Kem Sài Gòn, Kem Hà Lội_Dung Hạnh

Kem Sài Gòn, Kem Hà Lội

(HNPĐ): Dù đã biết Hà Nội đang rất thịnh hành với “bún chửi”, “cháo mắng”, nhưng tôi vẫn ngạc nhiên pha chút ngượng ngùng cùng đồng nghiệp vì nét mặt khó chịu không che dấu của cô phục vụ trong quán.

Facebooker Dung Hạnh ở Canada về Hà Nội trong một chuyến công tác với đoàn “chuyên gia”. Nhân lúc rảnh rỗi, cô dắt các bạn đi ăn kem Hà Nội cho biết mùi. Dưới đây là câu chuyện “Đi ăn kem ở thủ đô Hà Nội” của cô:Chuyện nói ngọng vùng miền (Cứ Nẫn Nộn en nờ cao mí en nờ nùn)

Trong một lần đi công tác tại thủ đô Hà Nội, tôi và đoàn chuyên gia Canada bước vào một quán kem sau một ngày làm việc căng thẳng & mệt mỏi.
Dù đã biết Hà Nội đang rất thịnh hành với “bún chửi”, “cháo mắng”, nhưng tôi vẫn ngạc nhiên pha chút ngượng ngùng cùng đồng nghiệp vì nét mặt khó chịu không che dấu của cô phục vụ trong quán.

Sau nụ cười như thể vừa bị bà chủ nhắc nhở “mày không cười thì cuối ngày khỏi nãnh nương nhá nhá nhá”, cô đặt tấm thực đơn một cái “rầm” trên bàn rồi đứng dang ra xa bấm iPhone chơi, bỏ mặc mấy anh Canadians ngơ ngác tưởng mình phạm lỗi gì.
Chỉ có 1 con nhỏ Mít tố nữ là “tui” quê độ nên cóc thèm coi thực đơn luôn !

Vẫn bằng giọng rất nhẹ nhàng & từ tốn, tôi hỏi:

– Tui: Em ơi, em có các loại kem nào ?
– Ẻm: Cái mơ lu trên bàn đây lày !
– Tui: (pà mịa nó, chị mà không chọc được cô em Bắc Kỳ này thì chị gác kiếm xuống núi luôn !) Cái mơ lu là cái gì vậy cưng ?
– Ẻm: Giời ạ ! Mơ lu cũng không biết nà dzì à ? Cái nhà chị lày hay nhễ !
– Tui: Cái nhà chị á ? Đâu có gì hay đâu cưng ! À mà em có kem gì nói đi để chị thông dịch lại cho đồng nghiệp biết.
– Ẻm: Dzì cũng có !
– Tui: Dzì là dzì ?
– Ẻm (bắt đầu “nồng nộn” chơi nguyên một tràng): Dzâu, dzứa, dzừa, va li, na.

Anh bạn đồng nghiệp hỏi bằng tiếng Pháp: “Tôi nghe được một chữ rồi, ở tiệm kem có bán cả va li nữa à ? (Vì nghe như « valise » trong tiếng Pháp).

Tui vừa cười cười, vừa lắc đầu và ngẫm nghĩ chắc kêu cho bạn mấy loại kem Dâu, Dừa và Dứa (Thơm), còn mình ăn thử kem Na coi sao.

Người Nam gọi là trái Mãng Cầu, người Bắc gọi là quả Na. Kem Mãng Cầu của tiệm kem Cô Ba tại Montreal thơm ngon nổi tiếng, bây giờ phải thử kem Na ở Hà Nội chứ.

– Tui: Em cho các anh này kem Dâu, Dừa và Dứa, cho chị kem Na nha.
– Ẻm: Đây bán chứ không cho nhá ! (Ẻm quay phắt vào phía trong, cất giọng như thùng thiếc bể): 1 dzâu, 1dzứa, 1 dzừa, 1 na.

Đang khoái chí cười cười vì vừa phá cô em Bắc Kỳ cáu kỉnh thì …cụp cụp cụp cụp, nàng đã quay trở lại và dện từng ly kem trên bàn nghe như tiếng chày trên sóc Bom bo !

Cứ nhìn màu kem mà đoán thì các anh bạn đã có đúng thứ các anh muốn, nhưng ly của tôi hình như có gì đó sai sai !

– Tui: Em ơi, chị gọi kem Na mà, không phải kem màu trắng sao ? Ly này màu nâu có phải lộn gì không cưng ?
– Ẻm: Nộn dzì mà nộn ! Kêu Na cho Na, nại lói nộn nà thế lào ?!
– Tui: Na phải màu trắng chứ em, Mãng cầu đâu có màu nâu.
– Ẻm: Giời ạ, vớ va vớ vẩn cái nhà chị lày ! Tôi bảo kem Na, nà … sô cô na, tôi có bảo nà quả Na núc lào !!!

Dung Hạnh
😳 🤨 🙃 😝 😜 🤪 🤣 😂 🍨 🍧 🍦 🍫
Chuyện này có thật 100%, em không phân biệt vùng-miền gì đâu, quý vị nhẹ tay cho em nhờ !

Image may contain: dessert and food

Image may contain: drink, dessert and food

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Kem Sài Gòn, Kem Hà Lội_Dung Hạnh

Đừng để Mẹ đợi cơm quá lâu_Thanh Trúc

Image result for Đừng để Mẹ đợi cơm quá lâu

(trithucvn.net): Mẹ đã mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, vất vả khổ sở đưa chúng ta đến thế gian này, rồi lại cực khổ nuôi chúng ta khôn lớn. Vậy nên thế giới đã có Ngày Của Mẹ để những người con thể hiện sự biết ơn và lòng hiếu thảo của mình đối với mẹ.

Tuy nhiên, không phải người con nào cũng nhớ tới Ngày Của Mẹ, và có rất nhiều chuyện đáng tiếc xảy ra trong ngày này.

Anh Lưu Vỹ Kỳ, một nhân viên nhà tang lễ ở Đài Loan, đã gặp một chuyện khiến anh không thể nào quên chỉ vài ngày sau Ngày Của Mẹ.

Anh Lưu đã đăng một bài viết kể rằng vào ngày hôm đó, một người đã gọi cảnh sát và thông báo rằng gia đình của nhà hàng xóm có mùi rất nặng. Cảnh sát đến hiện trường và phát hiện ra một bà cụ đã chết trong một thời gian dài và những con côn trùng bao phủ cơ thể bà. Điều rất lạ là không có người thân trong gia đình, nhưng trên bàn thì có đầy đồ ăn. Tại sao một bà cụ lại chuẩn bị nhiều món ăn như vậy?

Theo giấy tờ tùy thân tìm thấy tại hiện trường, cảnh sát đã nhanh chóng liên lạc với con trai của bà cụ quá cố. Người con trai về nhà nhìn thấy bàn cơm đã đổ sụp ngay tại chỗ, anh ta đã khóc rất lâu.

Thì ra bà cụ qua đời là một bà mẹ đơn thân, bà đã một mình nuôi nấng con trai trưởng thành. Tuy nhiên, người con trai đi làm ở Singapore, sau khi trở về Đài Loan, anh đã không về nhà thăm mẹ vì công việc bận rộn.

Vào Ngày Của Mẹ, bà cụ đã chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn, hy vọng sẽ có một ngày lễ vui vẻ cùng con trai, thế nhưng đợi mà không thấy con trai quay về. Người mẹ già thất vọng đi tắm và khi bước ra khỏi phòng tắm, bà đã đột ngột qua đời do căn bệnh nhồi máu cơ tim. Trong suốt 4 ngày không có ai phát hiện ra bà cho đến khi thi thể bốc mùi. Có lẽ, đây sẽ trở thành niềm hối tiếc lớn nhất trong cuộc đời của người con trai.

Đến khi con muốn chăm lo thì cha mẹ chẳng còn…

Vào tháng 5 năm nay, một người Đài Loan đã đăng một bài viết kể lại rằng ngày này hai năm trước, cô nhận được một cuộc gọi từ mẹ nói rằng mình bị viêm dạ dày và mong cô có thể về nhà. Khi đó cô đang ở cơ quan, cô thấy rất phiền nên trả lời mẹ rằng đợi đến ngày nghỉ sẽ về! Đến khi cô gọi lại cho mẹ thì không có ai trả lời điện thoại – và đó là cuộc gọi cuối cùng của cô với mẹ. Mẹ cô đã qua đời vào ngày cô nghe điện thoại mà không chịu về nhà…

Nhiều người chúng ta thường nghĩ rằng, con người ta, ngày mai lại có thể gặp được; tình yêu, ngày mai vẫn có thể tiếp tục. Nhưng mọi thứ đều có hạn, thời gian cũng không chờ đợi người, “Điều ngoài ý muốn và ngày mai, sẽ không bao giờ biết được cái nào sẽ đến trước”.

mẹAnh Lưu đã từng chứng kiến nhiều rất nhiều điều hối tiếc, cũng gặp rất nhiều những lỗi lầm không thể cứu vãn. Anh nhắc nhở mọi người rằng, “Công việc rất quan trọng, nhưng đừng quên rằng có một người mẹ già đang đợi bạn …”

Thanh Trúc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng để Mẹ đợi cơm quá lâu_Thanh Trúc

NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?_Phương Trúc

NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?

Phương Trúc – NHA

Bài nầy không nhằm mục đích phê bình hoặc chỉ trích chế độ dưới thời Tổng Thống NGô Đình Diệm có độc tài hay không? Kỳ thị tôn giáo hay không? Hoặc gia đình trị hay không? Tất cả những việc nầy để lịch sử minh định và phán xét. Riêng tôi viết bài nầy, nhằm mục đích tìm hiểu về cái lợi và cái hại. Khi Tổng Thống Ngô đình Diệm cùng những người cố vấn của ông quyết tâm kết liểu cuộc đời làm tướng của Lê Quang Vinh, tự Ba Cụt và một số nhân vật chánh trị và nhân sĩ quốc gia nặng lòng yêu nước. Triệt để chống thực dân Pháp và Cộng sản.
I. VÁI NÉT VỀ TIỂU SỬ TƯỚNG BA CỤT.

Inline image
Ba Cụt tên thật là Lê Quang Vinh, sinh năm 1923, tại rạch Bằng Tăng, xã Thới Long, quận Ô Môn, Cấn Thơ. Trong một gia đình nông dân, có 7 anh chị em, gồm có 2 gái và 5 trai. Trong số 5 anh em trai nầy có hai ngươòi đã hy sinh vì Tổ Quốc trước khi Ba Cụt bị chết dưới chế độ Ngô Đình Diệm.. Đó là các ông Lê Quang Tư tự Tư Đèo chết trong trận chiến với Việt Minh Cộng sản tại Cái Nứa,  tỉnh Long Xuyên vào tháng 5 năm 1952. Người em thứ 5 Lê Quang Hiếu tự Năm Giò chết trong trận phục kích tàu Pháp tại Sóc Chét, rạch Ông Chưởng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Nay là Tỉnh An Giang vào ngày 16 tháng 2 năm 1948, lúc còn rất trẻ. Sở dĩ Lê Quang Vinh có biệt danh là Ba Cụt do người đời ban tặng cho. Tại vì trong gia đình của Ba Cụt, Ba Cụt là thứ ba. Trong thời gian ban đầu, Ba Cụt tụ họp được một số anh em trong làng. Ba Cụt là người lảnh đạo trong nhóm đó. Thề trước anh em sẽ chống Pháp và Cộng sản cho đến cùng khi nào giành được độc lập cho nước nhà mới thôi. Ba Cụt tự nguyện cầm dao chặt đứt ngón tay út của mình để cắt máu ăn thề trước mặt anh em, như chuyện Đào Viên kết nghĩa.
Cha là Lê Văn Long, mẹ là bà Huỳnh thị Trân có 7 người con Ba Cụt là người con thứ ba trong gia đình. Ba Cụt kết hôn với bà Trần thị Hoa, tự Phấn sanh được 6 người con. Ngoài ra Ba Cụt còn có một người vợ nữa là bà Cao thị Nguyệt trong một gia đình danh giá. Sau khi Ba Cụt bị bắt chính thân phụ của bà Cao Thị Nguyệt bỏ tiền ra để mướn luật sư bào chữa cho Ba Cụt. Còn bà Trần Thị Hoa tự Phấn vợ lớn của Ba Cụt lúc đó đang sinh sống tại Nam Vanh (Phnom Penh) thủ đô của Cambodia cùng một số con. Bà chỉ được biết Ba Cụt bị bắt ở Việt Nam qua báo chí mà thôi. Sau ngày đảo chánh ông Diệm, ngày 1 tháng 11 năm 1963 bà mới trở về nước. Nhưng sự kết hôn của Ba Cụt với bà Cao Thị Nguyệt nặng vế chánh tri hơn là tình yêu. Chẳng khác chi chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu  Vì bà Cao thị Nguyệt lúc đó tuổi vừa tròm trèm trên dưới 20, đang du học tại Pháp. Sau Ba Cụt mất bà nối lại mối tình xưa với người yêu cũ cũng du học ở Pháp cùng thời kỳ với bà. Tướng Lê Quang Vinh là người tín đồ trung kiên của PGHH. Mới 20 tuổi tay không với dao gâm, mác vót, tầm vông giạt nhọn. Đánh Pháp, chụp đồn lấy súng. Thoạt từ ban đầu có vài ba cây súng rồi đến hàng chục cây, hàng ngàn cây. Đến năm 1954 lực lượng chiến binh tại ngũ của Ba Cụt lên đến 5.000 người với vũ khí đầy đủ và du kích địa phương cũng trên năm ngàn, tạo thành một lực lượng võ trang khá hùng hậu. Ba Cụt chính là người tạo nên thời thế. Và cũng chính thời thế tạo nên người anh hùng Lê Quang Vinh.

Ý nguyện của Ba Cụt là:
Đánh Tây giành độc lập cho đất nước
Đánh Cộng sản đề trả ơn Thầy
II. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM.
Ông Ngô Đình Diệm sanh ngày 3 tháng 01, năm 1901 Tại Huế. Người làng Đại Phong  huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ Ngô Đình Khả, mẹ là bà Phạm thị Thân là vợ thứ nhì của Cụ khả. Cụ khả có một đời vợ trước tên là Chĩu đã qua đời. Cụ khả tái giá với bà Phạm Thị Thân sanh ra 9 người con, sáu trai ba gái. Trong số 6 anh em trai là:Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Cẩn, Cụ Khả là một nhà nho học, nhưng gia đình theo đạo Thiên Chúa. Ông Ngô Đình Diệm là người thành lập ra nền Đệ Nhất Cộng Hoà sau khi truất phế vua Bảo Đại năm 1954 và trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955. Trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà đầu tiên, ngày 26 tháng 10 năm 1955.
Vào khoảng tháng 6 năm 1954 Ông Ngô Đình Diệm được Toà Thánh Vatican và Mỹ hậu thuẫn đưa về nước để giữ chức Thủ Tướng với sự đồng ý của vua Bảo Đại. Ông Ngô Đình Diệm trở về nước ngày 25 tháng 6 năm 1954 tại phi trường Tân Sơn Nhất được dân chúng và các đảng phái chánh tri chào đón. Đến ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Ngô Đình Diệm được chánh thức giữ chức Thủ Tướng kiêm nhiệm luôn quốc phòng. Ông nắm cả hành chánh và quân sự. Lúc ban đầu các lực lương giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo đều hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Riêng Trung tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tư Lịnh quân đội quốc gia trong Liên Hiệp Pháp bất phục tòng. Nên vua Bảo Đại lúc đó đang công du bên Pháp đánh công điện khẩn, ra lịnh cho Tướng Hinh sang Pháp ngày 20 tháng 11 năm 1954. Bên Hoà Hảo thì tướng Nguyễn Giác Ngộ hợp tác chặt chẽ với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ngay từ lúc ban đầu. Tổng Tư Lịnh lực lượng võ trang Hoà Hảo là Trung Tướng Trần Văn Soái, Tướng Lâm Thành Nguyên thì còn do dự. Nhưng sau cũng hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Riêng tướng Lê Quang Vinh Tự Ba Cụt bất mãn về Hiệp Định Genève ký kết giữa Việt Minh và Pháp tại Geneva, Thụy sĩ chia đôi đất nước nên kéo quân vào bưng để chống lại hai kẻ thù không đội trời chung là Pháp và Việt Minh. Còn ở Sài Gòn thì Tướng Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn Tư Lịnh Bình Xuyên thì cực lực chống lại ông Ngô Đình Diệm. Nên sau bị ông Diệm dùng Liên đoàn nhảy dù và lực lượng Cao Đài Liên minh của Trịnh Minh Thế tấn công Bình Xuyên vào ngày 29 tháng 3 năm 1955, sau mấy tháng chiến tranh xảy ra trên đường phố Sài Gòn và Rừng Sát, cuối cùng Bình Xuyên thảm bại, Bảy Viễn chạy trốn sang Pháp. Tại Tòa Thánh Tây Ninh tuy có những điều không bằng lòng với chánh phủ Ngô Đình Diêm nhưng sau cũng quay về hợp tác với chánh phủ quốc gia.
III. LỰC LƯỢNG NGHĨA QUÂN BA CỤT.
Ở miền Tây, sau khi hiệp định Genève được ký kết vào nửa đêm 20 tháng 7 năm 1954 giữa Việt Minh và Pháp chia đôi đất nước làm cho lực lượng Dân Xã Nghĩa Quân Hoà Hảo của tướng Lê Quang Vinh rất bất mãn. Lập trường của Nghĩa Quân Hoà Hảo là đất nước bất khả phân ly. Đất nước chỉ là một, không thể chia cắt Tổ Quốc ra làm hai miền Nam Bắc. Nên tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt lập tức kéo lực lượng võ trang dưới quyền của ông vào bưng, quyết trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn vô thần Cộng sản cho đến kỳ cùng. Kể từ năm 1954 đến năm 1956, lực lượng Nghĩa quân của Ba Cụt nhiều lần chạm trán nẩy lửa suốt ngày đêm, giao tranh ác liệt giữa Nghĩa Quân Ba Cụt ở miệt Đồng Tháp, dọc theo biên giới Việt Miên cho đến vùng Thất Sơn Bảy Núi, Phú Hữu, Cỏ Lau, Giồng Trà Dênh, Bình Di, Bắc Nam thuộc quận An Phú, tỉnh Châu Đốc. Tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng, U Minh Hạ. Trong thời gian đó, khi Nghĩa Quân di chuyển đến đâu thị lực lượng của Việt Cộng phải né tránh xa. Nên những năm trên, Việt Cộng ở các tỉnh miền Tây phải lánh mặt, không đất dung thân.
Hơn nữa Ba Cụt là người có lý tưởng, có lập trường quốc gia vững chắc quyết đánh đuổi thực dân Pháp, chống Cộng sản rõ ràng. Ông xuất thân từ nông dân yêu nước, những anh em Nghĩa quân của Ba Cụt cũng từ đó mà ra. Còn các cấp chỉ huy dưới quyền của Ba Cụt cũng xuất thân từ lòng yêu nước, từ nông dân mà ra. Họ hiểu rõ từng địa phương, từng đường đi nước bước của kẻ địch, họ mới trị được những tên nằm vùng du kích, những tên nón cối dép râu, khăn rằn mã tấu, quần cụt nón tai bèo cán bộ Cộng sản mà thôi. Hơn nữa họ là những người đã trải qua kinh nghiệm chiến tranh du kích, đánh du kích và diệt trừ du kích như thế nào? Đó là những bài học thực tế không môt ai một sớm, một chiều mà có được. Còn các sĩ quan chánh quy dầu được đào tạo ở những trường quân sự chánh quy nổi tiếng đi chăng nữa cũng đành chịu bó tay trước chiến thuật du kích. Vì chiến thuật du kích thay đổi muôn hình vạn trạng, biến hoá khôn lường. Không có sách vở nào chỉ dạy cho hết. Như ngày xưa, quân Tàu xâm lấn nước ta, Tàu ỷ người đông sức mạnh đánh ta nhưng Tổ Tiên ta là Dạ Trạch Vương Lý Bôn dùng chiến thuật du kích khiến Tàu phải thua xất bất, sang bang, thua dài dài.
Kể từ năm 1945 đến năm 1956, suốt hơn 10 năm những cuộc chiến đấu oai hùng của Nghĩa Quân Ba Cụt đánh chiếm tàu Tây ở Chân Đùng hay chỉ có vài trái lựu đạn với dao găm, lưỡi lê chiếm chiến xa nồi đồng của giặc, lấy đạn đại bác, đốt thiết giáp làm cho Pháp phải kinh hồn bạt vía mỗi khi chạm trán với lực lượng Nghĩa Quân Ba Cụt. Tại các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, Sa Đéc, đồng Tháp Mười, Cà Mau Việt Minh phải nể mặt, chạy dài.
IV. NGÔ ĐÌNH DIỆM THỦ TIÊU NHỮNG THÀNH PHẦN QUỐC GIA CHÂN CHÍNH.
Ông Ngô Đình Diệm về nước nhận chức Thủ Tướng  vào ngày 7 tháng 7 năm 1954. Sau nầy được gọi là “Ngày Song Thất”. Các đoàn thể quốc gia đều hân hoan đón tiếp ông như là một tương lai cho đất nước dù ông là người sinh trưởng ra trong một gia đình Công giáo. Vì họ không phân biệt người Thủ Tướng thuộc về tôn giáo nào. Miễn là người đó có đầy lòng nhiệt huyết yêu nước, thương nòi, đưa đất nước và dân tộc ra khỏi vòng kềm tỏa ngặt nghèo, khát máu của chế độ thực dân Pháp. Không bị lệ thuộc vào sự thống trị độc đảng, độc quyền dưới chế độ Công sản là được.
Nên sau đó vài tháng có một buổi họp ở tại hội trường Diên Hồng. Gồm có các thành phần yêu nước ủng hộ ông Ngô Đình Diệm như sau: Ông Nguyễn Bảo Toàn tự Hoàng Bích, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn cùng một số nhân vật khác như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trong đó có ký giả Nhị Lang. Trong lúc đang thảo luận, bỗng ông Hồ Hán Sơn la lên “ Truất phế Bảo Đại, suy tôn Ngô Đình Diệm.” Sau đó mọi người đồng nhất loạt la “Đả đảo Bảo Đại. Đả đảo Bảo Đại.” Hồ Hán Sơn chạy đến giựt chân dung vua Bảo Đại đang treo trên tường xuống. Ký giả Nhị Lang nhanh chân đạp giầy lên hình Bảo Đại, chà cho đến rách nát. Trong lúc đó ông Ngô Đình Diệm chợt xuất hiện, nghe tiếng hò hét ông chỉ mỉm cười rồi vội bước đi chỗ khác mà không nói gì hết. Đó là ngày khởi đầu truất phế vua Bảo đại. Cho đến ngày 23 tháng 10 năm 1955 là ngày trưng cầu dân ý để truất phế vua Bảo Đại vĩnh viễn. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1955 ông Ngô Đình Diệm chánh thức đăng quang làm Tổng Thống đầu tiên của nước VNCH.
Sau khi ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống rồi. Ông chẳng những không chấp nhận ý kiến đối lập của những người quốc gia yêu nước, đã từng ủng hộ ông, khi ông mới trở về nước, đặt bước chân đầu tiên tại phi trường Tân Sơn Nhất sau một thời gian sống ở ngoại quốc để xây dựng một đất nước hoàn toàn dân chủ tự do, đoàn kết dân tộc để chiến thắng Cộng sản. Chính những lời phê bình chỉ trích đứng đắn ấy mà họ phải mang hoạ vào thân. Các ông Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn và một số các nhân vật khác bị bắt, bị thủ tiêu. Bằng cách hành hạ đánh cho đến chết, bỏ vào bao bố tời, neo đá, bỏ xuống sông Sài Gòn chết mất xác. Vợ con không biết chồng, cha mình chết ngày nào để mà làm lễ giỗ cúng cơm. Riêng ký giả Nhị Lang thì khôn khéo hơn, luồn lách hơn nên mới khỏi chết và sau được giữ chức Bộ Trưởng Bộ Thông Tin.
V. TƯỚNG TRỊNH MINH THẾ.
Tướng Trịnh Minh Thế là một tướng xuất thân từ lực lượng Liên Minh Cao Đài. Đã hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm trong buổi ban đầu, nên mới được giao cho nhiệm vụ chỉ huy đánh Bình Xuyên. Nhưng tiếc thay cuối cùng phải chết dưới tay của chế độ đó. Đưới đây là những nghi vấn về cái chết của tướng Trịnh minh Thế.
1. Theo chế độ Ngô Đình Diệm thì cho là tướng Trịnh Minh Thế chết ngoài chiến trường do địch (Bình Xuyên) bắn chết, bởi một viên đạn xuyên qua đầu khi ông ngồi trên xe Jeep đang trên đường hành quân chạy qua đầu cầu Tân Thuận
2. Nhưng theo lời của ông Lê Trọng Văn, Trịnh Minh Thế chết vì tướng Văn Thành Cao cho đàn em ngồi chung xe Jeep hạ sát theo lịnh của ông Ngô Đình Nhu.
3. Theo tài liệu bằng tiếng Pháp do ông Nhị Lang công bố thì tướng Trịnh Minh Thế chết là do Thiếu tá tình báo Pháp tên là Savani từ dưới tàu bắn lên, giết chết tướng Trịnh Minh Thế để trả thù cho tướng Chanson.
4. Theo gia đình của ông Trịnh Minh Thế bởi người con trai út của tướng Thế là Trịnh Minh Sơn công bố trên tờ Làng Văn số 232 vào tháng 12 năm 2002. Là cha ông bị giết tại dinh Độc Lập rồi chở xác đến cầu Tân Thuận để đánh lạc huớng dư luận đồn đãi là nhà Ngô giết tướng Trịnh Minh thế. Theo lời của bà Nguyễn thị Kim vợ của tướng Trịnh Minh Thế, thì chồng bà bị bắn, còn để lại hai vết đạn, chứ không phải một vết đạn như chánh quyền Ngô Đình Diệm công bố.
a. Một vết đạn vào ót trổ ra miệng làm văng mất hàm răng giả. Ám khói súng còn dính lại phía sau ót.
b. Vết đạn thứ hai vào sát lỗ tai mặt, đạn xuyên qua mắt trái, làm bể trồng mắt trái. Khói súng còn ám dính vào lỗ tai. Điều đó người giết Trịnh Minh Thế phải đứng gần và sát một bên của Trịnh Minh Thế. Trịnh Minh Thế bị hạ sát vào lúc 6 giờ chiều ngày 3 tháng 5 năm 1955.
Những người con và vợ của tướng Trịnh Minh Thế thuật lại thì khả tín hơn các phần nghi vấn khác. Vì chính họ nhìn thấy hai vết đạn từ sau ót và bên lỗ tai phải vẫn còn hằn dấu vết của thuốc súng. Vậy là chế độ Ngô Đình Diệm giết Trịnh Minh Thế chớ còn ai khác hơn nữa.
c. Đây tôi cũng xin mở ngoặc cần nói thêm những người quốc gia chân chính hay các Trị sự viên chuyên về việc tu hành cũng không thoát khỏi bàn tay giết người, thủ tiêu của chế độ Ngô Đình Diệm. Vào tháng 10 năm 1962. Tức là trước ngày ông Ngô Đình Diệm bị đảo chánh một năm và bị thảm sát một cách dã man rùng rợn, bởi bọn tay sai nịnh thần trước kia mà ông hết lòng tin cẩn và trọng dụng. Các ông Trần văn Tập, Lê Hoài Nam, Nguyễn văn Dành, Huỳnh Thiện Tứ, Huỳnh Hữu Thiện. Thừa lịnh Đức ông là thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo sai đi công tác về giáo sự ở Sài Gòn. Trên đường về, trở lại Thánh Địa Hoà Hảo, đến mũi tàu Phú Lâm bị bọn mật vụ của ông Ngô Đình Nhu chận lại bắt, bị chế độ Ngô Đình Diệm thủ tiêu, mất xác làm cho vợ con không biết ngày chết chính xác để mà kỵ cơm. Sau nầy giòng họ Ngô Đình Diệm xảy ra những chuyện chẳng lành âu có phải là do sự oan oan tương báo chăng? Điều nầy chúng tôi không dám lạm bàn nhiều. Nhưng ai là người tín đồ Phật Giáo thì hiểu rõ hơn ai hết. Điều dữ cần phải tránh, điều lành cần phải làm dù là tôn giáo nào. Đó là cái gương chung cho những người làm chánh tri về sau nầy. Ngay trong cả gia đình Tổng Thống Hoa Kỳ là Kennedy cũng không thoát khỏi cái luật quả báo nhãn tiền ấy. Kennedy ra lịnh Cabot Lodge ở Sài Gòn mua chuộc các tướng phản tặc với giá ba triệu đồng đảo chánh ông Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963 và đồng loã để cho các tên phản tặc giết chết anh em ông ông Ngô Đình Diệm, Ngô đình Nhu. Thì chỉ có vỏn vẹn ba tuần lễ sau Kennedy bị ám sát chết tại Texas vào ngày 22 tháng 11 năm 1963. Âu đó cũng là một sự quả báo nhãn tiền ngay tức khắc.
Nên Đức Huỳnh Giáo Chủ Nói:
Đời xưa trả báo thì chầy,
Đời nay trả báo một giây nhãn tiền
Hay:
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.
Trong Lục Vân Tiên cụ Đồ Chiểu cũng có viết.
Ai ai lẳng lặng mà nghe
Khá xem chuyện cũ mà dè thân sau.
Đó là những bài học nhãn tiền cho những ai làm chánh trị hay có quyền lực trong tay mà không có lòng nhân, độ lượng bao dung thứ tha cho kẻ khác. Coi việc giết người như là một trò chơi. Giết cho thỏa thích theo sở dục của mình.  Chính chế độ Ngô Đình Diệm đào tạo ra tên Đại Úy Nhung chặt thây của tướng Ba Cụt ra thành ba mảnh, bầm nát thây ông sau khi bị thọ hình. Chính tên nầy lại phản chủ đánh đập, kết liễu cuộc đời hai vị lãnh tu của mình là ông Diệm, ông Nhu trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu, từ nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn. Đó mới thấy bài học nhân quả của họ nhà Ngô. Sau cuộc chỉnh lý của Tướng Nguyễn Khánh tên Nhung cũng bị treo cổ trong BTL/KQ ở phi trường Tân Sơn Nhất
VI.  TRƯỜNG HỢP DỤ HÀNG TƯỚNG BA CỤT.

Inline image1. Dụ Hàng Lần Thứ Nhất:
Khi chánh phủ Ngô Đình Diệm mới về chấp chánh năm 1954. Ông Ngô Đình Diệm cho bào đệ của ông là ông Ngô Đình Nhu đến gặp Ba Cụt lần đầu tiên để chiêu dụ Ba Cụt về hàng, hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Nhưng Ba Cụt chưa nhận lời và chờ xem chế độ Ngô Đình Diệm cư xử với các đảng phái chánh trị quốc gia như thế nào và lập trường ra sao? Nhưng thời cuộc biến chuyển mau lẹ. Hiệp định Genève được ký kết vào lúc giữa đêm ngày 20 tháng 7 năm 1954 với Việt Minh và Pháp, chia đôi đất nước thành hai miền Nam Bắc lấy vĩ tuyến 17, sông Bến Hải làm biên giới chia đôi hai miền Nam Bắc. Ba Cụt bực mình vì hiệp định nầy nên bất mãn, ra lịnh cho toàn thể bộ hạ kéo vào bưng để đánh Pháp và diệt trừ cộng sản. Đó là cơ hội thứ nhất đã trôi qua làm cho Ba Cụt không hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm được như các tướng lãnh Hoà Hảo khác như Trung Tướng Trần văn Soái, Thiếu Tướng Nguyễn Giác Ngộ, Thiếu Tướng Lâm Thành Nguyên.
2. CHIÊU DỤ LẦN THỨ HAI.
Nói là chiêu dụ lần thứ hai như thế nầy là không đúng lắm, mà phải nói lần nầy là lần chế độ Ngô Đình Diệm lừa gạt Ba Cụt thì đúng hơn.
Ông Nguyễn Ngọc Thơ là đương kim đại sứ của chánh phủ VNCH đang nhận nhiệm sở bên Nhật. Được lịnh ông Ngô Đình Diệm triệu hồi về nước, lãnh nhiệm vụ đi chiêu hàng Ba Cụt.
Sở dĩ chế độ Ngô Đình Diệm dùng Nguyễn Ngọc Thơ là vì ông lập được thành tích thuyết phục được bà Lê Thị Gấm là vợ của Trung Tướng Trần Văn Soái tự Năm Lửa, nài nỉ ông Năm Lửa ra mặt với Chánh phủ ông Diệm vào ngày 19-2-1956. Ông Nguyễn Ngọc Thơ lại trở về làm con bài chiêu dụ Ba Cụt ra hàng là vì ông Nguyễn Ngọc Thơ là người quê quán ở Long Xuyên. Có lúc làm tỉnh trưởng Long Xuyên dưới thời Pháp thuộc. Là một tay Đốc phủ sứ của Pháp. Nguyễn Ngọc Thơ cho người tìm thân nhân Ba Cụt ở Bằng Tăng, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Biết được ông thầy giáo tên Huỳnh Kim Hoành là cậu ruột của Ba Cụt. Tánh ông nầy thật thà hiền từ, chân chất, là người tín đồ PGHH. Đã từng dạy học cho Ba Cụt lúc Ba Cụt còn nhỏ. Ba Cụt rất kính mến cậu của mình. Nguyễn Ngọc Thơ cho người mời ông Huỳnh Kim Hoành đến để làm quen. Ông Thơ rất khôn khéo, thân mật với Tư Hoành, vì có dự mưu sẵn nên ông xuống nước gọi ông Hoành bằng anh Tư. Còn ông Hoành gọi ông Thơ bằng ông Đại Sứ. Ông Hoành khi nói chuyện với ông Thơ gọi Ba Cụt bằng “thằng cháu tôi”. Nên ông Thơ làm ra vẻ thân mật gọi Ba Cụt bằng “Chú Ba.” Chứ thực ra họ đâu có quen biết thân nhau gì từ trước. Từ chỗ thân mật giả tạo đó ông Thơ muốn ông Hoành làm mối lái trung gian, liên lạc giữa ông và Ba Cụt. Mục đích để dụ Ba Cụt ra hợp tác với chế độ Ngô Đình Diệm. Ông Hoành vì thật thà không biết nên nhận lời ngay mà không nghĩ đến cái hậu quả khủng khiếp sắp xảy đến cho người cháu của ông là tướng Ba Cụt và bao sinh mạng của anh em Nghĩa Quân Cách Mạng. về sau nầy.
a. Cuộc Gặp Gỡ Giữa Ông Thơ Và Ba Cụt Lần Thứ Nhất.
Vì nhận thấy các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng khai triển ngày 5 tháng 6 năm 1955 kết thúc tháng 12 năm 1955 và chiến dịch Nguyễn Huệ khởi đầu ngày 1 tháng 1 năm 1956 mà không đem lại kết quả mong muốn, không thể nào tiêu diệt được lực lượng Nghĩa Quân của Ba Cụt. Cứ bên phe chánh phủ mở cuộc hành quân lớn thì Nghĩa Quân Ba Cụt phân tán mỏng. Còn phe chánh phủ mở cuộc hành quân nhỏ thì Nghĩa Quân Ba Cụt tập trung lại cường kích, hoặc bắn sẻ, ám sát. Nên phía quân đội quốc gia bị tiêu hao không nhỏ. Có những trận đánh mà bên phe quốc gia bị thiệt hại gần nửa tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Khi hai bên đụng nhau tại vùng xóm Thầy, Cần Thơ vào ngày 10 tháng 1 năm 1956. Bên quân đội Quốc gia do Đại Uý Trần Hữu Hạnh chỉ huy tiểu đoàn 1/36 Thủy Quân Lục Chiến. Bên Nghĩa quân Bạ Cụt do ông Nguyễn Thời Rê chỉ huy trung đoàn Lê Quang là trung đoàn thiện chiến của Ba Cụt. Vì những lẽ nêu trên, nên phía chánh phủ nhận thấy nếu dùng quân sự giải quyết lực lượng của Ba Cụt không thể nào được, nên phải dùng giải pháp chiêu dụ Ba Cụt về hàng rồi sau sẽ tính như trường hợp của Tướng Trịnh Minh Thế, Cao Đài.
Cuộc gặp gỡ giữa ông Thơ và Ba Cụt do ông Tư Hoành mối lái với lời yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc Thơ. Ba Cụt và ông Thơ gặp nhau lần thứ nhất vào ngày 29 tháng 2 năm 1956 tại Cồn Tảo nằm trên sông Tiền Giang, thuộc quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong. Về phía Bắc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Lúc nầy BCH của Ba Cụt đang trú ẩn tại xã Thường Phước đối diện với chợ Tân Châu. Lần gặp nầy hai bên không hứa hẹn với nhau cái gì hết, không có lập biên bản tổng kết, hai bên chỉ nói với nhau bằng lời, có sự hiện diện của ông Tư Hoành. Cuộc họp nầy chỉ là sự thăm dò với nhau. Bên Ba Cụt thì muốn biết ý định của chánh phủ Ngô Đình Diệm nghĩ gì về lực lượng Nghĩa quân của mình. Còn bên ông Nguyễn Ngọc Thơ thì ý nhị sâu sắc hơn. Vừa thăm dò tinh thần của Ba Cụt và sự hoạt động của Nghĩa Quân của ông như thế nào? Vừa là tình báo vừa là ngoại giao. Nhưng Ba Cụt không nghĩ tới, tưởng lầm là bên phía chánh phủ Ngô Đình Diệm thật lòng muốn thương thuyết. Và ông Thơ cũng là người chỉ điểm những yếu tố quan trọng binh lược của Ba Cụt cho Tướng Dương Văn Minh, lúc đó là Tư Lịnh chiến dịch Đinh Tiên Hoàng và Nguyễn Huệ sẽ hành động về sau. Nếu sự hợp tác bất thành
b. Cuộc Gặp Gỡ Giữa Ông Thơ Và Ba Cụt Lần Thứ Hai.
Cũng do sự mối lái của ông Hùynh Kim Hoành, liên lạc với Ba Cụt hẹn ngày hai bên Ba Cụt và ông Thơ gặp nhau vào ngày 4 tháng 4 năm 1956. Trong cuộc gặp nầy ông Ba Cụt đưa ra 16 điều yêu sách. Ông Thơ lại hứa hẹn sẽ về trình lên chánh phủ. Lần nầy cũng nói với nhau bằng miệng, không lập biên bản gì trong buổi hội. Cũng không cam kết gì trên giấy tờ. Ông Thơ lại hứa suông và còn dặn rằng “chú Ba cứ yên tâm chờ đợi. Đừng quậy phá gây nên sự rắc rối mất lòng hai bên,” Và cũng không hứa hẹn gì để hai bên gặp lại nhau lần nữa. Có lẽ nhiệm vụ của ông Thơ đến đây đã đủ. Trong lúc đó thì bên phía chánh phủ âm thầm bố trí sẵn sàng tấn công Ba Cụt khi ông Nguyễn Ngọc Thơ rời khỏi địa điểm họp với Ba Cụt. Cuộc hành quân nầy họ gọi là hành quân Sở Hạ. Gồm có các đơn vị và bố trí như sau: Một trung đoàn bố trí trong khu Châu Phú Bắc. Trung đoàn 41 tấn công vào Thường Phước nơi đặt BCH của Ba Cụt. Một Trung đoàn từ Hồng Ngự tiến lên. Họ tiến quân làm ba cánh. Một từ Sở Thượng tiến lên để khóa vòng vây. Cánh thứ hai bọc hậu tiến theo sông Tiền càng quét vùng kinh Bùi Văn Bút. Cánh thứ ba tấn công thẳng vào kinh Thường Phước. Quân chánh phủ tiến theo ba mũi giáp công. Nhưng Nghĩa Quân Ba Cụt đã vượt khỏi vòng vây. Không đụng với nhau mạnh chỉ lẻ tẻ không đáng kể.
Trong lúc nầy Ba Cụt cứ tin tưởng vào lời hứa của ông Thơ “Chú Ba ráng chờ. Đừng quậy phá gây ra sự rắc rối thêm mất lòng cho cả hai bên.” Chờ mãi mà không thấy tin tức gì từ ông Thơ cũng như từ ông cậu ruột Hùynh Kim Hoành. Nên nóng lòng muốn tiếp xúc với ông Thơ để ra mặt. Nhưng ông nào có ngờ đâu đã lọt vào mưu kế của kẻ tiểu nhân và lưỡi hái tử thần đang rình rập ông ở phía trước ngày lẫn đêm. Mặc dầu sau các chiến dịch hành quân của quân đội quốc gia càn quét dữ dội. Nhưng lực lượng của Ba Cụt được phân tán mỏng nên sự thiệt hại không đến nỗi làm cho lực lượng nầy không còn hoạt động được. Các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực của Ba Cụt vẫn còn hoạt động hữu hiệu.
Sự thất bại của Ba Cụt, đưa đến sự bị bắt về sau nầy ta thấy cũng dễ hiểu thôi. Một là những người trong Ban Tham Mưu của Ba Cụt, không có đủ những tài năng. Hai là Ba Cụt quá chủ quan về tài năng quán xuyến chỉ huy của mình từ trước đến nay mà không nghe theo những lời khuyên bảo từ Ban Tham Mưu của mình hoặc tự tiện quyết định lấy một mình mà không tham khảo ý kiến với những người chung quanh. Đó là một sự lầm lẫn đáng tiếc. Từ ngày Ba Cụt gặp Nguyễn Ngọc Thơ lần thứ hai tin tưởng vào tiếng “Chú đừng quậy nữa. . ..“Mà ngẫu nhiên ngầm  ra lịnh cho Nghĩa quân đừng mở các cuộc tấn công vào đồn bót của quốc gia nữa. Chỉ tự vệ mà thôi. Còn bên phía BTL hành quân của Dương Văn Minh thì cho rằng, nhờ các cuộc hành quân của ông mở ra mà lực lượng của Ba Cụt không còn sức để hoạt động được nữa. Thì ai đúng ai sai, ai thiệt ai giả. Đọc giả tự lòng mình phán xét.
VI. BA CỤT BỊ BẮT.
Danh từ Ba Cụt bị bắt như các báo chí và chánh phủ thời đó thường hay dùng không được chính xác đối với Ba Cụt. Mà phải nói rằng Ba Cụt ra nộp mình cho chánh phủ quốc gia để mong có sự hợp tác giữa hai bên, chống cộng sản thì đúng hơn. Chẳng khác chi Từ Hải ra nộp mình cho Hồ Tôn Hiến ngày xưa, Từ Hải lầm mưu nên chết đứng. Ba Cụt cũng thế. Nhưng khi Ba Cụt đã lọt vào tay của chánh phủ Ngô Đình Diệm rồi thì họ cứ nói gì cũng được. Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng đúng. Họ vẽ vời chuyện phục kích của Trung sĩ Giàu là tiểu đội trưởng của một tiểu đội Bảo An đóng đồn ở Chắc Cà Đao. Điều nầy hoàn toàn là chuyện thêu dệt, bịa đặt thêm cho có nhưn có nhụy, có lý cớ để đưa Ba Cụt ra toà lãnh án tử hình. Chủ đích của anh em Ngô Đình Diệm trước sau gì cũng phải giết Ba Cụt cho bằng được.. Vậy ta thử xét qua bản báo cáo của Trung Sĩ Giàu rồi suy gẫm thực hư như thế nào và lời khai của Ba Cụt qua các phiên tòa ra sao? Thực ra đêm đó Trung sĩ Giàu không có đi phục kích gì hết. Chỉ là một toán lính nhỏ vào khoảng nửa tiểu đội đi mở đường buổi sáng thường xuyên mỗi ngày trên lộ, trong phạm vi trách nhiệm của khu vực phụ trách của đồn mà thôi. Toán lính của Ba Cụt và toán mở đường của Trung sĩ Giàu đụng mặt nhau trên đường lộ chứ không phải dưới bờ sông hay dưới ruộng tại Chắc Cà Đao. Trên đường đi Ba Cụt ra lịnh cho các cận vệ không được nổ súng khi gặp bất cứ toán lính nào của chánh phủ quốc gia. Do đó khi gặp toán mở đường của trung sĩ Giàu ông tự xưng ngay “ Tôi là Ba Cụt ra họp với chánh phủ, đừng bắn.” Trên đường di chuyển về Long Xuyên, ông cũng nói với hai người chèo ghe và 5 cận vệ của ông cũng như vậy.
Trung sĩ Giàu báo cáo rằng đêm 12 rạng sáng 13 tháng 4 năm 1956. Tiểu đội của ông đi phục kích vào khuya đêm 12 rạng 13 thì đến 6 giờ sáng ngày 13. Ông thấy một toán người từ một chiếc đò cập bến để bước lên bờ. Ông hô to.
– Ai đó! Đứng lại.
– Đừng bắn! Tôi là Ba Cụt đây. Tôi đầu hàng.
Vì thế BTL chiến dịch Nguyễn Huệ coi ông là một tù binh. Họ cho rằng trong thời gian đó không có cuộc thương thuyết nào với Ba Cụt cả. Việc báo cáo trên cũng do đám Dương văn Minh vạch đường chỉ lối cho trung sĩ Giàu. Để công trạng của họ được to thêm lên. Thực chất là như vậy. Nên 5 người cận vệ và hai người chèo ghe cho Ba Cụt sau nầy cũng bị thủ tiêu hết để phi tang, bịt miệng.
Căn cứ vào lời báo cáo của Trung sĩ  Giàu có những điểm trái ngược hoàn toàn với lời khai của Ba Cụt trước tòa án. Nếu là toán lính của Ba Cụt đi qua sông bằng đò thì chiếc đò đó ở đâu sao không thấy bị tịch thâu? Không thấy nhắc tới trong biên bản?. Người chủ đò là ai? Ai là người chèo đò? Sao không thấy xuất hiện ở tòa để làm chứng? Như vậy Ba Cụt qua sông không phải bằng đò mà bằng thuyền do hai người chèo thuyền vốn là hai Nghĩa quân của Ba Cụt tên là Phan Văn Hoành 45 tuổi, Trần Tấn Hạnh 42 tuổi và 5 cận vệ là Nguyễn văn Hộ, Nguyễn văn Phú, Nguyễn văn Thơ, Lê Văn Tóc, Võ văn Vinh. Ngay bản báo cáo của Trung sĩ Giàu còn không phân biệt được giữa “ thuyền ” và “ đò “ trung sĩ Giàu còn báo cáo trật huống hồ gì là những chuyện khác sẽ được thổi phòng lên để lập công to. Thực tế là không phải bắt sống được Ba Cụt như Trung sĩ Giàu nói. Nếu Ba Cụt không có ý định tin tưởng vào lời hứa huyễn hoặc của Nguyễn Ngọc Thơ ra đầu hàng thì 10 trung sĩ Giàu cũng chẳng bắt được Ba Cụt.  Ba Cụt là người từng vào sanh ra tử coi cái chết nhẹ như lông hồng, đã từng chụp tàu Tây lấy vũ khí tại Chân Đùng, vài ba anh em nghĩa quân với dao găm, lựu đạn còn cướp được xe nồi đồng của Pháp, lấy đại bác và đại liên trên xe. Chẳng lẽ đương nhiên trở nên hèn nhát để cho toán bảo an của trung sĩ Giàu có mấy người bắt một cách dễ dàng như vậy? Nếu Ba Cụt không có thực tâm, ý định ra đầu hàng chánh phủ theo lời đường mật, hứa hẹn hão huyền của Nguyễn Ngọc Thơ. Hơn thế nữa những người theo hộ vệ cho Ba Cụt là những cảm tử quân. Nếu họ được cho phép nổ súng thì chưa chắc gì toán Bảo An của trung sĩ Giàu được toàn thây. Đúng ra Ba Cụt bị lường gạt về Long Xuyên để họp nên mới bị bắt một cách dễ dàng như vậy.
VII. BA CỤT RA TÒA ÁN.
Theo báo cáo của BTL chiến dịch Nguyễn Huệ thì Ba Cụt bị bắt lúc 6 giờ sáng ngày 13 tháng 4 năm 1956, tại vàm Chắc Cà Đao bởi một toán Bảo An do Trung Sĩ Giàu chỉ huy cách Long Xuyên 15 cây số, về hướng Tây Bắc. BTL chiến dịch Nguyễn Huệ đưa Ba Cụt về Long Xuyên lấy lời khai sơ khởi. Xong giải về Cần Thơ để ra toà án đại hình và tòa án quân sự do Ngô Triều lập nên với thành phần chánh án, biện lý, công tố viên đều là những thành phần viên chức và tướng lãnh buôn dân, bán nước dưới thời Pháp thuộc còn lưu lại, thì còn chi là công lý, họ cũng chẳng ngần ngại chi mà không xử theo mật lịnh của Ngô Triều. Để được thăng quan tiến chức cho mau.
1. Ba Cụt Ra Toà Lần Thứ Nhất.
Theo sự tường thuật sơ lược của ông Trịnh Bá Lộc sĩ quan tùy viên của Tướng Dương Văn Minh. Tướng Lê Quang Vinh ra tòa Sơ Thẩm Đại Hình tại Cần Thơ vào ngày 11 tháng 6 năm 1956 với thành phần chánh án là Huỳnh Hiệp Thành, đại diện Công Tố là ông Biện Lý Francis Lâm Lễ Trinh. Luật sư biện hộ cho Ba Cụt là LS Vương Quang Nhường, Lê Ngọc Chấn.. Toà tuyên án tử hình Ba Cụt theo đề nghị của Biện Lý Francis Lâm Lễ Trinh. Sở dĩ ông Trịnh Bá Lộc để chữ Francis ở trước Lâm Lễ Trinh là hàm ý cho ta biết ông Lâm Lễ Trinh là người gốc Việt, nhưng dân Pháp hoặc đạo Thiên Chúa.
2. Ra Toà Lần Thứ Hai.
Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt nhờ các luật sư làm đơn cho ông ký tên chống án lên toà trên. Tức là Tòa Thượng Thẩm Đại Hình nhóm họp tại Cần Thơ vào ngàỵ 25, 26 tháng 6 năm 1956. Tức là chỉ có đúng 14 ngày sau. Với thành phần chánh án là ông Lê Văn Thụ. Công tố là ông Lê Văn Tuấn. Trong hai ngày xét xử 25 và 26, tòa y án tử hình của tòa sơ thẩm Đại Hình Cần Thơ.
Trong việc thành lập tòa thượng thẩm Đại Hình lần nầy có một điều phá lệ đặc biệt. Sở dĩ chúng tôi dùng chữ  “phá lệ đặc biệt ” ở đây là vì từ trước đến giờ tòa nầy chưa  bao giờ được nhóm họp ở tỉnh. Trụ sở chính của tòa nầy là ở Sài Gòn. Tòa nầy phải nhóm họp ở tại trụ sở chính thường trực ở Sài Gòn tức là Pháp Đình Sài Gòn theo Dụ số 18 tháng 10 năm 1949. Nhưng vì quá gấp rút, chế độ Ngô  Đình Diệm muốn giải quyết vụ Ba Cụt càng sớm càng tốt.. Nên Ngô Đình Diệm vội vàng ký Dụ số: 33 ngày 14-6-1956 để tòa nầy được di chuyển về tỉnh. Dụ số: 33 nầy chưa kịp đăng vào công báo thì ông Bộ Trưởng Tư Pháp cũng vội ký nghị định bổ nhiệm thành phần tòa Thượng Thẩm nhóm họp ở Cần Thơ để xử Ba Cụt. Đây là một việc làm bất hợp pháp. Vì họ quá gấp rút muốn giết Ba Cụt cho sớm được ngày nào hay ngày đó. Đến ngày 23-06-1956 Dụ số 33 mới được đăng vào công báo. Kể từ ngày 23-6-1956 về sau Bộ Tư Pháp mới có quyền bổ nhiệm các thành phần tòa thượng thẩm Đại Hình ở tỉnh mới hợp pháp. Còn bổ nhiệm trước ngày Dụ số: 33 được đăng vào công báo là bất hợp lệ.
3. Ra Tòa Lần Thứ Ba
Tòa án Quân Sự đặc biệt họp tại Cần Thơ ngày 3-7-1956 để xét về khía cạnh an ninh quốc gia. Với thành phần chánh án Vũ Tiến Tuân, Ủy viên chánh phủ Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân. Xử trong hai ngày, ngày 3 và 4 tháng 7 năm 1956. Tòa nầy cũng tuyên án tử hình Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, cộng thêm tước đoạt binh quyền và tịch thâu tài sản. Đặc biệt của tòa nầy là bản án ban ra rồi là chung cuộc, không được thượng tố. Phạm nhân (Nạn nhân Ba Cụt) bị thi hành bản án tức khắc trong một thời gian nhất định. Nếu đơn xin ân xá với Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm không được chấp thuận.
Như vậy chế độ Ngô Đình Diệm xử Ba Cụt một cách gấp rút. Giữa các phiên tòa sơ thẩm Đại Hình diễn ra ngày 11- 6 – 1956. Cho đến các phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình diễn ra ngày 25, 26-6-1956 chỉ cách nhau có 14 ngày. Giữa các phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình cho đến các phiên Tòa Án Quân Sự đặc biệt diễn ra ngày 3, 4 tháng 7 năm 1956 chỉ cách nhau có bảy ngày. Tổng cộng số ngày của ba lần xử Ba Cụt chỉ vỏn vẹn có trong vòng 22 ngày. Nếu tính trung bình thì mỗi tuần đều có một cuộc họp của tòa án diễn ra để xét xử Ba Cụt. Sự gấp rút nầy chứng tỏ chế độ Ngô Đình Diệm cố tình muốn giết chết Ba Cụt ngay tức khắc. Sự đưa ra tòa để xử Ba Cụt chẳng qua là một trò lừa dối, che mắt thế gian và tránh dư luận báo chí ở trong nước cũng như ngoại quốc. Chứ bản án tử hình của Ba Cụt đã được định sẵn từ dinh Độc Lập. Từ ngày bắt Ba Cụt 13-4-1956 đến ngày đem ba Ba Cụt ra tử hình tại nghĩa địa ở đại lộ Hòa Bình, ngày 13-7-1956 chỉ vỏn vẹn có ba tháng tức là 90 ngày.
Cũng trong chính tòa án Quân Sự đặc biệt nầy, Ba Cụt dõng dạc nói trước tòa” Thưa quý tòa trước đây tôi có biết ai là người quốc gia chính hiệu, ai là người tay sai thực dân đâu? Bây giờ tình thế nước nhà thấy yên, ai cũng xưng mình là quốc gia, là chống cộng, chống thực dân được hết. Còn trước đây tôi ở bưng vừa đánh thực dân, vừa đánh Cộng sản thì tôi bị không biết bao nhiêu lực lượng khác ráp đánh tôi, đánh ngang hông, đánh sau lưng, đánh tứ giăng. Thực dân Pháp dầy xéo nước tôi, đã xem hiệp ước vừa ký chưa ráo mực như tờ giấy lộn, nó phản bội nhiều chuyện động trời nên tôi phải đánh nó, đánh đến chết thì thôi. . . “
Đây tôi cũng xin nhắc lại là các luật sư bào chữa cho Ba Cụt. Gồm có bốn luật sư sau đây: Luật sư lão thành Vương Quang Nhường, Luật sư Lê Ngọc Chấn cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng của chánh phủ Ngô Đình Diệm đầu tiên, năm 1954 và cũng là một chánh trị gia. Luật sư Phạm Ngọc Thu. Luật sư Đinh Xuân Các. Bốn luật sư nầy thay phiên bào chữa cho tướng Lê Quang Vinh trước tòa. Các luật sư nầycó những lời bào chữa, lý luận rất sắc bén. Nhưng cũng không thể nào cứu được mạng sống của Ba Cụt vì chế độ nầy nhẩt tâm, quyết xử tử Ba Cụt, nên các luật sư có tài ba, lỗi lạc cách mấy đi chăng nữa cũng đành phải chịu thôi. Khi mà Ba Cụt lầm lỡ nghe theo lời chiêu dụ, phỉnh gạt của Nguyễn Ngọc Thơ. Đã sa cơ, thất thế vào tay của chế độ Ngô Đình Diệm.
VIII. LỜI KHAI CỦA BA CỤT và LỜI KHAI CỦA HAI NHÂN CHỨNG
Sở dĩ tôi thuật lại lời khai của Ba Cụt, lời khai của nhân chứng cùng những lời biện hộ của luật sư trước tòa để quý độc giả lượng định coi,  Ba Cụt có bị chế độ Ngô Đình Diệm cố tình lường gạt Ba Cụt qua con bài sứ giả Nguyễn Ngọc Thơ?
1.  Lời Khai Hay Sự Phản Ứng Của Ba Cụt Trước Tòa.
Chiều ngày 26-6-1956 trong phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình ở Cần Thơ. Ba Cụt bị cáo là tòng phạm trong vụ ám sát Huỳnh Văn Y. Do ông Trần văn Thân là cha vợ của Y đứng đơn tố giác. Nhưng ông Thân vắng mặt
– Ba Cụt xin tòa cho biết ai là người đầu đơn cáo ông về vụ nầy?
– Tòa đọc đơn của Trần văn Thân tố cáo ông..Ba Cụt mỉm cười mỉa mai
– Y theo đơn thưa thì Trần văn Thân là cha vợ của Huỳnh văn Y. Vậy cha vợ đứng đơn thưa rồi cho vợ làm chứng cho cha vợ, vậy cũng được hay sao? Làm cho tòa gượng gạo biện luận và giải thích lung tung.
Khi ông Chưởng lý hỏi về vụ thâu thuế của đại đội 21 của Ba Cụt thường đi bắt buộc người ta đóng thuế thì Ba Cụt trả lời.
– Thưa ông :” tố nghị viên.” Tôi là tướng lãnh, chiến sĩ của tôi tuy có tổ chức, song vì hoạt động bí mật, phân tán đóng quân khi có công tác thì họp lại, xong công tác thì ẩn. Vì vậy tôi làm sao kiểm soát hết đến cấp dưới.
Trong một  phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình Ba Cụt trả lời: “Đã không bắt được thủ phạm giết người, không biết thủ phạm là ai, tại sao lại nói chúng nó là của tôi tức là của Ba Cụt”
– Ông chánh án nói: “ Nhưng người ta thấy rõ những kẻ ấy mặc đồ  đen”
– Ba Cụt đáp: “ Trời ơi! Nếu mặc đồ đen đi làm bậy, rồi căn cứ vào bộ đồ đen đó nói là người của Ba Cụt, thì chết tôi rồi, ở quê không mặc đồ đen thì mặc đồ gì? Đến đây, những người dự thính để nghe xét xử Ba Cụt nghiêng về Ba Cụt 50 phần trăm. Vì trong các phiên tòa sơ thẩm Đại Hình. Khi tòa tuyên án tử hình Ba Cụt thì họ vỗ tay. Đến các phiên tòa án Quân Sự đặc biệt dư luận đã nghiêng về Ba Cụt đến 90 phần trăm. Vì họ hiểu rõ lập trường và tinh thần hy sinh chống Pháp và Việt Minh của Ba Cụt. Có nhiều người thở dài, phải thốt lên “ Ba Cụt đúng là một bông hoa xinh đẹp mọc trong đám cỏ dại mà kẻ làm vườn không biết đến nó.”
Trong suốt các phiên tòa và lời khai thẩm vấn của BTL chiến dịch Nguyễn Huệ trước sau gì Ba Cụt cũng quả quyết mình ra trình diện để hợp tác với chánh phủ quốc gia.
2.  Lời Khai Của Hai Nhân Chứng:
Trong các nhân chứng đáng lẽ ra ông Nguyễn Ngọc Thơ phảì ra tòa làm chứng, cung khai ra hết sự thật những gì ông hội đàm và hứa hẹn vơí Ba Cụt trong hai lần gặp gỡ Ba Cụt tại xã Thường Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong mới đúng công lý. Nhưng rất tiếc ông không có mặt trong các phiên tòa xử Ba Cụt. Vì chánh phủ Ngô Đình Diệm biết đưa ông ra để làm nhân chứng, khi bị luật sư của Ba Cụt chất vấn ông đuối lý phải khai ra sự thật thì bị bể mánh, còn gì là thể diện của chánh phủ Ngô Đình Diệm trước công luận và báo chí. Chỉ có thầy giáo Huỳnh kim Hoành cậu ruột Ba Cụt và người chèo thuyền cho Ba Cụt tên là Phan Văn Hoành ra làm nhân chứng cho Ba Cụt mà thôi.
a. Nhân chứng thứ nhất là ông Huỳnh Kim Hoành. Do luật sư Lê Ngọc Chấn thay mặt thân chủ cho đòi ông Huỳnh Kim Hoành ra làm chứng trước tòa cho Ba Cụt
Trước tòa ông Huỳnh kim Hoành khai hết tất cả sự thật.  Nhưng những lời khai của ông không được tòa lưu ý và báo chí cũng không được phép đăng tải. Thành ra lời khai của ông cũng như không có gì hết.
b. Nhân chứng thứ hai là ông Phan văn Hoành, người chèo thuyền cho Ba Cụt.
Ông chánh án hỏi tại sao hôm đó anh bị bắt với Ba Cụt?
– Dạ, hôm đó tôi đưa “Ông” vế Long Xuyên để hội nghị với ông Đại Sứ Thơ
Ông chánh án nghiêm nét mặt có ý hăm dọa, đàn áp tinh thần của ông Phan văn Hoành.
– Hội nghị gì bữa đó?
– Dạ, tôi nghe “Ông” nói
– Ông  nào?
– Dạ thưa ông Lê
– Có phải Lê Quang Vinh tự Ba Cụt không?
Phan văn Hoành gật đầu nhẹ. Khi trả lời một câu hỏi của ông chánh án tại sao anh không có vũ khí? Phan văn  Hoành trả lời là vì anh chỉ chèo thuyền nên anh không được phát vũ khí. Mà ví dầu anh có được “Ông“ phát súng thì anh cũng không bắn, vì “Ông” ra lịnh đừng bắn
Luật sư Chấn đặt câu hỏi” Lê Quang Vinh bị bắt ở trên lộ hay dưới ruộng?
– Dạ trên lộ
– Bên Lê Quang Vinh có bắn không?
– Dạ, khi ông đưa tay cản một cái thì anh em phòng vệ không bắn
– Anh có nghe Lê Quang Vinh nói đi về kỳ nầy là để trình diện không?
– Có, ông nói đi về trình diện với quốc gia là đem lợi ích cho đất nước.
Ông chánh án lại chen vào.” Lê Quang Vinh nói vậy hồi nào?”
– Da, ông nói hoài như vậy, nói lúc đi cũng như lúc về và khi gần tới Long Xuyên, đâm qua sông ông cũng còn nói như vậy nữa. Bởi vậy tôi mới thuộc câu nói của ông đó chớ!
– Ngày 20 tháng 5 vừa qua, Ba Cụt khai có đem theo 10 người thân tín. Vậy anh là một trong 10 người thân tín của ba Cụt chớ gì?
– Dạ không, không phải đâu. Tiếp theo đó ông chánh án dùng sở trường và kiến thức của mình để đi hỏi một câu hỏi gài bẫy đối với một anh nông dân tay lấm, chân bùn, dốt nát gọi là nghĩa quân
– Khi bị bắt lính quốc gia đi từ phía trước bắt hay đi từ phía sau bắt? Câu hỏi nầy có ý nghĩa nếu lính quốc gia từ phía trước đến bắt có nghĩa là Ba Cụt đến đồn để trình diện như lời Ba Cụt khai. Trái lại nếu như lính quốc gia từ sau đến bắt thì Ba Cụt bị toán lính trong đồn đuổi theo bắt. Câu hỏi nầy làm cho Phan văn Hoành không kịp suy nghĩ, trả lời một cách vội vã, gọn gàng.
– Lính quốc gia  từ sau đi tới bắt. Làm cho Mai Hữu Xuân chụp bắt cơ hội yêu cầu tòa ghi vào biên bản.
Nhưng Ba Cụt đứng lên từ băng bị cáo.
– Thưa quý tòa không phải vậy đâu! Tôi từ dưới ruộng lên lộ trước, đi lại bót ngó thấy trước mặt rồi lính từ trong bót đi tới hai bên đụng đầu nhau. Nhưng rất tiếc là lời nói của Ba Cụt không có giá trị trước tòa vì ông đâu phải là nhân chứng.
IX. CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM NHẪN TÂM GIẾT BA CỤT
Sau khi tòa án Quân Sự đặc biệt tuyên án tử hình Ba Cụt, tước hết binh quyền, tịch thâu tài sản. Luật sư Lê Ngọc Chấn đại diên cho Ba Cụt nộp đơn xin ân xá lên Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm. Tổng Thống Ngô Đình Diệm bác đơn xin ân xá cho Ba Cụt
Tiếp theo Luật Sư thay mặt Lê Quang Vinh nguyên là Trung Tá thực thụ và là Đại Tá giả định của quân đội quốc gia kể từ ngàỳ 14-1-1954 dưới thời Thủ Tướng Bửu Lộc. Xin cho Ba Cụt được xử bắn thay vì bị chém đầu. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng bác đơn. Đàng nào cũng chết, giữa chết chém. và chết bắn, chế độ Ngô Đình Diệm không có một chút tình người. Đừng nói chi đến nhân bản. Chẳng những thế, sau khi khi Ba Cụt bị chém., xác của Ba Cụt bị chặt ra làm ba khúc, bằm nát do tên đại úy Nhung cận vệ Dương văn Minh. Vậy thử hỏi lịnh bằm thây Ba Cụt như vậy do Dương văn Minh truyền lịnh lại cho đại úy Nhung thi hành. Lịnh đó từ đâu tới? Từ Bộ Tư Pháp, từ Bộ Quốc Phòng hay từ dinh Độc lập mà ra? Dù từ đâu đến thì chế độ Ngô Đình Diệm  cũng phải chịu trách nhiệm. Người ta có ba cách báo oán:  Dĩ đức báo oán / Dĩ ân báo oán / Dĩ oán báo oán.
Ông Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo quốc gia mà “ Lấy oán báo oán.” Thật thất sách vô cùng. Đáng lẽ ra Ngô Đình Diệm phải noi theo gương xưa. Khổng Minh còn tha chết cho Mạnh Hoạch bảy lần. Lưu Bang khi đem quân vào chiếm Hàm Dương rồi. Vua Tần là Trần Tam Thế tức Tử Anh đem dưng ngọc tỷ cho Lưu Bang, Lưu Bang chẳng những tha tội chết mà còn trọng thưởng. Khi Hạng Võ vào sau, bội ước xưng vua xứ Tần, bắt Tử  Anh ra chém. và chôn sống hơn 20 vạn hàng binh của nhà Tần. Nên ai nghe qua cũng sợ. Không dám về hàng Hạng Võ, tìm đến Lưu Bang mà hàng. Nên hào kiệt dưới trướng của Lưu Bang càng lúc càng đông.. Còn Hạng Võ người tài càng ngày càng xa lánh. Sau Hạng Võ bị bại dưới tay của Lưu Bang phải tự cắt đầu mà chết, là vì Hạng Võ không phải là người không có tài. Tại vì thiếu đức, quá hung hăng tàn bạo ưa chém giết. Nên hậu quả là thế. Thì Triều đại nhà Ngô cũng không tránh khỏi số phận hẩm hiu sau nầy như Hạng Võ là đúng.
Còn riêng ông Francis Lâm Lễ Trinh là biện lý thì có trách nhiệm lập biên xác nhận tội phạm có đúng là Ba Cụt hay không? Trước khi tử tội lên máy chém.. Nhiệm vụ kế tiếp của ông là khi tội phạm đã bị chém rồi, ông phải lập biên bản thực sự tội phạm đã bị chém. và đã chết rôi. Cuối cùng ông có trách nhiệm một trong hai là:
1. Một là giao xác chết của Ba Cụt cho thân nhân, gia đình để an táng
2. Hai là giữ xác của ông Lê Quanh Vinh gồm đầu và thân mình, gồm cả hai phần rồi đi an táng một chỗ nào đó. Theo phong tục tập quán Á Đông, người chết mất xác, không mồ mả gia đình rất đau lòng. Thủ tiêu xác chết lại trái với luân thường đạo lý làm người nữa.
Tại sao ông không làm một trong hai điều trên để cho đúng thủ tục luật pháp mà để xác của ông Ba Cụt cho đại úy Nhung chặt làm ba, rồi bằm ra như vậy. Chắc chắn lịnh nầy từ đâu đưa đến ông biết rõ. Tại sao giờ nầy ông không đám nói sự thật? Tại sao ông phải đi che dấu. Chắc chắn là ông có liên can đến vụ thanh toán xác chết Ba Cụt một cách sâu đậm? Nên sau nầy ông Lâm Lễ Trinh được thăng thưởng, về giữ chức vụ Bộ Trưởng bộ nội vụ dưới chế độ Ngô triều. Còn Dương Văn Minh lên trung tướng là lẽ dĩ nhiên phải có. Chẳng những thế mà ông còn rất được tín cẩn dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Thật chế độ Ngô Triều nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà. Nuôi một tên cán binh Cộng sản có hai em là Nhựt và Sơn ( Sơn là đại tá cs) là cán bộ cao cấp có hàng chục năm tuổi đảng, đang hoạt động trong miền Nam. Nên khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm giao nhiệm vụ Tư Lịnh các chiến dịch Hoàng Diệu, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ, Thoại Ngọc Hầu để đánh Bình Xuyên, tiêu diệt các lực lượng võ trang của các đảng phái chánh tri và tôn giáo chống cộng ở miền Nam là đúng theo kế hoạch của Hà Nội mong muốn. Nên Dương Văn Minh ra hết sức làm để chẳng những lập công với chế độ Ngô triều mà cho cả Hà Nội nữa.  Mượn người quốc gia đánh người quốc gia, mượn súng của người quốc gia để tiêu diệt người quốc gia mà Hà Nội không tốn một viên đạn. Hà Nội bất chiến tự nhiên thành, bất tranh tự nhiên thắng. Đó mới thấy sự mưu kế thâm độc của Cộng sản Hà Nội là thế.
X. SỰ HẸP HÒI ÍCH KỶ CỦA NGÔ ĐìNH DIỆM LÀ KHỞI ĐIỂM NGUY HẠI CHO MIỀN NAM
Sự hẹp hòi ích kỷ của Ngô Đình Diệm và NGô Đình Nhu cùng bộ tham mưu của ông là nguyên nhân khởi đầu cho sự sụp đổ miềm Nam. Chế độ Ngô Đình Diệm mưu mẹo khôn vặt với người thuộc phe quốc gia để tiêu diệt họ thì giỏi. Nhưng đối với kẻ thù cộng sản thì quá tệ. Hay chỉ biết lo củng cố địa vị của mình mà quên đi kẻ thù chánh là Cộng sản. Nhưng lại tin dùng những tên phản tướng Dương văn Minh có hai  người em ruột là Dương Văn Nhựt và Dương văn Sơn là sĩ quan cấp tá, cán bộ đảng viên đảng Cộng sản. Đã xâm nhập về hoạt động ở miến Nam  Đôi khi về xâm nhập vào Sài gòn trong nhà của Dương Văn Minh. Phạm Ngọc Thảo tên cán bộ cao cấp của Cộng sản chỉ biết lấy lòng, tâng bóc cha Ngô Đình Thục mà đương nhiên được mang lon sĩ quan cấp tá, làm tỉnh trưởng ở Kiến Hòa, làm Giám đốc Tổng nha Bảo An.  Đại Tá Đinh Văn Đệ sau trở thành dân biểu quốc hội của đệ nhị Cộng Hòa. Cũng là cán bộ, tai sai của Cộng sản, nhưng cũng được chế độ Ngô Đình Diệm nô nức chiều chuộng và những tên Châu, Nhuận cũng thế. Ngoài ra còn có nhóm tình báo như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Duật, Nguyễn Xuân Hòe, Huỳnh Văn Đồng, bà Cả Nhiễm len lỏi trong chánh quyền có từ thời Ngô Đình Diệm. Hai tên Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh văn Trọng còn lọt được vào dinh Độc Lập thời Đệ Nhị Cộng Hòa.  Phạm Xuân Ẩn, hoạ sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành. V. V . Để cho chúng nó được hoạt động công khai, hợp pháp. Sau ngày 30-4-1975 mới lòi ra mặt chuột.
Kể từ ngày 7-7-1954 đến ngày 1-11-1963 là ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Không một đoàn thể đảng phái chánh trị hay tôn giáo nào thoát khỏi bàn tay nhuộm máu của chế độ Ngô Đình Diệm, thủ tiêu, bắt cóc hay hạ sát. Như Trung tá Đầy chồng của đào hát Út Bạch Lan ra hợp tác với chế độ đã lâu, cuối cùng cũng bị ám sát giữa ban ngày ở trung tâm huấn luyện Quang Trung (Quán Tre). Đặc biệt là giết tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt. Chẳng những không đem lợi ích gì cho chế độ mà còn làm mất lòng của khối tín đồ PGHH hơn 2 triệu người lúc bây giờ. Là những người câm hờn Cộng sản bởi những quá trình lịch sử đã qua giữa khối tín đồ PGHH với Việt Minh từ năm 1945 đến năm 1947 và dài dài về sau nầy nữa. Tại sao không khôn khéo để khai thác họ? Ân xá cho Ba Cụt. Biến Ba Cụt thành một chiến sĩ tiền phong chống cộng. Giết một Ba Cụt chẳng có ích lợi gì cho đất nước quốc gia dân tộc. Nếu ân xá cho Ba Cụt. Họ sẽ thấy sự rộng lượng khoan dung của chế độ mà hợp tác chặt chẽ với chánh phủ. Nếu giết Ba Cụt chỉ vì lòng tự ái hay răn de hoặc sợ ba Cụt sau nầy sẽ làm loạn, kéo vào bưng lần nữa? Nếu nghĩ như vậy là quá kém khuyết của một người lãnh đạo quốc gia có tài. Từ chỗ mất lòng đó đưa đến khối tín đồ PGHH bất hợp tác với chánh phủ. Mặc dầu họ không ưa gì Việt Cộng, không theo Việt Cộng. Nhưng khi Việt Cộng về hoạt động trong các thôn xóm của họ, phá cầu, phục kích, chụp đồn lính quốc gia. Tổ chức đường dây tình báo và kinh tài họ biết được cũng làm ngơ. Không chỉ điểm cho chánh phủ vì họ coi đó là không phải nhiệm vụ của họ. Đó là việc của chánh quyền. Vì thế các tổ chức nằm vùng của Việt Cộng ở miền Tây mỗi lúc một đông. Chúng thành lập các mật khu Đồng Tháp, Thất Sơn, U Minh thượng, U Minh hạ, dọc theo biên giới Việt Miên tràn lan khắp nơi. Riêng đối với Ba Cụt tôi không có lời nào để phân minh. Tôi chỉ xin được mạn phép mượn lời của luật sư Vương Quang Nhường nói về Ba Cụt:
“ Trong vòng từ 10 năm trời nay, nếu tại miền Tây này không có một Lê Quang Vinh vào sanh ra tử, hứng chịu mọi gian nan, thử thách để đương đầu với Cộng sản, thử hỏi nay thế lực của Cộng sản bành trướng như thế nào tại vùng đất phì nhiêu nầy? Cho đến dù ngày nay không được áo mũ xuênh xoang, mà chỉ là một bộ đồ bà ba vải đen ngồi đây hứng chịu bao nhiêu lời buộc tội. Dù không có quyền cao chức lớn, trước sau chỉ có cái ”Ba Cụt” mà Cộng sản nghe tới phải nể nang dè dặt, tôi có thể nói Lê Quang Vinh tự hào mà ngâm rằng: “ Ai công hầu ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai?”
Còn Ba Cụt thì tự biện hộ cho mình “Tòa Cộng Hoà xử tôi là trật rồi. Tôi ra mặt với Pháp để lấy súng Pháp đánh lại Pháp, đánh Cộng Sản mà. Còn đối với quân đội quốc gia chẳng qua tôi chỉ tự vệ mà thôi.”
Dù các luật sư hết lòng bào chữa như thế nào, Ba Cụt minh oan đến cách mấy đi chăng nữa thì ngày nay Ba Cụt đã hóa ra người thiên cổ rồi, đi vào quá khứ của dòng lịch sử dân tộc. Có một Ba Cụt “phản loạn” dưới chế độ Ngô triều. Sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm. Dù ba bản án tử hình của Ba Cụt dưới thời họ Ngô được hủy bỏ bởi phòng tái thẩm tòa Thượng Thẩm Đại Hình Sài Gòn vào ngày 17-3-1964 cũng chỉ là một sự muộn màng, có còn hơn không, đó chỉ là về mặt tinh thần. Còn thân xác của Ba Cụt đã tiêu tan, vùi sâu dưới ba tấc đất đã tám năm về trước. Dù sao đi chăng nữa đó cũng là một điều an ủi cho gia đình và lấy lại thanh danh cho Ba Cụt. Đến ngày 14-7-1964 lễ truy điệu lần đầu tiên cố Trung tướng Lê Quang Vinh được tổ chức trong thể tại Thốt Nốt, số người tham dự lên đến năm ngàn người. Tại thành phố Long Xuyên để tưởng nhớ Ba Cụt cũng có một công trường mang tên Lê Quang Vinh trước năm 1975.
XI. KẾT LUẬN:
Tuy ông Ngô Đình Diệm là người có công xây dựng nên nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Nhưng không vì thế mà ra tay một cách quá mạnh mẽ và thủ tiêu đối lập một cách quá tàn nhẫn như vậy! Việc thống nhất các lực lượng võ trang quân sư của các đoàn thể đảng phái chánh trị, tôn giáo về một mối là việc làm cần thiết. Không vì thế mà bắt được ai thì cứ ra tay hạ sát hay đưa họ ra tòa, mượn cây dù luật pháp mà giết họ đồng thời để che đậy tội lỗi của mình. Như trường hợp của tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt. Hay họ đã trở về qui hàng rồi mà tiếp tục tìm cách giết họ bằng cách nầy hay cách khác như trường hợp tướng Trịnh Minh Thế, Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam phải dùng độc dược để quyên sinh và nhiều người khác nữa phải chết trong tức tưởi. Xây dựng một chế độ thì dễ, giữ vững một chế độ thì khó. Không gì qua là lấy đức để trị dân, lấy độ lượng mà chinh phục lòng người, lấy từ bi, bác aí để chăng dân như lời của Phật Chúa đã dạy. Rất tiếc là chế độ Ngô Đình Diệm quá say mê quyền lực nên quên hết bốn chữ người xưa thường nói “ Minh Đức Tân Dân.” Hay như cụ Nguyễn Cư Trinh đã nói: “Tu minh đức để mà tân dân. Tu tề gia để mà trị quốc.” Ông Ngô Đình Diệm không nhìn rõ hết sự viêc nên để cho các tay quyền thần dưới trướng qua mặt thi hành bá đạo. Chẳng khác nào xô người dân hướng về phía cộng sản hay họ bất hợp tác với chánh phủ. Cộng sản đâu dễ gì bỏ lỡ cơ hội để tuyền truyền, lôi kéo người dân về phía họ. Các tổ chức của họ ở miền Nam càng ngày càng phình to lên. Vùng đất kiểm soát của chánh phủ càng lúc càng thu hẹp lại. Kết quả cuối cùng là gia đình ông Ngô Đình Diệm phải nhận lãnh hết hậu quả vào ngày 1-11-1963. Đó cũng chính là nguyên nhân sơ khởi đưa đến sự sụp đổ chánh phủ Ngô triều, mất cả miền Nam Việt Nam vào ngày 30-4-1975. Làm cho mấy chục triệu người dân vô tội phải sống trong khổ nhục, bất công, bất hạnh dưới một chế độ độc tài đảng tri cho đến ngày hôm nay. Và biết bao nhiêu quân cán  chính miền Nam phải tù tội, lao động khổ sai, không ngày ra và một số uất hận, không chấp nhận đầu hàng Cộng sản phải quyên sinh.
Cuối cùng là sự giết Ba Cụt và những thành phần quốc gia chân chính không mang lại một sự ích lợi gì cho đất nước cả, trái lại còn gây thêm chia rẽ hận thù giữa những thành phần quốc gia với nhau. Trong lúc đất nước rất cần sự đoàn kết chặt chẽ để chống kẻ thù chung là Cộng sản.  “Nghêu cò tranh nhau ngư ông đắc lợi.” Sự thiếu sáng suốt đó còn mang đến một hậu vô cùng tai hại cho non sông đất nước dân tộc như ta đã thấy. Rất tiếc thay, tiếc thay. Sai một ly đi ngàn dặm.
Sau hết, bài nầy đưọc viết ra để soi rọi một sự thật đau lòng phũ phàng đã qua, khó quên, là đầu dây mối nhợ đưa đến sự sụp đổ miền Nam và cũng  để tưởng niệm đến các chiến sĩ, anh hùng dân tộc quốc gia, các nam nữ liệt sĩ đảng phái chính trị quốc gia chân chính, các tu sĩ của các tôn giáo chân chính nặng lòng với tiền đồ tổ quốc, quốc gia dân tộc đã phải chết oan uổng, tù tội dưới chế độ Ngô Đình Diệm và Cộng sản từ trước cho đến nay. Các chiến sĩ, nam nữ anh hùng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải hy sinh để bảo vệ sự tự do, hạnh phúc ấm no của người dân miền Nam cho đến hết ngày 30-4-1975 và những người nạn nhân của chế độ Cộng sản, vượt biên vượt biển, từ chối không chấp nhận sống chung cùng Cộng sản, phải bỏ mình trong rừng sâu núi thẳm hay ngoài khơi bể cả, đại dương mênh mông. Cầu nguyện cho tất cả mọi linh hồn và những người quá cố trong gia đình của Tổng Thống Ngô Đinh Diệm sớm được vãng sanh về miền Phật cảnh hay được hầu kề bên chân Nhan Thánh Chúa và Đức Mẹ Maria.
Phương Trúc: Nguyễn Hoài Ân
Mùa Thanks Giving ngày 25-11-2013

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?_Phương Trúc

Người Bắc có đáng ghét không?_Ng~ Ngọc Già

(danlambaovn.blogspot.com): Nguyễn Phú Trọng phát ngôn: “Tổng Bí thư phải là người miền Bắc, phải là người có lý luận! ” khi nội bộ người CS tranh giành quyền bính vào năm 2015.

Nguyễn Thiện Nhân – vào năm 2018 – thuyết phục người dân mất đất tại Thủ Thiêm: “Tôi nói tiếng Bắc nhưng tôi là người Nam. Tôi không gạt bà con đâu”.

Ông Trọng và ông Nhân không phải là những người đầu tiên “kêu gọi” chia rẽ dân tộc Việt Nam, nhưng họ là những người Cộng Sản đầu tiên không cần che giấu (đặc biệt cả hai ông đều đang nắm trọng trách rất cao trong chế độ độc đảng toàn trị) sự kỳ thị vùng miền kinh khủng như vậy!

Lời phát ngôn hàm hồ của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Thiện Nhân dường như “động viên” toàn dân Việt Nam lao vào cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” đời mới (!).

“Trôi theo dòng đời” tao loạn…

Lịch sử dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ phía Bắc – điều không thể chối cãi.

Kể từ khi vĩ tuyến 17 được phân định, người Bắc tháo chạy khỏi “bàn tay người CS” vào năm 1954.

Khi di cư, người Bắc mang theo văn hóa và cả giọng nói làm “hành trang” vào Nam.

Để thuyết phục đông đảo bạn đọc, nhất thiết phải chứng minh tính đại diện cho bất kỳ đề tài nào.

Hãy nhìn “dân Bắc Kỳ” thành danh và nổi tiếng trong lĩnh vực âm nhạc để dễ thấy nhất: đại gia đình nhạc sĩ Phạm Duy (cả ca sĩ Thái Thanh và các con của bà), đại gia đình nhạc sĩ Lữ Liên (với các con: Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Lưu Bích, Anh Tú) , Khánh Ly, Lệ Thu, Sĩ Phú v.v… và hàng hà sa số “ca nhạc sĩ Bắc Kỳ” khác.

Trong lĩnh vực điện ảnh, người ta không thể nào quên “nữ tài tử Bắc Kỳ” Kiều Chinh với tài sắc vẹn toàn. Song song bà Kiều Chinh là “nam tài tử Bắc Kỳ” Trần Quang với chất “đàn ông đất Bắc” đậm nét, một thời làm “chết mê chết mệt” phụ nữ miền Nam và sự ngưỡng mộ của nam nhân Sài Gòn…

Bên cạnh đó, các lãnh vực khác, người gốc Bắc không thiếu: Chính trị (Phó TT Nguyễn Cao Kỳ), khoa học (Dương Nguyệt Ánh, Lưu Lệ Hằng), quân sự (Lương Xuân Việt, Nguyễn Từ Huấn) và nhiều nhân vật tên tuổi chói lọi không thể dẫn ra hết được.

Phải nói công tâm, giọng nói “đúng gốc” của người Bắc chuẩn xác và sang trọng. Hãy nhìn nữ MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên, dù cô rời Sài Gòn ở tuổi thiếu nhi, nhưng giọng nói của cô vẫn “đặc sệt” chất Bắc Kỳ mà sang trọng. Về nam, hình ảnh đại diện về “giọng nói đàn ông miền Bắc”, có lẽ nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn đủ thuyết phục đông đảo bạn đọc, dù ông đã ngoài 70.

Ngay trong đời sống thường nhật, giọng nói của người miền Bắc, trước đây không có kiểu uốn éo (kể cả nam nhân). Quý độc giả có thể xem qua chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” sẽ thấy rất rõ “kiểu nói” của lớp trung niên và lớp trẻ miền Bắc hiện nay.

Đặc biệt cách phát âm dấu “sắc” với chữ “cố lên”, “đánh nhau”, “chú – cháu” v.v… Nó không còn đúng nữa! Nếu chú ý một chút, cách phát âm đó ở giữa dấu “hỏi” và dấu “sắc”, chính nó đã làm giọng nói bị méo mó rất nhiều và nghiêng hẳn về “làm màu” cho đủ độ… “sang trọng” (!), nhưng lại gây khó chịu cho người nghe. Rất tiếc, người Bắc hiện nay dường như không nhận ra mà kiểu “uốn éo” dấu “sắc” đang ngày càng lan rộng, dễ dàng bắt gặp trên các đài truyền hình phía Bắc.

Người Bắc chính gốc Hà Nội có tốc độ nói vừa phải. Cách nói của người Bắc sau này, không những nhanh mà tỏ ra rất vội vã, rất bộp chộp như sợ người khác tranh phần (!).

Văn hóa và giáo dục

Tại sao phải nói dông dài về dấu “sắc” và cách nói vội vã?! Việc ngỡ nhỏ xíu, nhưng thật ra không hề nhỏ!

Nhân cách của một dân tộc xuất phát từ văn hóa và giáo dục.

Sau cuộc tháo chạy vào năm 1954, người Bắc chính gốc Hà Nội hầu như còn rất ít, như người Sài Gòn chính gốc còn ở lại, sau “siêu thảm họa” 1975.

Số lượng “dân Hà Nội chính gốc” ít ỏi đó tuân theo quy luật “lượng đổi chất đổi” của Triết Học.

Chính “lượng người Hà Nội chính gốc” quá ít (tức lượng đổi), nó không còn đủ sức níu giữ “văn hóa ngàn năm văn hiến” (tức chất đổi) của người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Cùng với “văn hóa ngàn năm văn vật” tháo chạy vào Nam, thì “giáo dục XHCN” chễm chệ vị trí “chính diện” trong toàn bộ các ngôi trường từ vĩ tuyến 17 trở ra (!).

Trẻ con đều được dạy nói trước khi biết đọc, biết viết. “Chất giọng” người Hà Nội Xưa cũng mai một dần theo năm tháng. Đó là hậu quả của “giáo dục XHCN” làm cho “giọng nói uốn éo” mất đi sự sang trọng và tự nhiên. Thật dễ hiểu với giáo viên có khá nhiều thầy cô “ngọng líu ngọng lo”! Phùng Xuân Nhạ bị người đời chế giễu chữ “lờ” và chữ “nờ”, thật ra ông ta là một “sản phẩm đời sau” của loại “giáo dục phi triết lý” mà thôi!

Như “mưa dầm thấm đất”, giọng nói, cách nói của người Hà Nội chính gốc đã phôi phai dần… Hàng chục năm rồi! Còn gì nữa mà không thấy?!

Người ta dễ dàng phân biệt được một người “Bắc 54” và một người “Bắc 75” thông qua, không chỉ giọng nói mà còn cách nói chuyện, cách hành xử, cách đi đứng, thẩm mỹ trong trang phục & phục sức, kể cả trong “văn hóa ẩm thực” tại nhà hàng sang trọng hay ở bàn nhậu trên vỉa hè…

Tra trên google, dễ dàng nhận thấy, sau này xuất hiện những “hội” ghét người Bắc [1] khá nhiều. Có cả “cẩm nang” thật tâm của người Nam dành cho người Bắc [2], khi họ chuyển vào Nam sinh sống.

Điều đáng suy ngẫm, những biểu hiện nói trên không hề có trước 1975, kể cả những năm “sau giải phóng” cũng không nốt.

Không tìm thấy tình trạng ngược lại, như các “hội” ghét dân miền Nam hay dân Sài Gòn (?!), nhưng lại tìm thấy các “hội” ngay cả người Bắc như: Thanh Hóa, Nghệ An v.v… ghét cả “dân miền Bắc” (?!).

Có lẽ “sự kỳ thị người Bắc” xuất hiện theo “dòng chảy” của thời mở cửa vào những năm 2000 đến nay và nó ngày một “đậm đặc” hơn?!. Sự “kỳ thị người Bắc” vẫn ngấm ngầm và âm ỉ chừng như không dứt.

Ngay trong giới “đấu tranh tự do – dân chủ” không phải không bắt gặp tình trạng này, dù tế nhị hơn, giới này thường không bộc bạch công khai.

Các “trang báo quốc doanh” từng đề cập đến tình trạng “kỳ thị người Bắc” nhưng chỉ dừng lại ở một nửa của cặp phạm trù Triết Học “Hiện Tượng – Bản Chất”. Tức là các trang báo chỉ nói lên “Hiện Tượng” và thông thường kêu gọi không nên kỳ thị mà hãy đoàn kết, tương thân tương ái thông qua… “tuyên truyền” và “giáo dục” (kiểu XHCN)!

Song song đó, các nhà chuyên môn: Tâm Lý Học, Xã Hội Học, Việt Nam Học có vẻ cũng không mặn mà về “đề tài nguy hiểm” này, hoặc giả, vì nó quá đụng chạm ngay trong giới chuyên môn cũng nên (?!).

Tâm lý – Xã hội

“Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước
Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước”

(Giải Phóng Miền Nam – Lưu Hữu Phước)

“Nơi thành đô trong ánh điện quanq tiếng nấc nghẹn câu cười

Khu nhà tranh năm cánh ngoại ô rên xiết đêm ngày.

Quê nhà ta đau đớn lầm than sao bóp nghẹt tim người!

Sài Gòn ơi! Ta đã về đây! Ta đã về đây!”

(Tiến Về Sài Gòn – Lưu Hữu Phước)

Những “lời ca tiếng hát” như vậy, chúng vang vọng không chỉ trong quãng thời gian “trước và sau giải phóng” mà nó được mải miết “tụng ca dài dài” cho đến sau này, mỗi độ “Ba Mươi Tháng Tư lại về” (!)

“Chiến Tranh Tâm Lý” được sử dụng đến mức “tuyệt đỉnh kung-fu” của người CSVN, là điều phải thật tâm công nhận sự thành công của họ trong giai đoạn chiến tranh. Sự sụp đổ của VNCH, trong đó có sự thất bại của đội ngũ “Tâm Lý Chiến” là điều cũng nên công nhận nốt.

Những mảnh đời “lầm than”, những tiếng “nấc nghẹn”, những lời “rên xiết” đến “quặn thắt” như thế, thử hỏi, nó tác động kinh khủng đến cỡ nào vào tâm trí “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (?) trong lúc người Bắc đang sống trong cảnh “Đêm Giữa Ban Ngày” mà họ không hề hay biết.

Sư dối trá của người CSVN đạt mức “thượng thừa”, không những tạo ra hiệu quả cho loại “chiến thắng” dựa trên “sự phi nghĩa, bất chính danh và vô nhân đạo” mà còn tạo “hiệu ứng đa chiều”, trong đó có “hiệu ứng ban ơn”, “hiệu ứng kẻ cả”, “hiệu ứng trịch thượng” v.v… đặc biệt “hiệu ứng dạy dỗ” của “người anh ruột miền Bắc” dành cho “người em ruột miền Nam” (!).

Sự “nhồi sọ” trong hàng chục năm như vậy, nên không thể nào “gột rửa” trong thời gian ngắn. Từ “tâm lý này”, việc phân chia “công dân hạng nhất, hạng nhì” lên ngôi, không có gì khó hiểu.

Không dừng lại ở quảng đại quần chúng, trong nội bộ người CSVN với nhau, người ta thấy rất rõ các loại “hiệu ứng” nói trên thông qua phát ngôn của Nguyễn Phú Trọng hay Nguyễn Thiện Nhân, đặc biệt “mỗi độ” tranh quyền đoạt bính qua các kỳ đại hội đảng, nó càng hiện rõ mồn một.

Tâm lý – Xã hội dày đặc chia rẽ tình đồng bào từ trên xuống dưới, ngay cả thành phần công – nông, tiểu thương đều do CSVN gây ra là điều không cần bàn cãi.

Tính “trách nhiệm” của một con người (tức là “dám làm dám chịu trách nhiệm”) đã bị ngay những “bàn tay CS” bóp nát từ quá lâu và từ ngay những thành phần cấp cao nhất như: Hồ Chí Minh phủi hết trách nhiệm trong Cải Cách Ruộng Đất cho đến Lê Duẩn với hậu quả thảm thương “sau ngày giải phóng”, chẳng lẽ nó không hề “lan rộng và ăn sâu” vào trí não của từng người Bắc nói riêng và người Việt Nam nói chung (?) Và chẳng lẽ, nó không có tác động mảy may nào vào những hãng xưởng tại các khu công nghiệp miền Nam mà ở đó, người ta thẳng thừng từ chối [3] tuyển dụng dân Thanh – Nghệ – Tĩnh (?!)

Cần nhắc lại, tính “vô trách nhiệm” sản sinh ra tính “vô kỷ luật” – đó là tai ương cho đến hiện nay không hề có dấu hiệu chấm dứt. Đó cũng là “nỗi sợ hãi lớn nhất” cùng với “nền pháp luật XHCN” làm các nhà đầu tư phương Tây, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore v.v… ngán ngại, khi đến làm ăn tại Việt Nam.

Và “vô trách nhiệm” cùng với “vô kỷ luật” sản sinh ra tất cả thói hư tật xấu: bướng bỉnh, lỳ lợm, cố chấp, dối trá, thủ đoạn đê hèn, đổ thừa, đua đòi, giành giựt v.v… kể cả tính tàn nhẫn & phi nhân đối với ngay “đồng bào” của mình, cùng với “văn hóa xin lỗi” và “văn hóa cám ơn” ngày càng tiêu tan trên xứ sở “thiên đường mù lòa” mang tên nước CHXHCNVN!

Kinh tế – Chính trị

“Người Bắc có đáng ghét không?” có thể gây tranh cãi, nhưng “Người Việt Xấu Xí” trong mắt thế giới thì không còn gì cần bàn cãi thêm nữa! Khốn nỗi! Cái thứ “Người Việt Xấu Xí” không hề có trước 1975 – sự thật cũng không thể chối bỏ!

Tại sao như vậy?

Thưa rằng, tất cả do nền tảng “Kinh tế – Chính trị” do người CSVN tạo ra.

Không cần đề cập quá nhiều vào thời “mông muội” của Lê Duẩn với phát ngôn: “Tôi hỏi thì nói không có tiền. Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới lạm phát chứ ta, chuyên chính vô sản thì sao lại lạm phát mà sợ?” – trích Đèn Cù của Trần Đĩnh.

Hãy nói về “CS hiện đại”, trong khi không chịu công nhận “kinh tế phi thị trường”, người CSVN lại biến tướng “nền kinh tế của họ” thành “KTTT định hướng XHCN” để lươn lẹo với thế giới nhằm đạt được những lợi ích nhất thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Hiện nay người CSVN đang trả giá, qua việc Hoa Kỳ đánh thuế hơn 450% thép Việt Nam. Hậu quả này cũng bởi tính dối trá” và “lươn lẹo” gây ra. Chắc chắn, “sự trả giá” không dừng lại như vậy.

Kinh tế quyết định Chính trị và Chính trị tác động trở lại Kinh tế – Đó là “hằng số” Triết Học không bàn cãi.

Bên cạnh đó, bộ máy nhân sự của BCHTƯĐCSVN cũng như Bộ Chính trị và cả nội các Chính phủ – ngay đó cho thấy “người Bắc” chiếm số đông. Vì vậy, “bộ mặt người Bắc đáng ghét” chỉ là “Hình Thức” mà “Nội Dung” phải gọi chính xác là “bộ mặt người CSVN”. Điều này hoàn toàn đúng theo cặp phạm trù Triết Học “Hình Thức – Nội Dung” mà ngay cả người CSVN lẽ ra phải “nằm lòng” hơn ai hết!

Thử hỏi, còn mấy người Việt Nam không nhận ra sự ganh ghét giữa “người Cộng Sản Bắc Kỳ” với “người Cộng Sản Nam Kỳ” trên “địa hạt” này?

Chẳng lẽ 300 bộ áo dài của bà Nguyễn Thị Kim Ngân không phản ánh “hai dân tộc CS” đang đấu đá lẫn nhau trước thềm đại hội đảng sắp tới? Và còn vô vàn biểu hiện khác.

Kết

Phải nói cho chính xác, “người Bắc” không đáng ghét, chỉ có người CSVN” – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay “Cộng Sản Nam Kỳ” – rất đáng căm ghét và rất đáng khinh bỉ trong mắt người Việt Nam trong và ngoài nước cũng như cả thế giới văn minh.

Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” -phải giật mình cay đắng trước tình trạng kỳ thị “Bắc – Nam” vô cùng trầm trọng và âm ỉ suốt hàng chục năm qua, bằng lương tri và lương tâm còn sót lại.

Người CSVN – dù là “Cộng Sản Bắc Kỳ” hay Cộng Sản Nam Kỳ” – phải chịu trách nhiệm toàn bộ và liên tục trước dân tộc Việt Nam, ít nhất suốt 44 năm qua kể từ ngày, họ gọi là “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” (!)

Nguyễn Ngọc Già
danlambaovn.blogspot.com

___________________________

Chú thích:

[1] https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/nhuc-nhoi-chuyen-ki-thi-vung-mien-181259.html

[2] https://nguoinamky.com/doi-song/cam-nang-ung-xu-cho-nguoi-bac-khi-chuyen-vao-song-o-mien-nam.html

[3] https://laodong.vn/archived/tiep-vu-tay-chay-lao-dong-thanh-hoa-nghe-an-ha-tinh-699051.ldo

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Bắc có đáng ghét không?_Ng~ Ngọc Già

Đừng Bỏ Cuộc Chơi_Phiến Nguyễn (Thơ)

Trong buổi Họp Mặt (mini) K1 ở Little Saigon (Quận Cam) ngày 25/8/2019 vừa qua, bạn Nguyễn Phiến là một trong những K1 tham dự đã cảm kích viết ngay một bài thơ có tựa đề “Đừng Bỏ Cuộc Chơi” . Tấm hình dưới đây là là tấm hình do chính anh đề thơ gởi tới CNN:

Nguyen Phien

 

HM 24

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đừng Bỏ Cuộc Chơi_Phiến Nguyễn (Thơ)

Câu chuyện về gia đình Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn_Giao Chỉ

Image may contain: 2 people, people smiling

Câu chuyện về gia đình Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn

   (Giao Chỉ-SJ)

Đám cưới nhà quê. Chuyện người vợ

Mùa xuân năm 1959. Họ đạo Thủ Đức có đám cưới nhà quê. Cô dâu Nguyễn thị Cảnh mỗi tuần giúp lễ và công tác thiện nguyện cho nhà Thờ. Chú rể là anh trung sĩ huấn luyện viên của trường bộ binh Thủ Đức.

Cha làm phép hôn phối. Họ Đạo tham dự và chúc mừng. Bên nhà gái theo đạo từ thuở xa xưa. Bên nhà trai cũng là gia đình Thiên Chúa Giáo. Cô gái quê ở Thủ Đức, 18 tuổi còn ở với mẹ. Cậu trai 20 tuổi xa nhà từ lâu. Cha cậu là hạ sĩ quan, gửi con vào thiếu sinh quân Gia Định từ lúc 13 tuổi. Khi trưởng thành, anh thiếu sinh quân nhập ngũ. Đi lính năm 1956. Mấy năm sau đeo lon trung sĩ. Quê anh ở Rạch Giá, làng Vĩnh Thanh Long, sau này là vùng Chương Thiện.

Ngày đám cưới, ông già từ quê lên đại diện nhà trai. Đứng trước bàn thờ, cha xứ hỏi rằng anh quân nhân này có nhận cô gái làm vợ không. Chú rể đáp thưa có. Cha hỏi cô gái có nhận anh trung sĩ này làm chồng. No đói có nhau. Gian khổ có nhau. Cô gái Thủ Đức vui mừng thưa có. Anh trung sĩ Rạch Giá phục vụ trường bộ binh đi lễ nhà thờ gặp cô gái xóm đạo Thủ Đức nên kết nghĩa vợ chồng. Cô gái thề trước nhà Chúa, có cả họ Đạo chứng kiến. Cô đã giữ trọn đời làm vợ người lính. Từ vợ trung sĩ trại gia binh cho đến phu nhân đại tá trong dinh tỉnh trưởng. Cô theo chồng đi khắp 4 phương suốt 16 năm chinh chiến để rồi 30 tháng 4 năm 75 trở thành vợ người tử tội. Cô đem con trở về Thủ Đức lánh nạn chờ ngày chồng bị xử bắn. Dù thăng cấp, dù thắng hay bại, dù sống hay chết, chồng cô vẫn là người anh hùng. Cô mãi mãi vẫn là người vợ lính. Anh lính đầu đời chinh phu của cô lúc lấy nhau đeo lon trung sĩ và khi ra đi đeo lon đại tá.

Thủy chung cô vẫn sống đời vợ lính. Chồng của cô là đại tá Hồ Ngọc Cẩn. Hiện nay cô vợ lính gốc Thủ Đức, sau khi tìm đường vượt biên, đem con trai duy nhất qua Bidong, Mã Lai rồi vào Mỹ sống ở Nam Cali. Cô may thuê. Bán quán nuôi con. Con trai lập gia đình có 2 cháu.. Người vợ lính năm xưa từ 75 đến nay, ở vậy thờ chồng đã trở thành bà nội ở chung một nhà với con cháu. Suốt đời vẫn nghèo, nghèo từ trung sĩ mà nghèo lên đại tá. Nghèo từ Thủ Đức mà nghèo qua Chương Thiện. Nghèo từ Việt Nam mà đem theo cả cái nghèo qua Mỹ. Bởi vì suốt đời chỉ là người vợ lính.

Một đời chinh chiến. Chuyện người chồng.

Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938. Xuất thân thiếu sinh quân Gia Định rồi nhập ngũ và lên cấp trung sĩ huấn luyện viên vũ khí tại trường bộ binh. Sau khi lập gia đình có 1 con thì anh trung sĩ tìm cách tiến thân xin vào học lớp sĩ quan đặc biệt tại Đồng Đế.. Từ anh sinh viên sĩ quan Đồng Đế 1960 cho đến 15 năm sau Hồ Ngọc Cẩn trở thành đại tá tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện, hầu hết cấp bậc đều lên tại mặt trận.

Ông đã từng mang mầu áo của Biệt động quân và các sư đoàn bộ binh. Huy chương và chiến công nhiều vô kể. Suốt một đời chinh chiến từ trung đội trưởng lên đến trung đoàn trưởng, Hồ ngọc Cẩn tung hoành khắp Hậu giang và Tiền giang. Năm 1972 ông Thiệu cho lệnh toàn thể sư đoàn 21 từ miền Tây lên tiếp tay cho quân đoàn 3 giải tỏa An Lộc. Lại cho lệnh tăng cường thêm 1 trung đoàn của sư đoàn 9.

Tư lệnh quân khu, ông Trưởng nói với ông Lạc sư đoàn 9 đưa 1 trung đoàn nào coi cho được. Trung tá Hồ ngọc Cẩn dẫn trung đoàn 15 lên đường. Trung đoàn ông Cẩn phối hợp cùng nhẩy dù đánh dọc đường 13 tiến vào An Lộc. Anh đại úy đại đội trưởng của trung đoàn suốt mấy tuần dằng co với địch trước phòng tuyến của tướng Hưng tư lệnh An Lộc, nhưng chưa vào được. Lính hai bên chết đều chôn tại chỗ.

Thiết vận xa M113 của ta còn phải lui lại phía sau. Chỉ có bộ binh của trung đoàn 15 nằm chịu trận ở tiền tuyến. Anh sĩ quan kể lại, chợt thấy có một M113 của ta gầm gừ đi tới. A, tay này ngon.. Chợt thấy một ông từ thiết vận xa bước ra, phóng tới phòng tuyến của đại đội. Nhìn ra ông trung đoàn trưởng Hồ Ngọc Cẩn. Ông quan sát trận địa rồi hô quân tiến vào. Cùng với tiền đạo của nhẩy dù, trung đoàn 15 bắt tay với lính phòng thủ An Lộc.. Sau khi Bình Long trở thành Bình Long Anh Dũng, ông Thiệu hứa cho mổi người lên 1 cấp. Trung tá Hồ Ngọc Cẩn ngoài 30 tuổi đeo lon đại tá trở về trong vinh quang tại bản doanh Sa Đéc.

Rồi ông được đưa về làm tiểu khu trưởng Chương Thiện. Vùng đất này là sinh quán của ông ngày xưa. Cho đến 30 tháng 4-1975 Sài Gòn đã đầu hàng, nhưng Chương Thiện chưa nhận được lệnh Cần Thơ nên Chương Thiện chưa chịu hàng. Chiều 29 sang 30 tháng 4, tiểu khu trưởng vẫn còn bay trực thăng chỉ huy. Khi radio Sài Gòn tiếp vận về tin buông súng, các đơn vị bên ta rã ngũ. Lính tráng từ tiểu khu và dinh tỉnh trưởng tan hàng, đại tá tiểu khu trưởng Hồ Ngọc Cẩn bị lính cộng sản vây quanh khi còn ngồi trên xe Jeep với vũ khí, quân phục cấp bậc đầy đủ. Câu chuyện về giờ phút cuối cùng của người chồng, đã được người vợ kể lại cho chúng tôi. Thực là một kỷ niệm hết sức bi thảm.

Giây phút cuối của Chương Thiện,

Bà Cẩn với âm hưởng của miền quê Thủ Đức kể lại qua điện thoại. Cô Cảnh nói rằng suốt cuộc đời chưa ai hỏi thăm người thiếu phụ Thủ Đức về một thời để yêu và một thời để chết. Bà nói:

“Kể lại cho bác rõ, những ngày cuối cùng nhà em vẫn hành quân. Đánh nhau ngay trong tiểu khu. Anh Cẩn vẫn còn bay hành quân. Nhà bị pháo kích. Tuy gọi là dinh tỉnh trưởng nhưng cũng chỉ là ngôi nhà thường. Chiều 30 tháng 4 mẹ con em theo các chú lính chạy ra ngoài. Đi lẫn vào dân. Ở Chương Thiện không ai biết em là vợ tỉnh trưởng. Ai cũng tưởng là vợ lính. Từ xa ngó lại mẹ con em thấy anh Cẩn bị chúng bắt giải đi.

Bà con kéo mẹ con em tìm đường chạy về Cần Thơ. Chú lính nói rằng bà không đem con chạy đi chúng nó bắt thì khổ. Em dẫn thằng con nhỏ chạy bộ. Mẹ con vừa đi vừa khóc. Hình ảnh cuối cùng thằng con hơn 10 tuổi nhìn thấy bố ngồi trên xe Jeep, Việt cộng cầm súng vây quanh. Bước xuống xe, anh không chống cự, không vùng vằng, không nói năng. Đưa mắt nhìn về phía dân ở xa, giơ tay phất nhẹ. Như một dấu hiệu mơ hồ cho vợ con. Chạy đi. Đó là hình ảnh cuối cùng đã gần 40 năm qua.

Từ đó đến nay mẹ con không bao giờ gặp lại. Thân nhân bên anh Cẩn, mẹ và các chị giữ không cho em và con trai ra mặt. Sợ bị bắt. Được tin anh ra tòa nhận án tử hình. Rồi tin anh bị xử bắn. Thời gian anh bị giam gia đình bên anh có đi tiếp tế nhưng không thấy mặt. Chỉ giao tiếp tế cho công an rồi về. Hôm anh bị bắn ở sân vận động Cần Thơ, gia đình cũng không ai được báo tin riêng, nhưng tất cả dân Tây Đô đều biết. Mỗi nhà được loan báo gửi một người đi coi.

Bà chị họ đi xem thằng em bị bắn. Chị kể lại là không khí im lặng. Từ xa, nhìn qua nước mắt và nín thở. Chị thấy chú Cẩn mặc quần áo thường dân tỏ ý không cần bịt mắt. Nhưng bọn cộng sản vẫn bịt mắt. Bác hỏi em, bà chị có kể lại rõ ràng ngày xử bắn 14 tháng 8 năm 1975. Mỗi lần nói đến là chị em lại khóc nên cũng không có gì mà kể lại. Chúng bịt mồm, bịt mắt nên anh Cẩn đâu có nói năng gì được. Suốt cuộc đời đi đánh nhau anh vẫn lầm lì ít nói như vậy. Vẫn lầm lì chịu bị bắt, không giơ tay đầu hàng, không khai báo, không nói năng gì cho đến chết. Anh làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng rồi đến tiểu khu trưởng. Báo chí, anh em nói gì thì nói, anh Cẩn chả nói gì hết.

Bác hỏi em là mồ mả ra sao. Em và con về nhà mẹ ở Thủ Đức. Gia đình không cho em ra mặt. Bà chị và mẹ anh Cẩn đi xin xác không được. Chúng đem chôn ở phía sau Trung tâm nhập ngũ Cần Thơ. Mấy năm sau mới xin được đem về Rạch Giá. Rồi đến khi khu này bị giải tỏa nên lại hỏa thiêu đem tro cốt về nhà ông chú bên Long Xuyên. Ngày nay, em nói để bác mừng là sau khi vượt biên qua Mỹ em đã đưa di hài anh Cẩn qua bên này. Anh Cẩn bây giờ cũng đoàn tụ bên Mỹ với gia đình. “

– “Cô đi năm nào”, tôi hỏi bà Cẩn.
– “Mẹ con em ở Thủ Đức ba năm sau 75. Đến 78 thì vượt biên qua Pulo Bidong. Ở trại 8 tháng thì bà con bảo trợ qua Mỹ. Qua bên này mình chả biết ai, không ai biết mình. Cũng như bao nhiêu thuyền nhân, mẹ con ở với nhau. Em đi làm nghề may, rồi đi bán quán cho tiệm Mỹ. Bây giờ cháu trai duy nhất của anh Cẩn đã có gia đình sinh được 2 con.”

Chuyện đời người vợ lính thời chinh chiến với kết thúc bi thảm và anh hùng, tôi nghe kể lại thấy lòng xót xa lắng đọng.Tôi bèn quay qua hỏi chị Cẩn sang đề tài khác:
– “Nãy giờ nói toàn chuyện buồn, cô nhớ lại xem suốt đời từ đám cưới cho tới 75, cô có những kỷ niệm nào vui không.”

Bà Cẩn ngừng lại suy nghĩ:
– “Em thấy năm nào tháng nào cũng vậy thôi. Toàn lo việc nhà, nội trợ nuôi con. Anh Cẩn đi đâu thì mẹ con cũng đi theo. Từ trại gia binh đến cư xá sĩ quan. Chúng em không có nhà riêng, không có xe hơi, không có xe gắn máy. Từ Sa Đéc trung đoàn 15 qua đến tiểu khu Chương Thiện, toàn là ở trại lính”.

Tôi hỏi tiếp:
– “Cô có đi dự tiệc tùng, mừng lên lon, thăng cấp, dạ hội gì không?”.
– “Không, em chả có đi đâu. Ở Chương Thiện em cũng không đi chợ. Dân chúng cũng không biết em là ai. Mua bán gì em về Cần Thơ, đông người, cũng chả ai biết em là ai. Em cũng không có nhà cửa nên cũng không mua sắm đồ đạc. Lương nhà binh cũng chẳng có là bao. Em cũng không ăn diện nên chẳng có nhiều quần áo. Năm 1972 ở An Lộc về, anh Cẩn mang lon đại tá không biết nghĩ sao anh nói với em, vợ chồng chụp được một tấm hình kỷ niệm. Đây là tấm hình gần như duy nhất. Xin bác dùng tấm hình này của nhà em mà để lên tấm bia lịch sử”.

Tôi nói rằng, tấm hình của cô và anh Cẩn rõ ràng và đẹp lắm. Hoàng Mộng Thu có đưa cho tôi xem. Chúng tôi sẽ dùng hình này. Nhưng tôi vẫn gặng hỏi:
– “Thế bao nhiêu lần anh thăng cấp cô có dự lễ gắn lon không?”.
– ” Em đâu có biết. Chỉ thấy anh Cẩn đi về đeo lon mới rồi cười cười. Cũng có thể gọi là những giây phút hạnh phúc của đời nhà binh”.
– “Thế cô chú ở Thủ Đức có khi nào đi chơi Vũng Tàu tắm biển không?”.

Bà Cẩn thật thà kể rằng:
– “Khi anh Cẩn học ở Đồng Đế thì em và con có ra thăm Nha Trang nên thấy biển. Còn chưa bao giờ được đi với anh Cẩn ra Vũng Tàu. Sau này đến khi vượt biên thì mẹ con em mới thấy biển Vũng Tàu…”

Trong số một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, dường như sĩ quan, anh nào cũng có 1 lần đi với vợ con hay người yêu trên bãi biển Vũng Tàu.

Chỉ có hàng binh sĩ, chỉ những người lính là chưa có dịp. Hồ Ngọc Cẩn ở Rạch Giá suốt đời chưa đem vợ Thủ Đức đi Vũng Tàu. Vì vậy chị Cẩn suốt đời vẫn chỉ là vợ lính.

Trong quân đội, dù là tướng tá hay sĩ quan, anh nào mà chả có thời làm lính. Sau đó mới làm quan. Chỉ riêng cô Nguyễn thị Cảnh, vợ đại tá Hồ Ngọc Cẩn là người đóng vai vợ lính suốt đời.

Những ngày vui nhất của chị là thời gian được làm vợ anh trung sĩ hiền lành của trường bộ binh Thủ Đức.. Ngày đó đã xa rồi hơn nửa thế kỷ, ở bên kia địa cầu, trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, có vợ chồng anh lính trẻ mỗi sáng chủ nhật cầm tay nhau để đi lễ nhà thờ.

Giao Chỉ VVL (SJ)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Câu chuyện về gia đình Đ/tá Hồ Ngọc Cẩn_Giao Chỉ

Họp Mặt K1 tại Nam Cali_Tin Ảnh (Võ Thiệu)

(Tường trình của Võ Thiệu từ Nam California):

Kinh thưa Quý Anh Chị,
Lúc 11:00 AM ngày 25/8/2019, Quý AC Khóa l-HVCSQG & gia đình đã có buổi họp mặt tại nhà hàng Seafood Cove trên đường Westminster, TP Westminster. Cuối buổi tiệc, Anh Toán (TK1) có nêu ý kiến của một số bạn để nghị tổ chức họp mặt K1 mỗi 2 tháng một lần, Quý AC hiện diện đã thuận theo đề nghị này. Như vậy từ nay các Quý AC
Khoá l tại Nam California sẽ có những buổi họp mặt mỗi hai tháng 1 lần.
Xin Quý AC xem lại hình ảnh sinh hoạt trong lần họp mặt K1 hôm nay qua slideshow dưới đây.
Trân trọng kinh chào.
Thieu Vo

hoặc vào link dưới đây xem thêm các hình ảnh khác:

https://photos.google.com/share/AF1QipPNO6GYIeLZocmYYcSHgYv1xOU5c9tezSZkYaLWxmTdJes9K43aSVYxKqsdfD03jQ?key=N1V4TUJTcVVkcUt6NGxSTHpkd1luWDdicFJCcmJB

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Họp Mặt K1 tại Nam Cali_Tin Ảnh (Võ Thiệu)

Hội thoại về tổ chức cứu trợ TPB/VNCH_YouTube

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội thoại về tổ chức cứu trợ TPB/VNCH_YouTube

TÌM CON_Ca sĩ Don Hồ

TÌM CON_Ca sĩ Don Hồ

Image result for ca sĩ Don Hồ

Ca sĩ Don Hồ

Khi đang hát, sợ nhất là bị khán giả níu vai & chồm lên nói nhỏ vào tai. Chuyện này có nhiều cơ hội xảy ra khi người ca sĩ cầm Microphone rời sân khấu để đi xuống bên dưới. Và tại sao ” sợ ” ư ? Có thể bạn thắc mắc, chẳng hiểu.

– Thứ nhất Đang mải lo trình bày một nhạc phẩm, âm thanh đang ầm ầm thì người ca sĩ làm sao có thể nghe kịp & hiểu người kia đang muốn nói gì với mình?

– Thứ hai: Nếu lắng nghe coi nói gì thì bài hát sẽ có khả năng bị khựng lại & có nhiều khả năng bị phân tâm mà quên luôn cả câu hát kế tiếp.

Không tin bạn thử vừa hát vừa lắng nghe ai nói chuyện gì đó thử xem, nếu bạn làm được cả 2 chuyện cùng lúc thì có thể bạn là siêu nhân  ( Superman ) mà không biết đấy…

Tuần rồi trong một buổi gây quỹ, ban tổ chức nhờ cầm rổ đi xuống dưới khán giả, vừa hát vừa nhận phong bì tiền ủng hộ từ những vị hảo tâm, một Bác lớn tuổi đã níu vai thì thầm gì đó thì vào tai. Dĩ nhiên là đã … chẳng hiểu Bác nói gì, phải nói lẹ: ” Thưa, Cháu chẳng nghe được gì cả ! Ghế Bác chỗ nào, khi hát xong Cháu xin trở ra tận nơi ạ ? “

Và đúng như đã hứa, hát xong phần mình vào trong lau mồ hôi xong trở lại tìm.

Được níu lại chụp hình ở một số bàn, nhưng rồi cuối cùng cũng kiếm được.

Bác kéo tay bảo: ” Trong này ồn quá, ra ngoài Bác có tí chuyện xin nhờ đến Cháu… “

Chút hồi hộp lẫn với tò mò.

Mái tóc gần như bạc phơ, nhìn Bác có vẻ lớn tuổi lắm nhưng vẫn còn rất minh mẫn. Dáng người nhỏ nhắn, lịch sự, nói chuyện giọng của những người Bắc di cư giống hệt Mẹ. Bác như hơi đắn đo chút rồi bắt đầu:

– ” Bác xin lỗi có hơi chút đường đột, nhưng bác có chuyện này muốn nhờ đến Cháu vì Bác nghĩ Cháu có thể có khả năng giúp được … “

– ” Dạ… Bác cứ nói, nếu làm được gì Cháu sẽ làm. “

– ” Chuyện như thế này…. “

Ánh mắt Bác trở nên xa xăm, giọng trầm hẳn xuống ” Bác có đứa Con Gái nhỏ đi vượt biên năm 1980 rồi bặt tăm tin tức. Gia đình Bác nhiều năm đã nhờ rất nhiều nơi để kiếm Em nhưng không có kết quả. Không biết Cháu có thể giúp Bác, mỗi nơi Cháu đi qua để mắt kiếm dùm Em ? “

– ” Thưa…

Dường như Bác đã lạc vào một thế giới khác, chẳng còn nghe, còn thấy gì chung quanh…

– ” Em nó tên là Trần-Thị-Thanh-Lan, năm ấy Em nó mới có 13 tuổi, vẫn còn láu táu lắm, tóc dài chấm vai. Gia đình Bác thời ấy chỉ có khả năng cho mỗi một đứa Con đi nên mới gởi gấm Em đi theo gia đình người Bạn quen. Cả tàu không có một tin tức trở về, chẳng biết chết sống. Nếu Em nó còn, năm nay Em nó tròn 47… “

Tới phiên mình bị đẩy lạc trở về cái khoảng quá khứ đầy mộng mị.

Cũng cuối năm 1980 ấy, con tàu vượt biên nhỏ xíu chật ních những người, khoang tàu xâm xấp nước biển lẫn lộn cùng chất thải từ cơ thể bấy nhiêu hành khách. Con Bé tóc ngắn nằm sát bên cạnh dường như đi một mình, từ lúc đặt chân xuống ghe chẳng nghe mở miệng nói một câu. Mà mở miệng nói với ai bây giờ, cả chiếc ghe bốn mươi mấy người có mấy ai quen ai !

Con Bé dường như cũng bị say sóng nặng giống hệt mình, cũng ói lên ói xuống ngay tại chỗ và cũng lả đi nằm thiêm thiếp. Một lần quay đi không kịp, Con Bé ói văng đầy cả vào mặt mình sát cạnh !

Biết được nó còn sống là nhờ có một lần bắt gặp ánh mắt của Con Bé yếu ớt dòm qua. Ánh mắt dường như muốn xin lỗi. Anh mắt thăm thẳm, lạc lõng, vướng vất nhiều tảng mây xám ngắt chiều thu. Ánh mắt đã đi theo ám ảnh mình suốt cả mươi năm đầu lúc mới tới được Hoa Kỳ…

Con Bé chắc còn nhỏ lắm, cũng chỉ cỡ 12, 13 là cùng, và là người Con Gái đầu tiên bị thằng hải tặc ỡ trần vấn xà rông xốc cho ngồi lên, rồi chọc thẳng tay vào áo rờ rẫm mà rú lên cười !

Con Bé cũng là Bé Gái nhỏ nhất trong nhóm phụ nữ đầu tiên bị bắt chuyền qua tàu hải tặc và chẳng bao giờ còn nghe tin.

Con Bé nằm ngay sát cạnh mình mà chẳng hề biết được tên…

Giọng Bà Bác ngay sát tai mà như rất mơ hồ đến tự đâu đâu…

– ” 34 năm rồi đó Cháu, biết đâu Con Bé tội tình của Bác đang sống lưu lạc ở một nơi nào đó trên thế giới mà không có cách nào để tìm lại được gia đình. Biết đâu Em nó ở đâu đó trong những thành phố Cháu đi qua… “

Ôi… người Mẹ tội nghiệp tìm Con, đã chừng mấy năm rồi mà vẫn không vơi đi niềm hy vọng dù rất mỏng manh…

Tần ngần hỏi:

– ” Thưa Bác, Chị ấy đã … đi từ đâu ? “

Giọng 2 Bác Cháu đều trở nên tự lư, nhẹ như tơ tự lúc nào.

– ” Ghe Em nó đi từ Rạch Giá Cháu… “

Một phiến đá nặng chặn nghẹn nãy giờ bỗng được nhấc lên khỏi lồng ngực, không phải Con Bé ấy rồi ! Ghe mình đã xuất phát khời hành từ mũi Cà Mau…

– ” Anh Em Cháu cũng vượt biên vào khoảng thời gian ấy, tụi Cháu may mắn đã đến được bến bờ. Cháu … chưa biết sẽ phải làm gì, nhưng Cháu sẽ ráng… “

Trao đổi nhau số Phone.

Bác Gái nhũ danh: Trương thị Hoà, nhà đã ở khu Hoà Hưng Sài Gòn…

Sợ Bác sẽ khóc, nhưng nước mắt Bác chẳng ra. Chắc những dòng nước mắt đã chảy cạn khô trong suốt ba mươi mấy năm qua rồi, chẳng còn !

Bác run run siết chặt đôi bàn tay cảm ơn, xin lỗi đã làm phiền, rồi xiêu vẹo bước trở lại vào khán phòng.

Mình ngồi thừ lại ở bên ngoài phải cho mãi một thời gian.

Lâu lắm mới buồn như thế !

Và cái buồn chắc chắn sẽ còn vương vất mãi chẳng biết đến bao giờ…

Gần 35 năm rồi, khả năng còn sống sót của người con chắc không nhiều nhưng cũng có thể… Biết đâu ở đâu ở nước nào đó trong vùng Đông Nam Á không chừng….

Và không phải chỉ có mỗi Chị Thanh-Lan này, mà còn biết bao nhiêu người Con Gái khác cũng mất tích, biết đâu cũng đang lưu lạc ở đâu đó…

Và nếu đúng thế, biết đâu bạn … quen, bạn biết ? Biết đâu bạn có chút tin tức ?

Hoặc giả nếu như không thấy phiền bạn có thể ” Share ” dùm bài này đến bạn bè như một tờ truyền đơn nhắn tin, tìm kiếm. Biết đâu ở một mảnh đất nào đó có một người Con Gái cũng bao nhiêu năm mong mỏi tìm được lại gia đình của mình …

Thảm cảnh của cả một đất nước, của cả một dân tộc…

Buồn nhỉ !

Giá như mình có thể khóc được …

DON HỒ

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÌM CON_Ca sĩ Don Hồ

Căn Cứ Quân Sự Khổng Lồ của Mỹ ở Greenland

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Căn Cứ Quân Sự Khổng Lồ của Mỹ ở Greenland

BF là gì?_ST

BF LÀ GÌ?

boy-and-girl
Một cậu bé nói với một cô bé:
– Tớ là BF của cậu!
Cô bé hỏi:
– BF là gì?
Cậu bé cười hì hì trả lời:
– Nghĩa là Best Friend đấy. (Bạn tốt nhất)
Sau này họ hẹn hò, chàng trai lại nói với cô gái:
– Anh là BF của em!
Cô gái dựa nhẹ vào vai chàng trai, thẹn thùng hỏi:
– BF là gì hả anh?
Chàng trai trả lời:
– Là Boy Friend đấy! (Bạn trai)
Vài năm sau đó họ kết hôn, sinh được những đứa con thật xinh xắn, người chồng lại cười và nói với vợ rằng:
– Anh là BF của em!
Người vợ dịu dàng hỏi chồng:
– BF là gì hả anh?
Anh chồng nhìn đàn con xinh xắn và hạnh phúc trả lời:
– Là Babies’s Father. (Bố của các con)
Khi những đứa con lớn dần, nhìn vợ và những đưa con yêu quý, người đàn ông lại nói:
– Chúng mình là BF:
Người vợ tươi cười hỏi:
– BF là gì nữa đây anh?
Người chồng vui vẻ trả lời:
– Là Beautiful Family! (Gia đình tuyệt đẹp)
Khi họ già, cùng nhau ngồi ngắm hoàng hôn trước hiên nhà,
ông lão lại nói với vợ:
– Bà nó à! Tôi là BF của bà đấy!
Bà lão cười với những nếp nhăn trên mặt:
– BF là gì hả ông?
Ông lão mỉm cười thật hạnh phúc và trả lời một cách thần bí:
– Là Be Forever! (mãi mãi thuộc về nhau).
Khi ông lão hấp hối cũng nói :
– Tôi BF bà nha.
Bà lão trả lời với giọng buồn:
– BF là gì vậy ông??
Ông lão trả lời rồi nhắm mắt:
– Là Bye Forever! (Vĩnh biệt mãi mãi)
Vài ngày sau, bà lão cũng ra đi, trước khi nhắm
mắt, bà lão nói nhỏ bên mộ ông lão:
– BF (Beside Forever) nha ông. (Bên nhau mãi mãi)
Beside Forever
Beside Forever……. (Mãi mãi bên nhau!)

Kiên Tống (sưu tầm và chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở BF là gì?_ST

Nỗi Niềm_Thơ Phiến Nguyễn

noi niem5

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nỗi Niềm_Thơ Phiến Nguyễn

Nguy Cơ Khó Lường Vì Ngồi Nhiều_ST

imageNhiều nguy cơ khó lường vì ngồi nhiều

Hầu như chúng ta đều biết ngồi quá lâu không hề tốt. Nhưng chính xác điều gì diễn ra trong cơ thể khi ngồi suốt 8 tiếng mỗi ngày hoặc lâu hơn?

Thói quen ngồi liên tục một chỗ trong thời gian dài gây tổn thương các cơ quan trong cơ thể, làm suy yếu chức năng các cơ, và là nguyên nhân cho nhiều vấn đề về cột sống.   Các Chuyên gia trên tờ Washingtonpost đã mô tả chi tiết một loạt vấn đề do ngồi liên tục nhiều giờ và một số lời khuyên giúp mọi người cải thiện sức khỏe.

image Tổn thương cơ quan bên trong cơ thể:

Bệnh tim:

Khi ngồi lâu, các cơ ít đốt cháy mỡ và tốc độ lưu thông máu chậm hơn, khiến các acid béo dễ làm tắc nghẽn tim. Tình trạng này kéo dài gây cao huyết áp, tăng nồng độ cholesterol trong máu..

Theo các Chuyên gia, những người càng ít vận động với “thời gian tĩnh” càng nhiều có nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn gấp 2 lần những người năng vận động.

Tụy tạng hoạt động quá mức:

Tụy tạng có nhiệm vụ sinh insulin, hormone giúp tế bào lấy glucozo từ máu và sử dụng để sinh năng lượng. Tuy nhiên, tế bào trong các cơ ở trạng thái không vận động không phản ứng với insulin khiến tụy tạng tiếp tục tiết ra nhiều hormone nữa. Đây là nguyên nhân gây tiểu đường và một số bệnh khác.

Điều nguy hiểm là sự suy giảm phản ứng với insulin xảy ra chỉ sau 1 ngày ngồi liên tục, theo kết quả một nghiên cứu năm 2011.

Ung thư ruột kết:

Nhiều nghiên cứu cho thấy sự liên quan giữa ngồi lâu với sự gia tăng nguy cơ ung thư ruột, ung thư vú, và nội mạc tử cung. Các nhà Khoa học vẫn chưa giải thích đầy đủ cho vấn đề này, nhưng đã có nhiều giả thiết được đưa ra. Giả thiết thứ nhất cho rằng insulin dư thừa kích thích sự phát triển của các tế bào có hại. Còn theo một lập luận khác, vận động thường xuyên sẽ đẩy mạnh hoạt động của các chất chống oxy hóa tự nhiên giúp ngăn ngừa quá trình phá hủy tế bào và các gốc tự do, tác nhân tiềm ẩn gây ung thư.

Thoái hóa cơ:

Chùng cơ bụng:

Khi đứng, di chuyển hay thậm chí ngồi ngay ngắn, cơ bụng căng ra và giữ cho dáng người thẳng. Ngồi sai tư thế không những làm căng cơ lưng mà còn khiến cơ bụng bị suy yếu gây cong vẹo cột sống.

 Hông thiếu linh hoạt:

Những người ngồi quá nhiều hiếm khi có cơ hội vận động để cơ hông phát triển. Do vậy, hông ngày càng kém linh hoạt. Đây là nguyên nhân hạn chế khả năng di chuyển và độ dài sải chân.

Nghiên cứu khoa học cũng chứng minh rằng: Suy giảm chức năng cơ hông là lý do khiến người cao tuổi dễ bị té ngã hơn.

Cơ mông suy yếu:

Ngồi nhiều khiến vùng mông không phải thực hiện “nhiệm vụ” nào và dần quen với tình trạng này. Vòng ba dần to ra một cách không mong muốn, nhưng cơ mông lại suy yếu, hạn chế khả năng vận động.

image

Các vấn đề về chân:

Lưu thông máu kém ở chân:

Thời gian ngồi nhiều khiến tuần hoàn máu ở chân giảm. Các vấn đề có thể phát sinh gồm: Sưng mắt cá chân, giãn tĩnh mạch cho tới hội chứng huyết khối trong tĩnh mạch (DVT) nguy hiểm.

Xương mỏng:

Các hoạt động đi, chạy… kích thích hông và xương ở phần dưới cơ thể phát triển với mật độ dầy hơn, chắc chắn hơn. Ngồi lâu khiến xương mỏng dần đi. Tình trạng thiếu vận động như trên là lý do cho sự gia tăng chứng loãng xương trong thời gian gần đây, theo ý kiến của các nhà Khoa học.

Kém tập trung:

Vận động giúp bơm máu và oxy lên não tốt hơn, đồng thời kích thích sinh sản các hóa chất cải thiện tâm trạng và trí óc. Khi ngồi một chỗ trong thời gian dài, mọi quá trình trong cơ thể đều diễn ra chậm chạp, bao gồm cả hoạt động của não bộ khiến chúng ta khó tập trung.

Đau mỏi cổ:

Phần lớn thời gian dân văn phòng “đóng đô” tại bàn làm việc với thói quen chúi đầu về phía bàn phím máy tính, hoặc nghiêng nghiêng đầu một bên nghe điện thoại. Hậu quả là các đốt sống cổ bị kéo căng và có thể mất cân đối vĩnh viễn.

 Đau vai và lưng:

Tư thế ngồi cúi về phía trước còn ảnh hưởng tới cả vai và lưng, đặc biệt là cơ cầu vai, nối cổ và vai.

Thoái hóa cột sống:

Ngồi trong thời gian dài với tư thế không đúng khiến đĩa đệm chêm giữa hai phần cứng xương đốt sống suy giảm chức năng giảm sốc cho cột sống, gây đau và phát sinh các vấn đề cột sống.

image

Thoát vị đĩa đệm:

Càng ngồi nhiều mọi người càng đối mặt với nguy cơ thoát vị đĩa đệm cao hơn. Ở tư thế ngồi, trọng lượng phần trên cơ thể dồn vào đốt sống thắt lưng thay vì được phân phối đều dọc theo cột sống.

Gia tăng nguy cơ tử vong:

Trong nghiên cứu kéo dài 8 năm rưỡi, những người có thời gian ngồi xem tivi nhiều nhất có khả năng tử vong cao hơn 61% so với những người xem tivi ít hơn 1 giờ mỗi ngày.

image

 Thu Hiền (Theo Washington Post)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nguy Cơ Khó Lường Vì Ngồi Nhiều_ST

Trái Tim Bồ Tát_Pha Lê

TRÁI TIM BỒ TÁT

(Việt Báo/VVNM): Jenny, cô phóng viên Mỹ tuổi đời chưa quá 30.

Ra trường đại học Stanford với số điểm khá cao, sau vài năm lăn lóc với những tờ báo địa phương, Jenny được thâu nhận làm phóng viên tại một tòa báo nổi tiếng tại Chicago.

trai timjChuyến đi xa làm phóng sự  đầu tiên của cô là bay sang Nhật, để viết về sự hồi sinh và công cuộc trùng tu của thành phố Miyako, một thành phố đã phút chốc bỗng trở thành bình địa khi cơn sóng thần Tohoku Tsunami khủng khiếp ập tới vào tháng 3, 2011.

Cô đã đi lòng vòng khắp nơi, điều làm cô sửng sốt nhất, là ở nhiều nơi, từ trong thư viện cho đến các nhà hàng, trên những bức tường, người ta vẽ hình một cậu bé Nhật với câu chuyện về nghĩa cử cao đẹp của cậu trong  những ngày tang thương của thành phố.

Jenny vẫn còn nhớ đó là chuyện một cậu bé khoảng trên 10 tuổi, trong khi cậu bé đang xếp hàng chờ đợi tới phiên mình được lãnh hàng cứu trợ thì bỗng một người lính cứu hỏa đến bên cạnh và đưa cho cậu một gói khá to với dấu Red Cross đóng bên trên, Đó  là một gói hàng cứu trợ nhưng có đầy đủ những đồ gia dụng cần thiết và có cả một ít hiện kim cho một cá nhân. Khẽ nghiêng mình kính cẩn cám ơn, và trước đôi mắt ngạc nhiên của người lính cứu hỏa, cậu bé bước tới góc phố, nơi người ta đã đặt sẵn một thùng giấy to để quyên góp những phẩm vật sẽ được  gởi đi cho những người kém may mắn khác. Nhón chân đặt gói quà vào trong thùng, cậu bé lặng lẽ bước về chỗ cũ và kiên nhẫn sắp hàng chờ đợi.
Câu chuyện thật đơn giản nhưng vô cùng xúc động đó đã nhanh chóng được loan truyền trên khắp thế giới. Hằng trăm hằng ngàn ý kiến, những lời cảm thông chia xẻ, cùng những câu ca ngợi nghĩa cử của cậu bé đã được gởi tới tấp trên internet, trên truyền thông truyền hình như những lời an ủi động viên trước những bất hạnh và khổ đau sau thảm họa sóng thần Tohoku Tsunami.

Sau một ngày lang thang trên đường phố Miyako, Jenny cảm thấy thật phí công khi cô phải viết bài phóng sự về sự hồi sinh và công cuộc xây dựng tái thiết  của thành phố Miyako, Jenny thầm nghĩ: “Người Nhật  rất quật cường và dũng cảm, họ là một dân tộc biết biến đau thương thành sức mạnh, viết lời ca ngợi hoặc tán dương  họ cũng bằng thừa.”cho nên cô chợt nẩy ra ý tưởng mới, là viết về tầm ảnh hưởng từ hành động cao cả của cậu bé đó với những người trẻ hôm nay.
Kết quả: Bài viết của Jenny khi phổ biến làm người đọc xúc động, tòa báo hài lòng. Ôâng chủ bút vui vẻ gợi ý cô có thể viết thêm về những người trẻ ở khắp nơi trên thế giới. Wow, cô mừng rỡ và quyết định cô sẽ tới Việt Nam.

Việt Nam, một đất nước tuy xa mà lại rất “gần” với cô. Rất gần vì Brittney Nguyen, người bạn thân nhất của cô trong 4 năm đại học, là người Việt Nam. Năm đầu tiên cô và Brittney cùng chia xẻ chung một phòng trong đại học xá. Brittney rất giỏi và rất lanh lẹ, nhưng điều mà Jenny cảm phục ở cô không phải sự thông minh, mà chính là tinh thần lạc quan của Brittney. Trong  bất cứ tình huống nào, cô bạn này luôn ltin rằng “Tomorrow will be better than today / ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay”! Lỡ tình trạng vẫn chưa “khá” hơn, thì Brittney lại cắt nghĩa hoặc bằng một câu khôi hài nào đó, hay bằng một câu chuyện tiếu lâm mà cô luôn có sẵn trong đầu.

Brittney thì dễ thương như vậy, mà  gia đinh cô thì càng tuyệt vời hơn nữa. Những ngày cuối tuần Jenny vẫn theo Brittney về nhà cô, một căn hộ chung cư 3 phòng ngủ cho 5 người! Dù căn nhà khá chật chội và hơi thiếu tiện nghi nếu so với căn nhà rộng thênh thang của Jenny ở Chicago, nhưng chính nơi đây Jenny mới hiểu được thế nào là tình gia đình. Cô đã được thưởng thức những món ăn Vietnam, được hưởng những sự thương yêu, chăm sóc, lo lắng từ những người thân của Brittney. Cô đã rưng rưng nước mắt khi gọi gia đình Brittney là gia đình thứ hai của cô.

Khi nghe Jenny nói như thế, Brittney trả lời với một nụ cười tươi tắn trên môi:

– Nếu đây là gia đình thứ hai, thì Jenny sẽ có thêm một đất nước thứ hai, đó là Vietnam, right?

Đúng như vậy, và bây giờ Jenny đang ngồi trên một chuyến bay, bay về Vietnam, một đất nước tuy xa xôi, nhưng lại rất gần gũi với cô.  Trước ngày đi, ông chủ bút tờ báo đã nhấn mạnh là cô chỉ có một tuần. Trừ ngày bay đi, bay về, chỉ còn đúng ba 3 ngày thôi đấy nhé.

***
Sau gần 2 tiếng đồng hồ chờ đợi thủ tục để lấy được hành lý, Jenny chậm chạp kéo lê chiếc vali bước ra phía cổng phi trường. Cô thắc mắc tại sao mọi người cứ phải xô đẩy, chen lấn không sắp hàng, chính điều này càng khiến mọi công việc trở nên phức tạp và mất nhiều thời gian hơn.

Khi cánh cửa phi trường vừa bật mở, Jenny gần như dội ngược về phía sau bởi hơi nóng hừng hực từ bên ngoài như táp vào mặt cô. Ngần ngừ vài giây, cô bước ra, bên ngoài khung cảnh thật tấp nập, xô bồ, mọi người bước đi vội vã  như ma đuổi!

Hình như 24 tiếng đồng hồ vẫn không đủ cho người VN, đó là cảm nhận đầu tiên của Jenny về đất nước này. Cảm thấy thật mệt mỏi vì chuyến bay quá dài, cộng với sự chờ đợi không cần thiết nơi cửa phi trường, Jenny giơ tay vẫy chiếc taxi, cô quyết định về nghỉ tại khách sạn đêm nay, ngày mai sẽ bắt đầu một ngày mới cho bài phóng sự của cô về những người trẻ Vietnam.

Bây giờ Jenny đang ngồi trong phòng ăn của khách sạn để dùng bữa điểm tâm với một người thông dịch.

Trước khi lên đường sang Việt Nam, cô bạn Brittney đã khăng khăng bắt Jenny phải có một hướng dẫn viên, vừa phải là người bản xứ, vừa phải biết tiếng Anh, để giúp cô  đi thăm viếng  thành phố, và Brittney đã giúp bạn tìm được người đó. Bà Hằng,  một  phụ nữ trung niên tuổi trên 50, khuôn măt khả ái với nụ cười dịu dàng đằm thắm trên môi, và nhất là cách phát âm tiếng Anh của bà khá chính xác khiến Jenny thật hài lòng. Khi Jenny nói điều này, bà Hằng chỉ mỉm cười khiêm tốn khẽ đáp:

– Tôi là giáo sư Anh văn của một trường đại học thành phố.

Jenny ngạc nhiên:

– Giảng sư dạy đại học mà tại sao bà lại làm thêm công việc này?

Hơi bất ngờ vì câu hỏi của Jenny, bà Hằng ngập ngừng vài giây rồi nói:

-Thật ra đây là cơ hội cho những người dạy Anh văn như chúng tôi  luyện giọng. Ngày xưa, khi tôi còn là học sinh, ngoài giờ học chính, chúng tôi thường ghi danh học thêm những course Anh Văn bên ngoài.  Trước đây  trung tâm Hội Việt Mỹ thường có những phòng thính thị cho chúng tôi luyện giọng, bây giờ thì khộng còn nữa.

Rồi bà bỗng đổi giọng vui vẻ nói:

– Dù sao đi nữa đây là một công việc vừa giúp tôi trau giồi nghiệp vụ, vừa được trả lương, còn gì bằng!

Vừa nghe xong câu đó, Jenny bật cười thoải mái.

Khi nắng chiều đã nhạt dần và cái nóng đã bớt gay gắt, Jenny và bà Hằng đang ngồi nơi quán ăn ở một góc đường. Cô đã đi lang thang qua nhiều dãy phố, đã thu  vào ống kính của cô  nhiều hình ảnh của đất nước này. Là một phóng viên, cô đã đi nhiều nơi trên thế giới, nhưng điều làm cô kinh ngạc hơn hết là sự tương phản rất rõ nét giữa cái giàu  và cái nghèo tại đây.

Trên đường phố chật hẹp, cô luôn nhìn thấy vài chiếc xe hơi thật đắt giá sang trọng đang cố luồn lách, chèn lấn để vượt qua những dòng xe  hai bánh, lẫn lộn cả những chiếc xe đạp trầy sơn cũ kỹ. Ở đây tất cả mọi người đều hối hả, hấp tấp, vội vàng khiến Jenny cảm thấy chóng mặt, và cổ họng cô thật khô rát,  Jenny quay lại nhờ bà Hằng gọi cho mình một “ly chanh đường”. Cô phát âm bằng tiếng Việt 3 chữ đó khá rõ ràng khiến bà Hằng thoáng ngạc nhiên. Có gì đâu, Jenny mỉm cười kể :

-Nhiều lần Brittney vẫn nói nếu có dịp trở về Saigon, cô sẽ gọi một ly chanh đường vì cô vẫn thường nghe các ông nhạc sĩ rên rỉ “…uống ly chanh đường, uống môi em ngọt …” nên cô muốn thử xem sao!

Bà Hằng bật cười thành tiếng, nhưng hình như trong đáy mắt bà chợt thoáng hiện một chút tiếc nuối xót xa.

Jenny nhìn quanh quan sát , cũng vẫn chỉ là khung cảnh cũ với những cụ già hay những em bé mệt mỏi với xấp vé số trên tay đang cố mời chào mọi người mua giúp. Những người hành khất già nua, bệnh hoạn ngồi la liệt chờ sự bố thí của người qua lại, chợt  Jenny bắt gặp hình ảnh khiến cô khựng lại. Nơi cuối dãy bàn sát tường, một cậu bé đang ngồi bó gối im lìm, cạnh cậu bé là một chú chó nhỏ.

Hình ảnh này khiến Jenny chợt nhớ đến phim Charlie Chaplin cô vẫn coi ngày còn bé. Cái anh chàng Charlie này thường  đóng cảnh nghèo khổ   với một khuôn mặt rầu rĩ, thiểu não, bên cạnh cũng có một chú chó con. Đua máy ảnh lên chụp cậu bé qua vài góc cạnh, Jenny  quay sang bà Hằng ngỏ ý cô muốn gặp cậu bé. Khẽ gật đầu, bà Hằng lặng lẽ bước về hướng cậu nhỏ đang ngồi.

***

 Bước tới và đứng sát cạnh bàn Jenny, nhưng  cậu bé vẫn cúi gằm mặt và hai tay buông thõng, chỉ có chú chó con vẫn hồn nhiên vẫy đuôi chạy loanh quanh. Jenny lặng lẽ kín đáo quan sát, cô thấy tim mình nhói đau khi nhìn thân hình gầy gò của cậu bé trong chiếc áo thun rộng thùng thình và rách lỗ chỗ. Cậu bé chắc chỉ khoảng trên 10 tuổi, Jenny thầm nghĩ, cô khẽ rút trong túi áo một khoản tiền và nhẹ nhàng nhét vào tay cậu bé. Cô nhờ bà Hằng nói với cậu những câu vỗ về an ủi. Bây giờ cậu bé mới ngẩng mặt lên lý nhí cám ơn, Jenny thoáng giật mình, vì trên khuôn mặt lem luốt xanh xao, là đôi mắt sáng, trong veo, đen láy toát lên sự linh hoạt, thông minh  . “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, Brittney thường hay đùa nói với cô như thế.

Sẵn trên bàn còn vài chiếc bánh bao, Jenny với tay đưa cho cậu bé hai chiếc bánh, đưa hai tay đón nhận, cậu cúi đầu thật thấp thay cho lời cám ơn và quay bước trở về góc tối nơi cậu ngồi lúc nãy. Jenny đưa máy hình lên, cô đã sẵn sàng chụp  những bức hình cậu bé và chú chó nhỏ cùng ngẫu nghiến ăn chiếc bánh, nhưng ô kìa, Jenny bỏ máy hình xuống sững người nhìn.

Cậu bé mở chiếc túi ny lông cậu vẫn đeo bên hông, bỏ một chiếc bánh vào. Tần ngần vài giây, cậu lại bẻ chiếc bánh còn lại làm đôi,  bỏ trở lại bao và cột lại cẩn thận. Còn nửa chiếc bánh trên tay, cậu bé vừa ăn vừa đút cho chú chó nhỏ nãy giờ vẫn ngoan ngoãn đứng chờ.

Bây giờ Jenny cảm thấy thật tức giận, tại sao cậu bé có thể ” ăn chận” phần bánh của chú chó bé nhỏ như vậy. Cô nhớ tới bên Mỹ, nhà cô có hai chú chó, hằng tuần mẹ cô vẫn phải khệ nệ bưng về những bao thức ăn được biến chế đặc biệt cho từng loại chó khác nhau với những “khẩu vị” khác nhau, khi thì cá, lúc thì bò hay gà. Rồi cứ hai tuần một lần, mẹ cô phải chở hai chú chó nhỏ này đến những trung tâm để họ chăm sóc, o bế bộ lông và cắt tỉa bộ móng của chúng,  “Pets are people too!  Thú vật cũng là con người!” Jenny luôn đươc nhắc nhở và bảo ban như vậy.

Nhìn chú chó vẫn đang liếm láp thèm thuồng, không dằn lòng nổi, Jenny cầm nguyên chiếc bánh bước về phía cậu bé, trước đôi mắt ngỡ ngàng của  bà Hằng và cái nhìn sững sờ của cậu, cô đút cho chú chó trọn vẹn chiếc bánh, nhưng Jenny cũng kịp nhìn thấy đôi môi mím chặt của cậu bé, trước khi cậu quay mặt nhìn về hướng khác.

Trời đã bắt đầu tối đen, Jenny vẫn ngồi nói chuyện với bà Hằng, nhưng cô mơ hồ cảm thấy bà trở nên tư lự và khép kín hơn, giọng nói của bà không còn cởi mở, vồn vã như lúc ban đầu. Bây giờ cậu bé đang đứng trước mặt Jenny, cậu nhờ bà Hằng cám ơn cô về những cái bánh, và nhất là cô đã cho chú chó nhỏ của cậu một bữa tối no nê, đêm nay chắc chắn nó sẽ ngủ yên không làm phiền cậu.

Khẽ mỉm cười, Jenny giảng nghĩa cho cậu bé hiểu  chó là người bạn vừa thân thiết, vừa trung thành với con người, cho nên cậu phải thương yêu và đối xử vừa đặc biệt, vừa công bằng với chúng. Bà Hằng thông dịch những câu nói đó cho cậu bé, nhưng đôi mắt bà xót xa như muốn nói thật nhiều những ý nghĩ trong đầu bà, nhưng bà đành khẽ thở dài cúi mặt.

Cúi đầu chào Jenny, cậu bé và chú chó quay bước, hối hả băng qua đường. Chăm chú nhìn theo bóng dáng vội vã của cậu bé, bỗng Jenny nẩy ra một ý định táo bạo, cô quay sang vắn tắt nói với bà Hằng cô sẽ đi theo và tìm xem chỗ ở của cậu bé và chú chó nhỏ. Không kịp chờ ý kiến của bà , Jenny đã đứng bật dậy và phóng theo cậu bé.

Khẽ thở dài, bà Hằng đành lật đật tất tả bước theo bóng Jenny. Không mấy khó khăn, Jenny đã bắt kịp cậu bé, nhưng không muốn cậu  biết có người theo dõi, cô cố giữ một khoảng cách khá xa.

Sau khi băng qua hai góc phố, vài con đường, cuối cùng cậu bé và chú chó nhỏ dừng lại dưới mái hiên của một tiệm sách đã đóng cửa. Jenny và bà Hằng vội ngồi thụp xuống bên lùm cây cách đó không xa, cô cố nhướng mắt nhìn về phía trước. Hình như cậu bé đang tìm ai, cậu nhớn nhác ngó quanh, chú chó cũng sủa lên vài tiếng.

Bỗng từ trong góc tối một bóng người xuất hiện, đúng  ra là một người đàn ông, nhưng ông lê “bước” ra bằng hai bàn tay, bởi đôi chân ông đã cụt qua quá khỏi đầu gối. Bên cạnh ông là một bé trai nhỏ khoảng 3, 4 tuổi. Cậu bé vội bước tới khẽ dìu ông và dắt tay người em trai nhỏ. Họ cùng ngồi xuống bên vệ đường, cậu mở vội chiếc túi và lôi ra chiếc bánh cậu để dành ban nãy đưa cho người đàn ông,  xong cậu quay sang ôm người em nhỏ vào lòng, cậu từ tốn đút từng mếng bánh nhỏ cho em. Điều kỳ lạ là chú chó nhỏ vẫn đứng  yên lặng vẫy đuôi, dường như đây là hình ảnh rất quen thuộc mà nó thấy mỗi ngày.

Jenny gần muốn như ngã khụyu khi nhìn hình ảnh đó, cô phải ngồi bệt ngay xuống bên vệ đường. Cô chợt nhớ lại lời khuyên  của cô với cậu bé khi nãy là hãy thương yêu loài vật, rồi cô lại liên tưởng những tháng ngày cô còn bé. Chỉ một bữa ăn sáng không đúng ý, chỉ vì không có đôi giầy đồng mầu với chiếc váy, cô đã giận mẹ cô cả tuần, không nói năng, thậm chí có lúc cô còn muốn “run away from home”, bỏ nhà đi bụi đời! Những lời cô vừa cao giọng giảng giải cho cậu bé thật lố bịch biết bao. So  sánh với cậu bé, Jenny cảm thấy mình chỉ như là một giọt nước trước một đại dương bao la.

Thò tay vào túi vét hết tất cả những đồng tiền cuối cùng, Jenny quay sang bà Hằng. Bà vẫn ngồi bó gối im lìm, đầu cúi thấp, bóng tối che khuất nên Jenny không thể nhìn thấy  khuôn mặt bà cũng đang nhạt nhòa nước mắt.

Vừa dúi vào tay bà những tờ tiền, có tờ còn hơi  ướt vì thấm nước mắt của cô, Jenny thổn thức nói:

– Hãy nói với cậu bé ấy là tôi xin lỗi, hãy tha thứ cho tôi.

Trước khi bà Hằng kịp trả  lời, cô đã vụt đứng lên và chạy ngược về phía khách san.

Suốt ngày hôm sau, Jenny và bà Hằng đã ngồi chờ cậu bé tại quán ăn, cô cũng quay lại góc phố đêm qua, đi loanh quanh mong sao gặp lại được cậu bé và chú chó, nhưng cậu bé vẫn biệt tăm.

Sáng nay khi chia tay với bà Hằng, cô đã dể lại số phone riêng của cô, hy vọng bà sẽ tìm ra cậu nhỏ và chú chó.

Khi nghe Jenny hứa sẽ quay lại đây và sẽ ở lại lâu hơn, bà Hằng nhẹ nhàng nói:

– Đến với VN, đôi khi mộtngày cũng quá đủ, nhưng lắm lúc  một trăm ngày vẫn cảm thấy thiếu!

Nói xong bà khẽ xiết chặt tay cô và chúc lời thượng lộ bình an.

Đưa tay cột lại giây an toàn, Jenny khẽ tựa đầu vào ghế. Cô chợt nhớ đến hình ảnh cậu bé người Nhật của Miyako, và cậu bé Vietnam của Saigon. Cả hai đều có một tấm lòng vị tha bao la, nghĩ đến người khác hơn nghĩ đến mình, cả hai đúng là có trái tim thật nhân ái tuyệt vời. Nhưng rồi cô bỗng so sánh, cùng bằng nhau số tuổi, nhưng  2 hình ảnh, 2 cuộc đời sao quá khác biệt.

Cậu bé người Nhật rất có thể ngay ngày hôm đó, cậu sẽ được đưa tới một nơi tạm trú, cậu có thể vẫn có những bữa ăn nóng sốt, chăn ấm nệm êm, từ những trung tâm cứu trợ, hay từ chính  những người hàng xóm tốt bụng đầy lòng nhân ái.
Có thể  cậu phải hứng chịu những sự đau thương, mất mát  những người thân yêu của cậu, nhưng chắc chắn Cậu bé vẫn được sống lại trong vòng tay che chở, ấp ủ thương yêu của những người thân còn lại trong gia đình. Cậu  rồi sẽ vẫn chân sáo đến trường, những khổ đau rồi cũng sẽ chìm dần vào quá khứ. Cậu bé vẫn có một tương lai tươi sáng trước mặt.

Còn cậu bé VN đáng thương kia, đừng nói đến tương lai với cậu, với cậu chỉ có ngày mai là làm sao kiếm đủ thức ăn cho người cha già tàn tật và cho cậu em nhỏ dại. Cậu bé là cần câu cơm cho cái gia đình khốn khổ dù cậu chỉ mới hơn 10 tuổi, cái tuổi mà đáng lẽ cậu chỉ biết học hành vui chơi. Đôi mắt trong sáng đầy ắp tình thương kia liệu  có biến đổi trước những tàn bạo khắc nghiệt của đường phố, hay những bầm dập của cuộc đời.

Jenny cảm thấy như có bàn tay ai đang bóp nát trái tim cô. Nước mắt quanh vành mi, Jenny khẽ kéo tấm che cửa sổ máy bay lên,  bên ngoài mặt trời vừa ló dạng, ánh lên những tia sáng ban mai trên những đám mây vàng rực rỡ, chợt Jenny nhớ đến một bài nhạc mà cô đã hát bao lần trong đại học:

We are the World ,
We are the children ,
We are the ones who’ll make a righter day,
So let’s start giving
. . .
It’s true we’ll make a better day
Just YOU and ME

Phải, chính bạn và tôi, chúng ta sẽ  tạo nên những ngày tươi đẹp hơn . Jenny cảm thấy như chợt có một làn hơi ấm áp đang len nhẹ vào hồn cô. Cô chưa biết mình sẽ phải viết thế nào về cậu bé Việt Nam nhưng biết rõ đây là nơi cô sẽ còn trở lại. Chắc phải rủ cô bạn thân Brittney cùng trở lại và ở lại lâu hơn.

Jenny nhè nhẹ khép đôi mắt và chìm dần vào giấc ngủ thật êm đềm có lẽ vì ” con tim đã vui trở lại!”

Thật ra khi Jenny ca ngợi cậu bé người Nhật và cậu bé VN, cô gọi đó là những  người có trái tim nhân ái tuyệt vời, nhưng cô đâu biết, chính cô cũng là người có trái tim thật từ bi.

Cô cũng không biết người Việt chúng ta thường gọi những tấm lòng nhân ái, từ bi là ‘Trái Tim Bồ Tát.”

Pha Lê

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trái Tim Bồ Tát_Pha Lê

Ở Hai Đầu Thành Phố_Châu Quang

Việt Nam dưới góc nhìn của một người Việt sống ở Mỹ:

Ở Hai Đầu Thành Phố / Châu Quang

(danchimviet.info): Đây là một câu chuyện hư cấu. Mọi sự trùng hợp với đời thường, nếu có, đều ngoài ý muốn. Tác giả đội ơn.

Washington, DC

Cách nay trên 15 năm, hãng tôi đang làm tà tà thua lỗ, đóng cửa. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, một người bạn giới thiệu tôi làm cho một công ty thông dịch có hợp đồng với các trường học trong vùng, khi họ cần cho những buổi họp giữa giáo viên và phụ huynh không rành tiếng Anh.

Trong một buổi họp của trường học có thông dịch viên thuộc nhiều ngôn ngữ khác nhau, một đồng nghiệp thông dịch viên tiếng Thái mách tôi nếu muốn có thêm tiền, hãy ghi danh với hội American Translators Association (ATA). Mình đóng lệ phí mỗi năm cho hội, họ sẽ đưa tên mình vào trang mạng của họ và ai có nhu cầu dù ở bất cứ đâu cũng có thể truy cập và liên lạc với mình để mướn.

Job đến với tôi lai rai qua trang mạng của ATA và tình cờ một khách hàng, sau một buổi làm cho họ, khuyên tôi nạp đơn thi vào làm thông dịch theo hợp đồng cho Bộ Ngoại Giao Mỹ, và cuối cùng tôi đã làm cho bộ này trên 10 năm.

Làm theo hợp đồng có nghĩa là khi nào có việc thì họ kêu, và đối với bộ, tôi là một nhà thầu, không phải là nhân viên chính thức. Tôi vừa dịch viết, vừa dịch miệng cho bộ, vừa làm cho những công ty dịch thuật tư nhân khác, kiếm được tiền cũng gần bằng công việc cũ nên tôi cũng chẳng tích cực tìm lại việc cũ, cứ tiếp tục với việc dịch thuật, tự mình làm chủ, có dịp đi đây đi đó bên trong cũng như bên ngoài nước Mỹ, ai gọi mình thích thì nhận, không thích thì từ chối khéo, nghĩ trong bụng đời tỵ nạn không dễ gì kiếm được job nào như vậy.

Khi dịch cho bất kỳ tổ chức thông dịch nào, bạn cũng phải ký giấy cam kết không tiết lộ bất kỳ nội dung nào mình biết trong khi làm việc. Ví dụ như sau khi dịch cho một bác sĩ và một bệnh nhân, bạn không được cho ai biết bệnh nhân đó mắc bệnh gì, nặng nhẹ mức nào vì luật pháp Mỹ coi trọng quyền riêng tư của mỗi người. Ngoài ra, nếu bạn bô bô cái miệng, kể cho người khác bệnh trạng của bệnh nhân, có thể họ sẽ không mua được bảo hiểm nhân thọ, có thể con cháu họ tranh chấp gia tài… họ có quyền kiện bạn đi tù và đền tiền như chơi, đại khái là như vậy.

Vấn đề bảo mật lại càng được đặt nặng hơn nữa khi bạn dịch cho Bộ Ngoại Giao Mỹ, vì nhiều lúc bạn làm việc với những nhân vật tai to mặt lớn, họ bàn đến những chuyện quốc gia đại sự, ảnh hưởng đến nhiều người, nhiều triệu đô la; cho nên những gì tôi sắp kể cho bạn nghe sau đây là những chuyện tôi thấy vô hại, không ảnh hưởng đến vấn đề bảo mật mà tôi đã hứa với bộ. Thế nhé.

Một trong những công việc mà Bộ Ngoại Giao Mỹ chỉ định cho các thông dịch viên là đi theo các đoàn quan chức của Hà Nội thăm nước Mỹ.

Thông thường, một đoàn gồm khoảng 10 quan chức của Hà Nội được 2 thông dịch viên của Bộ Ngoại Giao Mỹ đi kèm, ăn chung thì không bắt buộc nhưng nghỉ chung khách sạn, mỗi người một phòng. Mỗi chuyến đi kéo dài từ hai đến ba tuần, ghé vài thành phố; bắt đầu là Washington DC, nơi sẽ gặp cấp chính quyền liên bang và thường kết thúc ở miền Tây như Seattle, San Francisco hoặc Los Angeles để đoàn về Việt Nam cho nhanh.

Lấy ví dụ một đoàn thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì tại DC, thông dịch viên sẽ đưa họ đi gặp Cơ quan Quản lý Thực phẩm Dược phẩm (FDA) hoặc cơ quan phụ trách về vệ sinh an toàn thực phẩm. Sau đó đi thăm các lò mổ bò ở Nebraska hoặc các trại chăn nuôi ở Iowa.

Lấy ví dụ một đoàn thuộc Cục Hàng không thì tại DC, thông dịch viên sẽ đưa họ đi gặp Cơ quan Quản lý Hàng không Liên bang FAA, hoặc đến thăm NTSB để biết cách cơ quan này điều tra một tai nạn máy bay; sau đó đi thăm một hai phi trường lớn nhỏ ở miền Trung Tây để quan sát cách vận hành của ban quản lý phi trường, của đài kiểm soát không lưu, trước khi đi thăm dây chuyền sản xuất máy bay Boeing ở gần Seatlle.

Ngoài những buổi họp có tính cách chuyên môn, đoàn cũng được đưa đi xem một buổi tranh tài thể thao – bóng rổ/bóng chày/bóng bầu dục – hoặc một buổi văn nghệ – nhạc kịch Broadway/Con Ma nhà hát Opera – và đi ăn một bữa cơm tối với một gia đình người Mỹ ở địa phương để thưởng thức món ăn Mỹ nấu tại nhà và quan sát khung cảnh của một gia đình Mỹ trung lưu xem có giống như trên màn ảnh không.

Chương trình đi thăm nước Mỹ xuất phát từ cả hai phía. Thông qua đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội, Bộ Ngoại Giao Mỹ cho phía Việt Nam biết trong tài khóa năm nay sẽ có các chuyến đi thế này thế này, phía Việt Nam đề cử người tham gia. Ngoài ra, nếu phía Việt Nam có nhu cầu đặc biệt thì cứ nói với sứ quán Mỹ, nơi đây sẽ liên lạc với Washington và nếu OK thì chuyến đi sẽ thực hiện.

Có những chuyến Bộ Ngoại Giao Mỹ đài thọ từ A đến Z, có những chuyến phía Việt Nam phải tự chi vé máy bay quốc tế; phía Mỹ chỉ lo thu xếp các sự kiện, chi tiền khách san, vé máy bay nội địa, và tiền ăn theo ngày và theo thành phố.

Thành phần tham dự thông thường từ phó hoặc trưởng phòng hoặc đại biểu quốc hội trở lên ở cấp trung ương, hoặc phó hoặc giám đốc sở trở lên ở cấp tỉnh. Nếu là nhà binh hoặc công an thì thường từ đại tá trở lên. Nói chung là cấp đang lãnh đạo hoặc có tiềm năng sẽ là lãnh đạo.

Thu xếp các buổi họp là công việc của Bộ Ngoại Giao Mỹ, thông dịch viên chỉ việc đưa đoàn Việt Nam đến những nơi họp theo một danh sách đã ghi sẵn. Công việc của hai thông dịch viên là đưa đón đoàn ở phi trường, liên lạc xe cộ để đến các địa điểm, thay nhau dịch trong các buổi gặp mặt với người Mỹ, nhận chìa khóa phòng khách sạn để trao cho đoàn, kể cả đưa đi bác sĩ hoặc bệnh viện khi có người đau ốm.

Thông dịch viên ngoài tiền công thông dịch tính theo ngày, còn hưởng những công tác phí như taxi, ăn uống… y như chế độ dành cho công chức liên bang.

Bộ Ngoại Giao Mỹ đóng vai chủ nhà và các quan chức Hà Nội được đối xử như khách thăm. Bộ đã dặn dò các thông dịch viên rất cẩn thận khi “sống cùng” các khách thăm, ví dụ nếu có ăn chung thì không được để khách trả tiền mà phải đóng góp, ví dụ khi đi taxi chung thì thông dịch viên trả tiền-giữ biên lai-đòi lại bộ, ví dụ phải ứng xử ra sao khi khách yêu cầu dẫn đi ”vui vẻ tươi mát.”

Bộ cũng dặn dò các thông dịch viên ngoài chương trình làm việc và giải trí chính thức, hãy để cho khách thăm được tự do khám phá con người và đất nước Hoa Kỳ, nhất là bây giờ đã có Internet, cần gì cứ hỏi “bác Gúc” là ra ngay, thông dịch viên không nên đề nghị khách thăm đi ăn đi chơi chỗ này chỗ nọ, khiến khách có thể nghĩ rằng mình bị tuyên truyền, dàn dựng.

Ngoài chương trình làm việc chính thức, thông dịch viên không bắt buộc đi theo các quan chức Hà Nội khi họ đi shopping, có lẽ là vì muốn cho thông dịch viên khỏi bị ngộp khi thấy khách thăm từ Việt Nam móc những ông Franklin ra trả giống như ta đếm tiền lẻ. Nếu thông dịch viên được gọi là Việt Kiều thì đúng là bây giờ Việt Kiều làm chủ những ông Franklin không nhiều bằng Việt Cộng.
Người cộng sản có cách tuyên truyền theo kiểu cộng sản, người Mỹ cũng có cách tuyên truyền theo kiểu Mỹ. Vì thế Mỹ mới thua Việt Cộng?

Tuyên truyền kiểu Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, lấy thân người che lỗ châu mai… nếu đem áp dụng ở Mỹ sẽ bị lộ ngay, vì trình độ dân trí cao, anh xạo ke kiểu gì cũng không qua mặt được người nghe.
Tuyên truyền của Mỹ dựa theo nguyên tắc “một hình ảnh giá trị bằng ngàn lời nói” hoặc “trăm nghe không bằng một lần thấy.”

Anh cộng sản nói cho lắm vào về thế giới đại đồng, ba giòng thác cách mạng, thiên đường XHCN, ăn ngon mặc đẹp… cũng không thuyết phục bằng một chuyến đi thăm nước Mỹ.

Trong chuyến đi kéo dài hai ba tuần qua các thành phố lớn nhỏ, chủ nhà con cháu chú Sam sẽ cho các khách thăm con cháu bác Hồ thấy những cái xấu cái đẹp, cái hay cái dở của xứ cờ hoa để rồi con cháu bác Hồ tự đưa ra kết luận cho mình xem ai thắng ai, hoặc ai tốt hơn ai, cái nào là ưu việt.

Theo đúng lôgic của người cộng sản, sau chuyến đi như vậy, dù anh có ngu dốt, ngoan cố đến mấy đi nữa, anh cũng nhìn thấy sự thật nằm ở đâu. Anh đã thấy sự thật rồi nhưng cái cơ chế này không cho phép anh phát biểu công khai. Anh không dám phát biểu công khai nhưng anh có thể phát biểu với vợ anh, con anh, bạn thân anh… từ đó một đồn mười, mươi đồn trăm, chả cần bắc loa hò hét làm gì.
Xã hội XHCN vốn buộc người ta phải sống hai mặt, một mặt đưa ra ngoài xã hội, một mặt đưa ra với chính anh khi anh ngồi một mình.

Sài Gòn

Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng cung cấp thông dịch viên cho các cơ quan liên bang khác khi có nhu cầu.
Tháng 6 năm nay, bộ chỉ định tôi về Việt Nam làm cho Cơ quan Quản lý Thực phẩm Dược phẩm FDA. Tôi có nhiệm vụ đi cùng với Ted, một thanh tra của FDA cũng khởi hành từ DC, đến Sóc Trăng và Bạc Liêu để làm việc với hai doanh nghiệp xuất khẩu tôm sang Mỹ, mỗi nơi làm trong bốn ngày, tổng cọng tám ngày, cọng với hai ngày đi đường thành mười.

Phải mất bốn ngày mới thanh tra xong một doanh nghiệp vì công việc của một thanh tra FDA rất tỉ mỉ, chi tiết, khiến thông dịch viên cũng mệt theo.

Trong ngày đầu, Ted và tôi ngồi trong phòng họp của doanh nghiệp để đặt các câu hỏi mà doanh nghiệp xuất trình, kế tiếp là đi thăm chỗ sơ chế, rửa tôm, lựa tôm, bóc vỏ tôm, lưu giữ tôm… nếu thấy có vấn đề gì thì qua ngày thứ nhì, thứ ba, thứ tư; chúng tôi trở lại chỗ đó để kiểm tra nữa để xem đã giải quyết như đã hứa hay chưa.
Có những vấn đề có thể khắc phục ngay, có những vấn đề cần phải thời gian mới khắc phục được thì Ted sẽ ghi nhận để theo dõi, ghi nhận bằng camera, theo dõi bằng cách đến hẹn, doanh nghiệp phải chứng minh cho FDA thấy vấn đề đã được khắc phục. Nếu bằng chứng không đủ sức thuyết phục, FDA sẽ cho người qua kiểm tra lại.
Khi nói kiểm tra tỉ mỉ, chi tiết, ta có thể lấy ví dụ nước để rửa tôm phải là nước sạch và ở nhiệt độ thích hợp, thì Ted lôi ra các dụng cụ để đo đạc xem có sạch và đúng nhiệt độ không. Luật pháp Mỹ kỵ nhất là nhập tôm có dùng nhiều chất kháng sinh. Ted cũng có dụng cụ đo đạc để biết hàm lượng kháng sinh trong mẻ tôm đang kiểm tra là bao nhiêu.

Phòng chứa tôm đông lạnh thiếu ánh sáng cũng được yêu cầu mắc thêm đèn, vấn đề này thuộc loại có thể khắc phục ngay nên đến ngày kiểm tra cuối cùng vẫn chưa thay đổi thì Ted sẽ ghi báo cáo. Nếu bị báo cáo như vậy ở một mức nào đó, FDA, cụ thể là Ted, có thể đề nghị nhà nhập khẩu bên Mỹ không mua tôm của doanh nghiệp đó.

Kết quả thanh tra của FDA quan trọng ở chỗ chẳng những nó tác động vào các nhà nhập khẩu bên Mỹ mà các nước khác cũng dựa vào đó để mua hoặc không mua sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, bởi vì kết quả thanh tra được công bố trên trang mạng của FDA.
Môi trường lao động của công nhân cũng bị Ted để mắt tới. Ví dụ công nhân có đủ quần áo trang bị, giày ống cao su, khẩu trang, bao tay, mũ nón hay không. Khi đi kiểm tra, chúng tôi cũng phải trang bị y như công nhân vậy.

Thậm chí nhà vệ sinh của công nhân cũng bị soi. Chỗ đi tiêu đi tiểu này có được lau chùi định kỳ hay không, mỗi lần lau chùi có log và ký tên hay không, làm ơn cho xem cái log được không. Tại sao cái cần giựt nước này giựt được nhưng khi giựt không có nước, tại sao phòng đi tiêu này không có giấy đi cầu. Này, chị công nhân, mỗi lần đi vệ sinh xong chị có rửa tay không? Dạ có. Chị rửa tay thế nào chị làm ơn làm cho tôi coi coi… Chị cho hỏi, sếp có dặn chị mỗi lần rửa tay phải dùng xà bông không? Dạ có. Có nhưng tại sao tôi thấy chị không dùng? Dạ em quên. Ôi, những phụ nữ miền Tây chân chất, lập đi lập lại vài động tác giống nhau trong suốt ca làm để mỗi tháng nhận chưa tới 200 đô la.

Bạn hỏi tôi tại sao thanh tra của FDA khó khăn quá vậy, tôi chỉ có thể trả lời cái cơ chế nó là như thế. Thanh tra của FDA là một công chức liên bang, họ sống bằng lương chứ không bằng lậu. Nếu doanh nghiệp bạn làm đúng như những gì FDA yêu cầu thì bạn không cần lo lằng, bôi trơn gì cả.

Công chức hay tư chức Mỹ có tinh thần tự giác, có ý thức cao. Thanh tra FDA hiểu rằng công việc của họ quan trọng, liên quan đến sức khỏe của nhiều người, công việc của họ chịu sự giám sát của báo chí, của các tổ chức xã hội dân sự… cho nên nếu làm ẩu làm tả, ăn vào trúng độc là cả cơ quan mà họ đang phục vụ sẽ bị mang tiếng, phải trả lời đến nơi đến chốn trước pháp luật, chứ không được hạ cánh an toàn, nhận bản án bỏ túi, hoặc cứ câu giờ rồi để lâu hóa bùn, mọi chuyện rồi sẽ đi vào quên lãng.

Thông qua tôi, hai doanh nghiệp mà Ted đang thanh tra đã hơn một lần đề nghị quà tặng, phong bì nhưng lần nào Ted cũng từ chối.
Đi làm tại Sóc Trăng và Bạc Liêu thì Ted và tôi mỗi người mỗi ngày được 151 đô la tiền khách sạn và 98 đô la tiền ăn, dựa trên bảng công tác phí, tùy theo thành phố và quốc gia, mà chính phủ liên bang Hoa Kỳ đã quy định cho công chức mỗi khi đi công tác.

Khách sạn sang trọng nhất tại hai nơi này giá chưa bằng phân nửa giá cho phép trên bảng, nhưng chúng tôi không có quyền hưởng chỗ sai biệt, mà phải thanh toán trước bằng thẻ tín dụng và xin biên lai, sau khi công tác xong sẽ làm giấy tờ bồi hoàn.

Còn tiền ăn mỗi ngày được giao khoán, không cần phải chứng minh giấy tờ, lời ăn lỗ chịu, khi làm giấy tờ bồi hoàn sau công tác, chúng tôi cứ nhân mức giá mỗi ngày với số ngày đi làm thì nhà nước sẽ trả lại mà không một thắc mắc nào.

Trong thời gian ở Sóc Trăng và Bạc Liêu, Ted và tôi coi như không tốn đồng nào về ăn uống, vì ăn sáng đã có khách sạn bao gồm trong tiền phòng, ăn trưa và tối đã có doanh nghiệp bị thanh tra dành phần chi tiền. Trên nguyên tắc, chúng tôi không được để doanh nghiệp bị thanh tra trả tiền các bữa ăn, nhưng trong trường hợp này, nếu có ai thắc mắc, chúng tôi có thể du di bằng cách trả lời rằng, vì chúng tôi không phải là dân địa phương nên phải nhờ những người địa phương dẫn đi ăn cho nó lành.

Chuyến đi này, tôi xin ở lại Việt Nam thêm hai tuần sau khi xong công tác với FDA, cho nên trong hai tuần lễ về Sài Gòn, tôi có thể chi tiêu thoải mái với số tiền ăn mà nhà nước Mỹ cấp cho tôi nhưng tôi đã không dùng đến.

Ở Sài Gòn, tôi có quen với Hạnh, con một hạ sĩ quan làm cùng đơn vị với tôi trước 75. Hạnh năm nay trên 30, một phụ nữ có cá tính, đang làm cho một công ty nước ngoài. Nhan sắc Hạnh thuộc loại trên trung bình, ăn mặc rất lịch sự dù không phải hàng hiệu, nhưng có lẽ cá tính mạnh nên giờ này vẫn chưa lập gia đình. Hạnh nói thà ở vậy còn hơn rước phải ông chồng thiếu tư cách, tối ngày nhậu nhẹt, đánh vợ, xum xoe với thượng cấp.

Trong hai tuần ở Sài Gòn, ban ngày phải đi làm, Hạnh bảo chú tự mình đi thăm bạn bè bà con; còn buổi tối thì Hạnh sẽ tình nguyện chở chú đi ăn đi chơi những chỗ nào mà chú thích.

Thế là vào ban ngày tôi hay lang thang, thường là đi bộ, đi thăm những thằng bạn học, bạn lính, bạn tù còn sót lại, tà tà ở đường sách hoặc những nơi lúc còn trẻ có nhiều kỷ niệm. Tôi không muốn quay về khu nhà cũ vì bây giờ đã hoàn toàn thay đổi, các căn nhà mặt tiền đều do người gốc Bắc làm chủ, tôi sợ mình sẽ tủi thân như ông Hạ Tri Chương “Trẻ con trông thấy hững hờ; Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.”

Và hầu như mỗi tối, tôi chờ Hạnh đến đón tại khách sạn, đội mũ bảo hiểm nhảy phóc lên phía sau chiếc Vespa của Hạnh để được chở đi Saigon By Night.

Sinh hoạt buổi tối mà tôi thích nhất là đi xem kịch của nhóm Idecaf với cặp Thành Lộc và Hữu Châu, hai chàng quái kiệt diễn vai nào ra vai đó, thiện thì thật là thiện, mà ác thì thật là ác, luôn luôn tạo bất ngờ. Kịch của nhóm Idecaf theo tôi thú vị hơn kịch trước 75 của Kim Cương, Dân Nam hoặc Túy Hồng; nhất là kịch bây giờ được đi kèm bởi hệ thống âm thanh và sound effects rất tốt. Hai chàng phù thủy Thành Lộc và Hữu Châu mà châm biếm, móc méo những chuyện tiêu cực của chế độ thì khó có ai bắt bẻ, chụp mũ được.

Hạnh thích bolero thì tôi đề nghị đi nghe Lệ Quyên ở đường Lê Thánh Tôn, còn tôi thích nhạc ngoại quốc thập niên 60 và 70 nên rủ Hạnh lên sân thượng của Majestic và Rex nghe loại nhạc này vì đặc biệt có ban nhạc từ Philippines và Cuba.

Về ăn thì tôi đặt nguyên tắc với Hạnh là tìm đến những chỗ bình dân mà ngon, bụi bụi một chút cũng được, còn hơn là đến những chỗ sang trọng, nặng phần hình thức nghi lễ lỉnh kỉnh mà nhẹ phần nội dung.
Tối hôm đó, Hạnh và tôi chạy sang Thanh Đa ăn cháo vịt. Ở đây có hai “ông lớn”, được coi là những quán cháo vịt ngon và lâu đời, chỉ cần qua cầu Kinh, nhìn bên tay phải là thấy ngay. Cả hai đều nhận mình là quán gốc, giống như hai quán phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ.

Trước khi đến nơi, tôi nghĩ hai quán này chỉ là hai căn nhà nho nhỏ, bàn ghế xập xệ, có thể phải ngồi bệt ở ghế nhựa không chừng. Đến nơi mới biết mỗi quán chiếm hai ba căn nhà rộng rãi, bàn ghế thuộc loại gỗ chắc chắn, có chỗ dựa lưng.

Chúng tôi nhắm mắt vào đại một quán, quán nào cũng sạch sẽ, khách cũng đông, chỉ còn vài bàn trống phía bên trong. Người phục vụ dẫn Hạnh và tôi tới hai cái bàn vuông nhỏ được ghép lại thành một bàn lớn, mỗi bàn có 4 ghế, có nghĩa bàn đó dành cho 8 người, nhưng vì không còn bàn trống nên chúng tôi được ngồi trong một bàn, nhưng hai bàn vẫn được kê sát nhau.

Chúng tôi gọi gỏi vịt và cháo vịt, nước suối và trà đá.

Đánh giá cá nhân của tôi, thịt vịt ở quán này không được như mức tôi trông đợi, thịt nhạt nhạt, không có vị đặc biệt giúp ta phân biệt giữa gà và vịt, nước mắm gừng cũng không đạt yêu cầu. Đánh giá tổng quát, món này ở đây không ngon bằng DC, khoan nói đến Bolsa.
Hạnh và tôi ăn đâu được nửa phần thì một nhóm ba người đàn ông và một phụ nữ được người phục vụ dẫn đến một trong hai bàn ghép còn trống. Ba ông gần như giống nhau ở chỗ thân hình vạm vỡ, tối thiểu cũng bốn múi, tóc cắt sát, mặc áo thun đắt tiền có logo các đội bóng đá nổi tiếng của châu Âu. Cả ba đều xâm hình đầy người và nai nịt giây chuyền vàng sáng chói, đồng hồ loại xịn.

Cả ba có vẻ khúm núm trước người phụ nữ khoảng trên 40, ăn mặc đầm loại hàng hiệu nhưng thái độ của bà không thoải mái cho lắm, cho lẽ ít khi mặc đầm. Điểm nổi bật của bà này là khuôn mặt mà Hoàng Hải Thủy gọi là khuôn mặt của một người đàn ông không được đẹp trai cho lắm. Ngón tay nào của bà cũng đeo nhẫn và trên cổ là một sợi dây chuyền vàng, gọi là dây xích thì mới đúng, vì mắt xích rất to và dầy, nặng có đến cả kí.

Một ông tự động kéo hộp đựng chén đũa khăn giấy từ phía bàn tôi về phía họ. Một ông tự nhiên kéo hai chiếc ghế dư của bàn tôi đi chỗ khác để có thêm chỗ cho bàn của họ, vô tư xích thêm ghế của họ sang phía bàn chúng tôi, có nghĩa là bốn người bên họ chiếm một bàn rưỡi, Hạnh và tôi bây giờ chỉ còn nửa bàn.

Khi người phục vụ đến, họ gọi bốn ly đá không và hai đĩa lòng vịt để lai rai trước, khiến tôi cũng tiếc, lẽ ra lúc nãy mình cũng nên gọi đĩa lòng để thử xem sao.

Khi đã có lòng vịt và bốn ly đá trên bàn, một ông không hiểu móc ở đâu ra một chai Johnnie Walker nhãn xanh dương, lương thông dịch viên như tôi chỉ uống nhãn đen là cao. Một ông cung kính hai tay rót cho người phụ nữ trước, rồi cả bốn cụng ly dô dô một cách thoải mái, nói năng ồn ào.

Khi cần thêm khăn giấy, tôi chồm tay qua phía bàn bên kia để lấy thì nhận được những cặp mắt gầm gừ của những người đàn ông.
Chẳng mấy chốc, tôi có cảm giác họ đã bắt đầu chú ý đến Hạnh và tôi, họ đã hạ bớt giọng để nói về chúng tôi, hay là tôi nhột nên nghĩ như vậy?

Rồi chẳng hiểu sơ ý ra sao, một ông làm đổ ly rượu quý vào phía chén nước mắm gừng của Hạnh, rượu và đá tèm lem ra mặt bàn của Hạnh.

Anh chàng làm đổ rượu không thấy xin lỗi tiếng nào, chỉ gọi phục vụ này em ơi em ơi, cho anh nhờ cái.

Anh chàng đối diện cầm ly rượu đưa về phía Hạnh:
– Chào người đẹp. Để chuộc tội cho anh bạn của anh, anh đề nghị người đẹp dô với bọn anh một ly.

– Xin lỗi anh, tôi uống rượu không được.

Anh chàng xoay ly về phía tôi:

– Nếu vậy xin mời ông anh đây thay mặt cho người đẹp này uống hộ.
Tôi biết loại whisky của Scotland này hiếm quý, thơm ngon và đắt tiền; nhưng nguyên tắc của tôi là “rượu ngon phải có bạn hiền”, mà bạn hiền của tôi lúc này không có; hơn nữa, bộ tứ này làm cho tôi rơi vào hoàn cảnh rất khó xử, nên tôi chả có hứng thú gì để uống cả. Tôi bèn nêu một lý do rất phổ biến ở bên Mỹ:

– Cám ơn anh, tí nữa tôi phải lái xe nên có lẽ anh cho dịp khác.
Hạnh nhìn tôi thông cảm, vì biết tôi xạo. Cặp mắt của nàng còn ngụ ý nói tôi đừng chấp với mấy tay này. Nàng đứng dậy như muốn nói điều gì.

Anh chàng làm đổ rượu ngồi phía Hạnh cũng đứng lên và trách móc:

– Nhằm nhò gì ông anh ơi, làm một tí cho cho có khí thế để tối nay còn gặm cỏ non nữa chứ. Có phải vậy không người đẹp?

Âm thanh của từ “chứ” được kéo dài với ý mỉa mai, thích thú. Thì ra, bộ tứ này đang nghĩ tôi là một Việt kiều già về đây đi chơi với bồ nhí, chân dài. Họ nghĩ Hạnh là người lợi dụng mấy ông già Việt kiều để có tiền hoặc có vé đi Mỹ.

Chuyện đó không sao, có thể tha thứ được; nhưng chuyện tôi không thể tha thứ được là vừa nói xong “Có phải vậy không người đẹp?”, hắn lại vỗ vào mông Hạnh, khiến cho tôi lại rơi vào tình huống càng khó xử hơn nữa.

Trong cuộc đời, tôi đã mấy lần rơi vào hoàn cảnh tương tự. Những lúc đó, mình ước gì là Lý Tiểu Long hoặc Super Man hoặc có phép thần thông hô phong hoán vũ gì đó; nhưng thực tế không phải như vậy, những chuyện đó chỉ có trên xi nê, mình rút cục chỉ là một thằng bất lực, bó tay.

Giống như khi hàng chục tên trên chiếc tàu đánh cá lớn của Thái Lan đầu tóc bù xù, ăn mặc nhếch nhác, bôi phấn màu lên mặt dùng dao mác, súng ngắn hò hét uy hiếp chiếc ghe vượt biên của chúng tôi để bắt đi các phụ nữ lên tàu của chúng. Chúng tôi là những thằng đàn ông bất lực.

Giống như chúng tôi cũng bất lực nhìn cái đám cộng sản ăn hại, tàn phá cái đất nước này về đủ mọi mặt từ mấy chục năm qua.
Giữa lúc tôi bối rối, không biết nên xử trí như thế nào thì có tiếng la lớn:

– Ơ KÌA, ANH QUANG! ANH VÀO HÔM NÀO THẾ?

Washington, DC

Bạn hỏi tôi tại sao chính quyền liên bang Mỹ dùng tiền người dân đóng thuế để tổ chức những chuyến đi vô bổ như vậy cho các quan chức cộng sản?

Tôi không nghĩ là vô bổ, mà tôi nghĩ không bổ bề ngang cũng bổ bề dọc, không bổ nhiều cũng bổ ít.

Ngân sách của Bộ Ngoại Giao Mỹ đứng thứ nhì, chỉ thua Bộ Quốc Phòng, một bên sử dụng quyền lực mềm, một bên sử dụng quyền lực cứng, người nào việc nấy, có khi quyền lực mềm hiệu nghiệm hơn quyền lực cứng. Họ có nhiều tài nguyên, nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ được giao, ví dụ như gây ảnh hưởng đến quốc gia nào mà Mỹ muốn gây.

Đối với chế độ độc tài như Việt Nam, về mặt đường dài, thông qua chuyến đi hai ba tuần, tiếp xúc với nhiều thành phần, Mỹ muốn gieo vào đầu khách thăm những nguyên tắc chính của một nên kinh tế thị trường, tam quyền phân lập, đa đảng, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật… mặc dù những nguyên tắc này nếu bây giờ đem áp dụng ở Việt Nam thì không được, vì “không đúng quy trình”, hoặc vì “cái nước mình nó như thế”.

Cho dù Việt Nam do cộng sản hay không cộng sản cai trị, Mỹ vẫn muốn kéo Việt Nam về phía Mỹ, nhất là trong giai đoạn Mỹ có xung khắc với Tàu về vị trí lãnh đạo thế giới.

Chương trình mời khách đi thăm Mỹ hai ba tuần không những áp dụng cho Việt Nam mà còn cho các nước mà Mỹ thấy có lợi cho nước Mỹ. Cụ thể, Bộ Ngoại Giao Mỹ có nguyên một Vụ, trước 75 gọi là Nha, để tổ chức những chuyến đi như vậy. Vụ này có tên là Vụ đặc trách Văn hóa Giáo dục, nơi trực tiếp giao việc cho thông dịch viên.

Sau chuyến đi thực tế, được nhìn tân mắt nước Mỹ như thế nào, nếu khách thăm có “ấn tượng”, nôm na là nếu những người này phục Mỹ, sợ Mỹ thì coi như chương trình đã thành công.

Đối với những khách thăm “đặc biệt”, Vụ này có thể tổ chức những chuyến đi một mình với một thông dịch viên; do đó, nhóm thông dịch viên khoảng chục người chúng tôi có người đã có dịp “làm việc” với những vị mà sau này nhận mình là người buôn chổi đốt đến thối móng tay, hoặc người về sau đã vào Bộ Chính trị nhưng âm thầm biến mất vì một chứng bệnh mà quần chúng dân đen không rõ…

Đứng ở một khia cạnh khác, các chuyến đi như vậy cũng tạo thêm công ăn việc làm cho người Mỹ. Các hãng hàng không, các công ty cho thuê xe có tài xế, các khách sạn, nhà hàng, các nơi giải trí, và nhất là các khu shopping có dịp “ăn theo”, trong đó có cả… thông dịch viên.
Ngân sách các bộ đã được Quốc hội chuẩn chi cho mỗi tài khóa phải xài cho hết, hoặc phải giả vờ ra cái điều hơi bị thiếu; bằng không, qua tài khóa kế tiếp sẽ bị Quốc hội cắt bớt.

Nhân nói đến chuyện “ăn theo”, tôi có một kỷ niệm với một tài xế. Bộ Ngoại Giao Mỹ có hợp đồng với nhiều công ty cung cấp xe lớn nhỏ có tài xế để chở khách thăm. Bữa đó, tài xế lái chiếc xe mười mấy chỗ chở đoàn Việt Nam là một phụ nữ đứng tuổi.

Nhân dịp xe ngừng 20 phút để khách xuống đi bộ thăm đài tưởng niệm Jefferson, tôi nhờ anh bạn thông dịch đồng nghiệp một mình dẫn đoàn đi, vì tôi cần đi tiểu. Trở về lại xe, tôi có dịp tán gẫu với bà tài xế trong lúc chờ đoàn trở về.
Bà Pat cho biết đây là lần đầu tiên bà chở một nhóm người Việt. Sau khi biết tôi là người thuộc “bên thua cuộc”, bà mới thổ lộ, you biết hông, công ty của tao hôm nay cho tao rơi vào một hoàn cảnh trớ trêu. Tôi hỏi Pat bà nói vậy với ý gì?

Pat nói, you nghĩ coi, thằng em trai tao đi lính bên Việt Nam bị phục kích chết, thế mà hôm nay tao phải chở những thằng “assholes” đã giết em tao đi ngắm cảnh Washington thì thấy có đau không?
Tiếng chửi thề này nếu giảm nhẹ đi một tí thì có thể dịch là “chó đẻ”. Tôi nghe Pat nói như vậy cũng thấy nhột, bà nói cho bà hay nói cho tôi?

Bạn hỏi tôi chương trình khách thăm có bị lợi dụng, có bị sử dụng không đúng cách hay không?

Bạn cũng như tôi đều biết, giữa thế kỷ 21 này vẫn còn những chuyện “chỉ có ở Việt Nam”. Trên nguyên tắc, đại sứ quán Mỹ đã đặt ra một số điều kiện để tham gia các chuyến đi Mỹ này, ví dụ phải thuộc diện có kinh nghiệm trong ngành định đi, đang là hoặc có tiềm năng sẽ là cấp lãnh đạo; nhưng trên thực tế, không phải tất cả các điều kiện đó đều được đáp ứng.

Có những vị nhân cơ hội có vé máy bay miễn phí, ở lại thêm, đổi vé máy bay để đi thăm con đang học trung học hoặc đại học bên Mỹ.
Có những cô thư ký trẻ trung, mủm mỉm, được phong đại cho một chức vụ nào đó, kể ra một số thành tích ma nào đó để nhập vào đoàn, đi theo phục vụ riêng cho trưởng đoàn.

Có những vụ trưởng, cục trưởng sắp sửa nghỉ hưu, được thưởng một chuyến đi miễn phí, sang đến nơi chịu khó ngồi đồng mấy tiếng trong các buổi họp, sau đó là shopping mua đồ về xài hoặc tặng; những món này được xem là “có chất lượng”, vì là “hàng xách tay”.

Tại sao tôi biết những chuyện đó? Xin trả lời, một phần là do tình cờ hay đi lang thang trong khách sạn vào ban đêm sau khi ăn tối về, có khi là đến phòng tập thể dục để xả bớt stress thông dịch nhức đầu trong ngày; và một phần là do kinh nghiệm.

Thông thường trong một buổi họp, diễn giả người Mỹ nói thì thông dịch viên chúng tôi dịch cùng lúc qua micro là máy phát, và tai nghe là máy nhận. Sau khi nói và dịch xong là đến phần thảo luận hỏi đáp. Người không đủ tiêu chuẩn để đi với đoàn thường là những người hay ngủ gà ngủ gật hoặc chẳng bao giờ đặt câu hỏi, hoặc khi buộc vào thế phải đặt câu hỏi thì hỏi những câu thuộc loại “Trường Sơn đông Trường Sơn tây”, chẳng có ăn nhậu gì đến đề tài đang thảo luận cả.

Tại Vụ đặc trách Văn hóa Giáo dục, người gọi tôi đi theo đoàn thường là Brian. Có lần Brian nói với tôi, mình đã bảo với đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội hãy nói với phía Việt Nam là thành phần phái đoàn phải được trải đều ra, vừa có người ở trung ương, vừa có người ở địa phương, nhưng cuối cùng chỉ toàn người miền Bắc. Kỳ này, có một người giữ vị trí lãnh đạo ở Nha Trang, một ở Hậu Giang nhưng gốc của hai người này vẫn là gốc Bắc. Brian còn kết luận một câu xanh rờn: Việt Nam bây giờ đang ở thời kỳ người miền Bắc đô hộ miền Nam, chúng ta chỉ có bó tay.

Tôi nói với Brian, Trương Tấn Sang, Nguyễn Minh Triết va Nguyễn Tấn Dũng là người miền Nam đấy chứ; thì Brian trả lời, Sang gốc Hà Tĩnh, các tay còn lại đã bị Bắc hóa cả rồi.

Bạn hỏi tôi các quan chức cộng sản đối xử với thông dịch viên như tôi ra sao?

Trước tiên, họ gọi những người như tôi là phiên dịch thay vì thông dịch viên. Theo chỗ tôi biết, cấp bộ trưởng trở lên mỗi khi ra nước ngoài có quyền mang theo phiên dịch. Bên trong và bên ngoài các buổi họp, tôi thấy các quan chức này đối xử với các phiên dịch giống như một thư ký cao cấp, hoặc nôm na là một loại sai vặt.
Các quan chức của Mỹ thì phần lớn xem thông dịch viên là một chuyên viên, một người trợ giúp mình, nhất là người Mỹ rất lười hoc thêm một ngoại ngữ, cho nên nói chung, họ tôn trọng, đối xử rất lịch sự với thông dịch viên. Sau mỗi lần dịch, họ gửi thư cảm ơn là chuyện bình thường, cho dù chữ ký trong thư có thể là ký bằng máy.

Bạn hỏi tôi các quan chức cộng sản có đủ trình độ để tiêu hóa hết những gì người Mỹ nói trong các buổi họp hay không?

Sự giao thiệp, tương tác giữa đoàn quan chức và hai thông dịch viên lúc mới bắt đầu gặp nhau ở phi trường Dulles thì còn xa cách, bở ngỡ, ngại ngùng; nhưng càng gần đến ngày về lại Việt Nam, hai bên có dịp hiểu biết, thông cảm nhau hơn; mặc dù vẫn giữ một khoảng cách nhất định.

Trải qua hai ba tuần lễ với nhau, các quan chức cũng nhận ra thông dịch viên là những người có kiến thức, có phong cách riêng, làm đúng công việc chuyên môn được giao; thay vì là những công an văn hóa hoặc CIA được chính phủ Mỹ cử đi theo kềm kẹp mình.

Trong lúc họp với người Mỹ, trong đoàn có những thành viên rất hiểu những gì diễn giả nói, nhất là khi gặp đúng ngành nghề chuyên môn. Những người này thường thường ít đeo tai nghe, phần vì vốn tiếng Mỹ họ khá, phần vì họ muốn thử xem trình độ tiếng Anh của mình tới đâu.

Một trong những người thuộc loại này là Vinh, cấp vụ trưởng. Vinh có cảm tình với tôi và có những tối thường lấy cớ này cớ nọ để đến phòng tôi hoặc mời tôi đến phòng Vinh nói chuyện, trao đổi, tâm sự.
Mặc dù đậu thủ khoa ở trường Trung học Thái Bình và Đại học quốc gia Hà Nội, gia đình Tiến sĩ Vinh vẫn phải chạy cho Vinh có một chỗ trong sở rồi đến bộ, và từ từ kinh qua hơn 15 năm, trải qua nhiều cuộc đấu đá, bon chen, thủ đoạn, Vinh mới leo lên chức vụ trưởng, chủ yếu là nhờ có quan thầy vững chắc.

Vinh xác nhận muốn có tiền phải có quyền, thành thử phải chạy vào những vị trí có quyền thực sự thì mới ăn đậm. Nhờ vậy mà bây giờ Vinh cũng có nhà, có ô tô, có hai con tuổi teen, có thể đưa gia đình du lịch Bangkok, Singapore thoải mái; nhưng vợ vẫn phải đi làm.

Khi tôi hỏi đảng cộng sản đã đánh thắng được những đế quốc sừng sỏ, nhất là đế quốc Mỹ, vậy mà có cái nạn tham nhũng dẹp mãi không xong, thì Vinh gạt đi:

– Thôi anh ơi, thắng Mỹ là may mắn chứ có hay ho gì đâu, năm 1972, thằng Mỹ muốn bắt tay với Trung Quốc nên nhả miền Nam ra chứ nếu không thì còn lâu mới thắng.

Vinh cũng thừa nhận chống tham nhũng rất khó, nội cái chuyện kê khai tài sản cá nhân để phát hiện xem nhà cửa có bao nhiêu cái, nguốc gốc từ đâu ra mà cũng không dám làm thì chống thế nào.

Theo Vinh, các hình phạt dành cho tham nhũng quá nhẹ, cho nên các quan chức cứ tranh thủ tham nhũng càng nhiều càng tốt, tích lũy tối đa trước đã, bị phát hiện thì chạy để hạ cánh an toàn, chạy không xong thì sẵng sàng đi tù, vô tù thì chạy để được ăn uống sung sướng, sau vài năm ra tù hưởng thụ suốt mấy đời với số tài sản còn lại, đã được tẩu tán nhiều nơi.

Trước chiến dịch đốt lò hiện nay, Vinh nói chỉ hồi hộp thôi chứ không sợ vì “bề trên” của anh đang rất vững, hơn nữa, anh cũng thuộc loại cá bé, so với những con cá mập, ăn khủng.

Khi tôi hỏi có cách nào “thay đổi” tình hình hiện nay hay không,
Vinh nói chuyện thay đổi rất phức tạp, bởi vì mình phải nhìn nhận một thực tế như thế này anh à.

Sau 44 năm, chỉ có người miền Nam là thấy khổ, thấy luyến tiếc thời kỳ tạm gọi là dân chủ, văn minh trước “giải phóng”. Ngược lại, người miền Bắc cảm thấy đời sống họ bây giờ sướng hơn thời kỳ bao cấp, ăn độn, tem phiếu; họ cứ nghĩ rằng nhờ đảng cộng sản nên họ mới được như vậy, cho nên vẫn còn rất nhiều người miền Bắc ủng hộ đảng cộng sản, cám ơn bác Hồ; họ đâu biết phải có tiền của Việt kiều gửi về, có vay mượn của Ngân hàng Thế giới, có đầu tư FDI hoặc ODA của nước ngoài, đảng đã bắt chước một cách vụng về những gì mà chế độ miền Nam trước 75 đã làm, và nếu đã bắt chước thì giải phóng làm gì để đến nỗi hàng triệu người chết, trải qua 44 năm lòng người vẫn còn ly tán, cơ may hàn gắn bằng không.

Vinh còn nói, giả sử bây giờ có thay đổi chế độ, chính quyền mới sẽ đối mặt với hai vấn đề lớn, chưa chắc họ đã được đa số người dân ủng hộ, và hàng núi rác rưới do chế độ cũ để lại rất khó dọn dẹp, khắc phục.

Trong khoảng 10 năm tôi đi theo các đoàn quan chức, mỗi năm trung bình hai chuyến, tôi đã có dịp tiếp xúc với vài người hiếm hoi như Vinh.

Họ là những quan chức có hiểu biết, có nghiên cứu, đã dính chàm nhưng không thoát ra được vì cơ chế nó là như vậy, họ chỉ làm “đúng quy trình”, họ hiểu những khuyết điểm của chế độ nhưng không dám đứng lên kêu gọi thay đổi, sợ mất nồi cơm, sợ bị tù, sợ mang tiếng phản lại các bậc tiền bối đã cất nhắc họ, sợ đủ thứ. Họ thường sống hai mặt, ở nơi riêng tư với tôi họ có thái độ khác, ở chỗ có những người cùng đoàn họ chuyển sang vai cán bộ gương mẫu, nói vanh vách theo nghị quyết.

Người nào cũng đưa tôi danh thiếp hai mặt giống họ, một mặt tiếng Việt ghi đủ thứ học hàm học vị, mặt bên kia ghi tiếng Anh nhiều chỗ dịch rất ngây ngô. Họ ân cần dặn tôi khi nào về Việt Nam chỉ cần “nháy” một tiếng là họ sẽ lo cho tôi tất tần tật, có ông Hải quan còn bảo tôi, anh mang vào cả chục iPhone em cũng đảm bảo cho qua mà không mất xu thuế nào.

Tôi cũng ân cần nhận danh thiếp nhưng trong bụng nghĩ quan chức như các anh thời giờ là tiền bạc, lúc nào cũng bận rộn mánh mung, hơi đâu mà tiếp những thằng như tôi. Hơn nữa, nếu tôi có về Việt Nam, thời gian của tôi cũng không nhiều, đi thăm bà con, bạn bè, đi ăn uống, du lịch, tìm về những kỷ niệm cũ còn chưa đủ, huống chi tìm gặp các anh.

Ngày qua ngày, thời gian qua mau, tôi cũng quên đi những quan chức Việt Nam đặc biệt mà tôi đã đi cùng trong những chuyến công tác cho Bộ Ngoại Giao Mỹ.

Cho đến buổi tối khi tôi sắp sửa bị các ông xâm mình đầy người bắt nạt ở quán cháo vịt Thanh Đa.

Sài Gòn

Vâng, bạn đã đoán đúng. Người vừa lớn tiếng gọi tôi chính là Vinh. Và sự ngạc nhiên chẳng những đến với tôi mà còn đến với bốn người ngồi bàn bên cạnh Hạnh và tôi nữa. Có lẽ họ ngạc nhiên gấp mấy lần chúng tôi.

Vì câu chuyện đến đây đã khá dài nên tôi xin tóm tắt phần còn lại.
Vinh giới thiệu với bốn người kia tôi là “ông anh” ở bên Mỹ về chơi. Và trong vòng một nốt nhạc, tôi thấy thái độ của bốn người quay gắt 180 độ.

Chị Ba và ba đàn em có hẹn với Vinh tối nay tại đây để nhờ Vinh thu xếp cho một giấy phép khai thác gỗ ở miền Trung.

Sở dĩ phải hẹn ở một quán bình dân vì quán này có tiếng là ngon và đây mới chỉ là tăng một. Sau khi Vinh xác nhận giấy phép chắc chắn được ký thì sẽ có tăng hai ở một nơi hoành tráng.

Nhân tiện, chị Ba cũng xin lỗi tôi và Hạnh về sự “hiểu lầm” vừa rồi, xin anh chị bỏ qua và cho em được mời anh chị bữa ăn hôm nay, và sẵn dịp mời anh chị tham gia tăng hai với chúng em, có đủ mục từ A đến Zét. Giọng chị thuộc vùng Nghệ hay Quảng mà tôi nhận không ra.

Chẳng những nhóm chị Ba mời mà cả Vinh cũng nhiệt tình lôi kéo tôi tham gia tăng hai để “cho anh thấy cách ăn chơi ở Việt Nam có xịn hơn hơn bên Mỹ hay không.”

Tôi cũng thuộc loại thich trải nghiệm những chuyện mới lạ, mỗi năm vẫn theo lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma tìm đến “chỗ nào bạn chưa từng đặt chân đến”; tuy nhiên, chỉ trong một giây suy nghĩ, thứ nhất tôi phải đi cùng với Hạnh để Hạnh về đến nhà an toàn, thứ hai đây là một phi vụ hợp tác giữa xã hội đen và xã hội đỏ, tôi chẳng thuộc phe nào, có mặt tôi hai phe sẽ không thoải mái, mất tự nhiên, cho dù có JW Blue Label hay Macallan 25 năm, cộng thêm chân dài kế bên, tôi vẫn thấy bơ vơ, lạc lõng.

Tôi cám ơn chị Ba đã thanh toán bữa ăn và bịa với Vinh rất tiếc, tôi có chuyến bay về lại Mỹ quá khuya hôm nay.

Trên đường chở tôi về lại khách sạn, Hạnh nói xã hội bây giờ có câu nhất hậu duệ, nhì tiền tệ, ba quan hệ, rồi mới đến bốn trí tuệ; chú thuộc loại thứ ba nên thoát được trận đòn của đám giang hồ.

Tôi trả lời Hạnh nói bậy rồi, bốn tiêu chuẩn đó chỉ dành cho người trong cuộc; còn chú bây giờ là người ngoại đạo.

Cái cảm giác bất lực, bó tay lại đến với tôi, tôi không muốn nói ra với Hạnh, vì ngại có nói, thế hệ của Hạnh cũng không hiểu.

Hạnh chỉ nghe tôi nói, thật ra cũng may đấy chứ, Hạnh còn nhớ mới xảy ra vụ dân giang hồ xâm trổ đầy người bao vây công an ở Đồng Nai gì đó không? Ngay cả trung tá đại tá công an còn bị anh em giang hồ bao vây định tẩn cho một trận, huống chi một gả Việt kiều già và dở hơi như chú.

Châu Quang 

https://www.danchimviet.info/o-hai-dau-thanh-pho/07/2019/15584/

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ở Hai Đầu Thành Phố_Châu Quang

Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

co lai do

(HNPD): Ngày kia, một Thiền sư phải qua sông. Vị Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp. Ngày kia, một Thiền sư phải qua sông. Vị Sư bước lên một chiếc đò của một cô lái đò xinh đẹp.Sau khi thuyền cặp bến, cô lái đò thu tiền từng người như bình thường, chỉ trừ nhà sư bị cô lái đò đòi tiền “gấp đôi.”Nhà Sư ngạc nhiên hỏi vì sao? Cô lái đò mỉm cười: “Thưa Thầy, vì Thầy đã nhìn em…”Nhà sư lặng lẽ trả tiền và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy cô lái đòi tiền “gấp ba.” Nhà sư ngạc nhiên lại hỏi vì sao? Cô lái đò cười bảo:“Thưa Thầy, Thầy đã nhìn em dưới nước.” Nhà sư nín lặng trả tiền “gấp ba” giá bình thường, và bước lên bờ.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Vừa bước lên đò nhà sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định. Đò cập bến cô lái đò thu tiền “gấp năm” lần. Nhà sư ngạc nhiên, lại hỏi vì sao? Cô lái đò cười, đáp:“Thưa Thầy, Thầy không nhìn em, nhưng còn nghĩ đến em.” Lặng lẽ, nhà sư trả tiền gấp năm lần giá bình thường.

Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần nầy nhà sư nhìn thẳng vào cô lái đò…Đò cập bến, nhà sư cười hỏi: “Lần nầy tôi phải trả bao nhiêu?” Cô lái đò đáp: “Em xin đưa Thầy qua sông, không thu tiền.”Thiền sư hỏi: “Vì sao?” Cô lái đò cười và đáp: “Thầy đã nhìn em mà không còn nghĩ gì tới hình ảnh em nữa… Do vậy em xin đưa Thầy qua sông mà thôi không lấy tiền…” …

(Chú ý: Chưa hết!  Xin xem thêm lời bàn và các lời kết bên dưới) _______

Lời bàn  Sau đây là 3 lời bàn (“comments”) trên mạng mà tôi thấy cũng   hay:

(1)- Tiếp cảnh sinh tư tình, rồi hành ý lãng tránh đều đã có dính mắc chấp giữ. Nhìn thẳng thấy rõ đúng như thực, bất khởi vọng niệm…

(2)- Đó thấy không?! Dzậy mà mấy bà cứ chửi mấy ông là “cứ thấy gái đẹp là tươm tướp, tươm tướp…”  nhưng thật ra đám lão nông chúng tôi là những người đã đắc đạo từ lâu rồi (?!): Chỉ nhìn mà không nghĩ gì cả (vì có nghĩ cũng chẳng được chi mà lại càng thêm tức… vì đã hết xí quách hết dzồi còn gì!!!)

(3)- Nói một cách khác, mọi sự từ TÂM mà ra, sống ở đời chỉ có chữ TÂM là đáng quý! Theo thiển ý của bỉ nhân, cô lái đò là hóa thân của một vị giác ngộ muốn dạy cho chúng ta một bài Pháp. Nhà sư gặp cô lái đò 4 lần:– Lần 1 bị trả tiền gấp 2 vì nhìn cô gái với tâm phàm (ham muốn).- Lần 2 bị trả tiền gấp 3 vì không dám nhìn thẳng, mà liếc bóng cô gái dưới nước. – Lần 3 bị trả tiền gấp 5 vì giả bộ nhắm mắt ngồi thiền nhưng vẫn tơ tưởng đến cô gái.- Lần 4 không phải trả tiền vì mặc dù nhìn thẳng cô gái nhưng tâm không bị dính mắc bởi những ý nghĩ xấu: Nhìn mà như không nhìn vậy! Trong Đạo Phật, có những câu nghe qua có vẻ nghịch lý nhưng rất thâm thúy như: – Giúp mà như không giúp, thế mới thật là  giúp.- Nhẫn mà như không nhẫn, thế mới thật là nhẫn.- Thương mà như không thương, thế mới thật là thương…________

Lời kết (Hai đoạn kết ngắn được Bác Mao Tôn Cương… Ẩu viết thêm vào phần cuối của câu chuyện “Thiền Sư và Cô Lái Đò” ở trên để gọi là góp… gió độc):

Lời kết số 1 viết thêm như sau: Một hôm nhà sư lại qua sông. Lần này cô lái đò không những không lấy tiền mà còn xin được đi theo hầu.Nhà sư hỏi: “Vì sao?”Cô lái đò đáp:”Thầy không những nhìn em, mà còn nhìn vào giữa hai chân em, một cách đường đường chính chính, không úp mở, không én lút. Đấy gọi là an nhiên trực diện với cái thực thể uyên nguyên, chứ không giả điếc không nghe, giả mù không thấy, giả ngu không hiểu. Tâm thức này chỉ thấy ở những bậc đại chân tu đã đạt đến cảnh giới thượng thừa. Nên em bội phần khâm phục, muốn được theo thầy học đạo.”Nhà sư trầm tư một lúc rồi thong thả đáp:”Quả là ta đã nhìn vào giữa hai chân cô. Ta cứ tưởng tâm mình đã hoàn toàn tĩnh lặng, không ngờ tâm ta lại ba đào nổi sóng. Thế mới biết còn lâu lắm ta mới có thể đạt đến cái cảnh giới thượng thừa mà cô mong đợi. Ta đã phụ lòng cô, thật đáng tiếc!”Cô lái đò suy nghĩ một lúc rồi ngập ngừng:”Nhưng em… vẫn muốn… theo thầy.Nhà sư hỏi: “Vì sao?”Cô lái đò đáp:”Trước em tưởng thầy là bậc chân tu nên xin được theo để học đạo. Nay em biết thầy là kẻ chân tình nên xin được theo để nâng khăn sửa túi.”Nhà sư chắp tay:”Thiện tai! Thiện tai!” *

Lời kết số 2 viết thêm như sau: Một thời gian sau, những người thường qua đò không còn thấy cô lái đò nữa mà lại có người đàn ông lái đò…  nhìn kỹ ra thì chính là ông Thiền sư ngày nào!Có người khách cắc cớ hỏi:“Thế cô lái đò đâu rồi Thầy?”Nhà Sư (?) trả lời:“Cô ấy đi lấy chồng dzồi.”“Mà cổ ấy lấy ai dzậy hà?”“Thì cổ ấy lấy… tui… Chứ còn lấy ai!”“Trời đất!”

Trần Văn Giang (ghi lại và viết thêm)

Nguồn:https://cdhanqk.com/index.php/menu-phatphap-bskhoang/174-thia-n-s-va-ca-la-i-a

Phụ bản Anh ngữ:

A ZEN MONK AND A FERRYWOMAN Translated into English by Nguyen Giac: “One day a Zen monk had to cross a river. He went over a ferryboat which was rowed by a beautiful woman.After the boat reached the other shore, the ferrywoman collected the normal fares from all passengers except the monk, who was asked to pay double.The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, because you gazed at me.”Silently, the monk paid double the normal fare and stepped onto the river shore.One day the monk had to cross the river again. This time the ferrywoman asked for triple the normal fare.The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, you gazed at my underwater reflection.”Silently, the monk paid triple the normal fare and stepped onto the river shore.One day the monk had to cross the river again. After boarding the ferryboat, the monk closed his eyes and sat in meditation.This time the ferrywoman asked for five times the normal fare. The monk was surprised and asked why.With a smile, the ferrywoman said, “Dear Venerable, you didn’t gaze at me, but you thought of me.”Silently, the monk paid five times the normal fare.One day the monk had to cross the river again. This time, the monk looked at her in the eyes.After the ferryboat reached the shore, the monk smiled and asked how much the fare was.The ferrywoman replied that the monk should pay nothing.The monk asked why.The ferrywoman smiled and said, “You looked at me, and cling not to any image. Thus, I carry you to the other shore for free.”

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thiền Sư và Cô Lái Đò – Trần Văn Giang

Tự chuyển biến, tự chuyển hóa_Lính Dù (HNPĐ)

(HNPĐ): Tự chuyển biến, tự chuyển hóa” ở đây không phải là chuyện của cái nhà nước CHXHCN của Việt cộng, mà chúng nó hằng đang lo sợ điều này, đã luôn đề cao cảnh giác, học tập, kiểm soát, canh chừng rất kỷ trong nội bộ, để ngăn chặn sự diễn biến từ trong trứng nước….

… Mà đây là chuyện khởi đầu của một số dân cử gốc Việt trong dòng chính thuộc “băng Bố Già Trần Thái Văn”, mà trước đây họ luôn hiện diện tung hê chống cộng náo nhiệt vang trời rất được điểm trong các dịp sinh hoạt của các cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể chính trị, tôn giáo của người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản… Chính nhờ thế mà họ có được lá phiếu để bước vào dòng chính trị Hoa Kỳ. Thế rồi, qua thời gian, tình thế đổi thay, Việt cộng ngày nay không còn là dép râu nón cối với “Đồng, Đài, Đạp, Honda” nữa mà đã trở nên những “Tư bản Đỏ” kếch sù hằng triệu, tỷ Dollars với quyền thế tuyệt đối trên 90 triệu dân Việt đang lầm than khốn khổ.

Các vị dân cử này nhìn về VN theo hướng của chính quyền Mỹ là … “miễn sao có lợi”, nhất là có lợi cho phe nhóm, cho bản thân. buộc họ phải… “tự chuyển biến, tự chuyển hóa”

Trong sinh hoạt chính trị của khối người Việt Quốc Gia, một điều có thể xác định rõ ràng là: cho đến nay, không có bất kỳ một vị Dân Cử gốc Việt nào đi vào được dòng chính của chính trường Mỹ mà không phải nhờ đến lá phiếu mang tính quyết định tích cực của cộng đồng Người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản. Đó như là chân lý, là sức mạnh thực sự của đại khối đồng bào Việt Nam tỵ nạn cộng sản trên khắp thế giới. Thành quả do “sức mạnh lá phiếu đoàn kết” của mình không phải để tự mãn, tự sướng, kiêu hãnh suông với những “đứa con cưng” tinh thần của mình nay là “ông nhà nước” là thị trưởng, là nghị viên, là ông bà Hội Đồng này nọ trong chính trường Hoa Kỳ….. “tuổi trẻ nó giỏi hơn mình, hậu sinh Khả Úy” được làm ông trời con, rồi buông xuôi cho nó làm gì thì làm, một mực nuông chiều !!! thế là hỏng !!!

Ông chủ tịch HĐ Giáo Dục Garden Grove Nguyễn Quốc Lân từng nói trong một chương trình YouTube THP. rằng các tổ chức gọi là cộng đồng, hội đoàn, này nọ của người Việt ở đây là những tổ chức tư nhân vô vụ lợi, chỉ có năm ba người hoặc nhiều lắm vài chục người không có một giá trị gì cả. !!!

Kinh nghiệm, chính trường Hoa Kỳ, thể hiện qua các vị dân cử mỗi khi đã được vào dòng chính, thì sẽ không bao giờ có chuyện luôn đồng hành với tinh thần, ý chí chống cộng của đồng bào tị nạn cộng sản đã bầu họ lên đâu, nếu có chẳng qua là hình thức xum xoe xu nịnh nhất thời đế lấy phiếu hoặc trong từng giai đoạn phù hợp nào dó, từng sự kiện phù hợp nào đó, hoặc mỗi khi thấy có lợi về chính trị, kinh tế chung …và…. ngay cả có lợi cho phe nhóm cũng như cá nhân bản thân, gia đình của họ mà thôi. Hoàn toàn không còn lý tưởng chống cộng gì ở nơi họ nữa. Đồng bào tỵ nạn đừng có cả tin trông chờ để rồi sẽ phải thất vọng ê chề.

Trước đây khi VN chưa có bang giao với Mỹ, Việt cộng còn nghèo đói, chưa có “Tư bản Đỏ” thì các vị dân cử luôn ôm cứng tinh thần chống cộng cùng đồng bào tỵ nạn là cái nôi đã “đẻ” ra họ để tồn tại và vươn lên trong dòng chính Hoa Kỳ, chứ nếu liên hệ với VC trong nước thời đó để mà ăn Bo Bo hay sao !!!…mấy đứa xướng ca như Khánh Ly, Thanh Tuyền, Chế Linh… còn nhận biết cái khôn vặt nầy huống chi là các ngài thị trưởng, nghị viên… ta.

Nhưng nay thì khác rồi, Việt cọng nó đã thành “tư bản đỏ”, nếu nó không mua ai đó được bằng nước bọt tuyên truyền như khi xưa hoặc …bằng tiền còm … thì nay nó sẽ mua được bằng… rất nhiều tiền, dễ dàng đánh tráo khái niệm bằng mọi mưu ma chước quỷ khôn lường.

Các vị dân cử gốc Việt do quyền thế chính trị dòng chính, nay có thêm được nguồn mối lợi rất hấp dẫn từ VN. Biết thế, Việt cộng đã và đang sử dụng ma lực kim tiền để mua cho bằng được với bất cứ giá nào !!!

Bởi vậy các Ngài dân cử trong băng “Bố Già Vĩ Đại” Trần Thái Văn đã và đang âm thầm “khẩn trương” tự chuyển biến, tự chuyển hóa như con bạch tuột đang đổi màu rình mồi mà một số đông đồng bào tị nạn không hề hay biết.

Diễn tiến……..

Không biết âm mưu manh nha hoạch định rồi đến hành động bí mật “tự chuyển biến, tự chuyển hóa” khởi sự từ lúc nào, nhưng… hội chứng đã lộ ra kể từ khi NV Tyler Diệp được tái cử vào HĐ TP Westminster, ông nầy ma-lanh nhất đám, khi đã bẻ lái được nàng NV Protegee Kimberly Hồ, một mình đã đưa ra đề mục (nay thì không được, vì thị trưởng Trí Tạ sau khi xảy ra vụ “Hai Phượng” đã ra nghị quyết phải có 3 người mới được đưa ra một đề mục để bàn thảo trong nghị trường theo chỉ thị phải đạt cho bằng được con “số 3” của thầy dùi Trần Thái Văn) tăng nhiệm kỳ của thị trưởng từ 2 năm lên 4 năm, đương nhiên với bộ ba “Diệp,Tạ, Hồ” đánh bại Margie Rice và Sergio Contreras dễ dàng để đưa ra nghị quyết ghi đề mục trong lá phiếu phổ thông. Trong cuộc tổng tuyên cử giữa kỳ năm 2018, đồng bào tỵ nạn lúc này rất yêu mến “con cưng Tạ Trí”, đã dồn phiếu ủng hộ, nhờ thế nghị quyết tăng nhiệm kỳ thị trưởng từ 2 năm lên 4 năm của TP Westminster đã thành Đạo Luật. ..Tạ Đức Trí là thị trưởng nhiệm kỳ 4 năm đầu tiên của TP Westminster, bà cựu thị trưởng Rice than trời như bọng….

https://www.youtube.com/watch?v=SXKyVBBU16E

Từ lúc nào…. Nghị viên Tyler Diệp, nay là dân biểu tiểu bang California đã hùn vốn làm ăn (kiêm bình luận gia) với VietfaceTV do Marie Tô Ngọc Thủy làm Tổng giám đốc kiêm Giám đốc ParisBynight con gái rượu của Tô văn Lai ?

Từ lúc nào… trạng cải kiêm Giám đốc học chánh TP Garden Grove Nguyễn Quốc Lân làm cố vấn chính trị cho VietFace TV, và đài nầy đã thông đồng làm ăn trao đổi văn hóa kiểu “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”, rồi kinh tế, tài chánh với đài Truyền hình Việt cộng Vĩnh Long TV trong nước do tư bản đỏ Việt cộng Lê quang Nguyên làm giám đốc ?

Từ lúc nào… con gái của VC Lê Quang Nguyên là Lê Hồng Hạnh nay làm phụ tá TGĐ VietFace TV tại Mỹ, là Boss của dân biểu Tyler Diệp và ông chủ tịch HĐ giáo dục Nguyễn Quốc Lân….. Nghe nói cha con đảng viên VC Lê Quang Nguyên có thị phần rất lớn trong VietFace TV.!!!

Ngày 1-1- 2018, qua trung gian kiều nữ Kiều Chinh, ngài thị trưởng Westminster Trí Tạ cùng phu nhân ký hợp đồng hợp tác kinh doanh sản xuất phim ảnh (lại ..văn hóa) thực hiện trong nước qua Alan Vo Ford thay mặt diễn viên Ngô Thanh Vân…..(lúc nầy còn bí mật, chua ai biết …)

Một năm sau, … đầu tháng 3-2019, phim Hai Phượng được chiếu ở Orange County, nhiều người VN đi xem khen phim đánh đấm hay, xã hội loạn lạc, bắt cóc buôn người, cảnh công an chìm, nổi triệt phá băng đảng tội phạm hấp dẫn…. đạo diễn Hai Phượng Lê văn Kiệt được Victoria Tố Uyên phỏng vấn trên SBTN, Ngô thanh Vân được ca ngợi đến trời xanh…

Thế rồi, đùng một cái…!!! trên 30 tờ báo Việt Cọng trong nước đồng loạt đưa tin, với hình ảnh chụp buổi lễ ngày 5-3-2019 tại văn phòng thị trưởng, Ngài thị trưởng TP Westminster đã ưu ái giới thiệu văn hóa phẩm Việt Nam ra với thế giới bằng việc trao tặng Nghị Quyết của TP Westminster vinh danh Ngô Thanh Vân diễn viên chính phim hành động “Hai Phượng” được ban Tuyên giáo TW, Bộ Thông Tin và Truyền Thông VC, đặc biệt bộ Công An giúp cố vấn kịch bản cũng như dàn dựng.

Sau này, qua những messages trao đổi trên T- Mobile phone với hình ảnh rõ ràng đầy đủ giữa những người ký hợp đồng làm phim, cũng như sự công khai nói về hợp dồng làm phim Hai Phương của Alan Vo Ford trong một sinh hoat sân khấu vào tháng 6/2018, chứng tỏ Tạ Trí và vợ có ký kết trong hợp đồng làm phim nầy.

Phim “Hai Phượng” với số vốn ban đầu xấp xỉ 2 trăm ngàn Dollars,

Nay sau sáu tháng từ khi ra mắt đến nay, doanh thu tính cả trong nước và hải ngoại đã lên trên 10 triệu Dollars.

Đồng bào người Việt Quốc gia Nam Cali ngơ ngác… bàng hoàng….

Thủ đô tỵ nạn Little Saigon, từ vĩa hè đường phố đến cafee terrasse, nhà hàng quán phở đâu đâu cũng âu sầu khi nói đến “Ngài Thị Trưởng Đổi Màu”.

Tối thứ Tư,13 -3-2019, HĐ Thành Phố Westminster với “Tam Đầu Chế” Trí Tạ, Kimberly Ho, Charlie Nguyễn đã thông qua 3/5 nghị quyết công nhận tháng Tư là tháng Người Mỹ gốc Việt, (không còn Tháng tư Đen nữa như thường được gọi trong hơn 40 năm nay). Tuy nhiên bị người dân phản ứng dữ dội, có thể diễn ra biểu tình phản đối, do đó trong phiên họp ngày 16-3-2019 HĐ TP đã biểu quyết hủy bỏ NQ tháng Tư là tháng Người Mỹ gốc Việt, và sau đó NV kimberly Hồ đề Nghị tu chính là tháng Tư Đen. Ông Bettenhausen nói:

– “Vì đây là cuộc họp bất thường, không phải họp thường kỳ, nên chúng ta không tu chính được.

Thị trưởng Trí Tạ nói:

– “Chúng ta không thể làm được hôm nay. Chúng ta sẽ đưa vụ này vào nghị trình cuộc họp kỳ tới để điều chỉnh lại.”

… tuy nhiên cho đến nay HĐTP chưa đưa ra được một nghị quyết chính thức để đặt tên cho tháng Tư. như đã hứa.

Đầu tháng Tư 2019, Cộng Đồng Người Việt QG Nam Cali, cùng các hội đoàn Dân Quân Cán Chính VNCH đang chuẩn bị cho lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30-4-2019 tại Tượng Đài CS Việt Mỹ, như bao năm nay thì…

… ngày 18-4-2019, các dân cử gồm có : thị trưởng Trí Tạ, P. thị trưởng Kimberly Hồ, NV Charlie Nguyễn, Chủ tịch HĐ GD Garden Grove Nguyễn Quốc Lân, Chủ tịch HĐGS Quận Cam Andrew Đỗ, NV Michael Võ họp báo công bố quyết định tổ chức khẩn cấp lễ Tưởng niệm Ngày 30-4. tại Parking lot tuần báo VietMy của David Võ chỉ cách tượng đài Việt Mỹ 300 mét, cùng ngày cùng giờ với buổi lễ bên tượng đài CS Việt Mỹ.

https://vietmynewspaper.com/2019/05/04/nhom-dan-cu-orange-county-to-chuc-tuong-niem-30-thang-tu-den/

(Đố quí vị tìm ra được cụm từ “NGÀY QUỐC HẬN” Trong bản tin buổi họp báo trên báo ViệtMỸ của David Vo)

Một điểm khác nhau đặc biệt về tên gọi buổi lễ:

– Buổi lễ bên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ có tên là: Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4-1975.

(https://www.youtube.com/watch?v=7V0Lo58k3EI&t=1204s)

– Bên parking lot báo ViệtMy của các dân cử được gọi là: Lễ Tưởng Niệm ngày 30 tháng tư Đen


https://www.youtube.com/watch?v=q-WUj2GbVqc

(đố quí vị tìm ra được cụm từ “NGÀY QUỐC HẬN” từ cửa miệng của các Dân cử như thị trưởng Tạ Đức Trí, GSV. Andrew Đỗ, LS Trần Thái Văn…..ngay cả MC Minh Phượng, -lạ lùng quá thưa quí vị !!!)

Khi lần lượt hệ thống lại những sự kiện trực tiếp cũng như gián tiếp, ngôn từ rồi sau cùng tổ chức một buổi lễ gọi là “Lễ tưởng niệm 30 tháng Tư Đen” chỉ cách 300 mét, cùng ngày cùng giờ Buổi lễ Tưởng Niệm Quốc Hận hằng năm được phối hợp tổ chức bởi các hội đoàn Quân, Dân Cán Chính VNCH và Cộng Đồng Người Việt QG Nam Cali. hậu duệ… thì ai cũng thấy rằng :

Những người một thời là “con yêu” của cộng đồng người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Orange County, một lòng nâng niu, một lòng gom hết toàn lực lá phiếu cho họ để họ vào chính trường Hoa Kỳ, rồi nay họ trở mặt, công khai chống đối lại vì những viên gạch lót đường cho họ đi lên: cộng đồng, các hội đoàn, đoàn thể Người Việt Quốc Gia chống cộng, nay ngẫu nhiên là vật cản khiến họ phải đạp bỏ trên con đường hướng về bên kia đã và đang dể dàng tạo cơ hội có được vinh thân phì da, họ chơi kiểu Mỹ mà !

Việt cộng gọi kiểu này là: “tự chuyển biến, tự chuyển hóa”
https://www.youtube.com/watch?v=uoI-NL5KBQs

Cơn mê Chiều

Lính Dù

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tự chuyển biến, tự chuyển hóa_Lính Dù (HNPĐ)

Ủng hộ Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông

GS Nguyễn Văn Canh, một người Thầy khả kính của LL/CSQG, đã dành nhiều tâm huyết cho “Dự Luật Trừng Phạt Biển Đông S.1634” đã và đang được Thượng Viện HK chuẩn bị biểu quyết. Dự Luật có nhiều triển vọng sẽ được Thượng Viện chuẩn thuận và chuyển xuống Hạ Viện để biểu quyết.
Vì Dự Luật có liên hệ đặc biệt đến Việt Nam, nên theo đề nghị của GS Nguyễn Văn Canh, chúng ta cần vận động các vị dân biểu, nghị sĩ trong địa hạt của mình ủng hộ Dự Luật này bằng cách gởi thư (qua email) tới họ theo nội dung như mẫu thư dưới đây để yêu cầu họ vote “Yes” cho Dự Luật:

From: (Email của người gởi)

To: (Email của dân biểu liên bang trong đơn vị của người gởi)

· Subject: South China Sea and East China Sea Sanctions Act of 2019

· Message Body: 
I would like for you to support “The East China Sea and South China Sea Sanctions Act of 2019”. “Vote for it” means you contribute to stability in the region, also show that the USA is the only power that can maintain order  and security for the world.”
We believe that S.1634 – 116th Congress is a need for our country, and respectfully ask you to vote ‘Yes’ on it.

Sincerely,
(Tên và địa chỉ của người gởi

Thí dụ: Nguyễn Văn X.

            12345 ABC Street, OPQ City, Zip#……….)
Quý NT và C/H chỉ cần gởi thư tới các dân biểu trong đơn vị của mình. Để biết, tên dân biểu và gởi email tới vị đó, quý vị có thể vào website sau đây :

https://results.org/volunteers/action-center/legislator-lookup/?vvsrc=%2fAddress

Sau đó, click vào tên vị dân biểu liên bang của đơn vị mình rồi click vào ô “Compose Your Message” và điền các chi tiết như mẫu thư ở trên rồi gởi đi.

Rất mong quý NT và quý C/H hưởng ứng.

Thân kính,

NĐT

Sample Letter copy

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | 2 bình luận

Thư Cám Ơn & Biên Nhận của ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH Kỳ 12 do Hội H.O Cứu Trợ TPB/QP/VNCH tổ chức đã diễn ra ở Little Saigon (Nam CA) ngày 21/7/2019 vừa qua. Trong số các ân nhân đã đóng góp để gây quỹ giúp các TPB và Quả Phụ VNCH còn ở trong nước có sự đóng góp của nhiều AC K1-HVCSQG. Tổng cộng số tiền K1 đã quyên góp được là $7.700 USD, trong đó riêng Quỹ K1 đã ủng hộ $500 USD; toàn bộ số tiền đã chuyển tới BTC trong ngày ĐNH.

Dưới đây là phóng ảnh Thư Cám Ơn và Biên Nhận của Hội H.O…. gởi tới Ban Đại Diện K1:Thu-cam-on-DNH-COA k-12

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Cám Ơn & Biên Nhận của ĐNH Cám Ơn Anh Kỳ 12

Hồn Sách Cũ_St

HỒN SÁCH CŨ

Đối với những người đang ở độ tuổi “ cố lai hy”, những cuốn sách như Quốc văn giáo khoa thư, Tâm hồn cao thượng, Thơ ngụ ngôn La Fontaine một thời đã là những cuốn sách “gối đầu giường ”. Đó như là những người bạn thân, đã gắn bó suốt khoảng thời gian thơ ấu của họ…

      Quốc văn giáo khoa thư là sách giáo khoa, vì thế rất gần gủi với nhiều thế hệ.học trò khắp mọi miền đất nước vào khoảng nửa thế kỷ trước. Thuở đó, ai cũng thuộc nằm lòng các câu văn thật giản dị, gần gủi  như  “Xuân đi học coi người hớn hở”, hay “cậu Thu đi ở giữa đường”. Ai cũng nhớ mãi hình ảnh cậu bé “ngất nghểu trên mình trâu”, hay hình ảnh cụ già hì hục khuân tảng đá, hoặc như vẫn còn nghe được tiếng ru của bà trong  buổi trưa “trời nắng chang chang, gió im phăng phắc”….

      Cũng nhờ  Quốc Văn Giáo Khoa Thư, tuổi học trò hồi đó mới biết được những mẫu chuyện bên Trung Quốc như thầy Tử Lộ đội gạo nuôi song thân, ông Lý Tích nấu cháo cho chị mà bị cháy râu, ông Lưu Khoan tha thứ cho người nữ tỳ đổ cháo lên áo ông, rồi cả chuyện bên trời Tây như ông Carnot trở lại trường xưa thăm thầy cũ; những gương hiếu học như Chàng Thừa Cung chăn lợn qua trường học, ông Châu Trí ở tại chùa Long Tuyền đốt lá đa làm đèn…Tất cả những nhân vật quen thuộc của “một thời giáo khoa thư” đều là những gương tốt, đôn hậu, thật thà, thương yêu, nhân ái với một ý tưởng luôn luôn nghĩ đến người khác.

      Quốc Văn Giáo Khoa Thư cũng chứa đựng nhiều vần thơ lục bát, mỗi bài chỉ có từ sáu đến mười câu nhưng chan chứa ý nghĩa thâm sâu, vần điệu ngọt ngào như những lời ru, nhiều câu đã trở thành những “thành ngữ” phù hợp với những chuyện thường xẩy ra trong đời thường. Ai cũng đã nghe và thuộc những câu “chốn quê hương đẹp hơn cả”, “ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”..

      Một cuốn sách khác tuy là phát xuất từ Tây phương, nhưng đã gây ấn tượng mạnh trong tâm hồn của những học cô cậu học trò thời đó, đó là  cuốn Tâm hồn cao thượng do ông Hà Mai Anh dịch từ cuốn Grand Coeur của Edmond De Amicis (1846-1908).  

 Những câu văn thật nhẹ nhàng như  “Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè trôi qua như một giấc mộng. Sáng nay mẹ tôi đưa tôi vào trường Ba Lệ Tư để ghi tên lên lớp ba…” trên bài thứ nhất viết về tháng mười của cuốn Tâm Hồn Cao Thượng. Mặc dầu với những cái tên phiên âm rất trúc trắc, xa lạ, nhưng dường như ai cũng quen thuộc với những cái tên như An Di, Phan Tín, Hạ Long,…tất cả được coi  như những đứa bạn cùng lớp với mình, cũng như hình ảnh của thầy Bích Niên với mái tóc bạc, hay cô Đan Cát Tiên hiền lành trở nên rất gần gũi….

      Cuốn sách có mười chương, mỗi chương là một tháng học trong niên khóa, mỗi tháng có sáu câu chuyện thể ký sự của một cậu bé 11 tuổi tên An Di và một câu chuyện kể trong tháng. Những câu chuyện của An Di trong Tâm hồn cao thượng chỉ là những câu chuyện chung quanh rất “đời thường” xẩy ra trong lớp học, ở một thành phố nhỏ tên Turin ở phía bắc nước Ý. Tâm Hồn Cao Thượng là những chuyện về lòng thương yêu của cha mẹ, sự tận tụy của thầy cô giáo, lòng nhân ái của con người, làm cho người đọc dễ xúc động về những câu chuyện kể. 

    Trong sách, có câu chuyện kể về những trẻ em mù, một em bé đã thốt lên câu nói rất cảm động : “Lạy trời cho tôi được mở mắt một phút thôi, để tôi nhận lại mặt mẹ tôi mà tôi đã quên mất rồi!”. Cuốn Tâm hồn cao thượng  cho  ta biết hạnh phúc là gì, nói về những điều ai cũng  có mà  không hay biết. Đó là những câu chuyện kể rất bình thường, dịu dàng của một người thầy nói với học trò, một người mẹ nói với con, không chỉ làm rung động những tâm hồn ấu thơ , mà và ngay cả đối với những người lớn, những câu chuyện bình thường mà chan chứa những điều nhân nghĩa. Dù cuốn sách lấy bối cảnh của một thành phố tận nước Ý xa xôi, nhất là vào một thời điểm mà thế giới chưa rộng mở như ngày nay, nhưng người đọc vẫn cảm thấy gần gũi với những câu chuyện “rất Người”. Như tựa đề Tâm hồn cao thượng, cuốn sách làm cho tâm hồn người đọc hướng thượng, tốt hơn, hiền hơn, biết yêu thương hơn…

     Một cuốn sách khác là cuốn thơ ngụ ngôn Les Fables de La Fontaine do Nguyễn Văn Vĩnh dịch từ Pháp ngữ, với phần minh họa của họa sĩ Mạnh Quỳnh. Chắc hẳn nếu không có học giả Nguyễn Văn Vĩnh, thơ ngụ ngôn của thi hào La Fontaine (1612-1695) không thể phổ biến đến đại đa số người Việt trong những thập niên 40, 50 của thế kỷ trước Ngày nay những lời dịch của ông  từ thơ La Fontaine đã thành những thành ngữ rất quen thuộc như “Lý kẻ mạnh bao giờ cũng đúng”, “Con Nhái Muốn To Bằng Con Bò”, “Con Cáo với Giàn Nho”, “Hội Đồng Chuột”, “Bán Da Gấu”, “Gà Đẻ Trứng Vàng”, “Chuyện Cô Bê Rét”…  Thơ ngụ ngôn của La Fontaine đã đưa ông lên vị trí của những nhà thơ cổ điển nước Pháp. Có những ví von, những câu nói cửa miệng, chúng ta dùng thường ngày, nhưng  ít ai khi nghĩ đến nó phát xuất từ những chữ nghĩa mỉa mai, răn đời của nhà thơ  La Fontaine.

       Đó là những cuốn sách đã đi vào tâm tưởng của nhiều thế hệ học trò của nửa đầu thế kỷ trước. Cho dù hôm nay da đã mồi, tóc đã bạc, nhưng mỗi khi ngồi giở lại từng trang sách, ai cũng thấy lại được những ngày xưa thơ ấu của mình… Và mặc dù ngày nay,  nó đã được in lại trên những trang giấy mới, bìa mới, thơm mùi mực mới, nhưng đây chính là…những cuốn sách rất cũ trong cái “thư viện tâm hồn” của những người đang hoặc đã bước vào cái tuổi  “  cổ lai hy..”

(NGUỒN: tuyendinh75.blogspot.com)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hồn Sách Cũ_St