẫn che cho dân trong những lúc khó khăn đó đến ngày hôm nay?

Vậy đó, Cộng Sản Bắc Việt vi phạm những hiệp ước quốc tế để giành chiến thắng nhưng những giá trị Nhân Bản của VNCH càng lúc càng âm ỉ đốt nóng những trái tim Việt Nam.

Các người cứ dùng lời lẽ sấc xược để tỏ vẻ khinh miệt người khác càng làm lộ rõ các người dốt nát và kém văn hóa mà thôi. Cộng Sản Chủ Nghĩa là đỉnh cao của Xã Hội Chủ Nghĩa. Mà XHCN cũng vỡ tan theo liên bang Sô Viết rồi, còn Thiên Đàng Cộng Sản có nằm mơ cũng không gặp.

Vậy mà các người cố gào 3/// để làm cho mình cao hơn ư? Rất tiếc cái chính nghĩa Cộng Hòa đó vẫn sáng mãi trong lòng dân Việt, nhất là nhân dân miền Nam. Có lẽ phải dùng đến những con số để chứng minh cho thấy cả guồng máy của nhà nước XHCNVN đã và đang sống dưới bóng mát của lá cờ mà họ gọi là 3/// đó.

Các người cứ lục tung hết sổ sách của cái gọi là “chính quyền XHCNVN” lên mà xem tổng ngân sách nhà nước dùng để trả lương cho toàn bộ công nhân viên chức nhà nước là bao nhiêu. Rồi các người xem con số đó có phải chưa bằng một nửa số tiền Việt Kiều gửi về hàng năm, trung binh là 10 tỷ USD, có năm cao hơn. Như vậy các người không ngủ dưới bóng mát của lá cờ vàng ba sọc đỏ là gi?

Tôi sẽ dẫn giải cho các người thấy, cả nước VN từ sau 1975 đến nay vẫn tiếp tục sống dưới bóng mát của lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ.

Từ ngày Sài Gòn bị “phỏng giái”, (người dân Miền Nam nói như vậy đó, nói lái là một nét đặc trưng trong văn hóa bình dân của dân nam kỳ), thì một mặt trận tiêu diệt Văn Hóa miền Nam được phát động rất quy mô và triệt để. Đó là trận chiến “Tẩy Não” dân Miền Nam, nhằm loại bỏ tư tưởng và ý thức hệ Tự Do Dân Chủ. Tất cả văn hoá phẩm từ sách báo đến âm nhạc đều bi tiêu hủy và cấm đoán. Nhưng làm sao trói buộc được tư tưởng của con người chứ?

Nhà nhà nộp sách đem đốt, việc nầy không khó, nhưng cấm dân miền Nam hát những bản nhạc đã in sâu vào tim vào óc của họ thì quả là không thể được. Khi mọi thứ đã hoang tàn đổ nát kể cả lòng người dân lành, thì những dòng nhạc trữ tình khe khẽ quay trở về như làn gió nhiệm mầu xoa dịu bớt cái nỗi thống khổ của đời thường XHCN. CSVN gọi dòng nhạc đó là “Nhạc Vàng” để cân với dòng “Nhạc Đỏ” sặc mùi chém giết mà giai điệu và tiết tấu mang đậm sắc thái TC. Nhưng tới hiện tại thì họ trở nên ganh tị với cái tên gọi đó, vì nó đích đáng và đúng trên nhiều khía cạnh.

“Nhạc Vàng” không cổ súy chiến tranh mà chỉ biểu lộ những đau thương của con người trong thời chiến. Vậy tại sao người ta cấm Nhạc Vàng? Có phải người ta sợ cái bóng dáng thiên thần dịu dàng và ngọt ngào đầy tình người sẽ làm hiện thân của Ác Quỷ nổi trội rõ nét hơn chăng?

“Nhạc Vàng” một tòa lâu đài văn hóa Việt Nam Cộng Hòa bất diệt, chẳng những không hoen rỉ qua thời gian mà còn lóng lánh hơn như một kho báu cho mọi tầng lớp con dân VN suốt 3 miền và kể cả những kẻ từng lên án, vùi dập lẫn sợ sệt nó. Bao nhiêu người đã khai thác cái kho báu vô tận nầy.

“Nhạc Vàng” loài hoa mỹ miều kiêu sa, mọc lên từ bom đạn chiến tranh, tồn tại qua bao sự vùi dập, thể hiện tính Nhân Bản của một xã hội đầy tình người, đáng được trân quý như vàng. Hơn nửa thế kỷ qua, chưa có một đối thể nào lăm le đứng gần chứ đừng nói là soán ngôi.

“Nhạc Vàng”, một thứ phụ gia kỳ diệu, không thể thiếu được khi thưởng thức một ly cà phê ngon hay một chén trà thanh thoát. Một tay guitar và nhạc vàng luôn là tâm điểm cho những buổi nhậu bình dân.

“Nhạc Vàng”, một loại trầm hương hảo hạng cho bất kỳ cuộc họp mặt nào từ quê ra tỉnh, từ đám cưới đến đám tang, từ sân khấu đại nhạc hội hàng ngàn khán thính giả đến quán cà phê dăm ba người cuối phố, thậm chí là niềm giải trí duy nhất trong chốn lao tù….

“Nhạc Vàng”, là ánh lửa rực rỡ của con Phượng Hoàng hồi sinh từ tro bụi sau khi những người nhân danh CSCN đã giết nó bằng mọi khả năng của họ. Ánh lửa đó đã bùng lên, lan tỏa đến từng trái tim của chính những người mang danh hiệu là Đảng Viên ĐCSVN, bất luận là ở đâu, Nghệ Tĩnh, Hà Nội hay Sài Gòn!

Nói mãi về “Nhạc Vàng” VNCH không bao giờ cạn ý.

Nếu những lời lẽ quanh co trên đây chưa thực sự vẽ ra cái bóng mát của lá cờ vàng, chưa chứng minh được âm nhạc VNCH là Vàng ròng 24 kara thì tôi xin được dẫn quý vị vào yếu tố kinh tế của Nhạc Vàng vậy.

Từ hải ngoại đến quốc nội, bao nhiêu doanh nghiệp phát triển nhờ Nhạc Vàng, bao nhiêu ca sĩ thành danh và nên sự nghiệp, bao nhiêu người trở nên giàu có, bao nhiêu công ăn việc làm cho cái kỹ nghệ âm nhạc nầy, từ thời băng từ, đến đĩa từ, CD, kế đến phong trào Karaoke, bao nhiêu kỹ thuật viên, phòng thâu, ca nhạc sĩ, cơ sở sản xuất, phát hành, bán sỉ lẻ, thiết bị âm thanh, v.v…  và  v.v….

Bao nhiêu Đại Nhạc Hội, tụ điểm ca nhạc… Biết bao nhiêu ca sĩ, từ Bắc chí Nam đã thành triệu phú đô la nhờ vào cái bị gọi là ” Văn Hóa Nô Dịch” đó.

“Nhạc Vàng” đã tham gia với người dân cả nước trong việc mưu sinh hàng ngày, từ quán cà phê, đến hàng loạt xe đò đường dài, đến anh bán kẹo kéo, đến những em bán hàng rong hằng đêm trên phố, đến những người hành khất . . .Lớp học hát , học đàn nở rộ, tiệm sản xuất đàn guitar gia tăng, quán cà phê nhạc sống, bình dị mà trữ tình ngày càng phổ biến.

Một chiếc điện thoại thông minh, một cái mi-crô không dây, khách ngồi uống nước mía bên vệ đường cũng có thể chia sẻ với nhau một bản tình ca… ấm áp. Cái bóng mát đó càng ngày càng mở rộng ra trên nhiều lãnh vực của cuộc sống và địa phưong, lan dần đến tận các tỉnh miền Bắc… Đó không phải là bóng mát từ nền âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa thì là gì, lửa hỏa ngục chăng?

Tôi đã thấy, ca sĩ bậc nhất ĐVH, tranh thủ cho ra mắt 2, 3 album nhạc vàng trong vòng một tháng, hát giành hát giựt, sợ ca sĩ khác hát trước, mất số bán. Như một tên ăn trộm, khám phá ra kho báu, hốt vội hốt vàng, nhạc vàng là vàng ròng đó.

Tôi đã thấy cũng ĐVH hát “Cho một người nằm xuống” , dĩ nhiên là hát để thu tiền, có bao giờ ĐVH nghĩ đến những trái ngọt nầy do ai vun trồng mà nên? Sao không hát cho người thương binh VNCH còn sống vất vưởng ngày hôm nay. Mang danh một diva, một nghệ sĩ , ĐVH nếu có tâm hồn nghệ sĩ, sao không dám một có lần tri ân những người đã nằm xuống để bảo vệ cho thể chế đã sản sinh ra cái kho báu âm nhạc nầy. Phải chăng vì không có tâm hồn mà chỉ hát vì lòng tham nên bị người đời gọi là Ca Nô ?

Tôi đã xem video clip của đại ca…sĩ Ngọc Sơn, đại gia từ nhạc vàng, hát trong một hội trường đầy ấp khán giả là quân đội mặc quân phục đại cán, ngực đầy huân chương “cách miệng”. Những ca khúc nhạc vàng cất cao, cả hội trường đứng dậy, hai tay đưa lên cao, đung đưa theo dòng nhạc….

Các vị đa số là đảng viên, các vị chắc đã học tập lý luận nhiều lắm, quý vị có thấy một nghịch lý vô cùng to lớn ở đây không? Hoặc là các vị có thấy xấu hổ trong lòng không? Cái mà quý vị diệt tận, giết sạch ngày hôm qua, thì hôm nay ngồi dưới cái bóng mát của cái “xác khô” VNCH mà chia sẻ hương thơm ngào ngạt của nó.

Các người là kẻ chiếm và thắng, các người hành hạ, chà đạp kẻ thất cơ lỡ vận nhiều rồi, chúng tôi không màng, lịch sử sẽ có lúc trả lại công đạo.

Nếu quý vị mạt sát VNCH thì móc cổ mà ói ra hết những gì quý vị nuốt vô từ nền văn hóa VNCH đi.

Còn như quý vị trơ trẽn, miệng thì mỉa mai : “đu càng, ba que, quần què” mà giành nhau đưa tay vào chấm mút, chúng tôi khinh lắm.

Hoàng Ngọc Mai

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | 1 bình luận

Chào mừng K1 Nguyễn Tiến Ích

Bạn Ích thân mến,Vừa qua nghe tin bạn đến San Jose gặp gỡ các bạn K1 ở Bắc Cali mà tiếc quá, tôi và các bạn K1 ở Nam Cali không có dịp hội ngộ với bạn. Hy vọng một ngày đẹp trời nào đó, bạn sẽ đến Nam Cali (Little Saigon) để các phe ta K1 ở đây có dịp hội ngộ với bạn. Nhờ bạn Hạp cho biết địa chỉ email của bạn nên tôi đã đưa tên bạn vào group mail của K1 ( khoa1_hvcsqg@googlegroups.com ) để từ nay bạn có thể gởi hoặc nhận những thông tin liên quan đến K1 qua group mail này. Ngoài ra, K1 còn có một trang nhà  https://khoa1hocviencsqg.com/  bạn có thể vào xem bất cứ lúc nào để biết thêm những sinh hoạt của khóa.
Thân mến,
Nhữ Đình Toán

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chào mừng K1 Nguyễn Tiến Ích

Thư cám ơn của bạn K1 Trần Ngọc Thạch

Anh Toán thân, chúng tôi đã về nhà an bình. Cảm ơn anh chị và các bạn thân thương thật nhiều. Khung cảnh CA ấm áp, thân tình, vui vẻ, nhưng so lại, vẫn không ấm bằng buổi hội ngộ của bọn mình, không thân tình bằng bọn mình đấu hót bên nhau và cũng không vui vẻ bằng những thằng bạn đồng môn, đồng khoá gặp lại nhau sau những tháng năm dài xa cách. Xúc động thật nhiều trước tình cảm của các bạn thân dành cho bọn tôi, nên mãi hôm nay, vẫn còn đọng lại đâu đây trong ký ức.  Hôm gặp Ngưu, thấy chị Ánh bệnh, xót xa và ái ngại nhiều, chỉ biết cầu xin cho chị Ánh may mắn sớm gặp thầy, gặp thuốc. Thấy Ngưu phiền lo nhiều thứ, nên tôi không gửi mail cho hắn, ngại hắn bận rộn thêm. Nếu gặp, anh cho tôi chuyển lời thăm hắn. Cảm ơn anh. Và, xin thân kính chúc anh chị an vui, nhiều sức khoẻ và may mắn trong cuộc sống.
K1 Trần Ngọc Thạch

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư cám ơn của bạn K1 Trần Ngọc Thạch

Thủy Tiên Photo Calendar 2019

Các bạn click vào link dưới đây để xem. Lịch 2019 rất đẹp

https://thuytienmagazine.org/lich2019/index.html

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thủy Tiên Photo Calendar 2019

Hội ngộ K1 Trần Ngọc Thạch ở Little Saigon

H7(Tường trình của TK1): Chủ nhật, ngày 3/2/2019, K1 Trần Ngọc Thạch bất ngờ xuất hiện tại nhà NT Nguyễn Hoàng Nam, nơi tụ họp cà phê cuối tuần của nhóm thân hữu CSQG vùng Little Saigon, Nam CA. Hôm nay cũng là ngày cuối năm Âm Lịch, mọi người tại đây đang chuẩn bị một bữa tiệc tất niên mini nên thật là vui được đón tiếp thêm bạn Trần Ngọc Thạch từ Kansas về đây trốn lạnh và ăn Tết đến chung vui. Trong nhóm thân hữu CSQG này có khá đông các bạn K1 như: PT Ngưu, NH Thời, NV Thế, Võ Thiệu, Ng Vô Lượng, Trần Viết Tường, Võ Đăng Ngọc, NĐ Thành, PV Toán, NĐ Toán, BV Hùng, HV Hưng, Ng Trọng Trí, Trang Thiện Nhơn,… Biết bao câu chuyện được dịp cười nói hàn huyên vui như Tết.

H6H5

Sau buổi gặp gỡ bất ngờ đó, vào chiều tối ngày 7/2/2019, một số phe ta K1 lại có dịp hội ngộ với bạn Thạch tại nhà hàng Seafood Cove ở trước thương xá Phước Lộc Thọ để tiếp tục hàn huyên tâm sự. Lần hội ngộ này có cả bà xã của TN Thạch và ngoài ra, còn có sự hiện diện của AC/NT Trần Quan An và AC Nguyễn Văn Lợi (K2) đến chung vui. (Hình của phó nhòm K1 Võ Thiệu)

H2H3H1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội ngộ K1 Trần Ngọc Thạch ở Little Saigon

Bài thơ Chúc Tết của Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài thơ Chúc Tết của Phiến Nguyễn

Tình Xuân _ Nguyễn Phiến


Xuân về lai láng đất trời
Cỏ cây hoa lá xanh tươi sắc màu
Mai vàng lan trắng, quỳnh nâu
Trứơc sân tím đỏ,ngỏ sau tía hồng
Đâm chồi nẩy lộc kết bông
Mầm non nhụy thắm,bướm ong la đà
Niềm vui trong cửa ngoài nhà
Áo cơm nhẹ gánh,can qua đoạn trừơng
Bâng khuâng vạt nắng chiều vương

Tri âm nhớ bạn,thân thương nhớ người
Nghĩa tình năm tháng đầy vơi
Cơ duyên hạnh ngộ trong đời mấy ai
Nương chân,tựa bước sánh vai
Khung trời xuân cảnh ái hoài vọng nhân
Nôn nao về bến sông ngân

Hàn huyên tâm sự, chuyện gần chuyện xa
Nức lòng vạn nẻo cờ hoa
Châu tìm phố hợp chan hoà tình thân
Vươn tay ôm lấy phúc phần 
Cùng nhau nâng chén rượu mầng ngày xuân
Nguyễn Phiên

n

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tình Xuân _ Nguyễn Phiến

Chúc Mừng Năm Mới của Căn Nhà Nhỏ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Mừng Năm Mới của Căn Nhà Nhỏ

Thiệp chúc Xuân của Trưởng K1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiệp chúc Xuân của Trưởng K1

Thơ Xuân Nguyễn Phiến

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xuân Nguyễn Phiến

Chia buồn của NT Trần Minh Công

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chia buồn của NT Trần Minh Công

Phân Ưu của Khóa 1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu của Khóa 1

Cáo Phó và vòng hoa chia buồn

Các bạn K1 tại Atlanta Georgia đến thăm viếng an ủi bạn Ngô Quang Liêm
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cáo Phó và vòng hoa chia buồn

Tin buồn cuối năm

CNN vừa được bạn Nguyễn văn Nhì từ Georgia báo cho biết tin buồn:
Hiền thê của bạn K1 Ngô Quang Liêm vừa mới qua đời vào lúc 12:30 trưa hôm qua 31/01/2019 tại tư gia.
Cáo phó sẽ được gởi đến các bạn sau. Để chia buồn các bạn có thể gọi cho Ngô Quang Liêm qua số phone: 404-512-9399 hoặc gọi cho Nghiêm (con trai lớn của Liêm) số phone 404-259-0122.
Xin chia buồn cùng bạn Ngô quang Liêm và gia đình. Nguyện cầu cho hương linh chị sớm về cỏi lành.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin buồn cuối năm