Tâm Tư Một Người Miền Bắc “9X” về ngày 30 tháng Tư_Trương T Hà

Tâm Tư Một Người Miền Bắc “9X” về ngày 30 tháng Tư

Trương Thị Hà

Mỗi lúc buồn hoặc cần viết bài về những câu chuyện không hay đang xảy ra trên đất nước Việt Nam thân thương, tôi thường lắng nghe bài hát “Việt Nam tôi đâu.” Chỉ có giai điệu của bài hát mới giúp tôi diễn tả hết tâm trạng day dứt, đượm buồn, thất vọng nhưng không bao giờ bỏ cuộc…

Cách đây vài năm, những ai gọi ngày 30/4 là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi chưa tin họ. Những ai gọi ngày 30/4 là ngày quốc tang, quốc hận, tôi cũng chưa tin họ. Tôi không tin ai hoàn toàn khi tôi chưa tự đặt ra các câu hỏi và tự tìm hiểu về ý nghĩa thực sự của ngày 30/4.

Cảm thấy bị lừa dối

Sách giáo khoa lịch sử ư? Tôi chưa bao giờ tin, vì lúc nhỏ, tôi đã có cảm giác những từ “ngụy quân”, “ngụy quyền” là những từ để miệt thị ai đó, chưa biết thực hư thế nào nhưng đó là những từ “không đẹp”. Lớn lên tôi mới biết, sách giáo khoa lịch sử đích thị là một tài liệu nhồi sọ có tính toán và có hệ thống của “bên thắng cuộc” là Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc đó, tôi cảm thấy bị lừa dối và bị tổn thương rất nhiều. Tôi cảm thấy mình thật ngờ nghệch vì mình bị kẻ khác lừa hai mươi mấy năm. Nhưng có lẽ, mức độ bị lừa của tôi đỡ hơn các bạn trẻ miền Bắc khác? Tôi học lịch sử để được điểm cao, chứ tôi chưa bao giờ tin những gì sách lịch sử viết. Trong khi nhiều bạn trẻ hiện nay vẫn tung hô, vỗ ngực về cái ngày mà chính các bạn chẳng biết là ngày gì. Tất cả những gì các bạn biết về ngày 30/04 là “ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” vì đó là những gì các bạn được học trong sách giáo khoa lịch sử.

30/04 – Ngày Quốc Tang

Đối với tôi, ngày 30/4 hôm nay và về sau là ngày đáng thương cho đất nước Việt Nam và toàn thể người dân Việt Nam trước và sau năm 1975. Giải phóng gì mà 444.000 thanh niên miền Bắc và 282.000 thanh niên miền Nam phải bỏ mạng. Giải phóng gì mà 2 triệu người dân Việt Nam vô tội phải chết trong lửa khói. Giải phóng gì mà 1 triệu lính miền Nam phải bỏ tù cải tạo, trong đó có 165.000 lính miền Nam chết trong trại cải tạo. Giải phóng gì mà 1,5 triệu con dân miền Nam phải tha phương nơi đất khách quê người để trốn chế độ cộng sản, trong đó có 300.000 người sẽ mãi mãi không bao giờ nhìn thấy bến bờ tự do. Giải phóng gì khi ngày nay 97 triệu người dân Việt Nam bị tước những quyền cơ bản như quyền biểu tình, quyền lập hội. Thống nhất gì khi lòng dân không yên, vẫn còn phân biệt, đối xử vùng miền giữa thành thị và nông thôn, kẻ có tiền và quan hệ luôn đè đầu, cưỡi cổ kẻ nghèo hèn.

Dù sao cũng không đáng ăn mừng

Dù tôi không biết gì về sự thật ngày 30/04, tôi cũng chẳng thấy vui gì trong cái ngày này khi tôi bị chính quyền tước hộ chiếu, giấy tờ tùy thân, bị phân biệt đối xử trên chính quê hương mình.

Dù tôi không biết gì về sự thật ngày 30/04, tôi cũng chẳng thấy vui gì trong cái ngày này khi thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh vừa bị tuyên y án 11 năm tù và 5 năm quản chế với chứng cứ buộc tội vì thầy dạy bài hát “Trả lại cho dân”.

Dù tôi không biết gì về sự thật ngày 30/04, tôi cũng chẳng thấy vui gì trong cái ngày này khi công an vẫn tùy tiện mời, triệu tập người dân lên làm việc vì những lý do rất viển vông như: “làm việc liên quan đến vấn đề đăng tải, chia sẻ bài viết trên mạng xã hội.”

Dù tôi không biết gì về sự thật ngày 30/04, tôi cũng chẳng thấy vui gì trong cái ngày này khi hàng triệu người dân Việt Nam vẫn phải tha hương cầu thực nơi xứ người.

Đáng buồn hơn, khi những người dân bị tù đày nhiều hơn trên chính đất nước Việt Nam. Họ yêu nước, họ đấu tranh cho công bằng xã hội nhưng lại bị chính quyền bắt bớ vì những tội danh mơ hồ được quy định trong Bộ luật hình sự. Chứng kiến những cảnh này, tôi cứ nghĩ mình đang sống ở đất nước Triều Tiên, Trung Quốc… Tù nhân lương tâm đang sống ở nhà tù nhỏ, còn tôi và người dân Việt Nam đang sống ở nhà tù lớn.

30/04 – Ngày cho kẻ chiến thắng điên cuồng

Vào ngày này, đội ngũ dư luận viên hoạt động tích cực để công kích những người dám nói sự thật về ngày 30/04 và có tiếng nói phản biện mạnh mẽ trước những bất công của xã hội. Thật nực cười, khi chúng chỉ biết chửi đổng như Chí Phèo, đăng đi đăng lại vài hình ảnh về việc lính Mỹ giết trẻ em, hiếp dâm phụ nữ chưa được kiểm chứng.

Tôi cũng bất lực với mấy câu đại loại như: “Chúng ta đã hy sinh xương máu… nên không thể để chính quyền lọt vào tay người khác”. Tôi chẳng biết các ông đang nói đến xương máu của ai? Chính quyền lọt vào tay ai? Các ông phải nhớ, chính quyền là của người dân Việt Nam, chứ không của riêng ai cả!

Trong ngày này, miền Bắc đặc biệt là trung tâm thành phố Hà Nội đang giăng biểu ngữ tung hô Đảng và Nhà nước. Những cô gái trẻ ăn mặc sexy, áo hai dây, quần bò ngắn bó sát người đang trình diễn những tiết mục sôi động trong niềm tự hào viễn vông. Trong ngày này, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh mặc áo cờ đỏ sao vàng, để tay lên ngực và hát vang bài hát “tự hào lắm hai tiếng Việt Nam.”

30/04/1975 – Ngày đen tối cho thế hệ trẻ

Tuổi trẻ bây giờ đọc mấy tin scandal, với mấy video trần truồng thì share với like ầm ầm như vụ nghi lộ clip sex của hot girl này, hot girl nọ. Gần đây còn có một game show cực kỳ vớ vẩn, hình như tên là “game love” gì đó. Đại loại là một bạn nam, một bạn nữ sẽ uống bia để vượt qua các thử thách sờ mó, hôn hít nhau trên ống kính trong đó có cả những bạn trẻ sinh năm 97, 98 tham gia chương trình.

Nhắc đến chính trị thì mặt bạn nào cũng ngáo ngơ. Phỏng vấn hỏi Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội cũng nhe răng ra cười, lắc đầu không biết. Đó là những người lãnh đạo và quyết định đến vận mệnh của đất nước, đó là những người quyết định đến việc các bạn đi học phải đóng bao nhiêu tiền, quyết định giá lít xăng các bạn đổ mỗi ngày, quyết định nợ công của bạn ngày hôm nay và con cái bạn ngày sau. Chính trị là một khái niệm dễ gây dị ứng. Nó được hiểu như là một lĩnh vực khô khan, gây nhức đầu, chóng mặt và bất an. Nhưng các bạn phải quan tâm đến nó. Nếu các bạn cứ để chính quyền độc tài chính trị, các bạn sẽ sớm là nạn nhân của việc thờ ơ với chính trị.

30/04 – Tuổi trẻ, trách nhiệm, danh dự

Các bạn không cần phải có lý tưởng, chẳng cần phải làm điều gì đao to búa lớn, chỉ đơn giản là biết yêu thương, biết quan tâm và biết quan sát một chút. Trước đây, nếu chúng ta sống ở thời chưa có tivi và internet, chẳng ai trách các bạn bị nhồi sọ cả. Nhưng hiện nay, các bạn có tất cả mọi thứ trong tay, internet, smart phone, Facebook… Nếu các bạn còn chưa nhận thức hoặc cố tình không chịu tìm hiểu, tôi xin thẳng thắn nói với các bạn: “Con người khác con vật ở chỗ là biết tư duy độc lập, biết yêu thương và cảm thông cho đồng loại.”

Nếu các bạn chưa tin những gì tôi nói, hãy tự mình kiểm chứng. Tôi có thể gợi ý cho bạn làm một việc đơn giản nhất vào ngày hôm nay. Hãy lên mạng research các cụm từ “Sự thật về ngày 30/04”, “Việt Nam Cộng Hòa”, “Cờ Vàng”.

“Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…”

Thay lời kết

Tôi muốn gửi gắm thế hệ đi trước một sự trách móc vì đã để tuột mất nền tự do của miền Nam Việt Nam nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung.

Tôi cũng gửi gắm lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã cố gắng gầy dựng và gìn giữ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tự do non trẻ.

Đặc biệt, tôi muốn gửi gắm lời cảm ơn chân thành đối với những người còn sống và đã từng phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, những người con và người cháu của họ vẫn đang tiếp tục thắp lên ngọn lửa đi tìm tự do cho đất nước Việt Nam.

Là một người trẻ, sống ở miền Bắc, không được cảm nhận trực tiếp về những nỗi đau và mất mát của người miền Nam Việt Nam. Thay vì cứ tự hào về cái quá khứ mà chúng tôi không hề tham dự, chúng tôi sẽ hành động, suy nghĩ độc lập, dũng cảm, biết đột phá, và cố gắng làm mọi thứ để mang lại tự do thực sự cho người dân Việt Nam.

Tôi luôn vững tin và mong chờ ngày Việt Nam có tự do thực sự. (Nguồn: Trương Thị Hà Facebook)

Image may contain: 1 person, eyeglasses, outdoor and closeup
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Tư Một Người Miền Bắc “9X” về ngày 30 tháng Tư_Trương T Hà

Có hay không có quy định tổng tuyển cử trong Hiệp định Genève ? -Trần Gia Phụng

pic
Trần Gia Phụng (Danlambao) – Vừa qua, cuộc tranh luận trên dài BBC ngày Thứ Tư 6-5-2020 thật hào hứng về nhiều đề tài, trong đó có trở lại một chuyện xưa cũ là hiệp định Genève ngày 20-7-1954.

1. Hiệp định Genève

Danh xưng chính thức đầy đủ của hiệp định Genève về Việt Nam là Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam. Hiệp định nầy được viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Việt, có giá trị như nhau. Hai nhân vật chính ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 là Henri Delteil, thiếu tướng, thay mặt Tổng tư lệnh Quân đội Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Đại diện các nước khác cùng ký vào hiệp định Genève còn có Anh, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), Lào, Cambodia. Hai chính phủ Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp định nầy.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam (gọi tắt là hiệp định Genève) gồm có 6 chương, 47 điều, có tính cách thuần tuý quân sự, và không đưa ra một giải pháp chính trị nào cho tương lai Việt Nam.

Chính phủ Quốc Gia Việt Nam dưới quyền quốc trưởng Bảo Đại và thủ tướng Ngô Đình Diệm lo thi hành hiệp định Genève, tập trung và rút toàn bộ lực lượng của mình về miền Nam vĩ tuyền 17 đúng thời hạn và đúng theo quy định của hiệp định Genève. Điều nầy chẳng những báo chí lúc bấy giờ đã trình bày, mà cho đến nay, không có tài liệu sách vở nào cho thấy là chính phủ Quốc Gia Việt Nam đã vi phạm hiệp định Genève, chỉ trừ lời tố cáo của Bắc Việt Nam là Nam Việt Nam không chịu bàn việc tổng tuyển cử theo quy định của hiệp định Genève để lấy lý do tấn công Nam Việt Nam. Tuy nhiên…

2. Hiệp định Genève không quy định tổng tuyển cử

Đọc thật kỹ văn bản hiệp định Genève bằng hai thứ tiếng chính thức là tiếng Việt và tiếng Pháp, thì hiệp định nầy chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị, không có điều nào, khoản nào quy định việc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước

Trong khi đó, sau khi hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cambodia được ký kết ngày 20-7-1954, các phái đoàn tham dự hội nghị Genève họp tiếp vào ngày 21-7-1954, tức họp ngoài lề hội nghị chính thức, nhằm bàn thảo bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương”. Bản tuyên bố gồm 13 điều; quan trọng nhứt là điều 7, ghi rằng:

“Hội nghị tuyên bố rằng đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, sẽ phải làm cho nhân dân Việt Nam được hưởng những sự tự do căn bản, bảo đảm bởi những tổ chức dân chủ thành lập sau tổng tuyển cử tự do và bỏ phiếu kín. Để cho việc lập lại hòa bình tiến triển đến mức cần thiết cho nhân dân Việt Nam có thể tự do bày tỏ ý nguyện, cuộc Tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956 dưới sự kiểm soát của một Ban Quốc tế gồm đại biểu những nước có chân trong Ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế đã nói trong Hiệp định đình chỉ chiến sự. Kể từ ngày 20-7-1955 những nhà đương cục có thẩm quyền trong hai vùng sẽ có những cuộc gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó.” (Thế Nguyên, Diễm Châu, Đoàn Tường, Đông Dương 1945-1973, Sài Gòn: Trình Bày, 1973, tr. 53. Để xem bản Pháp văn của tuyên ngôn nầy, vào: google.com.fr., chữ khóa: Déclaration finale de la Conférence de Genève en 1954.)

Như vậy, đề nghị chuyện tổng tuyển cử chỉ được đưa ra trong điều 7 của bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954, chứ ko6ng phải trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954.

Chủ tịch phiên họp ngày hôm đó (21-7-1954) là Anthony Eden (ngoại trưởng Anh) hỏi từng phái đoàn, thì bảy phái đoàn là Anh, Pháp, Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lào và Cambodge đều trả lời miệng rằng “đồng ý”. (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận, cuốn 5, Paris: Nxb. Nam Á 2002, tr. 2642.) Tất cả bảy phái đoàn đều trả lời miệng, chứ không có phái đoàn nào ký tên vào bản tuyên bố, nghĩa là bản tuyên bố không có chữ ký. (Tìm đọc bản bản chính thứ hai là bản Pháp văn cũng hoàn toàn không có chữ ký. Xin vào Google sẽ thấy rõ.)

Đây chỉ là lời tuyên bố (déclaration) của những phái đoàn, có tính cách đề nghị hay kêu gọi một cuộc tổng tuyển cử trong tương lai ở Việt Nam, không có chữ ký, thì chỉ có tính cách gợi ý, dự kiến, đề nghị chứ không có tính cách cưỡng hành tức bắt buộc thi hành, đồng ý hay không đồng ý là tùy từng đơn vị.

Một văn kiện hành chánh hay thương mại dân sự bình thường mà không có chữ ký cũng không có giá trị pháp lý để thi hành, huống gì là một văn kiện ngoại giao quốc tế đa quốc gia mà không có chữ ký thì làm sao có thể bắt buộc phải thi hành?

Phái đoàn Quốc Gia Việt Nam và phái đoàn Hoa Kỳ không ký vào hiệp định Genève ngày 20-7-1954 và cũng không ký bản “Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương” ngày 21-7-1954. Hai phái đoàn Quốc Gia Việt Nam và Hoa Kỳ đã đưa ra tuyên bố riêng của mỗi phái đoàn để minh định lập trường của chính phủ mình.

3. Bắc Việt Nam đòi hỏi điều không có

Hiệp định Genève chỉ là một hiệp định đình chiến, thuần túy quân sự và không đưa ra một giải pháp chính trị. Thế mà ngày 19-7-1955, thủ tướng BVN là Phạm Văn Đồng gởi thư cho thủ tướng NVN là Ngô Đình Diệm yêu cầu mở hội nghị hiệp thương bắt đầu từ ngày 20-7-1955, mà phía Bắc Việt Nam cho rằng điều nầy đã quy định trong hiệp định Genève ngày 20-7-1954, để bàn về việc tổng tuyển cử nhằm thống nhất đất nước. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: The Maillard Press, 1989, tr. 17.) Ngày 10-8-1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng, vì cho rằng chính phủ QGVN tức Nam Việt Nam không ký các văn kiện Genève nên không bị ràng buộc phải thi hành.

Sau đó chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thay chính phủ Quốc Gia Biệt Nam từ ngày 26-10-1955, cũng nhiều lần từ chối lời đề nghị của Bác Việt Nam. Phạm Văn Đồng vẫn nhắc lại đề nghị nầy hằng năm vào các ngày 11-5-1956, 18-7-1957, và 7-3-1958, để chứng tỏ rằng Bắc Vệt Nam quan tâm đến chuyện thống nhứt đất nước, và nhằm tuyên truyền với các nước trên thế giới. Lần cuối, Ngô Đình Diệm, lúc đó là tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, bác bỏ đề nghị của Phạm Văn Đồng vào ngày 26-4-1958.

Thế là Bắc Việt Nam tố cáo Nam Việt Nam tức Việt Nam Cộng Hòa vi phạm hiệp định Genève vì không chịu thảo luận chuyện tổng tuyển cử để thống nhất đất nước.

4. Ai vi phạm hiệp định Genève?

Sau năm 1975, tự mãn là “bên thắng cuộc”, ‘tài liệu cộng sản đã tiết lộ hai sự kiện đặc biệt cho thấy nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do cộng sản cầm đầu đã không tuân hành quy định trong hiệp định Genève:

Thứ nhứt, trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954, tại Liễu Châu (Liuzhou) thuộc tỉnh Quảng Tây (Kwangsi), Trung Hoa, diễn ra cuộc họp giữa thủ tướng Trung Cộng là Châu Ân Lai và chủ tịch nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Hồ Chí Minh từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954. Theo lời khuyên của Châu Ân Lai, Hồ Chí Minh đưa ra kế hoạch là sẽ chỉ rút những người làm công tác chính trị bị lộ diện; phần còn lại thì ở lại để chờ đợi thời cơ nổi dậy. Số ở lại có thể đến 10,000 người. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, bản dịch của Dương Danh Dy, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 “Hội nghị Liễu Châu then chốt”. Nguồn: Internet). Nói là 10,000 ở lại, nhưng thực tế đông hơn rất nhiều.

Việc nầy vi phạm điều 5 chương I hiệp định Genève nguyên văn như sau: “Để tránh những sự xung đột có thể gây lại chiến sự, tất cả các lực lượng, vật liệu và dụng cụ quân sự đều phải đưa ra khỏi khu phi quân sự trong thời hạn hai mười lăm (25) ngày kể tử ngày hiệp định nầy bắt đầu có hiệu lực.” [Khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở phía bắc. Quốc Gia Việt Nam ở phía nam.]

Thứ hai, cộng sản chẳng những chôn giấu võ khí, lưu 10,000 cán bộ, đảng viên ở lại Nam Việt Nam, mà còn gài cả những cán bộ lãnh đạo cao cấp ở lại Nam Việt Nam như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-273.) Những nhân vật nầy ở lại để chỉ huy và tổ chức lại Trung ương cục miền Nam trong tình hình mới. Trung ương cục miền Nam được thành lập ngày 20-1-1951, chỉ huy toàn bộ hệ thống cộng sản ở Nam Việt Nam. (Tháng 10-1954, Trung ương cục miền Nam đổi thành Xứ ủy Nam Bộ. Hội nghị ngày 23-1-1961 lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương đảng (khóa III) đảng Lao Động ở Hà Nội, Xứ ủy Nam Bộ trở lại thành Trung ương cục miền Nam.)

Hai tài liệu trên đây do phía CS tiết lộ sau năm 1975, chứ không phải tài liệu tuyên truyền của Nam Việt Nam hay của Tây Phương. Như vậy, rõ ràng trong khi chính phủ Quốc Gia Việt Nam tôn trọng hiệp định Genève, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kế hoạch vi phạm hiệp định, ngay trước khi hiệp định được ký kết.

Kết luận

Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chỉ là hiệp định đình chỉ chiến sự. Chính thể Quốc Gia Việt Nam, rồi Việt Nam Cộng Hòa tức Nam Việt Nam đã thi hành đúng hiệp định Genève, trong khi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức Bắc Việt Nam liên tục vi phạm hiệp định nầy.

Do tham vọng quyền lực, do chủ trương bành trướng chủ nghĩa cộng sản và do làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức Bắc Việt Nam công khai họp đại hội tuyên bố mở cuộc chiến, xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa tức Nam Việt Nam dưới chiêu bài thống nhứt đất nước và chống Mỹ cứu nước, trong khi Lê Duẩn chủ trương: “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô”. (Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng nhà nước cộng sản Việt Nam từ 1991-2000, trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 24-1-2013.) Một nhân vật tầm cỡ ngoại trưởng như ông Nguyễn Mạnh Cầm xác nhận công khai như thế thì không sai vào đâu được.

Cuối cùng, ở đây xin cảm ơn cuộc tranh luận sôi nổi trên đài BBC đã đặt lại vấn đề hiệp định Genève để có cơ hội cùng nhau ôn lại rằng hiệp định Genève hoàn toàn không đưa ra một giải pháp chính trị cho Việt Nam, trái với lời tuyên truyền của cộng sản. Mời các bạn trẻ đọc lại thật kỹ văn bản hiệp định Genève để hiểu rõ sự thật lịch sử đất nước, chứ không phải là thứ lịch sử đã bị cộng sản bóp méo với sự tiếp tay của những kẻ có học xu thời. Lịch sử ngày nay thuộc về sự thật và lẽ phải chứ không thuộc về những kẻ nhất thời thắng trận như thời trung cổ.

Trần Gia Phụng

danlambaovn.blogspot.com

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Có hay không có quy định tổng tuyển cử trong Hiệp định Genève ? -Trần Gia Phụng

Bông Hồng Cài Áo_Duy Khánh (YouTube)

Nhân Ngày Của Mẹ Mother’s Day (10/5), để vinh danh và tri ân những Người Mẹ, xin mời mọi người cùng thưởng thức bài hát Bông Hồng Cài Áo (Thơ: Nhất Hạnh  /Nhạc: Phạm Thế Mỹ / Ca sĩ: Duy Khánh):

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Bông Hồng Cài Áo_Duy Khánh (YouTube)

Má tôi, người đi tìm tự do_Trúc Xanh

Bài dự thi “Từ hình ảnh người mẹ, suy nghĩ về vai trò người phụ nữ ...Má tôi, người đi tìm tự do

Trúc Xanh

 Có nhiều điểm má tôi không giống với những người phụ nữ cùng thế hệ. Đầu tiên và rõ nhất là cái tiếng “má”. Ba má tôi đều là người miền Bắc, lớp người bỏ quê vào Nam di-cư-đi-tìm-tự-do.

Gia đình tôi vẫn nói bằng giọng Bắc đặc sệt, rõ ràng từng chữ một. Nhưng tôi chỉ ý thức được điều đó năm học lớp Tư, khi lên đọc bài cửu chương. Nghe tôi đọc “chín lần một là chín” đám bạn ngồi dưới cứ khúc khích cười hoài. Hồi sau hỏi ra mới biết tại số 9 của tôi nghe không giống số 9 của tụi nó; số 9 của mấy đứa Nam Kỳ có thêm chữ “h” đàng đuôi. Ấy vậy mà anh chị em chúng tôi vẫn gọi cha mẹ là “ba má” thay vì “bố mẹ” hay “cậu mợ” theo lối thông thường của người miền Bắc. Khi tôi hỏi thì má bảo “Tại chữ ‘ba má’ nghe dễ chịu hơn”. Tôi không biết tại sao dễ chịu hơn nhưng không hỏi tiếp nữa vì cũng thích hai chữ “ba má” hơn, nhất là khi tôi dài giọng “má ơi má, con muốn…” Thì chữ má hình như hợp với cái miệng nhõng nhẽo của tôi hơn.

Má rất cưng tôi, có lẽ vì tôi là con gái út. Mà không cưng sao được vì tôi trông mũm mĩm trắng trẻo với cái mặt tròn quay, nhưng cũng còn vì tôi ngoan, nghe lời, chăm học, biết làm việc nhà. Nhà đông con, nhưng không hiểu từ lúc nào sự phân công trong nhà cho mấy đứa con đã trở thành cái lệ. Tôi tuy không phải ẵm em đến trẹo hông (như chị Hai tôi thường than thở) nhưng vẫn phải làm mấy thứ lặt vặt như phơi quần áo, rửa chén buổi trưa, và ủi đồ. Mãi sau này, khi nói chuyện với thằng bạn cũng là con út, mới hiểu người miền Bắc vốn có tính chuyên cần, thường dạy con cái chăm làm việc ngay từ lúc nhỏ. Ngày nhỏ tôi ham chơi lắm, nhìn chồng tô chén lủ khủ trong lòng thiệt ngán thấy mồ, chỉ mong sao mấy chị dễ thương “ra tay tế độ dùm em” nhưng rồi vẫn phải phụng phịu đứng rửa cho hết chồng chén dĩa.

Nhưng những công việc đó không đáng gọi là “công dung ngôn hạnh”. Công dung ngôn hạnh hiểu theo nghĩa con gái phải biết nữ công gia chánh, biết làm bánh làm trái, biết may quần may áo, lại còn biết đi đứng sao cho uyển chuyển, ăn nói sao cho dịu dàng. Nói chung, những thứ các bà mẹ thường chuẩn bị kỹ lưỡng cho con gái trước khi về nhà chồng. Má tôi chẳng bao giờ nói với tôi 3 chữ “về nhà chồng” hay 4 chữ “mai mốt lấy chồng”. Ngược lại, má phán một câu xanh rờn: “Học giỏi, làm ra tiền là xong hết!”

Vào những năm 70, lúc quần áo vẫn còn ra tiệm may hay may lấy ở nhà, ít ai ra chợ mua đồ may sẵn thì câu nói của má tôi đáng là một lời tiên tri vĩ đại, bởi bây giờ dù làm ra tiền tôi cũng vẫn không đủ tiền để vào tiệm may hay không đủ thì giờ để tự may lấy quần áo. Ra tiệm mua đồ là rẻ nhứt. Chắc chắn má tôi không có quả cầu thủy tinh, cũng chẳng phải là chiêm tinh gia Huỳnh Liên để thấy tương lai, má chỉ có ý muốn nói: “Ráng học cho giỏi để có tương lai.” Đời má đã không được học. Dù sinh ra trong một gia đình khá giàu có, ông bà ngoại tôi vẫn cho các con gái lấy chồng sớm thay vì học nhiều. Thương chồng con, má tôi tự học may quần áo, học nấu các món ăn ngon, học buôn bán, nhưng má vẫn không cho đó là những phẩm chất cao quý mà người phụ nữ phải có. Bỗng dưng, tôi là đứa được hưởng lợi nhứt nhờ vào cái “trào lưu tư tưởng” của má.

Rồi tới Tháng Tư năm 75, như bao gia đình khác gia đình tôi mất rất nhiều thứ của những ngày trước. Tôi phải làm việc nhà nhiều hơn. Rồi cũng phải tập nấu ăn, phải tập may quần áo. Chẻ củi, xách nước, chuyện nhỏ! Tôi còn vác cái thang sắt dài ngoằng đi quét mạng nhện khắp nhà thay các anh đã đi xa. Rồi tới ngày gia đình tôi qua Mỹ. Tôi không “học cho giỏi” nữa mà phải lo “làm cho giỏi”, nói theo kiểu người Việt mình là “cày 2, 3 dóp”.

Còn má tôi thì ngày kia được giấy báo được căn phòng chung cư trong một “nhà già”. Má mừng, khăn gói tức tốc lên đường “di cư” lần nữa. Lần này má hoàn toàn “tự do độc lập”. Hết còn nhức đầu vì nghĩ tới món ăn nào cho ngày mai, hết còn lo lắng đứa con nào đi sớm về trễ. Từ nay, má tôi có thể đường hoàng nói rằng mình đã hoàn thành được một nửa câu tục ngữ nước Nam: “Sống mỗi người mỗi nhà”. Sự tự do được má diễn tả thiệt thoải mái, “Tha hồ vào buồng tắm, muốn ngồi bao lâu cũng được, chả phiền ai”. Nghe dễ sợ, nhưng mà đúng!

Tới lúc này tôi mới hiểu, má tôi không hẳn cho rằng hai chữ “ba má” nghe dễ thương hơn “bố mẹ” hay “cậu mợ”, nhưng một cách gián tiếp, má tôi dùng 2 chữ “ba má” như một hành động đoạn tuyệt với cái quá khứ, cái quá khứ của một miền Bắc êm đềm nhưng cũ kỹ, đầy thành kiến, trong đó có một cô bé thông minh nhưng không được gia đình xã hội tạo cho điều kiện mở mặt với đời. Và rồi bây giờ, hành động dứt khoát “ra riêng” của má lại là cách đoạn tuyệt với cái quá khứ của một miền Nam sung túc nhưng lộn xộn, đầy thương đau. Bây giờ má tôi bắt đầu một cuộc đời mới, cuộc đời như một bà Mỹ già, tách biệt với con cái, cô độc nhưng tự do.

Từ đó má thành một “đại sứ lưu động”, một tàu con thoi đi đi lại lại giữa nhà mấy đứa con. Má đáp xe bus đi chợ, đi nhà thờ, đi Hội Người Già rất nghề. Nếu như có ai hỏi đi xe bus vậy có phiền không, má đáp, tỉnh rụi: “Phiền gì mà phiền, xe đưa rước có tài xế Mỹ, còn muốn gì nữa”. Và như những người bà, người mẹ Việt Nam trên đất Mỹ, có lúc má cười khoe rằng “Mình bây giờ giỏi hẳn ra!” vì những món bánh trái khó làm như bánh khúc, bánh dày, những món nem chua, giò chả, ngày xưa ở Sài Gòn má vẫn phải ra chợ mua nay ở nhà tự tay làm lấy mà ăn vẫn thấy ngon ra phết.

Má làm thức ăn rồi tiếp tế cho các con. Chẳng phải để giữ con giữ cháu mà vì đó là cách vận động tay chân. Còn con cái đứa nào muốn đến chơi thì đến, không ai đến thì má đọc báo, coi ti vi. Má thường đến nhà tôi, ở chơi cuối tuần. Một tối điện thoại reng, thì ra bà chị dâu. Má nói chuyện với chị, câu chuyện về đứa con trai lớn của anh chị tôi, từ nhỏ không học tiếng Việt, nhưng bây giờ đi làm, ở Cali, thằng nhỏ bỗng dưng muốn học tiếng Việt. Má tôi lên tiếng “cảnh báo”, giọng sôi nổi hẳn: “Coi chừng đó con ơi, bây giờ nhiều tiếng của Việt Cộng lắm, học lầm thì nguy lắm. Như là cái chữ “bức xúc” đó. Bức xúc là cái gì? Tại sao không nói là “khó chịu lắm” hoặc “rất bực mình”. Rồi còn cái gì mà “nợ trần”? Tại sao không nói là “giới hạn mức nợ lên”? Rõ là vô duyên”.

Tôi nằm buồng bên, hình hịch cười. Nhớ lời của một người bạn làm báo, anh ta bảo nếu có lấy bài viết từ các báo trong nước đều phải đọc và sửa cẩn thận, đừng tưởng bạn đọc không để ý mà lầm to, có nhiều người đọc không chịu được mấy chữ mới của việt cộng thì sẽ không thèm mua báo luôn. Đó, “bạn đọc khó tánh” đó đang ở ngay trong nhà tôi đây nè. Nhưng nói cho ngay, chính tôi cũng rất “bức xúc” vì cái chữ “bức xúc”, nghe kỳ kỳ thế nào, nó làm tôi nghĩ tới một cảnh quái quái, cứ như là vì trong người khó chịu bực tức quá mà phải bứt cả nút, xút cả áo ra. Tôi dù khó chịu bực mình cách mấy cũng nhất định không “bức xúc”.

Rồi tôi nghe má nói tới chuyện mê-đi-keo. À ra cái vụ đám lừa đảo ở Cali bị túm. Má đọc báo hàng tuần nên theo sát tin tức thời sự lắm. Má kể cho chị dâu nghe, giọng hào hứng thấy rõ:

“Trời ơi, cái tụi đó làm trắng trợn lắm. Như năm ngoái năm kia kìa, có mấy tay tự xưng là nhóm y tế này nọ, đến hội người già của má. Họ bảo sẽ xin cho, người thì cái thắt lưng, người thì đôi giày, người thì cái gậy,… Sau đó gởi biu tính tiền Medicare. Mà đâu có ít, tính gì mà ra tới cả ngàn bạc. Vậy mà chả thấy cái giầy, cái dép nào hết. Thế là má bảo con Trúc gọi phone cho văn phòng Medicare báo cho họ biết. Con còn nhớ ông Th. không? Ông đó cũng gọi cho Medicare nữa. Mấy cái tụi lừa đảo đó cứ tưởng bở, ai ngờ đụng phải mấy ông bà khó nhai rồi … hì hì”

Hèn chi có câu “kẻ cắp gặp bà già”, đụng tới má tôi là xong game! Gần một tiếng đồng hồ, má tôi khi im lặng nghe, khi đáp trả lời, khi kể lể, có khi còn cười to “há há há”. Dù đã hơn 80, giọng nói má vẫn không suy giảm “cường lực”, vẫn sang sảng như tự thuở nào. Tôi bỗng giựt mình nhận ra hình như tôi được thừa hưởng cái cười của má. Không những vậy, còn phát triển nó thêm lên mấy bực, nên khi nào tôi khoái chí cười ha hả mấy đứa bạn thường trợn mắt, cười gì mà cứ như xé quần xé áo người ta.

Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ thừa hưởng được tài nấu bếp hay tài may quần áo của má như các chị tôi. Nhưng các chị cũng vì thích nấu ăn, may đồ nên mới học mấy thứ nữ công gia chánh đó chứ họ vẫn được học chụp hình, học vẽ, học thể dục thẩm mỹ cơ mà. Những đứa con gái của má được học những thứ mà nó thích chứ không phải những thứ để làm vừa lòng người khác. Nhìn ở góc độ nào đó, các chị và tôi đã được má cho nếm mùi vị của Tự Do ngay trong lòng một xã hội còn rất nhiều gò bó.

Ở góc độ nào đó, má tôi, cũng giống như người mẹ da đen trong bài thơ “The Negro Mother” của Langston Hughes, hy vọng những đứa con rồi sẽ vươn lên từ kinh nghiệm đau thương của cha mẹ.
Remember my sweat, my pain, my despair.
Remember my years, heavy with sorrow,
And make of those years a torch for tomorrow.
Make of my past a road to the light,
Out of the darkness, the ignorance, the night.

Và câu nói “Học giỏi – Kiếm nhiều tiền” của má tôi nên được hiểu là “Nhỏ lo học, lớn lo làm, tự mình làm chủ đời mình”. Đó là quan niệm về tự do – giản dị, thực tiễn như chính cuộc đời của má tôi.

(Trúc Xanh/DCVonline.net)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Má tôi, người đi tìm tự do_Trúc Xanh

HAPPY MOTHER’S DAY

NHÂN DỊP KỶ NIỆM NGÀY TỪ MẪU (10/5/2020) CNN KÍNH CHÚC QUÝ BÀ MẸ TRONG ĐẠI GIA ĐÌNH K1 NHIỀU SỨC KHỎE VÀ AN BÌNH VƯỢT QUA ĐẠI NẠN DỊCH VIRUS VŨ HÁN.

happy-mothers-day-ftr

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở HAPPY MOTHER’S DAY

Về cuộc phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã của VOA_NLGO

NHÂN CUỘC PHỎNG VẤN CỦA ÔNG HOÀNG ĐỨC NHÃ, CỰU TỔNG TRƯỞNG DÂN VẬN-CHIÊU HỒI VNCH,

(ĐÀI VOA NGÀY 30/4/2020)

người lính già oregon

HDN1. Ngày 30/4/2020 vừa qua, đài VOA (Việt Ngữ) đã phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã, cựu Tổng trưởng Dân Vận – Chiêu Hồi VNCH. Nội dung gồm hai phần, mỗi phần (phần #1: Mình là ván cờ họ thí để đi ván cờ khác Hoàng Đức Nhã nhìn lại biến cố 30/4”, phần #2: “30/4 trong mắt ông Hoàng Đức Nhã”) có kèm theo âm thanh, hình ảnh, và bài viết (transcript) tường thuật, dù không trung thực, xoay quanh mưu toan của Mỹ, cụ thể là Tổng thống Nixon, Cố vấn an ninh Kissinger, và Lưỡng đảng Quốc Hội, lúc ấy Khối đa số (majority) thuộc đảng Dân Chủ, trong đó có lão Sleepy Joe Bi-Đen, muốn chấm dứt chiến tranh, rút quân Mỹ khỏi Miền Nam, qua đạo luật cúp hoàn toàn viện trợ quân sự, dù là một viên đạn, cho Sài Gòn, và cái gọi là Hiệp Định Paris ‒được ký vào ngày 1/1/1973, giữa bốn bên: Mỹ, Bắc Việt, VNCH và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Người đại diện VOA, phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã, là cô hay bà Hoài Hương, mà không ai được thấy mặt. Cũng hơi lạ!

       Vì hai cái link trên được chính ông Hoàng Đức Nhã gửi riêng cho tôi trong tư cách là bạn đồng hương Nha Trang, và vì tôi biết rằng đài VOA (Việt Ngữ) nổi tiếng thiên Cộng, từ đầu tháng 4 năm 1975 cho đến hôm nay, đã cùng với đài BBC (cũng Việt Ngữ),  loan tin thất thiệt và bất lợi đối với VNCH, gây hoang mang cho dân và quân (ví dụ, về việc triệt thoái từ Miền Trung và Cao Nguyên), tôi đã mở xem ngay. Và giật mình thấy tựa đề của bài phỏng vấn #1:

     “Mình là ván cờ họ thí để đi ván cờ khác” – Hoàng Đức Nhã nhìn lại biến cố 30/4,

và một đoạn trong bài ấy, được đóng khung và in chữ đậm, cốt gợi sự chú ý của bá tánh:

     “…sau khi ông Kissinger đi Bắc Kinh, rồi Tổng thống Nixon đi Bắc Kinh, dàn xếp với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông… Mình là một ván cờ họ thí để họ đi một ván cờ khác.”  

        2. Những câu nói lấp lửng, mơ hồ, bị gán oan cho ông Nhã! Lòng đầy ngờ vực, tôi liền đi tìm sự thật qua video và youtube, nhưng không có. Chỉ có thể bấm vào nút “VOA express”, để nghe chính xác, và nghe nhiều lần, câu nói trên ‒do từ chính miệng ông Nhã phát ra, mới biết thực hư như thế nào. Khác với cuộc phỏng vấn #2, trong lần phỏng vấn #1 này, tôi không nghe được tiếng, nói chi thấy hình, người đại diện của VOA, tức phỏng vấn viên Hoài Hương, mà chỉ đọc những câu hỏi viết sẵn, in màu xanh trên màn ảnh. Và ông Nhã đã nói, nguyên văn, như sau:

        “Sau khi tin tức Kissinger và sau khi TT Nixon đi Bắc Kinh dàn xếp với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông như thế nào, qua báo chí người Mỹ, mỗi lần họ về họ có cái tật là khoe khoang với báo chí, thì tôi nghi rồi, mình là một ván cờ họ thí để họ đi một ván cờ khác.”

        Như vậy, rõ ràng VOA cắt xén câu nói của ông Nhã, trong đó ông đã công khai kết án Nixon và Kissinger về tội phản bội Miền Nam, cũng như qua suốt buổi phỏng vấn. VOA làm thế, tức cắt xén câu nói, với mục đích gì nếu không là (a) gỡ tội cho hai ông Mỹ này, đồng thời kín đáo vinh danh, và biện hộ cho, bọn giặc Bắc Cộng đã có đủ sức mạnh chiến thắng mà không cần nhờ bàn tay người Mỹ mở toang cánh cửa Miền Nam cho chúng vào ăn cướp, qua Hiệp định Paris 1973 khốn nạn, (b) cố ý gài độ, một cách ác độc, ông cựu Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã, một trong những viên chức cao cấp và uy quyền nhất của VNCH, chỉ sau Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, vào cái thế “bị kẹt” đối với quân dân Miền Nam trước đó và bây giờ, trong và ngoài nước, nghĩa là VOA cố tình tạo cớ cho họ chỉ trích ông, nếu thực sự ông đã nói câu đó.

        Quả vậy, câu mình là một ván cờ họ thí để họ đi một ván cờ khác mà VOA đã sửa đổi từ một câu nói dài, mạch lạc, có tình có lý của ông Nhã, để ngang xương gán ghép cho ông–  phải được đặt lại trong context (nội dung, bối cảnh?) đúng của nói: Khi thấy Nixon và Kissinger, sau những lần dàn xếp với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông, từ Bắc Kinh trở về Mỹ, và khoe khoang với báo chí, thì qua thái độ hí hửng, hả hê của hai ông này, ông Nhã mới “sinh nghi”, và nghĩ rằng mình [tức Miền Nam] là ván cờ mà họ sẽ thí cho một ván cờ khác. Chỉ có thế thôi!

        Nghe lại ông Nhã trên “VOA express” thì không ai có thể cho đó là câu khẳng định của ông, dù ghét ông cách mấy, dù tối dạ cách mấy, dù ông sơ xuất cách mấy. Trong bản viết, VOA không dám trích toàn bộ và nguyên văn câu nói của ông Nhã ra trang giấy, mà tự ý thay đổi, hủy bỏ gần hết, biến vài câu còn lại thành những mệnh đề độc lập (independent clause) với những chủ từ khác, chả dính líu gì với nhau, trong khi câu về “ván cờ thí” thì bị cắt quãng, trước và sau, bởi những dấu ba chấm (…), và do đó trở thành hoàn toàn riêng lẻ. đơn độc, không liên quan đến, hay phụ thuộc vào, những mệnh đề khác.

        3. Điều này cũng đã được ông Trần Nhật Phong, bình luận gia, và talk show host, trên TNP Channel, ngày 1/5/2020, dành nguyên một clip đặc biệt, trong đó ông đã lên án VOA kịch liệt, bằng những lời lẽ nặng nề nhất, nào là“vô lương tâm”, “vô giáo dục”, nào là “VOA và băng đảng khốn nạn, mất dạy” v.v… Cùng lúc, ông ca tụng sự điềm tĩnh của ông cựu Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã đã từ tốn và khôn khéo trả lời những câu hỏi  “gài độ”, xách mé của VOA với âm mưu đen tối, do đó suốt buổi phỏng vấn chúng không cách nào moi được điều gì có lợi cho chúng và Việt Cộng, để rồi cuối cùng chúng phải chơi đòn bẩn là sửa nội dung câu nói về “ván cờ thí” và gán vào miệng ông Nhã (cf. clip của Trần Nhật Phong đính kèm).

       Riêng cá nhân tôi, NLGO, từ trước đến nay, không bao giờ nghe thấy ông cựu Tổng trưởng Dân Vận – Chiêu Hồi Hoàng Đức Nhã tuyên bố, công khai hay giữa bạn bè với nhau, một câu nào sai lạc và tiêu cực tương tự về cuộc chiến đấu anh dũng và sự hy sinh cao cả của quân dân Miền Nam ta trước kẻ thù xâm lăng VC. Kể cả trong các buổi hội thảo về chiến tranh VN, mà ông là một trong những diễn giả Việt-Mỹ được mời, như tại Texas Tech University, Lubbock, TX, ngày 25-26/4/2019, và University of Oregon, Eugene, OR, ngày 14-16/10/2019. Kể cả tại nhà tôi, hai hôm trước đó, 12/10, trong bữa ăn tối cùng với bạn bè Portland. Bất cứ nơi nào, và bất cứ lúc nào, ông Nhã cũng chứng tỏ một tư cách xứng đáng, thận trọng, và khôn ngoan của một cựu tổng trưởng đầy quyền lực thời đệ nhị Cộng Hòa, đồng thời là một cá nhân, đúng hơn, một người bạn, thân tình, hòa nhã, vui tính, có óc hài hước (sense of  humor) cao độ, và tinh thần chống Cộng kiên cường, mãnh liệt.

        Ngoài ra, nếu “VOA và băng đảng” đặt câu nói sai lạc ấy vào miệng ông Nhã, thì họ có chủ ý, tức “ý đồ”, nham hiểm rõ rệt, khó chối cãi: họ  muốn khán thính giả thấy, qua câu nói của ông cựu tổng trưởng bị trích dẫn một cách hàm hồ, sai trái, ra ngoài context, rằng ông đã xúc phạm danh dự của quân dân Miền Nam: tất cả chỉ là công cụ của, và là lính đánh thuê cho, đế quốc Mỹ, và sự hy sinh vĩ đại của toàn quân toàn dân Miền Nam trở thành vô nghĩa, vô ích. Và như thế, ngược lại, bọn VC, cũng theo cách diễn ý của VOA, không phải là quân xâm lược, mà là kẻ yêu nước, có chính nghĩa, trái với lời tuyên truyền của Mỹ Ngụy, và nhất là, tai hại hơn cho ông Nhã, của các cán bộ Dân Vận – Chiêu Hồi.

        Tuy nhiên, suy diễn là một chuyện, tin hay không, là một chuyện khác. Vì ai cũng biết rõ cái bản mặt và bản chất của VOA và những tên cộng sự với nó, mà theo ông Trần Nhật Phong, được VOA tuyển chọn theo kiểu “băng đảng”, nghĩa là một đám người có cùng một chủ trương, đường lối. Thêm nữa, VOA chuyên cóp nhặt và dịch những bài báo và tin tức từ Fake News, như CNN, The New York Times, Washington Post v.v... và hùa theo đám truyền thông có-toan-tính-xấu (agenda-driven media), và bọn DemoK-Rats vô liêm sỉ, để xuyên tạc, sủa cắn càn Tổng thống Trump, trong khi vẫn ngửa tay nhận từng đồng lương của chính phủ Mỹ phát cho. Cũng theo ông Phong, đối với đồng hương hải ngoại, thì VOA lấy bài trong nước, xào nấu lại, kêu gọi hòa hợp hòa giải với VC, kể cả cách dùng chữ nguyên con của VC (như “Nhà Trắng”, “Lầu Năm Góc”…).

        Đài VOA hiện đóng đô ở Virginia  ‒hang ổ của ả dân biểu An Nam Mít Kathy Trần,   rất man rợ, đã ra dự luật cho phép phá thai kề cả lúc thai nhi sắp sửa chào đời. Đài VOA Việt ngữ không bị kiểm soát bởi VOA tiếng Anh. Người phụ trách chương trình Việt ngữ là Phạm Phú Thiện Giao, cháu ruột của Phạm Phú Minh, được ông này huấn luyện và cho làm thành viên trong Hội đồng Quản trị kiêm chủ bút báo Người Việt, để từ đó mới có thể ngoi lên làm Trưởng ban Việt ngữ của VOA.

        Và nói tới tờ báo Người Việt này, thì người tỵ nạn VC chân chính nào cũng quá biết về lập trường thiên Cộng và chủ trương hòa hợp hòa giải của nó ‒điều mà tôi đã, lâu rồi, có lần phân tích, khi thấy vài người bạn của tôi đã muốn làm anh hùng rơm, ra sức bênh đỡ nó, hoặc cứ tưởng bở, cộng tác làm việc đắc lực cho nó, để rồi anh nào cũng thân bại danh liệt, phải bỏ của chạy lấy người.

Portland, 5/6/2020

NLGO

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về cuộc phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã của VOA_NLGO

7 cách giúp cải thiện trí nhớ (St)

Trí nhớ ngày càng kém cũng đừng lo lắng!

7 mẹo dưới đây sẽ giúp bạn cải thiện trí nhớ, minh mẫn như xưa!

 Rất nhiều người đã trải qua việc như thế này: Có chuyện muốn nói, nhưng khi mở miệng ra thì không biết nói gì; Đi được nửa đường, nhưng lại không nghĩ ra là đi làm gì; Vừa đặt đồ xuống liền quên mất là để ở đâu rồi…

H1Suy giảm trí nhớ bắt nguồn từ nhiều phương diện. Một trong số các nguyên nhân đó là không khí trong phòng thiếu oxy, máu lưu thông không tốt, dẫn đến não bộ không được cung cấp đủ máu khiến xuất hiện các cảm giác đau đầu chóng mặt, suy giảm trí nhớ.Thực ra chỉ cần một số động tác nhỏ trong cuộc sống – nếu bạn thường xuyên tập luyện sẽ rất có ích cho việc cải thiện trí nhớ.

Mẹo 1: Nâng cao chân          

H2 Khi phần cẳng chân được nhấc lên, cao hơn vị trí của tim một chút thì máu ở phần cẳng chân và đùi sẽ chảy về phổi và tim, không những có thể giảm áp lực cho tĩnh mạch ở cẳng chân và đùi mà còn khiến cho lượng máu cung cấp cho phần đầu tăng lên, khiến tinh thần của bạn trở nên sảng khoái.

Mẹo 2: Lắc đầu qua lạiH4

 Các động mạch ở cổ là đường ống để cung cấp máu cho não. Lắc đầu khiến cho những bộ phận này vận động, không những có thể tăng lượng máu cung cấp cho não mà còn có thể giảm khả năng chất béo ứ đọng lại trong động mạch cổ. Đồng thời nó cũng có tác dụng phòng ngừa bệnh cao huyết áp và thoái hóa đốt sống cổ.

Mẹo 3: Vươn vai

H5Cơ thể nếu ở trong một tư thế quá lâu, phần điểm cuối của mạch máu ở tay sẽ bị tích tụ rất nhiều máu. Động tác vươn vai là quá trình cơ bắp được thắt chặt và thả lỏng, lượng máu tích tụ cũng được đưa về tim. Tim sẽ nhận được nhiều máu để đưa đến các cơ quan trong cơ thể, trong đó đại não cũng được chia cho một phần.

Mẹo 4: Chải tóc

H6

Mang theo bên mình một cây lược hoặc là lấy tay để chải tóc có thể cải thiện sự chuyển động của máu ở phần da đầu.Cách làm cụ thể: Mở nhẹ mười ngón tay, chải tóc từ trước ra sau từ trên xuống dưới, một ngày làm 3-4 lần, mỗi lần từ 3-5 phút có thể tác dụng nâng cao trí lực, tinh thần được thả lỏng và chăm sóc sức khỏe não, nó đặc biệt có ích cho những người mắc bệnh suy nhược thần kinh.

Mẹo 5: Cắn chặt răng

H7Khi cắn chặt răng, lượng nước bọt bài tiết ra sẽ tăng lên, trong nước bọt có chứa Parotin có tác dụng trì hoãn sự già yếu. Mấy năm gần đây có nghiên cứu phát hiện ra rằng, trong nước bọt có chứa thành phần ức chế ung thư, có tác dụng phòng ngừa các u ác tính ở đường tiêu hóa.

Mẹo 6: Vận động ngón tay 

     H8Ngón tay là đại não thứ hai của con người, thông qua việc vận động ngón tay có thể kích thích đại não, làm trì hoãn sự chết đi của các tế bào não. Duỗi các ngón tay ra, cuộn tròn chúng lại, hai động tác thực hiện xen kẽ nhau, hoặc là hai tay thay phiên nhau mát xa các đầu ngón tay. Bạn cũng có thể thường xuyên dùng tay để nắm các quả bóng tập gym, để hai quả bóng gym chuyển động trong tay. Hoặc là bạn có thể trộn gạo và đỗ đen lại với nhau sau đó lại nhặt tách chúng ra. Dùng những động tác này để vận động hai tay sẽ đạt được mục đích là tăng cường và duy trì trí nhớ của đại não.

Mẹo 7: Vận động kích thích 

Vận động có thể kích thích sự hoạt động của lớp vỏ đại não khiến não khỏe hơn. Một tuần chạy bộ, đi nhanh 5 lần, mỗi lần tập trong nửa tiếng, tuy đơn giản nhưng lại giúp tăng cường trí nhớ.

Nước chiếm 50% thể tích đại não, chăm chỉ uống nước không những có thể trì hoãn sự già hóa mà còn có ích cho đại não. Khi uống nước nên nắm vững nguyên tắc chia làm nhiều lần uống, mỗi lần uống một lượng nhỏ, đợi khi khát mới uống thì có nghĩa là cơ thể bạn khá thiếu nước rồi.

7 mẹo trên trong cuộc sống bạn có thể áp dụng chúng mọi lúc mọi nơi, bạn đã ghi nhớ rồi chứ? Nếu quanh bạn có những người thường hay quên thì hãy mau chia sẻ 7 mẹo này cho họ nhé!

Nhóm Hoa Sen

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 7 cách giúp cải thiện trí nhớ (St)

Quyết định lớn trong đời Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy_Nguoi-Viet Online

Quyết định lớn trong đời Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy

Văn Lan/Người Việt

ANAHEIM, California (NV) – Trước ngày 30 Tháng Tư, nữ biệt đội trưởng Biệt Đội Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy trăn trở không ngủ được, lúc nào cũng suy nghĩ phải giải quyết như thế nào về nhân viên, hồ sơ, và gia đình, mặc dù gia đình bà được đi trong một chuyến tàu sang Mỹ lúc ấy.

Biệt Đội Thiên Nga gồm khoảng 30 người người thuộc “phái yếu” rất trẻ đẹp, ai cũng học giỏi và thông minh, tất cả mọi người đều có một tên chung là Thiên Nga, với công tác đặc biệt là bí mật xâm nhập vào hàng ngũ hạ tầng cơ sở Cộng Sản để thu thập tin tức.

Vào những ngày cuối cuộc chiến, vì còn kẹt một số hồ sơ mật, bà Thủy phải chờ lệnh trên thì mới tiêu hủy được. Chiều 28 Tháng Tư, 1975, có người tài xế của một ông trưởng đoàn đặc nhiệm tới nhà, cho biết sẽ đem xe tới đón cả gia đình bà đi Mỹ.

Bà Thủy kể, khi nhìn thấy cái thẻ của ông trưởng gởi người tài xế mang tới, bà biết ngay là đã tới tình trạng khẩn cấp rồi. Người nào nhận được thẻ này là biết ám lệnh đã tới giờ cuối cùng nhưng bà quyết định không đi, để trở vô Khối Đặc Biệt đốt hết tất cả hồ sơ. Nhờ vậy tất cả hồ sơ nhỏ lớn gì cũng mất sạch, không còn gì. Nhưng bà thì không vượt thoát được.

“Bọn Việt Cộng vào tới nơi tìm mãi cũng không thấy hồ sơ ở đâu, về sau này khi bị biệt giam, tôi mới biết bọn chúng đã để ý từ lâu. Với nhận xét người chỉ huy Biệt Đội Thiên Nga là một người phụ nữ trẻ đẹp, thông minh và học giỏi, chính tôi đã ở trong mục tiêu của kế hoạch ám sát khi tôi còn làm việc trước 1975,” bà Thủy kể.

Một Thiên Nga thứ hai hoạt động sau 1975: Phải chiến thắng kẻ thù

Ngay sau ngày 30 Tháng Tư, bà Thủy được lệnh tới Ủy Ban Quân Quản (văn phòng của Khối Đặc Biệt Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Việt Nam Cộng Hòa) hằng ngày. Sau đó có giấy kêu bà đến trình diện tại trại Trương Quốc Dung (Tân Định, Sài Gòn), sau thời gian ở đó, họ chuyển bà sang trại Long Thành, rồi qua trại Thủ Đức.

Đến 1978, họ chuyển bà qua trại Z 30D, căn cứ 5 Rừng Lá, thuộc huyện Hàm Tân, Phan Thiết, tiếng lóng dân tù gọi là trại “Án Sầm,” do cán bộ cấp trung ương về điều tra, khai thác. Trong trại cũng có những thành phần “phản động” nhốt chung. Chủ đích những câu hỏi lúc đó là hỏi về hồ sơ của bà, gồm những công tác gì, tình báo viên trong mạng lưới của bà gồm những ai, hoạt động ra sao.

“Họ hỏi tôi về địa chỉ các nhân viên cộng tác, và luôn nhận được câu trả lời vì đường Sài Gòn quá nhiều ngõ hẻm, mỗi lần đi hoặc đến đều có người chở nên tôi không biết, hoặc số nhà tôi cho toàn số giả không có thật, hoặc bọn chúng chận đầu khi nói là tôi là người học trường Luật Sài Gòn chuyên đi vào cổng chính và ra bằng cổng sau,” bà Thủy nhớ lại.

Vì hồ sơ đã bị thiêu hủy hết, nên bà phải hóa thân ra một Thiên Nga khác, nhập vai vào một Thiên Nga mới để đối phó, dựa vào đó làm mục tiêu để trả lời những câu hỏi lúc bị biệt giam. Như vậy bà tuyệt đối phải nhớ những gì đã khai và nhất là không được quên những gì đã khai trước đó.

“Và cứ như thế, những câu trả lời của tôi trong những cuộc điều tra tại trại biệt giam theo đó mà biến ảo đến nỗi sau khi bị đưa về trung ương do Đại Tá Liễn (có lẽ là tên giả, người ngoài Bắc vô) điều tra, ông ta chìa ra một xấp những hồ sơ, tài liệu do tôi trả lời, và nói rằng những câu trả lời của tôi đều ‘lửng lơ con cá vàng,’ nghĩa là chẳng đi tới đâu, đọc mà không khai thác được gì,” bà Thủy cho biết.

Quán cà phê lề đường năm 1991, nơi ủng hộ của các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, sau khi bà Nguyễn Thanh Thủy ra tù. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

Có lần Việt Cộng nghi ngờ lục lọi xét phòng, giũ hết quần áo chăn mền của bà để tìm tìm tài liệu cất giấu, nhưng “Hôm đó tôi có nhét tờ giấy nhỏ ghi chú vài điều vào trong gối và ngồi lên đó nên bọn chúng không tìm được gì. Nếu chúng cứ xét như vậy, thế nào cũng có ngày bị lộ nên tôi không ghi vô giấy nữa mà học thuộc lòng, làm sao thiếu hơn là dư, thiếu còn khai thêm được nhưng dư rất nguy hiểm, thế là kịch bản được học thuộc lòng và trả bài được kéo dài trong suốt 10 năm ở trại Z30D, sao cho khớp với tinh thần của một Thiên Nga mới,” bà Thủy kể.

“Trong những lần hỏi cung, bọn chúng thường giáo đầu bằng câu ‘với chính sách khoan hồng của nhà nước, nên thành khẩn khai báo, cách mạng sẽ khoan hồng’ nhưng trong những lần đó, tôi không cần biết người hỏi cung mình là ai, cấp bậc gì, chỉ biết đó là kẻ thù, và mình phải chiến thắng kẻ thù. Nhất là tránh việc bọn chúng dùng tình cảm để khai thác mình, nếu yếu lòng sẽ bị lộ. Cấp như chúng tôi, bọn nó không đánh đập, thường để cho nói cái gì cũng được, cấm nói đến Tết Mậu Thân vì chúng bị thua cay trong trận ấy khi nắm chắc phần thắng, để tấn công bất ngờ vào miền Nam,” bà Thủy nói.

Tuy hồ sơ tại Khối Đặc Biệt đã bị bà thiêu hủy hết sạch, nhưng có vài hồ sơ ở các nơi khác chưa kịp tiêu hủy nên bị lọt ra ngoài. Trong một lần hỏi cung ngay tại phòng của ông trưởng khối đặc biệt cũ tại Tổng Nha Cảnh Sát, gồm năm người phụ trách, Việt Cộng đưa những lời khai của bà, dụ dỗ bà nếu chịu hợp tác khai hết về Thiên Nga sẽ được thả về lo cho con.

“Đằng đẵng 10 năm ở tù, cho ra rồi bị đưa trở lại mấy lần ở trại Z30D, đây là lần đầu tiên nghe nhắc đến con, cổ họng tôi nghẹn đắng. Lúc đó tình mẹ trỗi dậy mãnh liệt trong lòng bởi khi tôi vô tù thì ba đứa con còn nhỏ, một đứa 4 tuổi, đứa 5 và đứa lớn 7 tuổi, phải đưa về Mỹ Tho gởi bà ngoại nuôi. Nỗi nhớ con mãnh liệt dâng tràn khiến cổ họng nghẹn cứng, tôi phải giả vờ suy nghĩ hồi lâu để bình tĩnh, bèn hỏi lại muốn tôi hợp tác bằng cách nào cứ nói thẳng ra, đừng đem con tôi ra rào đón nữa,” bà Thủy kể tiếp.

Chuyển trại tù liên tục

Bà kể, ở trại Z30D, bà mắc bệnh kinh hoàng là sốt rét rừng, tưởng phải bỏ mạng. Có lần vào dịp Tết tù nổi dậy chống đối, sau đó bị phân tán ra nhiều nhóm đổi về Chí Hòa, nhóm ra miền Trung. “Còn ở trại Long Thành lúc mới vô trại, vấn đề vệ sinh thật là rắc rối và kinh khủng cho phái nữ vào những tháng mùa mưa dầm, khi con dòi (tù gọi là ‘thằng mập’) bò lổn nhổn khắp nơi, ai cũng mắc bệnh tiêu chảy liên miên,” bà nhớ lại.

“Lúc đó tôi còn ở chung với tù hình sự, nước là vấn đề cần thiết nhất, mỗi người một ngày chỉ được một lon gô nước, ăn uống sinh hoạt tắm rửa tùy thích! Trồng rau phải tưới bằng nước tiểu và phân người, thời gian đó tất cả người tù đều mắc bệnh sán lãi, ai cũng xanh mét. Người tù bị mắc bệnh sốt rét, lao phổi, dịch tả, riêng tôi bị sốt rét rừng trầm trọng, lại thêm đau bao tử tưởng đâu bỏ mạng trong tù rồi!” bà kể tiếp.

“Thời điểm đó người dân cả nước đều ăn bo bo thì người tù làm gì có cái ăn, chỉ có khoai mì mốc xanh, phải ráng nuốt để sống. Hoặc mì sợi luộc lên, tôi nhận phần chia thức ăn cho tù, có ngày phải vớt ra một con chuột cống bỏ thùng rác không nói gì, cả đội đều ăn hết không ai biết,” bà Thủy nhớ lại.

Từ trái, bà Nguyễn Thanh Thủy, bà Khúc Minh Thơ, bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, bộ ba trong công tác cứu trợ thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, trong dịp bà Khúc Minh Thơ đến California. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Năm 1980, có lần bà Thủy bị đưa về trại của Bộ Công An (Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia trước đây) đề điều tra trong bốn tháng sau khi có thêm hồ sơ về bà. Bà bị nhốt vô đó riêng biệt mỗi người một phòng, bịt kín không có máy hút nhiệt và người tù đi phát thức ăn không được mặc áo chỉ mặc quần đùi, bị cấm nói chuyện với bất cứ ai, chỉ có cán bộ mới được nói chuyện. Thức ăn để bên ngoài và người tù phải thò tay ra khỏi song sắt để lấy, phải ăn bốc bằng tay.

“Chỉ có tôi là bị điều tra nhiều nhất, ngoài ra những người khác được yên thân. Những người tù ‘phản động’ bị tra tấn ở đâu đó, khi đưa về có người bị dập nát ngón chân, hoặc có một chị bị đánh gãy cổ, vì chị ấy bị thêm tội ‘phục quốc,’ nhưng lúc đó Việt Cộng không biết chị ấy là Thiên Nga,” bà Thủy kể tiếp.

Năm 1975 bà bị tù ở Long Thành, năm 1976 qua trại Thủ Đức, năm 1978 sang trại Z30D, rồi trở về trại Long Thành lần thứ hai. Năm 1984 bà trở lại trại Z30D và ở đó đến năm 1988 khi về nhà. Tổng cộng người biệt đội trưởng Biệt Đội Thiên Nga trải qua 13 năm lao tù Cộng Sản.

Ra tù sau 13 năm

Sau 13 năm ở tù Cộng Sản, năm 1988 khi về lại xã hội bà phải đối diện với nhiều khó khăn khi nhà cửa bị tịch thu mất hết, không có giấy tờ hợp pháp. Cuối cùng, bà Nguyễn Thanh Thủy lập một chỗ bán cà phê lề đường hẻm Trương Quyền, Quận Nhất, gần bánh mì ông Lý Toét. Nhờ ơn trên mà quán nhỏ lề đường rất đắt khách, còn mua bán thêm món ăn sáng, nhờ vậy bà cũng tạm sống qua ngày.

Bà Thủy cho biết: “Đến một hôm, có một chị đến quán tôi hỏi thăm, sau khi xưng tên, tôi và chị ấy qua chỗ vắng hơn để hỏi lại cho kỹ mới biết chị ấy là Thiên Nga Cẩm Vân, đã phá vỡ 10 ổ giao liên của Việt Cộng, bị kêu án tử hình từ sau 1975, nhưng chị đã đổi chổ ở nhiều lần nên không bị bắt.”

“Với tư cách là Thiếu Tá Trưởng Biệt Đội Thiên Nga, tôi bèn viết tay chứng nhận để giúp chị ấy làm hồ sơ đi qua Mỹ, vì tất cả chúng tôi đều có hồ sơ cá nhân được người Mỹ đem về nước từ 1972. Vấn đề khó là làm sao gởi hồ sơ để chị ấy được đi, không gởi qua bưu điện vì sẽ bị lộ, sẽ bị Việt Cộng làm khó dễ không cho đi. Không ngờ tháng sau, chị ấy được mời đến Sở Công An phỏng vấn bổ túc hồ sơ, hiện nay chị ấy đang định cư ở Mỹ,” bà cười tươi.

Tháng Mười Một, 1992, bà được qua Mỹ.

Gia đình đoàn tụ tại Hoa Kỳ, từ phải, bà Nguyễn Thanh Thủy cùng phu quân, ông Lê Thành Long; con trai Lê Long Quân, kỹ sư điện toán, cựu quân nhân Không Vận thuộc Binh Chủng Không Quân Hoa Kỳ; con gái Lê Thủy Tiên. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

Nỗi nhớ về thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa ở quê nhà

Bà Thủy kể: “Khi sang Mỹ nhờ bà chủ tiệm bánh mì Cali là em gái của anh Nguyễn Kim Hùng, bạn học cùng khóa 1 Chánh Trị Kinh Doanh Đà Lạt năm xưa, giúp tôi có việc làm trong tiệm. Sau 10 giờ đêm hết giờ bán, hai mẹ con tôi qua làm cho tiệm giặt ở Costa Mesa đến 2 giờ sáng mới về tới nhà. Nghỉ chút xíu sáng mẹ lại đi bán chè Cali, con trai tiếp tục đi học. Cũng nhờ có tay mua bán, sau đó tôi làm chủ tiệm bán bánh mì ăn sáng ở Tiệm Thiên Nga Deli, góc đường Heil và Brookhurst cũng rất đắt khách. Cứ thế làm suốt bao nhiêu năm trời mới có đủ tiền để trả nợ mượn trước khi đi Mỹ, phần cũng nhín chút gởi về nuôi mẹ già bệnh tật và người em thương phế binh ở quê nhà.”

“Lúc bán quán ngoài lề đường sau khi ra tù, những khi bán không hết bánh cuốn, hai vợ chồng tôi ngồi ăn thay buổi cơm chiều. Thấy người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa ngồi lết trên hai chiếc ghế gỗ đi bán vé số, chúng tôi đều mời họ lại ăn chung. Cùng chia sẻ tình đồng đội lúc gian khổ thôi, chứ chúng tôi cũng có dư dả gì đâu!” bà Thủy bồi hồi xúc động kể.

“Khi qua Mỹ, người đầu tiên đón tôi là bà Hạnh Nhơn, vì chúng tôi cùng ở tù trại Z30D ở Hàm Tân sau 1975. Sau đó bà Hạnh Nhơn có mời tôi giúp công việc ở Hội Thương Phế Binh mà bà là hội trưởng. Lúc đó tôi bận quá nhiều việc để kiếm sống, nên chỉ nhận giúp trông coi có hồ sơ nào cần giúp sẽ đem tới cho hội. Cho tới năm 2003 tôi mới có thì giờ rảnh để giúp Hội H.O Cứu Trợ Thương Phế Binh cho đến ngày hôm nay,” bà Thủy kể.

Nói về ước mơ nhỏ nhất hiện nay, nữ biệt đội trưởng Biệt Đội Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy cho biết: “Thời gian tôi bán cà phê ngoài lề đường là dịp tiếp xúc nhiều nhất với người thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa và rất cảm thông cho số phận nghiệt ngã của họ, đã hy sinh cả thân mình cho công cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam thân yêu, hiện đang vất vưởng bên lề cuộc sống. Tôi ao ước năm nào cũng có đủ tiền để giúp đỡ thương phế binh ở quê nhà luôn sống trong nỗi khắc khoải đợi chờ. Tôi mong rằng chúng ta, những người may mắn ở Mỹ, nhất là những cựu quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa, lúc nào cũng nhớ về họ, chia sẻ chút tình đồng đội khi cùng chiến đấu chống Cộng Sản để mang lại thanh bình cho đất nước, nhưng tiếc thay ước mơ vẫn chưa thành!” (Văn Lan) [qd]

—–

Xem lại kỳ trước: Biệt Đội Thiên Nga và những chiến công thầm lặng trong cuộc chiến Việt Nam

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Quyết định lớn trong đời Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy_Nguoi-Viet Online

BỐN MƯƠI LĂM NĂM TRƯỚC_ TPK

BỐN MƯƠI LĂM NĂM TRƯỚC

 

Nhớ ngày này bốn mươi lăm năm trước
Khắp miền nam sướt mướt lệ tuôn rơi
Theo gió đưa u ám một phương trời
Lệnh đầu hàng hỡi ơi người lính trận

Anh bàng hoàng như người đi trong mộng
Thật hay hư mắt thoáng rộng mây mù
Áo chinh nhân đành xếp gởi thiên thu
Ôm tủi nhục vào chốn tù cải tạo

Ngày lại ngày dưới đòn thù hung bạo
Bao bạn tù gục ngã tận rừng sâu
Kẻ trơ xương bụng đói suốt canh thâu
Ngày lao nhọc thay trâu cày ruộng rẩy

Người chiến thắng vênh vang chưa từng thấy
Lòng tiểu nhân đày ải kẻ sa cơ
Bởi họ quyết bảo vệ một màu cờ
Màu nhân ái,tự do,màu dân tộc

Thương dân nam đang sống đời độc lập
Bỗng một ngày ngồi khóc mất tự do
Thôi hết rồi thời áo ấm cơm no
Nay chỉ thấy bo bo cùng khoai sắn

Dân tộc Việt mất bầu trời tươi thắm
Đến giờ nầy vẫn chìm đắm đau thương
Sống cuộc đời nô lệ giữa quê hương
Sợ lạc bước vào nẽo đường mất nước

Người lính trận giờ ngồi đây mơ ước
Có một ngày đất nước được tự do
Sẽ trở về cùng dân Việt chung lo
Xây tổ quốc từ tro tàn xã nghĩa.

Tống Phước Kiên

Ngày 30 tháng 4 năm 2020

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BỐN MƯƠI LĂM NĂM TRƯỚC_ TPK

COVID-19_Thơ Tâm Hoàn HĐB

Tho HDB

CNN vừa nhận được bài thơ COVID-19 của K1 Tâm Hoàn Hồ Đắc Biên làm theo thể thơ tự do. Bạn Biên hiện là một cư sĩ Phật giáo, đồng thời là một nhà Thiền học nên thơ của anh có phảng phát một chút mùi Thiền.

COVID-19

Ngửa mặt lên trời hứng Coronavirus

Không nhận quà hoàn trả lại cho ai (?)

Tà kiến ấy xói mòn chất Phật (ý Chúa)

Cỗ xe Covid cặm cụi xuống đường

Chở thế giới vào nhà thương hỏa lò cách ly tại chỗ

Các ông bà hóa thân thành độc tố

Hãy trả lại đời nguyên vẹn biển khơi

Trả lại đất trời không khí sạch

Mâm cơm bát dĩa dính bụi khói carbon

Ăn đứng ăn ngồi cá tôm chết tiệt

Đáy biển lấp đầy phế liệu mica nylon

Food basket rỗng không

Cá voi chết nổi đầy rong trong bụng !

Này các ông bà Hán Cộng

Khéo khéo lúc dụng tâm

Khéo khéo không dụng ý

Cỗ xe Wuhan kéo lùi một phần tư thế kỷ

Mua sắm hết tiền sợ hãi nước uống thức ăn

Covid-19 mới bắn tới tai, mũi tên đã ghim thấu phổi

Kham nhẫn ở nhà từng lỗ chân lông !

K1 Tâm Hoàn, Hồ Đắc Biên

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở COVID-19_Thơ Tâm Hoàn HĐB

BỐN MƯƠI LĂM NĂM NGÀY QUỐC HẬN

BỐN MƯƠI LĂM NĂM NGÀY QUỐC HẬN

thumbnail[7]

Đêm ba mươi, đêm dài như bất tận
Bốn mươi lăm năm Quốc Hận vẫn còn
Khắc vào tim ghi mãi tấc lòng son
Niềm uất hận chảy tròn trong huyết quản.

Ngày ba mươi quá hơn mười giờ sáng
Nghe ra dô loan báo nỗi kinh hoàng
Dương Văn Minh tuyên bố nhận đầu hàng
Tim câm phẩn, dạ bàng hoàng chua xót.

Nay nhớ lại những chuỗi ngày cận chót
Ý ngẫn ngơ tim thót mãi từng cơn
Bởi vì đâu nước mất tủi oán hờn
Vào tay lũ, bọn vong nô cộng sản

Gây nỗi khổ, đất trời đang than oán
Dân miền Nam phải ly tán muôn phương
Chúng bắt dân,  từ đầu ngõ, cuối đường
Vùng kinh tế mới, tha hương cầu thực.

Đánh tư sản khiến dân Nam cùng cực
Con lìa cha, vợ lại phải xa chồng
Quân cán chính phải gánh gồng xiềng xích
Tù “cải tạo” ngày về trong mù mịch.

Kẻ vượt biên thân chôn, nay mất tích
Người còn đây phải vào chốn lao tù
Tuổi thanh niên nhìn phía trước âm u
Người có tuổi, cửa tù đang mời đón.

Chúng vơ vét không còn chi một món
Chúng tham tàn chẳng khác bọn gian phi
Nên tóm thâu bất cứ mọi thứ gì
Cho thoả dạ, lòng tham mang về Bắc.

Bốn mươi lăm  năm ngờ như khoảnh khắc
Lũ bạo tàn sẽ đền tôị trước sau
Hãy đứng lên hỡi tất  cả đồng bào
Lật cộng sản ta mưu toan cứu quốc.

PHƯƠNG  TRÚC:  NHA

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BỐN MƯƠI LĂM NĂM NGÀY QUỐC HẬN

30/04/1975: Muôn đời vẫn là Ngày Quốc Hận (Tác giả : Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)

( Bài do Thiet Luu và Phien Nguyen sưu tầm)

Bây giờ là Tháng Tư, năm 2020, đúng 45 năm ngày Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã bị rơi vào tay của bạo quyền Cộng sản Hà Nội, vốn là chư hầu của Tầu cộng.

Những người Việt Nam yêu nước chân chính, dù ở quốc nội hay hải ngoại, tất cả đều không quên 30 Tháng Tư: Ngày Quốc Hận! Và đời đời, lịch sử Việt Nam vẫn khắc ghi 30/04/1975, là Ngày Quốc Hận!

Chính ngày này, ngày đã in sâu trong ký ức của tất cả nạn nhân đau thương, tang tóc, khốc liệt nhất, là Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa.

Dẫu đã 45 năm trôi qua, nhưng những vết thương do bàn tay sắt máu, tàn ác của chính đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra cho vô số gia đình, kể từ 30/04/1975, tất cả đều đã hằn sâu từ thể xác cho đến tinh thần của những người đã một thời từng quằn quại, đớn đau dưới những thảm cảnh trả tù, hành hạ, tàn độc, ở trong nhà ngoài nhà tù “cải tạo”, sẽ không bao giờ phai nhạt.

Tôi vẫn nhớ như in, ngày đoàn quân xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt tràn vào Thành phố Đà Nẵng: 29/03/1975.

Tôi đã chứng kiến từ ngày 20/03/1975, với từng đoàn người di tản từ các tỉnh Trị-Thiên, Nam-Tín-Ngãi, đổ về Đà Nẵng mỗi ngày một đông, họ chỉ mong được lên tàu di tản, vì ở những nơi đó Việt cộng đã hoàn toàn kiểm soát, không còn gì để hy vọng.

Tại Đà Nẵng, trong khi từng đoàn người bồng bế nhau chạy xuống bến Bạch Đằng, thì từng loạt pháo kích của Việt cộng bắn theo nổ chặn đường, làm kẻ chết, người bị thương, ai còn sống, bỏ tất cả lại để chạy thoát thân. Nhưng rồi chuyến tầu cuối cùng cũng đã rời bến Bạch Đằng; những người còn lại đành quay trở về. Trên đường phố từng toán người dìu dắt nhau trở lại, sau khi trở về nhà, họ đóng cửa, chỉ nhìn ra đường qua cửa sổ, họ đã sống trong những giờ phút hãi hùng, chờ đợi, không biết những gì sẽ xảy ra. Thành phố ngưng mọi sinh hoạt.

Làm sao quên được, những hình ảnh của em thơ, cụ già, yếu đuối trong cơn chạy giặc, đã bị trúng mảnh đạn pháo kích của Việt cộng, khiến họ phải chết một cách vương vãi trên các ngả đường, từ bến Bạch Đằng đến khắp thành phố trong giờ phút “lâm chung”.

Ngày ấy, người dân miền Nam: Việt Nam Cộng Hòa đang sống trong một Thể chế Cộng Hòa, Tự Do-Dân Chủ. Một Quốc Gia có đầy đủ Tam Quyền Phân Lập, không ai nghĩ rằng sẽ có một ngày phải “sống chung” với loài Quỷ Đỏ. Nhưng sự thật đã xảy ra. Ngày 30/04/1975, ngày Mất Nước, ngày tất cả con dân của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã bị Bạo quyền Cộng sản Hà Nội đày ải đi đến tận cùng của những tang thương và máu lệ!

Sau ngày ấy, đã có biết bao nhiêu người đã bị giam cầm trong những trại tù ngụy danh “cải tạo” trên khắp mọi miền của đất nước, thì đoàn quân xâm lăng Cộng sản Hà Nội đã xông vào nhà, cướp sạch hết tài sản, rồi đuổi cả gia đình họ ra đường, để chia nhau chiếm giữ nhà cửa của họ làm của riêng.

Trại tù ngụy danh “cải tạo” Tiên Lãnh (T.154) Tiên Phước, Quảng Nam

Để mọi người hiểu thêm, tôi xin nói qua về Trại tù Tiên Lãnh (T.154), là hậu thân của trại tù Đá Trắng. Nhân đây, vì tôi vốn là dân gốc tại làng Thạnh Bình, Tiên Phước, Quảng Nam; từ nhà tôi đến nhà cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ cần đi bộ, tôi biết rất rõ về trại này, nơi Bác ruột của tôi, Ông Trần Thắng, đã bỏ mình tại trại này vào năm 1964, nên tôi phải nói rõ về cái tên T.154. Bởi khi quận Tiên Phước mất vào ngày 13/03/1975, thì Việt cộng đã cấp tốc “khởi công” phá bỏ trại Đá Trắng vốn ở dưới hầm đất, để thành lập trại tù mới lớn hơn, từ lúc đầu Việt cộng đã bắt thanh niên quận Tiên Phước làm công việc xây dựng bằng nhà tranh vách đất, đến ngày 15/04/1975, Việt cộng cho “khánh thành” và trại Đá Trắng chính thức đổi tên thành “Trại cải tạo T.154” tức “Trại cải tạo” Tiên Lãnh, để rồi các vị ai đã vào đấy, thì ít có vị nào ra tù trước mười năm, có vị đã bỏ mình tại trại vì bị hành hạ đến bệnh tật không được chữa trị, có vị bị xử bắn, bị bỏ đói, chết khi đôi chân vẫn còn trong đôi cùm sắt, thân thể quắt queo trên nền gạch lạnh lẽo của phòng biệt giam tăm tối.

Tôi cũng xin nói thêm, để cho quý vị cựu tù từng ở trong trại này, nhưng đã được ra tù trước năm 1983, thì không biết được về cái cách “lao động khoán, phải đạt chỉ tiêu hàng ngày” mà tôi thường kể và viết, vì trước năm 1983, không có “lao động khoán”.

Ngoài các trại tù nam, Việt cộng cũng lập thêm phân Trại Nữ gồm có năm nhà, có nhà bếp, trạm xá riêng, các phòng cũng kiên cố như trại nam. Nhưng mỗi khi nữ tù “vi phạm nội quy” thì công an trại nữ lại “Lập biên bản” để đưa vào cùm trong nhà biệt giam của trại nam, vì trại nữ không có nhà cùm biệt giam. Vì thế, nữ tù vì mắc cỡ nên rất sợ bị vào nhà cùm ở bên trại nam; bởi bất kể một nữ tù nào chỉ cần có một giờ bị ôm áo quần đi vào nhà cùm ở trại nam, là cả hai trại đều biết tất cả, qua cái loa phóng thanh đặt ở cả hai trại nam-nữ tù “cải tạo”.

Hai trại nam, nữ cách nhau một giòng suối nhỏ, “tuy xa mà gần, tuy gần mà xa” chung một hội trường để hai trại nam, nữ cùng “học tập chính trị”, hoặc “họp toàn trại” mỗi khi trong trại có nhiều người “vi phạm nội quy” hoặc xem “văn nghệ” vào dịp Tết, hay ngày 2/09, “nghệ sĩ” là các anh chị em đa số thuộc Sinh Viên, Học Sinh, và Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa.

Nói đến nhà tù này, thật là kinh hoàng, khủng khiếp! Vì là nhà tù lao động chuyên về nông nghiệp, nên cả nam lẫn nữ tù đều phải làm những công việc vô cùng nặng nhọc. Hàng ngày, nữ tù chúng tôi thường đi làm chung với quý vị nam tù. Đến năm 1983, chúng tôi thường xuyên “lao động” hàng ngày với nhà 08 do Thiếu tá Nguyễn Văn Chước “Tự quản” (nhà trưởng) quý vị này đã từng qua nhà biệt giam 02-79 (Đồng Mộ) và nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm “nhà trưởng”, ngày nào hai nhà này cũng thay phiên lao động bên nữ tù. Các anh đã thay trâu bò cày, bừa cho nữ cấy, gặt. Với “chỉ tiêu” chung, ba người một sào, bắt buộc phải “đạt” trong ngày. Ngoài ra phải leo lên đồi cao cuốc đất trồng sắn, mỗi ngày với “chỉ tiêu” vừa cuốc vừa trồng phải “đạt” 500 cây hom sắn, hay cuốc đất trồng mía, tỉa đậu, trồng khoai, lên rừng nam đốn củi, nữ vác xuống chất thành mét khối, cũng phải “đạt chỉ tiêu”. Nói tóm lại làm việc gì cũng phải cân, đo cho “đạt chỉ tiêu” mới được nghỉ.

Nhưng không phải “đạt chỉ tiêu” rồi mà tối về phòng được ngủ sớm, mà tất cả chúng tôi, sau giờ ăn tối còn phải “làm tranh thủ” hái đậu phụng (lạc) cũng “chỉ tiêu” cho ba người đầy một thúng mới được về phòng, đặt lưng xuống chưa được bao lâu thì 06 giờ sáng phải thức dậy để bắt đầu một ngày “lao động” khác. Có khi vừa ăn tối xong, phải “tranh thủ” làm cỏ mía…. Thôi thì đủ thứ “tranh thủ” không làm sao kể hết.

Chúng tôi vẫn nhớ, có những lần suốt ngày dầm mình dưới sình, lầy, tới ngực, tới bụng làm mồi cho đỉa; nhưng vẫn “không đạt chỉ tiêu”. Vì vậy, đến chiều về trại, chúng tôi đã bị phạt, bằng cách không cho tắm rửa. Những lần như thế, chúng tôi cứ khóc như mưa, chẳng làm sao nuốt nổi chén sắn độn cơm, cũng không sao ngủ được vì trên người còn dây dính những bùn lầy, hôi hám!

Chúng tôi cũng không bao giờ quên những năm tháng lao động bên các vị Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa, nhất là các vị thuộc nhà 08 và nhà 10. Tôi vẫn nhớ mãi những ánh mắt đầy thương cảm và lo lắng của các anh, khi nhìn chúng tôi với những tấm thân yếu đuối, mà các anh chỉ nhìn thấy từ bụng, từ ngực nổi trên sình lầy, trong những ngày Đông buốt giá, đến những ngày Hè nắng như thiêu đốt. Đôi chân của chúng tôi lúc nào cũng phải lần bước theo những cây đà, do chính các anh đốn từ trên rừng đem bỏ xuống ruộng. Các anh luôn luôn lưu ý đến chúng tôi, để khi nào nữ tù có ai lỡ trượt chân khỏi cây đà, thì các anh kịp thời nối cuốc, nối tay, kéo chúng tôi lên. Vì thế, có nhiều người rơi xuống ruộng, nhưng không hề có một ai bị chết vùi thân dưới sình lầy cả.

Những cựu tù “cải tạo” không phải là Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa

Ở trại khác, thì tôi không biết, những riêng Trại Tiên Lãnh. Gồm Trại chính-Trại 1, còn có các Phân trại như: Thôn 05, Na Sơn, Nà Thao…

Người viết quen biết rất nhiều vị cựu tù không phải Sĩ Quan, nhưng đã phải ở tù trên dưới 10 năm, vì cái “tội” là Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Tôi vẫn nhớ tên các vị, kể cả người đã chết, nhưng khó có thể viết hết, nên chỉ kể những “chức vụ cao nhất” của các vị là Xã trưởng, Phó xã trưởng, Ấp trưởng, Ấp phó, Liên gia trưởng. Trung đội trưởng, Trung đội phó Nghĩa quân, Cảnh sát viên, Nhân viên Dân Ý Vụ, cựu Biệt chính, cựu Biệt Kích Tây Hồ… Nghĩa là, dù chỉ là Liên gia trưởng, nhưng vẫn bị Việt cộng bắt bỏ tù không sót một ai, chỉ vì cái “tội” là Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng!

Đặc biệt, là các Cựu Đoàn viên của Đoàn 18 Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn. Đoàn 18 hầu hết là những cựu cán bộ Biệt Chính. Và hầu hết, các vị là người dân của quận Tiên Phước, Quảng Nam, họ phục vụ tại Tiên Phước, nhưng cũng có thời một gian “đóng” tại xã Kỳ Lý, Kỳ Mỹ, Tam Kỳ. Sau này, Đoàn 18, đã được chuyển sang các Chi-Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia, hoặc trở thành những ông Xã trưởng, Ấp trưởng, Và vì hầu hết Đoàn 18, đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, nên tất cả các vị Cựu Đoàn 18, Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, đều đã bị Việt cộng bắt đưa vào trại tù, nên sau khi ra tù, các vị đã được sang Hoa Kỳ, vì là thành phần cựu tù “cải tạo”.

Để biết rõ, vì sao người dân ở quê tôi đã bị Việt cộng bỏ tù nhiều như thế. Và đây là câu trả lời: Người ta thường nghe câu: “Ra ngõ gặp anh hùng” Nhưng riêng Làng Thạnh Bình, Tiên Phước, thì người dân lại thường nói với nhau: “Ra ngõ gặp… Quốc Dân Đảng. Mở mắt ra, thấy Quốc Dân Đảng”. Cả làng, đa số là Đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng; một Chính đảng chống Cộng quyết liệt, nên Việt cộng cũng rất thù Quốc Dân Đảng.

Nhưng nếu muốn viết về những đau thương trong nhà tù “cải tạo” và cựu tù, thì không có giấy mực nào có thể kể hết, bởi, đó là những tội ác vô cùng tàn độc, sắt máu, dã man đã sánh cao bằng trời, bao la bằng biển, của bạo quyền Cộng sản Hà Nội.Vì thế, người viết xin tạm dừng ở nơi đây, để viết thêm về những hoàn cảnh khác.

Những cảnh ngộ bi thương của các gia đình của quý vị cựu tù

Đa số các gia đình của quý vị cựu tù, trong lúc đang bị đày đọa trong “Trại cải tạo” thì ngoài kia, bên ngoài song sắt, là Cha, Mẹ, vợ, con… cũng phải gánh chịu những đau thương không kém. Quân xâm lăng, cướp nước Cộng sản Hà Nội, đã xông vào nhà của các vị, để cướp sạch hết những gì có thể dùng được, kế tiếp là dùng bạo lực đuổi thẳng vợ, con của qúy vị ra khỏi nhà, để chiếm làm “nhà riêng” của chúng.

Sau ngày được ra tù, khi đi tìm thăm những người thân, tôi đã chứng kiến nhiều cảnh ngộ đau thương, đến khốn cùng, để rồi cùng gia đình của họ ôm nhau rơi lệ! Những thảm cảnh này, nếu viết ra sẽ rất dài, vì có nhiều vị là nạn nhân và cũng là nhân chứng, nên tôi sẽ kể lại thật rõ trong một bài khác.

Thảm cảnh của Người Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa

Vào một thời đã chắp tay súng, để bảo vệ non sông, bảo vệ tự do, dân chủ, bảo vệ đồng bào. Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa, không thể ngờ rằng, có một ngày mình phải bị lâm vào những cảnh ngộ đau thương như vào ngày 30/4/1975. Chính ngày này, khi các vị đang nằm trên giường bệnh, với những vết thương còn rỉ máu, tay chân bị cụt, mắt không còn… Thế nhưng, các vị đã bị những kẻ nhân danh là “giải phóng” đã thẳng tay đuổi hết các vị ra khỏi các Quân y Viện của Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, các vị phải bò, phải lê lết những tấm thân còn rỉ máu trở về nương tựa với gia đình cho đến tận ngày hôm nay!

Vùng “Kinh tế mới”

“Kinh tế mới” là cái mỹ từ do đảng Cộng sản đã đặt để ra, cũng như cái mỹ từ “Học tâp cải tạo” vậy. Thực chất, đây là những vùng đất ở những nơi rừng thiêng, nước độc, không người lui tới, để lưu đày tất cả các gia đình “ngụy dân”. Những vùng “kinh tế mới” toàn là rừng núi hoang vu, đất đá khô cằn, trồng sắn, sắn chết, trồng khoai, khoai khô… không một loại ngũ cốc nào sống được.

Chính vì vậy, sau những tháng năm phải dùng những bàn tay, mà vốn trước kia vốn chỉ quen với phấn trắng, bảng đen của thấy cô giáo “ngụy”. Sau khi lâm vào những căn bệnh sốt rét rừng… có rất nhiều người đã chết ngay trên vùng “kinh tế mới”. Và những giọt nước mắt của họ đã rơi trên những thi thể của con em của mình đã chết vì bệnh tật, đói, lạnh và kiệt sức. Họ cũng đã nhỏ máu mười đầu ngón tay, vì phải vạch gai rừng, đào huyệt mộ trên vùng đất đá, để chôn xác người thân, và cũng không có quan tài, chỉ bó chiếu mà thôi!

Người viết xin nói thêm về cảnh ngộ của các bà vợ của quý vị cựu tù “cải tạo”. Đa số, các bà vợ, thường có việc làm như Công chức, Giáo sư, Giáo viên… Nhưng gần hết các bà vợ không được trở lại văn phòng, không được tiếp tục dạy học ở trường các cấp, vì có chồng đang “học tập cải tạo”, mà đã bị buộc đi “vùng kinh tế mới”. Họ phải dìu dắt con thơ lên tận rừng sâu, núi thẳm, với đôi tay cầm bút ở văn phòng, hay đã quen với phấn trắng, bảng đen, nay phải cầm cuốc, bới đất, trồng khoai, trồng sắn, một nắng hai sương, để một phần nuôi sống con thơ qua ngày, một phần dành dụm, để đi thăm chồng đang bị đày đọa ở trong chốn lao tù!

Người viết có người chị kết nghĩa, chị Hồ Thị Diệp đã kể: Trước 30/04/1975, chị làm việc tại Chi nhánh Ngân Hàng Quốc Gia tại Đà Nẵng. Sau đó, lúc Việt cộng mới vào Đà Nẵng, vì không biết làm việc như thế nào, nên chị đã được “lưu lại” để chị chỉ vẽ cho chúng biết những công việc tại Chi nhánh Ngân hàng. Nhưng sau khi chúng đã học hỏi xong xuôi, chúng tìm cách “kết tội” là “Công chức làm việc cho Ngụy”, và bắt chị đi vào nhà tù, và chị cùng ở trại với tôi. Còn chồng của chị, anh Mỹ, đang dạy tại trường Trung học, thì Việt cộng đã thẳng tay đuổi ra khỏi trường, vì “Giáo viên ngụy, không biết dạy giáo trình cách mạng”. Trước hoàn cảnh này, anh Mỹ phải dắt ba đứa con nhỏ trở về quê Cẩm Kim, Hội An, rồi mua một chiếc máy xay gạo cũ, hàng ngày xay gạo thuê kiếm tiền nuôi con và đi thăm nuôi vợ trong tù, tôi đã được Chị Diệp cho đọc những lá thư ngắn anh gửi vào nhà tù cho chị. Chị thường hay kể chuyện với tôi, và khóc vì thương nhớ chồng con. Trước ngày ra tù, chị Diệp có nhờ tôi làm cho chị một bài thơ, nói về tình nghĩa vợ chồng của của anh chị, theo lời chị kể, để chị đọc thuộc lòng, khi về nhà sẽ đọc cho anh Mỹ biết “thơ của cô em kết nghĩa” trong tù.

Một cảnh ngộ khác, mà sau khi được ra khỏi nhà tù, tôi đã gặp lại người em kết nghĩa, là Kim Anh, trước 30/04/1975, là Giáo viên, con gái của một ông chủ cây xăng tại Đà Nẵng, đang ngồi bán xăng lẻ ở ngã ba Hòa Cầm. Gặp lại nhau, sau khi nói về những năm tháng cũ, Kim Anh kể:

“Em đang đi dạy họ bảo em, nếu muốn đi dạy lại, thì phải đi học chính trị về đường lối và giáo trình cách mạng. Phải dạy theo cách dạy mới như làm toán, phải tính theo cách cộng, trừ, nhân chia bằng súng, đạn, nguỵ… Phải dạy học trò đọc theo kiểu “cách mạng” như Bờ, Cờ, Đờ… nên em vì không muốn đi học chính trị, không muốn dạy học sinh theo cách đó, vậy là nhà em bị mất cây xăng, còn em thì ngồi đây bán xăng lẻ sống qua ngày, còn anh Hoàng (anh cả của Kim Anh) đang học Chính Trị Kinh Doanh, không biết làm gì, nên ở nhà… nấu cơm cho ba má em đã già và thằng em trai không chịu học “chương trình mới”, nên đã bỏ học và em đi bán xăng lẻ về nhà cùng ăn.

Nhưng riêng em thì vậy, chứ cũng có một thiểu số Công chức, Giáo viên vì đã từng “Hoạt động thành” (có nghĩa là Cộng sản nằm vùng thứ thiệt – người viết giải thích) thì được cho tiếp tục làm việc, hoặc đi dạy, nhưng dạy học sinh theo “giáo trình cách mạng” mà không cần phải đi “học chính trị và giáo trình cách mạng” bởi trước kia họ đã lén lút vào bưng, được “đào tạo dạy theo giáo trình cách mạng rồi”.

Những gì đã viết ở trên, là do lời kể của hai người chị và em kết nghĩa. Song vẫn còn rất nhiều cảnh ngộ bi thảm khác nữa, nhưng người viết đành gác lại cho lần sau, để xin viết tiếp về những hoàn cảnh khác.

Những giọt nước mắt dưới gầm cầu, trong bãi tha ma

Đó là thảm cảnh của những người đã sống sót qua các vùng “kinh tế mới”, của những người khốn khổ, bần cùng, vô gia cư; bởi nhà cửa đã bị đảng Cộng sản cướp hết tài sản, nhà cửa. Vì thế, họ phải gối đất, nằm sương, có khi phải ăn, ngủ trong những bãi tha ma. Con cái của họ không được học hành, vì họ là “ngụy dân” không có “sổ lương thực”, không có “hộ khẩu”.

“Hòa hợp-Hỏa giải” với Cộng sản

Lịch sử đã chứng minh, đã cho chúng ta biết quá rõ về những thủ đoạn gian manh của đảng Cộng sản Việt Nam. Ngược thời gian, về thời kỳ Hồ Chí Minh kêu gọi “Kháng chiến chống Pháp”, là một trong những chiêu bài, với mục đích, để gom hết những thành phần trí thức, nhiệt thành yêu nước, chống Pháp, nên các vị ấy đã chấp nhận “ngồi chung” với “Chính phủ Liên Hiệp”. Trong số đó, có Cụ Huỳnh Thúc Kháng, để rồi Cụ phải chết dưới tay của Hồ Chí Minh, hoặc như Cụ Vũ Hồng Khanh, rồi cũng phải bỏ chạy thoát thân. Sau ngày 30/04/1975, Cụ Vũ Hồng Khanh cũng bị bạo quyền Hà Nội bỏ tù cho đến kiệt sức, khi được ra tù, thì chết!

Đảng Cộng sản Việt Nam đã chiêu dụ vô số người “ngây thơ” để “hợp tác” với chúng. Nhưng tất cả đã phải trả những cái giá quá đắt, có những người phải “trả” bằng chính sinh mạng của mình.

Những bài học xương máu ấy, tưởng như có thể khiến cho những người có lương tri phải biết suy nghĩ, để không dấn bước vào vết xe đổ của người xưa, mà phải quyết tâm rửa hờn cho những người đã khuất. Nhưng không, vì hiện nay vẫn có những kẻ tiếp tục cố tình tô son, điểm phấn cho bạo quyền Cộng sản Hà Nội.

Hãy nhìn xem, chính trong hàng ngũ được gị là “lãnh đạo cao cấp” của chúng, mà chúng còn tự thanh trừng, tru diệt lẫn nhau, hễ nếu thấy một tên đảng viên nào đó có “biến chất”, hoặc chỉ vì tranh giành miếng ăn, chỗ đứng trong bộ máy bạo quyền, thì cũng đủ phải chết rồi. Không cần phải nói hay viết, thì mọi người cũng biết những gì đã và đang xảy ra trong “chuồng” tức trong nội bộ của đảng Cộng sản.

Chuyện Hà Nội “công nhận Việt Nam Cộng Hòa” về Hoàng Sa-Trường Sa

Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa là một Thể chế Chính Nghĩa – Chính Danh, nên không cần quân Xâm Lăng Cộng sản Hà Nội “công nhận”..

Theo nguyên lý, quân cướp nước, là chính kẻ đã “buộc”, thì phải tự biết cách để “mở ra”, mà muốn “mở” thì kẻ cướp phải cần đến những người có Chính Nghĩa và Chính Danh.

Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có một văn bản nào công bố chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ có cái “công thư, công hàm” do Hồ Chí Minh “chỉ thị” cho Phạm Văn Đồng “ký gửi cho Chu Ân Lai, vào 14/09/1958, để xin dâng-bán hai quần đảo trên cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc.

Trong khi trước đó, năm 1956, Việt Nam Cộng Hòa đã cắm Bia đá Chủ Quyền và công bố: Luật và Sắc Lệnh về Hoàng Sa và Trường Sa.

Chính Nghĩa như ánh mặt trời, không ai có thể phủ nhận. Người Việt Nam yêu nước chân chính, không nên, hay không cần phải đòi hỏi “xin” bạo quyền Hà Nội phải “bỏ điều 4 Hiến pháp-tôn trọng nhân quyền”.

Những người tranh đấu chống Cộng thực sự, cần phải sáng suốt, để hiểu rằng, khi “đòi bỏ điều 4 Hiến pháp” của Hà Nội, thì có nghĩa là chấp nhận đảng Cộng sản, chấp nhận Hồ Chí Minh, chấp nhận lá cờ Đỏ sao vàng, chấp nhận hết cái gọi là “Hiến pháp” của Cộng sản, trừ Điều 4.

Ngoài ra, còn một điều tối quan trọng: khi đã chấp nhận hết những điều nêu trên rồi, thì cũng có nghĩa là chấp nhận luôn cái “Công hàm Công thư” bán nước của Phạm Văn Đồng theo “chỉ thị” của Hồ Chí Minh đã gửi cho Chu Ân Lai, vào năm 1958.

Không! Người Việt Nam yêu nước chân chính chỉ đứng về phía Văn Bản Luật và Sắc Lệnh về Chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa mà thôi.

Riêng những ai muốn “Hòa hợp-Hòa giải” với Cộng sản Hà Nội, hãy cứ để mặc cho họ chọn, để mai kia, lỡ có phải “đi theo con đường” của “Chính phủ Liên Hiệp” như vào năm 1946, thì họ có sẽ có “cơ hội sắng mắt” ra, có thể khi đó họ đã “gặp” Cụ Huỳnh Thúc Kháng rồi!

Một lần nữa, người viết muốn nhắn gửi những người trẻ tuổi:

Đừng đòi Cộng sản “phải tôn trọng nhân quyền”, vì Cộng sản và Nhân Quyền không bao giờ cùng chung một thể chế. Cộng sản Không Nhân Quyên, hoặc Nhân Quyền Không Cộng sản!

Sắc lệnh số 274-NV ngày 13/7/1961 của Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm

Bia đá chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên đảo Trường Sa

Tạm kết:

Như một lời nhắn gửi cho lớp hậu sinh. Người viết rất vui mừng, khi thấy lớp người trẻ tuổi, sinh ra sau ngày 30/04/1975, dù ở quốc nội hay hải ngoại, đã có một số người trẻ, đã tìm, đã đọc, đã xem lại những hình ảnh trung thực, với đời sống Tự Do, Dân Chủ dưới Thể chế của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, đã nhận thức được tất cả, đã thấy được đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là chư hầu của Tầu cộng, đã đem dâng, bán từng phần lãnh thổ, lãnh hải cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc Việt Nam, để lấy tiền chia nhau bỏ vào túi riêng, cho gia đình chúng được sống trong những ngôi nhà dát vàng, ấm êm trên nhung gấm, xa hoa. Còn đa số người dân Việt vẫn sống trong nghèo khổ, trẻ thơ vẫn đói khát, rách rưới, nước mắt, nước mưa hòa chung trong mỗi cơn giông bão… trong cảnh khốn cùng!

Riêng tuổi trẻ Việt Nam tại quốc nội, nếu chưa biết, thì nên tìm xem cho biết: Trên khắp ba miền đất nước, đều có những đoàn quân Mã Viện, được ngụy trang dưới cái tên “Học Viện Khổng Tử” – Đặc khu Kinh tế” với những bảng quảng cáo, cửa hàng, đều là chữ bùa Tầu với lồng đèn Đỏ. Ngoài ra, còn có những con đường mang tên “Khổng Tử, Lão Tử”.

Như vậy, đã quá rõ ràng, để thấy, đất nước Việt Nam không còn là Việt Nam. Nếu không có sự đổi thay, thì người dân Việt sẽ bị Hán hóa, để trở thành nô lệ của giặc Tầu và của chư hầu Cộng sản Hà Nội.

Vận nước đã đến. Còn chần chờ gì nữa. Tuổi trẻ Việt Nam hãy đồng tâm, nhất hướng, sát cánh, kề vai, cùng nhau đứng lên nhận lãnh trách nhiệm của Tiền Nhân giao phó. Là các bậc Anh Hùng, Liệt Nữ đã từng đem cả núi xương, sông máu tô thắm giang sơn. Tuổi trẻ Việt Nam hãy siết chặt tay nhau cùng cất cao tiếng hát, hòa nhịp với lòng nhiệt thành yêu nước, biến đau thương thành những hành động:

Khỏe vì nước kiến thiết Quốc Gia
Đoàn thanh niên ta góp tài ba
Tạo nguồn dân sinh mới hùng mạnh trong năm giới
Hợp lực xây hưng thịnh chung nước Nam.
Khỏe vì nước chí khí cương kiên
Giống Lạc Hồng uy hùng vô biên
Trong khốn nguy can trường sinh thác ta coi thường
Việt Nam thanh niên anh dũng muôn năm.

Thanh niên ơi, hồn thiêng núi sông đợi chờ
Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ
Mang máu anh hùng ta đừng làm nhơ máu anh hùng
Trai đất Việt phải nêu đèn sáng thế giới ngắm chung.

28/04/2020

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 30/04/1975: Muôn đời vẫn là Ngày Quốc Hận (Tác giả : Hàn Giang Trần Lệ Tuyền)

Các bài thơ tưởng niệm tháng tư đen

TPK

Các bài họa:

1. THÁNG TƯ NGHẸN NGÀO

45 năm trước tháng ngày này
Nước mất nhà tan cảnh đổi thay
Dân chúng bốn vùng lâm khốn khổ
Quân nhân cán chinh bị tù đày
Hạ Cờ bỏ súng nuốt buồn tuỉ
Rã ngũ tan hàng ngậm đắng cay
Lớp lớp trai hùng đang chiến đấu
Nghẹn ngào một sớm bỗng buông tay

PHIẾN NGUYỄN

 

2. CŨNG ĐÀNH

Hàng năm cứ đến tháng tư này
Lịch sữ sang trang buồn lắm thay
Mãi nhớ Cộng nô vờ giải phóng
Nào quên dân Việt phải lưu đày
Tượng đài chiến sĩ nằm trơ trọi
Người lính Cộng hòa nuốt đắng cay
Vấn nạn cô vy đâu đổ xuống
Cách ly tưởng niệm khỏi tầm tay ./-

TQN

 3. CỜ RŨ KỶ NIỆM THÁNG TƯ ĐEN

Tháng Tư lại nghĩ nước non này
Hồi tưởng thêm buồn nhục nhã thay
Ngục thất đâu ngờ vung cẳng đạp
Rừng thiêng phải chịu thẳng tay đày
Bao năm “giải phóng”môi còn đắng
Những tháng cầm tù mắt mãi cay
Kỷ niệm treo cờ nghi thức rũ
Chấp hành dịch bệnh giữ vòng tay.

DNN

 

4. CỜ VÀNG PHẤT PHỚI LẠI TRONG TAY 

Năm nay đến dịp tháng tư này
Tổ chức không cho, tiếc lắm thay
Chống dịch phố phường như cỏi chết
Cách ly xã hội giống tù đày
Làm thơ tưởng niệm buồn da diếc
Xướng họa nhớ về hận đắng cay
Chắc chắn rồi đây bịnh sẽ dứt
Cờ Vàng phất phới lại trong tay.

NCV

 

5. NỖI BUỒN NGẬP LỐI

 Nỗi buồn ngập lối, tháng tư nầy
Chỉ một thằng Tàu, hai cuộc thay
Thủa ấy hắn sai Hồ tặc đánh
Giờ đây nó thả rô na đày
Đền đài vắng vẻ lòng thương tiếc
Phố xá u hoài dạ đắng cay
Tội ác Mao, Bình còn để đó
Ngày mai thế giới sẽ ra tay

Cóc QT

6. 30 tháng 4

Vì đâu nên nỗi nước non này
Vẫn khổ vẫn buồn dẫu đổi thay
Mất mát đau thương chưa vợi bớt
Oan khiên uất ức lại đong đầy
Tương tàn thủa ấy sao khốc liệt
Địch họa ngày nay thật đắng cay
Lịch sử sang trang đời sắp tận
Tương lai quá khứ vượt tầm tay

CCR

 

7. TƯỞNG NIỆM

“Tâm thư Tổng Hội” nhắc ngày nầy
Cuối tháng tư đen quốc hận đây
Đảng cướp vét vơ vàng, bạc…của
Cọng nô gieo rắc máu, xương …thây
Hàng thần khốn khổ, tù vô hạn
Dân chúng âu sầu, sống bủa vây
Thương nhớ anh linh vì Tổ Quốc
Hương lòng TƯỞNG NIỆM mãi còn đây

30.4.2020  CÓC BIỂN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Các bài thơ tưởng niệm tháng tư đen

Ai Cải Tạo Ai_ Tác giả Thanh Phong

AI CẢI TẠO AI ?

Đại Úy Cảnh Sát Nguyễn Bá Đằng, Chủ Sự Phòng Giảng Huấn, Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Quốc Gia Rạch Dừa, Vũng Tàu và người viết cùng chung đơn vị trước 1975. Sau ngày 30 tháng 4, 1975 Đại Úy Đằng bị đưa ra Bắc cầm tù nhiều năm, sau này nhà cầm quyền Cộng Sản đưa ông từ trại tù Thanh Cẩm về trại Hàm Tân (Bình Tuy), chúng tôi đã có dịp gặp ông và nghe ông kể câu chuyện sau đây:

Một hôm Đội của ông được lệnh đi ra đồng làm ruộng. Trong Đội hầu hết là sĩ quan cấp Đại Úy trở lên, có người từng tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Đức hay Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, họ đều là những thành phần trí thức của Việt Nam Cộng Hòa. Dẫn Đội đi lao động, ngoài hai vệ binh cầm súng AK, còn một nữ cán bộ Việt Cộng khá trẻ, chúng gọi là Cán Bộ Quản Giáo có nghĩa là vừa quản lý vừa giáo dục để “cải tạo tư tưởng phản động” của các Quân, Cán, Chính VNCH. Sau khi phân công cho cả đội xuống đồng làm việc, tên nữ cán bộ này đến ngồi dưới bóng mát của gốc cây cổ thụ, lấy trong túi ra tờ báo Quân Đội Nhân Dân, vừa đọc vừa trông chừng những tù nhân mà cô ta có trách nhiệm .

Vào giờ giải lao, vì đang ở vào tháng Hè của miền Bắc, sức nóng vô cùng gay gắt nên anh em cũng được đến ngồi dười gốc cây để lấy sức tiếp tục cày ruộng. Đã nhiều năm không được đọc sách, báo. Hơn nữa anh em cũng muốn biết tin tức ngoài xã hội ra sao nên có một anh trong Đội mạnh dạn hỏi:

Cán Bộ cho anh em chúng tôi mượn tờ báo xem một tý được không?

Nữ cán bộ hơi ngạc nhiên trả lời:
“Xem cái gì? đâu có hình gì mà xem? Chỉ có chữ thôi, mà mấy anh có biết chữ không mà đòi đọc?”

Anh em tù không nhịn được cười nhưng cố nén không lên tiếng.
Anh hỏi mượn báo thay anh em trả lời: “Báo cáo cán bộ, không những chúng tôi thông thạo tiếng Việt mà còn biết cả tiếng Pháp, tiếng Mỹ nữa, không tin cán bộ đưa tờ báo và chỉ bất cứ anh nào trong chúng tôi đọc cho cán bộ nghe.”

“Thật không?” tên nữ cán bộ hỏi lại.

Anh em đáp, “Đúng.

Tên cán bộ đưa tờ báo cho một anh bảo đọc thử xem nào. Anh bạn tù đọc trơn tru không hề vấp váp chữ nào, cả những tên tiếng ngoại quốc trong bài anh đọc cũng không sai. Tên nữ cán bộ mặt đỏ gay vì ngượng; không ngờ họ còn đọc thông thạo hơn mình.
Sau đó, người nữ cán bộ hỏi lại, “Hồi nãy anh nào nói các anh biết cả tiếng Pháp, tiếng Mỹ có đúng không đấy?”
Anh em lại trả lời, “Đúng.”

Hôm sau, người nữ cán bộ quản giáo dẫn anh em đi làm, cũng vào buổi trưa trong giờ giải lao, cô ta lôi trong túi ra mảnh báo tiếng Pháp và kêu anh nào biết đọc, đọc nghe xem. Một anh đón mảnh báo, vừa đọc vừa dịch ra tiếng Việt cho tên nữ cán bộ nghe. Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Người nữ cán bộ này không ngờ đám “sĩ quan ngụy” giỏi thế! Vậy mà trước đây cô thường nghe nói “Bọn ngụy quân, ngụy quyền miền Nam toàn là lũ thất học, chúng nó chẳng biết chữ nghĩa gì cả.” Nay thì sự thật đã được phơi bày trước mặt nên từ chỗ khắt khe với anh em tù, cô đã phần nào có thiện cảm, nể nang và đối xử với anh em tù dễ dãi hơn trước.

Chính nhờ sự dễ dãi này mà một hôm có một người phụ nữ đi làm ruộng ngang chỗ anh em tù, chị đã hỏi một người trong Đội : “Nghe nói các anh trong Nam có mang theo thuốc chữa bệnh hay lắm, tôi có đứa con gái bị cái ung nhọt lở loét mấy tháng nay đau đớn lắm, uống thuốc của Liên Xô, của Trung Quốc và cả thuốc Xuyên Tâm Liên của ta mà cũng chả ăn thua gì, anh nào có thuốc cho tôi xin vài liều cho con tôi uống, tôi rất đội ơn.”

Một người trong Đội được gia đình thăm nuôi mang cho ít viên trụ sinh, anh này biết ngay, chỉ có trụ sinh mới chữa được cái ung nhọt đó nên nói với chị kia, “Ngày mai ra đây tôi cho, nhưng sợ cán bộ không chịu đâu.”
Chị nọ quả quyết, “Để tôi xin phép cán bộ, thế nào cũng được.”

Hôm sau anh mang theo hai viên trụ sinh, người phụ nữ xin phép cán bộ quản giáo, cô ta đồng ý cho nhận. Chỉ hai ngày sau khi uống trụ sinh “thuốc của ngụy” hay quá, vết thương đã đỡ rất nhiều, người mẹ lại đến hết lời cám ơn và năn nỉ xin thêm hai viên nữa cho con chị được lành. Quả nhiên, bốn viên trụ sinh đã cứu con chị, và người phụ nữ này đã thấy cái văn minh tiến bộ của miền Nam khác xa sự u minh tăm tối của Cộng Sản miền Bắc. Từ đó, người phụ nữ này loan truyền cho mọi người biết, thuốc của các ông tù miền Nam như thuốc tiên, thuốc thánh, và cũng từ đó, thỉnh thoảng người dân miền Bắc gặp tù miền Nam lại dúi cho khi thì quả chuối, khi cái bắp ngô, chả bù lại những ngày đầu bị đưa ra Bắc, anh em tù phải hứng chịu những màn ném đá của người dân mà chính họ bị bắt buộc làm để chứng tỏ sự căm phẫn của người dân miền Bắc với chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong Nam.

Câu chuyện có thật trên đây cùng với rất nhiều chuyện khác do các anh em bị tù Việt Cộng kể lại, cho thấy nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đã lầm khi muốn “cải tạo” tư tưởng Quân, Cán Chính VNCH nhưng chính họ đã bị các sĩ quan, binh lính và người của chế độ miền Nam “cải tạo” cái tư tưởng mù quáng để rồi nhiều người sáng mắt, từ bỏ Đảng, từ bỏ “Thiên đàng xã hội chủ nghĩa” để tìm cách ra khỏi Việt Nam như mọi người chúng ta đều đã thấy, cho nên xin đừng bao giờ nói “Quân, Cán Chính VNCH đi học tập cải tạo,” vì qua câu chuyện này, chúng ta đều biết ai đã cải tạo ai?

Thanh Phong

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ai Cải Tạo Ai_ Tác giả Thanh Phong

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CORONAVIRUS VÀ COVID-19_Toàn Như (chuyển ngữ)

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CORONAVIRUS VÀ COVID-19

Có nhiều sự lẫn lộn trong lúc đang có đại dịch, trong đó bao gồm cả những cái tên virus cũng như ngôn ngữ chúng ta sử dụng khi nói về căn bệnh này.

Có nhiều bản tin người ta đã sử dụng chữ “coronavirus” và “COVID-19” một cách lẫn lộn. Nhưng thực ra cái này là một phần của cái kia.

Dưới đây là những điều mà chúng ta nên biết về sự khác biệt giữa coronavirus và COVID-19, và một vài thông tin hữu ích khác:

‘Coronavirus’ thực ra liên quan đến nhiều bệnh

Cái ý niệm về coronavirus không phải là mới. Thuật ngữ này để chỉ một nhóm virus được biết đã gây ra những bệnh về đường hô hấp. Do đó mặc dù nhiều người đang nói về cái bệnh được coi như là “coronavirus”, nhưng thực ra đó không phải là tên của bệnh.

Mức độ nặng nhẹ của những bệnh do coronavirus có thể từ nhẹ – giống như cảm lạnh thông thường – tới những triệu chứng  nghiêm trọng hơn có thể phải vào bệnh viện, như những bệnh về viêm phổi. Một số thí dụ về những bệnh coronavirus trước đây là các bệnh SARS (Severe Acute Respiratory Syndrome) và MERS (Middle East Respiratory Syndrome).

COVID-19 là cái mà các nhà chuyên môn đang gọi căn bệnh đặc biệt này

Các nhà chuyên môn coi coronavirus này như là loại “coronavirus mới” (novel coronavirus), nghĩa là nó là một chủng loại mới của coronavirus mà trước đây chưa được biết đến hay chỉ hiểu biết bởi các chuyên gia. COVID-19 mới là bệnh gây ra bởi loại coronavirus mới này.

COVID-19 có thể dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe như bệnh viêm phổi hay làm hư hại các cơ quan nội tạng, và nó cũng có thể gây ra bệnh khó thở và sốt (nhiều hơn so với những triệu chứng tổng quát). Những người có nguy cơ cao với COVID-19 là những người trên 65 tuổi, hay bất cứ ai bị suy giảm hệ miễn dịch, và những ai có những bệnh kinh niên như bệnh tim, bệnh tiểu đường và bệnh phổi.

COVID-19 khởi phát và lan truyền như thế nào

Một số chủng coronavirus sống ở nơi con người, một số sống ở động vật. Trong trường hợp COVID-19, nó là loại virus truyền từ súc vật qua con người. Đó là cái mà Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) gọi đó là “một sự lan tỏa” (spillover).

“Đôi khi, một trong những con virus ở những động vật này mang cái mầm bệnh quái quỷ đó nhảy từ động vật chuyển qua người,” William Schaffner, giám đốc y khoa Sáng Hội Quốc Gia về các Bệnh Nhiễm Trùng và là giáo sư thuộc Phân Khoa Bệnh Nhiễm Trùng tại Đại Học Y Khoa Vanderbilt, đã nói như vậy trước đây với HuffPost.

COVID-19 chủ yếu truyền từ người qua người, hầu như bởi những hạt nước miếng khi có ai đó ho hay hắt xì hơi. Việc truyền bệnh có thể xảy ra khi người ta tiếp xúc gần gũi với nhau, thường thường trong khoảng sáu feet (khoảng 2m). COVID-19 cũng có thể sống trên những mặt phẳng tới vài ngày.

Những triệu chứng của COVID-19 bạn nên biết

Các chuyên gia nói rằng trong rất nhiều trường hợp COVID-19 thường là “nhẹ”. Điều này có nghĩa rằng họ sẽ cảm thấy tương tự như cảm lạnh hay cúm (rõ nhất là cảm thấy khó chịu, giống như bạn đã từng trải qua trước đây). Một số người có thể không có triệu chứng gì nhưng có thể đã bị nhiễm bệnh.

Những dấu hiệu chính là ho, sốt 100.5 độ F hay cao hơn, và khó chịu nói chung. Một số có thể bị buồn nôn hay tiêu chảy. Còn chảy nước mũi, đau cuống họng hay các triệu chứng đường hô hấp phía trên với việc sốt dưới 100 độ thường được thấy ở bệnh cảm lạnh hơn là COVID-19.

Nếu bạn nghi ngờ mình bị bệnh do COVID-19, hãy gọi bác sĩ hay liên lạc bằng một cuộc hẹn khám bệnh từ xa qua điện thoại (telehealth), việc này sẽ giúp làm giảm sự lây lan của virus. Bạn nên đi khám bệnh trực tiếp, từng cá nhân nếu bạn có những triệu chứng nghiêm trọng, như khó thở hay sốt quá cao. Đó có thể là dấu hiệu của bệnh viêm phổi (pneumonia).

Hãy tự giữ mình khỏe mạnh để phòng ngừa COVID-19

Để ngăn ngừa bị bệnh hãy áp dụng những việc sau đây. Thường xuyên rửa tay với sà bông và nước ấm trong 20 giây. (Bất cứ loại sà bông nào cũng được). Lau chùi những bề mặt ở những chỗ công cộng nơi bạn đến tiếp xúc, như những nắm cửa, mặt bàn, các khay và chỗ ngồi trên máy bay, và những nơi làm việc của bạn. Hãy ngủ cho đầy đủ và cố gắng kiềm chế sự căng thẳng (stress).

Có một vài phương cách phòng ngừa khác để kiểm soát sự lây lan của COVID-19, nhất là cho những nhóm người có nguy cơ bị bệnh cao để giúp họ được khỏe mạnh.

Nếu có thể, hãy thực hiện việc giãn cách xã hội (social distancing): Hạn chế đi ăn ở các nhà hàng, rạp chiếu phim và những nơi tụ tập đông người. Bạn hãy làm việc tại nhà nếu có thể.

Hãy mua các thiết bị cần thiết như dụng cụ sát trùng tay, nhưng đừng tích trữ tất cả các chai lọ (sát trùng) – hãy để dành những sản phẩm này cho những người dễ có nguy cơ bị bệnh. Bạn cũng nên áp dụng chỉ dẫn này cho những khẩu trang che mặt, để dành chúng cho những nhân viên y tế và những người đã bị bệnh. Và nói đến bệnh, bạn hãy ở nhà nếu đang có những triệu chứng bệnh. Bất kể là bạn bị cảm lạnh, bị cúm hay là Covid-19.

Bệnh (dịch) đã đến đây rồi, do đó chúng ta không thể ngăn nó được nữa. Nhưng những bước tiếp theo chúng ta cần làm bây giờ là làm giảm thiểu sự lây lan của nó. Hãy làm một người tốt – không chỉ cho chính bạn, mà còn cho người khác.

(Toàn Như lược dịch theo Yahoo.com)

THE DIFFERENCE BETWEEN CORONAVIRUS AND COVID-19

A lot can be confusing during a pandemic, including the virus names and the language we use to talk about the disease itself.

Many media reports and people have used “coronavirus” and “COVID-19″ interchangeably. But one is actually a subset of the other.

Here’s what you should know about the difference between coronavirus and COVID-19, and some other useful information:

‘Coronavirus’ actually refers to a handful of diseases

The concept of coronavirus isn’t new. The term refers to a group of viruses that are known to cause respiratory issues. So even though many are referring to the illness circling around right now as “coronavirus,” that’s not actually the name of the disease. (As Teen Vogue perfectly described it, “this is, technically speaking, like using the term ‘dog’ to describe a pitbull.”)

The severity of coronaviruses can range from being mild ― like the common cold ― to more serious symptoms that can lead to hospitalization, like lung problems. Some examples of previous coronaviruses include Severe Acute Respiratory Syndrome (SARS) and Middle East Respiratory Syndrome (MERS).

COVID-19 is what experts are calling this particular disease

Experts refer to this coronavirus as the “novel coronavirus,” meaning it’s a new type of coronavirus that was not previously known or understood by health experts. COVID-19 is the illness caused by the novel coronavirus.

COVID-19 can lead to major health problems like pneumonia and organ failure, and it can also cause issues like shortness of breath and fever (more on general symptoms in a moment). People who are at the highest risk for severe complications from COVID-19 are those who are over 65, anyone who may be immunocompromised, and those with chronic medical conditions like heart disease, diabetes and lung disease.

How COVID-19 started and spread

Some coronavirus strains live in humans, and some live in animals. In the case of COVID-19, the virus was passed from an animal to a human. This is what the World Health Organization calls “a spillover event.”

“Every once in a while, one of these animal viruses gets rogue and jumps species from the animal species to the human,” William Schaffner, medical director of the National Foundation for Infectious Diseases and a professor in the Division of Infectious Diseases at Vanderbilt University Medical Center, previously told HuffPost.

COVID-19 is mainly spread person to person, likely through respiratory droplets when someone coughs or sneezes. Transmission can happen when people are in close contact with one another, usually up to about six feet. COVID-19 can also live on surfaces up to a few days.

The symptoms of COVID-19 you should know

Experts say many COVID-19 cases will be “mild.” This means they’ll feel similar to the cold or the flu (which, to be clear, is still unpleasant, but means it’s likely you’ll have experienced something like it before). Some people may not have any symptoms at all but could still be infected.

The main signs are a cough, a fever of 100.5 or higher, and general malaise. Some may also experience nausea or diarrhea. A runny nose, sore throat or upper respiratory symptoms with a fever less than 100 are more often seen in colds than COVID-19.

If you suspect you’re sick with COVID-19, call your doctor or get in touch through a telehealth appointment, which helps to reduce the spread of the virus. You should seek immediate, in-person care if you’re experiencing severe symptoms, like shortness of breath or an extremely high fever. That could be a sign of pneumonia.

Keep yourself healthy to prevent COVID-19

Everything you’d normally do to prevent getting sick applies here as well. Wash your hands regularly for more than 20 seconds using soap and warm water. (The type of soap you use doesn’t matter!) Wipe down any public surfaces you may come in contact with, like doorknobs, tables, plane seats and trays, and your workstation. Get enough sleep and try to control your stress.

There are a few other preventative measures needed to control the spread of COVID-19, especially so people in high-risk groups stay healthy.

If you can, practice social distancing: Limit how often you go out to restaurants, the movies and other large gathering spaces. Work from home if you’re able to do so.

Buy supplies like hand sanitizer, but don’t hoard every bottle ― leave some products for those who have a bigger chance of getting sick. You should also apply this guidance to face masks, which need to be saved for health care workers and those who are already sick. And speaking of being sick, stay home if you are displaying any symptoms. It doesn’t matter if it’s the cold, the flu or COVID-19.

The disease is already here, so we can’t necessarily prevent it. But the steps we take now can help minimize the spread of it. Be a good human ― not only for yourself, but for others. (Source: yahoo.com)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CORONAVIRUS VÀ COVID-19_Toàn Như (chuyển ngữ)

Một bản nhạc hay đầu tuần

Mời các bạn nghe nhạc để quên đi con covid-19

Lỗi
Video không tồn tại
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Một bản nhạc hay đầu tuần

Tâm Thư của K1 Lê Văn Thuận

Hai tháng trước khi hay tin bạn Thuận bị đột quỵ, CNN đã gởi thông báo lên CNN. Hôm nay được tin bạn Thuận đã qua những giây phút hiễm nguy. Dưới đây là tâm thư của bạn LVT.

Cùng quý bạn thân.
Hơn hai tháng qua, tôi bị đột quỵ tim, phải  đưa đi cấp cứu và mổ tim gấp. Ca mổ khá nguy hiểm. Mổ hở, đưa tim ra ngoài, lấy gân từ háng xuống bàn chân để nối 5 ống và thông một ống, sau 5 giờ giải phẩu đưa tim vào nối lại. Sau 10 giờ mới tỉnh. Vì tuổi già, sức yếu nên hồi phục hơi chậm. Hôm nay tôi đã đỡ nhiều tuy  còn yếu, đang tập đi bộ trong nhà. Ngồi ráng gỏ ít chữ tin cho quí bạn hay.

Thân chúc quí bạn cùng gia đình an vui .   THUẬN

thuan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Thư của K1 Lê Văn Thuận

Biệt Đội Thiên Nga và những chiến công thầm lặng_Nguoi Viet Online

Biệt Đội Thiên Nga và những chiến công thầm lặng trong cuộc chiến Việt Nam

Văn Lan/Người Việt

ANAHEIM, California (NV) – Biệt Đội Thiên Nga gồm khoảng 30 người thuộc “phái yếu” rất trẻ đẹp, ai cũng học giỏi và thông minh, tất cả mọi người đều có một tên chung là Thiên Nga, với công tác đặc biệt là bí mật xâm nhập vào hàng ngũ hạ tầng cơ sở Cộng Sản để thu thập tin tức.

Năm 1964, bà Nguyễn Thanh Thủy đang theo học Khoa Dược tại Đại Học Sài Gòn phải bỏ ngang vì sức khỏe, sau đó theo học phân khoa Chánh Trị Kinh Doanh và Sư Phạm, Viện Đại Học Đà Lạt. Tuy rất tiếc không khí và môn học đã chọn tại đây, bà phải bỏ học lần nữa vì bị bệnh gout chịu không nổi xứ lạnh, phải trở về Sài Gòn.

Sau khi thi đậu vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, phải qua cuộc tuyển lựa về nhân dạng, chiều cao, gương mặt, phải đúng tiêu chuẩn. Trong những người thi đậu, cả 18 cô biên tập viên đều về Khối Đặc Biệt, với điều kiện bắt buộc là phải độc thân ít nhất hai năm từ khi vào làm việc.

“Có một số các Thiên Nga được đi ra ngoài xã hội làm việc, với danh nghĩa như vậy dễ tiếp cận các đối tượng hơn, riêng tôi về Phòng Nghiên Cứu thuộc Khối Đặc Biệt, lý do vì chân tôi yếu, đi đứng dễ bị nhận diện. Trong Phòng Nghiên Cứu, tôi có bổn phận mỗi tháng phải nhận những chứng minh thư của tình báo viên để xác nhận lại, nhìn coi thật hay giả hoặc đọc lại những hồ sơ cũ không còn sử dụng nữa, nhận xét có đúng hay không. Đó là cách tập cho người biên tập viên có cái nhìn bao quát và nhận định chính xác từng chi tiết, không bỏ sót,” bà Thủy nói.

Bà Thủy kể, từ trận Mậu Thân 1968 cho đến những năm về sau, chiến tranh trở nên khốc liệt. Trong khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang ngày đêm chiến đấu ngoài mặt trận, thì bên trong nội thành Sài Gòn Gia Định nổi lên những phong trào xã hội như Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Hội Quả Phụ Tử Sĩ Việt Nam, Hội Phụ Nữ Việt Nam, Hội Nữ Phật Tử Long Hoa, Nghiệp Đoàn Bạn Hàng Các Chợ, Đoàn Thanh Sinh Công, Nhóm Công Giáo Thân Cộng của Linh Mục Chân Tính và Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan, Nhóm Phật tử Ần Quang, Hội Ni Giới Khất Sĩ, phong trào sinh viên học sinh tại các trường đại học và trung học Sài Gòn.

Những phong trào xã hội lúc bấy giờ đều do Việt Cộng giật dây, biểu tình chống đối chính phủ, gây rối đời sống người dân, gây bất an cho xã hội khiến một số người bất mãn, gia nhập thêm vào các lực lượng chống đối này.

Sinh viên Nguyễn Thanh Thủy, khoa Chánh Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạt, được giải “Hoa Hậu Cô Dâu” năm 1967. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

Thiên Nga Nguyễn Thị Bê trong vai ký giả Bạch Tuyết

Người Sài Gòn Gia Định lúc bấy giờ ai cũng biết phong trào “Phụ Nữ Đòi Quyền Sống” nổi lên gây xáo trộn rất nhiều trong xã hội do bà Ngô Bá Thành nhũ danh Phạm Thị Thanh Vân chủ trương. Bà Ngô Bá Thành từng tốt nghiệp tiến sĩ luật khoa tại Pháp, trở về nước bắt đầu có những hoạt động gây rối chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1970 đến 1975.

Tháng Tám, 1970, trong lễ ra mắt tại chùa Ấn Quang, bà Ngô Bá Thành với danh xưng “chủ tịch Ủy Ban Phụ Nữ Đòi Quyền Sống” đã kêu gọi phụ nữ Việt đòi quyền sống cho chồng, con em và của chính họ. Sau đó phong trào này mở rộng thành phong trào “Bảo Vệ Nhân Phẩm và Quyền Lợi Phụ Nữ,” lôi kéo rất nhiều sinh viên và chị em phụ nữ xuống đường biểu tình chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Những người hưởng ứng phong trào của bà Ngô Bá Thành luôn tự xưng thuộc “Thành Phần Thứ Ba” nghĩa là không theo Cộng Sản, cũng không theo chính quyền quốc gia tại miền Nam Việt Nam. Họ luôn hướng các cuộc biểu tình tranh đấu tới việc đòi xóa bỏ chính thể Việt Nam Cộng Hòa để lập một chính phủ khác có tự do, dân chủ và nhân quyền hơn. Tuyệt đối các phong trào này không bao giờ tố cáo tội ác của Việt Cộng.

Người của bà Ngô Bá Thành đi vào các xóm lao động, khu dân cư nghèo để phát truyền đơn, phổ biến tài liệu, sách báo do bà Thành soạn thảo in ra với nội dung lên án chính quyền Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có những ngược đãi can phạm trong nhà tù, chế độ giam giữ người tàn nhẫn, vi phạm nhân quyền…

Vào thời điểm đó, những cuộc biểu tình công khai trên đường phố, đô thành Sài Gòn Gia Định như một bãi chiến trường, thường xuyên có những cuộc biểu tình của sinh viên học sinh phản chiến chống chiến tranh, kêu gọi không đi Quân Sự Học Đường, rồi nào là giới báo chí đi “ăn mày,” rồi phong trào Phật Giáo xuống đường do Ni Sư Huỳnh Liên tổ chức.

Những cuộc biểu tình tổ chức công khai ở nhiều địa điểm khắp nơi trong thành phố, nhiều nhất là tập trung trên đường Cường Để, quận Nhất, Sài Gòn, nơi tập trung nhiều trường đại học như Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc và tại Đại Học Luật Khoa, Đại Học Khoa Học Sài Gòn, cùng những cơ sở tôn giáo khác.

Để tiếp cận và theo dõi phong trào do bà Ngô Bá Thành chủ trương, thực chất là do Cộng Sản núp bên trong giật dây điều khiển, Biệt Đội Thiên Nga đã cài rất nhiều nhân viên của mình xâm nhập vào các phong trào này, và người của Thiên Nga đã từng được các phong trào này chọn để giữ nhiều nhiệm vụ then chốt.

Đám cưới ông Lê Thành Long và bà Nguyễn Thanh Thủy tại Sài Gòn năm 1967. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

Riêng nữ ký giả Bạch Tuyết, thường có nhiều cuộc phỏng vấn bà Ngô Bá Thành (lúc đó là “chủ tịch Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống”), luôn bên cạnh bà Thành để phổ biến tin tức hoạt động của phong trào cho báo giới, nên tin tức lúc nào cũng chính xác.

Với sự tin tưởng tuyệt đối, nữ ký giả Bạch Tuyết luôn đồng hành và là cái loa phát thanh về mọi hoạt động của bà Thành, thậm chí bà được giao đánh máy những tài liệu quan trọng của các phong trào xã hội.

Sau thời gian thử thách, Thiên Nga Nguyễn Thị Bê được tin tưởng vì làm việc cẩn mật nên được cấp thẻ ký giả chính thức, từ đó nữ ký giả Bạch Tuyết có thể xâm nhập bất cứ nơi nào có phong trào tranh đấu chống chính phủ, có thể kết nối nhiều móc xích khác, thực hiện nhiều công tác nữa cho Biệt Đội.

Một số phong trào của Việt Cộng mà ký giả Bạch Tuyết đã xâm nhập vào được như Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn do sinh viên y khoa Huỳnh Tấn Mẫm làm chủ tịch; Hội Sinh Viên Đại Học Vạn Hạnh do sinh viên Võ Như Lanh thân Cộng làm chủ tịch; Tổng Hội Trung Học Sài Gòn do Lê Văn Nuôi làm chủ tịch; Tịnh Xá Ngọc Phương ở Gò Vấp của Ni Sư Huỳnh Liên; chùa Ấn Quang ở đường Sư Vạn Hạnh, nhờ đó mà chính quyền Sài Gòn đã bẻ gãy nhiều âm mưu phá hoại của Việt Cộng dưới chiêu bài các phong trào dân chúng chống chính phủ.

Thiên Nga “Tư Hương” với chức vụ của Việt Cộng

Ngày càng có nhiều cuộc biểu tình chống chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ngay tại thủ đô Sài Gòn, do Ni Sư Huỳnh Liên xách động và nhóm Phật Giáo Ấn Quang cầm đầu. Biệt Đội Thiên Nga đã gài được người nằm trong hai tổ chức tôn giáo này.

Bà Tư Hương, một nữ can phạm chính trị bị Cảnh Sát bắt giam, là cán bộ đặc công Việt Cộng nhưng không đủ gan dạ đặt chất nổ một cao ốc có người Mỹ cư ngụ trên đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn nên bà bị hạ tầng công tác xuống làm “binh vận.”

Sau này khi bà Tư Hương đồng ý hợp tác với phía Việt Nam Cộng Hòa với một điều kiện là chỉ làm việc với nữ nhân viên, chứ không làm việc với nam giới. Theo yêu cầu này, bà được điều động về Biệt Đội Thiên Nga, và đã báo cáo nhiều tin tức giá trị giúp Việt Nam Cộng Hòa phá vỡ nhiều hoạt động của Việt Cộng.

Với chức vụ  huyện đội trưởng huyện Gò Môn của Việt Cộng, Thiên Nga Tư Hương được triệu tập về họp tại mật khu Hố Bò, Củ Chi. Lần họp đó có rất nhiều huyện ủy ở nơi khác cùng về dự để nhận chỉ thị công tác cấp trên giao, Biệt Đội Thiên Nga được đề nghị gắn một máy phát tuyến trong đôi guốc gỗ của bà Tư Hương, để máy bay của Việt Nam Cộng Hòa có thể nhận được tín hiệu phát ra trong từng bước đi của bà, biết chính xác vị trí nơi họp mật mà thả bom tiêu diệt tất cả những người dự họp. Nhưng kế hoạch ấy rất nguy hiểm, ảnh hưởng đến người của Việt Nam Cộng Hòa nên không được thực hiện và bà đã báo cáo đầy đủ về nghị quyết ban hành cho các huyện ủy kỳ họp đó, gởi về Biệt Đội.

Thiên Nga Hà Thị Nhã với công tác Hải Âu

Thiên Nga Hà Thị Nhã sau khi đã xâm nhập được vào Hội Phụ Nữ Việt Nam và khối Phật Giáo Ấn Quang, Tịnh Xá Ngọc Phương của Ni Sư Huỳnh Liên, sau những ngày cùng tham gia biểu tình tuyệt thực trên đường phố, nếm mùi lựu đạn cay, dùi cui, cùng bị bắt bớ nên bà Nhã được tin cậy.

Bà được giao cho việc chở người già đi biểu tình, nhờ vậy bà đã bí mật chụp hình các nhân vật chủ chốt xách động, biết được địa điểm giờ giấc hoạt động của các nhóm này, giúp phá tan những âm mưu do Việt Cộng núp đằng sau giật dây.

Thiên Nga Hà Thị Nhã được móc nối vào Mật Khu Hố Bò, sau khi cân nhắc và đánh giá khả năng của bà, Biệt Đội quyết định thêm một bước công tác cho bà, tiếp tục đi sâu vào mật khu.

“Lúc vô mật khu học khóa hoạt động giao liên nội thành do Việt Cộng huấn luyện, chị Nhã cho biết Việt Cộng có đề cập đến và cảnh giác các khóa sinh về một tổ chức tình báo Sài Gòn đang hoạt động toàn nữ giới, đứng đầu là một phụ nữ trẻ đẹp có tài, có học và thông minh. Việt Cộng vẫn chưa biết rõ được danh tánh tổ chức tình báo ấy cũng như các nhân viên đang hoạt động. Tuy nhiên chúng xác định đây là một tổ chức tình báo rất nguy hiểm mà mọi người phải đề cao cảnh giác về mọi hoạt động của đội tình báo này để tránh lộ công tác và bị họ theo dõi,” bà Nguyễn Thanh Thủy kể.

Bà Nguyễn Thanh Thủy tại Đại Hội Kỳ 3 Hội Cựu Nữ Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Washington năm 2004. Bên phải là Thiếu Tá Liêm hát bài “Vinh Danh Biệt Đội Thiên Nga” do ông sáng tác. (Hình chụp lại: Văn Lan/Người Việt)

Sau khóa học tình báo ở mật khu, Thiên Nga Hồ Thị Nhã được tin cậy giao nhiệm vụ đưa đón cán bộ Việt Cộng từ mật khu về hoạt động nội thành, được tiếp cận với nhóm thân cộng của hai Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan và Linh Mục Chân Tín, chuyên in ấn các sách báo chống đối dựa theo bài viết do Việt Cộng cung cấp, chống sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam, đòi trả tự do tù chính trị, đặc biệt là tù Côn Đảo. Ngoài ra bà còn cung cấp nhiều tin tức về cách thức hoạt động nội tuyến của phe phá hoại do nhóm Linh Mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan cầm đầu trong các hoạt động phản chiến của sinh viên, cung cấp thuốc men quần áo cho can phạm chính trị.

Thiên Nga Diệu Ngôn với công tác Hoàng Yến

Khi đã xâm nhập được vào hoạt động xã hội của bà Ngô Bá Thành, Thiên Nga Diệu Ngôn được làm việc với bà Nguyễn Thị Mạnh Quỳnh (Bôn Quỳnh), là vợ của một đại úy quân y Việt Nam Cộng Hòa, bà Quỳnh mượn uy tín của chồng chuyên đi phát thuốc trong những xóm lao động nghèo, nên ghi nhận được hết những cơ sở bà Quỳnh đã tiếp xúc, thực chất đó là những cơ sở Việt Cộng trong nội thành.

Sau đó bà Quỳnh thấy bị động nên giao cho Thiên Nga Diệu Ngôn thay mình trong những công tác xã hội nên chị Diệu Ngôn biết sâu thêm nhiều cơ sở của Việt Cộng, giúp phá vỡ nhiều ổ hoạt động nội thành. (Văn Lan)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Biệt Đội Thiên Nga và những chiến công thầm lặng_Nguoi Viet Online

ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG TRONG THI VĂN VIỆT NAM _ Cóc Khô Sưu tầm

Kính gởi quý lão Cóc tham khảo tài liệu sưu tầm về Thơ Đường Luật của anh Duy Văn (Hà Đình Huy ) Hội Trưởng Hội Cựu SVSQ Học Viện CSQG Bắc Cali cũng là một nhà báo và là một văn nghệ sĩ ở San Jose.

Đọc chơi vui qua ba ngày cấm túc tại gia.
Have a nice day
Cóc Khô

ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG TRONG THI VĂN VIỆT NAM

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG TRONG THI VĂN VIỆT NAM _ Cóc Khô Sưu tầm

Tâm Thư của Tổng Hội CSQG VNCH

TH

Tong Hội

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tâm Thư của Tổng Hội CSQG VNCH