Các Danh Mục

Thư của người em gái ở VN gởi cho Anh ở hải ngoại
“gánh gánh, gánh, gánh thóc về gánh về gánh về” (*)
Người Việt dẫu sao cũng dễ thích nghi với mọi hoàn cảnh. Em thương nhất, đau lòng nhất khi nhìn vào đôi mắt buồn vời vợi của những người thiểu số khi họ bị bứt khỏi núi rừng.
Còn đâu nữa: “Phố chiều bao tà áo trắng,
Em thích nhất là được ngắm nhìn những rặng núi xanh thẳm buồn buồn, được nghe tiếng những hàng cây rủ rỉ trong gió chiều tịch mịch.
Em gái
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư của người em gái ở VN gởi cho Anh ở hải ngoại
Hoạt động của Giám Đốc CNN (NCV) tại VN
Trong 2 tháng vừa qua, giám đốc CNN Nguyễn Công Vinh nhân dịp về thăm thân nhân tại quê nhà, ngoài việc đi hành hương viếng các cảnh Chùa và thắng tích, đã còn thực hiện nhiều công tác từ thiện tại VN. Dưới đây là một vài sinh hoạt:
-
Phát quà Trung Thu cho 3 trường mầm non trên 200 trẻ em người dân tộc ở Ninh Thuận gồm sách vở, lồng đèn và bánh Trung Thu:
-
Phát quà từ thiện cho 10 người nghèo dân tộc ở Ninh Thuận:
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Hoạt động của Giám Đốc CNN (NCV) tại VN
K1 Houston/TX thăm bạn Nguyễn Tấn Vĩnh
(Tường trình của K1 Lê Văn Thao):Dưới đây là bản tường trình và hình ảnh trích từ Fb của bạn Lê văn Thao (K1), hiện là Hội Trưởng Hội CSQG Houston/TX:

Ngày 06/09/19 chúng tôi cùng anh chị Lý Hoài Ân có đến thăm K1 Nguyễn Tấn Vĩnh ở nursing home, Houston. Anh bị stroked sau khi vợ anh qua đời. Anh không đi được phải ngồi xe lăn, tay chân yếu rất khó cầm muỗng tự ăn uống, cũng may tinh thần anh còn minh mẫn, nhớ nhiều bạn bè nhất là vợ chồng anh Lý Hoài Ân vì nhà ở gần nên thường đến thăm. Thấy hoàn cảnh anh thật tội nghiệp, cầu xin Thượng Đế cho anh mau mạnh.
(Ghi chú thêm của CNN: Nguyễn Tấn Vĩnh là cựu SVSQ K1, người đã vẽ huy hiệu (logo) Học Viện CSQG)



Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Houston/TX thăm bạn Nguyễn Tấn Vĩnh
Thư gởi TT Trump của Cụ Bà VN 101 tuổi
(baotgm.net): Dallas, TX.- Trưa Thứ Năm, ngày 29 tháng 08, nhân dịp ghé thăm Chị Trần Thị Bích Liên, một sự kiện bất ngờ xảy ra làm cho chúng tôi vô cùng ngạc nhiên. Thân mẫu của chị là Cụ bà Phan Thị Mới đã gởi thơ đến Tòa Bạch Ốc ủng hộ Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump.
Chúng tôi xin đăng nội dung lá thư bằng tiếng Anh, có thể lược dịch như sau:
“Tôi tên là Mới Thị Phan, sinh ngày 02 tháng 12 năm 1917 tại Việt Nam. Bây giờ tôi đã một trăm lẻ một tuổi (101). Tôi đã đến Hoa Kỳ theo chương trình đoàn tụ với người con trai của tôi. Tôi đã nhập quốc tịch Hoa Kỳ năm 2003. Tôi không thuộc một đảng phái nào nhưng tôi tin tưởng những gì Tổng Thống đã làm cho nước Mỹ và người dân Mỹ.
Tôi thấy và tin rằng những gì Tổng Thống đã làm là tình yêu nước Mỹ và là những điều chính đáng. Tôi ủng hộ Tổng Thống hết mình – 100%. Tôi mong ước ông sẽ thành công và trở thành Tổng Thống của chúng tôi một lần nữa cho nhiệm kỳ tiếp theo.
Nước Mỹ cần Tổng Thống. Người dân Mỹ trong đó có tôi cần ông! Vì Tổng Thống, tôi sẽ ghi danh là thành viên Đảng Cộng Hòa và bỏ phiếu cho Tổng Thống trong lần tranh cử tiếp theo. Cám ơn Tổng Thống tất cả những gì ông đã thực hiện cho nước Mỹ. Xin tiếp tục làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại!
Ghi chú: Lá thơ này được dịch từ lời của tôi do một thành viên trong gia đình dịch.. Tôi không nói tiếng Mỹ và viết tiếng Mỹ được.
Cụ bà Phan Thị Mới đã ngoài trăm tuổi nhưng vẫn còn rất minh mẫn. Bà được đào tạo căn bản về võ thuật, tinh thần khẳng khái mà tục ngữ, ca dao vẫn thường nhắc đến:
Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định múa roi đi quyền…
Bà rất nể phục Tổng Thống Trump, ông đã hứa với cử tri như thế nào, khi trở thành Tổng Thống, ông đã cố gắng thực hiện cho bằng được, dù ông bị đánh từ trong ra ngoài như lời hứa dời Tòa Đại Sứ tại Do Thái; lời hứa dựng bức tường biên giới… Ông không phải là một vị “Tổng Thống hứa” mà ông là một “Tổng Thống làm”. Ủng hộ “ông Trump” là yêu nước Mỹ, trả ơn mà nước Mỹ đã cưu mang bà, con cháu bà.
Bà kết luận! Bà kêu gọi đồng hương Bình Định hãy bầu phiếu cho ông Trump. Và cầu mong cho ông được tái đắc thêm một nhiệm kỳ nữa, năm 2020.
Kim Dinh
(Người chuyển tin: TRẦN QUỐC NẠI)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Thư gởi TT Trump của Cụ Bà VN 101 tuổi
Nắng Chiều_Phạm Xuân Nhạc (đơn ca)
Mời xem phần đơn ca do bạn Phạm Xuân Nhạc aka Phạm Bá Nhạc (K1) hát trong Ngày Hội Ngộ K1 tại Little Saigon tháng 5-2019:
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nắng Chiều_Phạm Xuân Nhạc (đơn ca)
Huế Đẹp và Thơ_Cẩm Y & Con gái (YouTube)
Xem lại đoạn video clip màn hợp ca Huế Đẹp và Thơ do Cẩm Y (K1) và con gái hát trong ngày Hội Ngộ K1 tại Little Saigon tháng 5-2019:
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Huế Đẹp và Thơ_Cẩm Y & Con gái (YouTube)
K1 Bắc Cali thăm Kiêm Chi
(Tường trình của K1 Đinh Văn Hạp từ San Jose/Bắc CA): Chiều nay thứ bảy 7/9/2019, lúc 2pm, một số anh chị K1/Bắc CA đã đi thăm k1/Kiêm Chi đang nằm điều trị tại Nursing Home Sunnyvale,CA. Tình trạng sức khỏe Kiêm Chi hôm nay khá hơn lần thăm trước ! tỉnh táo hơn, nhận biết được mọi người! nhưng vẫn chưa nói được…tay trái cử động chút đỉnh… Anh chị Thanh mang tặng hoa lan, hỏi KC thích màu đậm hay lạt…chỉ dấu cho biết thích màu đậm…! Kiêm Chi xúc động….khi bạn bè ra về lúc 4pm. Xin các bạn ta các nơi cầu nguyên cho Kiêm Chi….!
Một số hình ảnh ghi lại trong chuyến đi thăm:
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Bắc Cali thăm Kiêm Chi
Một Tù Nhân Sờ Mu Rùa_letamanh
(Để tưởng nhớ một bạn tù đã ra đi) – letamanh
Những năm gần đây, báo chí trong và ngoài nước thường xuyên đề cập đến hiện tượng, mà, theo “Biện Chứng Pháp” của Mac-Lenin, thì không bao giờ có thể xảy ra trong “thế giới Cộng Sản” được! Trong một chế độ theo chủ nghĩa “vô thần”, lúc mới nổi lên đã chủ trương phá chùa, đập miếu, nhà thờ biến thành nơi chứa lương thực…! Người Cộng Sản không tin có Phật, Chúa, Thần thánh gì cả suốt một thời gian dài mấy mươi năm… Cho đến một ngày, chính những “đảng viên” quỳ gối cúng bái, đốt vàng mã, tin phong thủy, sùng bái những phù thủy gọi là “nhà ngoại cảm”; thì người ta mới chợt hiểu ra!
Tôi còn nhớ kỷ niệm lúc còn ở tù trong các trại tập trung từ Nam ra Bắc Việt Nam. Kỷ niệm về một “Tù Nhân Sờ Mu Rùa” rất ư là lợi hại đã cùng với tôi “rong chơi” từ hết trại tù nầy đến trại tù khác với hàng bao nhiêu chuyện về “tử vi, tướng số”. Ông bạn già “Thầy Bói” của tôi, vì say mê “bốc quẻ, chấm lá số” mà phải bị cùm, bị truất phần ăn… Nhưng cũng từ trong nơi cùm gông đó, anh ta cũng có thời được cưng chiều, ăn no để “nói dốc”!
Anh lớn hơn tôi chừng năm sáu tuổi, người to con, không cao lắm nhưng bệ vệ. Lúc sau nầy không có đủ thức ăn nuôi cơ thể, có lúc anh ốm như bộ xương biết đi, hai mắt lồi ra, mỗi lần xin được bi thuốc lào, rít lên một hơi là ngã bổ xuống sàn giãy đành đạch… Xuất thân là một SQ Phòng 7 Đơn vị 101, làm việc tại Bộ TTM, ăn nói lưu loát, miệng “có quai có xách”! Tên cúng cơm là Đoàn Thế Lộc.
Anh nổi tiếng ngay những ngày đầu vào tù. Chúng tôi thường xuyên bu chung quanh anh, chờ cả giờ đồng hồ để xin anh nói cho một vài điều. Có lúc năn nỉ anh xem hộ tử vi sao hạn của chính mình rồi đến vợ con ở bên ngoài ra sao. Thù lao cho anh là những điếu thuốc lúc còn trong Nam, những bi thuốc lào hay là một vài cục đường, một vài khúc khoai mì lúc đã ở Bắc Kỳ – Hoàng Liên Sơn – Lào Cay – Yên Bái – Vĩnh Phú…
Đoàn Thế Lộc “quảng cáo” cho mình rằng: Hồi còn “huy hoàng”, anh ta thường xuyên xem tử vi cho các ông bà Tướng Tá trong Bộ TTM. Nghề xem tử vi của anh không biết ra sao, nhưng ăn nói rất lưu loát, đâu ra đó, hấp dẫn, tạo niềm tin cho người đối diện. Dĩ nhiên là lúc còn trong tù, anh nói quá khứ cho từng “tù nhân” đều nghe rất…hay, rất đúng. Nhưng về tương lai thì ai mà biết được!
Chúng tôi ở với nhau trong Nam cho đến năm 1977, lúc đó là mùa hè tại trại tù Long Giao. Anh Lộc và tôi ăn cơm chung, ngủ cạnh sát nhau. Hôm đó nhằm vào rằm tháng Năm, tôi không nhớ ngày Dương Lịch. Anh vừa ăn trưa với tôi vừa nói:
– Ba hôm nữa là mình huy hoàng!
Tôi ngạc nhiên nhìn anh nói vặn:
– Đừng nói là được thả về gặp vợ con, rồi Mỹ nó đưa máy bay rước tụi mình như anh từng nói nha!
Anh từ tốn cười, cầm khúc củ mì đưa vào miệng, vừa nhai vừa nói:
– Còn hơn việc thả về nữa, tụi mình sẽ xuống tàu ra khơi.
– Vừa thôi cha! Tỉnh lại đi, anh lấy đâu ra cái tin trời đánh đó?
– Tao bấm tử vi của tao và của mầy, hai số cùng có “mã khốc khách” và tương hội trong ba ngày nữa. Tao thấy mình được xe đưa đến NewPort (Tân Cảng), sau đó xuống tàu.
– Rồi sao? Chúng đưa cho Hà Bá nhai phải không?
– Tao nghĩ chúng sẽ đưa tụi mình ra Hạm Đội 7 để trao đổi!
Tôi trợn mắt nạt anh:
– Thôi đi! Đừng có mơ, anh bị bệnh hoang tưởng rồi.
Anh cười phân bua:
– Không tin thì ba ngày nữa mày sẽ thấy, chừng đó phải lạy tao mới nói tiếp!
Mà quả thật, buổi sáng ngày thứ ba như anh nói, chúng tôi có lệnh ở nhà chờ, không đi “lao động” bên ngoài. Lúc 7:30 sáng, bốn xe sơn màu xanh bịt bùng chạy vào đậu ở sân tập họp. Sau đó là lệnh tập trung ngoài sân nghe lệnh. Lần nầy là Cán Bộ thứ dữ “lên lớp”. Sau một hồi nói về chính sách khoan hồng và nhân đạo của Đảng, ông ta ra lệnh mọi người đem hết đồ đạc cá nhân ra sắp hàng chờ “Tổng vệ sinh”!
Thì ra mấy xe bịt bùng đó là những xe hấp hơi. Tất cả áo quần và chăn mền từng cá nhân dược cho vào cốp xe. Tiếng máy nổ, tiếng hơi xì khè khè, tiếng thì thầm bàn tán…! Lúc chờ đến phiên mình, anh Lộc khều tôi và mấy bạn ngồi gần nói nhỏ:
– Hôm nay tổng vệ sinh để chuyển chúng mình đi – Hãy vui lên, tốt!
Tôi nhớ ba hôm trước anh đã nói câu nầy nên bán tín bán nghi. Nhưng tôi vẫn phản đối ý nghĩ hoang tưởng của anh:
– Thôi cha nội, đừng có tuyên truyền. Lo giữ sức khỏe mà chống với thời gian tù đi.
Sở dĩ tôi không tin lời anh ta vì trước đó mấy tháng, trong giờ “học tập”, một Bộ Đội nói với chúng tôi: “Các anh cứ tin lời tôi nói, chừng nào nhà nước gọi tên các anh để thả về mà các anh không thấy vui mừng nữa; đó mới đúng thời gian “học tập” tốt!”. Ở tù đến khi không còn cảm thấy vui khi được tư do, có nghĩa là con người của ta thành chai đá, thành vô cảm rồi. Như vậy còn gì hy vọng được về …
Nhưng sau cơm chiều, mọi việc lại bắt đầu “ứng” với “quẻ” tử vi. Người đầu tiên được gọi xách theo “hành trang” là tôi, đến tiếp theo một vài chục người nữa mới đến tên anh Lộc. Tất cả xếp hàng, cứ ba chục mạng, ngồi sau một chiếc xe Motolova màu xanh lá cây. Anh Lộc cố lết đến gần bên tôi cao giọng:
– Mầy thấy chưa! Tao nói như thần mà! Tí nữa mình sẽ ra Tân Cảng và xuống tàu…
Tôi tiếp :
– Ra Hạm Đội 7 ăn hamburger!
Anh ta cười nham nhở:
– Nhớ qua bên Mỹ tụi mình phải ở chung với nhau để mai kia một nọ giúp đỡ nhau. Mà rồi họ sẽ đưa vợ con mình qua. Họ đã cất cư xá Sĩ Quan cho mình rồi. Nhớ phải ở gần nhau…!
Xe chở tù cũng ra đến Tân Cảng. Tất cả xuống xe tay xách nách mang lỉnh cà lỉnh kỉnh nào lon guigoz, nào đàn guitar tự chế. Có anh còn bê theo một con gà mái đẻ mập ú ù. Con gà vợ anh ta từ Bình Giả thăm nuôi. Anh nhốt nó bên giường, chia khẩu phần cho gà, gà đền ơn bằng cách đẻ trứng cho anh xơi!
Lần lượt rồi cũng xuống tàu, xuống tận đáy tàu, ngồi sắp lớp trên những rác và bụi xi măng. Ngồi sát nách nhau, không có chổ ngã lưng. Lòng tàu cao và phía trên chỉ chừa một lỗ nhỏ thông hơi. Hai giờ đầu tiên có mấy thằng ngợp thở, mùi xi măng và bụi bay chui vào mũi… Chỉ có một giây thừng từ trên cái lỗ nhỏ thòng xuống một thùng để chứa phân, nước tiểu. Cũng cái giây đó thòng xuống hàng ngày những lương khô Trung Cộng cho cái đám người mà theo như ông Thầy Bói, Nhà Ngoại Cảm Đoàn Thế Lộc là: Sắp trở thành những giá trị trao đổi với Mỹ… Đang nghẹt thở và sắp chết!
Anh ngồi bên tôi không một tiếng nói suốt từ khi thấy ánh sáng tròn của một lỗ trên trần tàu rọi xuống, Cứ sáng thì chỉ phía bên trái hông tàu, chiều thì đổi qua hông phải. Như thế có nghĩa là chúng tôi “được” chở ra Miền Bắc Xã Hội Chũ Nghĩa” để… lưu đày!
Anh Lộc bấm tử vi, biết được ngày giờ di chuyển, biết được “thiên cơ” trong muôn vàn “duyên nghiệp”. Nhưng vì quá chủ quan suy diễn theo tin thời sự dựng chuyện chuyền miệng nhau trong tù, nên anh phê phán “bản tin” tử vi theo ý mình! Tôi phục tài bấm số tử vi của anh. Có những việc anh đoán trúng phốc cho những người ngoài, nhưng bản thân anh thì không đoán được.
X X X
Ra Bắc một thời gian “treo chén” anh lại ra chiêu xem tử vi. Anh nói với tôi là bình sanh anh chỉ mê học xem tử vị vì theo anh, nó là một môn khoa học, rõ ràng, mạch lạc và… chính xác! Với tài ăn nói vui vẻ, cởi mở và hòa đồng, anh được anh em tù cùng cảnh ngộ “nuôi”; nhất là những anh thường được gia đình gởi quà, hay có người vợ thương yêu, băng tàu vượt rừng từ Nam ra Bắc thăm nuôi!
Anh xem tử vi nổi tiếng, nổi tiếng đến tai Cán Bộ Trại Giam bởi một anh tù làm Anten (Báo cáo viên) nằm bên kia dãy sàn ngủ. Anh được “mời” lên ngồi làm bản tự kiểm và sau đó bị “cùm hai chân” một tuần lễ về cái tội gieo rắc mê tín dị đoan, làm cho trại sinh không an tâm tin tưởng Đảng và Nhà Nước.
Có điều lạ là, sau một tuần lễ nằm cùm, con người anh lại khác hẳn. Anh “bị” liên tiếp, hết Trưởng Trại đến Cán Bộ Giáo Dục, Cán Bộ Quản Giáo… lần lượt “mời” xơi nước trà hút thuốc lá. Có hôm anh đi từ sáng đến tối mịt mới bò về chỗ ngủ, bê theo một xách, trong đựng chừng hai ký củ mì luộc. Anh dựng đầu chúng tôi dậy đãi củ mì và gãi bụng cười:
– Hôm nay được “chén” một bữa no!
Tôi chặn đầu:
– Anh khai ngay, từ ngày bị cùm ra đến giờ, luôn được Cán Bộ “chiếu cố”, có phải đang bán đứng anh em để được no, được về sớm phải không?
– Lại nói bậy, im cái miệng thối mày đi! Nói nhỏ cho tụi mầy nghe, đừng có học đi học lại, lỡ tụi anten nó báo cáo thì…
Chúng tôi bao quanh lấy anh, tay thì bốc củ mì, tai vểnh ra, miệng thì nhai… Anh chậm rãi:
– Tao xem tử vi cho bọn chúng!
– Trời! Thật không? Tụi nó nhốt anh, cùm anh vì cái tội xem bói toán. Mà bây giờ lại nhờ anh xem tử vi cho chúng là sao?
Anh kéo ống thuốc lào trên vách xuống, lấy cây chọc vào nõ, vê một bi thuốc… Rồi thong thả theo tiên ông… Một lúc sau, cảm thấy hết phê, anh chầm chậm “khai”:
– Hôm tao bị cùm, nằm trên sàn xi măng lạnh quá, tao nghĩ là sẽ chết vì bị lạnh lưng và đói. Mấy con gián cứ đến nhâm nhi ngón chân của tao. Vách bên kia là một ông cha đang bị cùm, hình như là Cha Song mới vừa chuyển về từ trại Cổng Trời. Cha hay hát thánh ca và đọc kinh. Hình như ông không sợ gì, kể cả bị cùm từ các trại nầy dến trại khác. Tao nằm như thế được hai hôm thì có một thằng Áo Vàng bước vào nhìn tao. Hắn có vẻ buồn, trẻ măng. Tao bèn lên tiếng: “ Chào cán bộ! Ông đang có chuyện buồn phiền gia đình. Ông mới vừa mất của!” Bò Vàng ngạc nhiên nhìn tao, đến sát bên hỏi tao: “ Sao anh biết tôi bị mất của?” Tao nói: “ Thì nếu Cán Bộ có mất thì tôi sẽ nói tiếp còn không thì thôi. Nhưng Cán Bộ tuổi con gì, sanh ngày giờ gì thì tôi mới nói đúng được!” Hắn nhìn trước ngó sau rồi kề tai nói nhỏ với tao. Tao nghĩ, trong chốn lao tù, chỗ tận cùng là nơi cùm gôm xiềng xích mà nó còn sợ có người rình nghe nữa thì hết ý.
Tôi nóng ruột thúc:
– Nói ngắn gọn thôi cha! Rồi sao?
Vẫn ra vẻ quan trọng, móc trong túi ra một cục thuốc lào to, nhìn mọi người cười:
– Hút đi! thuốc hạng nhất Hải Phòng đó! Cán Bộ Trực Trại thưởng cho tao hồi chiều! … Thằng nhãi con “thành thật khai báo” với tao là nó vừa mất chiếc xe đạp xịn mua ở dưới phố Yên Bái, đạp về đến bến phà Âu Lâu thì bị mất lúc nó dựng xe vào quán ăn tô bún riêu. Tao hỏi tuổi và ngày giờ sanh rồi nói với nó là hãy về tìm ở cách nhà nó bốn cây số về hướng Đông sẽ lấy lại được. Nó lật đật chạy đi không kịp nói gì thêm. Sau khi tao hết bị cùm, về lán thì mầy với thằng Chánh Ruồi dìu tao thê thảm, tưởng không gượng giậy được. Ai ngờ chiều hôm sau Cán Bộ Trại xuống gọi tao lên phòng làm việc. Tao tưởng lại bị cùm nữa về cái tội tuyên truyền mê tín với cán bộ nhà nước!
Nói đến đây, anh Lộc lại làm một bi thuốc lào “câu giờ”! Một đám bu quanh la lên nóng ruột:
– Hút lẹ lên, khai mau! Còn đi ngủ mai cuốc đất!
– …Cha cán bộ trại mời tao ngồi, rót nước trà đậm, rút thuốc lá mời tao chứ không phải mời thuốc lào. Tao ngạc nhiên đứng như trời trồng. Hắn ta cười mời một lần nữa. Hắn nói: “ Anh tài thật, Cán Bộ Văn đã tìm được chiếc xe đạp theo hướng anh chỉ và đã bắt được tên trộm lấy cắp chiếc xe đạp.” Tao mừng quá, nghĩ là mình “chó táp phải ruồi”, bèn đủng đỉnh ngồi xuống ra cái điều tài thánh! Thế là từ bữa đó tao liên tục được chiếu cố, hết thằng nầy đến thằng khác “lãnh” lên xem tử vi” thay vì đi cuốc đất với tụi mầy! Bây giờ thì tụi nó tin tưởng tao còn hơn cha mẹ nó…
Thằng Chánh Ruồi cười nham nhở:
– Anh Lộc! Hôm sau có gì anh bỏ vào bọc đem về cho tụi em ăn với nha! Coi bộ anh mập ra và đẹp trai…
– Mầy chỉ được cái nịnh.
Anh Lộc từ đó cho đến ngày về Nam luôn là một ông thầy bói tử vi có hạng của tù và là Thầy của bọn Bò Vàng. Nhưng khi được thả về, anh tiếp tục cái nghề “sờ mu rùa” không phải dễ. anh mướn một xe xích lô, hàng ngày đạp ra đường kiếm khách. Nếu có khách gọi là anh có “mối tử vi”! Trong lúc đạp xe, người ngồi trên xe được gợi ý về tướng số, tiếp theo là bấm quẻ. Nếu “khách” lạ khoái thì cả hai cùng dừng lại ở đâu đó để “Xem cho kỹ”. Cuối cùng thì khách “hồ hởi phấn khởi trả tiền xe lẫn tiền “thầy”!
Năm 1984, tôi từ vùng kinh tế mới Đồng Nai dẫn vợ lên Sài Gòn thăm gia đình ba má, tôi gặp anh đang khệnh khạng trên chiếc xích lô không khách ở góc dường Bà Hạt và Nguyễn Duy Dương. Mừng quá, chúng tôi vào quán uống nước nói chuyện tránh nắng trưa. Anh nhìn vợ tôi và nói: “Chị đừng để nó vượt biên một mình, không được đâu. Sẽ có ngày cả gia đình qua Mỹ bằng máy bay…!” Tôi cười nhìn anh chế diễu: “ Giống như cái tin anh nói xuống tàu ra Hạm Đội 7 năm nào chứ gì!” Anh cười: “ Thì để xem!”
Anh đã nói đúng khi chúng tôi lên máy bay qua Hoa Kỳ, không những chỉ gia đình tôi mà còn cả tập thể những gia đình là tù nhân chính trị suốt bao nhiêu năm từ Nam ra Bắc. Anh đã nói đúng nhiều việc, nhưng chính anh không thể nào bấm trúng lá số của chính anh khi anh nằm trên giường bệnh vì bệnh gan, kết quả của những năm anh hay “ăn bậy” trong trại tù.
Anh nằm xuống ở Nam California sau khi đưa hết vợ và bầy con của anh định cư trên xứ tự do. Từ ngày biết mình bị bệnh dến khi nhắm mắt, anh vẫn “sờ mu rùa” cho những thằng bạn tù thỉnh thoảng đến thăm anh trên giường bệnh, trong nhà thương hay những ngày cuối cùng ở một Apartment trên trường Flower ở Garden Grove. Một ông “thầy bói”, một “nhà ngoại cảm”, một thầy “sờ mu rùa” vốn xuất thân từ đơn vị ẩn danh 101, một tù nhân đáng nhớ đã vĩnh viễn ra đi.
letamanh
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Một Tù Nhân Sờ Mu Rùa_letamanh
K1 Phan Quang Nghiệp và … trả lời Phỏng Vấn v/v có nên gặp Nguyễn Phú Trọng ở Mỹ?_YouTube
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Phan Quang Nghiệp và … trả lời Phỏng Vấn v/v có nên gặp Nguyễn Phú Trọng ở Mỹ?_YouTube
Giám Đốc CNN về thăm Phố Cổ Hội An
Từ tháng 7-2019 vừa qua, giám đốc Căn Nhà Nhỏ CNN (NCV) từ tiểu bang Washington (USA) đã cùng gia đình trở về quê nhà thăm gia đình và luôn tiện đi viếng nhiều cảnh Chùa và thăm một số thắng tích tại VN. Đầu tháng 9 vừa qua, anh đã cùng gia đình đã đến thăm Phố Cổ Hội An. Dưới đây là một vài hình ảnh trong chuyến đi thăm này:
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Giám Đốc CNN về thăm Phố Cổ Hội An
Những giọt mồ hôi_BS Nguyễn Ý Đức
Tương truyền rằng Ðường Minh Hoàng rất say mê Dương Quý Phi vì sắc đẹp “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” của nàng. Ðặc biệt hơn cả là vì nàng tỏa ra một hương thơm qua những giọt mồ hôi từ phần thân mình kín đáo.
Theo các cung nữ, hương thơm này thường là do người đẹp thường ăn những trái lệ chi trồng ở đất Việt, mà Ðầu phu Mai Thúc Loan phải ngày đêm ngàn dậm cùng đoàn tùy tùng mang sang cống hiến. Ðó là huyền thoại bên nước Tầu khi xưa.
Bên Việt Nam ta, cũng có một ái phi triều Nguyễn với những hạt mồ hôi thơm nức. Một thi hữu kể cho hay dòng họ Trần tại làng Tây Mỗ tỉnh Hà Ðông có một thiếu nữ được tiến vô cung làm ái phi. Vị cung phi này được quân vương rất sủng ái vì tính tình hiền hậu, đoan trang và nhất là mồ hôi bà có mùi hấp dẫn. Do đó dân chúng địa phương có vần thơ ca tụng rằng:
“Họ Trần sinh một Ðức Bà,
Mồ hôi thơm ngát, trăm hoa miệng cười”.
Dân gian ta thường nói:
“Quyên quyên ăn trái nhãn lồng,
Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi”
Bên Tây cũng có câu chuyện tương tự. Đó là chuyện Ðại Tướng Napoleon Bonaparte viết cho người yêu Josephine rằng: ”Mình ơi, anh về hôm nay, xin đừng tắm nhé. Nhất là đêm nay”. Thì có lẽ tướng quân ta cảm thấy nhiều hứng tình hơn khi ngửi cái hơi từ người đẹp.
Mà cái hơi này phải chăng cũng từ những giọt mồ hôi của người yêu. Mà khi đã phải hơi nhau thì mùi đó thơm hay không, cũng chẳng quan trọng. Có người ghiền rúc vào nách nhau để hít hà cái mùi nhiều khi khó ngửi của người tình mà đôi bên đã cùng nhau xa vắng lâu ngày.Khoa học ngày nay nhìn sự đổ mồ hôi dưới góc cạnh thực tế hơn, ích lợi hơn cho sức khỏe. Vì sức khỏe là điều quan tâm lớn của mọi người, mọi sinh vật. Ðó là vai trò điều hòa thân nhiệt của sự đổ mồ hôi.
Sự Ðổ Mồ Hôi
Ðổ mồ hôi là một hiện tượng sinh học tự nhiên và lành mạnh với nhiệm vụ quan trọng là giữ nhiệt độ cơ thể bình thường. Hệ thần kinh giao cảm nằm ở mặt trong của lồng ngực điều khiển sự hoạt động của các tuyến mồ hôi. Khi thần kinh này quá nhậy cảm thì mồ hôi tiết ra nhiều.
Ðàn bà có nhiều tuyến mồ hơn đàn ông nhưng các ông lại sản xuất nhiều mồ hôi hơn quý bà vì tuyến của họ hoạt động mạnh hơn.
Ở người khỏe mạnh, mồ hôi thường toát ra khi làm việc lâu và mạnh nhất là trong môi trường không gió hoặc đi bộ giữa trưa Hè, thời tiết nóng nực. Khi nhiệt độ trong cơ thể lên quá 37º C, các mạch máu ngoại vi mở rộng, chứa nhiều máu để đẩy bớt hơi nóng trong người ra ngoài rồi lưu hành trở lại với máu mát hơn. Nếu nhiệt độ không khí tiếp tục lên cao, sự thoát nhiệt qua máu không đủ và cơ thể phải tiết ra chất lỏng để tán nhiệt. Ðó là sự đổ mồ hôi trên da. Trong một giờ, cơ thể có thể toát ra tới 1,5 lít mồ hôi. Nếu mồ hôi mất nhiều quá mà không được bù đắp thì ta có thể xỉu, bất tỉnh vì máu lưu thông tới các cơ quan giảm, nhất là hệ thần kinh.
Mồ hôi là chất nước trong không mầu, kiềm tính với 2% vật thể đặc. Bình thường, mồ hôi gồm có nước, muối sodium chloride, potassium, urea.
Ðông y coi Ðổ Mồ Hôi như một hình thức trị bệnh để loại trừ một số tác nhân độc hại xâm nhập cơ thể. Gây đổ mồ hôi là một trong ba phương thức trị bệnh cổ truyền: Gây ói, gây xổ và gây đổ mồ hôi. Cạo gió bằng dầu nóng, đánh cảm với cám rang là để ra mồ hôi, xông với lá Hương Nhu làm nhẹ vài bệnh nóng sốt. Và ngày nay người ta tắm hơi, ngồi sauna cũng cùng mục đích để toát mồ hôi. Cho người thư dãn, sảng khoái và cũng để nhẹ bớt mấy cân của tấm thân hơi bồ sứt cạp. Nhưng mồ hôi nhiều ít cũng đưa tới một vài khó chịu cho cơ thể, đôi khi bệnh hoạn.
Nhiều mồ hôi
Bình thường cơ thể tiết mồ hôi khi:
1- Thời tiết nóng nắng, thân nhiệt tăng thì mồ hôi tự nhiên đổ ra để hạ nhiệt độ cơ thể. Mỗi người có thể tiết ra tới 1,5 lít mồ hôi trong một giờ đôi khi tới 3,5 lít.
2- Vận động cơ thể, làm việc chân tay trong khí hậu nhiệt độ cao và 40% độ ẩm, ta tiết ra trung bình là ½ lít mồ hôi trong một giờ. Khi mất chất lỏng như vậy thì máu ta sẽ đặc hơn, tim sẽ phải làm cố gắng làm việc nhiều hơn để đẩy máu ra và ta cảm thấy hơi mệt.
Ðể tránh khó khăn: khi tập luyện hoặc làm việc ngoài trời, nên uống khoảng hai ly nước trước khi tập; trong khi tập thì uống nửa ly cho mỗi lần tập kéo dài 20 phút.
Ngoài ra một số yếu tố khác cũng đưa tới chứng Tăng Tiết Mồ Hôi (Hyperhidrosis) dù thân nhiệt bình thường hoặc khi nghỉ ngơi:
1- Khi có nhiều đau đớn, sợ hãi, xúc động hoặc căng thẳng (sợ toát mồ hôi hột); mồ hôi ra nhiều nhất là ở trên mặt, nách, lòng bàn tay bàn chân.
2- Ðôi khi mồ hôi cũng tiết ra khi ta tiêu thụ một vài gia vị cay, uống nước nóng hoặc nước có caffeine hoặc khi uống nhiều rượu.
3- Một vài loại dược phẩm như thuốc trị bệnh tâm thần haldol, kích thích tố tuyến giáp, morphine, aspirin, acetaminophen, cocaine;
4- Bệnh gan, bệnh khí thũng phổi (emphysema), bệnh Parkinson, hội chứng suy yếu dây thần kinh ngoại vi Guillain-Barre;
5- Một số người đổ mồ hôi theo di truyền đặc biệt là ở lòng bàn tay, bàn chân.
6- Phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh với nóng phừng mặt, đổ mồ hôi vì kích thích tố nữ giảm;
7- Bệnh nhân tiểu đường điều trị bằng insulin khi đường huyết xuống quá thấp cũng đổ mồ hôi, run rẩy tay chân, yếu sức, chóng mặt, buồn nôn. Người tiểu đường mồ hôi có mùi chua như trái cây hư;
8- Cường tuyến giáp với nhiều kích thích tố của tuyến này khiến cơ thể nóng bừng, mồ hôi tiết ra;
9- Trong cơn Suy Tim Heart attack, bệnh nhân thấy đau ngực, khó thở, đổ mồ hôi đầm đìa; trong tai biến não stroke với tổn thương trung tâm điều hòa nhiệt độ ở não.
10- Trong các bệnh nhiễm như Lao, sốt rét ngã nước bệnh nhân cũng đổ nhiều mồ hôi với nhiệt độ lên cao.
11- Bệnh ung thư bạch cầu hoặc u hạch bạch huyết lymphoma với mất cân, sốt, đổ mổ hôi;
12- Rối loạn tự miễn như trong các bệnh viêm thấp khớp (rheumatoid arthritis) hoặc lupus ban đỏ (Systemic lupus erythematosus)
Một vài trường hợp đáng chú ý:
1- Nhiều mồ hôi bàn tay:
Ðây là hình thức thường thấy và cũng gây khó chịu nhiều nhất. Bàn tay người bệnh luôn luôn nhơm nhớp ẩm ướt và lạnh. Họ thường xuyên phải lau tay, tránh bắt tay người khác, gặp trở ngại khi đánh máy chữ hoặc trơn tay khi muốn cầm vật dụng hoặc khó khăn vẽ lông mày, tô môi son. Nhiều người ngại ngùng trong giao tế đôi khi trở nên cô lập. Và càng bối rối, xúc động thì mồ hôi lại càng ra nhiều.
2- Nhiều mồ hôi bàn chân. Tuy không lộ liễu như nhiều mồ hôi tay nhưng nhiều mồ hôi chân là môi trường thuận lợi cho các bệnh nấm và vi khuẩn phát triển, đưa tới bệnh nhiễm bàn chân (Athlete’s Foot), viêm nhiễm móng chân, đi giầy và tất khó khăn mà đi dép thì hay trượt.
3- Nhiều mồ hôi nách cũng là một trở ngại giao tế vì mảnh áo nơi đây hoặc ướt sũng nước hoặc hoen ố muối mặn với mùi hôi hôi, khó chịu.
4- Ðổ mồ hôi mặt, cổ, da đầu cũng thường xẩy ra khi đang ăn uống, nói trước công chúng hoặc gặp đám đông người vì xúc động, lo sợ.
5- Không có mồ hôi
Sự đổ mồ hôi bị gián đoạn hoặc trở ngại dưới tác dụng của vài loại thuốc thần kinh; trong bệnh di truyền không có tuyến mồ hôi; khi có tổn thương thần kinh tự chủ điều khiển tuyến mồ hôi; khi có nhiễm trùng tuyến mồ hôi; phỏng da nặng; khi cơ thể khô nước vì ói mửa, đi tiêu chẩy và khi bị trúng thử heat stroke. Không mồ hôi gây trở ngại cho sự thoát nhiệt của cơ thể và đưa tới rủi ro nghiêm trọng như trong trường hợp bị trúng thử, làm việc, vận động cơ thể hoặc đi trong nắng gắt mà không uống nước đầy đủ. Nhiệt độ trong người lên rất cao, da khô, cơ thể suy nhược và có thể bị hôn mê. Năm 2003, cả mấy trăm dân chúng thành phố Ba Lê thiệt mạng vì thời tiết nóng nắng quá mức. Người cao tuổi và trẻ em là dễ bị tai nạn này lắm. Kinh nghiệm người lái xe khi ngoài trời quá nóng thì cảm thấy uể oải, mệt mỏi, buồn ngủ nên dễ xẩy ra tai nạn.
Mùi của mồ hôi
<
“Ngửi nách” – một trong những nghề gian khổ của giới thầy lang – ( Báo Dân Trí)
Nói tới mồ hôi thì cũng nên nói qua tới mùi của mồ hôi.
Bình thường mồ hôi không có mùi, vị hơi mặn vì có muối khoáng. Mồ hôi có mùi là do tác dụng của các vi sinh vật lên mồ hôi mỡ lẫn chất đạm do các tuyến chất đặc apocrine tiết ra. Các tuyến này chỉ xuất hiện ở tuổi dậy thì và rất ít ở tuổi mãn kinh.
Không giống như tuyến nước eccrine có ở khắp cơ thể, tuyến apocrine lại có nhiều ở nách, bẹn, quanh cơ quan sinh dục và hậu môn, quanh núm vú. Mà những nơi này nhiệt độ thường cao, bí hơi, ẩm ướt, có nhiều lông và là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn, nấm độc trú ẩn. Vi khuẩn tác dụng lên chất béo chất đạm của mồ hôi và tạo ra mùi ngạt mũi, khó chịu. Và ta có hôi nách, mồ hôi khan thum thủm ở phần kín cơ thể, mồ hôi mầu thấm vào quần áo, mồ hôi khai ở lông và tóc.
Ngoài ra cơ thể cũng toát ra mùi qua hơi thở, các chất phế thải như phẩn và nước tiểu; trong một số bệnh kinh niên. Bệnh nhân tiểu đường có hơi thở mùi trái cây hư vì hóa chất acetone trong máu lên cao; mồ hôi mùi chuột chết ở bệnh thận trầm trọng; mùi hôi của tế bào hủy hoại khi nhiễm trùng ngoài da, cơ thịt.
Ðiều trị
Nhiều người rất khó chịu, đôi khi bối rối vì đổ mồ hôi quá nhiều nhất là ở nơi dễ thấy như lòng bàn tay, nách. Bắt tay nhau mà tay ướt sũng thì cũng ngượng ngùng mà chiếc áo lụa Hà Ðông mới mua, nách áo vàng khè thì cũng khó coi lại tiếc chiếc áo vừa đẹp vừa đắt. Cho nên trên thị trường có nhiều thuốc bán không cần toa để công chúng tiện dụng và khá công hiệu. Thuốc có thể là bôi thoa để chặn mồ hôi chẩy ra và đa số có chất căn bản Aluminum Chloride Hexahydrate. Thuốc được bôi dăm lần một tuần, vào buổi tối. Khi bớt mồ hôi thì bôi mỗi tuần một lần. Ðiều đáng lưu ý là tác dụng của aluminum không kéo dài lâu và sau đó mồ hôi có thể ra nhiều hơn.
Cũng nên phân biệt thuốc chống tiết mồ hôi (antiperspirant) và chống mùi hôi (deodorant).
Trong deodorant có kháng sinh để diệt vi khuẩn tác dụng lên chất đạm của mồ hôi và gây ra mùi khó ngửi. Ðồng thời cũng có chất làm át mùi hôi.
Thuốc antiperspirant tạo cái nút bít tuyến không cho mồ hôi tiết ra.
Trường hợp khó hơn thì nên đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân và được điều trị thích đáng.
Thuốc anticholinergic như loại glycopyrrolate (Robinul, Robinul-Forte) chặn tác dụng gây đổ mồ hôi của acetylcholine.
Thuốc trấn an tâm thần, tâm lý trị liệu đôi khi cũng được dùng nếu nguyên nhân đổ mồ hôi là những xúc động, căng thẳng tinh thần.
Gần đây, độc tố botulinum (Botox) đã được chích để chặn dây thần kinh kích thích tuyến mồ hôi. Thuốc có công hiệu khoảng 4 tháng, sau đó phải chích lại.
Giải phẫu cắt bỏ tuyến mồ hôi hoặc cắt bỏ dây thần kinh kích thích tuyến này cũng được dùng khi mồ hôi ra nhiều ở nách, bàn tay. Trước đây, để cắt bỏ dây thần kinh phải mở rộng lồng ngực. Bây giờ với phương pháp nội soi, giải phẫu giản dị hơn nhiều và bệnh nhân chỉ cần nằm nhà thương từ 12 đến 24 giờ.
Phương pháp kích thích bằng dòng điện (Iontopheresis): bệnh nhân nhúng tay vào chậu nước với một dòng điện cường độ nhẹ chạy qua, làm tuyến mồ hôi tê liệt và không tiết mồ hôi khoảng một tuần lễ.
Kinh nghiệm cổ truyền ta chữa trẻ em đổ mồ hôi trộm bằng nước lá hẹ nấu chín hoặc hạt tiêu mạch lép sắc với hồng táo uống thay trà.
Cụ Hải Thượng Lãn Ông có bài thuốc trị mồ trộm với nhân sâm, phục linh, toan táo tán thành bột. Ðổ mồ hôi chân thì các cụ ngâm chân bằng nước trà ấm với một chút muối thô hoặc nửa tách giấm chua. Tiểu thư khuê các Trung Hoa khi xưa bó bàn chân trong mảnh vải cho thon nhỏ thì chân có mùi hôi rất khó chịu. Họ thường xức loại nước gọi là Hương Liên Táo.
Mồ hôi nách khó chịu thì rang hàn the, tán thành bột rổi thoa vào nách. Ngoài ra cũng nên giữ vệ sinh cá nhân, tắm rửa thường xuyên; giữ bàn chân khô ráo, thay tất mỗi ngày, đi giầy thông hơi; tránh mặc quần áo làm bằng sợi hóa chất bí hơi; tránh thực phẩm gây đổ mồ hôi; uống nhiều nước; tập luyện cơ thể khi trời mát; giữ đường huyết ở mức bình thường; nơi ở thoáng khí với quạt hoặc máy lạnh.
Trong túi luôn luôn có cuộn giấy mỏng để kín đáo thấm mồ hôi trước khi tay bắt mặt mừng hoặc mang đôi bao tay bằng sợi bông gòn có khả năng thấm nước.
Ðể được điều trị tới nơi tới chốn những nguyên nhân đưa tới chứng tiết mồ hôi quá nhiều, nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay khi nào thấy:
* Ðồ mô hôi lâu, nhiều mà không có nguyên do, có thể do bệnh tiểu đường, bệnh tuyến giáp…
* Ðổ mồ hôi với đau thắt ngực, có thể do heart attack;
* Ðổ mồ hôi ban đêm với mất sức nặng của cơ thể trong bệnh lao phổi..
Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
(Nguồn báo Người Việt online)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Những giọt mồ hôi_BS Nguyễn Ý Đức
Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái – Vũ Đông Hà
(HNPD): Nếu ai hỏi tôi rằng sau ngày 30 tháng 4, 1975 cái gì mà cộng sản không thể “giải phóng”được; cái gì vẫn âm thầm nhưng vũ bão giải phóng ngược lại tâm hồn khô khốc của người dân miền Bắc lẫn nhiều cán binh cộng sản; cái gì vẫn miệt mài làm nhân chứng cho sự khác biệt giữa văn minh và man rợ, giữa nhân ái và bạo tàn, giữa yêu thương và thù hận; cái gì đã kết nối tâm hồn của những nạn nhân cộng sản ở cả hai miền Nam Bắc… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Nếu ai hỏi tôi, ảnh hưởng lớn nhất để tôi trở thành người ngày hôm nay, biết rung động trước hình ảnh của Ngoại già lầm lũi quang gánh đổ bóng gầy dưới ánh đèn vàng, biết nhung nhớ một khe gió luồn qua hai tấm ván hở của vách tường ngày xưa nhà Mẹ, biết man mác buồn mỗi khi đến hè và trống vắng với một tiếng gà khan gáy ở sau đồi, biết tiếc nuối một mặt bàn lớp học khắc nhỏ chữ tắt tên người bạn có đôi mắt người Sơn Tây, biết ngậm ngùi trăn trở chỉ vì một tiếng rao hàng đơn độc đêm khuya… Câu trả lời là Âm Nhạc Miền Nam.
Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành một chất keo gắn chặt cuộc đời tôi vào mảnh đất mang tên Việt Nam. Âm Nhạc Miền Nam đã làm tôi là người Việt Nam.
*
Tôi lớn lên theo những con đường đất đỏ bụi mù trời và cây reo buồn muôn thuở. Niềm say mê âm nhạc đơm mầm từ các anh lớn của Thiếu và Kha đoàn Hướng Đạo Việt Nam, trổ hoa theo những khúc hát vang vang của các anh giữa vùng trời Đạt Lý đang vào mùa cà phê hoa trắng nở: “Tôi muốn mọi người biết thương nhau. Không oán ghét không gây hận sầu. Tôi muốn đời hết nghĩa thương đau. Tôi muốn thấy tình yêu ban đầu…” Các bậc đàn anh như nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang của Phượng Hoàng đã lót đường nhân ái cho đàn em nhỏ chúng tôi chập chững trở thành người, để biết ngước mặt nhìn đời và “cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi, hãy ngước mặt nhìn đời, nhìn tha nhân ta buông tiếng cười…”
Những đêm tối, giữa ngọn đồi nhiều đại thụ và cỏ tranh, bên nhau trong ánh lửa cao nguyên chập chờn, chúng tôi cảm nhận được niềm hãnh diện Việt Nam với bước chân của cha ông và bước chân sẽ đi tới của chính mình:
“Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng. Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm. Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng chân tươi. Ôm vết thương rĩ máu ta cười dưới ánh mặt trời…” Và anh Nguyễn Đức Quang, người nhạc sĩ của thị xã đèo heo hút gió đã trở thành thần tượng của chúng tôi. Có những buổi chiều buông trong Rừng Lao Xao bạt ngàn, những đứa bé chúng tôi theo anh ngậm ngùi số phận “Xương sống ta đã oằn xuống, cuộc bon chen cứ đè lên. Người vay nợ áo cơm nào, thành nợ trăm năm còn thiếu. Một ngày một kiếp là bao. Một trăm năm mấy lúc ngọt ngào. Ôi biết đến bao giờ được nói tiếng an vui thật thà.”
Nhưng cũng từ anh đã gieo cho chúng tôi niềm lạc quan tuổi trẻ: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt. Hy vọng đã vươn dậy như làn tên…” Và từ anh, chúng tôi hát cho nhau “Không phải là lúc ta ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi. Mà phải cùng nhau ta làm cho tươi mới.”
Cô giáo Việt văn của tôi đã mắng yêu tôi – tụi em thuộc nhạc Nguyễn Đức Quang hơn thuộc thơ của Nguyễn Công Trứ!
Nguyễn Công Trứ. Đó là ngôi trường tuổi nhỏ có cây cổ thụ già, bóng mát của tuổi thơ tôi bây giờ đã chết. Tôi nhớ mãi những giờ cuối lớp tại trường, Cô Trâm cho cả lớp đồng ca những bài hát Bạch Đằng Giang, Việt Nam Việt Nam, Về Với Mẹ Cha…
Đứa vỗ tay, đứa đập bàn, đứa dậm chân, chúng tôi nở buồng phổi vang vang lên: “Từ Nam Quan, Cà Mau. Từ non cao rừng sâu. Gặp nhau do non nước xây cầu. Người thanh niên Việt Nam. Quay về với xóm làng. Tiếng reo vui rộn trong lòng…”
Nhìn lên lớp học lúc ấy, có những biểu ngữ thủ công nghệ mà cô dạy chúng tôi viết: Tổ quốc trên hết, Ngày nay học tập ngày sau giúp đời, Không thành công cũng thành Nhân… Nhưng đọng lại trong tôi theo năm tháng vẫn là những câu hát “Tình yêu đây là khí giới, Tình thương đem về muôn nơi, Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…”
Cô giáo của tôi đã ươm mầm Lạc Hồng vào tâm hồn của chúng tôi và cứ thế chúng tôi lớn lên theo dòng suối mát, theo tiếng sóng vỗ bờ, theo tiếng gọi lịch sử của âm nhạc Việt Nam, để trở thành những công dân Việt Nam yêu nước thương nòi và hãnh diện về hành trình dựng nước, giữ nước của Tổ tiên.
Trong cái nôi nhiều âm thanh êm đềm nhưng hùng tráng ấy, trừ những ngày tết Mậu Thân khi tiếng đạn pháo đì đùng từ xa dội về thành phố, cho đến lúc chui xuống gầm giường nghe tiếng AK47 và M16 bắn xối xả trước nhà vào ngày 10 tháng 3, 1975, tuổi thơ tôi được ru hời bởi dòng nhạc trữ tình của miền Nam để làm nên Những Ngày Xưa Thân Ái của chúng tôi.
Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em…
Các anh, những người anh miền Nam đã khoác áo chinh nhân lên đường đối diện với tử sinh, làm tròn lý tưởng Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, đã hy sinh cuộc đời các anh và để lại sau lưng các anh những ngày xưa thân ái cho đàn em chúng tôi. Nhờ vào các anh mà chúng tôi có những năm tháng an lành giữa một đất nước chiến tranh, triền miên khói lửa.
Lần đầu tiên, chiến tranh tưởng như đứng cạnh bên mình là khi chúng tôi xếp hàng cúi đầu đưa tiễn Thầy của chúng tôi, là chồng của cô giáo Việt Văn, một đại úy sĩ quan Dù đã vị quốc vong thân. Cô tôi, mồ côi từ nhỏ, một mình quạnh quẻ, mặc áo dài màu đen, tang trắng, đứng trước mộ huyệt của người chồng còn trẻ. Cô khóc và hát tặng Thầy lần cuối bản nhạc mà Thầy yêu thích lúc còn sống – “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo… Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa! Trên cõi đời này, trên cõi đời này. Từ nay mãi mãi không thấy nhau…”
Và tôi say mê Mùa Thu Chết từ dạo đó. Trong những cụm hoa thạch thảo đầy lãng mạn ấy có đau thương đẫm nước mắt của Cô tôi. Có hình ảnh lá cờ vàng ba sọc đỏ phủ nắp quan tài của người Thầy Đại úy Sĩ quan Binh chủng Nhảy Dù vào mùa Hè hầm hập gió Nồm năm ấy.
*
Từ những ngày xa xăm tuổi nhỏ, những người lính VNCH là thần tượng của chúng tôi. Tôi mơ được làm một người lính Dù bởi anh là loài chim quý, là cánh chim trùng khơi vạn lý, là người ra đi từ tổ ấm để không địa danh nào thiếu dấu chân anh, và cuối cùng anh bi hùng ở lại Charlie. Giữa những đau thương chia lìa của chiến tranh, những dòng nhạc của Trần Thiện Thanh đã cho tôi biết thương yêu, kính trọng những người lính không chân dung nhưng rất gần trong lòng chúng tôi. Những”cánh dù ôm gió, một cánh dù ôm kín đời anh” cũng là những cánh dù ôm ấp lý tưởng đang thành hình trong tâm hồn tuổi nhỏ của chúng tôi.
Nhìn lại quãng thời gian binh lửa ấy, tôi nhận ra mình và các bạn cùng lứa không hề biết rõ Phạm Phú Quốc là ai, chỉ biết và say mê huyền sử của một người được “Mẹ yêu theo gương người trước chọn lời. Đặt tên cho anh, anh là Quốc. Đặt tên cho anh, anh là Nước. Đặt tên cho Người. Đặt tình yêu Nước vào nôi”, chỉ ước ao một ngày chúng tôi cũng được như anh, cũng sẽ là những “Thần phong hiên ngang chẳng biết sợ gì!”
Chúng tôi, nhiều đứa núi đồi, rừng rú, chưa bao giờ thấy biển nhưng thèm thuồng màu áo trắng và đại dương xanh thẳm, thuộc lòng câu hát “Tôi thức từng đêm, thơ ấu mà nghe muối pha trong lòng. Mẹ là mẹ trùng dương, gào than từ bãi trước ghềnh sau.
Tuổi trời qua mau, gió biển mặn nuôi lớn khôn tôi. Nên năm hăm mốt tuổi, tôi đi vào quân đội. Mà lòng thì chưa hề yêu ai”. Chúng tôi cũng không tìm đọc tiểu sử, cuộc chiến đấu bi hùng của Đại tá Nhảy Dù Nguyễn Đình Bảo, cũng không biết địa danh Charlie nằm ở đâu, nhưng Đại tá Nguyễn Đình Bảo là biểu tượng anh hùng của chúng tôi để chúng tôi thuộc lòng khúc hát “Toumorong, Dakto, Krek, Snoul. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu. Anh! Cũng anh vừa ở lại một mình, vừa ở lại một mình. Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành.”
Chúng tôi không biết “Phá” là gì, “Tam Giang” ở đâu, nhà thơ Tô Thùy Yên là ai, nhưng “Chiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ ôi niềm nhớ đến bất tận. Em ơi, em ơi…” đã thân thiết chiếm ngự tâm hồn để chúng tôi biết thương những người anh chiến trận đang nhớ người yêu, nhớ những người chị, cô giáo của chúng tôi ngày ngày lo âu, ngóng tin từ mặt trận xa xăm.
Trong cái nôi của những ngày xưa thân ái ấy, từ nơi khung trời đầy mộng mơ của mình chúng tôi chỉ biết đến nỗi niềm của các anh bằng những “Rừng lá xanh xanh lối mòn chạy quanh, Đời lính quen yêu gian khổ quân hành”.
Giữa mùa xuân pháo đỏ rộn ràng con đường tuổi thơ thì chính âm nhạc nhắc cho những đứa bé chúng tôi biết đó cũng là “ngày đầu một năm, giữa tiền đồn heo hút xa xăm, có người lính trẻ, đón mùa xuân bằng phiên gác sớm”.
Giữa những sum vầy bình an bên cạnh mai vàng rực rỡ, thì ở xa xăm có những người con rưng rưng nhớ đến Mẹ già và gửi lời tha thiết “bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, Mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”
Âm nhạc Việt Nam đã gieo vào tâm hồn chúng tôi hình ảnh rất bình thường, rất người, nhưng lòng ái quốc và sự hy sinh của thế hệ đàn anh chúng tôi – những người lính VNCH – thì ngời sáng. Và chúng tôi biết yêu thương, khâm phục, muốn noi gương các anh là cũng từ đó.
*
Sau ngày Thầy hy sinh, chúng tôi gần gũi với Cô giáo Việt Văn của mình hơn. Nhiều đêm thứ bảy, tôi và các bạn ghé nhà thăm Cô. Đó là lúc chúng tôi đến với Một thời để yêu – Một thời để chết. Chúng tôi bắt đầu chạm ngõ tình yêu với những Vũng lầy của chúng ta, Con đường tình ta đi, Bây giờ tháng mấy, Ngày xưa Hoàng Thị, Tình đầu tình cuối, Em hiền như Ma Soeur, Trên đỉnh mùa đông, Trả lại em yêu…
Đó là lúc Cô đọc thơ Chiều trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên cho chúng tôi nghe, giảng cho chúng tôi về tài nghệ “thần sầu” của Trần Thiện Thanh trong lời nhạc “anh chợt nhớ em, nhớ ôi niềm nhớ… ôi niềm nhớ…….. đến bất tận. Em ơi… em ơi!…” khi diễn tả nỗi nhớ ngút ngàn, và sau đó chú Trần Thiện Thanh Toàn – em ruột của nhạc sĩ Nhật Trường ở Sài Gòn lên thăm Cô, vừa đàn vừa hát.
Những buổi tối này, mình tôi ở lại với Cô tới khuya. Cô đọc thơ và hát nhạc phổ từ thơ của Nguyễn Tất Nhiên, chỉ cho tôi tính lãng đãng của lời nhạc Từ Công Phụng, khắc khoải của Lê Uyên Phương, mượt mà của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, sâu lắng của Vũ Thành An… Và qua âm nhạc, Cô kể tôi nghe chuyện tình của Cô và Thầy. Hai người đến với nhau khởi đi từ bản nhạc mà Cô hát khi Cô còn là nữ sinh Đệ Nhất và Thầy là Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bản nhạc ấy có những dòng như sau:
“Nhưng anh bây giờ anh ở đâu, con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm,
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ.
Dạo tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa, nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.”
Thầy và cô tôi yêu nhau từ sau khúc hát Người Tình Không Chân Dung ấy và “người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này” cũng là định mệnh Thầy, của cuộc tình bi thương giữa một cô giáo trẻ và người lính VNCH.
Cô tôi sống một mình và qua đời vào năm 2010. Bạn cùng lớp của tôi là Phương lùn, vào một ngày cuối năm, từ Sài Gòn trở về Ban Mê Thuột, xách đàn đến trước mộ Cô và hát lại “Ta ngắt đi một cụm hoa Thạch Thảo” để thay mặt những đứa học trò thơ ấu kính tặng hương hồn của Cô. Còn tôi, năm tháng trôi qua nhưng tôi biết rõ trong dòng máu luân lưu và nhịp đập của tim mình vẫn đầy tràn những thương yêu mà Cô đã gieo vào tôi bằng Âm Nhạc Miền Nam.
*
Một buổi tối chúng tôi ngồi hát với nhau. Các bạn từ Hà Nội, Nam Định, Yên Bái, Đà Nẵng, Sài Gòn… nhưng chỉ có mình tôi là sinh ra và lớn lên trước 1975. Các bạn tôi, hay đúng ra là những người em đang cùng đồng hành trên con đường đã chọn, đã thức suốt đêm hát cho nhau nghe. Rất tự nhiên, rất bình thường: toàn là những ca khúc của miền Nam thân yêu.
Đêm hôm ấy, cả một quãng đời của những ngày xưa thân ái trong tôi sống lại.
Sống lại từ giọng hát của những người em sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ độc tài. Các em hát cho tôi nghe về những người lính miền Nam mà các em chưa bao giờ gặp mặt “Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó, đem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ, đem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ, anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…”.
Tôi hát cho các em mình về những ngày tháng mộng mơ trước “giải phóng” của những “Con đường tuổi măng tre, nắng vàng tươi đẹp đẽ, bóng người dài trên hè, con đường tình ta đi…” Các em tâm sự về cảm nhận đối với người lính VNCH qua những dòng nhạc êm đềm, đầy tình người giữa tàn khốc của chiến tranh: “Tôi lại gặp anh, người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố; tôi lại gặp anh, giờ đây nơi quán nhỏ, tuổi 30 mà ngỡ như trẻ thơ”..
Tôi chia sẻ với các em về nỗi ngậm ngùi quá khứ: “Như phai nhạt mờ, đường xanh nho nhỏ, hôm nay tình cờ, đi lại đường xưa đường xưa. Cây xưa còn gầy, nằm phơi dáng đỏ, áo em ngày nọ, phai nhạt mây màu, âm vang thuở nào, bước nhỏ tìm nhau tìm nhau”…
Đêm ấy, khi các bạn nói lên cảm nhận về những mượt mà, êm ả, nhân ái của Âm Nhạc Miền Nam, tôi đã tâm sự với các bạn rằng: Chỉ cần lắng nghe và hát lên những dòng nhạc ấy, các em sẽ hiểu thấu được những mất mát khủng khiếp của con người miền Nam. Những mất mát không chỉ là một cái nhà, một mảnh đất, mà là sự mất mát của cả một đời sống, một thế giới tâm hồn, một đổ vỡ không bao giờ hàn gắn lại được. Khi những mượt mà, nhân ái ấy đã bị thay thế bởi những “Bác cùng chúng cháu hành quân” và “Tiến về Sài Gòn” thì các em hiểu được tuổi thanh xuân và cuộc đời của những thế hệ miền Nam đã bị đánh cắp hay ăn cướp như thế nào.
*
Gần 42 năm trôi qua, Âm Nhạc Miền Nam vẫn như dòng suối mát trôi chảy trong tâm hồn của người dân Việt. Chảy từ đồng bằng Cửu Long, xuôi ngược lên Bắc, nhập dòng sông Hồng để tưới mát tâm hồn của mọi người dân Việt đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa bạo tàn cộng sản. Dòng suối trong mát ấy cũng cuốn phăng mọi tuyên truyền xảo trá của chế độ về xã hội, con người miền Nam trước 1975 cũng như về tư cách, phẩm giá, lý tưởng của những người lính VNCH và tình cảm trân quý, yêu thương của người dân miền Nam dành cho họ.
Gần 42 năm trôi qua, trong tuyệt vọng của những kẻ thật sự đã thua trận trong cuộc chiến giữa chính nghĩa và gian tà, nhà cầm quyền cộng sản đã tìm mọi cách để tiêu diệt Âm Nhạc Miền Nam. Nhưng họ không biết rằng, dòng âm nhạc đó không còn là những bản in bài hát, những CD được sao chép, bán buôn… Âm Nhạc Miền Nam đã trở thành máu huyết và hơi thở của người dân Việt, bất kể Bắc – Trung hay Nam, bất kể sinh trưởng trước hay sau 1975. Bạo tàn và ngu dốt có thể đem Âm Nhạc Miền Nam vào những danh sách cấm đoán vô tri vô giác, nhưng không bao giờ đem được Âm Nhạc Miền Nam ra khỏi con người Việt Nam.
Ai giải phóng ai? Hãy hỏi Con Đường Xưa Em Đi và đốt đuốc đi tìm xem Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân đang nằm trong cống rãnh nào trên những con đường Việt Nam!!!
Vũ Đông Hà
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Âm nhạc miền Nam và những ngày xưa thân ái – Vũ Đông Hà
Nên hay Không Nên Biểu Tình chống Trung Cộng?_Phương Trúc
CHÚNG TA CÓ NÊN BIỂU TÌNH RẦM RỘ
CHỐNG TRUNG CỘNG TRONG LÚC NẦY HAY KHÔNG?
Là người Việt Nam dù sống ở trong nước hay ở nơi hải ngoại khi đất mẹ thân yêu, quê hương bị giầy xeó, biển đảo bị xâm chiếm, cướp phá bởi kẻ thù xâm lược ngoại bang dù bất cứ từ đâu đến hay quân xâm lăng Trung cộng. Bổn phận là một người dân phải đứng lên bằng mọi hình thức đánh đuỗi kẻ thù, bảo vệ bờ cõi, quê hương, an dân, bảo quốc.
Đó là lẽ dĩ nhiên, chuyện thông thường, bổn phận của một người dân yêu nước ai ai cũng biết. Như chúng ta ăn cơm, uống nước hằng ngày. Nhưng trái lại, trong trường hợp đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta đang bị cai trị bởi một chế độ độc tài, độc đảng công sản. Chúng lú lẫn đam mê, bám díu vào quyền lực, bảo vệ đảng bằng tất cả mọi giá mà không bao giờ nghĩ đến sự tồn vong của đất nước, sự thống khổ của toàn dân, sự mất mát của quê hương, nòi giống Việt sẽ bị đồng hoá và bị tiêu diệt trong nay mai. Thà mất nước còn hơn mất đảng. Thì sự biểu tình rầm rộ của chúng ta chống Trung cộng trong lúc nầy nhân tàu thăm dò Hải Dương 8 của Tàu cộng vào Bãi Tư Chính có nên đáng làm và cần thiết hay không? Điều nầy chúng ta phải cần suy nghĩ lại cho thật kỹ, chính chắn rồi sẽ hành động. Giữa cái đúng và cái sai, giưã cái lợi và cái hại để keó dài chế độ độc tài cộng sản, bọn Hán nô, bọn buôn dân, bán nước trên quê hương Việt Nam yêu dấu của chúng ta. Hay để chấm dứt chế độ đó trong một sớm, một chiều nào đó.
A. CÁI LỢI CỦA VIỆC BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG CỘNG TRONG LÚC NẦY LÀ GÌ? LÀ LỢI CHO AI?
1. Cái lợi thứ nhất ta sẽ gây được tiếng vang cho thế giới biết Tàu cộng là nước lớn ăn hiếp nước nhỏ, cá lớn đốp cá bé. Bất chấp luật lệ thế giới hay công pháp quốc tế mà lên tiếng ép Tàu cộng có thể rút tàu thăm dò Hải Dương 8 ra khỏi Bãi Tư Chính và thềm lục địa Việt Nam.
2. Cái lợi thứ hai là làm việc không công cho chế độ cộng sản Hà Nội. Trong lúc đất nước lâm nguy, tàu cộng xâm chiếm lảnh thổ, đâm chiềm tàu cá của ngư dân mà chúng bình chân như vạy. Mà chỉ biết nói là tàu lạ chớ không bao giờ dám nhắc đến cái tên tàu Trung cộng.
Còn về Bãi Tư Chính, gần hơn hai tháng qua cho đến ngay bây giờ, chúng ta có thấy tên Tàu nô Nguyễn phú Trọng TBT đảng cộng sản, kiêm chủ tịch nước Việt Nam, Nguyễn xuân Phúc thủ tướng, Nguyễn thị Kim Ngân chủ tịch quốc hội có lên tiếng phản đối một lời nào không? Hay chúng câm mồm như hến, sợ mất lòng quan thầy Tàu cộng. Chúng sợ mất chiếc ghế “Ngồi mát ăn bát vàng” của chúng. Ngay cả báo chí của đảng sản và nhà nước cũng vậy. Thật là một lũ đê hèn, bần tiện. Còn dân chúng thì sống chềt mặc bây. Riêng các nhà yêu nước ở quốc nội thì bị trù ếm, nói lên thì bị bắt bớ bỏ tù. Chúng dùng chính sách côn đồ, công an trị. Chúng có một rừng luật, nhưng chúng không sài, chúng chỉ biết sài luật rừng từ hang Pac Pó mà ra. Đọc đến đây chắc có một số bạn sẽ phản đối tôi và cho rằng:
“ Người dân trong nước lên tiếng không được, ta ở hải ngoại ta lên tiếng thế cho họ.” Điều nầy sai. Tại sao sai? Tôi sẽ chứng minh ở phần sau nầy cho ai không đồng ý với tôi rõ.
3. Cái lợi thứ ba là cộng sản nằm không để hưởng lợi mà chúng không tốn một giọt nước miếng nếu tàu thăm dò HD 8 nhờ sự biểu tình của chúng ta ở hải ngoại gây nên được sức ép của dư luận quốc tế mà rút đi, ra khỏi Bãi Tư Chính và thềm lục địa của nước ta. Lúc đó ta sẽ thấy Ban tuyên giáo, dư luận viên của chúng tha hồ mà tuyên truyền láo khoét. Đảng ta sáng suốt, biết cân nhắc hơn thua, biết đâu là nặng, đâu là nhẹ, biết đâu là đúng là sai, biết cái gì đáng làm và cái gì không đáng làm, biết khuấy động dư luận thế giới ủng hộ ta, nghiêng về ta. Ta đảng ta khôn khéo chỉ biết đối diện mà không đối đầu, biết dùng nhu thắng cương mà kết quả vẫn theo ý muốn, chiến thắng về ta. Lúc đó chúng tâng bóc đảng cộng cho đến tận mây xanh. Rồi chế độ độc tài của bọn chúng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục kéo dài cướp bóc của cải, tài sản của nhân dân. Rồi người dân trong nước sẽ triền mien, tiếp tục bị đau khổ, tiếp tục làm nô lệ cho bọn chúng cho đến suốt đời mãn kiếp mà không bao giờ cất đầu lên nổi.
B. VẬY LÚC NẦY CHÚNG TA NÊN LÀM GÌ ĐỂ CHO CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN SỚM SỤP ĐỔ?
Trước hết, ta nên tích cực lên án, khơi dậy và kích động lòng tự ái của của bọn Hán nô cộng sản.
“Hèn với giặc ác với dân.” Tiếp tục biểu tình lên án bọn Hán gian tại các toà đại sứ, toà tổng lãnh sự, lãnh sự quán của bọn chúng, gởi thơ, thành lập các phái đoàn tiếp xúc với các dân biểu, nghị sĩ ở địa phương lên án Việt cộng trên khắp cả thế giới. Nơi nào có Việt cộng là nơi đó có biểu tình, lên án bọn chúng một cách gắt gao. “Là lũ bán nước, là bọn tay sai, là đám vong ân, phản quốc, quên cả nguồn gốc tổ tiên cha mẹ, ông bà, là đám con hoang rước voi về dầy mả tổ, là phường trần ích Tắc. . .v v… và …v v…” Làm cho bọn chúng điên đầu và mất đi trí khôn để nghĩ ra phương sách đối phó.
Riêng về phía Tàu cộng ta cứ làm ngơ, giả vờ không biết, mặc cho bọn chúng tung hoành nơi biển đảo để cho Tàu cộng ép cộng sản Việt Nam cho đến đường cùng thì khi đó bắt buộc họ phải có phản ứng và ta sẽ có những caí lợi để giải thể chế độ độc tài cộng sản VN như sau:
1. Cái lợi thứ nhất là khi Trung cộng ép cộng sản VN đến đường cùng ngoài biển Đông cũng như trong đất liền thì chắc chắn họ phải có phản ứng một cách tích cực. Trước hết là bằng đường lối ngoại giao. Họ sẽ kêu gọi các nươc trong khối tự do hỗ trợ cho họ bằng cách nầy hay cách khác. Đặc biệt là Mỹ. Mà họ muốn cho Mỹ cũng như các quốc gia trên thế giới trong khối tự do giúp họ là điều cần và đủ là họ phải thay đôi thể chế. Họ phải mở cửa một phần nào cho tự do, dăn chủ của nền dân chủ đa nguyên đa đảng theo đường lối Tây phương, thả tù nhân chánh trị, bớt đàn áp dân chúng. Từ đó các nhà dân chủ yêu nước mới có cơ hội hoạt động. Chứ không thể nào theo nguyên đường lối xã hội chủ nghĩa và đu dây như hiện nay được. Cũng không thể nào chơi cái trò khỉ, mất dạy theo kiểu đu dây hay “Răng hở môi lạnh hoặc sông liền sông, núi liền núi như từ trước tới bây giờ được nữa.”
Bằng chứng hùng hồn, rõ rệt là từ trước tới nay Mỹ nhiều lần mời Việt cộng tập trận chung mà họ có bao đếm xỉa gì! Hoạ chăng họ chỉ cử quan sát viên đến tham dự là cùng. Nhưng trái lại, ngay bây giờ họ tích cực tham gia tập trận với Mỹ và các đờng minh của Mỹ trong vịnh Thái Lan cho đếm mũi Cà Mau. Chứng tỏ rằng Việt cộng bắt buộc phải thay đổi để theo Mỹ, nhờ sự che chỡ, bao bọc bằng cây dù Mỹ thì chắc chắn Việt Nam trước sau gì cũng phải có tự do.
2. Tại sao cộng sản Việt Nam bắt buộc phải làm như vậy? Mặc dù họ vẫn biết làm như vậy sẽ lung lay tới chế độc tài, độc đảng của họ và đưa đến sự sụp đổ một cách dễ dàng.
Nhưng trong trường hợp nầy họ chẳng đặng đừng. Họ thay đổi như vậy không có nghĩa là họ yêu nước, yêu dân tộc Việt Nam mà chính là họ yêu chính bản thân của họ, yêu gia đình của họ, con cái họ. Mặc dù là họ vẫn cam tâm làm nô lệ cho Tàu cộng, đóng vai làm thái thú cho Tàu cộng dưới nhiều hìnhh thức khác nhau. Nhưng Tàu cộng và bè lũ Tập cận Bình chưa thấy đủ, chưa vừa lòng về thái độ con hoang của họ, là chướng ngại trên con đường “One belt one road.”
Do đó Tàu cộng lúc nào cũng muốn tiêu diệt họ, chứ Tàu cọng đâu có thương yêu gì họ. Bằng chứng cụ thể là Tàu cộng luôn luôn muốn gây hấn, khuấy rối họ bằng cách chiếm các đảo Nguyệt Liềm, Vành Khăn, Gạc Ma. . . . và bây giờ lại xâm lăng Bãi Tư Chính cùng thềm lục địa VN.
Khi Tàu cộng chiếm được VN những kẻ chóp bu và Bộ chánh trị là những nạn nhân đầu tiên của Tàu cộng. Họ sẽ bị giết, nội tạng của họ sẽ bị phân ra cho các đảng viên cao cấp của Tàu cộng khi cần vì nội tạng của những tên nầy rất tốt vì không ăn thực phẩm độc của tàu mà ăn toàn là cao lương mỹ vị, đồ bổ. Không có chất độc, không có bịnh truyền nhiễm. Vợ con của họ sẽ bị bắt đem về Tàu để làm nô lệ, tài sản của họ sẽ bị tịch thâu, lăng tẩm của sẽ bị đào bới để kiếm và những báu vật. Cuối cùng là họ sẽ trở thành những con ma không nội tạng, con ma chết đói, con ma không hồn, con ma không mồ mả.
3. Cái lợi thứ ba là: Nếu đảng cộng VN cứ mềm yếu, hèn nhác để cho lảnh thổ VN của Tổ Tiên ta qua nhiều đời truyền lại cho con cháu bị Tàu cộng gậm nhấm, xâm chiếm từng ngày, dân tộc VN sẽ bị nô lệ ngoại bang ngàn năm tăm tối. Thì ít ra trong hàng ngũ lảnh đạo hoặc một số tướng lảnh trong quân đội còn chút ít liêm sĩ, tự ái vì lòng yêu nước, dân tộc hay thành phần bất mãn vì ăn không đồng, chia không đủ đứng lên cùng toàn dân lật đổ chế độ của chúng. Lúc đó nhóm người nầy sẽ đứng hẳng về phía các quốc gia tự do và đồng thời kêu gọi các nước dân chủ Tây phương ở trên thế giới, nhất là Mỹ tiếp sức, giúp đỡ và bảo vệ cho họ để tránh cái nạn Tàu cộng sua quân vượt qua biến giới tiếp cứu cái bọn gia nô của chúng ở Bắc Bộ Phủ.
4. Cái lợi thứ tư là: Khi có chiến tranh nổ ra từ Tàu cộng và Việt cộng thì chế độ cộng sản tại VN sẽ bị suy yếu, tứ bề thọ địch. Lúc đó là cơ hội bằng vàng để cho toàn dân đứng lên lật đổ chế độ cộng sản VN và chống ngoại xâm là Tàu cộng. Đúng với câu: “Muốn thắng ngoại xâm, trước tiên phải diệt nội thù.” Là như vậy. Mà nội thù ở đây là chế độ cộng sản. Lúc đó cả thế giới tự do và Mỹ sẽ yểm trợ cho chúng ta đánh đuỗi tàu cộng ra khỏi bờ cõi, đất nước để dành lại lảnh thổ và biển đảo.
Vì thế chúng ta mới hiểu được tại sao có một số người trong nước cũng như hải ngoại muốn Tàu cộng và Việt cộng đánh nhau là như thế.
C. Kết luận: Người Việt hải không nên biểu tình chống Tàu cộng trong lúc nầy mà cứ làm ngơ như không biết, không hay gì hết! Mà cứ để mặc tình đảng cộng tự lo liệu mà đối phó. Nếu biểu tình, vận Mỹ và thế giới gây nên sức ép bắt buộc Tàu cộng phải rút tàu thăm dò HD 8 ra khỏi Bãi Tư Chính và thềm lục địa VN. Đó là vô hình chung làm việc không công cho Việt cộng. Ban tuyên giáo, dư luân viên của chúng mặc sức tuyên truyền, ca ngợi đảng cộng sản sáng suốt hơn sao bắc đẩu, thần thánh và để kéo dài chế độ độc quyền, độc đảng làm khổ cho nhân dân mà thôi.
Trái lại, trong lúc nầy ta càng tổ chức nhiều cuộc biểu tình tăng lên càng nhiều, càng tốt trên khắp cả thế giới, lên án Việt cộng “Hèn với giặc, ác với dân.” Cam tâm làm nô lệ cho ngoại bang, cắt đất, bán biển cho Tàu cộng. Gây khoảng cách thù hận giữa Tàu cộng và Việt cộng càng lúc càng to hơn. Để cho giữa Tàu cộng và Việt cộng chem. giết, xâu xé lẫn nhau lúc ấy ta và toàn dân mới có cơ hội lật đổ chế độ độc tài toàn trị của đảng cộng sản VN một cách dễ dàng..
San Jose Ngày lễ Lao Động 2/9/2019
Phương Trúc (Nguyễn Hoài Ân)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Nên hay Không Nên Biểu Tình chống Trung Cộng?_Phương Trúc
Phá Vỡ Cụm Tình Báo Chiến Lược A-22_Tài liệu (Lược Sử CSQG)
(Trích từ sách Lược Sử CSQG do Tổng Hội CSQG phát hành năm 2018 & 2019):
PHÁ VỠ CỤM TÌNH BÁO CHIẾN LƯỢC A-22 (thuộc Phòng Tình Báo Chiến Lược Trung Ương Cục Miền Nam trực thuộc Cục Nghiên Cứu Bắc Việt):
– Nội dung sự việc:
Trong Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia có một đơn vị chuyên đảm trách nhiệm vụ An Ninh Tình Báo, đó là Ngành Đặc Biệt. Phương tiện chánh yếu để thu lượm tin tức từ bạn cho tới kẻ thù của Ngành Đặc Biệt là sử dụng mạng lưới mật báo từ khắp mọi địa bàn, mọi tổ chức, từ trong Nam ra tới ngoài Bắc, cái nôi của cộng sản Việt Nam.
Vào trung tuần tháng 6 năm 1968, theo báo cáo của TBV Z.23, sau nhiều lần đến sửa chữa nhà cho tên Thúy tại một con hẻm đường Bạch Đằng, Gia Định, đương sự đã được tên này tin tưởng, thu dụng và tiết lộ nhiều tin tức liên quan đến các hoạt động của Việt Cộng tại miền Nam Việt Nam, đặc biệt đề cao sự giúp đỡ của hai nước đàn anh Liên Sô và Trung Cộng cho Cộng Sản Bắc Việt và hết sức ca ngợi những chiến tích của bọn cộng sản xâm lược tại miền Nam. Y còn khoác lác khoe khoang là hiện nay “cách mạng” đã có mặt hầu hết mọi nơi trong các phủ, bộ chánh yếu của Việt Nam Cộng Hòa. Do đó, mọi tin tức dù bí mật đến đâu bọn chúng cũng đều nắm vững và cấp thời báo cáo về cấp trên để có biện pháp đối phó.
– Kết quả điều tra:
Nhận thấy báo cáo của TBV có giá trị nên Ngành Đặc Biệt đã bí mật mở cuộc điều tra. Qua báo cáo sự việc, nhận thấy đây có thể là một đầu mối khả tín vì qua những lần thử thách trước đây, TBV thường cung cấp nhiều tin tức rất có giá trị nên S2B đã cho mở cuộc điều tra về lai lịch của tên THÚY cùng tất cả những dữ kiện liên hệ tới nhân thân, bạn bè, nghề nghiệp, của hắn v.v…
Kết quả điều tra sơ khởi ghi nhận tên thật của y là Lê Hữu Thúy, sinh năm 1928 tại Thanh Hóa, Bắc Việt.
Năm 1945, y tham gia Việt Minh chống chính quyền và được kết nạp vào Đảng Cộng Sản và điều sang công tác tình báo để hoạt động bí mật. Khởi đầu y theo Cha Bửu Dưỡng, dòng Đa Minh, hoạt động trong Chi Hội Hòa Bình ở Dòng Chúa Cứu Thế và quen biết với Huỳnh Văn Trọng từ đó.
Năm 1954, y được bố trí vào Nam theo phong trào di cư. Khởi đầu y viết báo cho Trần Văn Ân, cố vấn của Bình Xuyên, chống chính quyền Ngô Đình Diệm.
Về sau y chuyển qua Công giáo, gia nhập Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ chính phủ Ngô Đình Diệm, gia nhập Đảng Cần Lao Nhân Vị, rồi An Ninh Quân Đội với cấp bậc Chuẩn úy.
Năm 1960, y bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung bắt giữ do sự chỉ điểm của một hồi chánh viên và bị giam giữ tại Tòa Khâm Sứ Huế.
Năm 1963, sau đảo chánh, y được Tướng Dương Văn Minh phóng thích, về viết báo Trinh Thám của dân biểu Hoàng Hồ, một cơ sở cộng sản nằm vùng trong làng báo tại Sàigòn lúc bấy giờ.
Năm 1966, phối hợp với Vũ Ngọc Nhạ để xây dựng lá bài Huỳnh Văn Trọng.
Năm 1967, xin vào làm việc tại Bộ Thông Tin Chiêu Hồi với chức vụ Công Cán Ủy Viên đặc trách Hồi Chánh.
Tưởng cũng cần nói thêm, vào thời Đệ I Cộng Hòa, Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung phối hợp cùng Ty Công An Thừa Thiên đã bắt trọn đám gián điệp của bọn Cộng Sản Bắc Việt bí mật bố trí vào Nam hoạt động qua phong trào di cư gồm các tên Đại Tá Lê Câu, đầu sỏ, cùng các tên Lê Hữu Thúy, Vũ Ngọc Nhạ, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe.
Sau đó bọn này bị giam lỏng tại Huế. Riêng tên Đại Tá Lê Câu bị đưa ra thụ hình tại Côn Đảo.
Rồi cuộc đảo chánh 1-11-1963 xảy ra.Theo lệnh của Dương Văn Minh, Hội Đồng Cách Mạng đã thả tất cả số này, ngoại trừ tên Đại tá Lê Câu. Ngược lại, những người quốc gia có công trong việc truy bắt bọn cộng sản, không chỉ riêng vụ này, đều bị bắt vô tù, kể cả ông Tổng Giám Đốc Cảnh Sát và Công An thời đó là Đại Tá Nguyễn Văn Y.
Kết quả ghi nhận đủ để cho S2B đánh giá có thể tên Lê Hữu Thúy đang tái hoạt động cho cộng sản. Nhưng để xác định về tổ chức, thành phần nhân sự của nhóm này còn cần có nhiều thời gian điều tra, theo dõi tiếp. Một toán giám thị đặc biệt gồm toàn những cán bộ ưu tú của S2B đã được bố trí giám sát chặt chẽ mọi hành tung thường nhật của tên này 24/24 giờ. Đồng thời lợi dụng ưu thế xâm nhập của TBV Z23 đã được tên Thúy tin tưởng, S2B đã hướng dẫn TBV bí mật lắp đặt một hệ thống nghe lén để ghi âm tất cả nội dung các cuộc tiếp xúc của mục tiêu với những phần tử liên hệ trong tổ chức và tất nhiên một nhà an toàn đã được thiết lập gần đó để theo dõi mọi diễn biến.
Sau một thời gian điều tra, S2B đã phát hiện được một mục tiêu rất đáng quan tâm. Vào ngày… tháng… năm 1968, mục tiêu đến tiếp xúc với tên Thúy vào lúc 8 giờ tối, hai bên đã bàn thảo nhiều về tình hình chính trị thế giới, trong đó có nói đến sự thắng thế của Khối Cộng Sản Quốc Tế, thế mạnh của Cộng Sản Việt Nam trong Khối thứ 3, những chiến thắng dồn dập của VC tại miền Nam và đặc biệt nhất là ưu thế của CSBV trong bàn hội nghị sắp diễn ra tại Paris vào đầu năm 1969.
Rõ rệt đây là những sinh hoạt nội bộ của cấp cơ sở và tên ra mặt này chắc chắn là cấp chỉ huy của Lê Hữu Thúy. Vậy y là ai, đang làm gì và ở đâu?
Toán giám thị đã bám sát y và phát hiện y đang trú ngụ tại Hàng Xanh, Thị Nghè. Sưu tra tờ khai gia đình được biết y mang tên Vũ Ngọc Nhạ và qua tàng thư văn khố của BTL/CSQG y có những quá trình hoạt động như sau:
-
Vũ Ngọc Nhạ còn có tên là Vũ Xuân Nhã, bí danh Hai Long, sanh ngày 30 tháng 3 năm 1928 tại Thái Bình, Bắc Việt.
-
Năm 1946, tham gia hoạt động cộng sản phụ trách Công giáo vận, nhờ lợi thế y có quen biết với Giám mục Lê Hữu Từ và Cha Hoàng Quỳnh.
-
Năm 1953, được chuyển về cơ quan Tình Báo đặc trách Công giáo.
-
Năm 1954, được bố trí xâm nhập miền Nam theo phong trào di cư ngụ tại giáo xứ Bình An với Cha Hoàng Quỳnh. Về sau, y di chuyển về sống tại Thị Nghè, Sàigòn, nhưng vẫn thường xuyên lui tới giáo xứ Bình An để giữ mối quan hệ với Cha Hoàng Quỳnh và sống bằng nghề viết báo, dạy học.
-
Năm 1957, y bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung câu lưu do sự chỉ điểm của một hồi chánh viên, và bị giam giữ tại Huế cùng lúc với các tên Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Hòe và đồng bọn. Nhờ sự che chở của LM Hoàng Quỳnh, các tên này chỉ bị giam giữ tại Tòa Khâm Sứ Huế và không bị truy tố. Và từ đó bọn chúng lại có cơ hội tái cơ cấu tổ chức này dưới danh nghĩa Công giáo, soạn thảo nhiều kế hoạch “chống Cộng” và những nguy cơ đe dọa chế độ được ông Cố vấn Miền Trung Ngô Đình Cẩn đặc biệt quan tâm và đề bạt lên cho ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
-
Năm 1963, sau khi Dương Văn Minh làm cuộc đảo chánh, y và đồng bọn được phóng thích, trở về Sàigòn tiếp tục hoạt động dưới sự che chở của LM Hoàng Quỳnh ở giáo xứ Bình An và LM Nhuận ở Tân Định.
Núp dưới con chiên ngoan đạo, hiểu biết sâu rộng về hiện tình đất nước, Vũ Ngọc Nhạ đưa ra nhiều kế hoạch “đánh phá” cộng sản rất được các linh mục này chú ý. Như kế hoạch sử dụng những người của kháng chiến, những hồi chánh viên có khả năng và kinh nghiệm cộng sản. Mục đích là để bọn chúng có dịp cài người của chúng leo cao vào chánh quyền của ta.
Hầu hết các kế hoạch của y đều được các Cha ủng hộ mạnh mẽ và lần lượt được đề bạt lên cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. (Nhờ vậy, sau 30-4-1975, y mới có dịp huênh hoang tự xưng mình là Cố Vấn của Tổng Thống VNCH).
Căn cứ vào kết quả điều tra sơ khởi có thể kết luận hai tên Lê Hữu Thúy và Vũ Ngọc Nhạ đã tái hoạt động. Dù chưa xác định được chúng hiện nằm trong tổ chức nào và gồm những ai nhưng có thể giải đoán theo kinh nghiệm, và dựa vào quá trình hoạt động của bọn chúng thì đây là một tổ chức tình báo chiến lược. Công tác xâm nhập ngày càng trở nên hấp dẫn và lý thú.
Ít lâu sau đó, toán theo dõi phát hiện Vũ Ngọc Nhạ xuất hiện từ nhà ở Hàng Xanh, Gia Định, dùng xe Mobylette (mà bọn cán bộ tình báo hay sử dụng theo những khám phá trước đây) di chuyển về hướng Đại Lộ Thống Nhất chạy thẳng về Dinh Độc Lập đến cổng sau gởi xe và đi vào bên trong. Độ nửa giờ sau y trở ra lấy xe và đi trở về nhà.
Y đã gặp ai trong đó ? Tổ chức này quả có phần lợi hại và là mục tiêu hết sức hấp dẫn của Khối Đặc Biệt. Phải chăng chính tên Vũ Ngọc Nhạ này là người mà Lê Hữu Thúy đã tiết lộ với TBV Z23 tổ chức của y đã cài được người vào tận Dinh Tổng Thống. Trong chiều hướng đó, Khối Đặc Biệt nhất định phải vén màn bí mật này càng sớm càng tốt.
Chỉ một thời gian sau đó, toán theo dõi ưu tú của S2B đã phát hiện được một sự kiện quan trọng.
Ngày… tháng… năm 1969, mục tiêu xuất hiện từ nhà di chuyển về hướng Sàigòn. Khi đến góc Đại lộ Nguyễn Huệ và Lê Lợi, y ngừng lại gởi xe và vào nhà hàng Brodard kêu nước uống và ngồi chờ. Độ 10 phút sau, một người đàn ông trạc chừng 60 tuổi ăn mặc khá sang trọng xuất hiện đến bắt tay rồi ngồi xuống cạnh bên, tay cầm theo một bao thư lớn màu vàng khá nặng dường như có một quyển sách bên trong. Sau khoảng nửa giờ thì người đàn ông đến sau đứng dậy giã từ và để lại bao thư trên bàn cho tên Nhạ.
Toán giám thị liền bám sát tên này. Đương sự đến chiếc xe Citroen loại 2 chỗ ngồi màu xám mang bảng số EB…. đậu bên đường mở máy và di chuyển về phía đường Tự Do, đến Nhà Thờ Đức Bà thì rẽ về đường Nguyễn Du, sau đó quẹo vào đường Huyền Trân Công Chúa, phía sau Dinh Độc Lập và chạy thẳng vào bên trong.
Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu này chắc chắn phải có sự liên hệ mật thiết với Vũ Ngọc Nhạ. Dồn hết mọi nỗ lực, S2B phải khám phá cho bằng được nơi cư ngụ của mục tiêu quan trọng này.
Đến khoảng 8 giờ 30, mục tiêu từ Dinh Độc Lập lái xe trở ra, hướng về đường Tự Do đến building số … thì dừng lại, tắt máy xe lên lầu đến phòng số … thì mở cửa vào trong. Đến khoảng 10 giờ thì tắt đèn. Rõ ràng đây là nơi cư ngụ của mục tiêu.
Sưu tra tờ khai gia đình ghi nhận chủ nhà có tên là Nguyễn Văn Tư. Kết quả sưu tra tên này vô danh trong hồ sơ văn khố.
Qua cách phục sức luôn luôn ăn mặc chỉnh tề, lúc nào cũng thắt cà-vạt, thỉnh thoảng lại mặc veston đi làm, chứng tỏ mục tiêu không phải là một nhân vật tầm thường, ít ra cũng thuộc hàng Chánh Sở hay Giám Đốc gì đó.
Khối Đặc Biệt đã bí mật chụp ảnh tên này và qua ảnh phóng đại, Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Trưởng Khối Đặc Biệt, xác nhận đây chính là tên Huỳnh Văn Trọng, cố vấn ngoại giao của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mà có lần Thiếu Tá Mâu đã được gặp nhân dịp vào Dinh Độc Lập yết kiến Tổng Thống Thiệu.
Qua điều tra, Khối Đặc Biệt được biết khoảng 1945 – 1946, lúc ở Hà Nội, Huỳnh Văn Trọng theo Cha Bửu Dưỡng hoạt động trong Chi hội Hòa Bình thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, nhờ đó có quen biết với Lê Hữu Thúy.
Năm 1955, Huỳnh Văn Trọng được cử làm Đổng Lý Văn Phòng Bộ Nội Vụ do Huỳnh Văn Nhiệm, một người của Dân Xã Đảng Hòa Hảo làm Tổng Trưởng.
Dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, y bị bỏ rơi nên bất mãn về Miền Tây dạy học và viết báo. Về sau y trở về Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng, Sàigòn, ẩn thân và đã gặp lại Lê Hữu Thúy và Vũ Ngọc Nhạ.
Năm 1967, y được bố trí xâm nhập vào Dinh Độc Lập và được Tổng Thống Thiệu chọn làm Cố Vấn Ngoại Giao và sau đó được đề cử hướng dẫn phái đoàn ngoại giao VNCH sang Mỹ để tìm hiểu thực chất chính sách của Tổng Thống Hoa Kỳ đối với VNCH. Lợi dụng cơ hội này, y đã khích động nhóm phản chiến Hoa Kỳ tích cực chống chiến tranh Việt Nam.
Với một quá khứ mù mờ như vậy, tại sao Huỳnh Văn Trọng lại lọt được vào Dinh Độc Lập và làm đến chức Cố Vấn cho Tổng Thống? Lẽ ra đối với một chức vụ quan trọng như vậy, y phải được điều tra thật cẩn thận trước khi được tin dùng. Đằng này, rất tiếc đã không có, nhưng cũng không quá muộn vì dù sao đương sự cũng đang được lọt vào “đôi mắt xanh” của Ngành CSĐB rồi.
– Biện Pháp đối phó: Kế hoạch xâm nhập Đống Đa hình thành.
Nỗ lực tiếp tục điều tra, theo dõi 3 mục tiêu đầu sỏ này, S2B ngày càng thu thập thêm nhiều bằng cớ quan trọng khác, xác nhận cả ba đang cùng nằm trong cùng một tổ chức “Tình Báo Chiến Lược” đã ăn sâu gốc rễ vào Dinh Độc Lập. Chúng có cả hộp thư an toàn, hệ thống giao liên vào mật khu, và cả lịch trình tiếp xúc được ấn định trước.
Nhưng công tác còn cần được nuôi dưỡng thêm một thời gian nữa, vì dù sao đây mới chỉ là giai đoạn sơ khởi của mục tiêu xâm nhập được đề ra. Cái chính phải phát hiện cho kỳ được là bọn đầu não của chúng: Phòng Tình Báo Chiến Lược thuộc Trung Ương Cục Miền Nam (tức Cục R) trực thuộc Cục Nghiên Cứu Bắc Việt. Do đó, công tác mang ngụy danh Đống Đa được hình thành.
Công tác xâm nhập được hoạch định như sau:
Mục tiêu xâm nhập: Cụm Tình Báo Chiến Lược A22 thuộc Phòng Tình Báo Chiến Lược Trung Ương Cục Miền Nam trực thuộc Cục Nghiên Cứu Bắc Việt.
– Ngụy danh công tác: ĐỐNG ĐA
– Ngày khai triển: Tháng 8 năm 1968.
– Chỉ huy tổng quát: Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Trưởng Khối Đặc Biệt
– Chỉ huy trực tiếp: Đại Úy Phạm Đức, Trưởng cơ quan S2B
– Phụ Tá Điều Hành: Trưởng Ban 3 thuộc S2B
– Cán Bộ Điều Khiển: Chiến hữu Lê Văn Ngọc
– Tình Báo Viên xâm nhập: Z23
Cùng sự yểm trợ tích cực và dồi dào về phương diện kỹ thuật và tài chánh của Cố Vấn Hoa Kỳ Jim Potraz.
Để thực hiện kế hoạch này, Khối Đặc Biệt lần lượt làm những bước sau đây:
Thứ nhất: Thẩm tra lại sự trung thực của TBV Z23 qua máy kiểm tra nói dối. Kết quả xác nhận những báo cáo của TBV Z23 từ trước đến nay đều ở mức độ khả tín cao.
Thứ hai: Báo trình kết quả điều tra sơ khởi lên Thủ Tướng Chính Phủ để có biện pháp đối phó.
Sau đó, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đã đích thân đến Tổng Nha CSQG (lúc đó chưa đổi thành Bộ Tư Lệnh) trực tiếp gặp TBV Z23 để hỏi chi tiết nội vụ.
Trong tinh thần tiếp xúc cởi mở, trước sự chứng kiến của Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tổng Giám Đốc CSQG lúc bấy giờ, và Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Trưởng Khối Đặc Biệt, TBV Z23 đã kể lại tất cả nội vụ. Thủ Tướng Khiêm lắng nghe mọi chi tiết báo cáo của TBV. Sau cùng Thủ Tướng Chính Phủ đã đưa ra đề nghị khích lệ tùy TBV lựa chọn:
(1) Sau khi phá vỡ công tác có kết quả, TBV sẽ được tuyển chọn chánh thức vào làm nhân viên CSQG Ngành Đặc Biệt với ngạch Phó Thẩm Sát Viên Tập Sự (tương đương với Trung Sĩ sau này) cùng một số tiền thưởng xứng đáng.
(2) TBV sẽ được đi du lịch nước Mỹ 10 ngày, mọi chi phí chính phủ sẽ đài thọ.
Hai điều kiện Thủ Tướng đưa ra thật hấp dẫn, nhưng TBV đã chậm rãi thưa với Thủ Tướng: “Kính thưa Bác, cháu vốn dĩ ít học, không biết chút gì về ngoại ngữ nên không dám đi Mỹ một mình. Sau này, nếu cháu làm việc có kết quả, xin bác cho cháu được thật sự vào làm việc trong ngành Cảnh Sát để cháu có cơ hội phục vụ đất nước. Như vậy là cháu mãn nguyện lắm rồi. Không dám mơ ước gì hơn nữa”.
Bằng giọng nói nhỏ nhẹ, Thủ Tướng nói: “Bác hứa với cháu là nếu cháu làm việc có kết quả, Bác sẽ cho cháu được nhập ngạch thẳng vào ngành CSQG như cháu mong muốn. Chuẩn Tướng Hai và Thiếu Tá Mâu sẽ đích thân làm việc này giúp cháu. Cháu cứ yên tâm và làm việc cho tốt đi. ”
(Tưởng cũng cần nói rõ là một nhân viên cảnh sát khi được tuyển dụng vào ngành CSQG cấp bậc khởi đầu là Cảnh Sát Viên phù động đồng hóa công nhật. Với ngạch này, ít nhất 5 năm sau, nếu chịu khó làm việc tạo được thành tích đáng kể mới hy vọng được nhập ngạch thực thụ với cấp bậc Phó Thẩm Sát Viên Tập Sự. Z23 đã được Thủ Tướng hứa cho nhập ngạch ngay sau khi công tác phá vỡ có kết quả, quả thực là một tưởng thưởng khá đặc biệt, ít ai được.)
Sau buổi tiếp xúc gặp TBV Z23, Thủ Tướng đã quyết định trình nội vụ lên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Đây là một sự kiện lịch sử có một không hai trong quá trình hoạt động tình báo của Khối Đặc Biệt. Thuyết trình viên cho Tổng Thống là Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Trưởng Khối Đặc Biệt. Tổng Thống hết sức chú ý lắng nghe từng chi tiết một, sắc diện biến đổi từng lúc, tùy theo nội dung sự việc mà Thiếu Tá Nguyễn Mâu trình bày. Sự xúc động nổi lên rõ rệt trên nét mặt đầy âu lo của Tổng Thống, một kẻ địch nguy hiểm đang ở cạnh mình bấy lâu nay mà mình không hay biết.
Trải qua gần 3 tiếng đồng hồ đầy căng thẳng, Thiếu Tá Trưởng Khối đã đi đến kết luận: “Đây quả là một tổ chức tình báo chiến lược cộng sản khá nguy hiểm đã xâm nhập sâu vào cơ cấu chính quyền ta qua sự điều khiển trực tiếp của Cục Nghiên Cứu Bắc Việt. Tổ chức này hiện nằm trong tay ta nhưng Khối Đặc Biệt còn cần thêm một thời gian nữa để thu thập đầy đủ tài liệu và chứng cớ cũng như toàn bộ nhân sự của chúng để đánh phá một cách toàn diện và triệt để. Đây quả thật là một thử thách hết sức cam go cho cả Khối Đặc Biệt và Tổng Thống, vì chỉ cần một sơ hở nhỏ cũng đủ gây nghi ngờ cho những tên điệp báo cáo già này và sẽ đưa đến sự đổ vỡ toàn bộ cho công tác” .
Tổng Thống đã hết sức đắn đo suy nghĩ, các cán bộ Cảnh Sát Đặc Biệt của Thiếu Tá Mâu có đủ khả năng cáng đáng công tác lớn lao và nguy hiểm này hay không? Kế hoạch xâm nhập kéo dài có bảo đảm được an toàn cá nhân cho Tổng Thống không? Nỗi lo âu đang trĩu nặng trong lòng Tổng Thống. Ông muốn biết làm sao Khối Đặc Biệt đánh phá tổ điệp báo nguy hiểm này?
Thấu hiểu nỗi âu lo của Tổng Thống qua những giọt mồ hôi đang rịn ra trên trán, Thiếu Tá Mâu tuyên hứa với Tổng Thống sẽ làm hết sức mình để hoàn tất công tác trong một thời gian ngắn nhất. Nhưng việc trước tiên mà Khối Đặc Biệt mong mỏi là Tổng Thống nên tiếp tục duy trì mọi liên lạc với hai tên Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng một cách bình thường. Tổng Thống không nên hạn chế việc ra vào Dinh Độc Lập của hai tên này, nhất là tên Huỳnh Văn Trọng. Hãy để cho y vẫn tiếp tục vai trò cố vấn của mình bằng cách trao cho y những kế hoạch tài liệu không có giá trị để y mật trình báo cáo về cho bọn cộng sản Bắc Việt đầu sỏ để chúng bỏ công nghiên cứu, khai thác.
Kết quả vở bi hài kịch này đã được trình diễn khá xuất sắc. Huỳnh Văn Trọng không hề mảy may nghi ngờ gì về vai trò cố vấn “bù nhìn” của mình. Tài liệu vẫn được y chuyển về mật khu tới tấp.
Vũ Ngọc Nhạ có biệt danh Thầy Bốn vì y là tu xuất. Thỉnh thoảng mỗi lần đi câu hay đi săn về, Tổng Thống không quên gởi biếu cho y một con cá (thực ra mua ngoài chợ) hay một miếng thịt nai (mua ở Long Thành) khiến y lúc nào cũng vênh vênh tự đắc. Y có biết đâu, sau lưng của y, lúc nào cũng có một toán theo dõi mọi hoạt động của y. Nhất nhất mọi hoạt động của y đều được bí mật thu hình. Nhờ vậy, sau khi đánh phá, cho y xem mọi sinh hoạt hàng ngày của mình qua màn ảnh TV, y gần như chết lặng không chối được nửa lời.
Trục Trặc Kỹ Thuật:
Trong khi công tác xâm nhập đang diễn tiến tốt đẹp thì một trục trặc kỹ thuật nhỏ đã xảy ra, khiến mọi người đều hết sức lo âu nhất là Thiếu Tá Trưởng Khối Đặc Biệt, người đứng ra chịu trách nhiệm trước Tổng Thống.
Hẳn chúng ta còn nhớ, trước đây khi cài TBV Z23 xâm nhập mục tiêu Lê Hữu Thúy, S2B đã bí mật gắn một máy thu âm tại nhà tên này để ghi lại mọi tiếp xúc trao đổi của bọn chúng. Đồng thời S2B còn có một căn nhà gần bên để làm nhà an toàn và cử nhân viên thường xuyên túc trực tại đây để trực tiếp theo dõi phát hiện mọi sinh hoạt của bọn chúng. Tổ trưởng Tổ giám sát này là Thượng sĩ Tô Văn Giàu, một nhân viên giàu kinh nghiệm của S2B. Một ngày nọ, đến phiên đổi ca, Tô Văn Giàu không xuất hiện. Ngày thứ nhất rồi đến ngày thứ hai, thứ ba, Giàu vẫn bặt vô âm tín. S2B đã cho người đến nhà đương sự để tìm hiểu sự thật. Nhà Tô Văn Giàu vẫn khóa, y thường sống ở đấy một mình, vậy việc gì đã xảy ra?
Rồi một toán cảnh sát sắc phục thuộc Bộ Chỉ Huy CSQG Quận Nhì được mời đến, được sự cho phép của tòa án đã phá cửa nhà Giàu. Sau khi lục soát kỹ lưỡng, toán điều tra chẳng tìm ra được manh mối gì.
Mở cuộc điều tra, S2B được biết trước đây, ngoài giờ làm việc ở Sở, lúc rảnh rỗi Giàu sống bằng nghề buôn bán vàng và hột xoàn tại nhà. Trong số khách hàng của y có một người đàn bà ở Biên Hòa thường xuống Sàigòn liên lạc. Một ngày nọ, người đàn bà bỗng nhiên mất tích. Gia đình bà này túa ra đi tìm kiếm nhưng vẫn không thấy đâu. Một hôm, con gái của bà ta nằm mơ thấy bà về báo mộng cho biết đã bị tên Giàu có nhà ở trên đường Trần Hưng Đạo, bên cạnh Nha CSQG Đô Thành giết chết và chôn xác bà ngay trong nhà của y. Thế là được sự cho phép của tòa án, Phòng Tư Pháp Quận 2 đã tới nhà y để mở cuộc khám xét. Lần đầu thất bại, toán điều tra không tìm thấy chứng cớ gì. Cảnh sát tạm xếp hồ sơ, nhưng bà ta lại về báo mộng lần nữa chỉ rõ địa điểm nơi xác bà bị chôn ẩn dưới đáy tủ. Cảnh Sát lại xin lệnh khám xét lần thứ hai. Lần này, sau khi đào bới dưới đáy tủ, nơi bà ta về báo mộng, toán điều tra đã tìm được thi thể của bà.
Riêng về tên Tô Văn Giàu, sau khi vì ham của, gây án mạng đã bỏ trốn về Miền Tây tìm cách vượt biên qua Miên sinh sống. Khi đến Châu Đốc, y có thể vì quá hối hận đã ra đầu thú Cảnh Sát sở tại và sau đó được chuyển về Sài Gòn để điều tra.
Vụ án này đã gây dư luận khá xôn xao. Toàn thể báo chí tại Sàigòn lúc đó đều vào cuộc, đăng tải với nhiều tin tức thật giật gân, nóng bỏng. Khối Đặc Biệt cũng không kém phần âu lo và hồi hộp theo dõi tình tiết nội vụ.
Một ngày nọ, có một tờ báo khá nổi tiếng thời bấy giờ đã tiết lộ tin tức về tiểu sử và hoạt động hiện tại của Tô Văn Giàu. Tờ báo tiết lộ, nghe đâu Tô Văn Giàu đang phụ trách canh giữ một nhà an toàn ở Gia Định để theo dõi một cán bộ cộng sản đang nằm vùng tại đây. Công tác Đống Đa thực sự đang bị “trục trặc kỹ thuật” và có nguy cơ bị bại lộ. Nhưng may mắn thay, tên Tô Văn Giàu trong khi bị tạm giam tại Ty CSQG Quận 2 để điều tra, có lẽ đã quá hối hận về tội ác của mình đã làm, nên giữa đêm y đã treo cổ tự tử. Nhờ vậy mà cuộc điều tra chấm dứt. Sau cái chết của y, báo chí Sài gòn cũng tạm thời chấm dứt việc đưa tin. Khối Đặc Biệt thở phào nhẹ nhõm, sau nhiều đắn đo suy nghĩ, Thiếu Tá Nguyễn Mâu quyết định đánh phá tổ chức này vào một ngày thuận lợi nhất.
– Phá Vỡ:
Vào ngày N đã định, khoảng trung tuần tháng 7 năm 1969, Toán giám thị phát hiện tên Vũ Ngọc Nhạ từ nhà ở Hàng Xanh, Gia Định, di chuyển về hướng Sàigòn, chạy thẳng về Ngã Sáu Chợ Lớn, đến góc đường Nguyễn Tri Phương và Minh Mạng thì dừng lại, dẫn xe lên đường chờ đợi. Độ 10 phút sau, một nữ giao liên mà S2B đã từng phát hiện trước đây xuất hiện, tay y thị có xách một cái túi nhỏ đi ngang qua mặt tên Nhạ.
Sau khi nhận nhau, tên Nhạ lẳng lặng đi theo sau. Đi được một đoạn ngắn nhìn kỹ trước sau không thấy có gì khả nghi, cả hai bắt đầu trao đổi tài liệu. Vũ Ngọc Nhạ nhận cái túi nhỏ từ tên nữ giao liên, đồng thời trao lại cho y thị một gói nhỏ bằng bao thuốc lá và chia tay. Tên nữ giao liên đi thẳng về phía chợ An Đông, còn Vũ Ngọc Nhạ quay trở lại lấy xe và chạy thẳng về nhà.
Không bỏ sót một chi tiết nhỏ nhặt hoặc một cá nhân nào, toán giám thị thứ hai bám sát nữ giao liên và khi đến một đoạn đường vắng vẻ nhất, bí mật “mời” y thị lên xe chạy thẳng về cơ quan S2B với đầy đủ tang chứng. Cái hộp nhỏ mà Vũ Ngọc Nhạ vừa trao cho y thị bên trong đựng 3 ống thuốc chứa đầy vi phim sao chụp tài liệu “Kế Hoạch Kinh Tế Hậu Chiến” của Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Tài liệu này đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu giao cho Huỳnh Văn Trọng một tháng trước đó theo đề nghị của Khối Đặc Biệt.
Xúc tiến kế hoạch đánh phá, ngay trong ngày hôm đó, tại Dinh Độc Lập, Tổng Thống Thiệu đã mở một tiệc nhỏ để khoản đãi ông Cố Vấn Huỳnh Văn Trọng với lời cảm ơn sau cùng trước khi chấm dứt nhiệm vụ của y.
Và ngay tối hôm đó, Khối Đặc Biệt đã mở cuộc hành quân chớp nhoáng bắt giữ gần như toàn bộ đầu sỏ Tổ Gián Điệp lợi hại này gồm các tên:
– Vũ Ngọc Nhạ, bí danh Hai Long, Cụm phó A22 kiêm tổ trưởng Tổ Điệp Báo này.
– Lê Hữu Thúy, tự Thắng, cán bộ Tổ Điệp Báo A22.
– Huỳnh Văn Trọng, cán bộ tổ A22.
– Vũ Hữu Ruật, cán bộ tổ.
– Nguyễn Xuân Hòe, cán bộ tổ.
– Nguyễn Xuân Trừng, cán bộ tổ.
Và tiếp theo những ngày sau đó, cuộc hành quân đã tiến lên Đà Lạt, ra tận Thừa Thiên, câu lưu toàn bộ tổ chức của chúng, tổng cộng trên 40 tên. Riêng tên Tư Lê, chức vụ Cụm Trưởng Cục A22 này, lúc đó đang ở trong mật khu nên thoát nạn.
Dân biểu Hoàng Hồ (chủ nhiệm báo Trinh Thám) biết bị động nên chui vào nhà ông Đại sứ Ba Lan trong vòng thành Pétrus Ký cũ ẩn náu và sau đó trốn biệt tích.
Tại S2B, tên Vũ Ngọc Nhạ khai chiếc xách nhỏ mà y nhận của nữ giao liên lúc ban chiều có chứa một chỉ thị mật của căn cứ gởi cho đương sự khẩn báo phải cảnh giác tối đa về tổ chức có thể đang bị địch phát hiện. (Có thể bọn này đã đánh hơi được qua tin tức mà báo chí Sàigòn đã đăng tải trong vụ án Tô Văn Giàu). Bức thư này được viết bằng một loại mực chỉ có thể mã hóa bằng một loại hóa chất đặc biệt do Liên Sô cung cấp. Chữ chỉ hiện lên và tự biến mất sau 15 phút thành ra Khối Đặc Biệt không có cơ hội đọc được bức thư này.
Ngoài ra tại nhà tên Vũ Hữu Ruật ở đường Trần Quang Khải, Đa Kao Sàigòn, S2B đã tịch thu được một số vi phim đã dấu sẵn trong các ống thuốc tây, nội dung chụp lại các tài liệu mà Huỳnh Văn Trọng và Lê Hữu Thúy đánh cắp được từ Phủ Tổng Thống và Bộ Chiêu Hồi, trong đó có cả các tài liệu (giả) vô giá trị mà Khối Đặc Biệt từng trao cho Tổng Thống Thiệu để giao lại cho Huỳnh Văn Trọng.
Trước những chứng cớ rành rành như vậy, cả ba tên đầu sỏ đều cúi đầu nhận tội. Riêng Vũ Ngọc Nhạ tỏ ra cởi mở hơn, y tâm sự, y không bao giờ nghĩ rằng tổ chức của y có thể bị phát hiện vì Tổng Thống Thiệu đối xử với y như một người thân trong gia đình. Y có ngờ đâu, đó chẳng qua cũng chỉ là kế hoạch của Khối Đặc Biệt đề ra nhằm ru ngủ y mà thôi. Sau này, nằm trong tù, chắc y có dịp nghiền ngẫm và thấm thía lắm. Y khoe khoang là đã nhiều lần được Tổng Thống Thiệu ngỏ ý mời y làm cố vấn nhưng y đều từ chối vì biết rằng nếu y công khai chường mặt thì sớm muộn gì y cũng bị Ngành An Ninh lỗi lạc của chúng ta lột mặt nạ. Do đó, y đã tìm cách giới thiệu Huỳnh Văn Trọng cho Tổng Thống, còn y chỉ đứng trong bóng tối điều khiển sẽ có lợi hơn.
Thành thật mà nói, trong giai đoạn đầu, tổ chức gián điệp này cài người khá thành công. Nhưng may mắn nhờ ta phát hiện sớm nên bọn chúng chưa làm được việc gì quan trọng. Hầu hết những tài liệu chúng thu thập được chẳng qua chỉ là một mớ giấy lộn mà ta đã chọn để đưa cho chúng làm tin hầu sau này phá vỡ, bắt trọn ổ mà thôi.
Cuộc đấu trí đầy hứng thú đã chấm dứt. Kết quả là hơn 40 tên cán bộ và cơ sở của tổ điệp báo A22 hoàn toàn bị vô hiệu hóa, trong đó cả các tên đầu sỏ như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Vũ Hữu Ruật và Lê Hữu Thúy, lãnh 4 bản án chung thân lưu đày ra Côn Đảo.
– Tưởng Thưởng:
Các viên chức và cán bộ hữu công trong công tác đều được tưởng thưởng. Trong Quyết Định số … ngày … tháng … năm 1970, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đã đặc cách thăng cấp cho các cấp chỉ huy xuất sắc sau đây:
– Thiếu Tá Nguyễn Mâu, Trưởng Khối Đặc Biệt, đặc cách thăng cấp Trung Tá.
– Đại Úy Phạm Đức, Trưởng S2B, đặc cách Thiếu Tá.
– Biên Tập Viên Nguyễn Văn Cung, Chủ sự Phòng Thẩm Vấn, đặc cách Quận Trưởng CSQG.
– Thẩm Sát Viên Trần Văn Bi, Chủ sự Phòng Nghiên Cứu, đặc cách Biên Tập Viên CSQG.
– Phó Thẩm Sát Viên Lê Văn Ngọc, Cán bộ Điều khiển, đặc cách Thẩm Sát Viên CSQG.
– Tình Báo Viên Z23 đặc cách gia nhập ngành Cảnh Sát với cấp bậc Phó Thẩm Sát Viên Tập Sự.
– Trưởng Ban 3 / S2B được thưởng Đệ II Đẳng Cảnh Sát Chiến Công Bội Tinh.
– Và trên 10 cán bộ S2B được tưởng thưởng Cảnh Sát Chiến Công Bội Tinh Đệ III đẳng. Một số nhân viên nhờ có những huy chương này sau đã được đặc cách theo học các khóa sĩ quan tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, Thủ Đức, (nếu có bằng Trung Học Đệ I Cấp trở lên).
Đồng thời công tác cũng được đưa ra trước Ủy Ban Hỗn Hợp Việt Mỹ để cứu xét tưởng thưởng. Kết quả: Tình Báo Viên Z23 và toàn thể nhân viên hữu công thuộc S2B ngày đêm tích cực điều tra, theo dõi, bám sát các mục tiêu để đem đến kết quả phá vỡ toàn bộ tổ chức gián điệp lợi hại này đều được tưởng thưởng. Số tiền thưởng là một triệu đồng ($1.000.000) đã được Chuẩn Tướng Trần Văn Hai đích thân trao cho TBV và các cán bộ hữu công trong một buổi lễ chào cờ được tổ chức long trọng tại sân cờ Bộ Tư Lệnh CSQG vào một đầu tháng năm đó. Báo giới Sàigòn dịp này một lần nữa lại rầm rộ đưa tin và hết lời khen ngợi, nhiệt liệt chào mừng thành tích vẻ vang này của Khối Đặc Biệt và toàn thể anh chị em chiến sĩ CSQG đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia công tác điệp báo này.
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Phá Vỡ Cụm Tình Báo Chiến Lược A-22_Tài liệu (Lược Sử CSQG)
Kem Sài Gòn, Kem Hà Lội_Dung Hạnh
Kem Sài Gòn, Kem Hà Lội
(HNPĐ): Dù đã biết Hà Nội đang rất thịnh hành với “bún chửi”, “cháo mắng”, nhưng tôi vẫn ngạc nhiên pha chút ngượng ngùng cùng đồng nghiệp vì nét mặt khó chịu không che dấu của cô phục vụ trong quán.
Facebooker Dung Hạnh ở Canada về Hà Nội trong một chuyến công tác với đoàn “chuyên gia”. Nhân lúc rảnh rỗi, cô dắt các bạn đi ăn kem Hà Nội cho biết mùi. Dưới đây là câu chuyện “Đi ăn kem ở thủ đô Hà Nội” của cô:Chuyện nói ngọng vùng miền (Cứ Nẫn Nộn en nờ cao mí en nờ nùn)
Trong một lần đi công tác tại thủ đô Hà Nội, tôi và đoàn chuyên gia Canada bước vào một quán kem sau một ngày làm việc căng thẳng & mệt mỏi.
Dù đã biết Hà Nội đang rất thịnh hành với “bún chửi”, “cháo mắng”, nhưng tôi vẫn ngạc nhiên pha chút ngượng ngùng cùng đồng nghiệp vì nét mặt khó chịu không che dấu của cô phục vụ trong quán.
Sau nụ cười như thể vừa bị bà chủ nhắc nhở “mày không cười thì cuối ngày khỏi nãnh nương nhá nhá nhá”, cô đặt tấm thực đơn một cái “rầm” trên bàn rồi đứng dang ra xa bấm iPhone chơi, bỏ mặc mấy anh Canadians ngơ ngác tưởng mình phạm lỗi gì.
Chỉ có 1 con nhỏ Mít tố nữ là “tui” quê độ nên cóc thèm coi thực đơn luôn !
Vẫn bằng giọng rất nhẹ nhàng & từ tốn, tôi hỏi:
– Tui: Em ơi, em có các loại kem nào ?
– Ẻm: Cái mơ lu trên bàn đây lày !
– Tui: (pà mịa nó, chị mà không chọc được cô em Bắc Kỳ này thì chị gác kiếm xuống núi luôn !) Cái mơ lu là cái gì vậy cưng ?
– Ẻm: Giời ạ ! Mơ lu cũng không biết nà dzì à ? Cái nhà chị lày hay nhễ !
– Tui: Cái nhà chị á ? Đâu có gì hay đâu cưng ! À mà em có kem gì nói đi để chị thông dịch lại cho đồng nghiệp biết.
– Ẻm: Dzì cũng có !
– Tui: Dzì là dzì ?
– Ẻm (bắt đầu “nồng nộn” chơi nguyên một tràng): Dzâu, dzứa, dzừa, va li, na.
Anh bạn đồng nghiệp hỏi bằng tiếng Pháp: “Tôi nghe được một chữ rồi, ở tiệm kem có bán cả va li nữa à ? (Vì nghe như « valise » trong tiếng Pháp).
Tui vừa cười cười, vừa lắc đầu và ngẫm nghĩ chắc kêu cho bạn mấy loại kem Dâu, Dừa và Dứa (Thơm), còn mình ăn thử kem Na coi sao.
Người Nam gọi là trái Mãng Cầu, người Bắc gọi là quả Na. Kem Mãng Cầu của tiệm kem Cô Ba tại Montreal thơm ngon nổi tiếng, bây giờ phải thử kem Na ở Hà Nội chứ.
– Tui: Em cho các anh này kem Dâu, Dừa và Dứa, cho chị kem Na nha.
– Ẻm: Đây bán chứ không cho nhá ! (Ẻm quay phắt vào phía trong, cất giọng như thùng thiếc bể): 1 dzâu, 1dzứa, 1 dzừa, 1 na.
Đang khoái chí cười cười vì vừa phá cô em Bắc Kỳ cáu kỉnh thì …cụp cụp cụp cụp, nàng đã quay trở lại và dện từng ly kem trên bàn nghe như tiếng chày trên sóc Bom bo !
Cứ nhìn màu kem mà đoán thì các anh bạn đã có đúng thứ các anh muốn, nhưng ly của tôi hình như có gì đó sai sai !
– Tui: Em ơi, chị gọi kem Na mà, không phải kem màu trắng sao ? Ly này màu nâu có phải lộn gì không cưng ?
– Ẻm: Nộn dzì mà nộn ! Kêu Na cho Na, nại lói nộn nà thế lào ?!
– Tui: Na phải màu trắng chứ em, Mãng cầu đâu có màu nâu.
– Ẻm: Giời ạ, vớ va vớ vẩn cái nhà chị lày ! Tôi bảo kem Na, nà … sô cô na, tôi có bảo nà quả Na núc lào !!!
Dung Hạnh
😳 🤨 🙃 😝 😜 🤪 🤣 😂 🍨 🍧 🍦 🍫
Chuyện này có thật 100%, em không phân biệt vùng-miền gì đâu, quý vị nhẹ tay cho em nhờ !

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Kem Sài Gòn, Kem Hà Lội_Dung Hạnh
Đừng để Mẹ đợi cơm quá lâu_Thanh Trúc
(trithucvn.net): Mẹ đã mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, vất vả khổ sở đưa chúng ta đến thế gian này, rồi lại cực khổ nuôi chúng ta khôn lớn. Vậy nên thế giới đã có Ngày Của Mẹ để những người con thể hiện sự biết ơn và lòng hiếu thảo của mình đối với mẹ.
Tuy nhiên, không phải người con nào cũng nhớ tới Ngày Của Mẹ, và có rất nhiều chuyện đáng tiếc xảy ra trong ngày này.
Anh Lưu Vỹ Kỳ, một nhân viên nhà tang lễ ở Đài Loan, đã gặp một chuyện khiến anh không thể nào quên chỉ vài ngày sau Ngày Của Mẹ.
Anh Lưu đã đăng một bài viết kể rằng vào ngày hôm đó, một người đã gọi cảnh sát và thông báo rằng gia đình của nhà hàng xóm có mùi rất nặng. Cảnh sát đến hiện trường và phát hiện ra một bà cụ đã chết trong một thời gian dài và những con côn trùng bao phủ cơ thể bà. Điều rất lạ là không có người thân trong gia đình, nhưng trên bàn thì có đầy đồ ăn. Tại sao một bà cụ lại chuẩn bị nhiều món ăn như vậy?
Theo giấy tờ tùy thân tìm thấy tại hiện trường, cảnh sát đã nhanh chóng liên lạc với con trai của bà cụ quá cố. Người con trai về nhà nhìn thấy bàn cơm đã đổ sụp ngay tại chỗ, anh ta đã khóc rất lâu.
Thì ra bà cụ qua đời là một bà mẹ đơn thân, bà đã một mình nuôi nấng con trai trưởng thành. Tuy nhiên, người con trai đi làm ở Singapore, sau khi trở về Đài Loan, anh đã không về nhà thăm mẹ vì công việc bận rộn.
Vào Ngày Của Mẹ, bà cụ đã chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn, hy vọng sẽ có một ngày lễ vui vẻ cùng con trai, thế nhưng đợi mà không thấy con trai quay về. Người mẹ già thất vọng đi tắm và khi bước ra khỏi phòng tắm, bà đã đột ngột qua đời do căn bệnh nhồi máu cơ tim. Trong suốt 4 ngày không có ai phát hiện ra bà cho đến khi thi thể bốc mùi. Có lẽ, đây sẽ trở thành niềm hối tiếc lớn nhất trong cuộc đời của người con trai.
Đến khi con muốn chăm lo thì cha mẹ chẳng còn…
Vào tháng 5 năm nay, một người Đài Loan đã đăng một bài viết kể lại rằng ngày này hai năm trước, cô nhận được một cuộc gọi từ mẹ nói rằng mình bị viêm dạ dày và mong cô có thể về nhà. Khi đó cô đang ở cơ quan, cô thấy rất phiền nên trả lời mẹ rằng đợi đến ngày nghỉ sẽ về! Đến khi cô gọi lại cho mẹ thì không có ai trả lời điện thoại – và đó là cuộc gọi cuối cùng của cô với mẹ. Mẹ cô đã qua đời vào ngày cô nghe điện thoại mà không chịu về nhà…
Nhiều người chúng ta thường nghĩ rằng, con người ta, ngày mai lại có thể gặp được; tình yêu, ngày mai vẫn có thể tiếp tục. Nhưng mọi thứ đều có hạn, thời gian cũng không chờ đợi người, “Điều ngoài ý muốn và ngày mai, sẽ không bao giờ biết được cái nào sẽ đến trước”.
Anh Lưu đã từng chứng kiến nhiều rất nhiều điều hối tiếc, cũng gặp rất nhiều những lỗi lầm không thể cứu vãn. Anh nhắc nhở mọi người rằng, “Công việc rất quan trọng, nhưng đừng quên rằng có một người mẹ già đang đợi bạn …”
Thanh Trúc
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng để Mẹ đợi cơm quá lâu_Thanh Trúc
NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?_Phương Trúc
NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?
Phương Trúc – NHA
Bài nầy không nhằm mục đích phê bình hoặc chỉ trích chế độ dưới thời Tổng Thống NGô Đình Diệm có độc tài hay không? Kỳ thị tôn giáo hay không? Hoặc gia đình trị hay không? Tất cả những việc nầy để lịch sử minh định và phán xét. Riêng tôi viết bài nầy, nhằm mục đích tìm hiểu về cái lợi và cái hại. Khi Tổng Thống Ngô đình Diệm cùng những người cố vấn của ông quyết tâm kết liểu cuộc đời làm tướng của Lê Quang Vinh, tự Ba Cụt và một số nhân vật chánh trị và nhân sĩ quốc gia nặng lòng yêu nước. Triệt để chống thực dân Pháp và Cộng sản.
I. VÁI NÉT VỀ TIỂU SỬ TƯỚNG BA CỤT.

Ba Cụt tên thật là Lê Quang Vinh, sinh năm 1923, tại rạch Bằng Tăng, xã Thới Long, quận Ô Môn, Cấn Thơ. Trong một gia đình nông dân, có 7 anh chị em, gồm có 2 gái và 5 trai. Trong số 5 anh em trai nầy có hai ngươòi đã hy sinh vì Tổ Quốc trước khi Ba Cụt bị chết dưới chế độ Ngô Đình Diệm.. Đó là các ông Lê Quang Tư tự Tư Đèo chết trong trận chiến với Việt Minh Cộng sản tại Cái Nứa, tỉnh Long Xuyên vào tháng 5 năm 1952. Người em thứ 5 Lê Quang Hiếu tự Năm Giò chết trong trận phục kích tàu Pháp tại Sóc Chét, rạch Ông Chưởng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Nay là Tỉnh An Giang vào ngày 16 tháng 2 năm 1948, lúc còn rất trẻ. Sở dĩ Lê Quang Vinh có biệt danh là Ba Cụt do người đời ban tặng cho. Tại vì trong gia đình của Ba Cụt, Ba Cụt là thứ ba. Trong thời gian ban đầu, Ba Cụt tụ họp được một số anh em trong làng. Ba Cụt là người lảnh đạo trong nhóm đó. Thề trước anh em sẽ chống Pháp và Cộng sản cho đến cùng khi nào giành được độc lập cho nước nhà mới thôi. Ba Cụt tự nguyện cầm dao chặt đứt ngón tay út của mình để cắt máu ăn thề trước mặt anh em, như chuyện Đào Viên kết nghĩa.
Cha là Lê Văn Long, mẹ là bà Huỳnh thị Trân có 7 người con Ba Cụt là người con thứ ba trong gia đình. Ba Cụt kết hôn với bà Trần thị Hoa, tự Phấn sanh được 6 người con. Ngoài ra Ba Cụt còn có một người vợ nữa là bà Cao thị Nguyệt trong một gia đình danh giá. Sau khi Ba Cụt bị bắt chính thân phụ của bà Cao Thị Nguyệt bỏ tiền ra để mướn luật sư bào chữa cho Ba Cụt. Còn bà Trần Thị Hoa tự Phấn vợ lớn của Ba Cụt lúc đó đang sinh sống tại Nam Vanh (Phnom Penh) thủ đô của Cambodia cùng một số con. Bà chỉ được biết Ba Cụt bị bắt ở Việt Nam qua báo chí mà thôi. Sau ngày đảo chánh ông Diệm, ngày 1 tháng 11 năm 1963 bà mới trở về nước. Nhưng sự kết hôn của Ba Cụt với bà Cao Thị Nguyệt nặng vế chánh tri hơn là tình yêu. Chẳng khác chi chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu Vì bà Cao thị Nguyệt lúc đó tuổi vừa tròm trèm trên dưới 20, đang du học tại Pháp. Sau Ba Cụt mất bà nối lại mối tình xưa với người yêu cũ cũng du học ở Pháp cùng thời kỳ với bà. Tướng Lê Quang Vinh là người tín đồ trung kiên của PGHH. Mới 20 tuổi tay không với dao gâm, mác vót, tầm vông giạt nhọn. Đánh Pháp, chụp đồn lấy súng. Thoạt từ ban đầu có vài ba cây súng rồi đến hàng chục cây, hàng ngàn cây. Đến năm 1954 lực lượng chiến binh tại ngũ của Ba Cụt lên đến 5.000 người với vũ khí đầy đủ và du kích địa phương cũng trên năm ngàn, tạo thành một lực lượng võ trang khá hùng hậu. Ba Cụt chính là người tạo nên thời thế. Và cũng chính thời thế tạo nên người anh hùng Lê Quang Vinh.
Ý nguyện của Ba Cụt là:
Đánh Tây giành độc lập cho đất nước
Đánh Cộng sản đề trả ơn Thầy
II. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM.
Ông Ngô Đình Diệm sanh ngày 3 tháng 01, năm 1901 Tại Huế. Người làng Đại Phong huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ Ngô Đình Khả, mẹ là bà Phạm thị Thân là vợ thứ nhì của Cụ khả. Cụ khả có một đời vợ trước tên là Chĩu đã qua đời. Cụ khả tái giá với bà Phạm Thị Thân sanh ra 9 người con, sáu trai ba gái. Trong số 6 anh em trai là:Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Cẩn, Cụ Khả là một nhà nho học, nhưng gia đình theo đạo Thiên Chúa. Ông Ngô Đình Diệm là người thành lập ra nền Đệ Nhất Cộng Hoà sau khi truất phế vua Bảo Đại năm 1954 và trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955. Trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà đầu tiên, ngày 26 tháng 10 năm 1955.
Vào khoảng tháng 6 năm 1954 Ông Ngô Đình Diệm được Toà Thánh Vatican và Mỹ hậu thuẫn đưa về nước để giữ chức Thủ Tướng với sự đồng ý của vua Bảo Đại. Ông Ngô Đình Diệm trở về nước ngày 25 tháng 6 năm 1954 tại phi trường Tân Sơn Nhất được dân chúng và các đảng phái chánh tri chào đón. Đến ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Ngô Đình Diệm được chánh thức giữ chức Thủ Tướng kiêm nhiệm luôn quốc phòng. Ông nắm cả hành chánh và quân sự. Lúc ban đầu các lực lương giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo đều hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Riêng Trung tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tư Lịnh quân đội quốc gia trong Liên Hiệp Pháp bất phục tòng. Nên vua Bảo Đại lúc đó đang công du bên Pháp đánh công điện khẩn, ra lịnh cho Tướng Hinh sang Pháp ngày 20 tháng 11 năm 1954. Bên Hoà Hảo thì tướng Nguyễn Giác Ngộ hợp tác chặt chẽ với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ngay từ lúc ban đầu. Tổng Tư Lịnh lực lượng võ trang Hoà Hảo là Trung Tướng Trần Văn Soái, Tướng Lâm Thành Nguyên thì còn do dự. Nhưng sau cũng hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Riêng tướng Lê Quang Vinh Tự Ba Cụt bất mãn về Hiệp Định Genève ký kết giữa Việt Minh và Pháp tại Geneva, Thụy sĩ chia đôi đất nước nên kéo quân vào bưng để chống lại hai kẻ thù không đội trời chung là Pháp và Việt Minh. Còn ở Sài Gòn thì Tướng Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn Tư Lịnh Bình Xuyên thì cực lực chống lại ông Ngô Đình Diệm. Nên sau bị ông Diệm dùng Liên đoàn nhảy dù và lực lượng Cao Đài Liên minh của Trịnh Minh Thế tấn công Bình Xuyên vào ngày 29 tháng 3 năm 1955, sau mấy tháng chiến tranh xảy ra trên đường phố Sài Gòn và Rừng Sát, cuối cùng Bình Xuyên thảm bại, Bảy Viễn chạy trốn sang Pháp. Tại Tòa Thánh Tây Ninh tuy có những điều không bằng lòng với chánh phủ Ngô Đình Diêm nhưng sau cũng quay về hợp tác với chánh phủ quốc gia.
III. LỰC LƯỢNG NGHĨA QUÂN BA CỤT.
Ở miền Tây, sau khi hiệp định Genève được ký kết vào nửa đêm 20 tháng 7 năm 1954 giữa Việt Minh và Pháp chia đôi đất nước làm cho lực lượng Dân Xã Nghĩa Quân Hoà Hảo của tướng Lê Quang Vinh rất bất mãn. Lập trường của Nghĩa Quân Hoà Hảo là đất nước bất khả phân ly. Đất nước chỉ là một, không thể chia cắt Tổ Quốc ra làm hai miền Nam Bắc. Nên tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt lập tức kéo lực lượng võ trang dưới quyền của ông vào bưng, quyết trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn vô thần Cộng sản cho đến kỳ cùng. Kể từ năm 1954 đến năm 1956, lực lượng Nghĩa quân của Ba Cụt nhiều lần chạm trán nẩy lửa suốt ngày đêm, giao tranh ác liệt giữa Nghĩa Quân Ba Cụt ở miệt Đồng Tháp, dọc theo biên giới Việt Miên cho đến vùng Thất Sơn Bảy Núi, Phú Hữu, Cỏ Lau, Giồng Trà Dênh, Bình Di, Bắc Nam thuộc quận An Phú, tỉnh Châu Đốc. Tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng, U Minh Hạ. Trong thời gian đó, khi Nghĩa Quân di chuyển đến đâu thị lực lượng của Việt Cộng phải né tránh xa. Nên những năm trên, Việt Cộng ở các tỉnh miền Tây phải lánh mặt, không đất dung thân.
Hơn nữa Ba Cụt là người có lý tưởng, có lập trường quốc gia vững chắc quyết đánh đuổi thực dân Pháp, chống Cộng sản rõ ràng. Ông xuất thân từ nông dân yêu nước, những anh em Nghĩa quân của Ba Cụt cũng từ đó mà ra. Còn các cấp chỉ huy dưới quyền của Ba Cụt cũng xuất thân từ lòng yêu nước, từ nông dân mà ra. Họ hiểu rõ từng địa phương, từng đường đi nước bước của kẻ địch, họ mới trị được những tên nằm vùng du kích, những tên nón cối dép râu, khăn rằn mã tấu, quần cụt nón tai bèo cán bộ Cộng sản mà thôi. Hơn nữa họ là những người đã trải qua kinh nghiệm chiến tranh du kích, đánh du kích và diệt trừ du kích như thế nào? Đó là những bài học thực tế không môt ai một sớm, một chiều mà có được. Còn các sĩ quan chánh quy dầu được đào tạo ở những trường quân sự chánh quy nổi tiếng đi chăng nữa cũng đành chịu bó tay trước chiến thuật du kích. Vì chiến thuật du kích thay đổi muôn hình vạn trạng, biến hoá khôn lường. Không có sách vở nào chỉ dạy cho hết. Như ngày xưa, quân Tàu xâm lấn nước ta, Tàu ỷ người đông sức mạnh đánh ta nhưng Tổ Tiên ta là Dạ Trạch Vương Lý Bôn dùng chiến thuật du kích khiến Tàu phải thua xất bất, sang bang, thua dài dài.
Kể từ năm 1945 đến năm 1956, suốt hơn 10 năm những cuộc chiến đấu oai hùng của Nghĩa Quân Ba Cụt đánh chiếm tàu Tây ở Chân Đùng hay chỉ có vài trái lựu đạn với dao găm, lưỡi lê chiếm chiến xa nồi đồng của giặc, lấy đạn đại bác, đốt thiết giáp làm cho Pháp phải kinh hồn bạt vía mỗi khi chạm trán với lực lượng Nghĩa Quân Ba Cụt. Tại các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, Sa Đéc, đồng Tháp Mười, Cà Mau Việt Minh phải nể mặt, chạy dài.
IV. NGÔ ĐÌNH DIỆM THỦ TIÊU NHỮNG THÀNH PHẦN QUỐC GIA CHÂN CHÍNH.
Ông Ngô Đình Diệm về nước nhận chức Thủ Tướng vào ngày 7 tháng 7 năm 1954. Sau nầy được gọi là “Ngày Song Thất”. Các đoàn thể quốc gia đều hân hoan đón tiếp ông như là một tương lai cho đất nước dù ông là người sinh trưởng ra trong một gia đình Công giáo. Vì họ không phân biệt người Thủ Tướng thuộc về tôn giáo nào. Miễn là người đó có đầy lòng nhiệt huyết yêu nước, thương nòi, đưa đất nước và dân tộc ra khỏi vòng kềm tỏa ngặt nghèo, khát máu của chế độ thực dân Pháp. Không bị lệ thuộc vào sự thống trị độc đảng, độc quyền dưới chế độ Công sản là được.
Nên sau đó vài tháng có một buổi họp ở tại hội trường Diên Hồng. Gồm có các thành phần yêu nước ủng hộ ông Ngô Đình Diệm như sau: Ông Nguyễn Bảo Toàn tự Hoàng Bích, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn cùng một số nhân vật khác như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trong đó có ký giả Nhị Lang. Trong lúc đang thảo luận, bỗng ông Hồ Hán Sơn la lên “ Truất phế Bảo Đại, suy tôn Ngô Đình Diệm.” Sau đó mọi người đồng nhất loạt la “Đả đảo Bảo Đại. Đả đảo Bảo Đại.” Hồ Hán Sơn chạy đến giựt chân dung vua Bảo Đại đang treo trên tường xuống. Ký giả Nhị Lang nhanh chân đạp giầy lên hình Bảo Đại, chà cho đến rách nát. Trong lúc đó ông Ngô Đình Diệm chợt xuất hiện, nghe tiếng hò hét ông chỉ mỉm cười rồi vội bước đi chỗ khác mà không nói gì hết. Đó là ngày khởi đầu truất phế vua Bảo đại. Cho đến ngày 23 tháng 10 năm 1955 là ngày trưng cầu dân ý để truất phế vua Bảo Đại vĩnh viễn. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1955 ông Ngô Đình Diệm chánh thức đăng quang làm Tổng Thống đầu tiên của nước VNCH.
Sau khi ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống rồi. Ông chẳng những không chấp nhận ý kiến đối lập của những người quốc gia yêu nước, đã từng ủng hộ ông, khi ông mới trở về nước, đặt bước chân đầu tiên tại phi trường Tân Sơn Nhất sau một thời gian sống ở ngoại quốc để xây dựng một đất nước hoàn toàn dân chủ tự do, đoàn kết dân tộc để chiến thắng Cộng sản. Chính những lời phê bình chỉ trích đứng đắn ấy mà họ phải mang hoạ vào thân. Các ông Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn và một số các nhân vật khác bị bắt, bị thủ tiêu. Bằng cách hành hạ đánh cho đến chết, bỏ vào bao bố tời, neo đá, bỏ xuống sông Sài Gòn chết mất xác. Vợ con không biết chồng, cha mình chết ngày nào để mà làm lễ giỗ cúng cơm. Riêng ký giả Nhị Lang thì khôn khéo hơn, luồn lách hơn nên mới khỏi chết và sau được giữ chức Bộ Trưởng Bộ Thông Tin.
V. TƯỚNG TRỊNH MINH THẾ.
Tướng Trịnh Minh Thế là một tướng xuất thân từ lực lượng Liên Minh Cao Đài. Đã hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm trong buổi ban đầu, nên mới được giao cho nhiệm vụ chỉ huy đánh Bình Xuyên. Nhưng tiếc thay cuối cùng phải chết dưới tay của chế độ đó. Đưới đây là những nghi vấn về cái chết của tướng Trịnh minh Thế.
1. Theo chế độ Ngô Đình Diệm thì cho là tướng Trịnh Minh Thế chết ngoài chiến trường do địch (Bình Xuyên) bắn chết, bởi một viên đạn xuyên qua đầu khi ông ngồi trên xe Jeep đang trên đường hành quân chạy qua đầu cầu Tân Thuận
2. Nhưng theo lời của ông Lê Trọng Văn, Trịnh Minh Thế chết vì tướng Văn Thành Cao cho đàn em ngồi chung xe Jeep hạ sát theo lịnh của ông Ngô Đình Nhu.
3. Theo tài liệu bằng tiếng Pháp do ông Nhị Lang công bố thì tướng Trịnh Minh Thế chết là do Thiếu tá tình báo Pháp tên là Savani từ dưới tàu bắn lên, giết chết tướng Trịnh Minh Thế để trả thù cho tướng Chanson.
4. Theo gia đình của ông Trịnh Minh Thế bởi người con trai út của tướng Thế là Trịnh Minh Sơn công bố trên tờ Làng Văn số 232 vào tháng 12 năm 2002. Là cha ông bị giết tại dinh Độc Lập rồi chở xác đến cầu Tân Thuận để đánh lạc huớng dư luận đồn đãi là nhà Ngô giết tướng Trịnh Minh thế. Theo lời của bà Nguyễn thị Kim vợ của tướng Trịnh Minh Thế, thì chồng bà bị bắn, còn để lại hai vết đạn, chứ không phải một vết đạn như chánh quyền Ngô Đình Diệm công bố.
a. Một vết đạn vào ót trổ ra miệng làm văng mất hàm răng giả. Ám khói súng còn dính lại phía sau ót.
b. Vết đạn thứ hai vào sát lỗ tai mặt, đạn xuyên qua mắt trái, làm bể trồng mắt trái. Khói súng còn ám dính vào lỗ tai. Điều đó người giết Trịnh Minh Thế phải đứng gần và sát một bên của Trịnh Minh Thế. Trịnh Minh Thế bị hạ sát vào lúc 6 giờ chiều ngày 3 tháng 5 năm 1955.
Những người con và vợ của tướng Trịnh Minh Thế thuật lại thì khả tín hơn các phần nghi vấn khác. Vì chính họ nhìn thấy hai vết đạn từ sau ót và bên lỗ tai phải vẫn còn hằn dấu vết của thuốc súng. Vậy là chế độ Ngô Đình Diệm giết Trịnh Minh Thế chớ còn ai khác hơn nữa.
c. Đây tôi cũng xin mở ngoặc cần nói thêm những người quốc gia chân chính hay các Trị sự viên chuyên về việc tu hành cũng không thoát khỏi bàn tay giết người, thủ tiêu của chế độ Ngô Đình Diệm. Vào tháng 10 năm 1962. Tức là trước ngày ông Ngô Đình Diệm bị đảo chánh một năm và bị thảm sát một cách dã man rùng rợn, bởi bọn tay sai nịnh thần trước kia mà ông hết lòng tin cẩn và trọng dụng. Các ông Trần văn Tập, Lê Hoài Nam, Nguyễn văn Dành, Huỳnh Thiện Tứ, Huỳnh Hữu Thiện. Thừa lịnh Đức ông là thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo sai đi công tác về giáo sự ở Sài Gòn. Trên đường về, trở lại Thánh Địa Hoà Hảo, đến mũi tàu Phú Lâm bị bọn mật vụ của ông Ngô Đình Nhu chận lại bắt, bị chế độ Ngô Đình Diệm thủ tiêu, mất xác làm cho vợ con không biết ngày chết chính xác để mà kỵ cơm. Sau nầy giòng họ Ngô Đình Diệm xảy ra những chuyện chẳng lành âu có phải là do sự oan oan tương báo chăng? Điều nầy chúng tôi không dám lạm bàn nhiều. Nhưng ai là người tín đồ Phật Giáo thì hiểu rõ hơn ai hết. Điều dữ cần phải tránh, điều lành cần phải làm dù là tôn giáo nào. Đó là cái gương chung cho những người làm chánh tri về sau nầy. Ngay trong cả gia đình Tổng Thống Hoa Kỳ là Kennedy cũng không thoát khỏi cái luật quả báo nhãn tiền ấy. Kennedy ra lịnh Cabot Lodge ở Sài Gòn mua chuộc các tướng phản tặc với giá ba triệu đồng đảo chánh ông Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963 và đồng loã để cho các tên phản tặc giết chết anh em ông ông Ngô Đình Diệm, Ngô đình Nhu. Thì chỉ có vỏn vẹn ba tuần lễ sau Kennedy bị ám sát chết tại Texas vào ngày 22 tháng 11 năm 1963. Âu đó cũng là một sự quả báo nhãn tiền ngay tức khắc.
Nên Đức Huỳnh Giáo Chủ Nói:
Đời xưa trả báo thì chầy,
Đời nay trả báo một giây nhãn tiền
Hay:
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.
Trong Lục Vân Tiên cụ Đồ Chiểu cũng có viết.
Ai ai lẳng lặng mà nghe
Khá xem chuyện cũ mà dè thân sau.
Đó là những bài học nhãn tiền cho những ai làm chánh trị hay có quyền lực trong tay mà không có lòng nhân, độ lượng bao dung thứ tha cho kẻ khác. Coi việc giết người như là một trò chơi. Giết cho thỏa thích theo sở dục của mình. Chính chế độ Ngô Đình Diệm đào tạo ra tên Đại Úy Nhung chặt thây của tướng Ba Cụt ra thành ba mảnh, bầm nát thây ông sau khi bị thọ hình. Chính tên nầy lại phản chủ đánh đập, kết liễu cuộc đời hai vị lãnh tu của mình là ông Diệm, ông Nhu trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu, từ nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn. Đó mới thấy bài học nhân quả của họ nhà Ngô. Sau cuộc chỉnh lý của Tướng Nguyễn Khánh tên Nhung cũng bị treo cổ trong BTL/KQ ở phi trường Tân Sơn Nhất
VI. TRƯỜNG HỢP DỤ HÀNG TƯỚNG BA CỤT.
1. Dụ Hàng Lần Thứ Nhất:
Khi chánh phủ Ngô Đình Diệm mới về chấp chánh năm 1954. Ông Ngô Đình Diệm cho bào đệ của ông là ông Ngô Đình Nhu đến gặp Ba Cụt lần đầu tiên để chiêu dụ Ba Cụt về hàng, hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Nhưng Ba Cụt chưa nhận lời và chờ xem chế độ Ngô Đình Diệm cư xử với các đảng phái chánh trị quốc gia như thế nào và lập trường ra sao? Nhưng thời cuộc biến chuyển mau lẹ. Hiệp định Genève được ký kết vào lúc giữa đêm ngày 20 tháng 7 năm 1954 với Việt Minh và Pháp, chia đôi đất nước thành hai miền Nam Bắc lấy vĩ tuyến 17, sông Bến Hải làm biên giới chia đôi hai miền Nam Bắc. Ba Cụt bực mình vì hiệp định nầy nên bất mãn, ra lịnh cho toàn thể bộ hạ kéo vào bưng để đánh Pháp và diệt trừ cộng sản. Đó là cơ hội thứ nhất đã trôi qua làm cho Ba Cụt không hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm được như các tướng lãnh Hoà Hảo khác như Trung Tướng Trần văn Soái, Thiếu Tướng Nguyễn Giác Ngộ, Thiếu Tướng Lâm Thành Nguyên.
2. CHIÊU DỤ LẦN THỨ HAI.
Nói là chiêu dụ lần thứ hai như thế nầy là không đúng lắm, mà phải nói lần nầy là lần chế độ Ngô Đình Diệm lừa gạt Ba Cụt thì đúng hơn.
Ông Nguyễn Ngọc Thơ là đương kim đại sứ của chánh phủ VNCH đang nhận nhiệm sở bên Nhật. Được lịnh ông Ngô Đình Diệm triệu hồi về nước, lãnh nhiệm vụ đi chiêu hàng Ba Cụt.
Sở dĩ chế độ Ngô Đình Diệm dùng Nguyễn Ngọc Thơ là vì ông lập được thành tích thuyết phục được bà Lê Thị Gấm là vợ của Trung Tướng Trần Văn Soái tự Năm Lửa, nài nỉ ông Năm Lửa ra mặt với Chánh phủ ông Diệm vào ngày 19-2-1956. Ông Nguyễn Ngọc Thơ lại trở về làm con bài chiêu dụ Ba Cụt ra hàng là vì ông Nguyễn Ngọc Thơ là người quê quán ở Long Xuyên. Có lúc làm tỉnh trưởng Long Xuyên dưới thời Pháp thuộc. Là một tay Đốc phủ sứ của Pháp. Nguyễn Ngọc Thơ cho người tìm thân nhân Ba Cụt ở Bằng Tăng, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Biết được ông thầy giáo tên Huỳnh Kim Hoành là cậu ruột của Ba Cụt. Tánh ông nầy thật thà hiền từ, chân chất, là người tín đồ PGHH. Đã từng dạy học cho Ba Cụt lúc Ba Cụt còn nhỏ. Ba Cụt rất kính mến cậu của mình. Nguyễn Ngọc Thơ cho người mời ông Huỳnh Kim Hoành đến để làm quen. Ông Thơ rất khôn khéo, thân mật với Tư Hoành, vì có dự mưu sẵn nên ông xuống nước gọi ông Hoành bằng anh Tư. Còn ông Hoành gọi ông Thơ bằng ông Đại Sứ. Ông Hoành khi nói chuyện với ông Thơ gọi Ba Cụt bằng “thằng cháu tôi”. Nên ông Thơ làm ra vẻ thân mật gọi Ba Cụt bằng “Chú Ba.” Chứ thực ra họ đâu có quen biết thân nhau gì từ trước. Từ chỗ thân mật giả tạo đó ông Thơ muốn ông Hoành làm mối lái trung gian, liên lạc giữa ông và Ba Cụt. Mục đích để dụ Ba Cụt ra hợp tác với chế độ Ngô Đình Diệm. Ông Hoành vì thật thà không biết nên nhận lời ngay mà không nghĩ đến cái hậu quả khủng khiếp sắp xảy đến cho người cháu của ông là tướng Ba Cụt và bao sinh mạng của anh em Nghĩa Quân Cách Mạng. về sau nầy.
a. Cuộc Gặp Gỡ Giữa Ông Thơ Và Ba Cụt Lần Thứ Nhất.
Vì nhận thấy các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng khai triển ngày 5 tháng 6 năm 1955 kết thúc tháng 12 năm 1955 và chiến dịch Nguyễn Huệ khởi đầu ngày 1 tháng 1 năm 1956 mà không đem lại kết quả mong muốn, không thể nào tiêu diệt được lực lượng Nghĩa Quân của Ba Cụt. Cứ bên phe chánh phủ mở cuộc hành quân lớn thì Nghĩa Quân Ba Cụt phân tán mỏng. Còn phe chánh phủ mở cuộc hành quân nhỏ thì Nghĩa Quân Ba Cụt tập trung lại cường kích, hoặc bắn sẻ, ám sát. Nên phía quân đội quốc gia bị tiêu hao không nhỏ. Có những trận đánh mà bên phe quốc gia bị thiệt hại gần nửa tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Khi hai bên đụng nhau tại vùng xóm Thầy, Cần Thơ vào ngày 10 tháng 1 năm 1956. Bên quân đội Quốc gia do Đại Uý Trần Hữu Hạnh chỉ huy tiểu đoàn 1/36 Thủy Quân Lục Chiến. Bên Nghĩa quân Bạ Cụt do ông Nguyễn Thời Rê chỉ huy trung đoàn Lê Quang là trung đoàn thiện chiến của Ba Cụt. Vì những lẽ nêu trên, nên phía chánh phủ nhận thấy nếu dùng quân sự giải quyết lực lượng của Ba Cụt không thể nào được, nên phải dùng giải pháp chiêu dụ Ba Cụt về hàng rồi sau sẽ tính như trường hợp của Tướng Trịnh Minh Thế, Cao Đài.
Cuộc gặp gỡ giữa ông Thơ và Ba Cụt do ông Tư Hoành mối lái với lời yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc Thơ. Ba Cụt và ông Thơ gặp nhau lần thứ nhất vào ngày 29 tháng 2 năm 1956 tại Cồn Tảo nằm trên sông Tiền Giang, thuộc quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong. Về phía Bắc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Lúc nầy BCH của Ba Cụt đang trú ẩn tại xã Thường Phước đối diện với chợ Tân Châu. Lần gặp nầy hai bên không hứa hẹn với nhau cái gì hết, không có lập biên bản tổng kết, hai bên chỉ nói với nhau bằng lời, có sự hiện diện của ông Tư Hoành. Cuộc họp nầy chỉ là sự thăm dò với nhau. Bên Ba Cụt thì muốn biết ý định của chánh phủ Ngô Đình Diệm nghĩ gì về lực lượng Nghĩa quân của mình. Còn bên ông Nguyễn Ngọc Thơ thì ý nhị sâu sắc hơn. Vừa thăm dò tinh thần của Ba Cụt và sự hoạt động của Nghĩa Quân của ông như thế nào? Vừa là tình báo vừa là ngoại giao. Nhưng Ba Cụt không nghĩ tới, tưởng lầm là bên phía chánh phủ Ngô Đình Diệm thật lòng muốn thương thuyết. Và ông Thơ cũng là người chỉ điểm những yếu tố quan trọng binh lược của Ba Cụt cho Tướng Dương Văn Minh, lúc đó là Tư Lịnh chiến dịch Đinh Tiên Hoàng và Nguyễn Huệ sẽ hành động về sau. Nếu sự hợp tác bất thành
b. Cuộc Gặp Gỡ Giữa Ông Thơ Và Ba Cụt Lần Thứ Hai.
Cũng do sự mối lái của ông Hùynh Kim Hoành, liên lạc với Ba Cụt hẹn ngày hai bên Ba Cụt và ông Thơ gặp nhau vào ngày 4 tháng 4 năm 1956. Trong cuộc gặp nầy ông Ba Cụt đưa ra 16 điều yêu sách. Ông Thơ lại hứa hẹn sẽ về trình lên chánh phủ. Lần nầy cũng nói với nhau bằng miệng, không lập biên bản gì trong buổi hội. Cũng không cam kết gì trên giấy tờ. Ông Thơ lại hứa suông và còn dặn rằng “chú Ba cứ yên tâm chờ đợi. Đừng quậy phá gây nên sự rắc rối mất lòng hai bên,” Và cũng không hứa hẹn gì để hai bên gặp lại nhau lần nữa. Có lẽ nhiệm vụ của ông Thơ đến đây đã đủ. Trong lúc đó thì bên phía chánh phủ âm thầm bố trí sẵn sàng tấn công Ba Cụt khi ông Nguyễn Ngọc Thơ rời khỏi địa điểm họp với Ba Cụt. Cuộc hành quân nầy họ gọi là hành quân Sở Hạ. Gồm có các đơn vị và bố trí như sau: Một trung đoàn bố trí trong khu Châu Phú Bắc. Trung đoàn 41 tấn công vào Thường Phước nơi đặt BCH của Ba Cụt. Một Trung đoàn từ Hồng Ngự tiến lên. Họ tiến quân làm ba cánh. Một từ Sở Thượng tiến lên để khóa vòng vây. Cánh thứ hai bọc hậu tiến theo sông Tiền càng quét vùng kinh Bùi Văn Bút. Cánh thứ ba tấn công thẳng vào kinh Thường Phước. Quân chánh phủ tiến theo ba mũi giáp công. Nhưng Nghĩa Quân Ba Cụt đã vượt khỏi vòng vây. Không đụng với nhau mạnh chỉ lẻ tẻ không đáng kể.
Trong lúc nầy Ba Cụt cứ tin tưởng vào lời hứa của ông Thơ “Chú Ba ráng chờ. Đừng quậy phá gây ra sự rắc rối thêm mất lòng cho cả hai bên.” Chờ mãi mà không thấy tin tức gì từ ông Thơ cũng như từ ông cậu ruột Hùynh Kim Hoành. Nên nóng lòng muốn tiếp xúc với ông Thơ để ra mặt. Nhưng ông nào có ngờ đâu đã lọt vào mưu kế của kẻ tiểu nhân và lưỡi hái tử thần đang rình rập ông ở phía trước ngày lẫn đêm. Mặc dầu sau các chiến dịch hành quân của quân đội quốc gia càn quét dữ dội. Nhưng lực lượng của Ba Cụt được phân tán mỏng nên sự thiệt hại không đến nỗi làm cho lực lượng nầy không còn hoạt động được. Các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực của Ba Cụt vẫn còn hoạt động hữu hiệu.
Sự thất bại của Ba Cụt, đưa đến sự bị bắt về sau nầy ta thấy cũng dễ hiểu thôi. Một là những người trong Ban Tham Mưu của Ba Cụt, không có đủ những tài năng. Hai là Ba Cụt quá chủ quan về tài năng quán xuyến chỉ huy của mình từ trước đến nay mà không nghe theo những lời khuyên bảo từ Ban Tham Mưu của mình hoặc tự tiện quyết định lấy một mình mà không tham khảo ý kiến với những người chung quanh. Đó là một sự lầm lẫn đáng tiếc. Từ ngày Ba Cụt gặp Nguyễn Ngọc Thơ lần thứ hai tin tưởng vào tiếng “Chú đừng quậy nữa. . ..“Mà ngẫu nhiên ngầm ra lịnh cho Nghĩa quân đừng mở các cuộc tấn công vào đồn bót của quốc gia nữa. Chỉ tự vệ mà thôi. Còn bên phía BTL hành quân của Dương Văn Minh thì cho rằng, nhờ các cuộc hành quân của ông mở ra mà lực lượng của Ba Cụt không còn sức để hoạt động được nữa. Thì ai đúng ai sai, ai thiệt ai giả. Đọc giả tự lòng mình phán xét.
VI. BA CỤT BỊ BẮT.
Danh từ Ba Cụt bị bắt như các báo chí và chánh phủ thời đó thường hay dùng không được chính xác đối với Ba Cụt. Mà phải nói rằng Ba Cụt ra nộp mình cho chánh phủ quốc gia để mong có sự hợp tác giữa hai bên, chống cộng sản thì đúng hơn. Chẳng khác chi Từ Hải ra nộp mình cho Hồ Tôn Hiến ngày xưa, Từ Hải lầm mưu nên chết đứng. Ba Cụt cũng thế. Nhưng khi Ba Cụt đã lọt vào tay của chánh phủ Ngô Đình Diệm rồi thì họ cứ nói gì cũng được. Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng đúng. Họ vẽ vời chuyện phục kích của Trung sĩ Giàu là tiểu đội trưởng của một tiểu đội Bảo An đóng đồn ở Chắc Cà Đao. Điều nầy hoàn toàn là chuyện thêu dệt, bịa đặt thêm cho có nhưn có nhụy, có lý cớ để đưa Ba Cụt ra toà lãnh án tử hình. Chủ đích của anh em Ngô Đình Diệm trước sau gì cũng phải giết Ba Cụt cho bằng được.. Vậy ta thử xét qua bản báo cáo của Trung Sĩ Giàu rồi suy gẫm thực hư như thế nào và lời khai của Ba Cụt qua các phiên tòa ra sao? Thực ra đêm đó Trung sĩ Giàu không có đi phục kích gì hết. Chỉ là một toán lính nhỏ vào khoảng nửa tiểu đội đi mở đường buổi sáng thường xuyên mỗi ngày trên lộ, trong phạm vi trách nhiệm của khu vực phụ trách của đồn mà thôi. Toán lính của Ba Cụt và toán mở đường của Trung sĩ Giàu đụng mặt nhau trên đường lộ chứ không phải dưới bờ sông hay dưới ruộng tại Chắc Cà Đao. Trên đường đi Ba Cụt ra lịnh cho các cận vệ không được nổ súng khi gặp bất cứ toán lính nào của chánh phủ quốc gia. Do đó khi gặp toán mở đường của trung sĩ Giàu ông tự xưng ngay “ Tôi là Ba Cụt ra họp với chánh phủ, đừng bắn.” Trên đường di chuyển về Long Xuyên, ông cũng nói với hai người chèo ghe và 5 cận vệ của ông cũng như vậy.
Trung sĩ Giàu báo cáo rằng đêm 12 rạng sáng 13 tháng 4 năm 1956. Tiểu đội của ông đi phục kích vào khuya đêm 12 rạng 13 thì đến 6 giờ sáng ngày 13. Ông thấy một toán người từ một chiếc đò cập bến để bước lên bờ. Ông hô to.
– Ai đó! Đứng lại.
– Đừng bắn! Tôi là Ba Cụt đây. Tôi đầu hàng.
Vì thế BTL chiến dịch Nguyễn Huệ coi ông là một tù binh. Họ cho rằng trong thời gian đó không có cuộc thương thuyết nào với Ba Cụt cả. Việc báo cáo trên cũng do đám Dương văn Minh vạch đường chỉ lối cho trung sĩ Giàu. Để công trạng của họ được to thêm lên. Thực chất là như vậy. Nên 5 người cận vệ và hai người chèo ghe cho Ba Cụt sau nầy cũng bị thủ tiêu hết để phi tang, bịt miệng.
Căn cứ vào lời báo cáo của Trung sĩ Giàu có những điểm trái ngược hoàn toàn với lời khai của Ba Cụt trước tòa án. Nếu là toán lính của Ba Cụt đi qua sông bằng đò thì chiếc đò đó ở đâu sao không thấy bị tịch thâu? Không thấy nhắc tới trong biên bản?. Người chủ đò là ai? Ai là người chèo đò? Sao không thấy xuất hiện ở tòa để làm chứng? Như vậy Ba Cụt qua sông không phải bằng đò mà bằng thuyền do hai người chèo thuyền vốn là hai Nghĩa quân của Ba Cụt tên là Phan Văn Hoành 45 tuổi, Trần Tấn Hạnh 42 tuổi và 5 cận vệ là Nguyễn văn Hộ, Nguyễn văn Phú, Nguyễn văn Thơ, Lê Văn Tóc, Võ văn Vinh. Ngay bản báo cáo của Trung sĩ Giàu còn không phân biệt được giữa “ thuyền ” và “ đò “ trung sĩ Giàu còn báo cáo trật huống hồ gì là những chuyện khác sẽ được thổi phòng lên để lập công to. Thực tế là không phải bắt sống được Ba Cụt như Trung sĩ Giàu nói. Nếu Ba Cụt không có ý định tin tưởng vào lời hứa huyễn hoặc của Nguyễn Ngọc Thơ ra đầu hàng thì 10 trung sĩ Giàu cũng chẳng bắt được Ba Cụt. Ba Cụt là người từng vào sanh ra tử coi cái chết nhẹ như lông hồng, đã từng chụp tàu Tây lấy vũ khí tại Chân Đùng, vài ba anh em nghĩa quân với dao găm, lựu đạn còn cướp được xe nồi đồng của Pháp, lấy đại bác và đại liên trên xe. Chẳng lẽ đương nhiên trở nên hèn nhát để cho toán bảo an của trung sĩ Giàu có mấy người bắt một cách dễ dàng như vậy? Nếu Ba Cụt không có thực tâm, ý định ra đầu hàng chánh phủ theo lời đường mật, hứa hẹn hão huyền của Nguyễn Ngọc Thơ. Hơn thế nữa những người theo hộ vệ cho Ba Cụt là những cảm tử quân. Nếu họ được cho phép nổ súng thì chưa chắc gì toán Bảo An của trung sĩ Giàu được toàn thây. Đúng ra Ba Cụt bị lường gạt về Long Xuyên để họp nên mới bị bắt một cách dễ dàng như vậy.
VII. BA CỤT RA TÒA ÁN.
Theo báo cáo của BTL chiến dịch Nguyễn Huệ thì Ba Cụt bị bắt lúc 6 giờ sáng ngày 13 tháng 4 năm 1956, tại vàm Chắc Cà Đao bởi một toán Bảo An do Trung Sĩ Giàu chỉ huy cách Long Xuyên 15 cây số, về hướng Tây Bắc. BTL chiến dịch Nguyễn Huệ đưa Ba Cụt về Long Xuyên lấy lời khai sơ khởi. Xong giải về Cần Thơ để ra toà án đại hình và tòa án quân sự do Ngô Triều lập nên với thành phần chánh án, biện lý, công tố viên đều là những thành phần viên chức và tướng lãnh buôn dân, bán nước dưới thời Pháp thuộc còn lưu lại, thì còn chi là công lý, họ cũng chẳng ngần ngại chi mà không xử theo mật lịnh của Ngô Triều. Để được thăng quan tiến chức cho mau.
1. Ba Cụt Ra Toà Lần Thứ Nhất.
Theo sự tường thuật sơ lược của ông Trịnh Bá Lộc sĩ quan tùy viên của Tướng Dương Văn Minh. Tướng Lê Quang Vinh ra tòa Sơ Thẩm Đại Hình tại Cần Thơ vào ngày 11 tháng 6 năm 1956 với thành phần chánh án là Huỳnh Hiệp Thành, đại diện Công Tố là ông Biện Lý Francis Lâm Lễ Trinh. Luật sư biện hộ cho Ba Cụt là LS Vương Quang Nhường, Lê Ngọc Chấn.. Toà tuyên án tử hình Ba Cụt theo đề nghị của Biện Lý Francis Lâm Lễ Trinh. Sở dĩ ông Trịnh Bá Lộc để chữ Francis ở trước Lâm Lễ Trinh là hàm ý cho ta biết ông Lâm Lễ Trinh là người gốc Việt, nhưng dân Pháp hoặc đạo Thiên Chúa.
2. Ra Toà Lần Thứ Hai.
Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt nhờ các luật sư làm đơn cho ông ký tên chống án lên toà trên. Tức là Tòa Thượng Thẩm Đại Hình nhóm họp tại Cần Thơ vào ngàỵ 25, 26 tháng 6 năm 1956. Tức là chỉ có đúng 14 ngày sau. Với thành phần chánh án là ông Lê Văn Thụ. Công tố là ông Lê Văn Tuấn. Trong hai ngày xét xử 25 và 26, tòa y án tử hình của tòa sơ thẩm Đại Hình Cần Thơ.
Trong việc thành lập tòa thượng thẩm Đại Hình lần nầy có một điều phá lệ đặc biệt. Sở dĩ chúng tôi dùng chữ “phá lệ đặc biệt ” ở đây là vì từ trước đến giờ tòa nầy chưa bao giờ được nhóm họp ở tỉnh. Trụ sở chính của tòa nầy là ở Sài Gòn. Tòa nầy phải nhóm họp ở tại trụ sở chính thường trực ở Sài Gòn tức là Pháp Đình Sài Gòn theo Dụ số 18 tháng 10 năm 1949. Nhưng vì quá gấp rút, chế độ Ngô Đình Diệm muốn giải quyết vụ Ba Cụt càng sớm càng tốt.. Nên Ngô Đình Diệm vội vàng ký Dụ số: 33 ngày 14-6-1956 để tòa nầy được di chuyển về tỉnh. Dụ số: 33 nầy chưa kịp đăng vào công báo thì ông Bộ Trưởng Tư Pháp cũng vội ký nghị định bổ nhiệm thành phần tòa Thượng Thẩm nhóm họp ở Cần Thơ để xử Ba Cụt. Đây là một việc làm bất hợp pháp. Vì họ quá gấp rút muốn giết Ba Cụt cho sớm được ngày nào hay ngày đó. Đến ngày 23-06-1956 Dụ số 33 mới được đăng vào công báo. Kể từ ngày 23-6-1956 về sau Bộ Tư Pháp mới có quyền bổ nhiệm các thành phần tòa thượng thẩm Đại Hình ở tỉnh mới hợp pháp. Còn bổ nhiệm trước ngày Dụ số: 33 được đăng vào công báo là bất hợp lệ.
3. Ra Tòa Lần Thứ Ba
Tòa án Quân Sự đặc biệt họp tại Cần Thơ ngày 3-7-1956 để xét về khía cạnh an ninh quốc gia. Với thành phần chánh án Vũ Tiến Tuân, Ủy viên chánh phủ Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân. Xử trong hai ngày, ngày 3 và 4 tháng 7 năm 1956. Tòa nầy cũng tuyên án tử hình Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, cộng thêm tước đoạt binh quyền và tịch thâu tài sản. Đặc biệt của tòa nầy là bản án ban ra rồi là chung cuộc, không được thượng tố. Phạm nhân (Nạn nhân Ba Cụt) bị thi hành bản án tức khắc trong một thời gian nhất định. Nếu đơn xin ân xá với Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm không được chấp thuận.
Như vậy chế độ Ngô Đình Diệm xử Ba Cụt một cách gấp rút. Giữa các phiên tòa sơ thẩm Đại Hình diễn ra ngày 11- 6 – 1956. Cho đến các phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình diễn ra ngày 25, 26-6-1956 chỉ cách nhau có 14 ngày. Giữa các phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình cho đến các phiên Tòa Án Quân Sự đặc biệt diễn ra ngày 3, 4 tháng 7 năm 1956 chỉ cách nhau có bảy ngày. Tổng cộng số ngày của ba lần xử Ba Cụt chỉ vỏn vẹn có trong vòng 22 ngày. Nếu tính trung bình thì mỗi tuần đều có một cuộc họp của tòa án diễn ra để xét xử Ba Cụt. Sự gấp rút nầy chứng tỏ chế độ Ngô Đình Diệm cố tình muốn giết chết Ba Cụt ngay tức khắc. Sự đưa ra tòa để xử Ba Cụt chẳng qua là một trò lừa dối, che mắt thế gian và tránh dư luận báo chí ở trong nước cũng như ngoại quốc. Chứ bản án tử hình của Ba Cụt đã được định sẵn từ dinh Độc Lập. Từ ngày bắt Ba Cụt 13-4-1956 đến ngày đem ba Ba Cụt ra tử hình tại nghĩa địa ở đại lộ Hòa Bình, ngày 13-7-1956 chỉ vỏn vẹn có ba tháng tức là 90 ngày.
Cũng trong chính tòa án Quân Sự đặc biệt nầy, Ba Cụt dõng dạc nói trước tòa” Thưa quý tòa trước đây tôi có biết ai là người quốc gia chính hiệu, ai là người tay sai thực dân đâu? Bây giờ tình thế nước nhà thấy yên, ai cũng xưng mình là quốc gia, là chống cộng, chống thực dân được hết. Còn trước đây tôi ở bưng vừa đánh thực dân, vừa đánh Cộng sản thì tôi bị không biết bao nhiêu lực lượng khác ráp đánh tôi, đánh ngang hông, đánh sau lưng, đánh tứ giăng. Thực dân Pháp dầy xéo nước tôi, đã xem hiệp ước vừa ký chưa ráo mực như tờ giấy lộn, nó phản bội nhiều chuyện động trời nên tôi phải đánh nó, đánh đến chết thì thôi. . . “
Đây tôi cũng xin nhắc lại là các luật sư bào chữa cho Ba Cụt. Gồm có bốn luật sư sau đây: Luật sư lão thành Vương Quang Nhường, Luật sư Lê Ngọc Chấn cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng của chánh phủ Ngô Đình Diệm đầu tiên, năm 1954 và cũng là một chánh trị gia. Luật sư Phạm Ngọc Thu. Luật sư Đinh Xuân Các. Bốn luật sư nầy thay phiên bào chữa cho tướng Lê Quang Vinh trước tòa. Các luật sư nầycó những lời bào chữa, lý luận rất sắc bén. Nhưng cũng không thể nào cứu được mạng sống của Ba Cụt vì chế độ nầy nhẩt tâm, quyết xử tử Ba Cụt, nên các luật sư có tài ba, lỗi lạc cách mấy đi chăng nữa cũng đành phải chịu thôi. Khi mà Ba Cụt lầm lỡ nghe theo lời chiêu dụ, phỉnh gạt của Nguyễn Ngọc Thơ. Đã sa cơ, thất thế vào tay của chế độ Ngô Đình Diệm.
VIII. LỜI KHAI CỦA BA CỤT và LỜI KHAI CỦA HAI NHÂN CHỨNG
Sở dĩ tôi thuật lại lời khai của Ba Cụt, lời khai của nhân chứng cùng những lời biện hộ của luật sư trước tòa để quý độc giả lượng định coi, Ba Cụt có bị chế độ Ngô Đình Diệm cố tình lường gạt Ba Cụt qua con bài sứ giả Nguyễn Ngọc Thơ?
1. Lời Khai Hay Sự Phản Ứng Của Ba Cụt Trước Tòa.
Chiều ngày 26-6-1956 trong phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình ở Cần Thơ. Ba Cụt bị cáo là tòng phạm trong vụ ám sát Huỳnh Văn Y. Do ông Trần văn Thân là cha vợ của Y đứng đơn tố giác. Nhưng ông Thân vắng mặt
– Ba Cụt xin tòa cho biết ai là người đầu đơn cáo ông về vụ nầy?
– Tòa đọc đơn của Trần văn Thân tố cáo ông..Ba Cụt mỉm cười mỉa mai
– Y theo đơn thưa thì Trần văn Thân là cha vợ của Huỳnh văn Y. Vậy cha vợ đứng đơn thưa rồi cho vợ làm chứng cho cha vợ, vậy cũng được hay sao? Làm cho tòa gượng gạo biện luận và giải thích lung tung.
Khi ông Chưởng lý hỏi về vụ thâu thuế của đại đội 21 của Ba Cụt thường đi bắt buộc người ta đóng thuế thì Ba Cụt trả lời.
– Thưa ông :” tố nghị viên.” Tôi là tướng lãnh, chiến sĩ của tôi tuy có tổ chức, song vì hoạt động bí mật, phân tán đóng quân khi có công tác thì họp lại, xong công tác thì ẩn. Vì vậy tôi làm sao kiểm soát hết đến cấp dưới.
Trong một phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình Ba Cụt trả lời: “Đã không bắt được thủ phạm giết người, không biết thủ phạm là ai, tại sao lại nói chúng nó là của tôi tức là của Ba Cụt”
– Ông chánh án nói: “ Nhưng người ta thấy rõ những kẻ ấy mặc đồ đen”
– Ba Cụt đáp: “ Trời ơi! Nếu mặc đồ đen đi làm bậy, rồi căn cứ vào bộ đồ đen đó nói là người của Ba Cụt, thì chết tôi rồi, ở quê không mặc đồ đen thì mặc đồ gì? Đến đây, những người dự thính để nghe xét xử Ba Cụt nghiêng về Ba Cụt 50 phần trăm. Vì trong các phiên tòa sơ thẩm Đại Hình. Khi tòa tuyên án tử hình Ba Cụt thì họ vỗ tay. Đến các phiên tòa án Quân Sự đặc biệt dư luận đã nghiêng về Ba Cụt đến 90 phần trăm. Vì họ hiểu rõ lập trường và tinh thần hy sinh chống Pháp và Việt Minh của Ba Cụt. Có nhiều người thở dài, phải thốt lên “ Ba Cụt đúng là một bông hoa xinh đẹp mọc trong đám cỏ dại mà kẻ làm vườn không biết đến nó.”
Trong suốt các phiên tòa và lời khai thẩm vấn của BTL chiến dịch Nguyễn Huệ trước sau gì Ba Cụt cũng quả quyết mình ra trình diện để hợp tác với chánh phủ quốc gia.
2. Lời Khai Của Hai Nhân Chứng:
Trong các nhân chứng đáng lẽ ra ông Nguyễn Ngọc Thơ phảì ra tòa làm chứng, cung khai ra hết sự thật những gì ông hội đàm và hứa hẹn vơí Ba Cụt trong hai lần gặp gỡ Ba Cụt tại xã Thường Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong mới đúng công lý. Nhưng rất tiếc ông không có mặt trong các phiên tòa xử Ba Cụt. Vì chánh phủ Ngô Đình Diệm biết đưa ông ra để làm nhân chứng, khi bị luật sư của Ba Cụt chất vấn ông đuối lý phải khai ra sự thật thì bị bể mánh, còn gì là thể diện của chánh phủ Ngô Đình Diệm trước công luận và báo chí. Chỉ có thầy giáo Huỳnh kim Hoành cậu ruột Ba Cụt và người chèo thuyền cho Ba Cụt tên là Phan Văn Hoành ra làm nhân chứng cho Ba Cụt mà thôi.
a. Nhân chứng thứ nhất là ông Huỳnh Kim Hoành. Do luật sư Lê Ngọc Chấn thay mặt thân chủ cho đòi ông Huỳnh Kim Hoành ra làm chứng trước tòa cho Ba Cụt
Trước tòa ông Huỳnh kim Hoành khai hết tất cả sự thật. Nhưng những lời khai của ông không được tòa lưu ý và báo chí cũng không được phép đăng tải. Thành ra lời khai của ông cũng như không có gì hết.
b. Nhân chứng thứ hai là ông Phan văn Hoành, người chèo thuyền cho Ba Cụt.
Ông chánh án hỏi tại sao hôm đó anh bị bắt với Ba Cụt?
– Dạ, hôm đó tôi đưa “Ông” vế Long Xuyên để hội nghị với ông Đại Sứ Thơ
Ông chánh án nghiêm nét mặt có ý hăm dọa, đàn áp tinh thần của ông Phan văn Hoành.
– Hội nghị gì bữa đó?
– Dạ, tôi nghe “Ông” nói
– Ông nào?
– Dạ thưa ông Lê
– Có phải Lê Quang Vinh tự Ba Cụt không?
Phan văn Hoành gật đầu nhẹ. Khi trả lời một câu hỏi của ông chánh án tại sao anh không có vũ khí? Phan văn Hoành trả lời là vì anh chỉ chèo thuyền nên anh không được phát vũ khí. Mà ví dầu anh có được “Ông“ phát súng thì anh cũng không bắn, vì “Ông” ra lịnh đừng bắn
Luật sư Chấn đặt câu hỏi” Lê Quang Vinh bị bắt ở trên lộ hay dưới ruộng?
– Dạ trên lộ
– Bên Lê Quang Vinh có bắn không?
– Dạ, khi ông đưa tay cản một cái thì anh em phòng vệ không bắn
– Anh có nghe Lê Quang Vinh nói đi về kỳ nầy là để trình diện không?
– Có, ông nói đi về trình diện với quốc gia là đem lợi ích cho đất nước.
Ông chánh án lại chen vào.” Lê Quang Vinh nói vậy hồi nào?”
– Da, ông nói hoài như vậy, nói lúc đi cũng như lúc về và khi gần tới Long Xuyên, đâm qua sông ông cũng còn nói như vậy nữa. Bởi vậy tôi mới thuộc câu nói của ông đó chớ!
– Ngày 20 tháng 5 vừa qua, Ba Cụt khai có đem theo 10 người thân tín. Vậy anh là một trong 10 người thân tín của ba Cụt chớ gì?
– Dạ không, không phải đâu. Tiếp theo đó ông chánh án dùng sở trường và kiến thức của mình để đi hỏi một câu hỏi gài bẫy đối với một anh nông dân tay lấm, chân bùn, dốt nát gọi là nghĩa quân
– Khi bị bắt lính quốc gia đi từ phía trước bắt hay đi từ phía sau bắt? Câu hỏi nầy có ý nghĩa nếu lính quốc gia từ phía trước đến bắt có nghĩa là Ba Cụt đến đồn để trình diện như lời Ba Cụt khai. Trái lại nếu như lính quốc gia từ sau đến bắt thì Ba Cụt bị toán lính trong đồn đuổi theo bắt. Câu hỏi nầy làm cho Phan văn Hoành không kịp suy nghĩ, trả lời một cách vội vã, gọn gàng.
– Lính quốc gia từ sau đi tới bắt. Làm cho Mai Hữu Xuân chụp bắt cơ hội yêu cầu tòa ghi vào biên bản.
Nhưng Ba Cụt đứng lên từ băng bị cáo.
– Thưa quý tòa không phải vậy đâu! Tôi từ dưới ruộng lên lộ trước, đi lại bót ngó thấy trước mặt rồi lính từ trong bót đi tới hai bên đụng đầu nhau. Nhưng rất tiếc là lời nói của Ba Cụt không có giá trị trước tòa vì ông đâu phải là nhân chứng.
IX. CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM NHẪN TÂM GIẾT BA CỤT
Sau khi tòa án Quân Sự đặc biệt tuyên án tử hình Ba Cụt, tước hết binh quyền, tịch thâu tài sản. Luật sư Lê Ngọc Chấn đại diên cho Ba Cụt nộp đơn xin ân xá lên Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm. Tổng Thống Ngô Đình Diệm bác đơn xin ân xá cho Ba Cụt
Tiếp theo Luật Sư thay mặt Lê Quang Vinh nguyên là Trung Tá thực thụ và là Đại Tá giả định của quân đội quốc gia kể từ ngàỳ 14-1-1954 dưới thời Thủ Tướng Bửu Lộc. Xin cho Ba Cụt được xử bắn thay vì bị chém đầu. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng bác đơn. Đàng nào cũng chết, giữa chết chém. và chết bắn, chế độ Ngô Đình Diệm không có một chút tình người. Đừng nói chi đến nhân bản. Chẳng những thế, sau khi khi Ba Cụt bị chém., xác của Ba Cụt bị chặt ra làm ba khúc, bằm nát do tên đại úy Nhung cận vệ Dương văn Minh. Vậy thử hỏi lịnh bằm thây Ba Cụt như vậy do Dương văn Minh truyền lịnh lại cho đại úy Nhung thi hành. Lịnh đó từ đâu tới? Từ Bộ Tư Pháp, từ Bộ Quốc Phòng hay từ dinh Độc lập mà ra? Dù từ đâu đến thì chế độ Ngô Đình Diệm cũng phải chịu trách nhiệm. Người ta có ba cách báo oán: Dĩ đức báo oán / Dĩ ân báo oán / Dĩ oán báo oán.
Ông Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo quốc gia mà “ Lấy oán báo oán.” Thật thất sách vô cùng. Đáng lẽ ra Ngô Đình Diệm phải noi theo gương xưa. Khổng Minh còn tha chết cho Mạnh Hoạch bảy lần. Lưu Bang khi đem quân vào chiếm Hàm Dương rồi. Vua Tần là Trần Tam Thế tức Tử Anh đem dưng ngọc tỷ cho Lưu Bang, Lưu Bang chẳng những tha tội chết mà còn trọng thưởng. Khi Hạng Võ vào sau, bội ước xưng vua xứ Tần, bắt Tử Anh ra chém. và chôn sống hơn 20 vạn hàng binh của nhà Tần. Nên ai nghe qua cũng sợ. Không dám về hàng Hạng Võ, tìm đến Lưu Bang mà hàng. Nên hào kiệt dưới trướng của Lưu Bang càng lúc càng đông.. Còn Hạng Võ người tài càng ngày càng xa lánh. Sau Hạng Võ bị bại dưới tay của Lưu Bang phải tự cắt đầu mà chết, là vì Hạng Võ không phải là người không có tài. Tại vì thiếu đức, quá hung hăng tàn bạo ưa chém giết. Nên hậu quả là thế. Thì Triều đại nhà Ngô cũng không tránh khỏi số phận hẩm hiu sau nầy như Hạng Võ là đúng.
Còn riêng ông Francis Lâm Lễ Trinh là biện lý thì có trách nhiệm lập biên xác nhận tội phạm có đúng là Ba Cụt hay không? Trước khi tử tội lên máy chém.. Nhiệm vụ kế tiếp của ông là khi tội phạm đã bị chém rồi, ông phải lập biên bản thực sự tội phạm đã bị chém. và đã chết rôi. Cuối cùng ông có trách nhiệm một trong hai là:
1. Một là giao xác chết của Ba Cụt cho thân nhân, gia đình để an táng
2. Hai là giữ xác của ông Lê Quanh Vinh gồm đầu và thân mình, gồm cả hai phần rồi đi an táng một chỗ nào đó. Theo phong tục tập quán Á Đông, người chết mất xác, không mồ mả gia đình rất đau lòng. Thủ tiêu xác chết lại trái với luân thường đạo lý làm người nữa.
Tại sao ông không làm một trong hai điều trên để cho đúng thủ tục luật pháp mà để xác của ông Ba Cụt cho đại úy Nhung chặt làm ba, rồi bằm ra như vậy. Chắc chắn lịnh nầy từ đâu đưa đến ông biết rõ. Tại sao giờ nầy ông không đám nói sự thật? Tại sao ông phải đi che dấu. Chắc chắn là ông có liên can đến vụ thanh toán xác chết Ba Cụt một cách sâu đậm? Nên sau nầy ông Lâm Lễ Trinh được thăng thưởng, về giữ chức vụ Bộ Trưởng bộ nội vụ dưới chế độ Ngô triều. Còn Dương Văn Minh lên trung tướng là lẽ dĩ nhiên phải có. Chẳng những thế mà ông còn rất được tín cẩn dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Thật chế độ Ngô Triều nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà. Nuôi một tên cán binh Cộng sản có hai em là Nhựt và Sơn ( Sơn là đại tá cs) là cán bộ cao cấp có hàng chục năm tuổi đảng, đang hoạt động trong miền Nam. Nên khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm giao nhiệm vụ Tư Lịnh các chiến dịch Hoàng Diệu, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ, Thoại Ngọc Hầu để đánh Bình Xuyên, tiêu diệt các lực lượng võ trang của các đảng phái chánh tri và tôn giáo chống cộng ở miền Nam là đúng theo kế hoạch của Hà Nội mong muốn. Nên Dương Văn Minh ra hết sức làm để chẳng những lập công với chế độ Ngô triều mà cho cả Hà Nội nữa. Mượn người quốc gia đánh người quốc gia, mượn súng của người quốc gia để tiêu diệt người quốc gia mà Hà Nội không tốn một viên đạn. Hà Nội bất chiến tự nhiên thành, bất tranh tự nhiên thắng. Đó mới thấy sự mưu kế thâm độc của Cộng sản Hà Nội là thế.
X. SỰ HẸP HÒI ÍCH KỶ CỦA NGÔ ĐìNH DIỆM LÀ KHỞI ĐIỂM NGUY HẠI CHO MIỀN NAM
Sự hẹp hòi ích kỷ của Ngô Đình Diệm và NGô Đình Nhu cùng bộ tham mưu của ông là nguyên nhân khởi đầu cho sự sụp đổ miềm Nam. Chế độ Ngô Đình Diệm mưu mẹo khôn vặt với người thuộc phe quốc gia để tiêu diệt họ thì giỏi. Nhưng đối với kẻ thù cộng sản thì quá tệ. Hay chỉ biết lo củng cố địa vị của mình mà quên đi kẻ thù chánh là Cộng sản. Nhưng lại tin dùng những tên phản tướng Dương văn Minh có hai người em ruột là Dương Văn Nhựt và Dương văn Sơn là sĩ quan cấp tá, cán bộ đảng viên đảng Cộng sản. Đã xâm nhập về hoạt động ở miến Nam Đôi khi về xâm nhập vào Sài gòn trong nhà của Dương Văn Minh. Phạm Ngọc Thảo tên cán bộ cao cấp của Cộng sản chỉ biết lấy lòng, tâng bóc cha Ngô Đình Thục mà đương nhiên được mang lon sĩ quan cấp tá, làm tỉnh trưởng ở Kiến Hòa, làm Giám đốc Tổng nha Bảo An. Đại Tá Đinh Văn Đệ sau trở thành dân biểu quốc hội của đệ nhị Cộng Hòa. Cũng là cán bộ, tai sai của Cộng sản, nhưng cũng được chế độ Ngô Đình Diệm nô nức chiều chuộng và những tên Châu, Nhuận cũng thế. Ngoài ra còn có nhóm tình báo như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Duật, Nguyễn Xuân Hòe, Huỳnh Văn Đồng, bà Cả Nhiễm len lỏi trong chánh quyền có từ thời Ngô Đình Diệm. Hai tên Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh văn Trọng còn lọt được vào dinh Độc Lập thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Phạm Xuân Ẩn, hoạ sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành. V. V . Để cho chúng nó được hoạt động công khai, hợp pháp. Sau ngày 30-4-1975 mới lòi ra mặt chuột.
Kể từ ngày 7-7-1954 đến ngày 1-11-1963 là ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Không một đoàn thể đảng phái chánh trị hay tôn giáo nào thoát khỏi bàn tay nhuộm máu của chế độ Ngô Đình Diệm, thủ tiêu, bắt cóc hay hạ sát. Như Trung tá Đầy chồng của đào hát Út Bạch Lan ra hợp tác với chế độ đã lâu, cuối cùng cũng bị ám sát giữa ban ngày ở trung tâm huấn luyện Quang Trung (Quán Tre). Đặc biệt là giết tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt. Chẳng những không đem lợi ích gì cho chế độ mà còn làm mất lòng của khối tín đồ PGHH hơn 2 triệu người lúc bây giờ. Là những người câm hờn Cộng sản bởi những quá trình lịch sử đã qua giữa khối tín đồ PGHH với Việt Minh từ năm 1945 đến năm 1947 và dài dài về sau nầy nữa. Tại sao không khôn khéo để khai thác họ? Ân xá cho Ba Cụt. Biến Ba Cụt thành một chiến sĩ tiền phong chống cộng. Giết một Ba Cụt chẳng có ích lợi gì cho đất nước quốc gia dân tộc. Nếu ân xá cho Ba Cụt. Họ sẽ thấy sự rộng lượng khoan dung của chế độ mà hợp tác chặt chẽ với chánh phủ. Nếu giết Ba Cụt chỉ vì lòng tự ái hay răn de hoặc sợ ba Cụt sau nầy sẽ làm loạn, kéo vào bưng lần nữa? Nếu nghĩ như vậy là quá kém khuyết của một người lãnh đạo quốc gia có tài. Từ chỗ mất lòng đó đưa đến khối tín đồ PGHH bất hợp tác với chánh phủ. Mặc dầu họ không ưa gì Việt Cộng, không theo Việt Cộng. Nhưng khi Việt Cộng về hoạt động trong các thôn xóm của họ, phá cầu, phục kích, chụp đồn lính quốc gia. Tổ chức đường dây tình báo và kinh tài họ biết được cũng làm ngơ. Không chỉ điểm cho chánh phủ vì họ coi đó là không phải nhiệm vụ của họ. Đó là việc của chánh quyền. Vì thế các tổ chức nằm vùng của Việt Cộng ở miền Tây mỗi lúc một đông. Chúng thành lập các mật khu Đồng Tháp, Thất Sơn, U Minh thượng, U Minh hạ, dọc theo biên giới Việt Miên tràn lan khắp nơi. Riêng đối với Ba Cụt tôi không có lời nào để phân minh. Tôi chỉ xin được mạn phép mượn lời của luật sư Vương Quang Nhường nói về Ba Cụt:
“ Trong vòng từ 10 năm trời nay, nếu tại miền Tây này không có một Lê Quang Vinh vào sanh ra tử, hứng chịu mọi gian nan, thử thách để đương đầu với Cộng sản, thử hỏi nay thế lực của Cộng sản bành trướng như thế nào tại vùng đất phì nhiêu nầy? Cho đến dù ngày nay không được áo mũ xuênh xoang, mà chỉ là một bộ đồ bà ba vải đen ngồi đây hứng chịu bao nhiêu lời buộc tội. Dù không có quyền cao chức lớn, trước sau chỉ có cái ”Ba Cụt” mà Cộng sản nghe tới phải nể nang dè dặt, tôi có thể nói Lê Quang Vinh tự hào mà ngâm rằng: “ Ai công hầu ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai?”
Còn Ba Cụt thì tự biện hộ cho mình “Tòa Cộng Hoà xử tôi là trật rồi. Tôi ra mặt với Pháp để lấy súng Pháp đánh lại Pháp, đánh Cộng Sản mà. Còn đối với quân đội quốc gia chẳng qua tôi chỉ tự vệ mà thôi.”
Dù các luật sư hết lòng bào chữa như thế nào, Ba Cụt minh oan đến cách mấy đi chăng nữa thì ngày nay Ba Cụt đã hóa ra người thiên cổ rồi, đi vào quá khứ của dòng lịch sử dân tộc. Có một Ba Cụt “phản loạn” dưới chế độ Ngô triều. Sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm. Dù ba bản án tử hình của Ba Cụt dưới thời họ Ngô được hủy bỏ bởi phòng tái thẩm tòa Thượng Thẩm Đại Hình Sài Gòn vào ngày 17-3-1964 cũng chỉ là một sự muộn màng, có còn hơn không, đó chỉ là về mặt tinh thần. Còn thân xác của Ba Cụt đã tiêu tan, vùi sâu dưới ba tấc đất đã tám năm về trước. Dù sao đi chăng nữa đó cũng là một điều an ủi cho gia đình và lấy lại thanh danh cho Ba Cụt. Đến ngày 14-7-1964 lễ truy điệu lần đầu tiên cố Trung tướng Lê Quang Vinh được tổ chức trong thể tại Thốt Nốt, số người tham dự lên đến năm ngàn người. Tại thành phố Long Xuyên để tưởng nhớ Ba Cụt cũng có một công trường mang tên Lê Quang Vinh trước năm 1975.
XI. KẾT LUẬN:
Tuy ông Ngô Đình Diệm là người có công xây dựng nên nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Nhưng không vì thế mà ra tay một cách quá mạnh mẽ và thủ tiêu đối lập một cách quá tàn nhẫn như vậy! Việc thống nhất các lực lượng võ trang quân sư của các đoàn thể đảng phái chánh trị, tôn giáo về một mối là việc làm cần thiết. Không vì thế mà bắt được ai thì cứ ra tay hạ sát hay đưa họ ra tòa, mượn cây dù luật pháp mà giết họ đồng thời để che đậy tội lỗi của mình. Như trường hợp của tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt. Hay họ đã trở về qui hàng rồi mà tiếp tục tìm cách giết họ bằng cách nầy hay cách khác như trường hợp tướng Trịnh Minh Thế, Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam phải dùng độc dược để quyên sinh và nhiều người khác nữa phải chết trong tức tưởi. Xây dựng một chế độ thì dễ, giữ vững một chế độ thì khó. Không gì qua là lấy đức để trị dân, lấy độ lượng mà chinh phục lòng người, lấy từ bi, bác aí để chăng dân như lời của Phật Chúa đã dạy. Rất tiếc là chế độ Ngô Đình Diệm quá say mê quyền lực nên quên hết bốn chữ người xưa thường nói “ Minh Đức Tân Dân.” Hay như cụ Nguyễn Cư Trinh đã nói: “Tu minh đức để mà tân dân. Tu tề gia để mà trị quốc.” Ông Ngô Đình Diệm không nhìn rõ hết sự viêc nên để cho các tay quyền thần dưới trướng qua mặt thi hành bá đạo. Chẳng khác nào xô người dân hướng về phía cộng sản hay họ bất hợp tác với chánh phủ. Cộng sản đâu dễ gì bỏ lỡ cơ hội để tuyền truyền, lôi kéo người dân về phía họ. Các tổ chức của họ ở miền Nam càng ngày càng phình to lên. Vùng đất kiểm soát của chánh phủ càng lúc càng thu hẹp lại. Kết quả cuối cùng là gia đình ông Ngô Đình Diệm phải nhận lãnh hết hậu quả vào ngày 1-11-1963. Đó cũng chính là nguyên nhân sơ khởi đưa đến sự sụp đổ chánh phủ Ngô triều, mất cả miền Nam Việt Nam vào ngày 30-4-1975. Làm cho mấy chục triệu người dân vô tội phải sống trong khổ nhục, bất công, bất hạnh dưới một chế độ độc tài đảng tri cho đến ngày hôm nay. Và biết bao nhiêu quân cán chính miền Nam phải tù tội, lao động khổ sai, không ngày ra và một số uất hận, không chấp nhận đầu hàng Cộng sản phải quyên sinh.
Cuối cùng là sự giết Ba Cụt và những thành phần quốc gia chân chính không mang lại một sự ích lợi gì cho đất nước cả, trái lại còn gây thêm chia rẽ hận thù giữa những thành phần quốc gia với nhau. Trong lúc đất nước rất cần sự đoàn kết chặt chẽ để chống kẻ thù chung là Cộng sản. “Nghêu cò tranh nhau ngư ông đắc lợi.” Sự thiếu sáng suốt đó còn mang đến một hậu vô cùng tai hại cho non sông đất nước dân tộc như ta đã thấy. Rất tiếc thay, tiếc thay. Sai một ly đi ngàn dặm.
Sau hết, bài nầy đưọc viết ra để soi rọi một sự thật đau lòng phũ phàng đã qua, khó quên, là đầu dây mối nhợ đưa đến sự sụp đổ miền Nam và cũng để tưởng niệm đến các chiến sĩ, anh hùng dân tộc quốc gia, các nam nữ liệt sĩ đảng phái chính trị quốc gia chân chính, các tu sĩ của các tôn giáo chân chính nặng lòng với tiền đồ tổ quốc, quốc gia dân tộc đã phải chết oan uổng, tù tội dưới chế độ Ngô Đình Diệm và Cộng sản từ trước cho đến nay. Các chiến sĩ, nam nữ anh hùng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải hy sinh để bảo vệ sự tự do, hạnh phúc ấm no của người dân miền Nam cho đến hết ngày 30-4-1975 và những người nạn nhân của chế độ Cộng sản, vượt biên vượt biển, từ chối không chấp nhận sống chung cùng Cộng sản, phải bỏ mình trong rừng sâu núi thẳm hay ngoài khơi bể cả, đại dương mênh mông. Cầu nguyện cho tất cả mọi linh hồn và những người quá cố trong gia đình của Tổng Thống Ngô Đinh Diệm sớm được vãng sanh về miền Phật cảnh hay được hầu kề bên chân Nhan Thánh Chúa và Đức Mẹ Maria.
Phương Trúc: Nguyễn Hoài Ân
Mùa Thanks Giving ngày 25-11-2013
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?_Phương Trúc
Người Bắc có đáng ghét không?_Ng~ Ngọc Già
(danlambaovn.blogspot.com): Nguyễn Phú Trọng phát ngôn: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận! ” khi nội bộ người CS tranh giành quyền bính vào năm 2015.
Nguyễn Thiện Nhân – vào năm 2018 – thuyết phục người dân mất đất tại Thủ Thiêm: “Tôi nói tiếng Bắc nhưng tôi là người Nam. Tôi không gạt bà con đâu”.
Ông Trọng và ông Nhân không phải là những người đầu tiên “kêu gọi” chia rẽ dân tộc Việt Nam, nhưng họ là những người Cộng Sản đầu tiên không cần che giấu (đặc biệt cả hai ông đều đang nắm trọng trách rất cao trong chế độ độc đảng toàn trị) sự kỳ thị vùng miền kinh khủng như vậy!
Lời phát ngôn hàm hồ của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Thiện Nhân dường như “động viên” toàn dân Việt Nam lao vào cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” đời mới (!).
“Trôi theo dòng đời” tao loạn…
Lịch sử dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ phía Bắc – điều không thể chối cãi.
Kể từ khi vĩ tuyến 17 được phân định, người Bắc tháo chạy khỏi “bàn tay người CS” vào năm 1954.
Khi di cư, người Bắc mang theo văn hóa và cả giọng nói làm “hành trang” vào Nam.
Để thuyết phục đông đảo bạn đọc, nhất thiết phải chứng minh tính đại diện cho bất kỳ đề tài nào.
Hãy nhìn “dân Bắc Kỳ” thành danh và nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc để dễ thấy nhất: đại gia đình nhạc sĩ Phạm Duy (cả ca sĩ Thái Thanh và các con của bà), đại gia đình nhạc sĩ Lữ Liên (với các con: Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Lưu Bích, Anh Tú) , Khánh Ly, Lệ Thu, Sĩ Phú v.v… và hàng hà sa số “ca nhạc sĩ Bắc Kỳ” khác.
Trong lĩnh vực điện ảnh, người ta không thể nào quên “nữ tài tử Bắc Kỳ” Kiều Chinh với tài sắc vẹn toàn. Song song bà Kiều Chinh là “nam tài tử Bắc Kỳ” Trần Quang với chất “đàn ông đất Bắc” đậm nét, một thời làm “chết mê chết mệt” phụ nữ miền Nam và sự ngưỡng mộ của nam nhân Sài Gòn…
Bên cạnh đó, các lãnh vực khác, người gốc Bắc không thiếu: Chính trị (Phó TT Nguyễn Cao Kỳ), khoa học (Dương Nguyệt Ánh, Lưu Lệ Hằng), quân sự (Lương Xuân Việt, Nguyễn Từ Huấn) và nhiều nhân vật tên tuổi chói lọi không thể dẫn ra hết được.
Phải nói công tâm, giọng nói “đúng gốc” của người Bắc chuẩn xác và sang trọng. Hãy nhìn nữ MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, dù cô rời Sài Gòn ở tuổi thiếu nhi, nhưng giọng nói của cô vẫn “đặc sệt” chất Bắc Kỳ mà sang trọng. Về nam, hình ảnh đại diện về “giọng nói đàn ông miền Bắc”, có lẽ nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đủ thuyết phục đông đảo bạn đọc, dù ông đã ngoài 70.
Ngay trong đời sống thường nhật, giọng nói của người miền Bắc, trước đây không có kiểu uốn éo (kể cả nam nhân). Quý độc giả có thể xem qua chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” sẽ thấy rất rõ “kiểu nói” của lớp trung niên và lớp trẻ miền Bắc hiện nay.
Đặc biệt cách phát âm dấu “sắc” với chữ “cố lên”, “đánh nhau”, “chú – cháu” v.v… Nó không còn đúng nữa! Nếu chú ý một chút, cách phát âm đó ở giữa dấu “hỏi” và dấu “sắc”, chính nó đã làm giọng nói bị méo mó rất nhiều và nghiêng hẳn về “làm màu” cho đủ độ… “sang trọng” (!), nhưng lại gây khó chịu cho người nghe. Rất tiếc, người Bắc hiện nay dường như không nhận ra mà kiểu “uốn éo” dấu “sắc” đang ngày càng lan rộng, dễ dàng bắt gặp trên các đài truyền hình phía Bắc.
Người Bắc chính gốc Hà Nội có tốc độ nói vừa phải. Cách nói của người Bắc sau này, không những nhanh mà tỏ ra rất vội vã, rất bộp chộp như sợ người khác tranh phần (!).
Văn hóa và giáo dục
Tại sao phải nói dông dài về dấu “sắc” và cách nói vội vã?! Việc ngỡ nhỏ xíu, nhưng thật ra không hề nhỏ!
Nhân cách của một dân tộc xuất phát từ văn hóa và giáo dục.
Sau cuộc tháo chạy vào năm 1954, người Bắc chính gốc Hà Nội hầu như còn rất ít, như người Sài Gòn chính gốc còn ở lại, sau “siêu thảm họa” 1975.
Số lượng “dân Hà Nội chính gốc” ít ỏi đó tuân theo quy luật “lượng đổi chất đổi” của Triết Học.
Chính “lượng người Hà Nội chính gốc” quá ít (tức lượng đổi), nó không còn đủ sức níu giữ “văn hóa ngàn năm văn hiến” (tức chất đổi) của người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung.
Cùng với “văn hóa ngàn năm văn vật” tháo chạy vào Nam, thì “giáo dục XHCN” chễm chệ vị trí “chính diện” trong toàn bộ các ngôi trường từ vĩ tuyến 17 trở ra (!).
Trẻ con đều được dạy nói trước khi biết đọc, biết viết. “Chất giọng” người Hà Nội Xưa cũng mai một dần theo năm tháng. Đó là hậu quả của “giáo dục XHCN” làm cho “giọng nói uốn éo” mất đi sự sang trọng và tự nhiên. Thật dễ hiểu với giáo viên có khá nhiều thầy cô “ngọng líu ngọng lo”! Phùng Xuân Nhạ bị người đời chế giễu chữ “lờ” và chữ “nờ”, thật ra ông ta là một “sản phẩm đời sau” của loại “giáo dục phi triết lý” mà thôi!
Như “mưa dầm thấm đất”, giọng nói, cách nói của người Hà Nội chính gốc đã phôi phai dần… Hàng chục năm rồi! Còn gì nữa mà không thấy?!
Người ta dễ dàng phân biệt được một người “Bắc 54” và một người “Bắc 75” thông qua, không chỉ giọng nói mà còn cách nói chuyện, cách hành xử, cách đi đứng, thẩm mỹ trong trang phục & phục sức, kể cả trong “văn hóa ẩm thực” tại nhà hàng sang trọng hay ở bàn nhậu trên vỉa hè…
Tra trên google, dễ dàng nhận thấy, sau này xuất hiện những “hội” ghét người Bắc [1] khá nhiều. Có cả “cẩm nang” thật tâm của người Nam dành cho người Bắc [2], khi họ chuyển vào Nam sinh sống.
Điều đáng suy ngẫm, những biểu hiện nói trên không hề có trước 1975, kể cả những năm “sau giải phóng” cũng không nốt.
Không tìm thấy tình trạng ngược lại, như các “hội” ghét dân miền Nam hay dân Sài Gòn (?!), nhưng lại tìm thấy các “hội” ngay cả người Bắc như: Thanh Hóa, Nghệ An v.v… ghét cả “dân miền Bắc” (?!).
Có lẽ “sự kỳ thị người Bắc” xuất hiện theo “dòng chảy” của thời mở cửa vào những năm 2000 đến nay và nó ngày một “đậm đặc” hơn?!. Sự “kỳ thị người Bắc” vẫn ngấm ngầm và âm ỉ chừng như không dứt.
Ngay trong giới “đấu tranh tự do – dân chủ” không phải không bắt gặp tình trạng này, dù tế nhị hơn, giới này thường không bộc bạch công khai.
Các “trang báo quốc doanh” từng đề cập đến tình trạng “kỳ thị người Bắc” nhưng chỉ dừng lại ở một nửa của cặp phạm trù Triết Học “Hiện Tượng – Bản Chất”. Tức là các trang báo chỉ nói lên “Hiện Tượng” và thông thường kêu gọi không nên kỳ thị mà hãy đoàn kết, tương thân tương ái thông qua… “tuyên truyền” và “giáo dục” (kiểu XHCN)!
Song song đó, các nhà chuyên môn: Tâm Lý Học, Xã Hội Học, Việt Nam Học có vẻ cũng không mặn mà về “đề tài nguy hiểm” này, hoặc giả, vì nó quá đụng chạm ngay trong giới chuyên môn cũng nên (?!).
Tâm lý – Xã hội
“Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước”
(Giải Phóng Miền Nam – Lưu Hữu Phước)
“Nơi thành đô trong ánh điện quanq tiếng nấc nghẹn câu cười
Khu nhà tranh năm cánh ngoại ô rên xiết đêm ngày.
Quê nhà ta đau đớn lầm than sao bóp nghẹt tim người!
Sài Gòn ơi! Ta đã về đây! Ta đã về đây!”
(Tiến Về Sài Gòn – Lưu Hữu Phước)
Những “lời ca tiếng hát” như vậy, chúng vang vọng không chỉ trong quãng thời gian “trước và sau giải phóng” mà nó được mải miết “tụng ca dài dài” cho đến sau này, mỗi độ “Ba Mươi Tháng Tư lại về” (!)
“Chiến Tranh Tâm Lý” được sử dụng đến mức “tuyệt đỉnh kung-fu” của người CSVN, là điều phải thật tâm công nhận sự thành công của họ trong giai đoạn chiến tranh. Sự sụp đổ của VNCH, trong đó có sự thất bại của đội ngũ “Tâm Lý Chiến” là điều cũng nên công nhận nốt.
Những mảnh đời “lầm than”, những tiếng “nấc nghẹn”, những lời “rên xiết” đến “quặn thắt” như thế, thử hỏi, nó tác động kinh khủng đến cỡ nào vào tâm trí “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (?) trong lúc người Bắc đang sống trong cảnh “Đêm Giữa Ban Ngày” mà họ không hề hay biết.
Sư dối trá của người CSVN đạt mức “thượng thừa”, không những tạo ra hiệu quả cho loại “chiến thắng” dựa trên “sự phi nghĩa, bất chính danh và vô nhân đạo” mà còn tạo “hiệu ứng đa chiều”, trong đó có “hiệu ứng ban ơn”, “hiệu ứng kẻ cả”, “hiệu ứng trịch thượng” v.v… đặc biệt “hiệu ứng dạy dỗ” của “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (!).
Sự “nhồi sọ” trong hàng chục năm như vậy, nên không thể nào “gột rửa” trong thời gian ngắn. Từ “tâm lý này”, việc phân chia “công dân hạng nhất, hạng nhì” lên ngôi, không có gì khó hiểu.
Không dừng lại ở quảng đại quần chúng, trong nội bộ người CSVN với nhau, người ta thấy rất rõ các loại “hiệu ứng” nói trên thông qua phát ngôn của Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Thiện Nhân, đặc biệt “mỗi độ” tranh quyền đoạt bính qua các kỳ đại hội đảng, nó càng hiện rõ mồn một.
Tâm lý – Xã hội dày đặc chia rẽ tình đồng bào từ trên xuống dưới, ngay cả thành phần công – nông, tiểu thương đều do CSVN gây ra là điều không cần bàn cãi.
Tính “trách nhiệm” của một con người (tức là “dám làm dám chịu trách nhiệm”) đã bị ngay những “bàn tay CS” bóp nát từ quá lâu và từ ngay những thành phần cấp cao nhất như: Hồ Chí Minh phủi hết trách nhiệm trong Cải Cách Ruộng Đất cho đến Lê Duẩn với hậu quả thảm thương “sau ngày giải phóng”, chẳng lẽ nó không hề “lan rộng và ăn sâu” vào trí não của từng người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung (?) Và chẳng lẽ, nó không có tác động mảy may nào vào những hãng xưởng tại các khu công nghiệp miền Nam mà ở đó, người ta thẳng thừng từ chối [3] tuyển dụng dân Thanh – Nghệ – Tĩnh (?!)
Cần nhắc lại, tính “vô trách nhiệm” sản sinh ra tính “vô kỷ luật” – đó là tai ương cho đến hiện nay không hề có dấu hiệu chấm dứt. Đó cũng là “nỗi sợ hãi lớn nhất” cùng với “nền pháp luật XHCN” làm các nhà đầu tư phương Tây, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore v.v… ngán ngại, khi đến làm ăn tại Việt Nam.
Và “vô trách nhiệm” cùng với “vô kỷ luật” sản sinh ra tất cả thói hư tật xấu: bướng bỉnh, lỳ lợm, cố chấp, dối trá, thủ đoạn đê hèn, đổ thừa, đua đòi, giành giựt v.v… kể cả tính tàn nhẫn & phi nhân đối với ngay “đồng bào” của mình, cùng với “văn hóa xin lỗi” và “văn hóa cám ơn” ngày càng tiêu tan trên xứ sở “thiên đường mù lòa” mang tên nước CHXHCNVN!
Kinh tế – Chính trị
“Người Bắc có đáng ghét không?” có thể gây tranh cãi, nhưng “Người Việt Xấu Xí” trong mắt thế giới thì không còn gì cần bàn cãi thêm nữa! Khốn nỗi! Cái thứ “Người Việt Xấu Xí” không hề có trước 1975 – sự thật cũng không thể chối bỏ!
Tại sao như vậy?
Thưa rằng, tất cả do nền tảng “Kinh tế – Chính trị” do người CSVN tạo ra.
Không cần đề cập quá nhiều vào thời “mông muội” của Lê Duẩn với phát ngôn: “Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại lạm phát mà sợ?” – trích Đèn Cù của Trần Đĩnh.
Hãy nói về “CS hiện đại”, trong khi không chịu công nhận “kinh tế phi thị trường”, người CSVN lại biến tướng “nền kinh tế của họ” thành “KTTT định hướng XHCN” để lươn lẹo với thế giới nhằm đạt được những lợi ích nhất thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hiện nay người CSVN đang trả giá, qua việc Hoa Kỳ đánh thuế hơn 450% thép Việt Nam. Hậu quả này cũng bởi tính dối trá” và “lươn lẹo” gây ra. Chắc chắn, “sự trả giá” không dừng lại như vậy.
Kinh tế quyết định Chính trị và Chính trị tác động trở lại Kinh tế – Đó là “hằng số” Triết Học không bàn cãi.
Bên cạnh đó, bộ máy nhân sự của BCHTƯĐCSVN cũng như Bộ Chính trị và cả nội các Chính phủ – ngay đó cho thấy “người Bắc” chiếm số đông. Vì vậy, “bộ mặt người Bắc đáng ghét” chỉ là “Hình Thức” mà “Nội Dung” phải gọi chính xác là “bộ mặt người CSVN”. Điều này hoàn toàn đúng theo cặp phạm trù Triết Học “Hình Thức – Nội Dung” mà ngay cả người CSVN lẽ ra phải “nằm lòng” hơn ai hết!
Thử hỏi, còn mấy người Việt Nam không nhận ra sự ganh ghét giữa “người Cộng Sản Bắc Kỳ” với “người Cộng Sản Nam Kỳ” trên “địa hạt” này?
Chẳng lẽ 300 bộ áo dài của bà Nguyễn Thị Kim Ngân không phản ánh “hai dân tộc CS” đang đấu đá lẫn nhau trước thềm đại hội đảng sắp tới? Và còn vô vàn biểu hiện khác.
Kết
Phải nói cho chính xác, “người Bắc” không đáng ghét, chỉ có người CSVN” – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay “Cộng Sản Nam Kỳ” – rất đáng căm ghét và rất đáng khinh bỉ trong mắt người Việt Nam trong và ngoài nước cũng như cả thế giới văn minh.
Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” -phải giật mình cay đắng trước tình trạng kỳ thị “Bắc – Nam” vô cùng trầm trọng và âm ỉ suốt hàng chục năm qua, bằng lương tri và lương tâm còn sót lại.
Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” – phải chịu trách nhiệm toàn bộ và liên tục trước dân tộc Việt Nam, ít nhất suốt 44 năm qua kể từ ngày, họ gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” (!)
Nguyễn Ngọc Già
danlambaovn.blogspot.com
___________________________
Chú thích:
[1] https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/nhuc-nhoi-chuyen-ki-thi-vung-mien-181259.html
[2] https://nguoinamky.com/doi-song/cam-nang-ung-xu-cho-nguoi-bac-khi-chuyen-vao-song-o-mien-nam.html
[3] https://laodong.vn/archived/tiep-vu-tay-chay-lao-dong-thanh-hoa-nghe-an-ha-tinh-699051.ldo
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Người Bắc có đáng ghét không?_Ng~ Ngọc Già
Đừng Bỏ Cuộc Chơi_Phiến Nguyễn (Thơ)
Trong buổi Họp Mặt (mini) K1 ở Little Saigon (Quận Cam) ngày 25/8/2019 vừa qua, bạn Nguyễn Phiến là một trong những K1 tham dự đã cảm kích viết ngay một bài thơ có tựa đề “Đừng Bỏ Cuộc Chơi” . Tấm hình dưới đây là là tấm hình do chính anh đề thơ gởi tới CNN:


Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Bỏ Cuộc Chơi_Phiến Nguyễn (Thơ)
Câu chuyện về gia đình Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn_Giao Chỉ
Câu chuyện về gia đình Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn
(Giao Chỉ-SJ)
Đám cưới nhà quê. Chuyện người vợ
Mùa xuân năm 1959. Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê. Cô dâu Nguyễn thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ. Chú rể là anh trung sĩ huấn luyện viên của trường bộ binh Thủ Đức.
Cha làm phép hôn phối. Họ Đạo tham dự và chúc mừng. Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa. Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo. Cô gái quê ở Thủ Đức, 18 tuổi còn ở với mẹ. Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu. Cha cậu là hạ sĩ quan, gửi con vào thiếu sinh quân Gia Định từ lúc 13 tuổi. Khi trưởng thành, anh thiếu sinh quân nhập ngũ. Đi lính năm 1956. Mấy năm sau đeo lon trung sĩ. Quê anh ở Rạch Giá, làng Vĩnh Thanh Long, sau này là vùng Chương Thiện.
Ngày đám cưới, ông già từ quê lên đại diện nhà trai. Đứng trước bàn thờ, cha xứ hỏi rằng anh quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không. Chú rể đáp thưa có. Cha hỏi cô gái có nhận anh trung sĩ này làm chồng. No đói có nhau. Gian khổ có nhau. Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có. Anh trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường bộ binh đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng. Cô gái thề trước nhà Chúa, có cả họ Đạo chứng kiến. Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính. Từ vợ trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân đại tá trong dinh tỉnh trưởng. Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến để rồi 30 tháng 4 năm 75 trở thành vợ người tử tội. Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn. Dù thăng cấp, dù thắng hay bại, dù sống hay chết, chồng cô vẫn là người anh hùng. Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính. Anh lính đầu đời chinh phu của cô lúc lấy nhau đeo lon trung sĩ và khi ra đi đeo lon đại tá.
Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính. Chồng của cô là đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức, sau khi tìm đường vượt biên, đem con trai duy nhất qua Bidong, Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali. Cô may thuê. Bán quán nuôi con. Con trai lập gia đình có 2 cháu.. Người vợ lính năm xưa từ 75 đến nay, ở vậy thờ chồng đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu. Suốt đời vẫn nghèo, nghèo từ trung sĩ mà nghèo lên đại tá. Nghèo từ Thủ Đức mà nghèo qua Chương Thiện. Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cả cái nghèo qua Mỹ. Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính.
Một đời chinh chiến. Chuyện người chồng.
Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938. Xuất thân thiếu sinh quân Gia Định rồi nhập ngũ và lên cấp trung sĩ huấn luyện viên vũ khí tại trường bộ binh. Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh trung sĩ tìm cách tiến thân xin vào học lớp sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế.. Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau Hồ Ngọc Cẩn trở thành đại tá tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện, hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận.
Ông đã từng mang mầu áo của Biệt động quân và các sư đoàn bộ binh. Huy chương và chiến công nhiều vô kể. Suốt một đời chinh chiến từ trung đội trưởng lên đến trung đoàn trưởng, Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu giang và Tiền giang. Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể sư đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho quân đoàn 3 giải tỏa An Lộc. Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 trung đoàn của sư đoàn 9.
Tư lệnh quân khu, ông Trưởng nói với ông Lạc sư đoàn 9 đưa 1 trung đoàn nào coi cho được. Trung tá Hồ ngọc Cẩn dẫn trung đoàn 15 lên đường. Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng nhẩy dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc. Anh đại úy đại đội trưởng của trung đoàn suốt mấy tuần dằng co với địch trước phòng tuyến của tướng Hưng tư lệnh An Lộc, nhưng chưa vào được. Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ.
Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau. Chỉ có bộ binh của trung đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến. Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới. A, tay này ngon.. Chợt thấy một ông từ thiết vận xa bước ra, phóng tới phòng tuyến của đại đội. Nhìn ra ông trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Cẩn. Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào. Cùng với tiền đạo của nhẩy dù, trung đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc.. Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng, ông Thiệu hứa cho mổi người lên 1 cấp. Trung tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon đại tá trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc.
Rồi ông được đưa về làm tiểu khu trưởng Chương Thiện. Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa. Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng, nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ nên Chương Thiện chưa chịu hàng. Chiều 29 sang 30 tháng 4, tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy. Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng, các đơn vị bên ta rã ngũ. Lính tráng từ tiểu khu và dinh tỉnh trưởng tan hàng, đại tá tiểu khu trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính cộng sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí, quân phục cấp bậc đầy đủ. Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng, đã được người vợ kể lại cho chúng tôi. Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm.
Giây phút cuối của Chương Thiện,
Bà Cẩn với âm hưởng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại. Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết. Bà nói:
“Kể lại cho bác rõ, những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân. Đánh nhau ngay trong tiểu khu. Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân. Nhà bị pháo kích. Tuy gọi là dinh tỉnh trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường. Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài. Đi lẫn vào dân. Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ tỉnh trưởng. Ai cũng tưởng là vợ lính. Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi.
Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần Thơ. Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ. Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ. Mẹ con vừa đi vừa khóc. Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep, Việt cộng cầm súng vây quanh. Bước xuống xe, anh không chống cự, không vùng vằng, không nói năng. Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa, giơ tay phất nhẹ. Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con. Chạy đi. Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua.
Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại. Thân nhân bên anh Cẩn, mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt. Sợ bị bắt. Được tin anh ra tòa nhận án tử hình. Rồi tin anh bị xử bắn. Thời gian anh bị giam gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt. Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về. Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ, gia đình cũng không ai được báo tin riêng, nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết. Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi.
Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn. Chị kể lại là không khí im lặng. Từ xa, nhìn qua nước mắt và nín thở. Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt. Nhưng bọn cộng sản vẫn bịt mắt. Bác hỏi em, bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975. Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc nên cũng không có gì mà kể lại. Chúng bịt mồm, bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì được. Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì ít nói như vậy. Vẫn lầm lì chịu bị bắt, không giơ tay đầu hàng, không khai báo, không nói năng gì cho đến chết. Anh làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng rồi đến tiểu khu trưởng. Báo chí, anh em nói gì thì nói, anh Cẩn chả nói gì hết.
Bác hỏi em là mồ mả ra sao. Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức. Gia đình không cho em ra mặt. Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được. Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ. Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá. Rồi đến khi khu này bị giải tỏa nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên. Ngày nay, em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này. Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình. “
– “Cô đi năm nào”, tôi hỏi bà Cẩn.
– “Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 75. Đến 78 thì vượt biên qua Pulo Bidong. Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ. Qua bên này mình chả biết ai, không ai biết mình. Cũng như bao nhiêu thuyền nhân, mẹ con ở với nhau. Em đi làm nghề may, rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ. Bây giờ cháu trai duy nhất của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con.”
Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng, tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng.Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác:
– “Nãy giờ nói toàn chuyện buồn, cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới 75, cô có những kỷ niệm nào vui không.”
Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ:
– “Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi. Toàn lo việc nhà, nội trợ nuôi con. Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo. Từ trại gia binh đến cư xá sĩ quan. Chúng em không có nhà riêng, không có xe hơi, không có xe gắn máy. Từ Sa Đéc trung đoàn 15 qua đến tiểu khu Chương Thiện, toàn là ở trại lính”.
Tôi hỏi tiếp:
– “Cô có đi dự tiệc tùng, mừng lên lon, thăng cấp, dạ hội gì không?”.
– “Không, em chả có đi đâu. Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ. Dân chúng cũng không biết em là ai. Mua bán gì em về Cần Thơ, đông người, cũng chả ai biết em là ai. Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc. Lương nhà binh cũng chẳng có là bao. Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo. Năm 1972 ở An Lộc về, anh Cẩn mang lon đại tá không biết nghĩ sao anh nói với em, vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm. Đây là tấm hình gần như duy nhất. Xin bác dùng tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử”.
Tôi nói rằng, tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm. Hoàng Mộng Thu có đưa cho tôi xem. Chúng tôi sẽ dùng hình này. Nhưng tôi vẫn gặng hỏi:
– “Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không?”.
– ” Em đâu có biết. Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười. Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh”.
– “Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không?”.
Bà Cẩn thật thà kể rằng:
– “Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển. Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu. Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…”
Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, dường như sĩ quan, anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu.
Chỉ có hàng binh sĩ, chỉ những người lính là chưa có dịp. Hồ Ngọc Cẩn ở Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ Thủ Đức đi Vũng Tàu. Vì vậy chị Cẩn suốt đời vẫn chỉ là vợ lính.
Trong quân đội, dù là tướng tá hay sĩ quan, anh nào mà chả có thời làm lính. Sau đó mới làm quan. Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh, vợ đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời.
Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức.. Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ, ở bên kia địa cầu, trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng chủ nhật cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ.
Giao Chỉ VVL (SJ)
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ
Chức năng bình luận bị tắt ở Câu chuyện về gia đình Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn_Giao Chỉ
Anh K thương mến,






Bạn phải đăng nhập để bình luận.