Duyên Nợ Cảnh Sát_Ng. Hoài Ân

Related imageDUYÊN NỢ CẢNH SÁT

* Nguyễn Hoài Ân

Nói đến duyên nợ cảnh sát, chắc không khỏi một số bạn liên tưởng ngay đến một người nào đó ở ngoài ngành cảnh sát thương yêu một người đang phục vụ trong ngành cảnh sát. Hoặc giả, hai người đồng nghiệp cùng phục vụ trong ngành cảnh sát thương yêu nhau, rồi kết tóc xe tơ, thề non hẹn biển sống với nhau cho đến suốt cuộc đời. Nếu có được như vậy thì rất may mắn, tốt tươi, kiều diễm, hay ho, đẹp biết mấy. Nhưng chuyện tôi kể ra sau đây không phải như vậy.
I.- QUAN NIỆM LỆCH LẠC VỀ HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI CẢNH SÁT
Vốn là người không thích cảnh sát ngay từ thuở nhỏ, lúc còn ở tiểu học, lúc mà còn quần sọt áo sơ mi, ngồi miệt mài trên ghế trường tiểu học, cho đến lúc ra đời trước khi gia nhập vào ngành cảnh sát. Tôi sanh ra ở một huyện lỵ, tỉnh nhỏ miền Hậu Giang, giáp biên giới Việt Miên. Nên việc không hay hằng ngày, nhan nhản xảy ra trước mắt tôi. Hình ảnh những “”Ông Cò” cảnh sát Hương Thôn, mặc bồ Ka Ki màu vàng, miệng ngậm còi, tay khoát khoát, ra lịnh xua đuổi những chị bán hàng rong bỏ chạy tả tơi hoặc chìa tay nhận chút tiền còm cuả những anh lơ xe, xe lôi phạm luật cứ ám ảnh mãi trong đầu óc tôi. Hơn thế nữa, sau nầy tôi về dạy học ở một trường trung học tỉnh nọ vào năm 1963. Phải một đêm ngủ muỗi bởi các anh bạn dân, vì tội “cư trú bất hợp pháp”,. Trình thẻ giáo chức họ không chịu, cho ngủ muỗi đến sáng hôm sau. Khiến ông hiệu trưởng trường tôi làm giấy xác nhận bảo lảnh họ mới cho về. Và gia đình tôi ở trọ cũng phải tốn chút ít tiền còm cho họ.
Nhớ thuở nhỏ, khi đi thi Văn Bằng Tiểu Học tại tỉnh nhà có một ông cảnh sát mà người ta tặng cho một biệt danh là ” Ông Cò Thì ” mang trên hai cầu vai đầy chữ V ( cánh gà ). Lưng đeo súng lục, bộ đồ Kaki màu vàng ôm sát thân người béo phệ, bụng to, ngực ưởng trông rất oai nghi. Ngồi trên chiếc xe jeep cảnh sát hai màu xanh trắng cứ chạy chung quanh trường thi để giữ an ninh cho bọn học trò chúng tôi thi. Lâu lâu lại vang lên những tiếng còi hú, xua đuổi những người thân hoặc cha mẹ tụ nhau nhìn qua cửa sổ để xem con em mình làm bài có được hay không?
Hình ảnh ấy, khiến cho tôi không có cảm tình đối với ông cứ đập mãi vào trí óc non nớt của tôi cho đến sau nầy. Khi tôi chánh thức gia nhập vào ngành Cảnh Sát Quốc Gia năm 1966. Học khóa một Biên Tập Viên. Tốt nghiệp qua Dã Chiến, rồi được về Giảng Sư đoàn Học Viện. Rời Học Viện về tỉnh nhà xử lý thường vụ Trưởng phòng Cảnh Sát Tư Pháp một thời gian. Gặp lại “Ông Cò Thì “ ngày xưa mà tôi vừa ghen ghét, vừa sờ sợ. Nào có ngờ đâu ông là một người rất dễ thương, hiền từ, biết tự trộng, không dám nói là nhân đạo. Có tinh thần trách nhiệm cao, việc gì giao cho ông cũng hoàn thành tốt đẹp mà không cần nhắc nhở.
Bây giờ, có lẽ ông đã hóa ra người thiên cổ vì tuổi tác đã cao, sau bao nhiêu nỗi gian lao, thăng trầm, đau khổ của một cuộc đổi đời mà không ai chờ đợi, mong muốn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Xin thắp nén hương lòng tạ lỗi cùng ông với những ý nghĩ không tốt về ông trong lúc tuổi đời của tôi còn quá thơ dại.
II.- CON NGƯỜI CÓ ĐỊNH MỆNH HAY KHÔNG?
TƯ BỎ NGÀNH CẢNH SÁT LẦN THỨ NHẤT: Sau khi đậu Văn Bằng Tiểu Học, tôi đến thăm một người bạn của ông nội tôi mà tôi gọi là Ông Hai. Ông nầy gỏi chữ nho. Ông bảo tôi ra trước cửa nhà bẻ cho ông một nhánh mãn cầu nhỏ, có đầy đủ lá để ông coi cho tôi sau nầy lớn lên làm nghề gì? Tôi vâng lời, ra ngoài bẻ một nhánh mãn cầu nhỏ có đầy đủ lá vào trao cho ông. Ông nhìn nhánh mãn cầu rồi đếm từng lá một: “ Nhất đắc, nhị đắc, tam bất đắc. Nhất đắc, nhị đắc, tam bất đắc. . . . “ và cứ tiếp tục lập đi lập lại nhiều lần như vậy. Cho đến khi nào những lá mãn cầu cuối cùng còn lại một, hai hoặc ba lá là ông ngưng. Nếu như cuối cùng còn lại một lá là quẻ đó thuộc về Nhất đắc , hai lá là Nhị đắc, ba lá là Tam bất đắc. Còn quẻ ông đang coi cho tôi thuộc về quẻ gì tôi không rõ. Sau đó ông lại dùng bàn tay của ổng, ngón cái bấm vào từng đốt các ngón nhỏ, miệng lẩm bẩm tính toán, đọc cái gì đó nho nhỏ, tôi chỉ nghe thoang thoáng: Tý, Sửu, Dần, Mẹo. . . mà thôi. Xong ông ngưng lại nhìn tôi giây lát, ôn tồn bảo: “ Con sau nầy làm nghề bán văn, bán võ.” Tôi chẳng biết cái chi mô, nghề gì mà bán văn, bán võ? Hoặc đi lính là võ, đi dạy học, làm thư ký là văn. Sao lại có cái nghề rứa nào là bán văn, bán võ. Nghĩ như thế, nhưng dần dần theo thời gian rồi cũng quên đi.
Năm 1966, lần đầu tiên bước chân vào HV/CSQG trong trại Lê văn Duyệt và nghe cụ Đàm Trung Mộc nói về ngành cảnh sát, tôi mới trực nhớ ra lời tiên đoán của Ông Hai bạn của ông nội tôi là đúng.
Nhưng sự việc không ngừng ở tại đây, cứ tiếp tục thêm nữa. Thật lòng mà nói khi thi vào Biên Tập Viên cảnh sát, tôi chẳng biết Biên Tập Viên là gì hết. Trong đầu cứ nghĩ Biên Tập Viên là một nghề viết lách trong ngành cảnh sát như các Biên Tập Viên báo chí vậy thôi! chớ nào có ngờ đâu Biên Tập Viên là một viên chức (hay sĩ quan) bậc trung trong ngành cảnh sát có nhiều trách nhiêm và chút ít uy quyền.
Trong tuần lễ đầu, lần thứ hai, cụ Đàm Trung Mộc nói về khóa học của Biên Tập Viên là 9 tháng. Thời gian 9 tháng ở Học Viện sinh viên phải trải qua những giai đoạn huấn luyện, học tập những gì. Cuối cùng đến phần thắc mắc, có nhiều anh em đưa tay lên đặt câu hỏi: “ Khi ra trường có được vào ngạch không? Và lương bổng như thế nào?” Cụ trả lời: “ Khi ra trường các anh chị được lảnh lương công nhựt và hai năm sau sẽ được vào ngạch, lương công nhựt mỗi tháng sẽ lảnh vào khoảng hơn ba ngàn. . . . .“ Nghe đến đây tôi cảm thấy không vui vì tôi là một giáo sư đang dạy tại một trường học có bốn năm thâm niên, lương bổng cũng khá và ổn định. Hơn thế nữa, trước khi đi trình diện để học khóa Biên Tập Viên, trong lòng tôi cứ nghĩ. “Thấy được thì học ví bằng không được thì thôi.” Nên trước khi rời nhà trường tôi không xin nghỉ dạy hẳn mà chỉ xin nghỉ phép trong 10 ngày mà thôi. Vì vậy tôi trở lại tiếp tục dạy lúc nào cũng được.
Lần đi phép đầu tiên, thay vì hết phép vào chiều chủ nhựt phải vào để trả giấy phép và trình diện có mặt với người sĩ quan trực. Tôi cố tình trở lại Học Viện vào buổi chiều thứ hai, kèm theo đơn xin từ nhiệm. Bước vào văn phòng ông Viện Trưởng, gặp cụ Đàm Trung Mộc đang lui cui làm việc, cụ đang đọc giấy tờ gì đó, đứng bên cạnh là ông Liễng chủ sự phòng hành chánh. Tôi bước tới trình đơn từ nhiệm của tôi cho cụ và nói: “ Thưa ông Viện Trưởng tôi xin từ nhiệm.” Cụ ngước nhìn tôi, tay nhận đơn. Cụ chỉ xem sơ qua rôi trao cho ông Liễng vì cụ đang bận. Ông Liễng đọc đơn của tôi xong, bèn bước lại tủ hồ sơ, mở tủ, kéo ngăn hồ sơ ra để tìm bản chánh văn bằng Tú Tà II của tôi để hoàn trả lại cho tôi. Thì từ ngoài cỗng có chuông điện thoại gọi vào báo là có ông Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia đến. Ông Viện Trưởng ra dấu cho tôi đứng vào một góc. Tiếng hô vào hàng phất khi Đại Tá Phạm Văn Liễu bước vào văn phòng. Tôi cũng ngay ngắn đứng yên. Khi cụ Đàm đến chào Đại Tá và bắt tay. Sau vài câu chuyện chào hỏi với Đại Tá. Cụ bèn hướng về tôi nói: “ Thưa Đại Tá, cậu nầy muốn từ nhiệm.” Đại Tá Phạm văn Liễu bước đến vỗ vào vai tôi nói với một vọng nhẹ nhàng âu yếm, trìu mến: “Sao em từ nhiệm vậy? Uổng lắm, khóa của các em học khi ra trường sẽ được vào ngạch hết. Tôi bảo đảm. Thôi rút đơn lại, lảnh quân trang tiếp tục học đi.” Tôi cảm động, chỉ biết đứng yên và khẻ dạ một tiếng nho nhỏ mà lòng đầy xúc động kính mến. .Đó là tôi xin từ bỏ ngành cảnh sát lần thứ nhất nếu không có Đại Tá Phạm văn Liễu đến kịp thơì.
III. TẠI SAO QUA CẢNH SÁT DÃ CHIẾN ?
Có người hỏi tôi khi ra trường tại sao không tình nguyện qua ngành đặc biệt để đi qua CSDC? Trong lúc ngành ấy chọn 50 người Biên Tập Viên mà không cần bắt thăm. Ngành đặc biệt có chọn sẵn hơn 10 người căn cứ theo bài thi về ngành đặc biệt. Vì thế cần phải chọn thêm một số người tình qua ngành đặc biệt cho đủ số 50 ngưới. Tôi xin thưa: “ Vì tôi tự biết lấy tôi có nhiều khuyết điểm, tính tình thành thật, ngay thẳng, thường giữ chữ tín, biết ơn, ít mưu mẹo, vì góc là một thầy giáo nên khó hoàn thành nhiệm vụ khi cấp trên giao phó. Vì cảm thấy có nhiều khuyết điểm như vậy, đó là lý do mà tôi không dám gia nhập vào lực lượng cảnh sát đặc biệt là thế.”
Khi bắt thăm, tôi bắt nhằm thăm vào lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến, âu cũng là cái duyên số trời định. Tôi được Đại Uý Nguyễn duy Am Biệt Đoàn Trưởng Biệt Đoàn 816/CSDC xin với Trung Tá Phạm huy Sảnh trưởng khối cảnh sát dã chiến bây giờ, về Biệt Đoàn 816/CSDC, đóng tại vườn cao su gần ngã tư Bình Hòa, Gia Định. Dù Trung Tá Phạm huy Sảnh xin 50 Biên Tập Viên và 50 Thẩm Sát Viên khóa một về để thay thế cho các ông Đại Đội Trưởng Cảnh Sát Dã Chiến ở các tỉnh với ngạch Thẩm hoặc Phó Thẩm. Nhưng vì chính ông và ban tham mưu của ông đều là những người không có trách nhiệm đúng đắn, nhận sự đúc lót của các ông Đại Đội Trưởng đương thời, nên sự thay đồi không thực hiện. Chỉ có hai người, tôi và Việt người bạn đồng khoá với tôi được đi làm đại đội trưởng. Tôi ở Biệt Đoàn 816 còn Việt về Biệt Đoàn 222/CSDC. Lúc nầy Biệt Đoàn 5 Cảnh Sát Dã Chiến chưa ra đời. Còn lại bao nhiêu thì bị tống lên Đá Lạt làm huấn luyện viên hoặc ngồi chơi sơi nước. Thật là phí tài sản của quốc gia, đào tạo được một cán bộ cảnh sát có trình độ tốn bao nhiêu tài sản của đất nước và sự đóng góp của dân chúng mà không đuợc xài cho đúng chỗ. Huấn luyện viên ở một trung tâm đâu cần Biên Tập Viên và Thẩm sát viên đông như vậy?
Tôi về Biệt Đoàn 816 được nhận chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 3. Đại đội đang công tác ở Bình Điền, có nhiệm vụ giữ cầu sắt xe lửa bắt qua rạch Bình Điền, mỗi tuần đều có hành quân an ninh chung quanh với quân đội Hoa Kỳ vào sâu chợ Đệm là nơi trước đây vào ngày 14 tháng 8, năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân đội Pháp trở lại Việt Nam. Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ của Việt Minh do Trần Văn Giàu làm chủ tịch bỏ chạy trốn về đây. Họ cũng không quên mang theo những chiến sĩ Quốc Gia về đây hành quyết, như các ông: Hồ văn Ngà, Huỳnh văn Phương (Cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia), Hồ vĩnh Ký, Bùi quang Chiêu. .
IV. ĐI HÀNH QUÂN VỚI SƯ ĐOÀN MỘT KỴ BINH HOA KỲ
Đến tháng 5 năm 1967, Biệt Đoàn 816 được lịnh đưa 3 đại đội khăn gói lên đường ra miền Trung, tỉnh Bình Định trong đó có Đại Đội 3 của tôi. Hành quân an ninh phối hợp với Sư Đoàn Một Không Vận Kỵ Binh Hoa Kỳ (First Cal), lùng bắt, tiêu diệt những tên cán bộ, tàn quân của sư đoàn Sao Vàng cộng sản bị sư đoàn Kỵ Binh Hoa Kỳ đánh tan rã trong mật khu Ba Tơ, An Lão. Chúng chạy trốn về lẫn lộn, ẩn núp trong dân chúng để chờ ngày tái phối trí.
Vì phương tiện vận chuyển bằng đưòng hàng không bị giới hạn, nên đại đội của tôi đưa hai trung đội đi trước với ông đại đội phó tên Đởm, còn tôi hai tuần sau mới hướng dẫn phần còn lại của đại đội ra sau. Khi tôi ra tới Qui Nhơn thì được tin một ông trung đội trưởng của tôi tên Kỳ bị hy sinh trong lúc khui hầm bí mật của cộng sản, ông không cẩn thận bị một quả M79 của địch chết ngay tại chỗ. Tôi cảm thấy đau lòng, hai ngày sau thì xác của ông được chuyển từ quận Bồng Sơn ra Qui nhơn, rồi về Sai Gòn. Cũng ngày ấy tôi đến Bồng Sơn. Đại đội tôi đóng chung với với BCH của Lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ trên một ngọn đồi trọc cách chợ Bồng Sơn độ hai cây số. Mỗi ngày đều đi hành quân và nhảy trực thăng vận. Nên các địa danh như Bình Đê, Tam Quan, Hoài Ân, An Lão, Ba Tơ, Sa Huỳnh thuộc Quãng Ngãi đều có bước chân chúng tôi đi qua nhiều lần.
Ngày nào đại đội của tôi cũng lấy được súng AK, K54 của cộng sản và bắt được nhiều chiến binh chánh qui cũng như bọn du kích địa phương của chúng. Ngày nào chúng tôi không lấy được chiến lợi phẩm hoặc lấy được ìt hay không bắt được bọn Việt Cộng thì coi như ngày ấy bị thất thu. Trong lúc đó các sư đòan bộ binh của Việt Nam Cộng Hòa chỉ được trang bị Carbine M1, M2 mà thôi. Còn M15, M16 chưa có, sau tết Mậu Thân mới được trang bị. Nhiều lần vị Đại tá Chi Huy Trưởng của Lữ Đoàn 1 và Trung Tướng Tư Lịnh Sư Đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ đáp trực thăng thị sát tại mặt trận, chứng kiến chúng tôi khui hầm và bắt Việt Công lấy súng, lựu đạn. Đồng thời chúng tôi cũng được hai vị nầy gắn nhiều lần huy chương tại mặt trận. Nhưng sau xin hợp thức hóa bằng giấy tờ thì Trung tá Sảnh nại ra lý do “Cảnh sát không được nhận huy chương quân sự của Hoa Kỳ.“ Chẳng những ở đại đội tôi mà hai đại đội kia cũng vậy. Một ở Phù Cát, một ở Phù Mỹ, phối hợp hành quân chung với hai lữ đoàn 2 và 3 của Sư Đoàn 1 Kỵ Binh. Sau mới rõ ra Trung tá Sảnh đem các huy chương nầy hợp thức hóa cho ông và các tay đàn em của ông. Sau đó ông được lên Đại tá.
TỪ BỎ NGÀNH CẢNH SÁT LẦN THỨ HAI
Một hôm tôi cảm thấy buồn, vì thấy mình là một cảnh sát dã chiến thăng thưởng theo qui chế công chức, không được một thứ đặc ân gì hết kể cả thâm niên cũng giống như các bạn sắc phục khác, cứ tà tà ở văn phòng mà được hưởng quá nhiều đặc ân của ngành và của đời. Còn cảnh sát dã chiến như tôi và một số các bạn khác so ra thì quá thiệt thòi. Khi ra Đông Hà, chiều vào Huế, sáng lại chưa kiệp đánh răng thì phải khăn gói đi Đà Nẳng, Sài Gòn, Côn Sơn, Phú Quốc. Nơi nào có biểu tình hay tù nhân tuyệt thực làm loạn là có mặt tụi tôi. Đôi khi còn cực hơn lính địa phương quân và nghĩa quân.Thăng thưởng theo hành chánh, làm việc theo quân sự.
Thấy có một cái gì bất công mà Thiếu tá Sảnh dõng dạc hứa vào ngày ra trườn:g “Các anh qua CSDC trong vòng hai năm, các anh sẽ được trở về sắc phục “ lời hứa đó, Thiếu tá Sảnh đã nuốt lời. Bao nhiêu đơn xin trở về sắc phục sau hai năm phục vụ vẫn bị làm ngơ. Mà cũng chẳng bao giờ nghe thấy các vị trong ngành cảnh sát có thẩm quyền lên tiếng, một sự yên lặng kinh tởm. Đang hành quân, một buổi sáng buồn được nghỉ. Tôi bèn lấy giấy mực ra viết một lá đơn xin tình nguyện đi Thủ Đức, gởi đến Nha Động Viên Bộ Quốc Phòng ở Sài Gòn.
Ba tháng sau, tôi nhận được công điện từ BCH/BĐ/816 do Thiếu tá Am ký. Bảo tôi bàn giao đại đội lại cho ông đại đội phó, còn tôi về trình diện. Bàn giao xong tôi trở về Sài gòn vào trình diện ông. Sau khi chào ông xong, ông mời tôi ngồi. Ông giở hồ sơ ra và trao cho tôi lịnh gọi nhập ngủ quân trường Thủ Đức, lý do tình nguyện. Ông chẫm rãi nói với tôi lời thân mật và tha thiết: “Tại sao mầy phải tình nguyện đi Thủ Đức, mầy có biết quân đội cực khổ lắm không? Tao lên được Thiếu tá như thế nầy đã hụt chết biết bao nhiêu lần rồi. nếu như ai cho tao đổi cái lon Biên Tập Viên của mầy là tao đổi liền, không cần phải suy nghĩ gì cả. Nếu mầy quyết định muốn đi là tự do ý mầy. Còn như mầy muốn ở lại thì tao sẽ can thiệp cho mầy ở lại. mầy suy nghĩ lại cho thật kỹ đi.” Sau lời khuyên của Thiếu tá Am dường như tôi chợt tỉnh dậy và nhỏ nhẹ trả lời với ông: “ Thôi tùy ở Thiếu tá, nếu Thiếu tá giúp được tôi hủy bỏ lịnh nhập ngủ thì tôi cám ơn Thiếu tá nhiều.“ Vừa nghe xong thì ông bóc điện thoại gọi qua phòng nhân viên gặp Đại úy Chương (sau lên Thiếu Tá), nhờ Đại úy Chương làm lịnh xin hủy bỏ lịnh nhập ngủ của tôi vì nhu cầu công vụ. Nghe Đại úy Chương cằn nhằn phía bên kia đầu dây. Ông Am lại năn nỉ: “Thôi mà, nó em út giúp giùm nó đi. Nghe ông Chương trả lời vâng, ông cúp điện thoại, hướng về tôi. Xong rồi đó, rán làm việc đi, đừng nghĩ khùng, nghĩ điên nữa.” Tôi dạ, rồi chào ông bước ra ngoài mà lòng tôi cảm thấy kính ông một vị chỉ huy có tấm lòng nhân đạo biết thương em út.
Bây giờ, ngồi đây viết lại bài nầy mới nghiệm ra đúng là Duyên Nợ Cảnh Sát. Kẻ muốn vào ngành cảnh sát mà vào chẳng được. Người ham phục vụ trong ngành cảnh sát lại bị đuổi ra. Còn tôi, tôi muốn ra khỏi ngành cảnh sát bao lần lại bị sợi tơ tình của ngành cảnh sát buộc chặt lại lấy tôi. Đó mới hay cái gì cũng có duyên, có nợ với nhau cả, như vợ,như chồng cũng thế, mà bên đạo Phật gọi là cái nghiệp..
Nếu trước đây tôi không được may mắn gặp Đại tá Phạm văn Liễu qua thăm Học Viện đúng lúc, chỉ sớm, muộn trước sau năm, mười phút và một vị Viện Trưởng nào khác hơn cụ Đàm Trung Mộc thì danh sách ngày ra trường chắc chắn không có tên của Biên Tập Viên tập sự Nguyễn Hoài Ân rồi. Và không có sự thông cảm bao dung, độ lượng của Trung Tá Nguyễn duy Am thì ngày nay tôi cũng không thể còn ngôi đây để viết những dòng nầy đến các bạn mà thân xác tôi đã dùi thây nơi chiến trường, trở về với cát bụi rồi. Hoặc với hòm gỗ cài hoa trên chiếc trực thăng tang mang màu trắng. . . . lời tiên đoán của ông Hai bạn của ông nội tôi mới thấy đúng trăm phần trăm. Đó mới hay đúng là “duyên nợ cảnh sát” mà số mệnh hóa công đã thắt chặt, an bài từ lâu, sự hiểu biết của người đời không bao giờ giải thích nổi.
Nếu không có Đại tá Phạm văn Liễu là người Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia quyết tâm cải tổ lại ngành cảnh sát, quyết thay thế cấp chỉ huy trong ngành cảnh sát bằng giới trẻ có kiến thức, được đào tạo chính qui thì sau nầy chưa chắc có HVCS/QG, một ngôi trường đào tạo sĩ quan cảnh sát quốc gia khang trang, đẹp đẽ, lịch sự nhất ở vùng Đông Nam Á và chưa chắc có khóa một, khóa hai và ba Biên Tập Viên, cũng chẳng có quí vị Quận Trưởng cảnh sát tuổi trẻ tài cao như: ông Trần Minh Công, Phạm Công Bạch, Trần Quan An và một số Quận Trưởng trẻ khác. Nhưng mộng ông chưa thành thì ông bị ra khỏi cảnh sát trở về quân đội. Đại tá Nguyễn Ngọc Loan về thế, việc thay đổi bị đình trệ. Và nếu không có ông Tư Lịnh Cảnh Sát Quốc Gia Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình có lòng muốn xây dựng, cải tổ lại ngành Cảnh Sát Quốc Gia thăng thưởng theo hành chành qua thăng thưởng theo quân đội, mang lon quân đội để giảm bớt bất công và dễ làm việc thì cũng không có những người sĩ quan cấp tá trẻ tuổi, như Đại tá Trần Minh Công, Trung tá Phạm Công Bạch, Trung tá Trần Quan An, Thiếu tá Phan Tấn Ngưu, Phan Quang Nghiệp, Đinh Văn Hạp, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Trọng Bẩm, Thái Văn Hòa . . . và nhiều, nhiều hơn nữa với một vài vị Nữ Lưu tuổi trẻ, anh thư, xuất sắc trong ngành cảnh sát với cấp bực Thiếu tá thật thụ. Hãnh diện thay cho phái quần thoa, má hồng nữ giới trong đoàn phụ nữ môi son, má đỏ, con cháu Bà Trưng, Bà Triệu, con Hông, cháu Lạc của nhà bà mẹ Việt Nam.
Cái đặc biệt bất công trong ngành cảnh sát nữa là. Một Thẩm sát viên trong ngạch có cấp bằng Tú Tài ÌÌ thì được đi học khóa Biên Tập Viên, trở thành BIên Tập Viên trong ngạch thực thụ. Người Biên Tập Viên trong ngạch có bằng Cử Nhân thì không được trở thành Quận Trưởng chỉ được thăng lên một hai trật gì đó thôi. Người ngoại ngạch có Cử Nhân được mang lon Quận Trưởng Đồng Hóa chỉ huy người Biên Tập Viên trong ngạch lâu năm, nhiều kinh nghiệm, có bằng Cử Nhân. Cái thứ hai nữa là người Biên Tập Viên trong ngạch có Cử Nhân khi chuyển qua mang lon quân đội chỉ có mang cấp bực Đại Úy. Người ngoại ngạch hoặc mới vào ngành cảnh sát có Cử Nhân thì được mang Thiếu tá đồng hóa, chỉ huy người Đại Úy có thâm niên công vụ, có Cử Nhân. Đó là một sự trớ trêu hoặc vô tình hay cố ý của quí vị thượng cấp soạn thảo qui chế ở trên? Đã biết rồi, nay thì chúng ta dầu lớn hay nhỏ cũng đều trắng tay. Đáng lẽ thì cũng không nên nói ra. Nhưng viết thì phải nói cho hết để mang đến cho quí bạn những vui buồn lẫn lộn trong thời gian qua. Xin thứ lỗi.
Ngồi đây viết bài nầy, nhớ đến những người ân nhân nay không còn nữa, đã hóa ra người thiên cổ, nhưng những hình bóng thân thương mà tôi tưởng chừng như vẫn còn phảng phất đâu đây, trên cành cây ngọn cỏ của xứ sở, đất nước quê hương thương yêu, trong lòng người dân nước Việt muôn năm, vạn kỷ. Trong những nắm mồ hoang, điêu tàn đôi khi trở thành vô chủ mà Tổ Quốc cùng toàn dân bao gìờ cũng ghi ơn vạn thuở. Xin được tri ân các vị. Các vị chẳng những là những người chỉ huy cao cấp của tôi, những người thầy kính mến, những vị ân nhân suốt đời tôi khó quên. Xin thắp nén hương lòng tưởng nhớ và tri ân quí vị. Cầu xin đức Phật, đức Chúa dắt dìu, dẫn độ hương linh quí vị về nơi cảnh Phật, đất lành của Thiên Chúa. Và Nhân đây tôi cũng xin viết một bài thơ để tạ ơn Thầy Đàm Trung Mộc
Nguyễn Hoài Ân

Image result for đàm trung mộc

THẦY ĐÀM TRUNG MỘC
ƠN THẦY
Ơn thầy Viện Trưởng vẫn còn đây
Nghĩa nặng, tình thâm khó tỏ bày
Môn đệ hằng năm lòng tạc dạ
Học trò mỗi bữa chí noi Thầy
Hình bóng thân thương Ngài rạng rỡ
Dáng người đáng kính nghĩa tình say
Trắc trở âm dương người xứ lạ
Dễ gì tao ngộ tỏ ơn bày.
Nguyễn Hoài Ân

Bài này đã được đăng trong Tin Tuc Nội Bộ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.