Hội Ngộ Đào Thanh Phong

Hội Ngộ Đào Thanh Phong tại Quận Cam

Tường trình của Nhữ Đ Toán: Vào lúc 6:30PM ngày Thứ Hai 13/8/2018, một số K1 tại Quận Cam đã có một buổi hội ngộ với K1 Đào Thanh Phong đến từ Chicago (IL) ở nhà hàng Buffet Trưng Vương, Westminster. Đây hầu như là buổi gặp gỡ bạn ta Đào Thanh Phong lần đầu tiên sau hơn 40 năm kể từ 1975. Được biết bạn Phong cũng là một trong những người tù cuối cùng gỡ 17 cuốn lịch sau 30/4/1975 qua nhiều trại tù từ Nam ra bắc. Hiện nay, bạn Phong định cư ở TP Chicago, Illinois. Hiện diện trong buổi hội ngộ bạn Phong, về phía phe ta K1 có vợ chồng Phan Tấn Ngưu/Ánh, vợ chồng Võ Đăng Ngọc, Nguyễn Hữu Thời, Huỳnh Vĩnh Hưng, Võ Thiệu, Phan Hữu Nghi và Nhữ Đình Toán. Ngoài ra còn có NT Trần Quan An và phu nhân cùng 2 thân hữu K2 Lê Sỹ Tài và Ngô Văn Quang. Mọi người vừa ăn uống vừa chuyện trò vui vẻ, cười nói rôm rả suốt trong hơn 2 giờ mà vẫn chưa muốn dứt, mãi đến hơn 9PM mới bịn rịn chia tay sau khi có những “pô” hình độc đáo của phó nhòm Võ Thiệu.
Toan Nhu

Bản Tin của Võ Thiệu:

Kinh goi Quy AC Khoa I.

Khoa I Dao-Thanh-Phong tham Nam California, cac AC Khoa I Nam California co buoi hop mat tai nha hang Trung Vuong luc 6:30 PM (co Ong Ba An,va hai ban Khoa 2) de don mung Ban. Pho nhom toi co ghi lai it hinh anh, xin kinh chuyen den Quy Vi cung xem. (Xin Click vào link ở dưới)

Tran trong.

K1 Thieu Vo

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Ngộ Đào Thanh Phong

10 BÀI HỌC TRIẾT LÝ CUỘC ĐỜI

Image result for triết lý cuộc đời

10 BÀI HỌC TRIẾT LÝ CUỘC ĐỜI

Mẩu chuyện số 1

Lão hòa thượng hỏi tiểu hòa thượng: “Nếu bước lên trước một bước là tử, lùi lại một bước là vong, con sẽ làm thế nào?”.

Tiểu hòa thượng không hề do dự đáp: “Con sẽ đi sang bên cạnh”.

 Bài học rút ra: Khi gặp khó khăn, đổi góc độ để suy nghĩ, có lẽ sẽ hiểu ra rằng: Bên cạnh vẫn có đường.

Mẩu chuyện số 2

Anh chồng nhà nọ tan làm về nhà, nhìn thấy vợ đang đánh con trai, không ngó ngàng gì đến họ, đi thẳng vào nhà bếp, nhìn thấy nồi vằn thắn nghi ngút khói trên bàn, bèn múc một bát để ăn.

Ăn xong nhìn thấy vợ vẫn đang đánh con trai, không nhìn nổi nữa, nói: “Giáo dục con cái không thể lúc nào cũng dùng bạo lực được em ạ, phải giảng giải đạo lý cho nó hiểu!”.

Chị vợ nói: “Em mất công nấu nồi vằn thắn ngon là thế, mà nó lại tè một bãi vào, anh nói xem có điên không chứ?”.

Anh chồng nghe thấy thế, lập tức nói: “Bà xã, em nghỉ ngơi chút đi, để anh đánh nó!”.

 Bài học rút ra: Người ngoài cuộc, đều có thể bình tĩnh; người trong cuộc, ai có thể thong dong, bình thản? Bởi vậy, đừng tùy tiện đánh giá bất cứ ai, bởi vì bạn không ở trong hoàn cảnh của họ…

Mẩu chuyện số 3

Một người thợ mộc chặt một thân cây, làm thành ba chiếc thùng.

Một thùng đựng phân, gọi là thùng phân, mọi người đều xa lánh;

Một thùng đựng nước, gọi là thùng nước, mọi người đều dùng;

Một thùng đựng rượu, gọi là thùng rượu, mọi người đều thưởng thức!

Thùng là như nhau, bởi vì đựng đồ khác nhau mà vận mệnh khác nhau.

Bài học rút ra: Cuộc đời là như vậy, có quan niệm thế nào sẽ có cuộc đời như thế, có suy nghĩ thế nào sẽ có cuộc sống như thế!

Mẩu chuyện số 4

Anh chồng nọ mua một con cá về nhà bảo chị vợ nấu, sau đó chạy đi xem phim, chị vợ cũng muốn đi cùng. Anh chồng nói:“Hai người đi xem lãng phí lắm, em cứ nấu cá đi, đợi anh xem xong quay về, vừa ăn vừa kể cho em nghe tình tiết của bộ phim”.

Đợi anh chồng xem phim trở về nhà, không nhìn thấy cá đâu, bèn hỏi chị vợ: “Cá đâu rồi em?”.

Chị vợ kéo ghế, ngồi xuống, cất giọng bình tĩnh: “Em ăn hết cá rồi, nào, lại đây, ngồi xuống em kể cho anh nghe mùi vị của cá”.

 Bài học rút ra: Làm người nên như vậy, bạn đối xử với tôi như thế nào, tôi sẽ đối xử lại với bạn như thế.

Mẩu chuyện số 5

Năm thi đại học, tôi chỉ được 6 điểm, còn con trai của bạn mẹ tôi được 20 điểm, cậu ta đến học tại trường đại học “trọng điểm”, còn tôi chỉ có thể đi làm thuê.

Chín năm sau, mẹ của cậu ta chạy đến khoe khoang với tôi và mẹ tôi rằng con trai bà ta đang đi phỏng vấn vào chức giám đốc lương tháng vài chục triệu… Còn tôi, lại đang nghĩ: có nên tuyển dụng cậu ta không.

Bài học rút ra: Bạn,có thể không học đại học, nhưng bạn, tuyệt đối không thể không phấn đấu.

Mẩu chuyện số 6

Một công nhân nọ oán thán với bạn của mình rằng: “Việc là chúng ta làm, người được biểu dương lại là tổ trưởng, thành quả cuối cùng lại biến thành của giám đốc, thật không công bằng”.

Anh bạn mỉm cười nói rằng: “Nhìn đồng hồ của cậu xem, có phải là cậu sẽ nhìn kim giờ đầu tiên, sau đó đến kim phút, còn kim giây chuyển động nhiều nhất cậu lại chẳng thèm ngó ngàng không?”.

Bài học rút ra: Trong cuộc sống thường ngày, cảm thấy không công bằng thì phải nỗ lực làm người đi đầu, oán trách chỉ vô dụng. 

Mẩu chuyện số 7

Thượng đế muốn thay đổi vận mệnh của một kẻ ăn xin, bèn biến thành một lão già đến làm phép cho anh ta..

Thượng đế hỏi kẻ ăn xin: “Nếu ta cho cậu mười triệu, cậu sẽ dùng nó như thế nào?”.

Kẻ ăn xin đáp: “Vậy thì tốt quá, tôi có thể mua một chiếc điện thoại!”.

Thượng đế không hiểu, hỏi: “Tại sao lại muốn mua điện thoại?”.

“Tôi có thể dùng điện thoại để liên lạc với các khu vực trong cùng một thành phố, nơi nào đông người, tôi có thể tới đó ăn xin”, kẻ ăn xin đáp.

Thượng đế rất thất vọng, lại hỏi: “Nếu ta cho cậu một trăm triệu thì sao?”.

Kẻ ăn xin nói: “Vậy thì tôi có thể mua một chiếc xe. Sau này, tôi ra ngoài ăn xin sẽ thuận tiện hơn, nơi xa đến mấy cũng có thể đến được”.

Thượng đế cảm thấy rất bi thương, lần này, ngài nói: “Nếu ta cho cậu một trăm tỷ thì sao?”.

Kẻ ăn xin nghe xong, hai mắt phát sáng: “Tốt quá, tôi có thể mua tất cả những khu vực phồn hoa nhất trong thành phố này”.

Thượng đế lấy làm vui mừng.

Lúc này, kẻ ăn xin noi the^m một câu: “Tới lúc đó, tôi có thể đuổi hết những tên ăn mày khác ở lãnh địa của tôi đi, không để họ cướp miếng cơm của tôi nữa”.

Thượng đế nghe xong, lẳng lặng bỏ đi.

 Bài học rút ra: Trên đời này, không phải là thiếu cơ hội, cũng không phải là vận mệnh trước giờ không công bằng, mà là thiếu đi cách thức tư duy đúng đắn. Tư duy của một người quyết định cuộc đời của người đó. Thay đổi cuộc đời bắt nguồn từ việc thay đổi tư duy.

Mẩu chuyện số 8

Một người nọ đứng dưới mái hiên trú mưa, nhìn thấy Quan Âm cầm ô đi ngang qua. Người nọ nói: “Quan Âm Bồ Tát, xin hãy phổ độ chúng sinh một chút, cho con đi nhờ một đoạn được không ạ?”.

Quan Âm nói: “Ta ở trong mưa, ngươi ở dưới mái hiên, mà mái hiên lại không mưa, ngươi không cần ta phải cứu độ”. Người nọ lập tức chạy vào màn mưa, đứng dưới mưa: “Hiện tại con cũng ở trong mưa rồi, có thể cho con đi nhờ không ạ?”.

Quan Âm nói: “Ngươi ở trong mưa, ta cũng ở trong mưa, ta không bị dính mưa, bởi vì có ô; ngươi bị dính mưa, bởi vì không có ô. Bởi vậy, không phải là ta đang cứu độ mình, mà là ô cứu độ ta. Ngươi muốn được cứu độ, không cần tìm ta, hãy đi tìm ô!”, dứt lời Quan Âm bèn rời đi.

Ngày hôm sau, người nọ lại gặp phải chuyện nan giải,bèn đến miếu cầu xin Quan Âm. Bước vào trong miếu, mới phát hiện có một người đang vái lạy Quan Âm, người đó giống Quan Âm như đúc.

Người nọ hỏi: “Bà là Quan Âm sao ạ?”.

Người kia trả lời: “Đúng vậy”.

Người nọ lại hỏi: “Vậy tại sao Quan Âm lại vái lạy chính mình?”.

Quan Âm cười nói: “Bởi vì ta cũng gặp chuyện khó khăn, nhưng ta biết, cầu xin người khác không bằng cầu xin chính mình”.

Bài học rút ra: Phong ba bão táp của cuộc đời, phải dựa vào chính bản thân mình. Cầu xin người khác không bằng cầu xin chính mình.

 Mẩu chuyện số 9

Anh chàng nọ: Ông chủ, tắm ở đây mất bao nhiêu tiền?

Ông chủ: Nhà tắm nam 40 nghìn, nhà tắm nữ 400 nghìn.

Anh chàng nọ: Ông ăn cướp đấy à…

Ông chủ: Cậu muốn đến nhà tắm nam hay nhà tắm nữ?Anh chàng nọ: Quyết đinh đưa ra 400 nghìn.

Bước vào nhà tắm nữ liếc mắt nhìn, toàn là nam.

Anh em trong nhà tắm: Lại một thằng nữa tới!

Bài học rút ra: Kinh doanh trước giờ không phải là dựa vào giá cả thấp, mấu chốt là dựa theo nhu cầu của khách hàng.

Mẩu chuyện số 10

Một người cha nói với con của mình rằng: “Hãy nắm chặt bàn tay của con lại, nói cho cha biết con có cảm giác gì?”.

Người con nắm chặt tay: “Hơi mệt ạ”.

Người cha: “Con thử nắm chặt hơn nữa xem!”.

Người con: “Càng mệt hơn ạ!”.

Người cha: “Vậy con hãy buông tay ra!”.

Người con thở phào một hơi: “Thoải mái hơn nhiều rồi ạ!”.

Người cha: “Khi con cảm thấy mệt, nắm càng chặt sẽ càng mệt, buông nó ra, sẽ thoải mái hơn nhiều!”.

 Bài học rút ra: Buông tay mới nhẹ nhõm.

(Nguồn: tredeponline.com)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 10 BÀI HỌC TRIẾT LÝ CUỘC ĐỜI

K1 Bắc Cali thăm bạn Kiêm Chi

K1 Bắc Cali thăm bạn Ng~ T Kiêm Chi

(Tường trình của K1 Trần Quốc Nại + Đinh Văn Hạp): 4 giờ chiều chủ nhật  12/08/2018, nhóm k1 Bắc Cali gồm Nguyễn Thị Máy, Phan Quang Nghiệp, Trương Ngọc Mỹ, Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Hữu Nhật, vợ chồng Huỳnh Minh Thanh, vợ chồng Đinh văn Hạp, vợ chồng Bửu Hồng, và Trần Quốc Nại đã từ nhà K1 Hạp ở San Jose đi Santa Clara để thăm K1 Nguyễn thị Kiêm Chi. Đúng 4 giờ 30, K1 Nguyễn Văn Tính (chồng Kiêm Chi) đã ra tận đường lộ đón chúng tôi vào nhà. Khi đến nơi, K1.Máy cùng các phu nhân Hạp, Thanh, Hồng đã vào tận phòng thăm Kiêm Chi. Sau 15 phút, K1.Tính đã đẩy xe lăn đưa Kiêm Chi ra phòng khách chào đón các bạn. Một tràng pháo tay chào mừng Kiêm Chi đã hồi phục sau khi giải phẫu… Phòng khách tuy nhỏ hẹp nhưng đầy ắp tình bạn ríu rít hỏi han nhau vô cùng đầm ấm và thân thương, quấn quit bên mhau hơn một tiếng đồng hồ rồi cũng chia tay ra về.

Trên đường về: Đúng 6.00PM chúng tôi về lại nhà K1.Hạp quây quần bên nhau tiếp tục chuyện trò vui chơi rồi dùng bữa cơm tối thân mật với nào gỏi đu đủ, nào bún bò Huế, nào bánh chuối chiên, nào chè thưng thơm lừng, do vợ chồng K1.Thanh khoản đãi với sự phụ trợ của vợ chồng K1.Hạp và K1.B.Hồng. Sau khi ăn uống xong K1.Hạp và K1.Nại chuyển lời cảm ơn đến mọi người mà đặc biệt là vợ chồng Huỳnh Minh Thanh, vợ chồng Đinh Văn Hạp, vợ chồng Bửu Hồng; và cuối cùng mọi người hẹn nhau tiếp tục Chủ Nhật tuần tới 19/8/2018 tập họp tại nhà K1.Hạp để đi thăm K1.Nguyễn Thanh Hoàng tại Oakland. Ngày giờ và chi tiết K1.Hạp và K1.Nại sẽ bàn lại và thông báo sau. Đến 8 giờ chia tay ra về mọi người đều được ăn, được nói, được gói đem về một chút quà do chị Hạp và Mai Hương gói ghém đầy ắp tình thương bè ban.

Một vài hình ảnh trong buổi thăm gặp bạn Kiêm Chi:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Bắc Cali thăm bạn Kiêm Chi

Thông Cáo của Tổng Hội CSQG/VNCH_ Báo Phượng Hoàng 2019

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thông Cáo của Tổng Hội CSQG/VNCH_ Báo Phượng Hoàng 2019

PHÂN ƯU

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở PHÂN ƯU

Những Người Anh Em Bị Lãng Quên_ Huỳnh Thục Vy

      Hôm nay, tôi viết những dòng này trong bối cảnh đất nước nằm trước nguy cơ Bắc thuộc, hàng ngàn ngư dân khốn đốn vì Formosa, hàng chục nhà hoạt động nhân quyền tên tuổi đang trong lao tù…, quả thật có thể đoán trước rằng những tâm tư dưới đây sẽ bị phớt lờ đi vì những điều tôi chia sẻ “có vẻ” chẳng quan trọng mấy so với hàng chục vấn đề nổi cộm khác. Nhưng tôi nhận thấy trách nhiệm của chính mình ở đây và sự cần thiết phải nêu bật câu chuyện không chỉ mang tính lương tâm mà còn là biểu hiện của tư duy này.

      Năm 2004, Việt Nam chứng kiến hàng nghìn người sắc tộc ba tỉnh Tây nguyên: Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai từ các buôn làng, đi trên xe máy và xe công nông đổ ra các ngã đường dẫn vào trung tâm các tỉnh lị để phản đối sự kỳ thị sắc tộc, đòi quyền tự do tôn giáo (Tin Lành) và quyền tư hữu đất đai. Cuộc biểu tình nhanh chóng trở thành bạo động vì công an dùng súng và dùi cui để đối phó với sự ôn hòa của người sắc tộc chất phác và bần cùng.

      Hãy nhìn lại sự việc ở Phan Rí để hiểu về cuộc biểu tình sắc tộc 2004. Người dân, mà lại là những người sắc tộc đa số không được đến trường và không biết tiếng Việt, phản ứng thụ động trước các tình huống được tạo ra bởi một lực lượng được đào tạo chính quy để chống lại họ, công an là những kẻ châm ngòi bạo lực và hệ thống tuyên truyền của họ, như chúng ta đã biết, vẽ ra hình ảnh người sắc tộc biểu tình như là những kẻ hung hãn, mọi rợ. Và tất nhiên họ không quên định danh kẻ chủ mưu của “bạo loạn” 2004 là Nhà nước Dega (Montagnard Dega Association), tương tự như cách dùng con ngáo ộp Việt Tân trong hầu hết các vu khống về các cuộc biểu tình, các cuộc lập hội của người Kinh vậy. Sau này, khi làm bạn với nhiều người Thượng TN, tôi mới nhận ra rằng, hầu hết họ không biết cái gì là Nhà nước Dega cả, họ chỉ biết đất đai tổ tiên họ bị cướp, họ bị bần cùng hóa và nhiều anh em họ bị đánh đập dã man vì dám thực hành tôn giáo mà không xin phép chính quyền.

      Người dân cả nước, đặc biệt là miền Trung hồi đó, nói rất nhiều về “bạo động” ở Tây nguyên. Người Kinh (tạm gọi vậy) dân thường hầu hết vẫn thầm hả dạ vì vốn không ưa chính quyền chuyên hà hiếp dân lành, nhưng mặt khác, vẫn để bụng dè chừng người sắc tộc vì đồng nhất tất cả những người Thượng ở Tây nguyên là những kẻ đòi ly khai, là Fulro…Hồi ấy, tôi chỉ mười chín đôi mươi, nghe người lớn bàn tán về cuộc biểu tình với tâm thế người ngoài cuộc. Người Kinh ở cả nước đã vậy, người Kinh ở Tây nguyên cũng không hơn, họ nín thinh, họ thờ ơ trước hàng trăm anh em người Thượng ngã xuống dưới bánh sắt thiết giáp, hàng trăm người bị bỏ tù hàng chục năm trời (có hoặc không có xét xử), hàng trăm người khác bị đưa vào rừng thủ tiêu…Người Kinh đã đứng ngoài trong cuộc đấu tranh đòi Công lý của anh em mình năm ấy.

      Đến hôm nay, trong ý thức của đa số những người đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, cuộc đấu tranh chống độc tài này chỉ thuộc về những: Nguyễn Văn, Trần Thị…chứ không có Y, H’…Thật vậy, việc không ý thức sự hiện diện rất sống động của người Thượng Tây nguyên nói riêng hay người sắc tộc cả nước nói chung, trong cuộc đấu tranh cho tự do này là do chúng ta bất cẩn, vô tâm, thiếu hiểu biết, hay là biểu hiện của một hình thức kì thị (gạt ra ngoài lề là kì thị chứ không gì khác). Hãy tự hỏi, chỉ có chúng ta mới là những người đấu tranh cho tự do (tự do biểu đạt, tự do lập hội, tự do tôn giáo…)? Chỉ có dân oan Dương Nội, dân oan Cần Thơ, dân oan Thủ Thiêm mới là dân oan, mới là những người đấu tranh cho quyền tư hữu đất đai? Chỉ có các linh mục, các sư thầy của các nhà dòng, các nhà chùa…mới đấu tranh cho tự do tôn giáo?

      Không. Những người Thượng ở Tây nguyên gần 50 năm nay đã phải chịu cảnh cướp bóc trắng trợn từ chính quyền độc tài và cả từ những người Kinh được sự hẫu thuẫn của chính quyền. Đất đai của tổ tiên họ, chính quyền không cấp sổ đỏ dù vẫn để họ canh tác. Đến một ngày, họ nhận ra rằng mảnh đất nhà họ đang sống, đang trồng trọt nằm trong sổ đỏ của một người hàng xóm người Kinh. Nhiều câu chuyện như thế, không kể hết. Đó là chưa nói, sau cuộc bạo động 2004, nhiều người đàn ông trong các gia đình sắc tộc bị tù đày hoặc bị thủ tiêu, hoặc chết tại hiện trường biểu tình, những người phụ nữ phải chống chọi cuộc sống đầy sự khủng bố, với cả đàn con nheo nhóc mà bán rẻ dần đất đai của gia đình. Có hàng ngàn trường hợp như thế.

      Rồi vì tổ chức họp nhóm Tin Lành tại gia (có khi phải họp ngoài rừng) không do chính quyền kiểm soát nên họ vẫn đang hằng ngày hằng giờ bị trù dập, đánh đập, sách nhiễu. Công an có thể chặn đường cướp điện thoại của bất cứ người nào họ thấy khả nghi, có thể xông vào nhà cướp máy tính, đánh người, bắt người mà thế giới bên ngoài không hay biết. Không ai hay biết một phần do chính người sắc tộc không có phương tiện thông tin (riêng phần này trong nỗ lực cá nhân của mình, tôi đã giúp được một số ít anh em có được phương tiện cần thiết); một phần khác là do chúng ta không chủ động, sốt sắng tìm kiếm thông tin về họ. Nhiều người trong chúng ta khó mà tưởng tượng được lễ Giáng sinh của các anh chị em Tin lành sắc tộc ở Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum hàng chục năm nay diễn ra trong trấn áp, trong nước mắt và máu.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Những Người Anh Em Bị Lãng Quên_ Huỳnh Thục Vy

Blogger Huỳnh Thục Vy được thả nhưng bị khởi tố

Nhà hoạt động Huỳnh Thục Vy (phải) và lá cờ bị xịt sơn

Nhà hoạt động Huỳnh Thục Vy (phải) và lá cờ bị xịt sơn / FB Huỳnh Thục Vy

Theo tin từ đài Á Châu Tự Do (RFA): Sáng ngày 10/8/2018, nhà hoạt động vì nữ quyền Huỳnh Thục Vy trở về nhà ở Thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lak sau một ngày làm việc với cơ quan công an vì bị cáo buộc tội “xúc phạm quốc kỳ”.

Theo cô này thì ngay chiều tối ngày 9 tháng 8, Cơ quan cảnh sát điều tra thị xã Buôn Hồ ban hành các Lệnh khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú và cấm xuất cảnh đối với Huỳnh Thục Vy vì hành vi “xúc phạm quốc kỳ”.

Trả lời câu hỏi về việc ai là người xịt sơn lên các lá cờ đỏ sao vàng trong những bức ảnh hồi cuối năm 2017, Huỳnh Thục Vy không né tránh và cho hay chính cô là người xịt sơn, nhưng giải thích rằng đó là quyền tự do biểu đạt.

Đối với nhiều người thì việc đụng chạm đến cờ đỏ là việc chi khá nhạy cảm và là việc hơi thiếu sáng suốt, dại dột, nhưng đối với tôi thì cờ đỏ, ‘cờ máu’ là biểu tượng của sự đàn áp, độc tài, độc đoán, phi dân chủ, phản dân quyền của chính quyền độc tài cộng sản Việt Nam. Nó là biểu trưng cho việc đảng cộng sản VN ngồi trên đầu 90 triệu người dân.

Tôi xịt sơn lên lá cờ để biểu đạt quan điểm rằng, tôi chống lại lá cờ của các ông, chúng tôi chống lại mọi biểu tượng, mọi ý nghĩa của biểu tượng đó, và tôi chống lại việc các ông là những người cộng sản đã cai trị trên đầu trên cổ của người dân một cách độc đoán”, cô Huỳnh Thục Vy trả lời Đài Á Châu Tự do qua ứng dụng Messenger.

Cũng theo Huỳnh Thục Vy việc trả cô về nhà là do cô đang nuôi con nhỏ chỉ 22 tháng tuổi, tuy nhiên cô thuật lại việc công an nói rằng đây chỉ là tội nhẹ.

“… theo họ nói với mình đó là việc ‘xúc phạm quốc kỳ’ là một tội nhẹ nên chúng tôi không cần bắt giam mà chúng tôi chỉ thực hiện biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú và nếu chị đi khỏi nơi cư trú, chúng tôi sẽ tạm giam chị”………………………………

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Blogger Huỳnh Thục Vy được thả nhưng bị khởi tố

Tranh sơn dầu của K1 Lưu Diệu Nam

Khóa 1 HV có nhiều nhân tài lâu nay ít ai biết. Một trong số những người đó là K1 LƯU DIỆU NAM, một họa sĩ tài danh. Sau khi ra trường, LDN khăn gói ra Quảng Ngãi làm việc. Trong thời gian nầy LDN có một tác phẩm sơn dầu rất đẹp. Qua bao biến đổi của thời gian, bạn LDN chắc chẳng bao giờ nhớ đến đứa con tinh thần của mình. Nhưng duyên may sau gần 1/2 thế kỷ người bạn tốt bụng được LDN vẽ tặng bức tranh nầy, đã gởi tặng lại cho tác giả. Hãy nghe bạn Lưu Diệu Nam tâm sự:

“Đây là hình một bức tranh sơn dầu do bạn Phúc ở Quảng ngãi vừa gửi tặng. Bức tranh này do tôi vẽ tại nhà bạn và tặng lại trước năm 1975. Ngày đó tôi làm việc tại QN, thường về nhà Trung úy Phát, là anh của Phúc, như một người trong một gia đình (Ở QN hơn ba năm tôi không có nhà riêng, sống độc thân, ăn ở ngay trong trụ sở BCH của tôi)”

 
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | 1 bình luận

Tản Mạn Về Cờ Vàng_Huỳnh Thục Vy

LGT: Theo tin từ trong nước, Blogger nổi tiếng Huỳnh Thục Vy, vào sáng sớm ngày 9/8/2018 lúc 7AM đã bị một toán công an khoảng 30 người đến tận nhà ở Buôn Hồ, Ban Mê Thuột, bắt đi. Cô là một nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước đã có nhiều bài viết bày tỏ sự quan tâm về nhân quyền và nữ quyền, đặc biệt cô từng có lần viết bài ca ngợi lá cờ vàng ba sọc đỏ và từng lấy sơn xịt lên lá cờ đỏ sao vàng. Có lẽ 2 hành động này đã khiến cho nhà cầm quyền CSVN ra lệnh bắt giữ cô và có thể cô sẽ bị khởi tố hình sự.

Nhân dịp này, mời các bạn đọc lại bài “Tản Mạn Về Cờ Vàng” của cô viết cách nay đã hơn một năm:

Tản Mạn Về Cờ Vàng_Huỳnh Thục Vy

Huynh Thuc VyTôi may áo dài, áo khoác, cà vạt với hình ảnh cờ vàng ba sọc đỏ để làm gì? May để bán. Mục tiêu của buôn bán là lợi nhuận, tất nhiên, đó là điều không thể chối cãi. Nhưng, là một người bảo vệ Nhân quyền và hoạt động xã hội dân sự, lợi nhuận không phải mục tiêu duy nhất của tôi. Thông thường, mỗi công việc của chúng ta thường nhắm đến không chỉ một, mà hai, ba mục tiêu.

Trước nay, lá cờ vàng ba sọc đỏ cũng như mọi biểu tượng khác liên quan đến Việt Nam Cộng Hoà đều là những thứ nhạy cảm, bị đưa ra ngoài vòng pháp luật một cách bất thành văn. Nói đến nó là nói đến công an và nhà tù. Chúng ta, những người con Việt Nam còn giữ lòng xót xa cho mệnh người và vận nước chưa thể nào quên được một triệu quân cán chính Việt Nam cộng hoà đã phải trình diện chính quyền cộng sản và bị đày đi lao động khổ sai dưới cách gọi trịch thượng của chính quyền cộng sản là “lao động cải tạo” và đã có hàng trăm ngàn người lính Việt Nam Cộng Hoà không chết vì bom đạn chiến tranh mà chết vì bị tra tấn, đói khát, bệnh tật trong nhà tù cộng sản. Chúng ta chưa thể quên một miền Nam tan hoang sau 1975 và lòng người dân miền Nam còn rỉ máu cho đến hôm nay. Chúng ta chưa thể quên những vết cắt sâu hoắm trong lòng dù vẫn dùng thời gian để bôi xoá nó.

Chúng ta chưa quên, vì sao? Vì chính những người cộng sản cho đến hôm nay vẫn cai trị toàn bộ Việt Nam với bộ máy chính quyền công an trị chà đạp Nhân quyền. Họ một mặt ca ngợi “Thống nhất” nhưng mặt khác vẫn ăn mừng Ba mươi tháng Tư. Họ rao giảng “hoà hợp” nhưng vẫn bắn đại bác vào quá khứ (cái quá khứ từng là tuổi trẻ, từng là sức sống, từng là niềm tự hào của hàng triệu con người). Họ thèm khát ngoại tệ của “khúc ruột ngàn dặm” nhưng lại luôn miệng nói về lịch sử với những từ như: nguỵ quân, nguỵ quyền. Họ nói về hoà bình nhưng vẫn giữ cách hành xử với người dân bằng bạo lực tàn ác. Họ tra tấn, bắt giam, khủng bố tinh thần những ai nhắc đến Việt Nam Cộng hoà, trưng cờ vàng ba sọc đỏ…

Ở Việt Nam, không ai dám giữ bất cứ cái gì có màu vàng ba sọc đỏ một cách có chủ ý mà không chuẩn bị tinh thần để bị công an sách nhiễu. Sau ngày VNCH sụp đổ, dưới thời bao cấp, trưng cờ vàng thì hình phạt có thể là cái chết. Một Nguyễn Viết Dũng cầm cờ vàng, mang quân phục VNCH đi biểu tình đã bị bỏ tù. Tôi bán cà vạt, may áo dài cờ vàng bị dư luận viên nhắn tin thoá mạ và đe doạ giết. Một cô MC may áo dài cờ vàng dẫn chương trình đám cưới bị công an mời đi làm việc… Vì thế, lá cờ vàng không chỉ là biểu tượng của một quốc gia dân chủ non trẻ có tên Việt Nam Cộng Hoà, hay có thể là biểu tượng của đất nước và vương quyền của vài vị vua nào đó dưới triều Nguyễn; mà vô hình trung, nó trở nên thứ song hành với chính sách khủng bố của chính quyền CSVN; trở nên thứ gắn liền với sự chà đạp quyền tự do lương tâm (hay còn gọi là quyền tự do tư tưởng) của chính quyền độc tài.

Tôi biết hết thảy những sự thù địch với cờ vàng như thế của chính quyền CSVN và sự e sợ của người dân với hình ảnh lá cờ này. Tôi cũng lường được những hậu quả không sớm thì muộn xảy ra cho chính mình khi may, in các sản phẩm thời trang dựa trên hình ảnh lá hoàng kỳ này. Nhưng tôi vẫn làm. Vì sao? Nếu chỉ vì mục tiêu lợi nhuận, không ai mang an toàn của mình và gia đình mình ra đánh đổi với vài triệu đồng. Trước giờ hầu như các sản phẩm cờ vàng, đặc biệt là áo khoác, đều được sản xuất ở bên ngoài Việt Nam, đưa vào trong nước với số lượng nhỏ. Bây giờ, tôi may các sản phẩm cờ vàng hàng loạt. Không phải chỉ để bán cho những người ở hải ngoại yêu thích màu cờ họ ấp ủ trong tim bao chục năm nay; mà còn để tặng, để bán cho người Việt quốc nội. Điều quan trọng là các sản phẩm được sản xuất ở chính Việt Nam, được vận chuyển, quảng bá ở Việt Nam, được trữ trong kho hàng của một người đang ở Việt Nam, và được bán, tặng cho anh chị em ở tại Việt Nam và được nổi bật trên khắp thôn làng, đường phố Việt Nam.

Tôi muốn “bình thường hoá” hình ảnh đi liền với sự sợ hãi đó. Tôi muốn góp chút sức giải toả “lời nguyền” nhắm vào màu cờ này. Tôi muốn màu vải nền vàng với ba sọc đỏ nổi bật sẽ là đi vào tâm thức người dân, đặc biệt là giới trẻ, không chỉ như là một thứ gì đó bình thường, không mang tính đe doạ mà còn đẹp đẽ dưới bình diện thẩm mỹ. Một tà áo dài vàng thướt tha, một chiếc cà vạt lụa vàng để mặc với áo sơ mi trắng, một áo khoác vàng có ba sọc thể thao trên cánh tay để mặc ra ngoài khi trời trở gió… Vậy đó, cái gì hiếm hoi thì bất thường, nhưng những gì quen mắt thì dần dần trở nên bình thường. Khi cờ vàng được thiết kế thành áo thể thao, mũ nón, áo dài, áo đầm, logo công ty, biểu tượng của hội đoàn… một cách vô tình hoặc cố ý (nhưng công an làm sao biết chúng ta vô tình hay cố ý?) thì lâu dần tâm thức người dân không còn e dè với cờ vàng nữa, công an của nhà cầm quyền cũng không thể kiểm soát được việc sử dụng nó. Vậy đó, đừng quá nghiêm trọng hoá mọi thứ, hãy để nó diễn ra tự nhiên, nhẹ nhàng như nước chảy.

Bên cạnh mong muốn xoá bỏ “sự bất thường” của cờ vàng trên đất Việt Nam, tôi còn muốn thông qua việc mặc các sản phẩm thời trang cờ vàng để truyền đạt sự ủng hộ cho quyền tự do lương tâm của người Việt Nam đang bị dày xéo dưới gót giày độc tài. Quyền tự do lương tâm là quyền tiên khởi của nhiều nhân quyền khác như quyền tự do biểu đạt, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo… Bởi chúng ta được sinh ra với quyền tự do nuôi dưỡng điều ta tin tưởng, tự do trân trọng và ôm ấp trong tim một thời kỳ lịch sử, một biểu tượng dù thể chế đó không còn, tự do tin tưởng rằng một điều gì đó là tốt đẹp mà không phải điều gì khác, tự do phát ngôn cho điều ta tin là đúng (miễn là tất cả những điều đó không phải là bạo lực và chống lại nhân phẩm), nên nhân loại mới cùng ngồi lại với nhau để đồng ý ký kết tôn trọng tự do tôn giáo, tự do biểu đạt, tự do ngôn luận…

Nhà cầm quyền Việt Nam, về mặt nguyên tắc, không được phép cấm cờ vàng và đàn áp những ai yêu quý nó, cũng giống như họ không được phép bịt miệng những người bất đồng chính kiến và đàn áp quyền tự do tôn giáo vậy. Thế nhưng, hầu như người ta dành nhiều sự ủng hộ cho một tôn giáo bị đàn áp, một người bất đồng chính kiến bị bỏ tù hơn là một người ủng hộ cờ vàng bị tra tấn. Có gì khác biệt giữa quyền tự do được trân trọng điều gì đó (ở đây là tình cảm yêu quý trân trọng cờ vàng và Việt Nam Cộng Hoà) với quyền tự do thờ phượng hay quyền tự do phát biểu chỉ trích chính quyền? Không khác biệt.

Vậy tự do lương tâm và tự do biểu đạt có phải là chúng ta được quyền trưng bày các biểu tượng chống lại con người, các biểu tượng khủng bố hay các biểu tượng khác làm tổn thương lương tâm nhân loại không? Dứt khoát Không. VNCH là một chính thể dân chủ non trẻ, còn nhiều khiếm khuyết, cố gắng trưởng thành trong một thời kỳ chiến tranh khốc liệt và trong một giải đoạn lịch sử quốc tế phức tạp. Vì thế, tưởng nhớ VNCH chỉ làm chính quyền cộng sản lo sợ và thù ghét chứ không làm tổn thương lương tâm bất cứ ai, ngay cả những gia đình cựu bộ đội Bắc Việt, vì miền Bắc chủ động đánh chiếm miền Nam chứ không phải ngược lại. Bởi vậy, chúng ta có thể loại trừ khả năng đó.

Tự do lương tâm? Vậy vì sao cờ đỏ bị đả kích ở hải ngoại? Vâng, cờ đỏ là biểu tượng của chế độ độc tài đàn áp nhân quyền, ngăn chặn dân chủ. Chống cờ đỏ nghĩa là biểu tỏ sự bất đồng của những người bình thường với một chính quyền tham tàn. Đó cũng là cách thực thi quyền tự do biểu đạt. Nhưng đứng trên vị trí một nhà nước, với độc quyền bạo lực, không một chính quyền nào được phép cấm đoán tự do lương tâm, tự do gìn giữ màu cờ của người dân. Và vì thế suy ra, chừng nào Việt Nam có dân chủ thì một Hiến pháp tự do cần toàn thể người dân, đặc biệt là giới trí thức, cân nhắc xem có nên đưa đảng cộng sản và các biểu tượng của nó ra ngoài vòng pháp luật dựa trên những tội ác và các hành động khủng bố họ đã gây ra hay không. Nếu không, thì trong một Việt Nam tự do dân chủ thực sự không cho phép đàn áp quyền tự do của những người vẫn yêu mến lá cờ nhuộm màu máu này.

Tóm lại, tôi vẫn tiếp tục dùng hình ảnh cờ vàng cho những sản phẩm thời trang của mình miễn là có người vẫn yêu mến nó; vì đó là quyền tự do lương tâm của những người yêu mến Việt Nam Cộng Hoà và của chính người viết bài này.

08/6/2017

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tản Mạn Về Cờ Vàng_Huỳnh Thục Vy

Bài Ca Vu Lan-NCV

Mời các bạn thưởng thức vài bản nhạc Vu Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Ca Vu Lan-NCV

Tin Buồn: Tr Tướng Phạm Xuân Chiểu đã ra đi

Tin Buồn: Căn Nhà Nhỏ K1 mới nhận được tin buồn: Cựu Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, Cựu Tổng Giám Đốc CSQG/VNCH (1956-1958) vừa từ trần tại Maryland (USA), ngày 07/8/2018, hưởng đại thọ 98 tuổi. Gia đình K1-HVCSQG xin chân thành phân ưu cùng Bà QP Phạm Xuân Chiểu và tang quyến; nguyện cầu cho hương linh NT Phạm Xuân Chiểu sớm được siêu thoát nơi Cõi Vĩnh Hằng.

Dưới đây là nội dung Cáo Phó của gia đình:

PhXuan Chieu

CÁO PHÓ

Chúng tôi xin thông báo cùng thân bằng quyến thuộc và bằng hữu là:

Chồng, cha, ông và ông cố của chúng tôi là:

(Cựu) Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu

                   Đã từ trần ngày 07, tháng 8, năm 2018.

                                Hưởng thọ 98 tuổi

  Vợ:                    Bà Nguyễn Lệ Hà

  Trưởng nam:  Phạm Xuân Giang, vợ, các con, cháu

  Thứ nam:        Phạm Hùng Quốc, vợ, các con

  Thứ nam:        Phạm Xuân Chử, vợ

  Trưởng nữ:     Phạm Thị Tường-Nguyên, chồng, các con, các cháu

  Thứ nữ:           Phạm Thị Khánh-Chi, chồng, các con, các cháu

  Thứ nữ:           Phạm Thị Tường-Vân, con

  Thứ nữ:           Phạm Thị Tường-Anh, chồng, con

  Thứ nữ:           Phạm Thị Tường-Loan

  Dưỡng nam:   Đào Viết Diễn, vợ

Linh cữu được quàn tại Pumphrey Funeral Home,

7557 Wisconsin Avenue, Bethesda, MD 20814

Tel.: 301-652-2200

*

 Chương trình tang lễ:

Thứ ba ngày 14, tháng 8, năm 2018.

10:00 am – 11:00 am: Lễ Phát Tang/Lễ Cầu Siêu/ Lễ Tiến Linh

11:00 am –  12:00 pm: Thăm viếng

 01:00 pm: Lễ Di Quan & Hoả Táng

Cáo phó này thay thiệp tang. Xin miễn phúng điếu.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Buồn: Tr Tướng Phạm Xuân Chiểu đã ra đi

Tin Vui: Mỹ đã nghiên cứu, bào chế thành công vaccine chống ung thư

Mỹ đã nghiên cứu, bào chế thành công

vaccine chống ung thư!

 Chỉ một mũi tiêm đã có thể khiến tất cả các tế bào ung thư trên cơ thể biến mất – đó không chỉ là ước mơ của những bệnh nhân ung thư và thân nhân họ mà cũng là của cả nhân loại.

Mới đây, các nhà khoa học ở Đại học Stanford Mỹ đã nghiên cứu, sản xuất thành công “vaccine ung thư”, khiến nhân loại đứng trước tương lai tươi sáng triệt để chiến thắng căn bệnh nan y này.H1

Các nhà nghiên cứu đã giành được thành quả tuyệt vời gây bất ngờ khi thử nghiệm đối với chuột: sau khi tiêm vaccine, các tế bào ung thư trong cơ thể nó hoàn toàn biến mất, không những thế loại vaccine này còn có tác dụng đối với nhiều loại ung thư khác nhau. Các tài liệu liên quan đến công trình nghiên cứu này đã được đăng trên tạp chí “Science Translational Medicine”.

Theo tạp chí này thì nhóm nghiên cứu của Giáo sư Ronald Levy của Học viện Y khoa, Đại học Stanford đã nghiên cứu chế tạo ra loại vaccine này trên cơ sở kết hợp 2 dung dịch kích thích miễn dịch.

Khi thí nghiệm, các nhân viên nghiên cứu đã cấy 2 khối u limpo ung thư vào 2 vị trí trên cơ thể chuột, sau đó họ tiêm một lượng nhỏ vaccine vào 1 trong 2 khối u kích thích tế bào trong khối u. Kết quả cho thấy, sau khi được tiêm vaccine, không những khối u được tiêm vào bị tiêu diệt mà khối u kia cũng biến mất.

H2

Trong hạng mục nghiên cứu này, trong số 90 con chuột được dùng thí nghiệm, có 87 con tế nào ung thư hoàn toàn biến mất, tỷ lệ thành công đạt 97%, chỉ có 3 con tế bào ung thư tái phát, nhưng khi tiêm lần thứ 2 thì các khối ung thư đều biến mất.

Loại vaccine kháng ung thư kiểu mới này có hiệu quả đối với nhiều loại ung thư khác nhau, bao gồm cả loại ung thư tự nhiên phát sinh. Các nhân viên nghiên cứu đã giành được kết quả giống nhau khi thử nghiệm đối với các loại ung thư vú, đại tràng và ung thư da.

Ngoài ra, họ còn phát hiện loại vaccine này còn có thể phòng ngừa tái phát ung thư, kéo dài được tuổi thọ của chuột. Khác với các phương pháp trị liệu nung thư khác, loại vaccine này đã tránh phương thức tìm đặc trưng miễn dịch của từng loại ung thư để tiến hành phong tỏa, cũng không cần phải kích hoạt toàn bộ hệ thống miễn dịch hoặc xử lý riêng tế bào miễn dịch của từng bệnh nhân.

Tiêm vaccine vào một khối u hay vào chỗ khác trong cơ thể thì các protein tương đồng với loại của khối u ác tính cũng đều bị tiêu diệt. Điều này có nghĩa là, các tế bào ung thư dù khuếch tán, di căn đến bộ phận nào trong cơ thể cũng đều bị tiêu diệt chỉ bằng một loại vaccine.

Các nhân viên nghiên cứu cho biết, chỉ cần một lượng rất nhỏ vaccine sẽ gây được hiệu quả rất nhanh, đặc biệt không dễ gây ra các tác dụng phụ như phương pháp hóa trị hay xạ trị, thời gian trị liệu rất ngắn, giá lại khá rẻ.

Trong hai loại thuốc tạo nên loại vaccine này. Một đã được phép sử dụng cho con người, loại kia đang được thử nghiệm lâm sàng cho một loại bệnh khác không liên quan đến phương pháp trị liệu này.

Hiện nay, việc nghiên cứu loại vaccine chống ung thư mới này đã bước sang giai đoạn thử nghiệm trên cơ thể người. Nếu thành công, sẽ là đột phá trọng đại trong lịch sử đấu tranh với căn bệnh ung thư của nhân loại.

Thu Thủy
(VietTimes)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Vui: Mỹ đã nghiên cứu, bào chế thành công vaccine chống ung thư

Âm Nhạc Miền Nam và Những Ngày Xưa Thân Ái_Vũ Đông Hà

Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái

Vũ Đông Hà (Danlambao) – Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng” được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.

Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.

*

Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: “Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…” Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và “cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”

Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình: “Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…” Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận “Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.” Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…” Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.” Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!

Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha… Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…” Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân… Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”

Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.

Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày Tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.

Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai 

Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em 

Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù 

Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…

Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.

Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẽ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”

Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.

*

Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những“cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.

Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!” Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát “Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau. Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”. Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát “Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.” Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.

Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”. Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”. Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…” Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.

*

Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu… Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…” khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát. Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:

“Nhưng anh bây giờ anh ở đâu 

con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm

tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ 

Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa

nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”

Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.

Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo” để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.

*

Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.

Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại. Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”. Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…” Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố;  tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ,  tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ”.. Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: “Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”… 

Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.

*

Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.

Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.

Ai giải phóng ai? Hãy hỏi Con Đường Xưa Em Đi và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!

24.03.2017

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Âm Nhạc Miền Nam và Những Ngày Xưa Thân Ái_Vũ Đông Hà

Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển_Nguyễn Văn Phán TQLC

LGT: Nhà thơ Du Tử Lê từng có bài thơ nổi tiếng “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển” nói về ước nguyện của một người tị nạn khi chết hồn xác muốn được trở về quê mẹ VN. Bài thơ dưới đây của một người lính VNCH thì lại có ý tưởng ngược lại: “Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển”

Image result for KHI TÔI CHẾT ĐỪNG ĐƯA TÔI RA BIỂN

KHI TÔI CHẾT ĐỪNG ĐƯA TÔI RA BIỂN

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben Het, Dakto
Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu D
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi ba sọc đỏ nền vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.

-Nguyễn văn Phán-
Cựu trung tá TQLC Quân lực VNCH.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển_Nguyễn Văn Phán TQLC

Việc đặt tên đường phố Sàigòn trước năm 1975_Nguyễn Văn Luân

 Saigon_1956

Việc đặt tên đường phố Sàigòn trước năm 1975

Trong những năm làm việc tại Tòa Đô Chánh Saigon, tôi có dịp góp phần trông coi việc xây dựng và tu bổ đường xá, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Saigon Tây (Chợ Lớn) gồm 6 quận 5, 6, 7, 8, 10 và 11, lúc thì tại Khu Kiều Lộ Saigon Đông (Saigon) gồm 5 quận 1, 2, 3, 4 và 9. Hàng ngày họp với các ông cai lục lộ phụ trách từng khu vực, nghe báo cáo đường thì ngập nước sau cơn mưa, đường thì có ổ gà, nhựa đường tróc hết trơ lớp đá xanh đá đỏ nền đường, đường thì dân xây cất trên lộ giới tràn ra lề đường, nên tôi gần như thuộc lòng tên hơn 300 con đường, qua bao nhiêu năm lịch sử của thành phố, hầu hết đều có tên Tây như:

  • Boulevard Charner

  • Boulevard Galliéni

  • Boulevard Kitchener

  • Boulevard Norodom v.v

Sau hiệp định Genève tháng 7 năm 1954 chính quyền Pháp bàn giao cho chính phủ Bảo Đại, với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Để đánh dấu việc giành độc lập từ tay người Pháp, Toà Đô Chánh Sàigòn được lệnh gấp rút thay thế toàn bộ tên đường từ tên Pháp qua tên Việt trong khoảng thời gian ngắn nhất. Trong lịch sử của các thành phố có bao nhiêu lần đổi tên hàng loạt toàn bộ các con đường như thế này? Có lẽ vô cùng hiếm hoi.

Việc đối chiếu tên các danh nhân trong lịch sử 4000 năm để đặt tên đường sao cho hợp lý không phải dễ. Chỉ nghĩ đơn thuần, khi dùng tên Vua “Trần Nhân Tôn” và Tướng “Trần Hưng Đạo”, người làm dưới trướng của Vua, để đặt tên cho 2 con đường thì đường nào to và quan trọng hơn? Câu hỏi nhỏ như vậy còn thấy không đơn giản, huống chi cân nhắc cho ngần ấy con đường trong một thời gian gấp rút thật không dễ.

ThuanPhong Ngo Van Phat

Ông Thuần Phong Ngô Văn Phát

Lúc bấy giờ công việc này được giao cho Ty Kỹ Thuật mà Phòng Hoạ Đồ là phần hành trực tiếp. May mắn thay cho thành phố có được nhà văn Ngô Văn Phát**, bút hiệu Thuần Phong, có bằng Cán Sự Điền Điạ lúc ấy đang giữ chức Trưởng Phòng Hoạ Đồ.

Năm 1956, sau hơn ba tháng nghiên cứu, ông đã đệ trình lên Hội Đồng Đô Thành, và toàn bộ danh sách tên đường ấy đã được chấp thuận. Khi tôi vô làm năm 1965 và hàng ngày lái xe đi công trường, đụng chạm với các con đường mới cảm nhận được sự uyên bác về lịch sử của ông. Nhìn những tên đường trên họa đồ, khu nào thuộc trung tâm thành phố, khu nào thuộc ngoại ô, đường nào tên gì và vị trí gắn bó với nhau, càng suy nghĩ càng hiểu được cái dụng ý sâu xa của tác giả.

Các đường được đặt tên với sự suy nghĩ rất lớp lang mạch lạc với sự cân nhắc đánh giá bao gồm cả công trạng từng anh hùng một lại phù hợp với điạ thế, và các dinh thự đã có sẵn từ trước. Tác giả đã cố gắng đem cái nhìn vừa tổng quát lại vừa chi tiết, những khiá cạnh vừa tình vừa lý, đôi khi chen lẫn tính hài hước, vào việc đặt tên hiếm có này. Tôi xin kể ra đây vài thí dụ, theo sự suy đoán riêng của mình, bởi vì ông có nói ra đâu, nhưng tôi thấy rõ ràng là ông có ý ấy:

  • Đầu tiên là những con đường mang những lý tưởng cao đẹp mà toàn dân hằng ao ước: Tự Do, Công Lý, Dân Chủ, Cộng Hoà, Thống Nhất. Những con đường hoặc công trường này đã nằm ở những vị trí thích hợp nhất.

  • Đường đi ngang qua Bộ Y Tế thì có tên nào xứng hơn là Hồng Thập Tự.

  • Đường de Lattre de Tassigny chạy từ phi trường Tân Sơn Nhất đến bến Chương Dương đã được đổi tên là Công Lý, phải chăng vì đi ngang qua Pháp Đình Sàigòn. Con đường dài và đẹp rất xứng đáng. Ba đường Tự Do, Công lý và Thống Nhất giao kết với nhau nằm sát bên nhau bên cạnh dinh Độc Lập.

  • Đại lộ Nguyễn Huệ nằm giữa trung tâm Sàigòn nối từ Toà Đô Chánh đến bến Bạch Đằng rất xứng đáng cho vị anh hùng đã dùng chiến thuật thần tốc phá tan hơn 20 vạn quân Thanh. Đại lộ này cũng ngắn tương xứng với cuộc đời ngắn ngủi của ngài.

  • Những danh nhân có liên hệ với nhau thường được xếp gần nhau như Đại Lộ Nguyễn Thái Học với đường Cô Giang và đường Cô Bắc, cả ba là lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Hoặc đường Phan Thanh Giản với đường Phan Liêm và đường Phan Ngữ, Phan Liêm và Phan Ngữ là con, đã tiếp tục sự nghiệp chống Pháp sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết.

  • Những đại lộ dài nhất được đặt tên cho các anh hùng Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Toản, Lê Lợi và Hai Bà Trưng. Mỗi đường rộng và dài tương xứng với công dựng nước giữ nước của các ngài.

  • Đường mang tên Lê Lai, người chịu chết thay cho Lê Lợi thì nhỏ và ngắn hơn nằm cận kề với đại lộ Lê Lợi.

  • Đường Khổng Tử và Trang Tử trong Chợ Lớn với đa số cư dân là người Hoa.

  • Bờ sông Sàigon được chia ra ba đoạn, đặt cho các tên Bến Bạch Đằng, Bến Chương Dương, và Bến Hàm Tử, ghi nhớ những trận thuỷ chiến lẫy lừng trong lịch sử chống quân Mông cổ, chống Nhà Nguyên cuả Hưng Đạo Đại Vương vào thế kỷ 13.

  • Cụ Nguyễn Du, mà thầy đồ Thiệp, người dạy học vỡ lòng cho tôi, khi nói chuyện với cha tôi, bao giờ cũng gọi với danh xưng Cụ Thánh Tiên Điền. Cuốn truyện Kiều của cụ ngày nay được chúng ta dùng như là khuôn mẫu cho tiếng Việt, khi có sự tranh luận về danh từ hay văn phạm, người ta thường trích một câu Kiều làm bằng. Vậy phải tìm đường nào đặt tên cho xứng? Tôi thấy con đường vừa dài vừa có nhiều biệt thự đẹp, với hai hàng cây rợp bóng quanh năm, lại đi ngang qua công viên đẹp nhất Saigon, vườn Bờ Rô, và đi ngang qua Dinh Độc Lập, thì quá xứng đáng. Không có đường nào thích hợp hơn. Tuyệt! Vườn Bờ Rô cũng được đổi tên thành Vườn Tao Đàn làm cho đường Nguyễn Du càng thêm cao sang.

  • Vua Lê Thánh Tôn, người lập ra Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú, cũng cho mang tên một con đường ở địa thế rất quan trọng, đi ngang qua một công viên góc đường Tự Do, và đi trước mặt Toà Đô Chánh.

  • Trường nữ trung học Gia Long lớn nhất Sài gòn thì, (trớ trêu thay?), lại mang tên ông vua sáng lập nhà Nguyễn. Trường nữ mà lại mang tên nam giới! Có lẽ nhà văn Thuần Phong muốn làm một chút gì cho trường nữ trung học công lập lớn nhất thủ đô có thêm nữ tính, nên đã đặt tên hai đường song song nhau cặp kè hai bên trường bằng tên của hai nữ sĩ: Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm. Chùa Xá Lợi nằm trên đường Bà Huyện Thanh Quan thấy cũng nhẹ nhàng.

  • Thẳng góc với hai đường Bà Huyện Thanh Quan và Đoàn Thị Điểm là đường Hồ Xuân Hương. Ba nữ sĩ nằm bên cạnh nhau, thật là có lý, nhưng có lý hơn nữa có lẽ là đường Hồ Xuân Hương đi ngang qua bệnh viện Da Liễu. Tác giả những câu thơ “Vành ra ba góc da còn thiếu, Khép lại hai bên thịt vẫn thừa” mà cho mang tên đường có bệnh viện Da Liễu có lẽ cũng xứng hợp.

Ông Nhà Văn – Trưởng Phòng Họa Đồ quả là sâu sắc.

Rất tiếc là lúc vào làm việc thì Thuần Phong Ngô văn Phát đã về hưu nên tôi không được hân hạnh gặp mặt. Mãi sau này mới có dịp đọc tiểu sử của ông, mới hết thắc mắc làm sao chỉ là một công chức như tôi mà ông đã làm được việc quá xuất sắc và hi hữu này.

NGUYỄN VĂN LUÂN

Nguồn: http://www.ltahcc.com/lt106/binder06.pdf

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Việc đặt tên đường phố Sàigòn trước năm 1975_Nguyễn Văn Luân

Nam Cali tiếp tục biểu tình ủng hộ Quốc nội_Phóng sự Ảnh

05/8/2018: Nam Cali tiếp tục biểu tình ủng hộ Quốc nội

(Phóng sự Ảnh) Võ Thiệu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nam Cali tiếp tục biểu tình ủng hộ Quốc nội_Phóng sự Ảnh

Nam Cali biểu tình ủng hộ Quốc nội_YouTube

Nam Cali biểu tình ủng hộ Quốc nội:

Từ ngày 10/6/2018, vào các ngày Thứ Bảy hoặc Chủ Nhật, Cộng đồng Người Việt Quốc Gia tại Nam Cali  đã liên tục xuống đường biểu tình  hàng tuần để ủng hộ đồng bào quốc nội phản đối các Dự Luật Đặc Khu (cho thuê đất trong 99 năm 3 đặc khu : Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc)  và Luật An Ninh Mạng.

Dưới đây là quang cảnh biểu tình trong ngày Thứ Bảy  28/7/2018 diễn ra trên đại lộ Bolsa, Westminster, Nam CA:

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nam Cali biểu tình ủng hộ Quốc nội_YouTube

Mưa Chiều Kỷ Niệm_YouTube

Thư giãn cuối tuần:

Nghe ‘Mưa Chiều Kỷ Niệm’ qua giọng hát một cô gái Quảng Nam:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mưa Chiều Kỷ Niệm_YouTube

Thống kê thế giới về Việt Nam

Thống kê thế giới về Việt Nam

Tác giả: Không thấy đề tên tác giả. Nhưng khá thú vị.

Dân số:

image

Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những đơn vị chính được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 13 có dân số đông nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt dân số, Việt Nam không phải kém.

Diện tích:

image

Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những đơn vị chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia. Ở vị trí thứ 61, Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.Bởi vậy, xét về mặt diện tích, Việt Nam không phải là kém.

Duyên Hải:

image

Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt; vừa tiếp diện biển ở phía Đông, vừa dựa vào rừng cây và cao nguyên ở phía Tây. Việt Nam đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có bề dài duyên hải dài nhất thế giới với chiều dài duyên hải 3,444 cây số. Nên biết rằng, có 47 quốc gia trên thế giới hoàn toàn nằm trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 quốc gia có chiều dài duyên hải chưa đến 100 cây số. Bởi vậy, xét về mặt bề dài duyên hải, Việt Nam không phải là kém.

Rừng cây:

image

 Việt Nam có tổng số diện tích rừng đứng hàng 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới với tổng diện tích rừng là 123,000 cây số vuông. Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt.Mặc dù rừng cây ở Việt Nam bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng.Bời vậy, xét về mặt diện tích rừng cây, Việt Nam không phải là kém.

Đất canh tác:

image

Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam không phải là kém.

Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý rất tồi:

  1. Giáo dục:

image

Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.

  1. Bằng sáng chế:

image

Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

  1. Ô nhiễm:

image

Theo chỉ số ô nhiễm, Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

  1. Thu nhập tính theo đầu người:

image

Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, Việt Nam lại đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.

  1. Tham nhũng:

image

Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

  1. Tự do ngôn luận:

image

Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press), Việt Nam đứng vị trí 174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.

  1. Phát triển xã hội:

image

Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.

  1. Y tế:

image

Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.

Việt nam có đầy đủ tiềm năng nhưng tại sao tụt hậu ngày càng xa sau các nước khác?

Ai trả lời được đây?

(Nguồn: kimdunghn.wordpress.com )

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thống kê thế giới về Việt Nam

Cảnh giác thủ đoạn xâm nhập của cộng sản_Ng.Trọng Dân

Hãy cảnh giác 
trước thủ đoạn xâm nhập của Việt Cộng

1. Xâm nhập bằng đường hôn nhân: Việt Cộng và nhất là bên Công an có cả một chính sách “cơ cấu” dâu rễ với mọi thành phần người dân Việt Nam Cộng Hòa; người dân Việt Nam Cộng Hòa hiền lành trọng tình nghĩa nên thường bị lợi dụng làm bình phong cho Việt Cộng khi đã là thông gia với bọn chúng. Gia đình Ba Dũng chỉ là một thí dụ nhỏ nhoi trong muôn ngàn trường hợp. Các cháu nhỏ học hành đàng hoàng nết na của các gia đình công dân Việt Nam Cộng Hòa về Việt Nam là lập tức có người của Việt Cộng ngọt ngào và khôn khéo cáp ngay để cưới hỏi. Về lâu về dài sống chung, mới biết bọn này bạc tình bạc nghĩa và chỉ lợi dụng để chống phá sự hồi sinh của Việt Nam Cộng Hòa, cũng như tìm cách định cư ở nước ngoài để gầy dựng cơ sở cho đảng, lòi chành ra là Việt Cộng mà thôi.

2. Xâm nhập bằng khổ nhục kế: các VIP dân chủ dễ dàng lôi cuốn được cảm tình của người dân Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại nên Việt Cộng cũng cài một loạt những người đấu tranh bỏ tù rồi sau đó trục xuất sang Hoa Kỳ để nhập vào giới đấu tranh của Cộng Đồng, vừa thu thập tin tức vừa tìm cách chia rẽ chống phá bôi nhọ những quan điểm thật lòng, những người thật lòng vì Việt Nam Cộng Hòa. Thật giả trắng đen không biết rõ nên lâu dần, nghi kỵ bổng lây lan khiến sức mạnh đấu tranh chống Cộng bị yếu đi, sức đoàn kết trong ngoài nước cũng vì thế cũng yếu đi. Có may mắn khá nhỏ nhoi là bọn Việt Cộng giả danh dân chủ nằm vùng này cứ hể thấy cờ Vàng hay bốn chữ Việt Nam Cộng Hòa thì hơi bị nhột nên có đôi khi bị lộ mặt yêu tinh của mình. Tuy nhiên, bọn Việt Cộng giả danh dân chủ sau này thì khôn hơn, cứ bơ mặt tung hô nên ngày càng khó đoán.

3. Xâm nhập thông qua giới nghệ sĩ: Giới nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa vẫn bị lợi dụng tối đa để làm cầu nối cho Việt Cộng xâm nhập và đánh bóng sự tốt đẹp giả tạo của chúng. Cụ thể hơn hết là văn công Việt Cộng đưa ra các chương trình văn nghệ chỉ là đơn thuần giải trí chỉ “phục vụ cho thưởng thức – chứ không phục vụ cho chính trị,” ca sĩ văn công của đảng hát chung với ca sĩ Việt Nam Cộng Hòa khiến mọi người dần dần có thiện cảm để rồi từ từ chúng lộ diện là “bạch cốt ma,” xâm nhập và lấy tin tức cho đảng cũng như phá hoại mọi nỗ lực vận động chống cộng của người dân Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại.

4. Xâm nhập bằng đường tôn giáo: Hàng loạt các chùa chiền ở hải ngoại bưng bê ồ ạt công an giả làm thầy chùa sang hải ngoại để rồi, chống phá các sư thầy hay các chùa có tinh thần yêu nước (tức là chống Cộng phục hưng Việt Nam Cộng Hòa và dân chủ) với chủ trương cái gọi là: “chí tâm tu hành, không dính đến chính trị.” Chùa chiền của Việt Cộng giấu súng chứa mìn thì được, còn chùa chiền của người dân Việt Nam Cộng Hòa cắm cờ Vàng trước ngõ hay lên án cái ác của Việt Cộng thì bị coi là tu mà còn dính dáng đến chính trị?!! Việt Cộng thật là tráo trở!

Đó là chưa kể hàng loạt các thầy chùa dẫn Việt Kiều về nước làm từ thiện để đem đô la nuôi đảng! Người nghèo thì được dăm ba đồng rồi bị cướp lại hết, còn cán bộ nắm hết tiền cứu trợ thì không ai biết cả. Có lần, một sinh viên bách khoa ở Sài Gòn, theo người nhà mình từ Mỹ về cùng một vị thầy đi làm từ thiện ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bổng hỏi, “thưa thầy, chùa Thầy ở bên Mỹ có làm từ thiện gì giúp cho người dân Mỹ không?” Ông thầy này đang hăng hái chia tiền nên quên bẵng, bèn trả lời là “Không!” Anh sinh viên này mới ngớ ngẩn hỏi, “Thưa thầy, thầy sống ở nước Mỹ, kiếm cơm có tiền là nhờ xã hội Mỹ mà không làm từ thiện giúp lại xã hội Mỹ, thầy lại về tận đất nước mình mà làm từ thiện, Mỹ nó cho hay sao?” Ông thầy hơi bị chột, lật đật lãng qua chuyện khác. Nhờ vậy, nhiều người Việt Kiều đi trong đoàn bỗng nghi ông thầy này là cán Cộng. Ông thầy tu này là ai, tên gì thì thôi để những Phật tử Việt Kiều nào trong cuộc suy nghiệm lấy vậy, tạm không muốn nêu tên tuổi để được thuận hòa sau trước.

Các chùa chiền có thầy chùa quốc doanh thường sẽ rêu rao là chỉ tu hành không dính đến chính trị để ru ngủ Phật tử quên lãng nỗi đau cả dân tộc đang bị thảm họa Cộng Sản. Chùa chiền cũng là nơi khiến lý lịch và nhiều thông tin cá nhân được thu thập để bộ Công An tìm kiếm thăm dò ở hải ngoại.

5. Xâm nhập bằng đường mở chợ búa, quán ăn: Việt Cộng sang bên Mỹ chẳng hạn sẽ lập tức kiếm cách mở chợ, quán ăn để vừa kiếm tiền kinh tài cho đảng, vừa dễ quan sát dòm ngó những khách hàng vào ra để kết nối quen biết cũng như vừa là nơi giặt ủi tiền cho cán đảng. Người dân Việt ở hải ngoại cứ thế mà lao đầu vào mua bán hay ăn uống giúp đảng mỗi ngày.

6. Sử dụng các phần tử nằm vùng: Nhiều phần tử tuy là lính ngày trước nhưng thực tế lại là nằm vùng cho Việt Cộng nên sang hải ngoại thường xuyên dùng áo lính của mình để che đậy, chống phá cũng như thu thập tin tức cho Việt Cộng. thậm chí còn tìm cách đưa thêm người của Việt Cộng sang hải ngoại để kết nối kéo bè. Trong cao trào Vượt Biển, có nhiều thành phần Việt Cộng xin được cài vào đi vượt biên chung, họ đảm bảo bải bến ra đi an toàn miễn sang trại tỵ nạn thì nhận bà con để được bảo lãnh định cư. Bọn Việt Cộng giả danh thuyền nhân này đông đáo để và chắc chắc cộng đồng người dân Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại sẽ còn mệt mỏi với bọn này dài dài vì cái mác tỵ nạn che chắn quá kỹ, khó nhận ra.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa mình thì thật thà hiền lành nên chạy kiểu nào, suy nghĩ kiểu nào cũng bị bọn Việt Cộng ranh ma lừa gạt.

Sau năm 1945, dân mình bị Việt Cộng lừa đi kháng chiến chết thế cho chúng chưa tởn, sau năm 1968, thảm sát ở Huế cũng còn chưa tởn, ngay năm 1975, biết bao người còn ngây ngô theo tàu Việt Nam Thương Tín bỏ về thay vì xin tỵ nạn vì vốn có tấm lòng hiền lành nhân từ, nghĩ đến gia đình non nước. Về rồi, bị Việt Cộng nhốt cho tối tăm mặt mũi mới vỡ lẽ sao khờ quá.

Ấy thế mà, vào năm 1986, bà con người dân Việt Nam Cộng Hòa mình lại bị lừa nữa, ai ai cũng hồ hởi, nghĩ rằng Việt Cộng mà bỏ kinh tế Mác Lê thì làm gì còn là Việt Cộng nữa, sẽ sụp ngay?! Thế là không ai còn quyết chí đấu tranh lật đổ Cộng Sản nữa. Việt Kiều về nước bung đô la cứu đảng đang kiệt quệ tê liệt một cách ồ ạt, ầm ĩ!

Trong khi toàn dân đều đói vào thời điểm 1986, căm phẫn tột cùng sắp sửa vùng lên khắp nơi từ Thanh Hóa đến Kiên Giang thì căm phẫn bỗng giảm đi vì ai ai cũng trơ trẽn nghĩ cách ngửa tay xin tiền Việt Kiều thân nhân của mình để sống cho khá hơn. Việt Cộng đẩy cả dân tộc không còn liêm sỉ, chỉ biết xin xỏ lừa tiền của Việt Kiều thân nhân mà sống và coi Việt Kiều như cái máy in tiền.

Ở hải ngoại, Việt Kiều mang thân tỵ nạn hay vượt biển định cư, có kiếm ra tiền thì cũng đổ mồ hôi học hành làm lụng mới có, ấy thế mà nay, người dân Việt của mình, cứ lấy tình máu mủ buộc người thân của mình ở hải ngoại gởi đô la về để sống cho phè phỡn, sung túc hơn, chẳng ai chịu nghĩ, chỉ vì Việt Cộng mà con cái anh em mình phải mang thân xa xứ kiếm ăn nữa cả. Một dân tộc cứ thế mà ngày càng bị Việt Cộng biến đổi thành càng lúc càng trơ trẽn, hèn hạ, thiếu ý chí tự chủ, thiếu ý chí tự lập, thiếu tính cương quyết chống Cộng để con cháu may này không cần phải sang Mỹ để mà sống, để mà làm lụng gởi tiền về cứu đói nữa. Dân mình có trơ trẽn ươn hèn thì Việt Cộng mới tồn tại lâu dài được. Đây là một chân lý!

Nhiều người Việt ở hải ngoại thậm chí còn bị Việt Cộng lợi dụng tình máu mủ biến cho trơ trẽn đến mức lãnh tiền trợ cấp của nước Mỹ, không giúp gì lại cho xã hội bên đó mà chỉ khư khư lấy tiền trợ cấp từ tiền thuế người dân Mỹ ban phát để rồi gởi về ồ ạt đều đặn để người nhà tậu vườn tậu đất khoe khoang với xóm làng khiến cả quốc thể, khí phách quốc gia của dân mình bị nhục lây trước con mắt của người Mỹ mà không ai hay biết. Ở đời, ai lại trọng cái thứ ăn cháo đá bát vô ơn như thế!

Khí tiết của con em Đại Việt mình cứ ngày một bị Việt Cộng làm cho mai một. Nay cả dân tộc cứ sống cho thiệt điếm, cho thiệt trơ trẽn, cho thiệt hèn miễn có tiền đô ăn sài là được.

Do đó, người Việt ở hải ngoại cần phải cương quyết đoạn tuyệt với những dây dưa lừa phỉnh của Cộng sản liên tục hô hào gởi tiền cứu đói người nhà thân nhân trong nước, mà thực tế để khiến đảng tiếp tục cơ hội cướp bóc tham nhũng hối lộ làm tiền người dân để mà có kinh phí tồn tại. Việt Cộng đang cố tình biến cả dân tộc trở nên trơ trẽn hèn hạ và sống điếm, chỉ biết xin xỏ người thân ở hải ngoại mà tồn tại cho sung túc. Người dân Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại cần phải nhận ra âm mưu này để chống lại tới tắp tối đa. “Phương châm” người của dân Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại cần phải thay đổi như sau:

Cứu quốc gia trước – cứu người nhà sau!

Đầu năm, xin chúc những người dân Việt Nam Cộng Hòa lương thiện hiền lành ở khắp mọi nơi vạn sự như ý cũng như xin chào tái ngộ anh chị Dân Làm Báo với một nụ cười tươi như vừa mới có tình yêu.

Nguyễn Trọng Dân

danlambaovn.blogspot.com

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cảnh giác thủ đoạn xâm nhập của cộng sản_Ng.Trọng Dân