HÚY NHẬT TRUNG TÁ LONG_Trần Pháp & Trần Quốc Nại

This image has an empty alt attribute; its file name is trung-ta-long.jpg

HUÝ NHẬT TRUNG TÁ LONG

Huý nhật thường niên Trung Tá Long
Ba mươi ngày cuối tháng tư đen
Xẻ chia gia tộc cơn gia biến
Tưởng nhớ anh hùng vị quốc vong
Phú quý chẳng màng khi nước đục
Cơ hàn cam chịu để lòng trong
Quyết đem an lạc tô đời sống
Gãy cánh giữa đường mộng vỡ tan

TP

Bài Họa của TQN:

NGƯỜI KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

Cảnh Sát Quốc Gia Trung Tá Long
Anh hùng tuẫn tiết tháng tư đen
Vinh danh xứng đáng khi nằm xuống
Hào kiệt hy sinh vận nước vong
Lưu lại tiếng thơm cho hậu thế
Mang theo khí phách giữ lòng trong
Ngàn năm bia đá hằng ghi dấu
Trang sử Việt Nam mãi chẳng tan./-
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HÚY NHẬT TRUNG TÁ LONG_Trần Pháp & Trần Quốc Nại

MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ_Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Mấy Vần Thơ Tháng Tư

Tháng Tư, người viễn xứ gửi nỗi buồn về bên kia bờ Thái Bình Dương nơi một phần đời đã lưu lại để phần đời còn lại vẫn mãi nhớ thương.

KHOANG ĐẦY

Cách nửa bán cầu đất nước tôi,

Đường về sương tuyết cách ngăn rồi.

Con thuyền ngược gió neo bờ lạ.

Chất một khoang đầy …thương nhớ ơi!

Tuệ Nga

VÌ ĐÂU?

Gần nửa đời người xa quê tôi,

Gian ác làm nên vách ngăn rồi.

Đồng bào xử tệ hơn người lạ!

Vì đâu nên nỗi, mẹ Việt ơi!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ_Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Tản Mạn Ngày 30/4 – Tác giả Đặng Chí Hùng

TẢN MẠN NGÀY 30/4

ĐẶNG CHÍ HÙNG

PHẦN 1: 30/4- NGƯỜI VUI VÀ NGƯỜI BUỒN

Trong một cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, Lê Duẩn đã cho Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch… Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Còn cuốn sách “MAO: The Unknown Story” – viết: “Có một nơi gần Trung Quốc, nơi đã có người Mỹ, đó là Việt Nam. Cuối năm 1963, miền Nam Việt Nam có khoảng 15,000 cố vấn quân sự Mỹ. Kế hoạch của Mao là tạo tình huống làm cho Mỹ phải gởi thêm quân đội vào miền Nam, ngay cả có thể xâm chiếm miền Bắc giáp giới với Trung quốc.”. Và Lê Duẩn sau này cũng đã khẳng định “Ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa”.

Trong khi đó, bà Dương Thu Hương, một đảng viên đương thời lúc CSVN chiếm được Miền Nam đã khóc trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi bà theo chân đoàn quân chiến thắng vào tiếp thu Sài Gòn, và bà đã “Ngồi xuống vỉa hè ôm mặt khóc như cha chết, vì nhận ra rằng, kẻ thắng trận là một chế độ man rợ hơn người thua”. Bà đã mô tả lại sau này rằng trong bà lúc đó có “Một cảm giác vô cùng hoang mang và cay đắng  vì cái đẹp phải tan nát, và nền văn minh phải quy hàng”. Còn ông cựu thủ tướng CSVN – Võ Văn Kiệt thì bảo ngày 30/4 là ngày mà “Triệu người vui, cũng có triệu người buồn”.

Đó là thống nhất ư? Không, nước Đức không cần T54 húc đổ dinh tổng thống. Nước Thái không cần đảng cộng sản lãnh đạo, nước Sinh chẳng cần sự “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Nhưng họ vẫn có tự do và thống nhất, vươn lên mạnh mẽ. Có gì mà tự hào với cái gọi là thống nhất khi mấy chục triệu người dân hai miền đã phải ngã xuống vì chiến tranh phi nghĩa? Dân tộc VN là một, thống nhất không cần phải xua xe tăng và đại pháo tới bắn giết đồng bào Miền Nam. Cái gọi là thống nhất chỉ là bức bình phong cho một sự tham quyền, tham của và làm tôi mọi cho chủ nghĩa cộng sản của những Hồ, Đồng, Chinh Giáp. Bằng chứng tuyệt vời về cái gọi là thống nhất chỉ là trò lừa bịp đó là Hà nội đã mặc nhiên dâng Hoàng – Trường Sa cho Tàu thông qua sự kiện công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và vụ ủng hộ Tàu “đánh giúp lấy Hoàng Sa” năm 1974. Bằng chứng đó cho thấy CSVN không hề muốn thống nhất lãnh thổ, mà nó chỉ muốn tuân lệnh Mao một cách tuyệt đối mà thôi!

Miền Nam cũng không cần giải phóng bởi Sài Gòn hòn ngọc Viễn Đông không cần một thứ kim khí thô ráp nào để mài rũa, để bỏ tù, để đánh tư sản, để đầy đi kinh tế mới. Sài Gòn lúc đó đã đi trước Soul, Singapor, Bangkok rất xa thì Hà Nội có gì để mà “giải phóng”? Miền Nam cũng không hề đói nghèo như họ Hồ bôi bác thông qua những lần phát ngôn và thông qua đội ngũ bồi bút. Dân Nam thanh bình và yên ấm đã chẳng cần giải phóng bởi họ thừa thuốc, thừa gạo, thừa vải đến mức các con tàu, đoàn xe “giải phóng” phải chạy hết công suất để đem ra Miền Bắc sau ngày CS chiếm được Miền Nam. Cái mà bà Dương Thu Hương đã nói rất hợp lý với thực tế lịch sử và hiện tại. Và một điều minh chứng rõ nhất cho cái gọi “giải phóng Miền Nam” chỉ là một điều láo khoét:  Chẳng có một đất nước nào được giải phóng mà dân lại phải tìm đường đi trốn quân giải phóng, và dân nước đó lại luôn nhớ ơn kẻ bị gọi là “đô hộ”…Quan thì có có thể nói dóc, nhất là quan cộng sản, chứ dân thì luôn thật và luôn thể hiện thái độ đúng những gì lịch sử đã xảy ra…

Khi mà Thống nhất hay giải phóng chỉ là lừa gạt và dối trá thì cái khái niệm triệu người vui, cũng có triệu người buồn nó cũng có một phần lớn đúng. Cái người vui là người đã thỏa mãn được sự ăn cướp, thỏa được sự đổi đời nhờ đánh giết chính người cùng dòng giống với mình. Đó là đảng CS Hà Nội, là những kẻ nằm vùng tại Miền Nam. Từ đây họ đổi đời, được nhà đất, chức tước, tiền tài, thậm chí cả vợ con của những người thuộc chế độ VNCH. Như vậy, nói cho đúng thì những kẻ vui là những tên cướp được may mắn thành công nhờ sự phản bội của đồng minh đối với nạn nhân.

Còn người buồn ư? Nhiều lắm, họ là công chức, binh lính, thân nhân những người thuộc chế độ độ VNCH. Họ là dân Miền Nam từ sau 30/4/1975 sẽ phải sống cúi đầu trong lầm than, khổ đau, mất tự do. Họ là cả người Miền Bắc mất thân nhân vì cái gọi là “Sinh bắc tử nam”. 90% dân tộc VN là người buồn, chỉ có một lũ ăn cướp trong đó có Võ Văn Kiệt là kẻ vui. Đó là một kết cục cay đắng của cái gọi là giải phóng, là thống nhất.

Ngày 30/4/1975, ngày mà kẻ vui chỉ là số ít mà người buồn là số đông thì ngày đó sẽ là ngày của những nỗi xót xa và đọa đầy…

PHẦN 2: NHỮNG NỖI XÓT XA ĐỌA ĐẦY

Trong cuộc phỏng vấn tạp chí George năm 1998, chính tướng William Childs Westmoreland – Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam- về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội cộng sản như sau: “Of course, he was a formidable adversary…. By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius. An American commander losing men like that would hardly have lasted more than a few weeks”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ ghê gớm…. Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự. Với một người chỉ huy người Mỹ mà làm thiệt mạng nhiều binh sĩ thì vị chỉ huy đó sẽ bị cách chức sau vài tuần lễ”.

Một cuộc chiến tranh phi nghĩa với danh xưng giải phóng và thống nhất bằng vũ lực quân sự mà ở đó, các lãnh đạo Hà Nội không coi cuộc sống của dân lành, của thanh niên là gì. Các lãnh đạo cộng sản coi thường sinh mạng của mình để đổi lấy sự vinh quang cho riêng lãnh đạo. Các bà mẹ miền Bắc chỉ biết đến “Các con không về mình mẹ lặng yên” (trích “Đất nước” – Nhạc: Phạm Minh Tuấn – Thơ: Tạ Hữu Yên). Trong khi đó, các con của các mẹ đã bị đẩy vào chiến trường cho cái gọi là sinh bắc tử nam. Một sự xót xa đọa đầy cho người miền bắc.

Những nỗi xót xa và đắng cay của những số phận nghiệt ngã đi tìm cái chết để đem lại giàu sang tột cùng cho con cháu Hồ, Giáp, Duẩn, Chinh, Đồng vv…đã được nhà văn cộng sản hồi chánh Xuân Vũ mô tả chính xác “mạng người lá rụng”. Những đứa con của các bà mẹ Miền Bắc như thể những chiếc lá trên rừng Trường Sơn rơi vào quên lãng, rơi vào mục nát, rơi vào quên lãng để cho bác và đảng vinh quang trong chiến thắng ồn ào…

1650936505742blobNhưng ngày 30/4 lại còn đem đến những nỗi xót xa hơn cho cả Miền Nam và chung quy là cho cả dân tộc trừ 10% bọn cộng sản, nằm vùng và mafia đỏ. Nhà báo James Taranto đã trích dẫn cuộc điều tra quy mô của nhật báo Orange County Register được phổ biến trong năm 2001 về “học tập cải tạo” tại Việt Nam và đã kết luận rằng: “Ngay sau khi xâm chiếm VNCH, cộng sản đã đưa một triệu quân dân cán chính VNCH vào tù vô thời hạn – dưới cái nguỵ danh học tập cải tạo – trong ít nhất là 150 trại tù được thiết lập trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam kể cả những nơi rừng thiêng nước độc với khí hậu khắc nghiệt. Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại đa số những người này đã bị giam cầm từ 3 tới 10 năm và có một số người đã bị giam giữ tới 17 năm. Nếu lấy con số trung bình là bẩy năm tù cho mỗi người, số năm tù của một triệu người là 7,000,000 năm… Cứ mỗi ba gia đình tại Miền Nam, có một gia đình có người phải đi tù cải tạo. Và trong số một triệu người tù kể trên, đã có 165,000 người chết vì bị hành hạ, tra tấn, đánh đập, bỏ đói, lao động kiệt sức, chết vì bệnh không được chữa trị, bị hành quyết… Cho tới nay, hài cốt của 165,000 nạn nhân này vẫn còn bị Việt Cộng chôn giấu trong rừng núi, không trả lại cho gia đình họ. Hiện nay chỉ có Việt Cộng mới biết rõ tên tuổi các nạn nhân cùng nơi chôn giấu hài cốt của họ. Đây là tội ác thủ tiêu mất tích người, một tội ác chống loài người đã và đang diễn ra tại Việt Nam suốt 35 năm nay mà thủ phạm là Lê Duẩn…”.

Còn theo tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo thực sự đều là tù chính trị như sau: “Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000, còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ . Binh sĩ VNCH bị bắt đi cải tạo sau ngày 30 tháng 4, 1975.AFP/Getty Images – Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112; bị tù cải tạo: 32 vị, 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam. – Ðại tá có 600, bị tù 366. – Trung tá có 2.500, bị tù 1.700. – Thiếu tá có 6.500, bị tù 5.500. – Cấp úy có 80.000, bị tù 72.000. Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền. Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm”.

Hàng triệu người quân dân cán chính VNCH phải đi tù, vợ con họ bị hãm hiếp, lao động cưỡng bức, đầy đi vùng kinh tế mới. Gia sản, nhà cửa bị cướp mất để làm giàu cho quan to của đảng cộng sản hay đám sâu bọ nằm vùng trước 1975. Hàng trăm nghìn người đã bỏ mạng trên biển chỉ bởi muốn thoát khỏi nhà tù lớn, muốn có được hai chữ tự do. Cảnh tù đầy sau 1975 đã được miêu tả qua nhiều hồi ký như Tôi Phải Sống, Đại Học Máu, Đáy địa ngục, Tôi đi cải tạo vv…xin đọc một đoạn để thấy sự thật đau lòng cho người dân Miền Nam sau 30/4/1975: “Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có, mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và một nửa chiếc bánh buổi sáng 50gram, như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 gram chất bột với muối, không có chất béo, chất rau và chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy rộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc theo giấy tờ chúng tôi được ăn 18 kí lô chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng, nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13 kí 500 chất bột”, (Đáy Địa Ngục -Tạ Tỵ trang 378- 379.).

Lý do ư? Đảng CSVN phải sắt máu để làm khiếp sợ quân dân cán chính VNCH, phải trả thù cho được những người đã bảo vệ miền nam đến cùng. Lê Duẩn đã khẳng định trong sách “Lê Duẩn, Nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, xuất bản lần 1 tại trang 482 có viết: “Sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam được tích luỹ qua gần nửa thế kỷ đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, kết tinh cả truyền thống chiến đấu và tài thao lược của tổ tiên ta. Bằng ý chí của chúng ta, những kẻ một thời lầm đường lạc lối theo Mỹ – Ngụy đã được lao động cải tạo để trở thành những công dân có ích cho xã hội mới…”. Trong khi đó Đỗ Mười thì tuyên bố trắng trợn hơn “Giải phóng rồi, nhà cửa của bọn nó là của chúng ta, vợ con của bọn chúng thì chúng ta dùng”…

Một miền nam tươi đẹp đã ra đi, một miền nam tươi đẹp đã băng hà sau ngày 30/4/1975 để đến nỗi tiêu điều, khổ cực như Huy Đức đã viết là một ví dụ dù Huy Đức chưa viết hết những sự thật kinh hoàng về những kẻ cướp ngày “Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7. 000 con gà, thu hoạch 4. 000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức. Một nhà tư sản đang nằm viện bị yêu cầu kiểm tra xem ốm thật hay cáo bệnh, trong khi đó con trai ông ta bị bắt để buộc phải khai ra nơi cất giấu tiền, vàng. Do tin tức bị lọt ra, một số nhà tư sản đã kịp cao chạy xa bay, có người bị bắt khi đang chuẩn bị trốn.”

Thảm kịch của miền nam chưa dừng lại ở cướp ngày mà nó trực tiếp đẩy người dân vào một thảm kịch khác: trên biển đông. Tập tài liệu ấn hành vào năm 2000, mang tựa đề “The State of the World’s Refugees 2000, 50 yearsof Humanitarian Action,” viết về tình trạng tị nạn thế giới, để đánh dấu 50 năm hoạt động nhân đạo của Liên Hiệp Quốc, Bà Sadako Ogata, Cao Ủy Trưởng Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, đã nói về lòng can trường của hàng triệu người tị nạn và lánh nạn trên thế giới đã mất tất cả, ngoại trừ niềm hy vọng, và đã vượt qua biết bao thử thách và chông gai để đi tìm con đường sống. Bà Ogata đã tuyên dương những người này là “Những người sống sót vĩ đại của Thế Kỷ 20”. Cuốn sách cho biết:

“Ngay từ cuối năm 1975, những đợt người tị nạn Việt Nam đã bắt đầu đến lánh nạn tại các nước lân bang. Vào những ngày đó, Thái Lan đã đón nhận 5. 000 người tỵ nạn từ Việt Nam qua, tại Hồng Kông cũng đã có 4. 000 tị nạn, Tân Gia Ba 1, 800 người, và có khoảng 1. 250 người cũng đã đến Phi Luật Tân. Vào tháng 7 năm 1976, khi chế độ Hà Nội loại trừ bộ máy quản chế miền Nam của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để thực hiện việc thống nhất hai miền, cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng. Và đến cuối năm 1977, đã có trên 15. 000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á. Cho đến năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân xâm chiếm Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đã tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, đã có 62. 000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông Nam Á. Riêng trong tháng 6 năm 1979, đã có trên 54. 000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Những làn sóng tị nạn này đã khiến cho các nước trong khối Đông Nam Á, như Mã Lai Á, Thái Lan, Phi Luật Tân, Tân Gia Ba và Nam Dương tuyên bố không nhận thêm người tị nạn từ Việt Nam, khiến cho những đợt thuyền nhân đến sau đã bị xua đuổi cấm không cho lên bờ. Cũng kể từ đó, con số thuyền nhân tử vong trên biển cả cũng đã gia tăng.

Sau những cuộc hành trình hãi hùng lênh đênh trên đại dương, một số thuyền nhân cũng đã đến được bến bờ tạm dụng. Những lớp người này đã đem cho thế giới bên ngoài những mẫu chuyện về người cha, người mẹ, đã phải chia nhau những hạt cơm rơi từ miệng những đứa con; đến chuyện chia nhau từng giọt nước quý hơn vàng được vắt ra từmiếng vải thấm mưa, để đánh lừa những cơn đói khát triền miên. Hay là những chuyện thương tâm về người chết đã cứu được người sống với thịt máu của chính mình. Hoặc nữa là những chuyện nói nhỏ, kể về những trường hợp phải đương đầu với hải tặc. Ngoài những mối đe dọa do sự đầy đọa của con người đối với con người, những thuyền nhân này còn phải đương đầu với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Những cơn phong ba bão táp đã khiến cho không biết bao nhiêu thuyền nhân làm mồi cho biển cả. Không ai dám phỏng đoán với mỗi người có cơ may đặt chân lên bến bờ tự do, đã có bao nhiêu người hy sinh trên đại dương.

Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đã viết lê thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hãi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đã đánh động được lương tâm thế giới. Vào tháng Ba 1979, chương trình Ra Đi Có Trật Tự ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển. Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương trình cứu người vượt biển đã được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tầu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile deLumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đã cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.”

…Tất cả sự đau thương thống khổ của người dân hai miền nam bắc chỉ đổi lấy sự hào nhoáng giả tạo, sự chiến thắng viển vông và sự giàu có cho chỉ tầng lớp lãnh đạo đảng, nằm vùng và cơ hội. Còn toàn thể dân hai miền thì đau thương không xiết. Những nỗi đau thương cứ đầy theo năm tháng mãi không thể xóa nhòa bởi từ ngày 30/4 thống hận đó, lịch sử toàn bộ đất nước VN lại bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên của đau khổ, cùm kẹp và đầy rẫy trái ngang…Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng không thể nào quên những kẻ phản bội miền nam.

Đặng Chí Hùng

24/04/2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tản Mạn Ngày 30/4 – Tác giả Đặng Chí Hùng

Mấy Vần Thơ Tháng Tư – Tuệ Nga & Lê Phương Lan

MẤY VẦN THƠ THÁNG TƯ

Tháng Tư, người viễn xứ gửi nỗi buồn về bên kia bờ Thái Bình Dương nơi một phần đời đã lưu lại để phần đời còn lại vẫn mãi nhớ thương.

KHOANG ĐẦY


Cách nửa bán cầu đất nước tôi,
Đường về sương tuyết cách ngăn rồi.
Con thuyền ngược gió neo bờ lạ.
Chất một khoang đầy …thương nhớ ơi!
Tuệ Nga

VÌ ĐÂU

Gần nửa đời người xa quê tôi,
Gian ác làm nên vách ngăn rồi.
Đồng bào xử tệ hơn người lạ!
Vì đâu nên nỗi, mẹ Việt ơi!

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mấy Vần Thơ Tháng Tư – Tuệ Nga & Lê Phương Lan

Thơ Quốc Hận – Trần Quốc Nại

Nhớ về 30/4/75.

Hôm nay hai sáu tháng tư,
Còn bốn ngày nữa ngất ngư con tàu
Đắm chìm dân Việt thương đau
Dưới làn sóng đỏ ngàn sau nhớ hoài./-
……….
Khi nào Việt Cộng đi đong
Thì dân nước Việt mới còn tương lai
……….

Biết nói gì?

Bốn bảy năm rồi đất nước ta
Sau ngày giải phóng lại phong ba
Cuốn theo chiều gió thì mong sống
Chệch hướng sai đường chết khó tha
Thống khổ căm hờn hào nhoáng giả
Đau thương nuốt hận lệ xót xa
Bao giờ có được ngày yên ổn
Dân Việt trông chờ bao thiết tha./
TQN.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Quốc Hận – Trần Quốc Nại

SỰ GIỐNG NHAU và KHÁC NHAU GIỮA CỜ VÀNG và CỜ ĐỎ_Ngọc Hạ

Sự Giống Nhau & Khác Nhau giữa Cờ Vàng và Cờ Đỏ

Ngọc Hạ

This image has an empty alt attribute; its file name is co-vang-do.jpgGIỐNG NHAU: Đều là lá cờ.

KHÁC NHAU:

Nguồn gốc: Cờ vàng được chính người Việt thiết kế và đưa vào sử dụng, cờ đỏ thì đem từ nước ngoài về không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Ý nghĩa:

Cờ vàng có ý nghĩa người dân 3 miền Bắc Trung Nam đều là chung một dòng máu đỏ da vàng, ý muốn cùng đoàn kết xây dựng quê hương dân tộc.

Cờ đỏ thì phân biệt giai cấp và sặc mùi tanh của máu, ý muốn con người cờ đỏ là loại hung hãn và sẵn sàng lấy máu đồng bào để in đậm thêm màu máu cho lá cờ.

Thẩm Mỹ: Cờ vàng nhìn vào thấy thanh tao, cờ đỏ nhìn vào thì thấy nó đầy ám khí.

– Về tính chính nghĩa:

– Cờ vàng được chính người Việt làm ra nên đó là lá cờ được xem là chính nghĩa.

– Cờ đỏ do một đứa nào đó (nghe đồn là tên hồ chí minh) mang từ nước ngoài về và bắt dân phải treo nên nó là phi nghĩa, vì vậy đến ngày lễ Tết có rất nhiều người dân không treo mặc dù bị chính quyền thúc dục phải treo cũng như hăm dọa nếu không treo thì bị phạt này phạt kia.

Và có nhiều người nhầm lẫn cờ vàng là của VNCH nhưng đó là sai. VNCH chỉ sử dụng lá cờ do ông cha để lại chứ cờ vàng không phải là cờ của VNCH.

Đối với cờ đỏ thì sự nhầm lẫn nguy hại ở chỗ là nhiều người cứ tưởng là quốc kỳ VN, nhưng kỳ thực nó không phải như vậy; nó là lá cờ đem từ “nước lạ” nào đó về nên nó không phải là lá cờ của dân tộc, mà là lá cờ của nhà nước cộng sản, đảng cộng sản chứ tuyệt nhiên không phải Quốc Kỳ của nhân dân!

Ngọc Hạ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SỰ GIỐNG NHAU và KHÁC NHAU GIỮA CỜ VÀNG và CỜ ĐỎ_Ngọc Hạ

CÁI TĨN NƯỚC MẮM LÀM PHÉP_Hai Hùng Saigon

This image has an empty alt attribute; its file name is tin-nuoc-mam.jpg

Cái Tĩn Nước Mắm Làm Phép 

Hai Hùng Sài Gòn

Đã lâu lắm rồi, những  cái Tĩn đựng nước mắm thân thương của ngày xưa không còn được ai trong chúng ta nhìn thấy nữa, những người được sinh ra từ thập niên sáu mươi trở về trước mới biết và có xài qua cái tĩn này.

 Nói về nguồn gốc xuất xứ của loại Tĩn nước mắm  theo các ông bà lớn tuổi kể lại nó có nguồn gốc từ vùng đất Phan Thiết, vùng đất này đã làm ra các loại nước mắm ngon bán đi khắp các tỉnh ở miền nam.

 Nước mắm nơi đây được ủ chượp trong những thùng gỗ lớn bởi những con cá cơm tươi rói ngoài biển đem về, họ pha với tỷ lệ muối hột một cách hài hòa theo công thức gia truyền, cho ra lò những Tĩn nước mắm thơm ngon nức mũi.

 Để tiện lợi cho vận chuyển nước mắm bán đi các nơi, các nhà sản xuất xài cái Tĩn bằng đất nung được tráng men bên trong, mỗi Tĩn đựng áng chừng năm lít nước mắm.

 Khi thời gian ủ chượp đã hoàn thành, lúc này họ chiết nước mắm ra cái Tĩn để tiện lợi cho vận chuyển và buôn bán.

 Nắp đậy của cái Tĩn cũng bằng đất nung, họ nặn ra cái nắp có dạng hình tròn dẹp dẹp vừa khít miệng của cái Tĩn, sau đó họ lấy hỗn hợp vôi để niêm phong cái nắp lại cho kín , sau đó dán miếng giấy vuông vuông có in tên của nhà sản xuất . ( bên ngoài cái Tĩn nước mắm, họ quét một lớp vôi trắng dầy, có pha với a dao để lớp vôi bám chặt vô bên ngoài cái Tĩn, họ dùng dây lá Buông đan lại thành cái quai xách cái Tĩn chắc chắn cho dễ khiêng đi)

 Mua cái Tĩn này về nhà xong, khi muốn xài thì ta cứ lấy sóng lưng con dao phay gõ nhẹ chung quanh cái nắp, vôi trám nắp sẽ nứt ra, dĩ nhiên có một ít bụi vôi nhuyễn rơi vô nước mắm bên trong nhưng không có hại gì, khi ta giở cái nắp Tĩn nước mắm thì mùi thơm ngào ngạt bay ra thơm lừng, lúc này lấy cái vá nhỏ thọt vô múc ra một ít vô chén, các bạn chỉ cần bới một tô cơm nóng chan lên đó một ít nước mỡ heo, rồi rưới ít nước mắm vô tô cơm trộn đều lên, đơn giản chỉ có vậy mà tô cơm đó mấy đứa con nít con nhà nghèo ngày xưa ăn một cách ngon lành.

 Tui nói sơ về cái Tĩn để cho bà con mình nhớ lại, cho thế hệ sanh sau này biết lịch sử của cái Tĩn nước mắm như thế nào bởi vì hồi đó chưa xài bình Nylon và chai thủy tinh như bây giờ.

 Nãy giờ nói về nước mắm, nhưng cái chính là tui sẽ kể câu chuyện về cái “Tĩn nước mắm làm phép” của bà Mười, một người trong xóm của tui ngày xưa…

***

 Xóm tui ngày đó là xóm lao động nghèo, nhà Bà Mười ngày  xưa thuộc hàng khá giả, vì chỉ cần nhìn vô căn nhà của bà cũng đủ biết.

 Nhà bà thuộc loại nhà xây kiểu thời Pháp thuộc, kiến trúc căn nhà cũng đơn giản, nhưng tường nhà được xây dầy hai mươi ( Bề dài của viên gạch thẻ nằm ngang), bên ngoài được tráng bằng lớp vôi vữa trộn với hỗn hợp “Ô Dước” rất chắc chắn và được quét vôi màu vàng đất.

 (Năm Tết Mậu Thân 1968, bà con trong xóm thường chạy qua nhà bà Mười trú ẩn để tránh đạn lạc khi chiến tranh lan tỏa đến đây, vì tường nhà bà rất dầy, đã vậy bà còn lấy bộ ván gỗ Mun  dầy hơn mười phân làm nóc hầm “Trảng xê”, nên mọi người thấy rất an toàn).

 Bà Mười vào những năm này đã lớn tuổi lắm rồi, với dáng người nhỏ nhắn, hay nhai trầu với đôi môi móm mém, bà Mười tánh cũng khó giàn trời, suốt ngày tui thấy bà cứ quanh quẩn ngoài vườn để làm cỏ , trồng cây, chăm sóc những ngôi cổ mộ bằng đá Ong, một hôm nọ trời nắng chang chang, tui thấy bà ngồi nghỉ mệt và uống nước dưới gốc cây khế cổ thụ trong vườn, tui với thằng Thành con ông Chín Tắc xi lân la đến nói chuyện với bà, vừa cầm cái nón lá phe phẩy quạt mát, bà thấy hai đứa tui vừa trờ tới bà liền hỏi:

 -Chèn ơi cũng hai đứa bây nữa hả,  lọ mọ vô đây hôm nay tính hái trái gì nữa vậy, hôm qua mấy cây ổi sẻ trái chín oằn cây, đứa nào vô hái thiếu điều hết ráo, bây nói tao nghe coi.

Nghe bà Mười truy vấn, tui với thằng Thành tái mặt tưởng bà đã biết “đạo chích” là ai rồi, Thành lật đật khai luôn:

-Tại tụi con thấy ổi chín nhiều quá bà Mười ơi, tụi con không hái thì mấy con chim, con sóc nó cũng ăn hết.

 Bà Mười nghe vậy bà la nó liền:

-Bây nói giả ngộ ghê, con chim con sóc nó ăn thì theo lẽ tự nhiên của trời đất, hơn nữa nó không biết tiếng người, còn bây muốn hái thì vô nhà hỏi bà Mười một tiếng thì bà đâu có tiếc rẻ gì, bây tự tiện vô vườn hái vậy bà hông vui chút nào.

 Biết mình làm phiền lòng bà Mười hai đứa tui  xin hứa lần sau không dám làm vậy nữa .

 Chưa hết bực dọc, bà Mười hỏi vặn lại:

 – Bà Mười hỏi thiệt, hai đứa bây hôm nay vô vườn tính “đại náo” gì nữa, đâu nói thiệt một bữa bà nghe coi.

Cái thằng quỷ Thành thay vì trả lời cho bà Mười, nó lại đưa mắt ngó lên nhánh  cây khế với gương mặt thèm thuồng, những chùm khế ngọt của bà Mười nó chín vàng ươm đang  đong đưa trước gió.

Bà Mười đoán ra ý định của hai thằng tui, bà nói:

-Thì ra hai đứa đang rình rập mấy chùm khế chứ gì, bữa kia thằng Năm (Chú Năm con bà) hái cho bây cả rổ rồi, ăn chưa đã họng hả bây, đợt khế này cô Ba Huê lò bánh Ú dặn rồi, để cổ hái về “sênh mứt” bán tết, chờ đợt sau nó chín rồi bà cho bây mặc sức mà hái.

Nghe bà Mười nói vậy, không hiểu tại sao gói muối ớt đang cuộn trong lưng quần “Tà lỏn” của thằng Thành rớt xuống đất.

 Bà Mười thấy vậy bà cười ngất rồi nói :

 – Cha chả đi hái trộm khế mà còn chuẩn bị sẵn muối ớt để chấm nữa hả hai ông con, Kiểu này tao méc chú Chín với chú Năm mới được.

 Nghe bà Mười hăm méc tía của mình, tui với thằng Thành sợ tái mặt, vì hai ông già tía này ông nào cũng có cây roi giắt trong vách lá ở nhà, nếu biết tụi tui làm điều xằng bậy thế nào cũng được ăn “Bánh tét nhưn mây” ê cả đít.

 Thấy diện mạo thất thần của hai thằng tui, bà Mười nói:

-Tao mới hù bây chút xíu mà bây sợ dữ thần ôn vậy hả, mơi mốt đừng phá phách nữa nghe hai ông con, thôi dìa đi.

 Hai đứa cám ơn bà rối rít, không chậm trễ giây nào, hai đứa tui nhanh chóng chạy ra khỏi khu vườn của bà Mười tức thì.

***

  Đã nhiều hôm trôi qua, khi cả đám tụi tui cùng chơi đùa trước sân nhà bà Mười, tuyệt nhiên tụi tui không thấy bà Mười xuất hiện xua đuổi như mọi lần, thắc mắc trong lòng nên khi gặp chú Năm đi uống rượu mới về, tui chận chú lại hỏi thăm:

– Chú Năm ơi, bà Mười đi đâu mấy bữa nay tụi con không gặp.

 Với cái giọng lè nhè do say rượu, chú Năm nhướng mắt lên hỏi:

 – Bây là thằng Phương con anh Năm phải không?, bà Mười bịnh mấy bữa rồi, nằm trong nhà kia chứ đâu, mà mấy đứa nè chịu khó xích ra gần đồng mả mặc sức chơi, để yên tĩnh cho bà Mười nghỉ ngơi tụi con, chừng nào bà Mười khỏe tụi con vô đây chơi nha .

 Mấy đứa bạn tui đồng thanh:

– Dạ , tụi con nghe lời chú Năm.

Thấy đám con nít trong xóm dễ thương, chú lấy tay cản lại trước khi tụi tui cùng nhau đi ra phía đồng mả, chú nói:

 – Vậy phải dễ thương hông, chú thổi một bản nhạc tặng cho mấy đứa nè, nghe xong rồi hẳn đi.

Nói xong chú rút trong lưng quần cây kèn “Ác mô ni ca” đưa lên miệng, chú bắt đầu thổi bản cầu “sông Kwai” nghe mê ly vô cùng, chú vừa thổi kèn, tay vừa biểu diễn bấm các lổ kèn cho ra những âm thanh thật lảnh lót và kiêu hùng, hết bản nhạc đó hình như hứng chí chú tặng thêm bài nữa, “Tình anh lính chiến” nghe cũng oai hùng không kém, khi chú vừa dứt tiếng kèn thì cả đám bạn tui vỗ tay tán thưởng rần rần, chú Năm hoảng  vía vì thấy đám nhỏ vổ tay lớn quá có thể làm kinh động đến bà Mười, chú Năm ra hiệu cho tụi tui mau chóng giải tán để trả lại sự yên tĩnh cho bà Mười dưỡng bịnh …

***

  Dạo ấy trò chơi của con nít cũng đa dạng lắm rồi, nào là tạt hình ( Những hình ảnh được in trong tấm giấy khá dầy, đủ thứ hình ảnh như zoro, Batman, hoặc hình ảnh chim chóc , cây cảnh, hoặc cao bồi, một tờ giấy cỡ A4 như bây giờ cắt ra được khoảng hai mươi bốn tấm hình đều nhau, rồi bó lại từng cọc để dành chơi với nhau, ví dụ như vích hình cho tờ ngửa chồng lên tờ nằm sấp là ăn, rồi tạc hình cùng nhau đậu vô bao nhiêu tấm, rồi chồng vô một cọc bỏ chính giữa cái vòng hình vuông được vẽ dưới đất hoặc nền xi măng, cách đó chừng mười bước chân có kẽ một đường làm cái vạch, đứng ngay chỗ mức này dùng chiếc dép cao su “tạt” vô đống hình kia, ai tạt được nhiều hình ra ngoài thì được hưởng phần đó)

 Mấy tay “Xì Thẩu” ở Chợ lớn ngày xưa cũng nhanh nhạy với thị trường đồ chơi cho con nít lắm, để có lợi nhuận họ liên tục ra những mẫu mã đồ chơi, lần nọ họ ra làm những hình người, hình thú bằng nhựa màu sắc rất đẹp khiến đám tụi tui cũng thích thú vô cùng, có hôm chơi thua hết cả bọc hình ( đựng trong bịch nylon, giắt vô lưng quần) , tui và vài đứa phải ngồi ngoài coi chúng bạn chơi mà lòng buồn vô hạn, mỗi bữa đi học được hai ba cắc bạc, phần uống nước phần mua đồ chơi, nên khi thua sạch thì tiền đâu để mua đồ  chơi để chơi tiếp với đám bạn.

Câu thiên hạ nói tui thấy y chang

” Bần cùng sanh đạo tặc”, bí tiền mua đồ chơi quá, mà xin tiền thêm dễ gì ở nhà cho, để có tiền nên đêm nọ khi con trăng hạ tuần leo lét trên bầu trời, tui rủ rê thằng Thành làm chuyện “Động trời” vô cùng….

 Bà Mười nằm bịnh gần chục ngày, bà Hai đồ chay là chị em cùng xóm ghé qua thăm, không biết hai bà bàn bạc với nhau điều gì mà sáng hôm sau, thím Năm con dâu của bà Mười qua nhà ông Tư Tĩn (ông chuyên mua ve chai lông gà lông vịt, Tĩn nước mắm ông cũng mua luôn, khi Tĩn nhiều gần đủ xe Cam nhông, ông Tư bán lại cho các chành ve chai lớn khác để họ bán cho các lò nước mắm ngoài Phan thiết tận dụng lại, Tĩn còn nắp sẽ mua giá cao hơn Tĩn không nắp) để mua một cái Tĩn nước mắm đã xài rồi, thím Năm đem về rửa sạch sẽ đem ra gần bàn ông thiên úp xuống cái cọc do chú năm đóng sẳn, chiều đến bà Hai đồ chay mời một ông Thầy ở một chùa nào đó vùng chợ Cây Thị đến làm phép, nghe bà Hai nói cái Tĩn này dùng để trấn ếm vong nào đó đang làm bà Mười bị bịnh, thời gian làm phép phải nửa tuần trăng mới linh nghiệm..

 Vậy mà cái Tĩn nước mắm không cánh mà bay mất tiêu sau vài ngày làm phép, thím Năm lo âu sợ mất cái Tĩn kia bà Mười khó hết bịnh, bà Hai đồ chay thì rủa xả cái quân nào bất nhơn “Thỉnh” mất cái Tĩn kia…

Rinh cái Tĩn qua bán cho ông Tư được hai đồng, tui được một đồng, thằng Thành một đồng, vậy là có tiền để mua đồ chơi, tuy vậy khi mua cái Tĩn, ông Tư cứ ngắm nghía lật tới lật lui, làm như cái Tĩn này quen mắt với ông lắm, vì ông hỏi :

 -Cái Tĩn này ở đâu bây có, sao giống cái Tĩn tao bán cho cô Năm Dâu bà Mười lắm nghe.

 Điếng hồn khi bị ông Tư “Điểm huyệt” , hai đứa cố giữ vững lập trường, Tui nói:

 -Nhà con mua lâu rồi ông Tư ơi, nay hết nước mắm nên má con cho đem bán.

Chắc thấy đôi co với hai thằng nhóc chẳng ăn thua gì, ông Tư rút hai đồng trả cho xong.

 Ông Tư đem cái Tĩn nọ ra úp chung lên đống Tĩn ông để bên hông nhà.

 Mất cái Tĩn đang làm phép Thím Năm buồn lắm, thím qua nhờ bà Hai đồ chay mời thầy về làm phép lại khi thím mua cái Tĩn khác.

 Thím Năm đứng bên hông nhà ông Tư để lựa cái Tĩn nào đẹp như cái Tĩn hôm rồi, tự nhiên như có thần linh xui khiến thím bốc trúng ngay chóc cái Tĩn mà ông Tư mua của hai thằng tui bán cho ông.

 Thím Năm cầm trên tay săm soi cái Tĩnh, chợt thím thấy dấu vết nhà sư làm phép còn lưu lại trên hông cái Tĩn, thím vô nhà hỏi ông Tư liền:

 – Ông Tư, cái Tĩn này hôm rồi con mua của ông nè, đang làm phép cho má chồng con mà đứa nào nó thỉnh mất tiêu, con nhìn được là nhờ dấu làm phép đây nè.

 Đến phiên ông Tư:

– Chèn ơi ! Thằng Phương với thằng Thành bán cho tui đó cô Năm, tui nghi hỏi tụi nó rồi vậy mà tụi nó cứ một hai là của nhà nó, thím coi quá lắm hông.

***

 Khỏi nói các bạn cũng biết đoạn kết câu chuyện ta sao rồi, nhưng để tui kể luôn cho tròn câu chuyện.

 Thím Năm bỏ ra hai đồng chuộc lại cái Tĩn đang làm phép, chiều đó thím Năm ghé nhà hai thằng tui méc, ba tui với ông Chín giận run, thế là hai cây roi mây tha hồ liếm đít hai tên trộm đau thấy tía luôn.

 Mấy đứa bạn trong xóm biết chuyện này , tụi nó xúm lại ghẹo hai đứa tui thiếu điều muốn độn thổ .

 Hai đứa được gia đình dắt qua nhà để xin lỗi bà Mười và thím Năm, bà Mười gặp hai ông “Thần nước mặn” bà liền nói :

– Chèn ơi. Bây hôm nay dám hái luôn “Cái Tĩn làm phép” của bà nữa hả, thiệt quá lắm rồi, mơi mốt cấm tiệt không cho qua vườn tao chơi nữa.

 Hai đứa tui cúi mặt trong lòng rất hối hận, tay lỡ nhúng chàm thì tiếng xấu sẽ theo mình muôn đời, qua lần đó về sau tụi tui không còn dám tái phạm và quyết tâm học hành để trở thành người tốt sau này, bà Mười tuy hăm he tụi tui mẻ răng, nhưng rồi bà cũng để cho qua vườn nhà bà chơi với chúng bạn, qua đó tui thấy lòng vị tha của bà Mười to lớn vô cùng .

 Mấy chục năm dài đăng đẳng trôi qua, vậy mà câu chuyện “Cái Tĩn nước mắm làm phép” nó thỉnh thoảng vẫn len lén đưa tui quay về bến mộng ngày xưa.

Hai Hùng Sài Gòn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CÁI TĨN NƯỚC MẮM LÀM PHÉP_Hai Hùng Saigon

ĐÁNH CHO CHẾT MẸ…!!! (Bùi Giáng)

Đánh Cho Chết Mẹ…!!!

(Một bài thơ của Bùi Giáng làm sau ngày 30/4/1975)

This image has an empty alt attribute; its file name is bui-giang.jpg

Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào,

Đánh cho chết mẹ đồng bào Miền Nam.

Đánh cho khoai sắn thành vàng,

Đánh cho dép lốp phải mang thế giày.

Đánh cho Nam Bắc đọa đày,

Đánh cho thù hận giờ này chưa tan.

Đánh cho cả nước Việt Nam,

Áo ôm khố rách, xếp hàng xin cho.

Đánh cho hết muốn tự do,

Hết mơ dân chủ, hết lo quyền người.

Đánh cho dở khóc dở cười,

Hai miền thống nhất kiếp người ngựa trâu.

Đánh cho hai nước Việt Tàu,

Không còn biên giới cùng nhau đại đồng.

Đánh cho dòng giống Tiên Rồng,

Osin, nô lệ, lao công xứ người.

Đánh cho chín chục triệu người,

Thành dân vô sản, thành người lưu vong.

Đánh cho non nước Lạc Hồng,

Tiến lên thời đại mang gông mang cùm.

Đánh cho cả nước chết chùm,

Đánh cho con cháu khốn cùng mai sau.

Đánh cho bác, đảng, Nga, Tàu,

Hết quần hết áo thì tao ở truồng!

Bùi Giáng

(Bài do Nguyễn văn Vinh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐÁNH CHO CHẾT MẸ…!!! (Bùi Giáng)

Tại Sao Lại Gọi Là Biển Đen hay Hắc Hải_Sưu tầm

TẠI SAO LẠI GỌI LÀ BIỂN ĐEN hay HẮC HẢI?

Cái tên “Biển Đen” chắc hẳn hầu hết chúng ta ai cũng đều nghe qua. Và tôi dám cá rằng khá nhiều người giống tôi đã từng nhầm tưởng “Biển Đen” là vì nó có màu đen. Nhưng tất nhiên không phải như vậy rồi. Bài viết này sẽ giải đáp điều đó.

Nhưng trước hết chúng ta cùng tìm hiểu một chút về “lý lịch trích ngang” của Biển Đen đã.

Đôi Nét Về Biển Đen

            Biển Đen – tên tiếng Anh là Black Sea, nằm ở khu vực giữa Đông Nam châu Âu và Tây Á. Biển Đen thật ra là một vùng biển sâu trong nội địa và được bao bọc bởi 6 nước: Thổ Nhĩ Kỳ, Romania, Bulgaria, Nga, Ukraina và Gruzia. Biển Đen chỉ thông với Địa Trung Hải qua 2 eo biển nông là Dardanelles và Bosphorus. Sông Danube là con sông dài thứ hai ở châu Âu xuất phát từ Đức đổ vào biển Đen.

            Biển Đen có độ sâu tới 2212m và diện tích khoảng 436.400km2. Ngoài cái tên biển Đen thì vùng biển này còn có một tên khác hay và mĩ miều hơn là “Hắc Hải”.

This image has an empty alt attribute; its file name is bien-den-1.jpg

Tại Sao Lại Gọi Là Biển Đen?

            Trước hết có vài ý kiến cho rằng vì biển Đen có nồng độ muối thấp, tạo điều kiện cho các vi tảo phát triển ở lớp nước bề mặt khiến nước có màu sẫm tối nên có nghĩa là biển Đen. Nhưng điều này đã bị bác bỏ bởi vì thực tế ở Hắc Hải, nồng độ muối và chất khoáng lại cao hơn nhiều.

            Nguyên do thứ hai thì có vẻ giả tưởng hơn một chút, vùng biển này xưa kia được đồn đại là có nhiều bất thường do có nhiều dòng chảy lạ ở dưới nước, biển lại có vị trí gần như là cô độc so với các nơi khác. Các thủy thủ còn nghe nói là có nhiều bộ lạc man rợ sinh sống ở gần đây nên một thời gian Hắc Hải tội nghiệp bị xem là biển không hiếu khách, biển đáng sợ nhất thế giới. Cộng thêm có nhiều người chết và xác tàu thuyền ở đây do không tìm được nơi tránh bão và bị đánh chìm. Người dân muốn cảnh báo cho những ai ở xa tới nên họ gọi là biển Đen.

            Lại có ý kiến cho rằng các sinh vật chết ở đây khi chìm xuống sau một khoảng thời gian tạo thành lớp bùn đen bao phủ nên biển mới có tên như vậy.

            Nhưng thực ra, lý do được chấp nhận nhất chính là xét về mặt lịch sử, người Hy Lạp và người Lưỡng Hà cổ đại đã dùng màu sắc để chỉ các phương hướng: màu đen – phía Bắc;  màu đỏ – phương Nam; màu vàng – phương Đông; màu xanh – phương Tây. Vì biển nằm ở phía Bắc của Địa Trung Hải nên được gọi là biển Đen mà thôi.

            Ngoài ra nguồn gốc của tên gọi này cũng được cho là xuất phát từ người Thổ Nhĩ Kỳ. Trong tên biển mà họ đặt có chữ Kara – tiếng Thổ hiện đại nghĩa là “ Đen ”.

This image has an empty alt attribute; its file name is bien-den-2.jpg

Những Đặc Điểm Của Biển Đen

– Nơi đây gắn liền với câu chuyện nổi tiếng trong Kinh thánh về chiếc thuyền Noah neo đậu ở núi Ararat (Thổ Nhĩ Kỳ) để tránh cơn Đại Hồng Thủy và sau đó được sống sót.

– Biển Đen được xem là biển ấm nhất thế giới. Bởi vì sự phân tầng độc đáo của nó. Đây là vùng biển hiếm hoi các dòng chảy giữa các tầng nước không trộn lẫn vào nhau mà lại phân tách rõ rệt. Vùng nước trên cùng được lưu thông trao đổi nước từ sông đổ vào và chảy ra biển nên nước khá lạnh, trái lại các tầng nước dưới không có sự trao đổi dòng chảy nào dẫn đến nhiệt độ lại ấm hơn.

– Biển Đen có đặc điểm thú vị là không có thủy triều lên xuống nên bề mặt nước hầu như ít khi chuyển động. Do đó biển Đen một thời gian còn bị lầm lẫn với biển Chết. Bởi thế cho nên có một số người cảm thấy đáng sợ khi nhắc đến “vùng biển tĩnh lặng” này.

– Biển Đen nhận rất ít oxy, không như các biển khác. Các tầng nước không chảy hòa lẫn vào nhau nên oxy rất khó thâm nhập sâu hơn xuống các lớp nước dưới bề mặt biển. Từ độ sâu 200m trở xuống đáy là không còn sự sống. Vì thế sự oxy hóa và quá trình tan rã, phân hủy diễn ra rất chậm. Vậy nên có những xác tàu thuyền, thậm chí xác chết khi được tìm ở mặt đáy của biển hầu như còn nguyên vẹn khá nhiều.  Có nhiều người xem nơi đây là “ngôi nhà của thần Chết” cũng là vì lý do đó.

Nhưng chẳng ảnh hưởng to lớn gì cả bởi vì biển có hơn 10 hòn đảo nhỏ với hệ sinh vật khá phong phú. Bây giờ biển Đen còn là điểm đến rất được ưa thích của du khách. Và những hòn đảo ở đây đã trở thành điểm du lịch đóng góp quan trọng cho kinh tế của các nước xung quanh.

Ẩn sau cái tên không đẹp cho lắm và những đồn đại phỏng đoán tiêu cực về vùng biển cô độc này – thì biển Đen vẫn rất thú vị với những độc đáo chỉ có ở riêng nó phải không. Câu nói “Trông mặt mà bắt hình dong” có lẽ không phù hợp “tẹo teo” nào đối với biển Đen.

This image has an empty alt attribute; its file name is bien-den-3.jpg

Andy Van Tổng Hợp

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tại Sao Lại Gọi Là Biển Đen hay Hắc Hải_Sưu tầm

Thư Gởi Con Một Ngày Tháng Tư_Cao Xuân Thanh Ngọc

Thư gởi con, một ngày tháng tư

Cao Xuân Thanh Ngọc

This image has an empty alt attribute; its file name is thu-goi-con.pngTháng Tư về với thung lũng hoa vàng bằng những cơn mưa phùn xen kẽ những ngày nắng rực rỡ. Nhìn những đồi hoa vàng trải dài trên những triền núi quanh nhà, trên những đoạn đường freeway mẹ chở con đi qua hàng ngày, con trai của mẹ vừa ngơ ngác vừa thích thú. Thành phố mình đang sống trời vào xuân đẹp và bình yên quá phải không con? Thành phố này, nơi con sinh ra đời, mảnh đất này nơi con được lớn lên sẽ mang cho con cuộc sống và tương lai tốt đẹp trong một xã hội tự do, dân chủ, văn minh. Nhưng khi lớn lên, mẹ sẽ nói cho con biết, dù thế nào đi nữa, nơi đây chẳng phải là quê hương mình con à. Quê hương mình là mảnh đất hình chữ S ở bên kìa bờ đại dương, nơi ba và mẹ đã được sinh ra và lớn lên, nơi mà chúng ta luôn tự hào khi nghĩ về và khi nói đến mình là người Việt Nam, quê hương mình là đất nước Việt Nam. Mẹ sẽ dạy con đánh vần và viết “quê hương Việt Nam” và “tôi là người Việt Nam” để con mãi nhớ về gốc gác, cội nguồn và quê hương mình con nhé.

Con được may mắn sinh ra và lớn lên ở đất nước tự do, dân chủ. Rồi một ngày khi lớn lên, mẹ sẽ kể con nghe về quê hương mình, mẹ sẽ cho con biết hai chữ “quê hương” trong lòng người tha phương như ba mẹ và một đứa “Mỹ con” như con là thiêng liêng thế nào. Rồi con sẽ hiểu vì sao con là người Việt Nam nhưng lại được sinh trưởng ở một đất nước xa lạ không phải quê hương mình. Mẹ sẽ nói con biết, dù được sinh trưởng ở Mỹ nhưng con vẫn là người Việt Nam, máu đỏ da vàng. Con may mắn hơn hàng vạn trẻ em Việt Nam trong nước vì con được là công dân của một đất nước tự do, con sẽ được giáo dục tốt, con luôn được chính phủ bảo vệ và tôn trọng nhân quyền. Không như trẻ em ở Việt Nam, từ nhỏ phải học sự dối trá lừa lọc. Lừa lọc trong từng câu nói, dối trá trong từng con chữ. Giáo dục đạo đức dường như là thứ chỉ thấp thoáng, mơ hồ. Cùng là người Việt Nam mang dòng máu đỏ da vàng, nhưng con may mắn hơn những đứa trẻ được sinh ra trong nước, vì khi ra đời mang kiếp người Việt Nam, con không phải là “con nợ”, con không phải mang món nợ công vài chục triệu mà chính phủ đã “ban tặng”, con sẽ không lớn lên cùng muôn vàn bất trắc và cả việc bị tước đoạt quyền con người.

Mẹ sẽ kể con nghe cuộc sống người tha phương nơi xứ người, thân phận người nhập cư nhiều đau buồn, lắm thương đau nhưng hàng triệu người Việt Nam chúng ta vẫn chấp nhận cuộc đời tha phương ấy chỉ vì hai chữ tự do con à.

Quê hương mình ở bên kia bờ đại đương đẹp lắm con à. Mảnh đất hình chữ S ấy đã từng là niềm tự hào của cả dân tộc vì có rừng vàng biển bạc, tôm cá tràn đầy, nhiều thú rừng quý hiếm. Nhưng giờ đây rừng đã tàn và biển đã chết, tôm cá chết hàng loạt, thú rừng chẳng còn đất sống. Những người lãnh đạo đất nước, những người mà họ tự cho mình cái quyền quyết định số mệnh của cả đất nước và dân tộc đã ngang nhiên tàn phá quê hương mình. Họ nói rằng đất nước mình thiên nhiên ưu đãi và có nhiều danh lam thắng cảnh. Họ sai rồi, thiên nhiên nào ưu đãi cho lũ ký sinh bội phản. Thắng cảnh quê hương mình từ Bắc vào Nam đẹp thật nhưng cứ hễ bàn chân con người tới, họ xuyên cọc vào thân thể mẹ thiên nhiên. Họ tàn hủy những thứ được cất dưỡng, thay vào đó là cột sắt, bê tông. Họ ăn uống tiệc tùng trong hang động, bắt cáp đi vào lòng đất. Họ ra sức tàn phá thiên nhiên chỉ vì tiền và những lợi thế trước mắt. Thiên nhiên nào ưu đãi được nữa con? Thiên nhiên nào còn có thể tồn tại ở mảnh đất quê hương chữ S cho những năm về sau nữa đây con?

Một ngày nào đó, khi con lớn lên, mẹ sẽ kể con nghe, con đừng tin lời họ.

Họ nói rằng, dân tộc ta tương thân tương ái. Nhưng rồi cũng vì cái tương thân tương ái đó mà con người lấy lòng thương để lừa lọc nhau, thậm chí là đem bán rẻ tình người. Lũ trẻ vùng núi bỏ học, bỏ việc làm, đứng chìa tay xin nhận lòng bố thí. Trẻ con rồi đến người già, vùi dập đời mình trong tay những người lãnh đạo mang tiếng yêu nước nhưng sẵn sàng ăn chặn từng lon gạo của người dân. Đàn bà phụ nữ phải đi nước ngoài làm vợ người ta như một món hàng, thậm chí phải đi nước ngoài bán dâm để kiếm sống. Thanh niên trai tráng thì đi xuất khẩu lao động, bán sức bán thân mình ở nước bạn để kiếm đồng tiền gởi về quê nhà. Họ nói rằng quê hương Việt Nam, đất nước Việt Nam là của dân, do dân, vì dân. Nhưng đã hơn bốn mươi năm rồi, người dân quê mình chẳng có được gì con à. Rồi mười năm nữa, hai mươi năm nữa, biết đâu những đứa trẻ trạc lứa tuổi như con ở đất nước Việt Nam lại phải cuối đầu làm nô lệ cho nước bạn láng giềng Trung Hoa, rồi dân tộc mình sẽ đi về đâu?

Và họ nói với con bao nhiêu điều không thật, để rồi lúc con bỡ ngỡ bước ra đời, khi con nhận thức được mình là người Việt Nam, mẹ sẽ kể cho con nghe sự thật về quê hương mình như thế nào, mẹ sẽ kể con nghe tại sao thế hệ ba mẹ và ông bà con đã không ngại khó khăn, nguy hiểm, gian nan để sống cuộc sống tha phương nơi xứ người. Và chỉ mong đời con, dù mang kiếp làm người Việt Nam nhưng đừng mãi buồn như vậy.

Rồi sau này, cứ mỗi năm tháng Tư về, mẹ sẽ nói cho con biết tại sao người Việt Nam chúng ta lại cứ phải sống trong hoài niệm và những đau thương. Những câu chuyện dài của thế hệ ba mẹ và những ngày tháng lớn lên ở mảnh đất quê hương bên kia bờ đại dương mãi là một phần ký ức của cuộc đời mẹ. Dù có vui, có buồn, có lắm đau thương nhưng mẹ vẫn muốn một ngày nào đó, khi con lớn khôn, mẹ sẽ kể con nghe. Mẹ kể con nghe để con thêm yêu quê hương mình, để dù con không sinh ra và lớn lên ở nơi đó nhưng con luôn tự hào “Tôi là người Việt Nam” con nhé.

Cao Xuân Thanh Ngọc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Gởi Con Một Ngày Tháng Tư_Cao Xuân Thanh Ngọc

K1 Nam Cali thăm bạn Võ Văn Loài

Tường Trình của TK Nhữ Đình Toán:

Các bạn K1 thân mến,

Sáng nay, vào lúc 10 giờ thứ hai ngày 18/4/2022, nghe tin bạn K1 Võ văn Loài bị bệnh nặng hiện đang nằm tại Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng Alamitos West Health & Rehabilitation, số 3902 Katella St, Alamitos, CA. Chúng tôi gồm có các K1 Nguyễn Hữu Thời, Nguyễn Vô Lượng, Huỳnh Vĩnh Hưng và cá nhân tôi Nhữ Đình Toán đã đi thăm bạn Loài tại trung tâm nói trên; bạn Loài hiện nằm tại phòng số 117 (Tên bạn Loài trong giấy là Võ Tư). Khi chúng tôi đến thăm, bạn Loài nằm mở mắt nhìn chúng tôi nhưng không nói năng gì được. Theo lời người con trai bạn Loài (tên Tùng) cho biết, bạn Loài mới bị stroke và heart attack, đã giải phẫu đặt sten nên nay rất yếu không biết có phục hồi được không. Trong trường hợp xấu nhất bạn Loài không qua khỏi, thể theo di nguyện của anh, gia đình sẽ mang anh về an táng tại quê nhà ở VN. Dù thế nào chăng nữa, chúng ta hãy nguyện cầu cho bạn ta có được những phép màu may mắn, được tại qua nạn khỏi. 

 Xin gởi đến các bạn vài tấm hình chụp trong chuyến đi thăm này.

 Thân mến,

 Nhữ Đ Toán

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Nam Cali thăm bạn Võ Văn Loài

Quốc Hận 30/4/1975_TQN

QUỐC HẬN 30/4/1975

This image has an empty alt attribute; its file name is quoc-han-30-4.jpg

Bốn bảy năm rồi vẫn tối đen
Hỡi người con Việt nhớ hay quên
Lô nhô nón cối đi ngơ ngáo
Lúc nhúc dép râu bước láo liên
Nay đã giày Tây mang áo vest
Và còn xe ngoại gắn ăng tên
Rõ ràng không thể ngồi yên được
Mà hãy đồng lòng cùng đứng lên./-
TQN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Quốc Hận 30/4/1975_TQN

Tháng Tư Nhìn Lại Một Tấm Hình_Quan Dương

THÁNG TƯ NHÌN LẠI MỘT TẤM HÌNH

This image has an empty alt attribute; its file name is thang-tu-pic.jpg

Ngày 30/04/75 cách đây đúng 47 năm sau khi ông Dương văn Minh nhân danh Tổng thống VNCH tuyên bố đầu hàng vô diều kiện với phe cộng sản Bắc Việt thì có một nhiếp ảnh gia nào đó đã chụp tấm hình “CỞI BỎ QUÂN PHỤC” trên đường ven đô Sài Gòn. Trong tấm ảnh là những đôi giày trận, những bộ quân phục của người lính VNCH cởi bỏ lại. Vẫn biết tấm hình đã được bọn tuyên giáo của cộng sản dàn dựng nhằm mục đích miệt thị người lính VNCH rồi cho các phóng viên thuộc phe xã hội chủ nghĩa chụp. Tuy là thế nhưng khi suy gẫm lại thì trong lòng không thể không cảm thấy chua xót vì thực tế thì quân đội VNCH đã bị tụi cộng sản chơi xấu khi tạo ra thảm trạng này.

Sau 47 năm những người đã chết uất ức vì hai chữ tự do chưa được lịch sử trả lại công đạo thì hiện nay đang bị kêu gào bởi những người còn sống là hãy chôn sâu quá khứ vào nấm mộ hoang tàn để hướng tới hoà giải với tương lai. Trong khi đó ai cũng biết tương lai chỉ là chiếc bánh vẽ nguỵ danh của kẻ ác mà lịch sử đã sai lầm khi trao chiến thắng cho họ. Những kẻ đó sau khi đoạt chiếm miền Nam đã gây nên không biết bao nhiêu oan khiên đau thương và tan nát trút lên nhiều gia đình người dân mà chưa hề có một lời xin lỗi. Là như vậy đó thế mà vẫn còn nhiều người đem cụm từ hoà hợp hoà giải ra rêu rao. Họ làm như lỗi gây ra thảm cảnh của đất nước này là của dân miền Nam. Khi nào mà những kẻ gây ra lỗi lầm chưa biết nói câu xin lỗi thì những lời kêu gọi hoà hợp hoà giải là món hàng xa xí đang treo trong siêu thị mà người nghèo không có tiền để mua nó.

Mỗi năm cứ vào ngày 30/04 nhìn lại tấm hình lòng bỗng quặn đau. Y như là thảm cảnh này xảy ra đâu mới ngày hôm qua:

Tháng tư bệnh cũ trở trời

Trải hồn ra chỗ tôi ngồi phơi đau

Buồn trơ cái xác nát nhàu…

Không khô sợi tóc trắng màu sương phai

Tháng tư hồn bỏ ra ngoài

khỏi xương cốt đã ngậm ngùi mộ bia

Mai kia không thể về nhà

Tro tàn cốt rụi cũng là Việt Nam

Tháng tư sau buổi tan hàng

Máu còn rỉ ướt dấu đâm gãy cờ

Quan Dương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng Tư Nhìn Lại Một Tấm Hình_Quan Dương

Đừng Đem Bố Về_Trần văn Lương

“Đừng Đem Bố Về”

This image has an empty alt attribute; its file name is thumbnail.jpgDựa trên lời một vị lính già dặn dò con trai mình trước khi ông mất: “Chỉ khi nào nước mình hết Cộng sản thì con mới đem tro của Bố về quê chôn cạnh Ông Bà Nội.

Con ơi hãy lắng nghe lời Bố dặn,

Sau khi mà Bố nhắm mắt xuôi tay,

Nhúm tro tàn, hãy tạm để nơi đây,

Đừng có vội đem ngay về chốn cũ.

Bố chỉ sợ con nghe người ta dụ,

Theo kết bè kết lũ để “thăm quê”,

Rồi tiện tay mang tro Bố trở về,

Để Bố lỗi lời thề khi bỏ xứ.

Nơi cắt rốn, ai mà không thương nhớ,

Ai không hề trăn trở bước lưu vong.

Nhưng con ơi, phải nghĩ đến non sông,

Đang đau đớn chờ mong ngày giải thoát.

Tháng Tư đó, quê hương mình tan nát,

Bao nhiêu người gạt nước mắt ra đi.

Lòng dặn lòng, trong giây phút phân ly,

Còn giặc Cộng, quyết thề không trở lại.

Lời khấn nguyện, Bố hằng ghi nhớ mãi,

Và dẫu lòng luôn khắc khoải xót xa,

Bố quyết tâm không phản bội quê nhà,

Dù khi đã hóa ra người thiên cổ.

x x x

Về sao được khi quê cha đất tổ,

Còn trong tay đám hổ báo sài lang

Đang đê hèn làm nô lệ ngoại bang,

Nhưng độc ác hung tàn cùng dân Việt.

Làm sao Bố yên tâm dù đã chết,

Khi dân Nam vẫn rên siết trong tù,

Từ học trò, tu sĩ đến nông phu,

Chỉ vì “tội” chống kẻ thù xâm lược.

Vong hồn Bố làm sao siêu thoát được,

Khi đau lòng nhìn đất nước thân yêu,

Bỗng trở nên, trong một sớm một chiều,

Nơi sản xuất rặt những điều tồi tệ.

Xã hội đã suy đồi từ gốc rễ,

Già lưu manh, đến trẻ cũng lưu manh,

Người với nhau chỉ lừa đảo tranh giành,

Cả đất nước biến thành hang trộm cướp.

Dù kẻ khác về ăn chơi nườm nượp,

Nhưng mình không làm thế được, con ơi.

Nhìn khắp nơi tội ác vẫn ngập trời,

Ai là kẻ không bồi hồi phẫn chí.

Làm sao mà an nghỉ,

Khi mộ phần bao chiến sĩ miền Nam

Bị bọn cầm quyền độc ác gian tham,

Muốn cướp đất, đã san thành bình địa.

Nỗi đau càng thấm thía,

Khi thấy người chạy mất vía năm nao,

Nay trở về thật diêm dúa bảnh bao,

Cùng nhăn nhở, ồn ào nâng chén cạn.

Làm sao mà thanh thản,

Khi phải nhìn đứa bạn ngày xưa,

Nạng gỗ mòn, ống quần rỗng đong đưa,

Khay vé số dầm nắng mưa kiếm sống.

Làm sao không tuyệt vọng,

Khi chung quanh tràn ngập bóng quân thù,

Ngoan ngoãn tuân theo lệnh của Tàu phù,

Hung hăng gác căn nhà tù vĩ đại.

Làm sao không tê tái,

Khi dân mình cứ mãi gánh khổ đau.

Và dù cho ở tận đáy mộ sâu,

Người chết cũng phải gục đầu than khóc.

Chỉ đem Bố trở về khi dân tộc

Có nhân quyền và độc lập tự do,

Người người đều được áo ấm cơm no,

Không còn bị loài Cộng nô thống trị.

Con hãy nhớ những lời này thật kỹ:

Bao lâu bầy Cộng phỉ vẫn thong dong,

Gót chân Tàu còn giẫm nát non sông,

Thì mình vẫn quyết một lòng son sắt.

Con ơi nếu Trời xanh kia quá quắt,

Bắt dân mình vĩnh viễn mất quê hương,

Thì chút tro tàn của kiếp tha phương,

Đổ giùm Bố, đừng tiếc thương giữ lại.

Mộng cứu nước bao năm rồi chưa toại,

Lối quay về, ngàn quan ải cách ngăn.

Trong đêm đen, đôi khóe mắt nhọc nhằn,

Nỗi đau đớn thầm lăn trên má lạnh.

Trần Văn Lương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Đem Bố Về_Trần văn Lương

Trong Ngục Lạnh – Thơ TPK

TRONG NGỤC LẠNH

5-52376_lotus-blossom-png-svg-transparent-stock-lotus-blossom

Nhớ những đêm u buồn trong ngục lạnh
Lòng xót xa quạnh quẽ mảnh hồn côi
Suốt năm canh đói rách tím bờ môi
Thân xơ xác ôm phận đời thua trận
Trong lao tù ngồi cúi đầu tủi hận
Đã không tròn khí tiết phận làm trai
Không hiên ngang dâng hiến tấm hình hài
Không anh dũng tuẫn sinh ngày mất nước
Đời khổ sai nặng nề lê từng bước
Đêm lạnh lùng rét mướt ánh trăng vơi
Ngoài song sắt thăm thẳm một khoảnh trời
Lòng xao xuyến gởi về nơi cố xứ
Vợ con chừ gặp khó khăn trăm thứ
Mất lái rồi cơn gió dữ thuyền trôi
Đời mịt mờ trong đói khổ tả tơi
Kiếm miếng ăn nước mắt rơi từng bữa
Trời tháng tư, ôi tháng tư đỏ lửa
Đốt thành tro một trang sử hùng anh
Bao nhiêu năm tự do sống an lành
Nay một thoáng vàng son thành tăm tối…

TPK

4/2022

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trong Ngục Lạnh – Thơ TPK

Tiểu Thơ – Truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh

     TIỂU THƠ

– Phạm Tín An Ninh –

Người-đẹp-Velo-Solex

Rầm!

Tôi và hai thằng bạn vừa rà thắng xe đạp trước rạp Tân Tân để vào xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” thì bị một chiếc Vélo Solex húc từ đằng sau tới. Cả ba thằng ngã xuống đất. Riêng tôi còn bị cái xe của thằng bạn đè lên bụng đau muốn nín thở. Mới loi ngoi bò dậy, chưa kịp phủi bụi trên áo quần thì nghe tiếng quát tháo:

– Ê! Bộ ba “chàng ngự lâm pháo thủ” mù cả hà. Dừng ngựa mà chẳng coi chừng phía đàng sau! Đáng đời!

Vừa ngượng vừa tức giận bởi tự dưng bị húc té nhào giữa thanh thiên bạch nhật và trước bao nhiêu nguời đẹp, chưa kịp nắm cổ áo cho một trận, thì bị thủ phạm tiếp tục tấn công phủ đầu. Đúng là cà chớn. Nhưng nhìn lên thì… à… cả ba thằng khựng lại: đối phương là một cô gái, tuồi ô mai, tóc còn thắt bím, ngồi trên Vélo, vòng tay trước ngực, trề môi, rồi trợn đôi mắt to như hai cái đèn “ô tô”:

– Số còn hên đó. Cái vélo không bị hư gì. Tiểu thơ tha cho đó. Lần sau liệu hồn!

Nói xong cô bé nguýt một cái rồi rồ ga chạy mất tiêu.

Dù chưa bao giờ bị thầy Bửu Cân phán cho cái tội “con nhà không có lư hương”, bọn tôi cũng phải chửi thề một tiếng cho hả giận. Thằng Cường, đứa hiền lành ít nói nhất trong bọn tôi, xăn tay áo, xổ nho trước:

– Đ.m., con gái nhà ai trông đẹp thế mà đanh đá như bà chằn. Phải mà con trai thì biết tay tao.

Đúng là cô bé khá xinh, nhất là đôi mắt thật to và đôi môi mộng đỏ, dù có trề lên ngạo nghễ, cũng vẫn đáng yêu ghê lắm. Tôi nghĩ vẩn vơ như thế khi theo người soát vé dẫn tới chỗ ngồi. Trong rạp tối mò. Ba thằng chúng tôi vào trễ. Trên màn ảnh đang chiếu phim thời sự: Tổng thồng Ngô Đình Diệm đang kinh lý Ban Mê Thuột (nhưng không thấy cảnh ông bị ám sát hụt).

Suốt buổi hôm ấy, mắt nhìn lên màn ảnh, mà tâm trí tôi thì chỉ thấy có đôi mắt cô bé, trừ khi nào có tiếng súng nổ của ba chàng ngự lâm, tôi mới giật mình trở lại với truyện phim đôi ba phút.

Cha tôi nói đúng. Hồi mới ba tuổi, tôi đã khóc đến cả tháng trời khi mẹ tôi mất, ông bảo rồi sau này tôi sẽ là một thằng đa sầu đa cảm. Và hôm nay, dường như tôi bắt đầu biết tương tư đây.

Nha Trang cũng chẳng lớn hơn cái thành phố núi Pleiku là bao nhiêu, để ông nhà thơ nào đó “đi dăm phút trở về chốn cũ”, vậy mà cả mấy tháng rồi, tôi chưa gặp lại cô bé, mặc dù thời ấy Nha Trang đã có khá nhiều vélo solex, đủ làm tôi nhìn theo muốn ngoẹo cổ. Tôi nghĩ, chắc là cô bé từ đâu đến chơi. Trông nước da trắng hồng, có thể là từ Đà Lạt xuống thăm ai đó rồi lại biến mất như một nàng tiên trong cổ tích.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã. Vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, trước ở gần rạp ciné  Moderne của ông Bác Ái, sau này dọn lên gần Ty Thông Tin. Chú tôi, ngoài làm chủ tiệm bán mọi vật dụng về điện, còn thầu các công trình diện. Ông bà chỉ có một cô con gái rượu, cưng như trứng mỏng, nên mọi thứ ngược xuôi giao dịch ông cần tới tôi. Để tôi lên tinh thần, bỏ bớt cái tật ham chơi và lười biếng có lẽ từ khi còn trong bụng mẹ, ông thường bảo: “cháu còn nhỏ mà coi bộ có khả năng thương mại. Cố gắng theo chú học hỏi, sau này dám qua mặt tao nữa đó “. (Cái này thì ông nói trật lất. Vì sau này tôi trở thành lính đánh giặc, nên cả đời có buôn bán được cái gì đâu).

Cả năm cứ mong tới mùa hè là tôi dọt về quê thăm cha tôi và chơi với mấy thằng bạn nối khố, rủ nhau ra con sông quê, ngày bơi lội, tối cắm câu, ngủ ngoài trời mà đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm đâu là dải Ngân Hà có cái Cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Coi bộ vui và lãng mạn hơn ở trong cái thành phố Nha Trang này nhiều. Vậy mà mùa hè này tôi bị ông chú tôi giữ lại, sau khi thuyết phục được ông già tôi, bảo là để cho tôi tập làm quen với thương trường (!). Tôi nghe mà phát sợ, cứ như là sắp sửa bị ông đẩy tôi ra giữa chốn sa trường!

Bài học đầu tay là tôi xách cặp theo ông, đi dự một cuộc họp với mấy ông thầu khoán khác, trong một công trình “hợp tác mỗi bên cùng có lợi”. Nơi họp là một ngôi biệt thự khá đẹp nằm trên con đường Duy Tân có gió reo sóng vỗ.

Tôi rụt rè theo sau ông chú, bước vào phòng khách. Nhiều người đã có mặt. Ông nào trông cũng bệ vệ, đặc biệt có một ông mặc quân phục, oai phong cao lớn, mà coi bộ mọi người ai cũng nễ trọng. Nghe nói chuyện một hồi tôi mới biết đó là ông đại tá Đỗ Cao Trí, chỉ huy quân trường Đồng Đế. Lúc ấy tôi còn nhỏ, đâu có biết gì nhiều về lính tráng, nhưng tôi có nghe nhiều người kể chuyện tình ông đại tá này với một bà dược sĩ nào đó có tiệm thuốc tây trên đường Độc Lập. Bà này mới vừa ly thân ông chồng dược sĩ, có ông bồ là đại úy phi công trẻ tuổi đẹp trai thường đèo bà trên chiếc vespa chạy vòng vòng ngoài bờ biển, mặc dù bà có chiếc xe hơi thể thao trọc mui duy nhất ở thành phố này. Tội nghiệp ông phi công, vừa mới bị ông đại tá này nói nhỏ bạn bè làm lớn bên Không Quân cho bay ra tận ngoài vùng 1 xa tít mịt mù. (Sau này ông phi công hào hoa lấy một cô ca sĩ có giọng hát buồn… vào hồn không tên nào đó). Nghe mấy ông bàn bạc, tôi mới biết buổi họp này là để bàn việc xây cất và chỉnh trang lại toàn bộ doanh trại của quân trường Đồng Đế, mà chú tôi và mấy ông bạn thầu khoán vừa mới trúng thầu.

Tôi ngồi sau lưng ông chú, ghi ghi chép chép cứ như là… phóng viên tập sự. Nửa buổi thì ngưng họp ăn cơm. Một bữa ăn thịnh sọan từ nhà hàng mang tới. Vì thuộc hàng con nít, nên tôi được ưu tiên ra sân sau ngồi chung với mấy anh tài xế và con cháu ông chủ nhà. Vừa bước ra, chưa kịp tìm chỗ ngồi, thì tôi giật mình, sững sờ đến mấy phút. Cô bé, cô tiểu thơ… vélo solex, tông bọn tôi trước rạp Tân Tân gần ba tháng trước, đang ngồi chễm chệ tự lúc nào trong cái ghế bành duy  nhất bên bàn ăn.

Lấy lại bình tĩnh, tôi đến kéo chiếc ghế bên cạnh cô bé:

– Chào tiểu thơ, chàng ngự lâm pháo thủ bị xe tông… ngã ngựa có được phép ngồi đây không ạ?

Cô bé nhìn tôi tròn xoe đôi mắt. Đôi mắt mà tôi đã tìm kiếm hơn ba tháng nay, cứ tưởng đã biến mất khỏi Nha Trang, bỗng dưng bây giờ đang mở lớn hết cỡ trước mắt tôi. Tôi ngồi yên như bị thôi miên. Dường như vừa mới nhớ ra tôi, cô bé nhoẻn miệng cười:

– À, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ! Vous cứ tự nhiên.

Tôi ngạc nhiên, cô bé coi bộ tây này còn xổ cả tiếng nôm tiếng hán. Tôi nhủ lòng: Không phải vừa đâu nghe.

Vậy mà cái cuộc trùng phùng khá bất ngờ này lại đưa đẩy tôi đến một nấc thang danh vọng: làm gia sư cho cô bé. Nói gia sư cho oai phong, chứ hồi đó chì có mỗi chữ “dạy kèm” thôi chứ sư với siếc gì.

Số là sau này, khi thực hiện công trình, tôi thường theo chú tôi đến đây, cũng có nhiều lúc tôi đến một mình để trao giấy tờ và tham khảo ý kiến của ông chủ thầu, papa của nàng. Dần dà tôi quen thân với cả nhà. Gia đình trước sống ở Đà Lạt, làm chủ mấy cái hotel. Bà vợ bị chết bởi một tai nạn giao thông ngay trên đèo Ngọan Mục, ông già buồn quá không muốn mỗi ngày nhìn thấy bóng dáng bà vợ trong thành phố sương mù, nên dọn xuống Nha Trang, trở lại nghề thầu khoán gia truyền từ mấy đời trước. Ông bà chỉ có mỗi một cô con gái, nhưng trong nhà ông nuôi nhiều cháu và gia nhân. Gặp tôi nhiều lần, và qua chú tôi, ông già cô bé nghe nói tôi cũng gốc nhà quê, hiền lành chăm chỉ, nên nhờ tôi, cứ ba tối mỗi tuần ghé lại nhà kèm cô con gái cưng của ông về môn toán và Việt văn. Cô bé vừa từ trường Domaine de Marie ở Đà Lạt chuyển xuống lớp đệ ngũ trường Nữ trung Học Nha Trang, đọc thơ Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc mà không hiểu bà Đoàn thị Điểm và ông Ôn Như Hầu nói cái gì trong đó…

Môn toán thì tôi không biết vẽ rồng vẽ rắn, chứ cái môn Việt văn này coi bộ bao la trời biển quá, vẽ cái gì chẳng được.

Hôm đầu tiên, tiểu thơ vẫn còn cao điệu, gọi tôi là Thầy. Không biết là do lệnh của ông già, vì đề phòng tôi “tán bậy” con gái, nên phong cho tôi cái chức ” bán tự vi sư nhất tự vi sư” để tôi biết phận mà giữ mình, hay là cô bé choc quê tôi không biết.

Thấy “diễn nôm điển tích” mấy câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc coi bộ không ăn khách, chẳng hấp dẫn nổi cô bé, tôi quay sang đọc thơ cho cô bé nghe. Hồi đó ở Võ Tánh có hai nhà thơ rất sớm nổi tiếng, mà dù là tên thật hay bút hiệu gì nghe cũng đẹp làm sao: Thanh Nhung và Cao Hoành Nhân, Tôn Nữ Nha Trang và Bùi Cao Hoành gì đó. Không biết có đúng hay không, nhưng tôi nghe bạn bè thêu dệt về cuộc tình lãng mạn của hai nhà thơ học trò vang bóng một thời này. Tôi chọn mấy bài thơ ướt át nhất của hai người đọc cho cô bé nghe. Và cũng lạ, không cần diễn nôm diễn nghĩa gì cả, cô bé không những hiểu rất nhanh mà còn cảm nhận đến độ lim dim đôi mắt… nhìn xa xăm.

Có một điều tôi quên nói: cô bé cũng thuộc dòng Tôn Nữ, cũng có một cái tên hay lắm: Tôn Nữ Giáng Vân. Nhưng tôi vẫn thích gọi cô bé là Tiểu Thơ, cái tên mà nàng đã tự xưng khi đụng tôi trước rạp Tân Tân. Hơn nữa tôi thấy cái tên này cũng hợp với cô bé lắm. Tôi nghĩ thầm, có lẽ nàng Tôn Nữ xứ Huế nào cũng đẹp và… lãng mạn đa tình.

Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn, cô bé mê nhất là Hồn Bướm Mơ Tiên, nên thường bắt tôi kể lại cho nàng nghe. Mẹ nàng vốn là một phật tử ngoan đạo. Sau ngày bà chết, ba nàng cúng dường khá nhiều tiền để chỉnh trang hai ngôi chùa Tỉnh Hội, Hải Đức và cung thỉnh thêm nhiều tượng Phật. Cô bé thường theo cha lên chùa Hải Đức. Nàng bảo mỗi lần lễ Phật, nàng cứ tưởng tượng mình là “chú tiểu” Lan, nhưng lại rất sợ và bịt kín tai khi nghe có tiếng đại hồng chung, nên chắc không thể nào giả trai lên chùa tu được.

Một hôm cô bé nhất quyết bắt ông thầy phải làm cho cô bé một bài thơ. Nếu không thì không chịu học. Cái này thì đúng là tiểu thơ muốn hại “đời tư” của tôi đây. Mang tiếng là học ban C nhưng hồi giờ tôi có thơ với thẩn gì đâu, chỉ lâu lâu cùng với mấy thằng bạn trong lớp nghịch ngợm bày ra trò chơi nối vần một bài lục bát con cóc để ghẹo cô bạn nào đanh đá trong lớp. Vậy mà hôm ấy, không biết con tim nó ướt át đến cỡ nào, tôi phóng bút làm xong một bài thơ chưa đầy mười phút. Đọc qua nghe có mùi cải lương không chịu nổi, nhưng tôi cũng tự phục mình. Tôi đưa bài thơ cho nàng đọc:

Ngày tháng trôi dần theo nhớ thương
I như duyên nợ đã vấn vương
Nên tình mây nước cùng trăng gíó
Hẹn ở ngày mai một nẻo đường
YÊU vầng trăng sáng in cành lá
Và khúc nhạc lòng dâng đến hương
Ân ái giờ đây là mơ ước
Ngỡ một tâm tình một vấn vương

Cô bé đọc xong không biết có hiểu gì không, (mà thực ra bài thơ cũng có nghĩa gì đâu mà hiểu với không), gật gù khen và hỏi:

– Sao bài thơ không có tên?
– Có tên rồi đó mà tiểu thơ không thấy à?

Cô bé lật qua lật lại mảnh giấy:

– Tên với tựa gì đâu, không thấy. Trả lại thầy, không thèm.

Tôi cười, vuốt ve cô học trò:

– Thì Vân cứ ghép tất cả các mẫu tự đầu ở mỗi câu lại, sẽ thấy cái tựa liền.

Khổ thật, tôi còn phải giải nghĩa thêm mẫu tự là cái gì, thì cô ta mới tìm được cái tựa bài thơ. Cô bé đỏ mặt, vất mảnh giấy có bài thơ xuống đất :

– Không thèm chơi với Thầy nữa.

Nói là không thèm chơi, nhưng cũng kể từ hôm ấy cô bé thân thiết và gần gũi với tôi hơn. Ba nàng cũng thấy tin và quí ông gia sư nhóc tì này, vì thấy con gái cưng của mình chăm học, vui vẻ yêu đời hơn.

Mùa hè năm đó, cô bé theo tôi về nhà quê chơi, nhân tiện có cô con gái của ông chú tôi cùng về thăm quê nội. Dường như đó là lần đầu tiên cô bé ra một vùng quê. Không biết là gió nội hương đồng hấp dẫn cô bé, hay là suốt ngày dung dăng dung dẻ làm nũng làm nịu với “ông Thầy”, cô bé ca hát líu lo và bảo là yêu… đồng quê ghê lắm. Và đó cũng là một mùa hè đẹp nhất, có ý nghĩa nhất trong đời học trò của tôi, dù ở quê tôi chẳng có cây phượng vĩ và cũng chẳng nghe có tiếng con ve sầu nào rên rỉ.

Hai năm sau, tôi rời Nha Trang vào Sài gòn học tiếp. Tôi buồn và tiếc nuối vì phải chia tay cái nghề gia sư với cô hoc trò nhỏ nhưng có đôi mắt thật to… của mình. Cô bé được ông già chở lên ga Nha trang tiễn tôi đi. Tôi cũng cố làm ra vẻ “đi là chết ở trong lòng một ít”, làm cô bé mủi lòng muốn khóc. Ông già cứ tưởng là nhờ ơn tôi mà cô bé vừa đậu cái bằng trung học kỳ rồi, nên cũng nắm chặt tay tôi, lì xì một mớ tiền và cám ơn rối rít…

Vậy mà cái tình yêu ấy (không biết có đúng là tình yêu hay không, nhưng cứ nói như thế cho nó lãng mạn và người lớn một chút) cũng làm cho lòng tôi xốn xang một dạo

Sau đó chỉ có vài lần tôi nhận được thư cô bé, kể chuyện những bạn bè thân quen của cô bên trường Nữ, và chuyện chiếc máy bay phản lực rơi xuống bên cạnh rạp Tân Tân, nơi mà lần đầu tiên tôi biết cô bé nhờ chiếc vélo của cô tông tôi ngã xuống bên lề đường. Nhưng lần nào cũng kèm theo một bài thơ tình… con cóc.

Năm năm sau, khi cô bé đã trở thành người lớn và quên “ông Thầy” thích đọc thơ tình cho cô học trò… lim dim đôi mắt, thì cũng là lúc tôi hát khúc Biệt Kinh Kỳ, xếp bút nghiên theo việc kiếm cung.

Ra trường, tôi được bổ sung về một đơn vị lưu động trên vùng Cao nguyên gió lạnh mưa mùa. Năm 1972, tôi bị thương trong trận Mủa Hè Đỏ Lửa ở Kontum, được đưa về QYV Pleiku điều trị. Khi vết thương vừa lành, tôi nhận Sự Vụ Lệnh của đơn vì đề cử về Sài gòn trong đoàn “chiến sĩ xuất sắc” được Tổng Thống tiếp đón tại khu vườn Dinh Độc Lập. Thực ra là tôi có xuất với sắc cái gì đâu. Khi còn độc thân thì hăng máu lắm, chứ đã có vợ rồi thì cũng hơi lạnh cẳng, ngại cái cảnh “anh trở về dang dở đời em”. Nhưng chiến tranh đang hồi ác liệt, nếu cử chiến sĩ xuất sắc thứ thiệt đi thì thiếu người đánh giặc giỏi, mà lại hao hụt quân số tác chiến, tôi đang trong tình trạng bất khiển dụng, nên cho tôi đi là nhất cử lưỡng tiện. “Chiến sĩ xuất sắc” được ưu ái đi bằng máy bay dân sự. Tại phi trường Pleiku bụi đỏ, tôi bất ngờ gặp lại Tiểu Thơ khi tôi vừa ngơ ngác bước lên máy bay Air Vietnam và khựng lại trước đôi mắt thật to của cô hôtesse de l’air đang mỉm cười chào khách. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, có thêu hai con rồng trên cổ áo, nàng đẹp như một nàng tiên. Khi chiếc máy bay DC 4 đã lấy lại thăng bằng trên cao độ, nàng đến ngồi chiếc ghế trống trước mặt tôi, quay ra sau trò chuyện. Trong chớp nhoáng, tôi biết là nàng đã có chồng. Anh ta là một phi công phản lực F5, thuộc đơn vị Biên Hòa. Hai người làm đám cưới hơn một năm. Tôi nghĩ, con gái đẹp thường chọn mấy ông không quân, vừa được tiếng có ông xã hào hoa, đi mây về gió, vừa khó trở thành góa phụ. Anh phi công nào phải vừa bô trai vừa tốt số lắm mới lọt được vào đôi mắt của Tiểu Thơ này. Tôi nghĩ như thế mà lòng thì cũng thấy một chút bâng khuâng.

Chỉ nói chuyện được vài câu, nàng ghi địa chỉ của tôi ở Sài gòn, rồi hẹn sẽ cùng đức lang quân ghé đón đi Maxim nghe Lệ Thu hát bài Kỷ Vật Cho Em. Tôi cười, bảo là rất sợ bài hát này, cái bài hát mà thằng lính nào nhát gan nghe xong là không còn muốn “đáo nhậm” đơn vị nữa. Cuối cùng nàng đến có một mình, “ông xã” vừa mới biệt phái ra Vùng 1. Tối đó thay vì đến nhà hàng Maxim, nàng đưa tôi ra Quán Cái Chùa cho có vẻ nghệ sĩ một chút, mời “ông Thầy” uống cà phê có hương vị Tùng Đà Lạt – mà chủ nhân thường pha chế đặc biệt cho riêng nàng – để nhớ những ngày cô còn ở đó… Dường như khi đã lớn rồi, người ta lại muốn tìm về cái thời đi học. Hai đứa chỉ ngồi nhắc lại chuyện Nha Trang, chuyện mấy bài thơ con cóc, rồi chia tay không hẹn ngày tái ngộ. Thời chiến tranh mà, “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” biết đâu mà hẹn.

Tháng 3/1975, Nha Trang rồi cả Vùng 2 mất. Bao nhiêu năm sống chết với núi rừng Hoàng Triều Cương Thổ, tôi theo đơn vị chỉ còn một phần tư quân số “di tản” vào Vũng Tàu để tái bổ sung, rồi kéo xuống tham dự những trân đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ ở những địa danh xa lạ: Bến Lức, Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An, nhằm ngăn chận địch quân đang tràn về vây hãm và pháo kích Sài Gòn.

Cũng như nhiều đơn vị khác, vào giờ thứ 25, chúng tôi đánh giặc không có “đại bàng”. Lần cuối cùng tập họp anh em lại hô “tan hàng” mà không còn nghe “cố gắng” nữa, thì tôi mới biết là ông tướng tư lệnh đã có mặt trên đệ thất hạm đội Mỹ trước đó hai ngày rồi! Thôi thì, xưa nay người ta đã nói”nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà. Cuối cùng thì miền Nam cũng thất thủ. Đám tụi tôi được người “anh em” chiến thắng mời vô trại cải tạo để được hưởng “chính sách khoan hồng của kách mệnh”!

Tám năm lưu đày từ nam ra bắc, cuộc đời thôi đành cứ như gởi theo những đám mây bay. Cái hạnh phúc bây giờ chỉ còn là những phút giây hồi tưởng. Mà hồi tưởng cũng phải “cảnh giác”, chứ không khéo cũng bị cùm vì cái tội “luyến tiếc quá khứ”. Bạn bè cùng cảnh luyến tiếc điều gì thì tôi không biết, nhưng riêng tôi lại tiếc nhớ cái tuổi học trò, và cái thời con tim mới biết yêu. Tôi lại nhớ đến Tiểu Thơ, đến đôi mắt tròn xoe của cô bé, và nhớ tới cái hạnh phúc làm “gia sư” của tôi còn hơn là nhớ tới mười mấy năm làm bạn với ông Nguyễn Bắc Sơn “ta vốn hiền khô – ta là lính cậu, đi hành quân rượu đế vẫn mang theo, mang trong đầu những ý nghĩ trong veo, xem chiến cuộc như tai trời ách nước”. Tôi hình dung bây giờ chắc nàng đang hạnh phúc ở một chốn thiên đường nào bên nước Mỹ. Ông xã là không quân mà, lại đóng ở Biên Hòa nữa. Chỉ cần một lần cất cánh nhẹ nhàng là thay đổi cả cuộc đời.

Ra tù, trở lại thành phố xưa, tôi có cảm gíác Nha Trang sao bây giờ xa lạ quá, không còn là “hang động tuổi thơ”của bọn tôi ngày trước nữa. Nhưng rồi tôi cũng đâu có được phép ở lại cái thành phố này, mà phải về tạm trú ở quê tôi ngoài Vạn Giã. Ở đó tôi chỉ còn một bà cô già sống quạnh hiu trong ngồi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội. Cha tôi thì cũng đã chết cách đây sáu năm trong trại cải tạo Đá Bàn. Mồ mả còn chưa biết ở đâu. Nhưng rồi tôi còn có cái may, là gần như mỗi ngày tôi đều ghé lại Nha Trang một lần, bởi tôi được ông anh bà con cho tôi làm tài xế phụ kiêm lơ xe cho chiếc xe đò nhỏ của ông chạy đường Nha Trang – Tuy Hòa. Xe chạy bằng than và khách hầu hết là mấy bà đi buôn chuyến.

Một hôm tôi đang lui cui đứng trên mui, thì một bà khách kêu tôi  nhấc hộ đôi thúng của bà lên. Bà lấy hết sức đưa từng chiếc thúng lên, nhưng rồi lại bị sà xuống. Trong đôi thúng là những thỏi đường màu đen khá nặng. Tôi phải dùng một cây móc sắt đưa xuống, bảo bà móc vào để tôi kéo lên. Khi lấy sức kéo đôi thúng lên tôi bất ngờ gặp đôi mắt thật to và tròn xoe. Đôi mắt nhìn tôi tựa hồ như xoáy vào lòng tôi nhát dao đau buốt. Tôi nhảy xuống xe, nắm chặt đôi vai gầy còm của bà khách:

– Là em, là Tiểu Thơ đây à?

Nàng nhìn tôi, rồi nước mắt đầm đìa.

– Tiểu Thơ, à quên… Vân, làm sao mà em lại ra đến nỗi này.

Nàng cúi xuống im lặng, không nói một lời nào.

Ra đến Tuy Hòa, tôi gánh hộ nàng gánh đường giao cho một cái quán trong chợ, rồi mời nàng đi ăn cơm trưa. Tôi đang nóng lòng được biết về hoàn cảnh của nàng:

– Ông xã em bị kẹt ngoài Vùng 1 rồi mất tích luôn từ đó tới bây giờ. Em có đi hỏi một vài người bạn cùng phi đoàn, thì họ cho biết là anh ấy bị bắn rơi khi yểm trợ cho anh em Thủy Quân Lục Chiến rút về Đà Nẵng. Em chờ đợi xem anh có bị bắt cầm tù ở đâu không, nhưng đến bây giờ thì chắc chắn là anh đã chết thật rồi.

– Còn ba em đâu?
– Nhà cửa ba em bị tịch thu hết. Ông bị bắt đi cải tạo với lý do từng thầu xây cất doanh trại cho Mỹ trong phi trường. Chỉ một năm là ông chết.
– Vậy bây giờ Vân ở với ai?
– Em ở với con gái em. Nó gần mười tuồi rồi. Khi gặp anh ở Sài gòn là em vừa mang thai nó mà chưa biết. Mẹ con em được đền bù một căn nhà tôn nhỏ của thương phế binh hồi trước, nằm sau ga xe lửa.

Tôi nhét vào tay Vân tất cả số tiền mà tôi kiếm được hôm ấy, bảo nàng mua hộ tôi quà cho cháu gái.

Sau đó, tôi gặp lại nàng chỉ thêm hai lần nữa, vì ông anh họ tôi đã phải bán rẻ cái xe hơi cho người khác, bởi không đủ tiền sửa chữa mà còn cứ bị chính quyền trưng dụng đi chở lúa cho hợp tác xã, không trả một đồng nào. Cũng đúng vào lúc này, tôi tính chuyện vượt biên.

Tôi kể chuyện Tiểu Thơ cho vợ tôi nghe. Bây giờ tôi thương cô như một người em gái. Vợ tôi tốt bụng, thương mẹ con cô cũng như hoàn cảnh của chính mình, sẵn sàng cùng tôi giúp mẹ con nàng đi cùng chuyến vượt biên, do chính tôi tổ chức.

Một tuần trước khi ra đi, tôi vào Nha Trang tìm đến nhà nàng. Căn nhà khóa kín cửa. Tôi chờ đến tối mà chẳng thấy mẹ con cô trở về. Tôi gõ cửa căn nhà bên cạnh. Chủ nhà lại là một anh thương phế binh, nhờ mất cả hai chân nên không bị đuổi khỏi nhà… Anh cho biết là mẹ con nàng đã dọn đi đâu cả mấy tuần rồi, không thấy về nhà.

Trời thương, chuyến vượt biên cũng đến được bến bờ, nhờ một chiếc tàu chở dầu của Vương Quốc Na Uy vớt trên biển, trước khi cơn bão ập đến. Với ân tình này, vợ chồng tôi chọn Na Uy là nơi để gởi gấm phần đời còn lại của mình và vun đắp tương lai cho mấy đứa con nhỏ dại.

Mùa hè năm 1989, vợ chồng tôi đưa hai cô con gái sang Mỹ học, nhân tiện ghé thăm và chia buồn gia đình ông anh họ, đi từ năm 78, định cư ở thành phố Sacramento, bắc Cali. Anh chị vừa có thằng con trai bị chết đuối khi theo cha đi câu ngoài biển.

Bao nhiêu năm gặp lại nhau, anh chị tiếp đón chúng tôi thật ân cần, nhưng không vui vì cái bàn thờ đứa con trai còn nghi ngút khói  hương.

Sáng hôm sau, anh chị đưa tôi đến nghĩa trang thăm mộ cháu rồi chở chúng tôi đến một ngôi chùa Sư Nữ ở gần đó, để bàn việc làm lễ cầu siêu cho cháu. Anh cho biết anh chị rất thân quen với Sư Bà trù trì, Bà rất quí anh chị không chỉ vì biết nhau từ lúc còn ở Nha Trang mà vì anh làm nghề thầu sửa chữa nhà cửa, nên cả ngôi chùa này phần lớn là do công sức của anh cúng dường.

Ngôi chùa không lớn lắm, khu chánh điện còn đang dang dở, nhưng vườn khá rộng và trồng nhiều loại hoa. Trong chùa tiếng tụng kinh, gõ mõ càng đượm không khí trang nghiêm. Chúng tôi được một cô phật tử mời ngồi uống trà và xin chờ chừng nửa tiếng, vì Sư Bà đang cúng ngọ.

Khi ông anh bà chị đứng bật dậy, chúng tôi chợt nhìn thấy Sư Bà vừa bước ra. Tôi ngạc nhiên vì Sư Bà còn trẻ và trông rất phương phi, nhất là hai tai thật to và dài xuống như tai các tượng Phật tôi thường nhìn thấy trong các ngôi chùa. Điều làm chúng tôi thú vị là bà rất vui vẻ cởi mở. Bà bảo bà cũng là dân Nha Trang nên rất mừng khi tiếp được người đồng hương từ tận bắc Âu đến viếng.

Sau một lúc hàn huyên, tôi biết được Sư Bà là người có trình độ học vấn cao. Bà có cử nhân Văn Khoa và đang học năm cuối cao học văn chương tại đại học Vạn Hạnh thì miền Nam thất thủ.

Điều ngạc nhiên hơn là Sư Bà cho biết có khá nhiều ni cô gốc Nha trang đang tu ở chùa này, trong đó có con gái của ông chủ tiệm ảnh nổi tiếng một thời ở đường Phan Bội Châu mà ngày xưa tôi cùng đám bạn bè thường đến để chụp ảnh, con gái một bà chủ tiệm vàng trước Grande Pharmacie, và một vài ni cô nữa. Bà còn bảo thật là tội nghiệp, có vài cô đã gặp bao nhiêu nghịch cảnh thương tâm trên biển Đông, chồng chết con chết, chỉ còn lại một mình. Ban đầu, Bà đưa về chùa cưu mang, rồi sau đó các cô xin được xuống tóc qui y luôn. Sư Bà mời chúng tôi ở lại dùng cơm chay cùng với Bà, nhân tiện bà giới thiệu với mấy ni cô gốc Nha Trang cho biết, bởi tôi cũng là một phật tử thuần thành.

Tôi theo ông anh bà chị xuống bếp phụ dọn cơm. Nhưng ông anh ngăn lại:

– Chú là người lạ, không nên vào bếp. Hôm nay chú thím là khách của Sư Bà mà.

Ngồi dọc theo chiếc bàn dài, gồm các ni cô và một vài phật tử, chỉ có chúng tôi là “dân sự”. Sư Bà giới thiệu chúng tôi là đồng hương, những phật tử đến từ tận Bắc Âu. Tôi vừa đứng lên chấp hai tay trước ngực, bỗng bất ngờ bắt gặp đôi mắt thật to, tròn xoe của một ni cô ngồi ở phía cuối bàn. Ni cô cũng vừa nhìn tôi rồi cúi xuống. Đôi mắt đó với tôi có một cái gì thần giao cách cảm. Đúng. Trên thế gian này chỉ có Tiểu Thơ mới có đôi mắt ấy mà thôi

Dùng cơm xong, là đến giờ nghỉ trưa của Sư Bà. Chúng tôi cám ơn Sư Bà và xin được cúng dường một số hiện kim để trùng tu chánh điện.

Tôi từ giã Sư Bà, trong lúc mắt nhìn quanh như muốn tìm kiếm một điều gì. Nhưng tất cả chỉ có im lặng, ngoài tiếng chuông chùa ngân nga như chẳng bao giờ muốn tan đi trong không gian bao la vô tận.

Tôi bước ra khỏi cổng chùa. Chùa nằm trên một khu đất bằng phằng, nhưng sao tôi có cảm giác như mình đang lững thững bước xuống chân đồi. Tôi hình dung đến Ngọc vừa chia tay “chú tiểu” Lan lần cuối cùng ở chùa Long Giáng trong Hồn Bươm Mơ Tiên của nhà văn Khái Hưng, mà ngày xưa Tiểu Thơ đã bắt tôi phải kể đi kể lại bao nhiêu lần.

Phạm Tín An Ninh

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tiểu Thơ – Truyện ngắn của Phạm Tín An Ninh

Thuyết “Ít” “Nhiều” của Người Nhật (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thuyết “Ít” “Nhiều” của Người Nhật (ST)

Vần Thơ Tưởng Nhớ Quốc Hận 30/4 – Tuyến Lê

         Tháng Tư cuộc chiến U – Nga
Putin bạo chúa mộng nhà LÊNIN
       Tháng Tư đất khách ngóng nhìn
Quê hương Cộng trị Dân mình lầm than
        Tháng Tư Thu Úc lá vàng
Nhớ thương tủi phận lệnh hàng tháng Tư.

              -:- -:- -:- -:-

  THÁNG TƯ THỨ 47

Tháng Tư bốn bảy thoáng qua mau
Giải phóng miền Nam máu, lệ trào
Thống nhất quê hương Dân khốn khổ
Hoà bình đất nước Đảng sang giàu
Lòng Dân phẫn uất cam đành chịu
Ý Đảng khoe khoang dám tự hào
Chủ nghĩa vô thần quân bán nước
Việt Nam Cộng sản mãi hay sao!?

TƯỞNG NIỆM TRUNG TÁ LONG

Tuẫn tiết tháng Tư năm bảy lăm
Người hùng Cảnh sát Nguyễn văn Long
Nêu gương dũng khí không hàng Cộng
Tỏ chí can trường quyết nhủ lòng
Kết liễu đời mình trang Cảnh phục
Tay cầm súng lục bắn ngay cằm
Chết vinh! Sống nhục đày thân xác
Cảnh sử oai hùng ảnh Tá Long.

Mùa Thu Australia,
Tuyến Lê,

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vần Thơ Tưởng Nhớ Quốc Hận 30/4 – Tuyến Lê

Vì Đâu Nên Nỗi – Dâu K1 Lê Phương Lan

VÌ ĐÂU NÊN NỖI

Tháng Tư! Bây giờ là tháng Tư! Tục ngữ Việt Nam có câu: “Miếng ngon nhớ lâu. Niềm đau nhớ đời”! Niềm đau của thời kỳ nội chiến và nhất là thời hậu chiến sau ngày 30 tháng 4 vẫn còn sâu đậm đến nỗi vẫn còn có một vách ngăn chưa thể vượt qua được hay sao? Vì đâu nên nỗi?!

Người dân Việt bản chất là một dân tộc hiền hòa, hữu thần. Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã thờ đạo Mẫu và để lại cho con cháu những lời dạy chan chứa tình người: “Ở sao có đức có nhân, mới mong đời được hưởng ân lộc Trời” Cha ông chúng ta luôn dạy bảo con cháu phải “Làm lành tránh dữ”, sợ rằng sẽ bị “quả báo”, “ác giả ác báo” vì tin tưởng vào sự thưởng phạt của Ông Trời, “chạy Trời không khỏi nắng” vì ”Ông Trời có mắt” và rằng “Lưới Trời tuy thưa nhưng khó thoát”!

Qua hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của Trung Hoa cho nên về tư tưởng thì người Việt chúng ta đã chịu ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử mà giữ lấy chữ “nhân” làm đầu. “Nhân là đầu các điều thiện, là chủ hồi dưỡng sinh của vạn vật” và là nhân cách đầu tiên trong ngũ thường “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Lòng nhân đạo của người Việt Nam đã được thể hiện rõ nét qua bài “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo”.

Về tín ngưỡng thì trước khi tiếp xúc với phương Tây, tôn giáo chính của người Việt là Phật giáo. Phật Thích Ca là thái tử Tất Đạt Đa. Tên dòng họ Ngài là Gotama (Cổ Đàm) có danh hiệu là Sakya (Thích Ca) Thái tử dù sống trong nhung lụa vẫn nghiệm thấy là con người ai cũng không thể thoát khỏi cảnh già nua, đau bệnh rồi chết . Những hình ảnh siêu thoát của vị tu sĩ giúp thái tử sớm thấy được con đường giác ngộ để dẫn đến niết bàn bất tử. Chủ trương của Phật giáo là:

1- Chủ trương từ bi hỷ xả đối với các sinh linh.
2- Con người đều có Phật tánh, ai cũng có thể thành Phật.
3- Muốn tiến tới niết bàn phải giải thoát con người qua luật nhân quả và vòng luân hồi.
Đức Phật đã phân tích nguyên nhân của đau khổ là do thập nhị nhân duyên:

1- Vô minh (mê lầm, tăm tối).
2- Hành (hành động khiến gây ra nghiệp)
3- Thức (phân biệt đúng sai)
4- Danh sắc ( nhận dạng được hình, sắc)
5- Lục nhập (6 căn tội)
6- Xúc (tiếp xúc)
7- Thọ (tiếp nhận cảm giác)
8- Ái (tham vọng)
9- Thủ (nắm giữ)
10- Hữu
11- Sinh và 12- Tử
12 nhân duyên này quan hệ với nhau buộc ta vào vòng luân hồi.

Thiên Chúa Giáo đã được giới thiệu vào Việt Nam từ thế kỷ thứ 16. Trong Thiên Chúa Giáo sự hiện hữu của Thượng Đế là hiển nhiên, hằng hữu. Sự tương quan giữa con người và Thượng Đế theo ba ý niệm sau đây: Sự Sáng Tạo – Lẽ Công Bằng – và Tình Thương.

Kinh Thánh mở đầu bằng sự khẳng định Đức Chúa Trời dựng nên vũ trụ, vạn vật và con người. Con người là công trình sáng tạo sau cùng của Thiên Chúa và được Ngài trao ban cho một món quà quý giá nhất là sự tự do. Nhưng rồi món quà này đã bị lạm dụng và con người đã đánh mất Thiên Đàng do lòng kiêu ngạo là căn nguyên tội lỗi dẫn đầu trong “Bảy Mối Tội Đầu”.

Tuy nhiên theo sau lẽ công bằng là tình thương. Thiên Chúa đã hứa sẽ ban cho loài người một Đấng Cứu Thế sẽ chịu sát tế như một con chiên để chuộc lại lỗi lầm ban đầu của tội nguyên tổ và dùng tình thương để cảm hóa, để đẩy lùi tội ác ra khỏi nhân loại.

Đức Giê Su đã từ bỏ ngai trời xuống thế làm người, nhập thế hành đạo trong một hoàn cảnh nghèo khổ như chưa từng có ai nghèo khổ hơn! Những bài học về lòng yêu thương, bác ái trong lời giảng dạy của Ngài thường là qua các dụ ngôn. Giáo lý của Ngài tập trung vào hai điều: “kính Chúa và yêu người”. Ngài không đến để xóa hết đau khổ. Ngài cũng không giải thích nguyên nhân của sự đau khổ mà bằng chính cuộc sống của mình Ngài đã chứng minh rằng trong đau khổ con người vẫn tìm ra được niềm bình an, hạnh phúc một khi ta đón nhận và cải hóa sự đau khổ, hay nói cách khác là khi ta đã biết thánh hóa sự đau khổ để biến “thập giá trở nên thánh giá”. Cái chết của Đức Giê Su là một tấm gương cao cả cho sự hy sinh tuyệt đối trong quan niệm yêu thương, bác ái của Thiên Chúa Giáo. Tín đồ Thiên chúa Giáo hay người Công giáo cách riêng tin rằng con người chỉ có một cuộc đời để sống, để lập công đức bằng việc thực thi thương yêu, bác ái với mọi người ta tiếp xúc. Và phần thưởng cho người sống công chính là một đời sống viên mãn, vĩnh hằng trên thiên đàng.

Như đã nói trên, khi sử dụng quyền tự do được trao ban, những con người với sự ngạo mạn, vẫn chống lại những điều thiện hảo để tiếp tục gây ra tội ác, để tự hủy diệt lẫn nhau. Vào thế kỷ thứ 19, một người gốc Do Thái sinh ra tại Đức tên là Karl Marx đã lập ra một học thuyết mà sau này được áp dụng như một thứ tôn giáo mới tại các nước cộng sản. “Đạo” của Karl Marx đã đi ngược hoàn toàn với tín lý Thiên Chúa Giáo. Tín lý Thiên Chúa Giáo dạy tình yêu thương, lòng bác ái và tha thứ, dẫn đưa nhân loại đến sự thật. “Đạo” Karl Marx dạy hận thù, độc ác, dối trá, đấu tranh giai cấp với mục đích chia rẽ, phân hóa để thống trị loài người, quảng bá quan điểm vô thần, một giả thuyết có nguồn gốc từ Tây phương nhưng đã bị chính các nhà khoa học Tây phương hoài nghi. Von Braun, nhà khoa học không gian hiện đại đã từng viết: “Sự thần kỳ và vô biên của vũ trụ chỉ có thể chứng thực cho đức tin của chúng ta rằng chắc chắn có Đấng Sáng Thế”.

Văn hóa truyền thống Á Đông nói chung luôn coi trọng tín ngưỡng, coi trọng mối quan hệ hài hòa giữa “Thiên-Địa-Nhân”, nhưng kể từ khi du nhập “đạo” Karl Marx vào thì các đảng cộng sản đứng đầu là đảng cộng sản Trung Quốc ra sức nhồi nhét chủ thuyết vô thần, cổ súy triết học đấu tranh theo như tuyên ngôn của Mao Trạch Đông: “Đấu với trời là niềm vui vô tận! Đấu với đất là niềm vui vô tận! Đấu với người là niềm vui vô tận!”

Đối với dân tộc Việt Nam từ 1945 cho đến sau 1975 niềm đau dẫu cho không muốn nhớ đời nhưng đến những ngày giỗ, Tết những nén hương vẫn còn được thắp trên bàn thờ để cầu siêu, xin lễ cho hàng triệu sinh linh, những oan hồn uổng tử đã chết trong cuộc cải cách ruộng đất tại miền Bắc, trong cuộc nội chiến, trong Tết Mậu Thân, trên đại lộ kinh hoàng, trong các trại tù cải tạo, trên đường vượt biên, vượt biển!

Suy cho cùng thì vách ngăn chia cách lòng người chính là sự độc ác, dối trá, hận thù! Một khi con người biết sống với lòng nhân, với sự thiện tâm tin rằng: “trên đầu ba thước có thần linh” để tránh sự quả báo , thoát kiếp luân hồi. Khi con người tin rằng sẽ có sự thưởng phạt theo lẽ công bằng thì những hành động bạo tàn, những âm mưu nham hiểm sau cùng cũng sẽ bị xét xử bởi một đấng Thượng Đế công minh. Khi “Bát Chánh Đạo” của Phật Giáo và “Mười Điều Răn” của Thiên Chúa Giáo được làm ánh sáng soi đường. Và rồi ra lời dạy của các tôn giáo chân chính sẽ xóa bỏ được vách ngăn giữa người với người.

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vì Đâu Nên Nỗi – Dâu K1 Lê Phương Lan

ÔI “THẦN DƯỢC” MI HẠI TA_Huỳnh Chiếu Đẳng

This image has an empty alt attribute; its file name is thanduoc.jpg

Ôi “Thần Dược” Mi Hại Ta!

Huỳnh Chiếu Đẳng

(Bài do K1 Nguyễn Văn Vinh chuyển)

Nghe thiên hạ rỉ tai nhau nói có cặp vợ chồng sồn sồn khỏang 50, 60 gì đó ở Mỹ làm youtube làm món ăn bếp núc và tiện thể quảng cáo rất khéo léo đủ loại cream, serum bôi mặt gốc chệt nhưng giả mạo tên của phương tây và quảng cáo đông trùng hạ thảo, sâm nhung bổ khỏe..sao mà ác vậy! Thật là tội nghiệp cho những người ngây thơ thiệt thà, tiền mất tật mang.

Thử điểm mặt qua những thứ món thuốc mà người Việt chúng ta tự bày cho nhau (cũng đôi khi  bắt chước người Mỹ hoặc người Tàu mà bày thuốc cho nhau):

Nhìn chung thì hầu như mọi thứ thực phẩm quanh ta đều được email và webpage người Việt ca tụng là “thần dược” trị ung thư và bá bịnh.

Nhiều người vang bóng một thời, người bày ra món này đã hốt nhiều chục triệu bạc xong lặn mất. Kế đó là nước măng cụt, bây giờ còn chút tiếng vang. Kế nữa là Canh Dưỡng Sinh, được phe ta uống như điên trong thời gian chừng sáu tháng rồi tịt ngòi.

Tiếp theo thì ngàn hoa đua nở: hết  dưa chuột, rồi thì lá đu đủ, rồi tới mãng cầu. Đầu tiên là mãng cầu Mễ (bán nhiều tại Mỹ) sau chê phải là mãng cầu Xiêm loại trồng ở Việt Nam.

Hai thứ sau này đang phất cờ tiến mạnh vào niềm tin của bà con ta. Chắc chừng năm sau sập tiệm, tuy nhiên mấy vị nhanh tay chế viên mãng cầu, nước mãng cầu cũng kiếm được mươi triệu đô rồi.

Sau đó là dầu dừa được ca ngợi (do công ty Tây Mỹ bày bán, kiểu bán mỡ rắn thời nẩm), có một vị MTC suýt chết vì dầu dừa hai năm trước, vị này ở Hố Nai chạy xuống Bến Tre mua dầu dừa ép lạnh về uống hai ba tháng đi hết nổi. May mà đọc thấy email MTC lúc đó về dầu dừa mới tỉnh ra mà ngưng uống,  nhưng tức quá gởi email la làng cho hả giận.

Hiện giờ thì trái Sung, cây Bồ Công Anh, trước đó thì Kim Thất Tai (sao hiện giờ ít nghe ai nhắc nói tới, chắc nó âm thầm dẹp tiệm rồi). Hiện giờ cũng còn đang hoành hành sức khỏe bà con ta là Cây Lượt Vàng, trước đây là cây Cần Tây, nay thì Cây Cần Tây cũng lặn mất rồi. Vài năm trước thì là Trà Xanh là thần dược, Trà mọi loại là tiên dược, những vị uống trà ngừa và trị bịnh hiện nằm nhà thương hay ra vào nhà thương (tôi nói ẩu) cũng bộn nên hết hơi sức để vuốt đuôi ca ngợi theo gian thương Trung Cộng. Nay thì được biết người ta hơi né trà rồi, lý do là thuốc trừ sâu (và đủ thứ hương thơm hóa chất vô danh) ướp vào trong đó, kể cả trà ướp xác chết cũng được bán ta cho bà con ghiền thưởng thức (chuyện này nói thật, có thật, không nói ẩu đâu, có “chạy Nhật Trình” mà).

Sau khi chê Trà thì bà con ta sang ca ngợi Cà phê. Hình như trong tâm trí một số phe ta phải có cái gì đó để ca ngợi mới sống được chăng? Hiện trứng gà được một vị tung lên tới mây xanh (kết quả là thống kê vừa công bố những vị nam giới ăn 7 trứng gà hay hơn mỗi tuần thì mau chết hơn những vị không ăn).

Còn gì nữa, cà chua, sả, xoài, trái chuối chín rục đều “trị được ung thư” (chắc mấy tiệm bán chuối chế ra chuyện để tiêu thụ chuối chín thâm đen cho khỏi bỏ thùng rác?). Trước đó một chút và ngay hiện giớ chanh được ca tụng là giết tế bào ung thư 10000 lần mạnh hơn “chimo”. Trước nước chanh trị ung thư thì có Giấm Táo và mật ong. Hiện giờ thì mật ong và Bột Quế, mới đây thì phong trào củ cải trắng chanh và nghệ. 

Nói chung thì: Bất cứ rau trái nào trước mặt các bạn cũng đều được người Việt ca tụng là thần dược trị ung thư hay trị được những thứ bịnh mà Tây Y còn đang vật lộn!

Quên nữa còn gạo đen (dân Gò Công gọi: “gạo nhum”) cũng trị ung thư và nhiều bịnh ngặt, trước đó gạo lức được tâng lên làm thần dược, nay thì gạo lức rang pha nước uống là “thần dược”. Gạo lức được dân BBC gọi là gạo nâu đó nghe bà con. Nói thêm theo thống kê hiện giờ thì gạo lức chứa nhiều kim loại nặng có hại hơn là gạo giả trắng. Hai món sống dai là củ tỏi và gạo lức, không biết có bao nhiều người theo và bao nhiêu người khỏi bịnh. hiện giờ củ tỏi hầu hết 75% là do Trung Cộng  trồng.

Gạo lức bị Mỹ điểm mặt năm trước, năm nay tỏi Trung Cộng cũng bị Mỹ điểm mặt.

Các bạn đọc chán chưa, còn nữa mấy mươi năm nay người ta ca ngợi Đậu Hũ đậu nành trị ung thư, thế mà mấy mươi năm nay cũng chưa thấy ai nhờ nó mà sống thêm. Quên nữa CâySả hiện được bà con ta nói trị ung thư mạnh hơn 10000 lần “chimo” (con số nghe quen quen). Các bạn còn nhớ lá đu đủ một thời là khắc tinh bịnh ung thư, sau đó thấy không hiệu nghiệm bèn bày ra Lá Đu Đủ Đực mới hiệu nghiệm. Nhiều người cũng tốn tiền mua lá đu đủ khô hay viên về uống. Còn hết? Thưa còn thí dụ: “Măng tây ai mà ngờ” (tôi thêm: ai mà ngờ vô dụng). Mới vài tuần nay thì khoai môn Trung Cộng được ba con ta ca ngợi ăn nó không bị ung thư nữa. Nên lưu ý, cái gì mà Trung Cộng sản xuất cũng đều mang mầm bịnh, bà con biết rồi mà.

Còn hết? Thưa còn dài dài, hiện đang bày nhau: xay cam, bôm, cà chua, cabbage, cà rốt, Lô Hội và bỏ thêm 1 muỗng Mật Ong.. hằm bà lằng, uống hàng ngày để ngừa ung thư. Thôi nghe, kể hoài còn hoài.

Thưa quí bạn, những thứ được kể bên trên là tôi chợt nhớ ra, chắc mới liệt kê được chừng phân nửa mà thôi. Hôm nào tôi ghi lại coi tất cả mọi thứ thực phẩm chúng ta ăn coi có món nào KHÔNG phải là thần dược hay không.

***

Một bằng hữu góp ý (nhiều năm trước):

Một đoạn phản hồi cho “những bài thuốc” (trích trong bài viết “Bà Nội Tướng Của Tôi” – Người Phương Nam)

“…Chẳng hạn như tôi nói với nàng là có người mách cho một bài thuốc rất đơn giản, chỉ cần gạo đem rang rồi nấu nước uống hằng ngày như uống trà thì có công hiệu rất tốt cho cơ thể như ngủ ngon, giảm huyết áp, giảm mỡ vv… thì nàng hỏi lại tôi bộ miracle hả? Gạo rang hay không rang cũng là gạo, tại sao nấu  cơm ăn hằng ngày thì chỉ chữa bệnh đói còn đem đi rang, cho qua lửa luyện tội lại trở thành “dược phẩm” là sao, vô lý quá vậy. Ấy vậy mà tôi cũng đòi nàng phải rang gạo nấu nước “thánh” cho tôi hết một thời gian hai ba tháng. Nàng bực mình lắm, tuy chìu ý tôi nhưng trong lòng không phục cho là what a silly vớ vẩn!

Có một thời gian, người ta đua nhau đi kiếm mua rau má đỏ con mắt, nói là rau này chữa được bệnh thấp khớp làm tôi cũng ráng đi tìm cho được (vì là mùa đông nên khó kiếm chớ mùa hè thì loại rau này mọc đầy dãy trong vườn nhổ không kịp) thì nàng bảo rau cỏ nào mà không có dược tính. Theo nàng biết thì rau má có tác dụng giải nhiệt, khi nào nóng trong người  uống vô sẽ hạ hỏa nhưng nếu lạm dụng nó thì sẽ sinh hàn. Mà thấp khớp thì kỵ hàn. Uống riết chắc đi không nổi phải bò luôn.

Rồi còn nhiều phương thuốc khác nữa như Lô hội, trái Nhào, đậu nành,  canh dưỡng sinh gì đó lung tung, thứ nào cũng chữa bá bệnh như là thần dược.

Tôi thì thứ nào cũng muốn thử coi có hiệu nghiệm không chớ nàng thì nhứt định giữ vững lập trường không là không. Nàng nói thời buổi y học tân tiến này, có biết bao là thuốc hay thầy giỏi, bệnh gì thuốc đó, chữa còn không được, ở đó mà nghe người ta bày.

Muốn bào chế một viên thuốc,  người ta phải nghiên cứu dung hòa bao nhiêu chất trong đó chớ đâu phải đơn giản một thứ một mà được. Phàm cái gì cũng vậy, phải có chừng mức, cứ một thứ mà tống vào cho cố xác thì có hại chớ sao. Có thể nó  chữa được bệnh này nhưng lại phản ứng sinh bệnh khác, hễ có hợp thì  có khắc, có lành tính thì cũng có ác tính. Vì vậy  trung dung là thượng sách hơn cả, rủi ai phát giác ra là có hại thế nào đó thì mình cũng không đến đỗi nào, còn trở tay kịp.

Cụ thể như một lọai cải có tên là Phi Long (English spinach) mà tất cả các giống dân âu, á, trung đông gì cũng rất ưa chuộng (nhất là Lebanese, mua một lần cả trolley) vì nó có rất nhiều chất sắt làm tăng cường sinh lực đến đổi có một phim  cartoon muốn khuyến khích trẻ con ăn vegies đã bịa ra  chuyện một nhân vật tên Popye.

Anh Popye này nhờ ăn thật nhiều spinach nên mới có đủ sức mạnh để đấu lại  mấy thằng baddies. Đó là nói về mặt lợi ích của lọai cải này, nhưng đồng thời nó cũng có tác hại gây bệnh gout (thống phong) nếu ăn nhiều (không biết nhiều là bao nhiêu) vì nó cũng chứa hàm lượng uric acid rất cao.

Như vậy thì tốt nhất là đừng nghe ai cả mà hãy nghe chính mình. Mỗi  tuần  nấu canh họặc xào ăn hai ba lần là đủ liều rồi, cứ coi đó là thức ăn thôi, còn muốn làm thuốc thì để cho pharmacist họ làm, đâu có tới phiên mình.

Cũng như rượu, mỗi ngày một ly nhỏ cho máu lưu thông điều hòa thì có ích cho tim mạch nhưng nếu cứ uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn thì sơ gan đứng tim luôn là cái chắc.”

Huỳnh Chiếu  Đẳng

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ÔI “THẦN DƯỢC” MI HẠI TA_Huỳnh Chiếu Đẳng