Gả Con Cho Giặc – Tác giả Nguyễn Thị Thanh Dương

Gả con cho giặc

-Nguyễn Thị Thanh Dương ..

Cô Lạc báo tin cho cha mẹ là sẽ về thăm Việt Nam cả tháng nay thì cả tháng nay anh chị Siêu mừng vui đến mất ăn mất ngủ.

Phen này thì cả làng An Bình sẽ lên cơn sốt như cách đây 3 năm họ đã lên cơn khi biết cô Lạc nhà quê nhà mùa, trình độ văn hóa lớp 6 kết hôn với một ông kỹ sư người Mỹ.

Nhà anh Siêu nghèo, mấy sào ruộng nhà nước chia theo tiêu chuẩn đầu người không đủ cho hai vợ chồng cầy cấy nuôi 3 đứa con, anh đi bộ đội về cảnh nhà eo hẹp nên lấy vợ trễ, con còn nhỏ.
Cô Lạc lớn nhất nhà đã được bố mẹ gởi gấm theo vài người anh em họ vào thành phố Sài Gòn làm ăn.
Trong làng, nhà nào cũng có người vào Nam kiếm sống nên đồng hương cũng giúp đỡ nhau nói chi là họ hàng.

Lạc xin vào làm cho một hãng nhựa tư nhân ở Chợ Lớn, ngày làm 12 tiếng, một tuần làm 6 ngày quần quật cực nhọc không thua gì làm ruộng nương nơi quê nhà.
Ăn dè để dành mỗi năm Lạc cũng tom góp được chút tiền gởi về quê phụ giúp cha mẹ nuôi hai em, còn Lạc không dám mơ đến chuyện về thăm quê, bởi tiền tàu xe từ Nam ra Bắc sẽ ngốn hết những đồng tiền để dành ít ỏi ấy.

Đột nhiên người anh họ tên Chu của anh Siêu từ Mỹ về thăm quê hương, người anh họ mà anh Siêu chưa bao giờ biết mặt vì cách ngăn bởi vĩ tuyến 17 giữa hai miền Nam Bắc.

Năm 1975 từ Sài Gòn anh Chu cùng gia đình di tản qua Mỹ, sau bao nhiêu năm yên ổn cuộc sống nơi xứ người anh Chu mới thể theo lời trăn trối của người cha già trước khi nhắm mắt là hãy về thăm lại quê quán, tìm gặp người thân nơi miền Bắc.
Thấy cảnh nhà anh Siêu nhà xiêu mái dột, con cái nheo nhóc tương lai là cày thuê cuốc mướn đói nghèo, anh Chu thương cảm cho thêm quà, thêm tiền.
Chợt nhìn thấy tấm hình cô con gái lớn anh Siêu đóng khung để trên bàn, tấm hình mà Lạc đã chụp ở Sài Gòn làm kỷ niệm gởi về để cả nhà ngắm cho đỡ nhớ, trông cô hiền lành xinh xẻo nên anh Chu chợt nảy ra một ý định là kiếm chồng ở Mỹ cho cô, đó là cách giúp đỡ dài lâu và thiết thực nhất.

Anh Chu mang tấm hình cô Lạc về Mỹ. Làm cùng hãng với anh là một ông kỹ sư Mỹ tuổi trung niên độc thân và cô độc.
Hai người ngồi cạnh nhau nên thân nhau, anh Chu đã đưa hình Lạc ra và ngỏ ý muốn giới thiệu cho ông.

Chuyện cầu may mà thành sự thật, Richard mừng lắm, vì cuộc đời ông đã mấy lần ly dị, lần này lấy một cô gái quê chất phác, dòng máu Á Đông dịu dàng chắc sẽ chung thủy với ông suốt đời.
Hơn nữa, lại là một cô gái trẻ tuổi trinh nguyên và xinh đẹp, thì làm sao mà ông Richard không vui vẻ chấp nhận.

Thế là sau một thời gian trao đổi thêm thư từ hình ảnh giữa ông Richard và Lạc, có anh Chu làm thông dịch cho đôi bên, thì cả hai cùng đồng ý đi đến hôn nhân dù ông Richard lớn hơn Lạc hơn 20 tuổi, nhưng bù lại ông sẽ mang Lạc đi Mỹ, sự trao đổi cũng tương xứng, công bằng cho cả hai.

Anh chị Siêu mừng lắm, đứa con gái nhà anh lấy chồng được đi Mỹ có nằm mơ cũng chả dám, dù là người chồng lớn tuổi, nhưng còn hơn ở lại Việt Nam lấy được thằng chồng trẻ ngang vai phải lứa, cùng nông dân cày cuốc thì cái nghèo đói lại di truyền từ đời vợ chồng Lạc tới con cháu nó không biết đến bao giờ mới ngóc đầu lên nổi.

Để mong thoát cảnh đói nghèo bao nhiêu con gái quê Việt Nam phải lấy chồng ngoại Đài Loan, Đại Hàn hay Trung Quốc, mà phần nhiều là chồng già hay có vấn đề về sức khỏe, sung sướng thì ít, đau thương thì nhiều, chứ dễ gì lấy được chồng Mỹ và đi Mỹ, cái đất nước nổi tiếng to đẹp, hùng mạnh nhất thế giới.

Ông Richard và anh Chu cùng về làng An Bình. Đám cưới Richard và Lạc sẽ diễn ra ở đây.

Đột nhiên họ hàng, làng xóm thấy anh chị Siêu phát lễ hỏi như dân phố Hà Nội là trầu cau, trà sen, bánh xu xê, bánh cốm trong hộp có giấy bóng kính màu đỏ và thiệp cưới in đẹp đẽ đến từng nhà, ai cũng kinh ngạc vì quà đám hỏi to quá.

Tin Lạc sắp lấy chồng Mỹ như một quả bom vừa pháo kích vào ngôi làng bé nhỏ êm ả này.
Đám cưới diễn ra ai được mời cũng không từ chối, vì ai cũng tận mắt muốn xem mặt thằng chú rể người Mỹ của làng An Bình.

Sau đám cưới ông Richard về lại Mỹ làm giấy tờ bảo lãnh Lạc. Cả làng xôn xao bàn tán, khi thì ở trên bờ đê lúc tạm ngừng làm ruộng, khi thì trong hàng chè xanh nơi đầu làng:
– Con Lạc sắp đi Mỹ rồi. Sao số nó sung sướng thế nhỉ?
– Ôi giời, lấy thằng giặc Mỹ mà hãnh diện à? Bố con Lạc từng là anh hùng diệt Mỹ thời chiến tranh chống Mỹ Ngụy đấy nhé
– Nghe nói chồng nó là kỹ sư cơ đấy?
– Phô trương thế thôi, ai biết đâu mà kiểm chứng? Có khi là thằng Mỹ đầu đường xó chợ cũng nên?
– Chưa biết chừng nó mang sang Mỹ bán cho động mãi dâm như bọn buôn người qua Trung Quốc đấy. Phúc đâu chưa thấy, họa lại mang vào người.
Một ông có vẻ hiểu biết, phản đối:
– Đời nào có, tôi chưa nghe chuyện gái Việt Nam lấy Mỹ bị bán vào động mãi dâm bao giờ.
– Bọn Mỹ là ác lắm, việc gì chúng chẳng làm….
Ông kia tiếp tục khoe sự hiểu biết:
– Các bác không đọc báo, nghe đài à? Ta và Mỹ bây giờ là bạn rồi, có cái tàu Mỹ đến thăm Việt Nam và Hải Quân ta ra tận tàu Mỹ nghênh tiếp nữa mà.
Rồi lại có cái tàu gì to lắm, có chỗ cho máy bay đỗ và đáp cơ đấy, cũng sang thăm Việt Nam và phe ta lên tàu tham quan thích lắm.
Giọng đàn bà nhà quê đanh đá:
– Gớm, to lớn mấy cũng bị bộ đội ta diệt thời chống Mỹ rồi. Mỹ vẫn là thằng giặc thua trận.

Ông “hiểu biết” giảng giải chuyện đời miễn phí:
– Biết đâu là bàn cờ thế cuộc, chứ họ văn minh thế kia mà. Nay thời thế đã đổi khác, bạn hóa thù, thù thành bạn.
Xưa Trung Quốc là bạn hàng xóm gần gũi thân yêu của ta, như “môi và răng” môi hở thì răng lạnh, từng giúp đỡ ta trong chiến tranh. Nay bạn hại ta đấy thôi, từ chuyện kinh tế, hàng hóa đồ dùng Trung Quốc ồ ạt sang Việt Nam để giết chết ngành công kỹ nghệ sản xuất của ta, cả trái cây Trung Quốc như nhãn, vải, táo, cam cũng lấn chiếm thị trường nông sản Việt Nam làm thiệt hại các nhà trồng vườn, đến chuyện lấn chiếm vùng đất, vùng biển Hoàng sa, Trường Sa. Họ đã hiếp đáp, bắt giữ tàu và ngư dân đòi tiền chuộc hoặc làm chết ngư dân mình.

Một bà rụt rè lẩm bẩm:
– Ừ nhỉ, lúc này đi đâu cũng thấy hàng hóa Trung Quốc, mà nghe nói toàn là hàng độc hại. Trông mẫu mã đẹp mắt mà chết người.
Những lời dị nghị, đồn đãi không hay đã đến tai vợ chồng anh Siêu, anh chị vừa tức giận vừa xấu hổ chẳng biết đường nào mà phân bua, mà cãi..
Trong làng có bà tên Cào, tên thật của bà người ta không thèm gọi mà chỉ gọi bằng cái tên nghề nghiệp vì bà chuyên nghề đi thuyền cào tôm, cá ngoài sông.
Bà gặp chị Siêu đã mát mẻ mỉa mai:
– Sướng nhé, có con gái gả cho Mỹ rồi tha hồ mà hưởng quà đế quốc Mỹ. Nhưng con gái tôi thì không thèm đâu, thà ở làng quê này đi cào cá cào tôm như cha mẹ nó, tuy nghèo mà có tình quê hương, chẳng phải lệ thuộc thằng nước ngoài nào cả.
Chị Siêu nén giận cười gượng:
– Vâng, mỗi người một hoàn cảnh. Chúng tôi có dám mơ ước cho con gái lấy Mỹ bao giờ đâu, chẳng qua bác nó ở Mỹ muốn giúp đỡ.

Lạc được Tòa Lãnh Sự Mỹ gọi phỏng vấn và bị từ chối. Thời điểm này chính phủ Mỹ khám phá ra mấy vụ người Việt Nam và người Mỹ bản xứ kết hôn với người bên Việt Nam là “dịch vụ” lấy tiền để đưa người từ Việt Nam nhập cư vào Mỹ nên họ nghi ngờ và cho “rớt” khá nhiều.
Anh chị Siêu và Lạc lo lắm, Lạc không đi Mỹ được thì dân làng lại có đề tài mà mỉa mai châm chọc thêm cho đáng đời kẻ ham muốn gả con cho giặc Mỹ, chứ chắc gì họ buông tha?

Ông Richard đã làm đơn khiếu nại, gởi bổ sung thêm những chứng cớ cần thiết và Mỹ phỏng vấn Lạc lần thứ hai đã chấp nhận hồ sơ cho Lạc được đi Mỹ đoàn tụ với chồng.
Anh chị Siêu mừng rối rít, gọi điện hỏi thăm anh Chu là ông Richard đã “chạy” đường dây nào mà hay thế? tốn phí hết bao nhiêu tiền?

Tội nghiệp anh chị Siêu, từ cha sinh mẹ đẻ quen bị hà hiếp, bóc lột, quen phải hối lộ cho chính quyền từ phường xã tới quận huyện, từ việc lớn đến việc nhỏ, và vì trình độ văn hóa thấp, chỉ quanh quẩn ở làng quê không biết gì ngoài ruộng lúa và lũy tre làng, nên ngây thơ hồn nhiên tưởng ở bất cứ nơi đâu trên thế gian này cũng ăn hối lộ tận tình như quê hương Việt Nam mình.

Anh Chu kể rằng ông Richard chẳng chạy chọt đường dây nào cả, khi có đầy đủ chứng cớ thì Mỹ phải chấp nhận cho đi.
Ngoài ra anh Chu còn kể thêm có những hồ sơ bảo lãnh đã được phỏng vấn và chấp thuận mà người bên Việt Nam vì lý do gì đó chưa muốn đi Mỹ nên chần chờ chẳng tiến hành thêm gì cả, hàng năm Sở Di Trú vẫn gởi giấy nhắc nhở họ có muốn đi Mỹ thì làm tiếp một hai bước thủ tục sau cùng.
Vẫn không có trả lời dứt khoát, cuối cùng Sở Di Trú phải gởi cho người bên Việt Nam một “tối hậu thư” hỏi có muốn đi Mỹ hay không? Nếu không thì lần này Mỹ sẽ đóng hồ sơ.

Anh chị Siêu kinh ngạc quá, ai đời quyền lợi của họ, họ không hưởng thì thôi, việc gì Mỹ phải nhắc nhở họ và hỏi đi hỏi lại mãi thế?
Ở Việt Nam, có mà cầu cạnh, đút lót cả đống tiền chưa chắc mua được sự việc như ý, dù mình có cả tỷ lý do vô cùng chính đáng.

Lạc đi Mỹ được hai năm thì tiền bắt đầu gởi về cho cha mẹ xây sửa nhà cửa, vì Lạc đã đi làm nail nên có tiền riêng tha hồ gởi giúp gia đình, người chồng Mỹ của Lạc, với đồng lương sung túc của mình, chỉ cần Lạc đẻ cho ông một hai đứa con và chung thủy suốt đời là hạnh phúc rồi.

Hàng xóm họ hàng càng bàn tán, càng vu khống nhiều hơn, dù chị Siêu đã mang ra khoe với họ những tấm hình vợ chồng Lạc và 1 đứa con của họ.
– Tiền gởi về cho bố mẹ nhiều thế này đích thực là tiền làm gái mà ra chứ của đâu sẵn thế?
– Ừ nhỉ, làm gì mà ra tiền nhanh thế nhỉ?
– Nhưng bà Siêu có khoe hình con Lạc chụp với thằng chồng Mỹ, cái thằng đã về làng cưới nó hẳn hòi mà.
Một bà gạt phăng:
– Ối giời ôi, thằng Mỹ nào trông cũng giống nhau, có khi là thằng chồng thứ bao nhiêu rồi đấy?

Những lời dèm pha này lại cố tình đến tai vợ chồng anh Siêu. Nghe những lời ganh tị mấy năm nay anh chị đã quen tai, nhưng anh chị cũng đã thấy vài kẻ trong làng thèm thuồng được như anh chị lắm, khi họ ghé vào thăm ngôi nhà 3 tầng khang trang mới xây trên cái nền đất của căn nhà xộc xệch cũ, khi họ nhìn những tấm hình Lạc đẹp đẽ từ Mỹ gởi về, và thấy cuộc sống vật chất nhà anh Siêu thong thả hẳn ra.
Một người họ hàng bên vợ anh Siêu, ở tận Hà Nội, nhà giàu có, con cái đứa thì bằng cấp đại học, đứa đang chuẩn bị thi vào đại học, mà còn mong ước gả cô con gái lớn cho người Mỹ, các em thì không thèm du học ở Anh, Úc, Gia Nã Đại, mà chỉ thích Mỹ.

Xưa nay anh chị Siêu mấy lần có dịp lên Hà Nội nào dám bén mảng tới nhà họ chơi, vì khoảng cách giàu nghèo và trình độ, nhưng từ dạo Lạc đi Mỹ, từ dạo nhà anh Siêu xây to nhất làng, thì chính người họ hàng đó đã vồn vã mời chào, nhờ thế anh Siêu mới biết được những tâm tư khát khao của gia đình họ và của nhiều người dân thành thị.
Người ta không còn căm thù người Mỹ nữa, giới trẻ đua nhau học tiếng Mỹ, các nhà khá gỉa còn cho trẻ con học tiếng Mỹ từ thuở vỡ lòng song song với tiếng Việt, các cửa hàng, dịch vụ trên phố xá từ Hà Nội đến Sài Gòn, đến các thành phố lớn nhỏ khác đều kèm theo tiếng Mỹ, con gái Việt Nam nhiều người lấy chồng Mỹ rồi, và nhờ thế anh chị Siêu mới vơi bớt mặc cảm tội lỗi gả con cho giặc Mỹ mà một số dân làng An Bình đã ganh tị và ác cảm đổ cho anh chị.

Qua con gái anh chị Siêu đã biết được một nước Mỹ tự do dân chủ, cuộc sống thoải mái..
Lạc kể mua cái ti vi về coi mấy tuần thấy không vừa ý đã đem trả lại tiệm, hay đơn giản có lần Lạc mua một cây Lê trong chợ Mỹ về nhà trồng, cây bị chết sau đó, Lạc đã gọi phone than phiền với chủ tiệm, vậy mà người ta xin lỗi và mời cô đến chọn lại cây lê khác, dĩ nhiên là không phải trả tiền lần nữa và họ cũng không cần Lạc mang bằng chứng cây lê đã bị khô chết kia.
Thật là trung thực, tin cậy lẫn nhau, một xã hội có cuộc sống, có nếp suy nghĩ như thế không biết đến đời kiếp nào Việt Nam mới bắt chước được?

Ở Việt Nam người ta mua gian bán lận, làm hàng giả, lừa đảo khách hàng vì lợi nhuận, vì lòng tham sao cho đầy túi, làm gì có chuyện mua hàng về nhà xài rồi đem trả lại?
Chúng đã không đổi cho mà còn mắng chửi té tát vào mặt. Ngay như mua vàng hôm trước, hôm sau mang ra chính tiệm ấy bán lại, chúng cũng kiếm cách ăn chận, nào là hôm nay vàng vừa mới xuống giá, nào là vàng…hao hụt, để trả giá rẻ, để lời nhiều.

Hàng hóa giả, còn có cả bằng cấp rổm nữa, những anh chị y tá có công với đảng được “đề bạt” học bổ túc chuyên môn là trở thành bác sĩ, hay con ông cháu cha học hành thì ít ăn chơi thì nhiều nhưng chạy chọt vào trường Y khoa, cũng ra trường bác sĩ như ai dù kiến thức thì chẳng bằng ai. Nên các bệnh nhân ở Việt Nam gặp nhiều ‘biến cố” chết người không có gì làm lạ.

Những chuyện đời thường của nước Mỹ mà nghe xong anh Chị Siêu còn giật mình không muốn tin, nếu không do chính con gái anh chị kể ra thì chắc chắn anh chị cho là bịa đặt, là chuyện hoang đường trên trời rơi xuống.
Anh chị dần dần cảm mến nước Mỹ, những nước thuộc thế giới tự do họ có lý tưởng của họ trong chiến tranh, Mỹ có căm thù gì dân Việt Nam đâu mà tàn ác giết hại dân Việt Nam?.

Anh chị thương thằng con rể Mỹ, nó hiền hòa, trung thực, nó đã đổi đời cho Lạc, thương yêu chiều chuộng con gái anh, đối xử tốt với gia đình nhà vợ. Người xấu người tốt ở đâu cũng có, cũng tùy người..
Anh Siêu thấy xấu hổ khi nhớ lại ngày xưa anh đã căm thù đế quốc Mỹ, hình ảnh những người lính Mỹ là tàn ác, ghê gớm, là gieo rắc đau thương cho xóm làng, nhân dân Việt Nam.

Anh đã đăng ký đi bộ đội sớm, khi chưa đủ tuổi để mong tiêu diệt kẻ thù, bằng chứng là tấm giấy khen công anh hùng diệt Mỹ của anh vẫn còn kia, vì anh đã cùng vài người khác tóm cổ được một lính Mỹ đi lạc trong rừng.
Năm ấy anh Siêu mới 18 tuổi, cái tuổi trẻ mới lớn dễ tin người, tin đời. Anh hãnh diện nghĩ mình đã lập được công trạng cho đất nước, cho đồng bào.

Ngày anh chị Siêu mong chờ cũng đã đến. Từ Mỹ vợ chồng Lạc và đứa con về thăm làng An Bình.
Anh chị thuê chiếc xe tải nhỏ ra phi trường Nội Bài đón con cháu.
Xe về làng, về nhà, mấy va ly, mấy thùng quà Mỹ được mở ra, mùi thơm thơm lạ lùng từ một phương trời xa mà cả đời anh chị Siêu chưa được biết đến.

Anh chị hoa mắt sung sướng với đủ những món quà anh chị Siêu đã dặn con gái mua cho, nào kính mát, áo vét cho anh Siêu, nào áo khoác ấm cho chị Siêu, vì mùa Đông miền Bắc dài và lạnh, rồi quà cho các em, họ hàng chú bác, đến hàng xóm láng giềng ít nhất cũng được cục xà bông hay bịch kẹo “sô cô la”, cũng được hưởng mùi qùa Mỹ.

Lần này thì dân làng tận mắt thấy mặt chồng Lạc, vẫn là ông Mỹ cách đây 3 năm. Có khác chăng là bây giờ ông Richard biết nói những câu tiếng Việt thông dụng, ai hỏi thì ông vui vẻ và thân thiện trả lời, giọng nói âm hưởng Mỹ nhưng tiếng Việt Nam ngọng ngịu của ông Richard làm mọi người cười vui.
Họ không thấy ở ông Richard một chút nào hình ảnh thằng giặc Mỹ tàn ác thời chiến tranh mà họ đã nghe qua sự tuyên truyền của đảng vẫn còn ít nhiều trong tâm tư họ nữa.
Lạc thì đổi mới hẳn ra, đẹp xinh với quần áo lụa là sang trọng, không phải là cô Lạc nhếch nhác quần đen ngắn lấc cấc với áo vải ngày nào. Còn đứa con gái của họ vừa có nét thùy mị Việt Nam vừa có nét phương tây mạnh mẽ trông thật dễ thương.

Chị Siêu mang quà của con gái đi biếu hầu như cả làng, đến nhà bà Cào, chị hơi e dè, sợ lại phải nghe những lời mỉa mai. Nhưng lạ chưa, bà Cào đã nắm tay chị Siêu, nói với tất cả niềm chân tình và rất lịch sự:
– Tôi cám ơn chị và cháu lắm. Nhờ chị nói với cô Lạc rằng về Mỹ xem có anh Mỹ nào thì làm mai cho con gái tôi với nhé, tôi còn hai đứa con gái chưa lấy chồng đây. Khổ quá, con lớn nhà tôi lấy chồng cùng thời với cô Lạc, tưởng ở lại làng để làm nghề cào lưới tôm cá cũng đủ sống rồi, ai ngờ khốn khổ chị ơi, bữa đói bữa no. Thà cứ gả quách cho giặc Mỹ… ấy chết, xin lỗi chị tôi cứ quen mồm, thà cứ gả quách cho người Mỹ như cô Lạc nhà chị mà sướng tấm thân và cả nhà được nhờ.

– Vâng, để em bảo cháu. Nhưng chẳng phải dễ đâu, bác nó ở Hà Nội có con gái vừa đẹp vừa học giỏi cũng đang kiếm chồng Mỹ cho con để xuất ngoại đổi đời mà chưa có đám nào.
Bà Cào nài nỉ:
– Thì tôi cứ dặn phòng xa thế, may ra có duyên nợ thì gặp. Chị nhớ nhé?
Chị Siêu về nhà thấy hả hê nhẹ cả lòng, bà Cào là người đanh đá mồm miệng nhất làng mà đã chịu xuống nước, nhìn vào sự thật như thế thì từ đây cả làng cũng sẽ nguôi ngoai, không ai có lý do gì để động chạm đến việc Lạc lấy chồng Mỹ, hay kết tội anh chị gả con cho giặc Mỹ nữa.

Gia đình Lạc ở làng quê An Bình chơi 4 tuần, ông Richard theo vợ đi chơi khắp làng, đến thăm họ hàng, hàng xóm. Đến nhà nào ông Richard cũng chào hỏi tử tế bằng mấy câu Việt Nam thấy mà thương.
Đến ngày trở về Mỹ, chiếc xe tải nhỏ lại được thuê chở khách Việt Kiều ra phi trường Nội Bài.
Anh chị Siêu kể cho họ hàng và những nhà hàng xóm thân rằng sang năm Lạc có quốc tịch Mỹ và sẽ làm đơn bảo lãnh cha mẹ sang Mỹ định cư.
Tin này đã nhanh chóng lan ra cả làng, ai cũng nói là vài năm nữa cả nhà anh Siêu sẽ sang Mỹ đoàn tụ với con gái. Cái nhà ấy có phước to.

Có người thật tình, có người vì tò mò đến nhà anh Siêu chơi để nghe thêm chuyện. Họ thấy trên tường, nơi phòng khách trang trọng nhất, nơi mà từ hồi căn nhà cũ, trên vách tường cũ vẫn treo tấm giấy khen “Anh hùng diệt Mỹ” đóng khung, lồng kính và đã bạc màu hoen ố theo thời gian của anh Siêu không còn nữa, mà thay thế vào là khung hình mới tinh, trên bức tường cũng mới tinh, hình gia đình cô Lạc, cô với người chồng Mỹ và đứa con gái của họ, thật là đẹp và hạnh phúc chứa chan.

Nguyễn Thị Thanh Dương

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gả Con Cho Giặc – Tác giả Nguyễn Thị Thanh Dương

Cách Dạy Con Của Các Người Mẹ Do Thái

Chọn quả lê xấu và bài học đắt giá
về cuộc đời của bà mẹ người Do Thái
có 3 con là tỷ phú.

photo-3-162056696785668159136

photo1620567156707-16205671572931000817989Sara đã một tay nuôi 3 người con khôn lớn
và trở thành tỷ phú 

Người Do Thái có câu nói rằng: “Cuộc sống chính là giáo án hay nhất và cha mẹ là những người thầy tốt nhất.” Quả thực, các bà mẹ Do Thái thường lồng ghép những bài học đắt giá về cuộc đời để dạy con bất cứ khi nào có thể.

Ở Israel, các bà mẹ có thói quen dạy các con đi chợ cùng mình. Xưa kia, mỗi tuần chợ chỉ họp một lần, và người nông dân đều đem hết nông sản ngon lành họ trồng được tới đây bán. Nông dân Israel có thói quen khi hái quả sẽ hái cả cành ngắn để hạn chế việc mất nước, giữ được hương vị ngon lành của hoa màu. Vì thế, đôi khi hoa quả thường có vài vết xước nhỏ do các cành cây gây ra.

Sara Imas là một bà mẹ Do Thái nổi tiếng, là tác giả cuốn sách “Vô cùng tàn nhẫn, vô cùng yêu thương”. Bà có 3 người con, cả 3 đều rất thành công, tốt nghiệp đại học và trở thành người giàu có ngay từ khi còn rất trẻ.

Trong cuốn sách của mình, Sara chia sẻ: “Mỗi lần dẫn các con đi mua hoa quả, tôi lại yêu cầu mỗi đứa chọn một quả lê có chút vấn đề nhỏ nào đó nhưng vẫn có thể ăn được trong ngày”. Tất cả các quả lê đều có giá như nhau, nên lũ trẻ cảm thấy rất khó hiểu, nhưng bà Sara nhất quyết không giải thích ngay lập tức với chúng.

Đến tối, khi gọt hoa quả để ăn tráng miệng, Sara mới giải thích cho các con. Bà nói: “Trước tiên, chúng ta phải biết nghĩ cho người khác, nếu như ai cũng chọn quả ngon, quả đẹp thì những quả còn lại sẽ để ai ăn? Chúng ta giúp đỡ người khác một chút có phải tốt hơn không? Chúng ta mua giúp người bán hàng 3 quả lê không đẹp mắt, người khác cũng giúp họ mua vài quả, như vậy chẳng phải những quả lê xấu xí sẽ ít đi sao?”.

Người Do Thái được dạy rằng, họ phải biết quý trọng hoa tươi trái ngọt, bởi đó là những thứ mà nước và ánh mặt trời đã ban tặng cho họ. Bà mẹ Do Thái nói, những quả lê kia không phải là không ăn được nữa, chỉ có chút vấn đề nhỏ thôi, ăn vào cũng chẳng thể ảnh hưởng tới sức khỏe. Bà nói: “… Mẹ mong rằng từ chuyện quả lê nhỏ bé này, các con có thể học được cách chia sẻ và giúp đỡ người khác”.

Sau đó, cô con gái út liền hỏi lại bà: “Tại sao vậy? Tại sao con lại phải ăn những quả xấu xí này? Tại sao không cho con ăn những quả ngon đằng kia?”.

Thấy vậy, Sara Imas trả lời: “Một quả lê khi còn ở trên cây thì chẳng vấn đề gì, nhưng khi người nông dân hái xuống và cho vào giỏ, chúng va vào nhau nên mới có những vết xước sẹo. Cuộc đời chúng ta cũng vậy, sau này khi bước vào xã hội, các con sẽ phải va chạm với rất nhiều vấn đề, khi đó các con cũng sẽ hy vọng có người thấu hiểu và đồng cảm với mình, giống như hôm nay các con đồng cảm với những quả lê này vậy.”

Bà mẹ Do Thái đã dạy con một thói quen tốt, đó là biết cách thông cảm cho người khác. Một người dù thông minh đến đâu, nếu chẳng có thói quen tốt thì rất đáng lo ngại. Từ việc chấp nhận những quả lê, quả táo có vấn đề, khi bước chân vào xã hội, ta cũng học cách chấp nhận những khuyết điểm nhỏ bé của người khác.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cách Dạy Con Của Các Người Mẹ Do Thái

Hướng Dẫn Đề Phòng Sốc Nhiệt Cho Người Lớn Tuổi – ST

3 cách dự phòng sốc nhiệt
cho người lớn tuổi

unnamed (4)

“Tăng thân nhiệt nghiêm trọng” hay còn gọi là “Sốc nhiệt” là nguyên nhân gia tăng số trường hợp nhập viện và tử vong vào mùa hè, mùa nắng nóng hàng năm.

Sốc nhiệt là khi thân nhiệt một người tăng quá cao — thường hơn 104 độ F (40 độ C) — trong khi nhiệt độ môi trường cao và độ ẩm môi trường cao ngăn cản cơ thể tự làm mát bằng cách đổ mồ hôi và thở. Triệu chứng của sốc nhiệt gồm nhịp tim nhanh, thở gấp, chóng mặt, buồn nôn, chuột rút cơ và lú lẫn. Cuối cùng bệnh nhân có thể mất ý thức hoàn toàn.

Sốc nhiệt nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Trung bình, có khoảng 658 người Mỹ chết mỗi năm vì sốc nhiệt, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh.

unnamed (5)

Nạn nhân của sốc nhiệt có thể ở mọi lứa tuổi, nhưng thường là người lớn tuổi – đặc biệt là những người trên 70 tuổi – vì khả năng điều chỉnh thân nhiệt của cơ thể suy giảm theo tuổi tác.

Ngoài ra, nhiều loại thuốc thông thường được sử dụng để kiểm soát huyết áp, co giật và rối loạn tâm lý làm giảm khả năng điều chỉnh nhiệt độ của một người. Những rủi ro đó thậm chí còn tăng lên khi một người cao tuổi không có nhận thức về đợt nắng nóng nguy hiểm, không có máy điều hòa không khí hoạt động trong nhà của họ và không có ai kiểm tra và bảo trì máy móc.

unnamed (7)

Ngoài tuổi cao, các yếu tố khác làm tăng nguy cơ sốc nhiệt là béo phì, tiểu đường và bệnh tim.

Dưới đây là 3 cách dự phòng tình trạng có thể gây chết người này:

Uống đủ nước

unnamed (8)

Trong thời tiết nóng hơn, hãy uống nhiều nước hơn và tránh đồ uống có đường và rượu.

Trong thời tiết nóng hơn, hãy uống nhiều nước hơn và tránh đồ uống có đường và rượu. Nếu bác sĩ hạn chế lượng nước uống hàng ngày của quý vị vì suy tim hoặc một chẩn đoán khác, hãy liên lạc với họ trong đợt nắng nóng để tránh các biến chứng y tế.

Nghỉ ngơi sau khi tập thể dục 

unnamed (9)

Không tập thể dục vào những thời điểm nóng nhất trong ngày — thường từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều — và hãy kéo dài thời gian nghỉ ngơi sau tập luyện khi nhiệt độ và độ ẩm tăng cao.

Tìm một môi trường mát mẻ

unnamed (10)

Nếu nhà quý vị không có máy lạnh hoặc ô tô không có máy lạnh, hãy thử vài cách sau:

– Mặc quần áo nhẹ, thoáng khí
-Tránh ra ngoài dưới ánh nắng trực tiếp
– Sử dụng quạt hơi nước và ngồi trước quạt
– Tắm nước mát hoặc tắm vòi hoa sen
– Chườm mát vùng cổ, nách hoặc đầu

Quạt có thể giúp ích, nhưng quạt không làm giảm nhiệt độ không khí. Quạt làm cho không khí di chuyển trên da, dẫn đến bay hơi mồ hôi, làm giảm nhiệt độ cơ thể. Mặc dù quạt rất hữu ích, nhưng điều hòa không khí sẽ tốt hơn ở độ ẩm cao vì nó tạo ra không khí khô hơn cho phép cơ thể tự làm mát dễ dàng hơn.

Trong đợt nắng nóng, hãy dành thời gian kiểm tra với những người hàng xóm, gia đình và bạn bè lớn tuổi để đảm bảo rằng họ có phương tiện để giữ mát.

Quý vị biết được những gì cần làm như chỉ cần giữ mát, nghỉ ngơi và cung cấp đủ nước cho cơ thể để tránh sốc nhiệt. Thật đơn giản, phải không ?

Gabriel Neal là phó giáo sư lâm sàng về y học gia đình tại Đại học Texas A&M.

Gabriel Neal – Thu Anh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hướng Dẫn Đề Phòng Sốc Nhiệt Cho Người Lớn Tuổi – ST

NỘI tác phẩm của Tiểu Tử do Hưng Huỳnh sưu tầm

Nội

Tiểu Tử

unnamed (1)

– Nội xuống kìa!
– Nội xuống! Ê! Nội xuống!
– Nội xuống!

Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngõ. Ngoài đó, tiếng xích lô máy cũng vừa tắt.

Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc tay, nhìn tôi, im lặng. Tôi hiểu: Bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biên. Sáng sớm mai là đi rồi…

Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ:
– Không sao đâu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với má.

Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng vừa vào tới sân. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói,hí hửng vui mừng.

Bởi vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất nhiều đồ ăn, bánh trái thịt thà …

Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối thường ngày được thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu nướng nêm nếm. Nhờ vậy, mấy bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất vào tay Việt Cộng…

Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng “trưởng ban hậu cần” hoặc “chị nuôi” và lâu lâu hay trông có bà Nội xuống. Và lúc nào câu chào mừng của chúng nó cũng đều giống như nhau: “Nội mạnh hả Nội” Nội có đem gì xuống ăn không Nội”

Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn triền miên của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi!

Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà nội, một tay cặp kè với bà nó đi vào như hai người bạn.

Bà nó cưng nó nhứt nhà. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích bà nội ở điều đó và thường nói:
– “Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi!”

Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mắt.

Tôi hỏi má tôi:
– Sao bữa nay xuống trưa vậy nội.

Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng “nội” như các con. Nói theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng “má” nhưng sao vẫn không nghe đầm ấm nồng nàn bằng tiếng “nội” của các con.

Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra “ông nội” hay “bà nội”. Cha tôi mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng “nội” ngắn gọn để gọi bà của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy trìu mến.

Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời:
– Thôi đi mày ơi!… Mấy thằng công an ở Trảng Bàng mắc dịch! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ. Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy tao có đem một lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu cũng không nghe. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu!

Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng:
– Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mỡ nước. Ai đó nghĩ coi! Nội tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rồi. Đi buôn kiểu gì mà ngu dại vậy hổng biết!

– Ủa Rồi làm sao nội đi được. Bộ tụi nó giữ lại lon mỡ hả nội. Con gái lớn tôi chen vào.
– Dễ hôn! Nội đâu có đễ cho tụi nó “ăn” lon mỡ, con! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ.

Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe:
– Cái rồi … cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải.

Nghe đến đây, bày con tôi cười thích thú. Bởi vì tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện “gan cùng mình” của bà nội hồi xưa.

Con út nóng nảy giục:
– ”Rồi sao nữa nội”

– Cái rồi… lối mười một mười hai giờ gì đó nội hổng biết nữa. Ờ… cở đứng bóng à. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngang. Nó đi qua khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại chào hỏi: “Ủa” Bà Tám đi đâu mà ngồi đó vậy”

Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giáo Chén ở Tha-La, tụi bây không biết đâu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghe. Nó cười ngất. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đó.

Lên xe thì đã trưa trờ rồi… Ti! Kiếm cây quạt cho nội, con!

Ti là tên con út. Cây quạt là miếng mo cau mà má tôi cắt, vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nớ bớt cong.

Má tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói:
“Nội thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem xuống cho tụi con xài. Kệ nó, xấu xấu chớ nó lâu rách”.

Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà mặt mày tươi rói: tối nay nó có “bạn” ngủ chung để kể chuyện! Vợ tôi đem áo bà ba của má tôi vào buồng mấy đứa con gái, tôi trong đó hỏi vọng ra:
– Nội ăn gì chưa nội”
– Khỏi lo! Tao ăn rồi. Để tao têm miếng trầu rồi tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã.

Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sau. Tôi nhìn theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạt.
Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi chẳng còn gì thay đổi. Vẫn loại quần vải đen lưng rùa, vẫn áo túi trắng ngắn tay có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi cắt may: miệng túi cao lên tới ngực chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thấy. Mấy đứa nhỏ hay đùa:
“Cha… bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm túi sâu vậy nội”

Má tôi cười: “Ậy! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây”. Những thứ gì không biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây!

Tôi là con một của má tôi. Vậy mà sau khi cha tôi chết đem về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đó. Nói là để châm sóc mồ mả và vườn tược cây trái.
Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Sài Gòn, mặc dù rất thương mấy đứa cháu. Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích – dạo đó, Việt cộng hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm – má tôi thường chắc lưỡi nói:
“Thiệt… không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo”. Cái “xứ” Sài gòn, đối với má tôi, nó “tù chân tù tay” lắm, trong lúc ở Gò Dầu má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi vẫn thường xuyên xách cuốc xách dao ra làm vườn, làm cỏ.

Vả lại chung quanh đất má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi, thành ra má tôi qua lại cũng gần. Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dễ. Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy cô đơn hiu quạnh. Lâu lâu nhớ bầy con tôi thì xuống chơi với chúng nó năm bảy bữa rồi về. Má tôi hay nói đùa là “đi đổi gió”

Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình tôi càng ngày càng bẩn chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong nhà lần lần để ăn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang “cái gì để ăn” cho chúng nó.

Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn má tôi thì tuổi đã về chiều.
Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư “bậc hai trên sáu”, tôi đã không nuôi nổi má tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt ca cắt củm mang đồ ăn xuống tiếp tế cho gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo cho tôi thuở tôi còn thơ ấu!
Thật là một “cuộc đổi đời” đúng như Việt Cộng thường rêu rao: “Cách mạng là một cuộc đổi đời!”
Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa hài hước!

Lắm khi tôi tự hỏi: “Rồi sẽ đi đến đâu” Bấy giờ tôi đã trở thành “trưởng ban văn nghệ” của cơ quan, một lối đi “ngang” mà nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cũ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước cách mạng cho là vô dụng, không “đạt yêu cầu”.
Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn “nghiệp dư” của cơ quan tập dượt hát múa. Thật là hề. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc Kampuchia, tương lai xa hơn thì thật là mù mịt!

Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba người.
Vậy là chúng tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tôi. Chuyện này, chúng tôi giấu má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn. Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo.

Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cùng. Rủi đi không thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi thoát cũng chưa chắc là sẽ đến bờ đến bến.
Người ta nói trong số những người đi thoát, hai phần ba bị mất tích luôn. Thành ra, “vượt biên” là đi vào miền vô định…

Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông ông Đốc để xuất hành ngay trong đêm đó. Tôi thắc mắc hỏi:
“Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha nội” Bạn tôi cười:
“Ai cũng nghĩ như anh hết. Tụi Việt Cộng cũng vậy. Cho nên hể có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn gì hết. Hiểu chưa”

Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi xuống Cần Thơ. Như vậy là chúng nó sẽ hiểu. Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn nhứt. Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hay. Chừng đó thì “sự đã rồi”…

Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng không được. Đành phải nói cho má tôi biết. Nhưng nói lúc nào đây. Và nói làm sao đây.
Liệu má tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khác. Liệu má tôi có chấp nhận cho tôi không giữ trọn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các con.
Liệu má tôi … liệu má tôi … Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lời…

Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sân. Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày xưa đã bị chúng tôi đào lên đấp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lang, vài hàng bắp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải có. Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải “tăng gia” cho đúng “đường lối của nhà nước”.

Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu có… trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi “nhét kẻ răng”! Vậy mà tên công an phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen:
“Anh chị công tác tốt đấy chứ. Tăng gia khá nhất khu phố đấy! Các cháu tha hồ mà ăn”. Anh ta không biết rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn “tăng gia”, họ đã phải đào cả sân xi-măng hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để “làm tốt”

Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho nội. Nó vén áo túi nội lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai cái vú teo nhách. Tôi tự hỏi:
“Lạ quá! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm teo vú nội đến như vậy được”. Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính hai cái núm đen đó đã nuôi tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lao.
Tôi cảm thấy thương má tôi vô cùng. Tôi len lén từ phía sau lòn tay măn vú má tôi một cái. Má tôi giựt mình, rút cổ lại:
– Đừng! Nhột! Thằng chơi dại mậy!
Rồi má tôi cười văng cốt trầu. Con Ti la lên:
– Má ôi! Coi ba măn vú nội nè!

Tôi cười hả hê thích thú. Trong khoảnh khắc thật ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên năm…
Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã quên mất rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc!
Và cũng quên mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại má tôi nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm nay…

Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con tôi sáng rỡ. Bữa cơm thật tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xưa. Có gà nấu canh chua lá giang, một loại giây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi mới có. Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đà. Bà thường nói:
“Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon”. Mà thật vậy. Tô canh nóng hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt của lá giang, mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hành…

Húp vào một miếng canh chua, phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy mới đúng.
Nằm cạnh tô canh chua là tô cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo, bỏi vì trong cá kho có tép mỡ và trước khi bắt xuống, bà nội có cho vào một muỗng mỡ nước gọi là “để cho nó dằn”!

Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra khi cắn vào nó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của miếng cá lên gấp bội.
Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngã màu vàng sậm thật là đậm đà …
Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt nước mắt. Nội hỏi:
– ”Bộ cay hả”
Vợ tôi “dạ”, tiếng “dạ” nằm đâu trong cổ. Rồi buông đũa, mếu máo chạy ra nhà sau. Tôi hiểu. Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà cả gia đình còn xum họp bên nhau.
Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vậy nữa. Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chết. Còn những người ở lại, ai biết sẽ còn tan tác đến đâu.

Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lắm. Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt phải thật đầy cổ họng… để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực từ dưới dâng lên.

Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa, để khỏi phải nhìn má tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà có thể tôi sẽ vĩnh viễn không còn thấy lại nữa.

Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối, trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ, mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối những người thương để rồi chảy nước mắt trước khi tắt thở.
Rồi tôi thấy tôi cũng giống như người đang hấp hối, không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn, cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật mơ hồ mà mình không hình dung được, không chủ động được!

Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái:
– Nè! Ngon lắm! Ăn đi! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có mà ăn!

Ý má tôi muốn nói rằng ở với Việt Cộng riết rồi đến loại cá kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khác. Nhưng trong trường hợp của tôi, lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt. Nó giống như: “Má cho con ăn lần này lần cuối. Ăn đi con! Ăn cho ngon đi con!”.

Tôi ngậm miếng cá mà nước mắt trào ra, không kềm lại được. Nếu không có mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi thống khổ đã dằn vật tôi từ bao nhiêu lâu nay…
Đằng này, tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm thấy như nó thật đầy xương xóc!

Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên:
– ”Ủa. Mày cũng bị cay nữa sao”
Rồi bà chồm tới nhìn vào tô cá. Các con tôi nhao nhao lên:
– Đâu có cay, nội.
– Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hai.
– Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay.
– Con ăn được mà nội. Có cay đâu.

Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lòng. Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt!
Tôi đặt chuyện, nói tránh đi:
– Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái gì mặn nó rát.

Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động lắng xuống. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạn sỏi, nuốt không trôi…

Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trò. Thỉnh thoảng nghe cười vang trong đó. Chen trong tiếng cười trong trẻo của các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trầu.
Những thanh âm đó toát ra một sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phúc. Lúc này, có nên nói chuyện vượt biên với má tôi hay không. Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp nội.

Ngoài phòng khách, tôi đi tới đi lui suy nghĩ đắn đo. Vợ tôi còn lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bong.
Tôi bèn vào buồng ngủ, trải chiếu dưới gạch – từ lâu rồi, vợ chồng tôi không có giường tủ gì hết – rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên trán mà thở dài…

Thời gian đi qua… Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang song song trắng đục.
Trong phòng bóng tối cũng lợt đi. Không còn nghe tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa lớn ngoài phòng khách, để trằn trọc suốt đêm chờ sáng.

Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ:
– Ba con Ti ngủ chưa vậy.
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe:
– Dạ chưa, má.
Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói:
– Coi bộ nực hả mậy.
– Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má à.
Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bán.
Im lặng một lúc. Tay má tôi vẫn quạt đều. Rồi má tôi hỏi:
– Tụi bây còn gì đề bán nữa hông.
– Dạ…
Tôi không biết trả lời làm sao nữa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái sườn, không ai chịu chở đi. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn, cái tủ thờ nhỏ và bộ sa-long mây “sứt căm gãy gọng”.

Ngoài ra, trên tường có chân dung “Bác Hồ” dệt bằng lụa và nhiều “bằng khen”, “bằng lao động tiên tiến”… những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho, chưa chắc gì có ai thèm lấy!

Bỗng tôi nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi: “Ba tự hào đã giữ tròn liêm sĩ từ mấy chục năm nay. Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng không được, đem ra chợ trời bán cũng chằng có ai mua. Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá!”

Lúc đó, tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề “Bán cái liêm sỉ, loại chánh cống. Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ”. Thật là khùng nhưng cũng thật là chua chát!

Nghe tôi “dạ” rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên nói: “Rồi mầy phải tính sao chớ chằng lẽ cứ vậy hoài à. Tao thấy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu hết sức.”

Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định:
– Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao già rồi, mai mốt cũng theo ông theo bà. Mầy đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy kìa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nó. Mầy liệu mà đi, đi! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi! Ở đây riết rồi chết cả chùm. Không chết trận trên Miên thì cũng chết khùng chết đói. Thà tụi bây đi để tao còn thấy chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nữa. Mầy hiểu hôn.

Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mắt. Chuyện mà bao lâu nay tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai nguồn. Và tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng! Thật là ngược đời: có người mẹ nào lại muốn xa con. Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa khốn nạn này mới xảy ra những chuyện “đổi đời” như vậy!

Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ:
– Má à! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói. Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biên.
Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng. Một lúc lâu sau, má tôi mới nói:
– Vậy hà…
Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cổ. Tôi nuốt xuống mấy lần, rồi cố gắng nói:
– Con đi không biết sống hay chết. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nó…

Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngất. Tôi nghe có tiếng quạt phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục giống như hồi nhỏ má tôi vỗ về tôi để tôi nín khóc.
Một lúc sau, má tôi nói :
– Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sớm.

Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má tôi vừa thắp đèn cầy trên bàn thờ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà lôi mấy đứa nhỏ đang cầu nguyện ngoài đó.
Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như đang nằm trong một cơn mộng…

Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đi. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần áo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay xúc động hết. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và chuẩn bị tinh thần.
Riêng tôi, thật là trầm tĩnh. Nước mắt đêm qua đã giúp tôi lấy lại quân bình. Thật là mầu nhiệm!

Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vợ tôi, ôm má tôi. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn.
Tôi chỉ nói có mấy tiếng:
– Con đi nghe má!
Rồi bước ra khỏi cổng.

Lần đó, tôi đi thoát.
Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con tôi rời Việt Nam sang sum họp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mình.

Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện “bên nhà” cho tôi nghe, hết chuyện này bắt qua chuyện nọ. Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhứt.

Tụi nó kể: “Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiếm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội ra. Nội nói rằng nội nhờ ba về Tây Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi bời, tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nữa. Nói rồi, nội khóc thật mùi mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan tin thiệt, họ an ủi nội mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa”.

Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục: “Nội hay thiệt!”
Nghe kể chuyện, tôi bồi hồi xúc động. Tôi biết lúc đó má tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghĩ. Bởi vì, trong hai trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau, nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau y hệt.
“Ba con Ti đi không biết sống hay chết” vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi. Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu nội, nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán bộ, nó đã có dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mắt…

“Rồi sau đó – tụi con tôi kể tiếp – nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương, chớ má thì ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang họa cả đám.
Lâu lâu, nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi con. Thấy nội già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá, tụi con có can ngăn nhưng nội nói nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông theo bà!”

Tôi biết: má tôi là cây cau già – quá già, quá cỗi – nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu… Hình ảnh đó bỗng làm tôi ứa nước mắt.
Thương má tôi và nhớ cả quê hương. Cái quê hương tuyệt đẹp của tôi mà Việt Cộng đã cướp mất. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thích.
Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút hy vọng sống thêm vài ba năm nữa!
Bây giờ, vợ con tôi cũng đã đi hết. Má tôi còn lại một mình. Thân cây cau giờ đã nhẵn dây trầu, thêm tuổi đời một nắng hai mưa. Tôi biết! Má ơi! Con biết: cây cau già bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu non…

Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà tưng bừng như hội. Tụi nó nói: “Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hồi. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông giống như báo tin vui cho hàng xóm!”

“Mấy hôm sau, bỗng có công an phường lại nhà. Công an đến nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên công an ngoài ngõ, trong này nội niệm phật để tự trấn an. Sau đó, nội cũng kể chuyện ba về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đó. Rồi nội khóc…”

Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống, sống mà vĩnh viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã chết.

“Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mất. Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi: Bà cụ đừng có lo! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với chúng cháu. Cứ yên chí!”

Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại chuyện đó cho tụi con nghe, rồi nói: “Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi mà nội muốn xỉu luôn! Không phải vì cảm động mà vì sợ! Ở với tụi nó, thà chết sướng hơn!”

Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân quyến đến chia tay đầy nhà. Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giả biệt – hay đúng ra để vĩnh biệt – tất cả mọi người đều khóc.
Đó là lần cuối cùng mà má tôi khóc với bầy cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại sao mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy còm càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật nhiệm mầu mà Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng.

Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài, chuyền nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngõ.
Tôi hình dung thấy những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê dại, không biết thương cho bạn mình đi hay thương cho thân phận mình, người ở lại vơi đầy chua xót…
Mấy con tôi nói: “Nội không theo ra phi trường. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện”.

Tôi làm việc ở Côte d’Ivoire (Phi Châu), cách xa vợ con bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cầu.
Những lúc buồn trống vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cả. Mặt nước vuốt ve chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thào… những thứ đó làm như chỉ dành cho riêng tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy như được vỗ về an ủi.
Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cùng. Trên đời này má tôi là người duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tóc.

Ngay đến đêm cuối cùng trên quê hương, cũng chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi con… Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi bao la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn trước mặt.

Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển cả…

Tiểu Tử

(Bài do Hưng Huỳnh chuyển)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở NỘI tác phẩm của Tiểu Tử do Hưng Huỳnh sưu tầm

Đàn Bà Dễ Có Mấy Tay- Nói Về Bà Thủ Tướng Đức. ST

ĐÀN BÀ DỄ CÓ MẤY TAY ! 


Tuần lễ cuối tháng ba đầu tháng tư vừa rồi, Tập Cận Bình, Chủ tịch Trung Quốc đến thăm ba nước Pháp, Đức, Bỉ.
Paris là điểm dừng chân đầu tiên. Ông giành ưu tiên này cho Pháp quốc bởi cách đây tròn 50 năm, tháng Giêng năm 1964, tổng thống Pháp, tướng Charles De Gaule là nguyên thủ phương Tây đầu tiên ban ân huệ cho Mao, công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Để tỏ lòng hiếu khách, Pháp không những trải thảm đỏ tận chân cầu thang máy bay, mà còn trải lòng ra đón. Yến tiệc xa hoa chưa từng có tại lâu đài Versailles nguy nga. Buổi hòa nhạc Trung Hoa tại nhà hát Opera. Dạ tiệc, khiêu vũ lu bù trong cung điện Roi-Soleil tráng lệ. Champagne trào bọt trắng lòa với những hợp đồng chục tỷ Euro.

Khác hẳn Pháp, người Đức đón Tập không ồn ào, xa xỉ, nhưng cũng vẫn giành được những hợp đồng không thua kém. Đặc biệt là bà Thủ tướng Angela Merkel đã ghi hai bàn thắng ngoạn mục, mà vẫn giữ đúng những nghi lễ ngoại giao.

Bàn thắng thứ nhất: Tập muốn sử dụng chuyến thăm Đức để gây một sức ép, buộc Nhật phải thừa nhận những tội lỗi đã gây ra cho Trung Quốc trong Thế chiến II. Để thực hiện ý đồ này, Tập khéo léo mời bà Angela Merkel cùng đến thăm đài tưởng niệm nạn nhân chiến tranh Holocaust. 

angela merkel
Bà Merkel khôn ngoan nhận ra ngay ý đồ. Bà đáp: “Ngài có thể đi một mình vào lúc rảnh rỗi”. Bà không dại gì tham dự vào vòng xoáy ma quái của những cuộc chơi do Tập bày ra. Bị từ chối thẳng thừng, Tập cười lịch sự, nhưng trong lòng hẳn cay đắng lắm.

Bàn thắng thứ hai: Trong bữa ăn tối chia tay, ở mục tặng quà lưu niệm, bà Merkel tặng Tập một tấm bản đồ Trung Quốc cổ, do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon vẽ vào năm 1735, dựa trên những khảo sát địa lý của các nhà truyền giáo Dòng Tên, và được xuất bản tại Đức vài năm sau đó.

Tập cầm quà trong tâm trạng nửa cười nửa mếu. Trên tấm bản đồ có ghi “China Proper”(Trung Quốc chính thức) trong đó không có Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Điếu Ngư, hay biển Đông. Riêng đảo Đài Loan và Hải Nam được vẽ bằng một màu khác, ngụ ý rằng hai hòn đảo này chưa thuộc quyền kiểm soát hoàn toàn của nhà Thanh lúc đó.

Những nội dung trên tấm bản đồ này lại trái ngược với quan điểm chính thức của chính quyền do Tập đang điều hành. Theo họ thì Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Đài Loan, Điếu Ngư, và biển Đông là “lãnh thổ lịch sử không thể chối cãi của Trung Quốc”.
Hơn nữa, những chi tiết trên bản đồ lại gợi ra bao vấn đề. Bản đồ được vẽ năm 1735 là năm Hoàng Đế Càn Long trị vì. Ông là một nhân vật kiệt xuất nhất trong triều đại nhà Thanh, mà vẫn chưa thể kiểm soát nổi những vùng miền nói trên thế thì làm sao có thể gọi là “lãnh thổ lịch sử từ thời cổ đại”, “không thể tách rời”, “không thể chối cãi”.

Tổng thống Pháp François Hollande tiếp Tập lịch sự đến mức ông không dám nhắc đến chuyện “nhân quyền” mà Tập vốn ghét cay ghét đắng. Còn bà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã chẳng ngại ngùng đánh thẳng vào lòng kiêu hãnh bành trướng không phải của riêng Tập mà cả dân tộc Đại Hán.
Báo chí phương Tây gọi món quà bản đồ là “cú tát tai của Merkel” có lẽ cũng không ngoa.

                      Quả là:
           Đàn bà dễ có mấy tay,
  Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan ?

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đàn Bà Dễ Có Mấy Tay- Nói Về Bà Thủ Tướng Đức. ST

TÂM THƯ của Hội H.O. Cứu Trợ TPB & QP VNCH v/v tổ chức Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 14

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÂM THƯ của Hội H.O. Cứu Trợ TPB & QP VNCH v/v tổ chức Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 14

LỜI TRI ÂN của K1 Nguyễn Văn Suốt

LỜI TRI ÂN của K1 Nguyễn Văn Suốt

Vào đầu tháng 7 vừa qua, sau khi giải phẫu thông tim thành công, K1 Nguyễn văn Suốt đã trở về quê ở Mỏ Cày, Bến Tre để tịnh dưỡng. Vừa qua, anh đã gởi tin nhắn (text message) qua anh Trưởng Khóa 1 để nhờ chuyển lời tri ân của anh tới các ân nhân là những mạnh thường quân đã giúp đỡ anh cả về tài lực cũng như tinh thần trong thời gian vừa qua. Dưới đây là nguyên văn nội dung LỜI TRI ÂN của K1 Nguyễn Văn Suốt:

“Hello Anh …….! Kính nhờ anh cho Suốt gửi mấy mấy dòng tâm thư nầy:

LỜI TRI ÂN

Được sự quan tâm trợ giúp về TINH THẦN và TÀI LỰC, Suốt đã vượt qua được cơn nguy khốn (tại biến mạch máu não) và hiện đang dần dần hồi phục. Suốt Nguyễn và gia đình thành kính TRI ÂN QUÝ ÂN NHÂN trong đó có ANH CẢ CỦA NGÀNH, QUÝ NIÊN TRƯỜNG, QUÝ BẰNG HỮU ĐỒNG MÔN (Học Viện CSQG các khóa…), CÁC BẠN THÂN KHÁC…

THÀNH TÂM KÍNH CHÚC QUÝ ÂN NHÂN VÀ QUÝ QUYẾN: BÌNH AN, KHỎE MẠNH VÀ NHIỀU NHIỀU MAY MẮN TRONG CUỘC SỐNG…

Thành kính TRI ÂN Quý Vị.

Suốt Nguyễn (Bến Tre, ngày 26,/7/2021)…”

 

K1 Nguyễn Văn Suốt trong bệnh viện
ĐH Y Dược Saigon ngày 06/6/2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở LỜI TRI ÂN của K1 Nguyễn Văn Suốt

Thông Cáo Báo Chí của VP – DB (Ca) Janet Nguyễn

Dân Biểu Janet Nguyễn Yêu Cầu Ủy Ban Quân Vụ và Cựu Quân Nhân Thượng Viện Tiểu Bang Cho Phép các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà Được Hưởng Những Quyền Lợi An Táng Tại Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ

SACRAMENTO, CA – Ủy Ban Quân Sự và Cựu Quân Nhân của Thượng Viện Tiểu Bang gần đây đã yêu cầu để chung Nghị Quyết AJR 13 (Assembly Joint Resolution) của Dân Biểu Janet Nguyễn với Nghị Quyết AJR 10, để được thông qua vào tuần này. Nghị quyết AJR 13 cuả Dân Biểu Janet Nguyễn kêu gọi Quốc Hội Liên Bang và Tổng Thống Hoa Kỳ cho phép những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa được hưởng những quyền lợi chôn cất và tưởng niệm tại Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ.

AJR 10 là những nỗ lực thành công của Dân Biểu Janet Nguyễn và Dân Biểu Steven Choi liên quan đến những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn. Các chiến sĩ của cả hai Quân Lực đã chiến đấu cùng với các chiến sĩ của Quân Lực Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam vì tự do và dân chủ. AJR 10 hiện kêu gọi Quốc Hội Liên Bang trao cho những người lính dũng cảm này các quyền lợi chôn cất và tưởng niệm tại nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ, cùng với các đồng đội của họ trong Quân Lực Hoa Kỳ.

Theo luật hiện tại, một công dân Hoa Kỳ, trong bất kỳ cuộc chiến nào mà Hoa Kỳ đã hoặc có thể tham gia, đã phục vụ trong Quân Lực của bất kỳ chính phủ nào liên minh với Hoa Kỳ trong cuộc chiến đó, những người đã chấm dứt phục vụ tại ngũ được vinh danh vì tử trận hoặc qua đời, và là công dân Hoa Kỳ tại thời điểm nhập ngũ và tại thời điểm qua đời, đều đủ điều kiện để chôn cất tại nghĩa trang quốc gia.

AJR 10 sẽ kêu gọi Quốc Hội Liên Bang trao cho các Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn những quyền lợi về mai táng và tưởng niệm tại nghĩa trang quốc gia. Đây là những vị đã phục vụ trong chiến tranh Việt Nam nhưng chưa là công dân Hoa Kỳ trong thời gian phục vụ hay sau đó.

Dân Biểu Janet Nguyễn phát biểu: “Những Quân Nhân anh dũng này đã luôn sát cánh chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa Kỳ và đã trở thành công dân Hoa Kỳ, xứng đáng được hưởng các quyền lợi an táng và tưởng niệm thích hợp trong nghĩa trang quốc gia hoặc trong các nghĩa trang của Cựu Quân Nhân của Tiểu Bang. Tôi và gia đình sẽ không có ngày hôm nay nếu không có sự hy sinh của những vị anh hùng này trong cuộc chiến. Họ xứng đáng nhận được sự vinh danh và tôn trọng của chúng ta”.

Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975 và mang theo sự mất mát của hàng trăm ngàn chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Quân Lực Hoa Kỳ, những người đã sát cánh chiến đấu vì tự do và dân chủ.

Sau chiến tranh Việt Nam, nhiều chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và gia đình của họ đã buộc phải vượt biển để thoát khỏi sự cai trị độc tài và đàn áp của chế độ cộng sản. Cha và Chú quá cố của Dân Biểu Janet Nguyễn đều phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Chú của Dân Biểu Janet Nguyễn, là một sĩ quan, đã bị hành quyết trong những ngày cuối cùng khi Sài Gòn thất thủ. Dân Biểu Janet Nguyễn và gia đình đã phải vượt biển đến Hoa Kỳ để tìm tự do và dân chủ.

Tại Hoa Kỳ, những người lính Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục đấu tranh cho dân chủ, tự do tôn giáo, và nhân quyền tại Việt Nam. Họ đã đóng góp về mặt văn hóa và kinh tế cho đất nước Hoa Kỳ và cho sự đa dạng của dân tộc chúng ta. Những cựu quân nhân này đã sát cánh chiến đấu cùng những người lính Hoa Kỳ để chống lại kẻ thù chung và liều mình cứu sống nhiều chiến sĩ Hoa Kỳ.

Dân Biểu Janet Nguyễn phát biểu: “Tôi rất vui mừng với những công việc mà chúng tôi đã và đang làm để giúp những cựu quân nhân này. Tôi rất vinh dự khi được cùng đồng nghiệp của tôi, Dân Biểu Steven Choi, cùng nhau tìm ra giải pháp để vinh danh những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn”.

Dự luật đã được thông qua bởi Ủy Ban Quân Vụ và Cựu Quân Nhân Thượng Viện Tiểu Bang. Hiện tại, dự luật đang được đệ trình lên Thượng Viện Tiểu Bang để bỏ phiếu. Sau khi thông qua Thượng Viện, AJR 10 sẽ chuyển đến Hạ Viện Tiểu Bang.

Để chứng minh với Quốc Hội sự quan tâm và tầm quan trọng của Nghị Quyết AJR 10 đối với Cộng Đồng Việt Nam nói chung và các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nói riêng, Dân Biểu Janet Nguyễn rất mong muốn chúng ta có được nhiều chữ ký ủng hộ để trao cho Uỷ Ban trước khi họ có quyết định về Nghị Quyết. Vì tình hình dịch bệnh, quý đồng hương không thể đích thân đến Uỷ Ban Điều Trần để kêu gọi ủng hộ cho AJR 10. Thế nên, Dân Biểu Janet Nguyễn kêu gọi quý đồng hương khắp nơi ký vào bản kiến nghị trên trang mạng http://baovecongdong.com để ủng hộ Nghị Quyết AJR 10.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thông Cáo Báo Chí của VP – DB (Ca) Janet Nguyễn

Thuốc uống điều trị Covid-19 mở ra hy vọng chấm dứt đại dịch ST

Thuốc uống MOLNUPIRAVIR
 hy vọng chấm dứt Đại dịch Covid -19

thuoc-tri-covid-19-molnupiravir-2
Thuốc uống điều trị Covid-19 mở ra hy vọng chấm dứt đại dịch

15/07/2021

Mỹ đang thử nghiệm giai đoạn 3 loại thuốc điều trị Covid-19 qua đường uống và có thể đưa ra thị trường vào cuối năm nay.

Đây là một tin vui với tất cả người dân trên toàn thế giới trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp.

Loại thuốc kháng virus có tên Molnupiravir của Mỹ đang là ứng viên tiềm năng nhất cho hy vọng chấm dứt đại dịch Covid-19 trong tương lai gần.

Thuốc Molnupiravir được phát triển bởi sự hợp tác giữa 2 công ty Rigibel (Đức) và Merk (Mỹ). Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 1 và giai đoạn 2 đã hoàn tất với hiệu quả 100% trên các bệnh nhân Covid-19. Sau 5 ngày, tải lượng virus của bệnh nhân xuống thấp đến ngưỡng không lây lan.

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 cũng gần đi đến chặng cuối với hiệu quả rất tốt, dự kiến sẽ có kết quả ngay trong mùa thu năm nay.

Thuốc Molnupiravir mang đến nhiều kỳ vọng cho người dân khắp thế giới

Nếu quá trình nghiên cứu suôn sẻ, thuốc Molnupiravir sẽ được đưa ra thị trường trong 4-5 tháng tới.

Loại thuốc này được nghiên cứu dựa trên thuốc gốc chống lại virus cúm, có tác dụng ức chế sự sao chép của các virus RNA trong đó có SARS-CoV-2 khiến virus không nhân lên và bị đào thải rất nhanh, giúp bệnh nhân khỏi bệnh. Đặc biệt, thuốc có rất ít tác dụng phụ, phổ biến là nhức đầu, mất ngủ.

Molnupiravir sử dụng dễ dàng qua đường uống, điều trị các bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 giai đoạn đầu. Theo đó, mỗi bệnh nhân sẽ uống 2 liều mỗi ngày và duy trì trong 5 ngày ngay tại nhà.

Nếu nghiên cứu pha 3 thành công, trong tương lai việc điều trị SARS-CoV-2 sẽ giống như điều trị các loại cúm khác.

Hiện tại, Chính phủ Mỹ đã chi khoảng 1,2 tỉ USD để mua 1,7 triệu liệu trình thuốc Molnupiravir sử dụng cho các bệnh nhân Covid-19. Nếu kết quả thành công, FDA của Mỹ sẽ cấp phép cho loại thuốc này.

Từ tháng 3 năm ngoái, sau khi phát hiện hàng triệu con chồn bị chết hàng loạt tại các trang trại ở Hà Lan và Nauy do một chủng coronavirus, nhóm nghiên cứu đã cho chồn sử dụng thuốc Molnupiravir. Kết quả không phát hiện virus trong các con chồn bị bệnh sau 24 giờ. Từ kết quả đó, nhóm nghiên cứu tiếp tục phát triển, nâng cấp thuốc Molnupiravir để thử nghiệm trên người.Ngày 9/7 vừa qua, Phòng thí nghiệm Hetero của Ấn Độ cũng đang xin cơ quan quản lý cấp phép thuốc Molnupiravir để sử dụng trong chương trình khẩn cấp sau khi nghiên cứu thử nghiệm ban đầu cho thấy thuốc có tác dụng giảm tỉ lệ nhập viện và tăng tốc độ hồi phục của các bệnh nhân Covid-19 nhẹ.
GS Trần Văn Thuấn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thuốc uống điều trị Covid-19 mở ra hy vọng chấm dứt đại dịch ST

K1 Bắc Cali thăm bạn đồng môn

Thăm sức khoẻ K1 Bích và K1 Loan

Sau hơn một năm bị nạn COVID 19 cột chân, sáng nay 19/7/2021 một số K1 Bắc CA gồm Đinh Văn Hạp, Phan Quang Nghiệp, Bửu Hồng ,Trần Quốc Nại và Nguyễn Văn Hải đã đi thăm các bạn K1 Đặng Khắc Bích và K1 Phạm Thị Loan.

Bích da dẻ hồng hào, hai chân còn yếu phải đi Walker , bệnh bón nặng, răng xệu xạo rụng gần hết , nhưng tinh thần tươi tỉnh, đôi mắt sáng quắc tinh anh, nói cười  vui vẻ.

Còn Chị Loan thì bị đau cột xương sống, BS nói mổ thì 5 ăn 5 thua nên không giám .

Bạn Hải nói: “từ hôm nay thôi không đi làm nữa ở nhà săn sóc cho Chị (OK ).

Nói chung sức khoẻ của tuổi già chúng ta không yếu chỗ nầy cũng yếu chỗ kia . Quan trọng là mọi người đều lạc quan yêu đời nói cười  vui vẻ là mừng lắm rồi ( trên dưới TÁM BÓ hết rồi !!!!).

Đinh Hạp chụp được mấy tấm hình gởi quý bạn xem.

Thân mến

Nghiệp + Hạp Bắc Cali

TB cám ơn Bửu Hồng và Mai Hương đã đãi cơm sườn nướng và rất nhiều trái cây ngon ngọt cho phái đoàn sau khi đi thăm về.
Thanks  a lot !!!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Bắc Cali thăm bạn đồng môn

Sài gòn vào hạ – Thơ Nguyễn Phiến

         SÀI GÒN VÀO HẠ

nho-mua-hoa-phuong-60-050328

Trời vào Hạ nhớ Sài gòn chi lạ
Nhớ phượng hồng rộn rã tiếng ve ngân
Lá me bay hoàng hôn rơi chầm chậm
Con đường chiều tấp nập những bước chân
Vai kề vai tóc mây xòa vừng trán
Má tươi hồng nón lá che vành môi
Sắc lụa là chập chờn bao tà aó
Bước ngập ngừng mắt biếc khúc khích cười
Gót đài trang dấu giày nghiêng bóng nhỏ
Saì gòn thứ bảy hoa phủ đường yêu
Lời nỉ non trời trong xanh kỳ diệu
Tiếng thì thầm phong gấm đẹp mỹ miều
Đại lộ tưng bừng hương tình say đắm
Ghế đá công viên sở thú, Tao đàn
Lê Lợi, Bạch Đằng, Tự Do, Nguyễn Huệ
Những con đường vô địch ngốn thời gian
Cứ như thế rong chơi cùng ngày tháng
Ánh sáng Đô thành huyền hoặc lung linh
Em cho ta cả một thời hoa mộng
Sài gòn hòn ngọc, một thuở thần tiên
Phượng tím nở chạnh lòng hoa phượng đỏ
Phố xá tưng bừng muôn vẽ hồng tươi
Mất em rồi, Sài gòn nay xa quá
Thương nhớ vô vàn, ôi thương nhớ ơi

Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sài gòn vào hạ – Thơ Nguyễn Phiến

TÔI THẤY HOANG TÀN TRÊN TUỔI XANH… Bài do Nguyễn văn Vinh ST

 TÔI THẤY HOANG TÀN
TRÊN TUỔI XANH
…

179525514_808195803137583_5691716449627803412_n

Đó là một buổi chiểu của năm 1987. Một buổi chiều mà tôi cứ hay bị ký ức lôi về căn phòng tối thăm thẳm không lời đáp.

Đó là năm thứ 2 trung cấp, tôi đang theo học ở Nhạc Viện TP. Buổi chiều với giờ học Trích giảng Âm nhạc của thầy Trương Hữu Lang. Cả lớp bỗng sững lại. Gương mặt ông thấy cũng bối rối khi bà bí thư Đảng Uỷ Nguyệt Anh dẫn theo một công an viên đến lạnh lùng gọi tên một người bạn của tôi bước ra khỏi lớp. Anh Trịnh Bằng Phi, học contrabass, luống cuống nghe thông báo rồi quay lại bàn gom sách vở ra về. Từ đó về sau, tôi không bao giờ gặp lại anh được nữa. Anh Phi bị đuổi học bất ngờ vì người ta tìm thấy ba anh là một sĩ quan của chế độ VNCH. Khi ấy anh chưa được 25 tuổi, nhưng đã là một trong những tay chơi contrabass hiếm hoi đủ thể chất và trình độ của miền Nam, thế nhưng anh bị xô ngã một tương lai, vì lý lịch.

Trong suốt những năm theo học ở các trường đại học, tôi học khôn được một chuyện là ở quê hương mình, lý lịch có thể giúp một người đi xa đến bao nhiêu, và ngược lại, có thể tàn phá hành trình đến tương lai nhanh đến nhường nào.

Cho đến hôm nay, khi câu chuyện về anh thanh niên 30 tuổi nhận chức giám đốc Sở ở tỉnh Quảng Nam bị đưa vào các cuộc tranh cãi, tôi lại đọc thấy các phát ngôn trên các trang báo của Nhà nước bảo vệ cho vị giám đốc Sở trẻ trung ấy bằng những lời lẽ nhân ái mà tôi và thế hệ tôi chỉ có mơ mới thấy.

Trả lời phỏng vấn của báo Người Đưa Tin, ông Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long, nói rằng người tài không cần xét là con ai. Còn độc giả Vu Gia thì viết trên VietnamNet rằng “nhắc đến lý lịch làm gì?”.

Tôi chúc phúc cho anh giám đốc Sở 30 tuổi ấy. Và hy vọng rằng nếu anh may mắn được bảo vệ ở đủ chiều cho chức vị ấy, hãy cố gắng chứng minh khả năng của mình với đất quê Quảng Nam nghèo khó. Anh hãy chứng minh là một người lãnh đạo minh bạch và tử tế để vượt qua mọi cái nhìn ghẻ lạnh của dân chúng lúc này.

Anh ta may mắn hơn những người bạn của tôi, của thế hệ tôi.

Những ai từng học qua ở Nhạc Viện vào cuối thập niên 90 chắc đều còn nhớ tay chơi viola tài hoa Phúc Hải. Anh được nhận học ở Nhạc Viện bởi ngay từ lúc thi tuyển, các thầy cô chuyên môn đã nhận ra đó là một tài năng hiếm có. Những năm cuối của bậc đại học, Phúc Hải được các chuyên gia âm nhạc của Nga đến nghe và lập tức chọn để cho học bổng tu nghiệp ở Moscow. Cũng như mọi câu chuyện lãng mạn về âm nhạc, như Đặng Thái Sơn, sinh viên Phúc Hải có thể thử sức mình ở một môi trường thử thách với tài năng của anh.

Thế nhưng vào buổi chiều hôm đó, Phúc Hải được tin anh không được nhận học bổng đi du học, vì ba của anh là thành phần của chế độ cũ. Thầy tôi, giáo sư Đinh Sơn, một đảng viên có hơn 30 tuổi đảng, là người ra sức bảo vệ sinh viên Phúc Hải nhưng rồi thất bại. Ông buồn bã nói với tôi rằng có lẽ ở đất nước này, chuyện lý lịch là một cái bẫy công khai nhưng ai cũng phải bị vướng một lần.

Tôi chúc cho tất cả những bạn trẻ làm quan ở tuổi thanh xuân phơi phới hôm nay, sẽ không có những ngày tháng hoang tàn như bạn bè tôi. Dù bên tai tôi nghe vẫn vo ve những xảo ngữ về chuyện lý lịch không quan trọng, tôi vẫn mong đất nước này người tài có thể cống hiến, và tham vọng cha truyền con nối chức vụ chỉ hiếm hoi ở bọn đê tiện.

Buồn chán, anh sinh viên Phúc Hải tài năng mà tôi biết đã bỏ trường và bỏ hẳn đàn. Sau đó ít lâu anh đi nước ngoài theo diện H.O. Anh là một trong nhiều trường hợp không may về lý lịch.

Lý lịch không phải là chuyện của hôm qua hay hôm nay mới trở thành chuyện bàn cãi, mà Việt Nam đã từ lâu ghi nhận câu chuyện của nghệ sĩ Đặng Thái Sơn với lý lịch có cha Đặng Đình Hưng, là một nghệ sĩ bị chỉ định cư trú kèm theo dõi của công an vì đã tham gia các phong trào Trăm Hoa Đua Nở, Nhân Văn Giai Phẩm. Nếu không có nghệ sĩ dương cầm người Nga Issac Katz ra sức bảo vệ và tìm đủ mọi cách để mang ra khỏi Việt Nam vào năm 1974, thì chưa chắc thế giới đã có một Khôi nguyên người Châu Á giải Chopin quốc tế tại Warsaw, Ba Lan vào 1980.

Chúng ta không muốn nói về lý lịch. Thật vậy. Nhưng rõ ràng lý lịch đã là một hiện thực bất khả biện trên đất nước này, và đã gieo không ít hoang tàn lên tuổi trẻ của chúng ta và nhiều người khác. Vậy hãy đối diện với nó, trò chuyện với nó, chứ đừng tảng lờ và giả nhân giả nghĩa.

Tháng 9/2015, tôi gặp lại anh Nguyễn Hoàng Phương, từng là một trong những tay chơi Oboe xuất sắc của khoa kèn và dàn nhạc giao hưởng của Sài Gòn. Năm 1993, anh Phương cũng từng được cử dự tuyển đi du học ở Nga, như một trong những hạt nhân xuất sắc của dàn nhạc giao hưởng thành phố. Thế nhưng trước vài giờ vào phòng thi tuyển với chuyên gia người Nga, anh được thông báo của bên giáo vụ cho biết anh không đủ tư cách dự tuyển, cũng do có ba là sĩ quan VNCH – dù ba anh đã rời trại cải tạo và về nhà vài năm trước đó.

Còn rất nhiều người mà tôi chưa thể kể hết ở đây. Còn rất nhiều những câu chuyện mà thỉnh thoảng, khi chúng tôi ngồi lại, buồn ngơ ngác vì chỉ thấy hoang tàn trên tuổi xanh của thế hệ mình. Chẳng bao giờ chúng ta có thể thấu hiểu được mất mát nếu cứ giả vờ như những kẻ bại liệt lương tri và ý thức.

Mất mát sẽ là một bài học gần gũi và nhân ái nhất để nhận ra rằng lý lịch chỉ là chuyện vặt cần phải bước qua, nếu tuổi trẻ sớm được trao cho cơ hội để cống hiến danh dự, trách nhiệm cho tổ quốc. Nhưng tuổi trẻ sẽ mãi mãi hoang tàn, nếu chỉ biết nhìn quê hương như những phần ăn giấm giúi cho nhau dưới gầm bàn quyền lực. Tuổi trẻ đó, thời đại đó, sẽ không khác gì dành cho loài dã thú.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh Nguyen

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TÔI THẤY HOANG TÀN TRÊN TUỔI XANH… Bài do Nguyễn văn Vinh ST

Công ty Nhật Bản phát triển đèn UV đầu tiên tiêu diệt coronavirus một cách an toàn

Công ty Nhật Bản phát triển đèn UV đầu tiên tiêu diệt coronavirus
một cách an toàn

(Google dịch)

Bởi Yaron SteinbuchCB734A43600849B288DDA5B3236100A4 (1)

Một công ty Nhật Bản hợp tác với Đại học Columbia đã phát triển một loại đèn cực tím đầu tiên có thể tiêu diệt coronavirus mà không gây hại cho sức khỏe con người, theo một báo cáo.

 Đèn UV của nhà sản xuất thiết bị ánh sáng Ushio’s Care 222 dự kiến sẽ được sử dụng để khử trùng các không gian bị buôn bán nặng nề, nơi mọi người có nguy cơ nhiễm loại bọ chết người, bao gồm xe buýt, tàu hỏa, thang máy và văn phòng, Japan Today đưa tin.

 Đèn UV đã được sử dụng rộng rãi để khử trùng, đặc biệt là trong ngành y tế và chế biến thực phẩm, và JetBlue gần đây đã công bố kế hoạch sử dụng công nghệ này trên máy bay của mình.

 Tuy nhiên, tia UV thông thường không thể được sử dụng khi có người vì chúng gây ung thư da và các vấn đề về mắt.

 Nhưng đèn UV mới của Ushio phát ra các tia có bước sóng 222 nanomet, trái ngược với bước sóng 254 nanomet thông thường, khiến chúng có thể gây chết vi trùng nhưng vô hại đối với con người, hãng tin này đưa tin.

 Ở độ cao 222 nanomet, tia UV không thể xuyên qua da và mắt để gây ra các khuyết tật di truyền gây ung thư và các tổn thương khác, theo Ushio.

 Khi được phát ra từ trần nhà, tia UV từ chiếc máy mới này sẽ loại bỏ 99% vi rút và vi khuẩn trong không khí và lên đến bề mặt 32 foot vuông của các vật thể cách đèn khoảng 8 feet, trong vòng sáu đến bảy phút, Nhật Bản  Hôm nay báo cáo.

 Thiết bị Care 222 nặng 2,6 pound, có kích thước bằng một cuốn sách bìa cứng, có giá khoảng 2.800 USD.

 Ushio cho biết hiện tại họ chỉ nhận đơn đặt hàng từ các tổ chức y tế nhưng sẽ phục vụ các khách hàng khác khi sản xuất bắt kịp nhu cầu.

Japanese firm develops first UV lamp that safely kills coronavirus

By Yaron Steinbuch

A Japanese company that teamed up with Columbia University has developed a first-of-its-kind ultraviolet lamp that can kill the coronavirus without harming people’s health, according to a report.

Light equipment maker Ushio’s Care 222 UV lamp is expected to be used to disinfect heavily trafficked spaces where people run the risk of contracting the deadly bug, including buses, trains, elevators and offices, Japan Today reported.

UV lamps have been widely used for sterilization, notably in the medical and food-processing industries, and JetBlue recently announced plans to use the technology aboard its planes.

However, conventional UV rays cannot be used when people are present because they cause skin cancer and eye problems.

But Ushio’s new UV lamp emits rays with a wavelength of 222 nanometers, as opposed to the conventional 254-nanometer wavelength, making them deadly to germs but harmless to humans, the news outlet reported.

At 222 nanometers, the UV rays cannot penetrate the skin and eyes to cause cancer-causing genetic defects and other damage, according to Ushio.

When emitted from a ceiling, the UV from the new machine snuffs out 99 percent of viruses and bacteria in the air and up to a 32-square-foot surface of objects about eight feet away from the lamp, in six to seven minutes, Japan Today reported.

The 2.6-pound Care 222 device, which is about the size of a hardcover book, costs about $2,800.

Ushio said it only accepts orders from medical institutions for now, but that it will serve other customers once production catches up with demand.

https://japantoday.com/category/tech/ushio-launches-world%27s-1st-uv-lamp-safely-killing-coronavirus

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Công ty Nhật Bản phát triển đèn UV đầu tiên tiêu diệt coronavirus một cách an toàn

Thư Cám Ơn của Nghĩa LĐ

Thưa các bạn Khóa Một,
Khi được họp mặt với một số bạn Khóa 1 ở San Jose rồi Westminster trong thời gian vừa qua, LHN rất vui và thấy mình đã xài “thời gian” và “xăng nhớt” rất xứng đáng.

Xin cám ơn tình cảm nồng hậu của các bạn đã dành cho Nghĩa Lựu Đạn. Rất mong tình thế sớm cho phép để Đại Hội 55 Năm Học Viện CSQG được thực hiện. Trong đó Khóa sẽ có dịp họp mặt toàn cầu những người bạn đã quá hạn “thất thập cổ lai hy”. Ở tuổi nầy thì sẽ có những người – có thể bất cứ ai – là lần cuối cùng trong đời còn tham dự cuộc vui hội ngộ. Nếu nghĩ rằng mỗi lần gặp ai đó – dù tình cờ – đều là do “duyên” thì tất cả chúng ta đã có duyên với nhau từ đầu năm 1966. Cái duyên đó đã kéo dài từ đó cho đến nay và cho đến cuối đời.

Mong rằng khi có dịp thì tất cả các bạn Khóa 1 sẽ cố gắng thu xếp để gặp nhau trong khoảng thời gian ít ỏi còn lại trong đời. Thời gian mà để đó hổng chịu xài, hoặc để lo kiếm thêm tiền trong lúc tuổi già nầy thì đó là thời gian phí phạm. Tiền bạc mà để đó hổng chịu xài, cứ giữ trong bank trong lúc tuổi già nầy thì đó cũng là tiền sẽ bỏ đi.

Thân chúc tất cả các bạn Khóa 1 và gia đình luôn được mạnh khỏe, bình an để còn gặp lại nhau.
Nghĩa Lựu Đạn

Hãy Xả Láng
Tiền để làm chi hổng chịu xài
Thời gian cũng vậy, hổng còn dài
Mai rồi nhắm mắt theo tiên tổ
Đem được cóc gì, chỉ trắng tay.
LHN aka Nghĩa LĐ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thư Cám Ơn của Nghĩa LĐ

K1 Lê Hữu Nghĩa ghé thăm K1 Nam Cali

DSC_5640

Hi các bạn,

Tiếp tục cuộc du hành mùa hè sau những ngày bị lockdown vì Covid, vừa qua,  sau khi ghé thăm San Jose, Bắc CA, K1 Lê Hữu Nghĩa đã xuôi Nam Cali để thăm gặp bạn bè và người thân.

Vào lúc 10 giờ sáng nay ngày 14/7, một số khóa 1 tại Quận Cam đã có một buổi hội ngộ với K1 LH Nghĩa tại nhà hàng Phở Lover’s thành phố Westminster.

 Vì thời gian của bạn Nghĩa có giới hạn nên buổi họp mặt với bạn Nghĩa chỉ diễn ra trong hơn một giờ.

Hiện diện trong buổi họp mặt ngắn ngủi này có các bạn NH Thời, NV Lượng, HV Hưng, TT Nhơn, TV Tường, Võ Thiệu, Chị Thanh Thủy và phu quân, Vân Hòa và NĐ Toán.

Mời các bạn xem một số hình ảnh do phó nhòm Võ Thiệu ghi lại.
Album hình slideshow bên dưới.

Nhữ đ. Toán

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở K1 Lê Hữu Nghĩa ghé thăm K1 Nam Cali

TUỔI  GIÀ  VÀ BẰNG  LÁI  XE  Ở MỸ_Tâm Hữu

TUỔI  GIÀ  VÀ BẰNG  LÁI  XE  Ở  MỸ

(Bài do Võ Thiệu sưu tầm và chuyển)

elderly driving
Tuần rồi đi dự đám giỗ ở chùa, nghe người chị dâu nói một câu mà trên đường về cứ suy nghĩ:
“Chú à, bây giờ già rồi, bằng gì cũng không quý bằng cái bằng lái xe cả. Tuần rồi chị renew lại được cái bằng lái xe mà mừng hơn là khi qua đây lấy lại được cái bằng dược sĩ”.
Thật vậy, ở đây khi không còn lái được xe thì không chủ động được gì nhiều. Đi lại và giao tiếp bị hạn chế. Nếu không chuẩn bị trước thì tinh thần sẽ xuống nhanh.
Do vậy người già vẫn cố gắng lái xe dù mỗi năm thêm một tuổi. Và dĩ nhiên, người già thì thường không lái giỏi.
Tháng trước tôi đem cái xe Toyota Prius của nhà tôi đi thay vỏ. Xe đời 2013, đã 6 năm rồi mà chỉ mới chạy 18 ngàn miles, bằng người ta chạy một năm thôi.
Thấy chiếc xe bốn bề thương tích, chỗ móp, chỗ trầy như anh thương binh từ mặt trận về, anh thợ thay vỏ hỏi tôi:
– Chú lái đụng những đâu mà xe móp méo lung tung vậy?
Tôi nói, xe của vợ tôi, tôi đem đi thay vỏ cho bà.
Anh thợ nói:
– Chúc mừng Chú! Thà lâu lâu đem xe đi sửa còn hơn là hàng ngày làm tài xế cho mấy bà. Cháu đã thấy nhiều ông chở vợ đi chợ, ngồi trên xe đọc hết tờ báo rồi mà bà vợ vẫn chưa ra đó.
Từ đó cũng có lời khuyên, khi đến một khu parking thấy còn chỗ trống, các bạn nên nhìn cái xe đang đỗ kế bên có được đỗ ngay ngắn không? Có cán lên vạch trắng không? Và nhất là hai bánh trước có đang quẹo 30 độ không?
Nếu thấy vậy thì các bạn nên đi kiếm chỗ khác, vì chắc chắn rằng, quí cụ ông hay quí cụ bà chủ xe khi de lui thế nào cũng quẹt vào xe của các bạn.
Mới sáng nay khi đến DMV thành phố Westminster để renew lại cái bằng lái xe. Sau khi làm thủ tục ở lối đi vào, tôi vào phòng ngồi chờ đến lượt mình được gọi theo số thứ tự.
Ngồi bên cạnh một bạn trẻ, tôi bắt chuyện :
– Anh chờ lâu chưa?
Trả lời :
– Cháu chỉ đi với bố cháu đến đây thôi.
Hỏi :
– Ông Cụ đâu rồi?
Trả lời:
– Bố cháu đang làm bài thì viết, vừa test mắt xong.
Rồi cậu ta nói tiếp :
– Bố cháu năm nay 87 tuổi rồi. Cháu đang mong bố cháu thì hỏng bài viết kỳ nầy, vì mỗi lần ổng lái xe đi là cả nhà ngồi run. Vậy mà ngày nào bố cháu cũng lên xe lái một vòng, dù không có việc gì cũng đi vài block phố rồi về.
Đang nói chuyện thì thấy một ông cụ chống gậy bước tới.
Câu thanh niên đứng lên hỏi:
– Sao bố?
Ông cụ cười:
– Bố đỗ rồi
Tôi liếc qua nhìn chàng tuổi trẻ thấy gương mặt cậu ta không biểu hiệu gì là chia vui với bố mình cả!
Người già ở Mỹ trên 70 tuổi, cứ 5 năm phải đến DMV để test lại mắt và làm bài test về luật giao thông mới được cấp lại bằng lái.
Năm nay Nha Lộ Vận của Tiểu bang Cali có đến 18 mẫu bài test, mỗi bài gồm 30 câu hỏi. So với những năm trước đây thì năm nay những câu hỏi khó hơn. Mỗi câu hỏi sẽ có 3 câu trả lời cho người thi chọn.
Nếu không đọc thật kỹ sách hướng dẫn về luật giao thông thì ít ai qua được khi test lần đầu, vì chỉ cần trả lời sai 3 câu là xem như hỏng, phải thi lại.
Sau khi làm hai lần mà vẫn không pass thì sẽ được khuyên về nhà đọc lại sách hướng dẫn luật giao thông cho kỹ hơn. Sau đó khi trở lại thì phải đóng thêm tiền để thi tiếp!
Bây giờ tôi kể chuyện lái xe của ông bạn tôi:
Bạn tôi, nhà thơ Viên Linh, một nhà văn, nhà báo tên tuổi ở Sài Gòn trước 1975. Là Chủ Nhiệm, Chủ Bút nguyệt san Văn học Khởi Hành ở Hoa Kỳ.
Tháng 4 năm 2017 anh phát hành tập “60 năm thơ tuyển” (thơ Viên Linh). Buổi tối trước ngày ra mắt tập thơ tại hội trường nhật báo Người Việt, tôi phone hỏi anh :
– Đã nhận sách ở nhà in về chưa?
Trả lời :
– Nhận rồi nhưng còn nằm ở ngoài đường.
Tôi hỏi :
– Sao nằm ngoài đường?
Trả lời :
– Tôi lái xe từ nhà in về, lúc mặt trời chiều dọi thẳng vào mắt, bị loá không lái được, lại đói bụng, tôi tấp vào một khu shopping, ăn một tô phở và đi bộ về nhà.
Tôi thất kinh, xem đồng hồ thì đã hơn 9 giờ tối!
Tôi hỏi :
– Xe đang đậu chỗ nào có nhớ không?
Trả lời :
– Không nhớ lắm, nhưng mai sáng đi lại chặng đường đó tôi sẽ kiếm ra.
Tôi nghĩ, đã mời thân hữu sáng mai ra mắt sách, nhỡ đêm nay chiếc xe bị ai đó lấy mất thì ngày mai sách đâu mà ra mắt!
Trong những lần sinh hoạt của tờ Khởi Hành tôi đều là người điều hợp chương trình, sẽ nói sao với bà con đây?
Tôi bận vội quần áo và đi ra. Nhà tôi hỏi :
– Giờ nầy khuya rồi mà Ông đi đâu?
Tôi nói trớ đi một chút :
– Anh Viên Linh bị hỏng xe giữa đường nhờ giúp.
Nhà tôi làu bàu, cái ông VL nầy không có vợ nên cứ hay đi chơi khuya!
Tôi đến nhà Viên Linh nói anh lên xe để tôi chở đi kiếm cái xe để lấy sách về.
Anh ta nói, bây giờ hết chói nắng rồi, tôi có thể lái xe được, ông cứ chạy trước tôi bám theo sau xe ông là có thể lái về nhà được.
Tôi chở anh ta đi kiếm cái xe, thấy đậu trước một trạm xăng, còn khu có tiệm phở thì lại nằm bên kia đường Magnolia.
Vậy là thở phào nhẹ nhõm.
Còn ông bạn nhà văn Huy Phương của tôi, năm rồi gặp nhau ở tiệm phở ở đường Garden Grove khi có người bạn chung từ Sacramento về.
Tôi hỏi anh :
– Sao lúc nầy không thấy lái xe mà đi đâu cũng có tài xế vậy?
Anh trả lới :
– Tôi có nói trên đài rồi đó. Tuổi già đi Uber an toàn hơn, lại tiết kiệm được tiền bạc, vi không phải đóng thuế lưu hành, không phải mua bảo hiểm, không tốn tiền đổ xăng và tiền sửa xe.
Tôi cười, trên tám chục rồi, tiết kiệm có đem theo được gì không, lại mất đi cái chủ động, cái thoải mái, chỉ trừ khi vì sức khỏe mà thôi.
Mọi người đều cười.
Và rồi gặp một bà bạn ở trước chợ ABC.
Tôi hỏi :
– Sao lúc nầy ít gặp? Ông nhà bây giờ thế nào, khỏe không?
Trả lời :
– Tôi buồn quá anh ơi, ông nhà tôi bây giờ không lái được xe nữa, mà như anh biết, từ ngày qua đây đến giờ, mỗi lần đi đâu tôi cũng nhờ ông nhà tôi chở đi cả!
Tôi nghĩ, không thấy nói gì đến sức khỏe hay bịnh tình của ông chồng mà chỉ nghe kêu buồn vì mất đi một ông tài xế nuôi ăn ở trong nhà mà thôi!
Có hôm thì gặp một bà bạn khác, một bà bạn nhà văn.
Hỏi, chị TC :
– Chị vẫn lái xe bình thường chứ?
Trả lời :
– Được mà anh!
– Ồ, vậy thì tốt quá.
Rồi chị ta nói tiếp :
– Nhưng mà em chỉ biết chạy tới thôi, còn de xe lui thì em không làm được.
Hỏi:
– Vậy thì làm sao chị đậu xe?
Trả lời :
– Đến trường thì có chỗ đậu cho nhân viên, em chọn chỗ nào khi đi thì chạy tới là ra được. Còn mỗi lần ghé chợ thì em phải đậu xa, kiếm chỗ nào có thể đậu được cái xe xây mũi ra đường xe chạy thi em mới đậu. Và khi kẹt lắm thì em nhờ người khác de dùm xe.
Tôi nói :
– Coi chừng đó. Lúc nầy ở trước mấy cái chợ thường có những tay lảng vảng để chờ giựt túi xách của mấy bà. Nhờ đúng vào họ thì xem như cho họ cái xe đó.
Trả lời :
– Em cũng nhắm người chứ bộ. Rồi chị cười, thôi chào anh, em phải đi.
Tôi nói, tôi cũng chào thua …chị, chị TC.
Và rồi cứ mỗi ngày sẽ tiếp tục có những người già lo lắng không biết mình có còn được cấp bằng lái nữa hay không.
Thưa quí Cụ, ở đây lúc đã về với tổ tiên rồi thì con cháu có thương mấy cũng không mua được những chiếc Lexus, Mercedes… để đốt gởi về cho quí Cụ đi như ở bên VN mình đâu. Cho nên quí cụ cũng không nên quá quan tâm về cái bằng lái ở Mỹ…

Tâm Hữu

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TUỔI  GIÀ  VÀ BẰNG  LÁI  XE  Ở MỸ_Tâm Hữu

Khóa 1 Bắc Cali họp mặt thành công vui vẻ

Tin vui từ K1 bắc Cali

FullSizeRender

Theo như dự tính chiều Chủ Nhật ngày 11/7/2021 Khóa 1 Bắc Ca li sẽ đi tiên phong tổ chức họp mặt, sau khi đại dịch Covid-19 được đẩy lùi.

Và buổi gặp gỡ được tổ chức thành công tốt đẹp, theo Bạn Bửu Hồng cho biết thì buổi họp mặt được tổ chức tại phòng hội của khu nhà Mobile -home nơi K1 Đinh Văn Hạp trú ngụ.

Theo danh sách đính kèm thì buổi họp mặt có 29 người tham dự trong đó có 8 vị khách mời là các bạn đồng môn Học Viện tại Bắc Ca li. đặc biệt có 1 vị khách quý là K1 Lê Hữu Nghĩa đến từ tiểu bang MN.

Nghe tin các bạn K1 Bắc Cali đã hội ngộ vui vẻ, bạn Pháp Trần có một bài thơ chúc mừng.

Chúc mừng khoá một bắc Cali 
Họp mặt khi vừa hết cộ vy 
Tay bắt mặt mừng vui hạnh ngộ
Mô bằng khoá một bắc Cali ?

Trấn Pháp 

 và Cóc Nhà  cũng có bài thơ phụ họa.

Thấy hình Khóa Một Bắc Ca Li
Hội ngộ tưng bừng vui quá đi
Ánh  mắt, nụ cười hoan hỉ quá
Chúc cho các bạn mãi như ri

Cóc Nhà

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khóa 1 Bắc Cali họp mặt thành công vui vẻ

GÌN VÀNG GIỮ NGỌC_Lê Phương Lan

Nhà văn Trần Hoài Thư (ảnh ST trên internet)

GÌN VÀNG GIỮ NGỌC

Lê Phương Lan (Dâu K1)

Trong thời đại ngày nay sự chung thủy đặc biệt là trong hôn nhân là điều ngày càng khó gìn giữ sao cho vẹn toàn. Thế nhưng khi được đọc bài viết của Ngô Thế Vinh về nhà văn Trần Hoài Thư tôi thật sự mến phục và ngưỡng mộ tấm gương về sự chung thủy của ông với hai mối tình lớn nhất trong đời là tình yêu với người bạn đời và tình yêu dành cho văn chương, sách vở.

Trần Hoài Thư tên thật là Trần Quý Sách – tôi nghĩ cả hai tên này đều đã thể hiện trọn vẹn con người của ông – sinh năm 1942. Tuổi thơ bị thất lạc cha, theo mẹ sống khổ cực tại thành phố Nha Trang, có một thời gian phải sống trong cô nhi viện Bethlehem, Hòn Chồng.

Trần Hoài Thư khởi sự viết văn từ năm 1964. Truyện ngắn đầu tay “ Nước Mắt Tuổi Thơ” được đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Ngoài Bách Khoa ông còn cộng tác với Văn, Văn Học, Đời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức …

Tình duyên của ông với người bạn đời Nguyễn Ngọc Yến là một “mối tình văn chương”. Trên tạp chí Sóng Văn (1997) Ngọc Yến cho biết:”Cũng vì yêu mến văn chương, nên mối duyên văn nghệ đã đưa chúng tôi gặp nhau.” Địa chỉ tòa soạn Bách Khoa trở thành hộp thư và cũng là điểm hẹn hò đầu tiên của họ. Sau đó, một “đám cưới nhà binh” được tổ chức thật đơn giản vào ngày 18/6/1971 chỉ với vài người bạn thân, không rước dâu, không có cả nhẫn cưới!

Nhưng chẳng được bao lâu, sau ngày 30/4/1975 Hoài Thư bị bắt đi tù “cải tạo” khi đứa con trai duy nhất mới được hai tuổi! Hình ảnh mà THT không bao giờ quên là khuôn mặt đen đủi của Yến bám đầy bụi than mỗi lần đi thăm nuôi, do phải đi những chuyến xe đò cải tiến chạy bằng than củi!

Rồi cũng ra tù sau 4 năm! THT trở về quê vợ tại Cần Thơ với tấm thân chưa đầy 35 ký lô và với nghề bán cà rem lắc chuông sống qua ngày. Cũng chính cái nghề rung chuông mua vui cho con nít ấy đã khiến một ông chủ ghe cảm kích. Hơn nữa ông cũng đang cần một người tháo vát lanh lợi như chàng sĩ quan thám kích này. Ông cho THT một vé đi vượt biên “miễn phí”. Nhưng anh không đành tâm bỏ lại vợ con. Chính  Ngọc Yến đã phải lén chồng tìm gặp người chủ ghe năn nỉ:”Tôi sẵn sàng để chồng tôi ra đi! Xin ông cứu giùm cho anh!”. THT đã viết về quyết định đau lòng này:” Ở lại hay ra đi? Tôi đã sống trong sự giằng xé ghê gớm ấy. Ở nhà thì ôm nhau mà chết, mà ra đi thì tôi sợ một lần là vĩnh viễn! Tôi đã thấy con thuyền ấy. Khoảng 20 thước bề dài, thuyền ván mong manh, chỉ dành để đi trên sông mà lại đem nó ra để thử thách với biển sóng hãi hùng!” Chính Yến đã giục giã chồng không thể bỏ lỡ cơ hội mà phải ra đi.THT viết tiếp:”Tôi chấp nhận! Tôi hèn nhát để chấp nhận! Tôi ích kỷ để chấp nhận!” Để rồi trước khi ra đi anh đã phải đóng một vở kịch cũng đau lòng không kém. Phải làm sao để cho hàng xóm biết việc anh đào thoát không có sự đồng lõa của gia đình. Nếu không Yến sẽ bị đuổi việc vì sát bên vách là nhà của một mụ đảng viên. Vở kịch chỉ có hai diễn viên! Không gian là cái bếp. Thời gian là buổi chiều. Có nhiều tiếng chai đập, liệng nồi xoong, bát đĩa, tiếng la khóc lớn chừng nào tốt chừng nấy. Với tiếng quát tháo của Thư: “Tao chán cái nhà này quá rồi! Tao sẽ đập hết! Phá hết!” Rồi với tiếng nức nở của Yến: “Tới đây thì liên hệ giữa tôi và anh kể như chấm dứt!” Vợ chồng anh đóng kịch quá xuất sắc đến nỗi thằng con trai sáu tuổi sợ hãi la khóc thất thanh, phụ họa thêm tiếng khóc sụt sùi của bà mẹ vợ! … “Tôi ra đi khi con tôi đang ngủ như một thiên thần. Tôi đi chỉ có một bộ đồ độc nhất. Vợ tôi đứng dõi mắt nhìn theo!” Đó là một ngày cuối năm 1979. Phải bỏ lại vợ con, anh vượt biên trên một ghe nhỏ đi sông dồn nén được 93 người . Chuyến đi gian truân nhưng cuối cùng cũng đến được đảo Pulau Bidong, Mã Lai .  Anh đã quỳ xuống trên bãi cát để tạ ơn Thượng Đế . Anh viết:”Tôi quỳ, dù hai tay đã che đỡ những cú đánh, cú thoi, đá, đạp, chửi rủa từ người lính Mã Lai tôi vẫn không kêu khóc, không van xin… cứ chửi rủa đi, cứ đánh đập tôi đi, những cơn đau bầm, những bụm máu khạc ra từ miệng tôi đâu có thấm gì với cái bóng tối mà tôi đã bỏ lại!”

Sau khi chồng đi rồi, Yến là đối tượng được “chăm sóc” của đảng ủy vì sau đó Yến được chuẩn bị tác hợp cho lấy một tên đại úy phục viên. Uất hận vô cùng nhưng vì cần phải giữ hộ khẩu với số lương thực cho hai mẹ con, Yến chỉ trì hoãn xin cho một thời gian để nguôi ngoai.

Đầu năm 1980, khi biết được tin chồng đã đi thoát, Yến cùng đứa con trai vượt biên nhờ lòng hảo tâm của một chủ ghe. Một chuyến đi thừa sống thiếu chết, đói khát nhiều ngày đêm trên biển cả, cũng gặp hải tặc và tiếp theo là những ngày dài phải bồng con đi ăn xin tại một ngôi làng hẻo lánh ở Thái Lan.

Rồi thì cả gia đình cũng được đoàn tụ . THT thấy chỉ có một con đường tiến thân là đi học trở lại . Anh đi học ngành điện toán, Yến làm công nhân lắp ráp đồ điện tử. Ban ngày anh đi học, ban đêm thì làm janitor để kiếm thêm tiền . Anh tốt nghiệp điện toán với thứ hạng cao , nằm trong top five nên đã được hãng AT&T nhận vào làm cho một chi nhánh tại New Jersey. Tiếp theo là cậu con trai duy nhất của anh học xong trung học với điểm cao nên được nhận vào trường y khoa, 7 năm sau đã tốt nghiệp bác sĩ y khoa. THT tiếp tục học lên để lấy bằng Master làm cho hãng IBM lên đến chức Project Leader cho đến khi nghỉ hưu.

Từ 2001, tuy vẫn còn đi phải đi làm, anh đã cùng người bạn Phạm văn Nhàn sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo và nhà xuất bản Thư Ấn Quán . Khi đã nghỉ hưu, anh liền bắt tay vào việc thực hiện tủ sách DI SẢN VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM. Anh làm việc trong suốt nhiều năm nhằm khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học đã bị CSVN truy lùng, hủy diệt . Qua các thư viện đại học lớn ở Mỹ, anh đã có thể tìm ra một số sách báo miền Nam là Đại Học Yale, nơi có học giả Việt Nam nổi tiếng là Huỳnh Sanh Thông, người đã dịch truyện Kiều sang tiếng Anh.  Ông Thông cũng là người đã giúp nhà văn Võ Phiến tài liệu để hoàn thành bộ Văn Học Miền Nam . Anh cũng tìm đến thư viện Đại Học Cornell, khu Đông Nam Á châu phải nói là nơi có đầy đủ sách báo miền Nam nhất (họ còn lưu giữ được cả những tờ truyền đơn của Bộ Chiêu Hồi). Đắm mình trong khu thư viện Á Châu, lục lọi, tìm tòi, ghi chép, làm photocopy cho đến sẩm tối . Không phải một ngày mà nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm. Nhờ vậy mà nhiều chục ngàn trang thơ văn của miền Nam trong Thư Ấn Quán đã được phục hồi.

Với hùng tâm và dũng khí của một người chiến sĩ thám kích nên THT rất liều lĩnh với những bước chân khai phá. Người bạn đời đã cùng anh chia sẻ những ngày tháng truân chuyên tại quê mẹ, nay vẫn sát cánh bên anh trong chí hướng cao cả này. Rời nhà lúc trời còn tối vì mắt anh yếu nên Yến giúp anh lái xe. Khi trời sáng là đến phiên anh lái vì đường đi rất nguy hiểm, có đoạn là đường núi, nhiều khi tuyết đóng băng đông đặc. Cả hai đã có lần suýt chết vì tai nạn trên những đoạn đường mưa tuyết trơn trượt.

Trong suốt 11 năm (2001 – 2012) Ngọc Yến đã đồng hành và giúp anh rất nhiều trong việc thực hiện các công trình phục hồi Di Sản Văn Học Miền Nam

Tôi thật sự khâm phục cho hùng tâm và dũng khí của một người đã từng cầm bút, đã từng chiến đấu để bảo vệ lý tưởng tự do. Nay đang dành những ngày tháng còn lại của cuộc đời để chiến đấu gần như đơn độc để bảo vệ di sản cao quý nhất còn lại của một dân tộc.

Thế nhưng lòng khâm phục của tôi còn dành cho những ngày cuối cuộc đời của đôi uyên ương quyết tâm chống chọi với tử thần để được sống và để còn được nhìn thấy nhau.

Năm 2012 một tai họa đã ập đến với gia đình Hoài Thư-Ngọc Yến: Yến bất ngờ bị một cơn stroke đánh gục. Nhìn Yến không thể ngồi, đứng,một nửa thân hình không còn hoạt động, với Thư thì Yến vợ anh đã bị đóng đinh khổ nạn từ đây.

Nhưng tai họa vẫn tiếp tục giáng xuống liên tiếp khi Yến còn bị một con stroke thứ hai rồi thứ ba. Đến tháng 5/2015 Yến không còn sống ở nhà mà cần được chăm sóc 7/24 trong một nursing home. Bác sĩ bảo đó là cách duy nhất để cứu Yến và cứu cả Trần Hoài Thư đang gần kiệt sức sau những năm tháng đơn độc hết lòng chăm sóc vợ hiền.

Mấy tháng đầu năm 2020 bắt đầu trận đại dịch, các Nursing Homes trên toàn nước Mỹ là nơi viếng của lưỡi hái tử thần. Từ Nursing Home,Yến đã phải nhập viện vì bị nhiễm coronavirus. Với bao nhiêu là bệnh nền chỉ tin là có phép lạ đã cứu Yến thoát chết. Tuy nhiên nàng bây giờ chỉ còn là một pho tượng khổ hạnh, vô tri vô giác, mắt nhìn vào một cõi vô minh nào đó!

Nhưng rồi họa vô đơn chí, tháng 6/2020 đến lượt THT cũng bị cơn bão tai biến: những ngón tay không giữ được cái muỗng để tự xúc cơm ăn, nói chi là gõ máy trên bàn phím! Tinh thần chiến đấu với THT đã trở thành bản năng thứ hai: thay vì các bài tập thô sơ trong bệnh viện, các cô therapists tập cho anh cách bốc lượm đồ, cách lắp ráp để xếp hình với các mảnh gỗ. Dần dần qua ít tuần lễ, anh đã làm chủ được mười ngón tay. Sau đó anh lại say sưa viết. Anh làm việc như người sợ mình sẽ bị cạn kiệt quỹ thời gian!

“Lực bất tòng tâm”! Tinh thần chiến đấu chỉ giúp anh khôi phục phần nào năng lực của các ngón tay nhưng sức khỏe toàn thân thì đã đổ dốc theo sau những năm tháng dốc toàn tâm, toàn lực chăm sóc vợ hiền rồi để nhìn nàng im lìm trong cơ thể bất động. Trong mùa đại dịch ở Mỹ không có mưa Ngâu, nhưng nỗi xúc động dâng trào khi nhìn thấy hình ảnh của Ngưu Lang Chức Nữ thời đại chỉ được gặp nhau 15 phút bên ngoài cửa Nursing Home: nàng nằm bất động trên chiếc giường di động, chàng run rẩy vịn walker nhìn người bạn đời đau buốt, tê tái!

Thế mà đã 46 năm trôi qua, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt,nhưng lại là một chặng đường rất dài đầy trải nghiệm những tang thương . Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về cát bụi . Một số sẽ được nhắc qua với tác phẩm của họ. Thế nhưng nói đến Văn Học Miền Nam thì phải kể đến cuộc sống đọa đầy và cả những cái chết tức tưởi của họ trong các trại tù cộng sản. Không thể có một “cuốn sách trắng ( white book)” về thời kỳ đó mà một Wikipedia phải được mở ra như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai. 

Tên tuổi của những văn nghệ sĩ trong thời gian trước, trong và sau cuộc nội chiến vượt thoát ra hải ngoại ngày càng thiếu vắng trên diễn đàn văn nghệ. Tại đây ngoài sự ra đi của những văn thi sĩ đã thành danh khi còn ở trong nước, tôi đã thật sự tiếc nuối khi không còn đọc được những bài tham luận của nhà bình luận lão thành Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh. Rồi bàng hoàng vô cùng trước sự ra đi đột ngột của ca nhạc sĩ Việt Dzũng. Tiếp theo sự từ giã cũng rất bất ngờ các chương trình rất hay của đài Hồn Việt và những bài viết rất đa dạng, uyên bác trên mục “Thư Gửi Bạn Ta” của nhà bỉnh bút tài hoa Bùi Bảo Trúc. Gần đây nhất là tin buồn về tình trạng sức khỏe mong manh của nhà văn Huy Phương.

Ngẫm lại thân phận của riêng hai chúng tôi trong suốt những năm dài bị tù tội, đọa đầy thật chẳng có thấm vào đâu với những bi kịch đau lòng, những chuyến vượt biển đầy hãi hùng, gian truân của đôi bạn đời tuyệt vời này. Với niềm cảm kích từ đáy lòng, tôi xin dành trọn vẹn niềm kính trọng, ngưỡng mộ và cầu nguyện cho đôi uyên ương Hoài Thư – Ngọc Yến đã dành cho nhau một tình yêu bất diệt. Trên hết, hình ảnh mãi đọng trong tâm tư tôi là một Trần Hoài Thư miệt mài ngồi khâu vá lại các trang sách cũ bị rách. Và hình ảnh Hoài Thư tóc bạc phơ, chống cây gậy walker đứng lặng phía bên ngoài để đăm đăm nhìn vào bên trong qua lớp cửa kính Ngọc Yến đang nằm bất động trên chiếc giường di động của một nhà dưỡng lão!  Thân xác của họ đang bị giãn cách nhưng tâm hồn, linh hồn của họ đã và sẽ mãi mãi bên nhau!

Với tôi Trần Hoài Thư thật là một tấm gương “Gìn Vàng Giữ Ngọc” tuyệt hảo. Với niềm tin tôn giáo riêng của mình, xin các độc giả cùng góp lời cầu nguyện cho đôi uyên ương với tình yêu thủy chung tuyệt diệu này.

Lê Phương Lan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở GÌN VÀNG GIỮ NGỌC_Lê Phương Lan

Họp Mặt K1 ở Houston (TX)

Tường Trình của K1 Lê Phát Minh từ Houston (TX):

Một Cuối Tuần Vui Hội Ngộ

Hôm nay, 11 giờ trưa ngày Chủ Nhựt, 11/7/2021 khoá 1 Houston tiếp đón anh chị K1 Võ Đăng Ngọc từ Orange County, California, tại nhà K1 Lê Phát Minh.

Lâu ngày gặp nhau tâm tình không dứt mãi tới 5 giờ chiều mới đành chia tay hẹn lại một ngày tái ngộ. Một số hình ảnh ghi lại:

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Họp Mặt K1 ở Houston (TX)

CẢNH SÁT QUỐC GIA và CHƯƠNG TRÌNH AN TOÀN CÔNG CỘNG_ Toàn Như

CẢNH SÁT QUỐC GIA

& CHƯƠNG TRÌNH AN TOÀN CÔNG CỘNG

·        TOÀN NHƯ

An toàn công cộng là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của các lực lượng cảnh sát trên thế giới để thi hành luật pháp và giữ gìn an ninh trật tự ngoài xã hội. Danh từ “công an” của Việt Nam đã xuất xứ từ ý nghĩa này.

Vào giữa thập niên 1950s, chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã có một chương trình nhằm giúp đỡ các quốc gia đang phát triển hay kém mở mang, đồng minh của Hoa Kỳ, trong đó có Việt Nam, thiết lập một hệ thống an toàn công cộng tốt đẹp. Chương trình này được gọi là Chương Trình An Toàn Công Cộng (Public Safety Program) nhằm mục đích giúp các quốc gia bạn xây dựng một lực lượng cảnh sát hiện đại và tân tiến để thực hiện nhiệm vụ an toàn công cộng nói trên.

Tại Việt Nam, vào đầu năm 1954, trước khi bị thất bại tại mặt trận Điện Biên Phủ, chính phủ Pháp trước khi chuyển giao quyền hành lại cho chính phủ quốc gia Việt Nam đã yêu cầu Hoa Kỳ trợ giúp để duy trì tình hình an ninh trật tự tại Việt Nam. Trước yêu cầu này, Hoa Kỳ đã gởi một toán chuyên viên gồm nhiều cựu sĩ quan cảnh sát tới Hà Nội để thẩm định tình hình. Tuy nhiên, sau khi đến nơi, toán chuyên viên này nhận ra rằng điều mà người Pháp muốn là Hoa Kỳ cung cấp cho họ những sự yểm trợ về quân sự để họ có thể ổn định tình hình an ninh tại hậu phương, đồng thời có thể đánh bại Việt Minh ngoài mặt trận. Mục đích của Pháp là họ muốn có thêm sức mạnh quân sự để có thể đối phó với Việt Minh hầu tiếp tục củng cố quyền hành và duy trì chính sách cai trị thực dân của họ ở Đông Dương hơn là lo về việc an toàn công cộng. Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower đã từ chối lời yêu cầu trợ giúp quân sự của Pháp, và quyết định chỉ giúp đỡ Pháp về mặt dân sự.  Đó là khởi đầu cho chương trình an toàn công cộng của Hoa Kỳ ở Việt Nam nhằm giúp VN ổn định trật tự xã hội và tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển kinh tế, xã hội và chính trị tốt đẹp hơn.

Thật ra, chương trình về an ninh hay an toàn công cộng đã được Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng ở Đức và Nhật Bản từ sau khi Thế Chiến II chấm dứt năm 1945. Sau khi Đức và Nhật Bản đầu hàng đồng minh, Hoa Kỳ là quốc gia tiếp quản đã sử dụng các Quân cảnh Mỹ để vãn hồi an ninh và trật tự tại các quốc gia này. Song song với công tác đó, Hoa Kỳ cũng giúp tái xây dựng các lực lượng cảnh sát dân sự tại các nơi này. Công việc này được giao cho các sĩ quan của Cơ quan Tình báo Chiến lược OSS (Office of Strategic Services), tiền thân của Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA, phụ trách. Riêng tại Nhật Bản, chương trình này được đặt trực thuộc bộ chỉ huy của tướng Mac Arthur, tư lệnh các lực lượng Mỹ ở Nhật, với một ban tham mưu gồm những sĩ quan thuộc Bộ Lục Quân và nhiều viên chức nguyên là những sĩ quan cảnh sát. Một trong những thành viên trong ban tham mưu này là Byron Engle, một cựu đại úy thuộc Sở Cảnh Sát Kansas City, người sau này trở thành Giám đốc Văn phòng An toàn Công cộng OPS (Office of Public Safety) trung ương tại Hoa Kỳ. Cơ quan này trực thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) có trụ sở tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Trong thời gian tại Nhật Bản, Byron Engle cùng với người phụ tá là một sĩ quan quân cảnh Mỹ đã giúp đỡ thành lập và huấn luyện lực lượng cảnh sát Nhật và cung cấp các trang thiết bị cho họ. Sau đó, vào năm 1950, được sự chấp thuận của tướng Mac Arthur, Byron Engle đã đưa ra kế hoạch cải tổ toàn diện hệ thống tổ chức cảnh sát Nhật Bản để giúp cho quốc gia này có một lực lượng cảnh sát văn minh, tiến bộ và hoạt động hiệu qủa cho đến ngày hôm nay.

Tại Việt Nam, có thể nói, chương trình an toàn công cộng của Hoa Kỳ chỉ chính thức thực sự bắt đầu kể từ sau khi người Pháp rời khỏi Việt Nam và Đông Dương sau hiệp định Genève vào tháng 7 năm 1954. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là chính phủ quốc gia tiếp nối chính phủ Pháp thực hiện chương trình này tại miền Nam VN, từ Bến Hải đến mũi Cà Mâu. Để thực hiện chương trình, Hoa Kỳ đã gởi tới Việt Nam một toán chuyên gia gồm phần lớn là những cựu sĩ quan cảnh sát. Toán chuyên gia này coi như là những nhân viên đầu tiên của chi nhánh Văn phòng An toàn Công cộng của Hoa Kỳ tại Việt Nam có tên gọi là cơ quan PSD (Public Safety Division) trực thuộc cơ quan USAID-VN. Đứng đầu cơ quan này là vị Phụ tá Giám Đốc USAID-VN đặc trách PSD. Cơ quan này có nhiệm vụ cố vấn và cung cấp những sự trợ giúp cần thiết về chuyên môn cho lực lượng cảnh sát quốc gia VNCH ngày một hoàn thiện những nghiệp vụ cảnh sát.
 

Sở Liêm Phóng Việt Nam, tiền thân của Tổng Nha Cảnh Sát và Bộ Tư Lệnh CSQG sau này, là cơ quan tiếp nhận sự trợ giúp đầu tiên của PSD-VN. Sự giúp đỡ đầu tiên của PSD là một hợp đồng với trường Đại Học Michigan để huấn luyện một số viên chức Bộ Nội Vụ của chính phủ VNCH. Các viên chức Bộ Nội Vụ thực ra là các sĩ quan thuộc Tổng Nha Cảnh Sát vì Tổng Nha Cảnh Sát lúc đó là cơ quan trực thuộc Bộ Nội Vụ. Hợp đồng của PSD với trường Đại Học Michigan thực ra chỉ là một ngụy thức của CIA dưới danh nghĩa một chương trình trao đổi văn hóa, giáo dục cho Việt Nam.

This image has an empty alt attribute; its file name is psd-vietnam.jpg

Các phối trí viên của cơ quan PSD-VN tham gia một buổi hội thảo tại Sài Gòn trong tháng 10-1970. Người đứng giữa hàng đầu mặc bộ veston xám đen là ông Byron Engle (giám đốc OPS), đứng bên cạnh cầm tấm bảng Office of Directorate là ông Frank Walton (giám đốc PSD-VN)

PSD-VN sau này đã gởi thêm nhiều cố vấn hoạt động bên cạnh lực lượng cảnh sát quốc gia VNCH. Đứng đầu PSD-VN thường là một cựu sĩ quan cảnh sát Mỹ. Vào cuối thập niên 1960s, giám đốc PSD-VN là Frank Walton, nguyên là một cựu sĩ quan cảnh sát thuộc Sở Cảnh Sát thành phố Los Angeles, California, đã nghỉ hưu (trước đó là ông Robert C. Lowe cũng là một cựu sĩ quan cảnh sát). Lúc ban đầu PSD-VN chỉ gồm có 17 sĩ quan cố vấn. Từ nhóm cố vấn ít ỏi đầu tiên đó, qua thập niên 1960s và những năm tiếp theo, chương trình đã được mở rộng có lúc lên tới 450 cố vấn. Họ được gởi tới các Bộ chỉ huy CSQG Vùng (hay Khu chiến thuật) và các Bộ chỉ huy cảnh sát ở các tỉnh, thành phố như những cố vấn hay phối trí viên. Nhiệm vụ của họ nhằm giúp cho các hoạt động của ngành CSQG Việt Nam tại những địa phương này ngày một nâng cao và hiệu qủa bằng những kỹ thuật và phương tiện văn minh hiện đại.

Mục tiêu chính yếu của cơ quan an toàn công cộng PSD tại Việt Nam là để tham vấn và trợ giúp cho lực lượng CSQG hoàn thành các nhiệm vụ của ngành cảnh sát. Các nhiệm vụ đó cũng không khác gì những nhiệm vụ của người cảnh sát ở những quốc gia khác. Đó là: thi hành luật pháp và duy trì an ninh, trật tự cộng cộng; bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân; khám phá và ngăn ngừa các hoạt động phi pháp; thi hành các hoạt động tuần tra về lưu thông xe cộ, hàng hóa và người; bảo vệ sự lưu hành tiền tệ; và đặc biệt còn có các hoạt động phối hợp và yểm trợ các lực lượng quân sự và bán quân sự trong các công tác bình định tại nông thôn. Ngoài các nhiệm vụ căn bản nói trên, PSD-VN còn giúp cảnh sát quốc gia Việt Nam nâng cao các nghiệp vụ về tình báo và phản tình báo (Ngành Cảnh Sát Đặc Biệt) để truy tầm những tên cộng sản nằm vùng và những kẻ khủng bố, phá hoại hoạt động cho cộng sản xâm nhập, len lỏi trong cộng đồng.      

Để thực hiện những mục tiêu nói trên, các cố vấn của cơ quan an toàn công cộng của Hoa Kỳ tại Việt Nam (PSD-VN) đã được chỉ định phục vụ tại các bộ chỉ huy CSQG tại thủ đô Sàigòn và 4 vùng chiến thuật và 40 tỉnh, thành phố của VNCH. Họ là những cố vấn, đúng hơn là những phối trí viên, cho các đơn vị cảnh sát (kể cả các đơn vị tại trung ương Bộ Tư Lệnh CSQG) trong đủ mọi lãnh vực: từ cảnh sát không – hải cảng, cảnh sát dã chiến, giang cảnh; cho tới các đơn vị về hành chánh, quản trị, tiếp liệu, bảo trì, truyền tin, khoa học giảo nghiệm, kiểm soát giao thông, hành quân cảnh sát, huấn luyện, cải huấn và tạm giam, v.v….

This image has an empty alt attribute; its file name is traffic-light.jpg

Đèn báo hiệu lưu thông do cơ quan PSD-VN phối hợp với cảnh sát công lộ VNCH lắp đặt tại các ngã tư đông xe cộ lưu thông ở Sài Gòn trong thập niên 1960s.

Nhờ sự phối trí giữa PSD-VN và lực lượng CSQG, những hoạt động của ngành cảnh sát Việt Nam đã có nhiều thay đổi và tiến bộ rõ rệt. Chẳng hạn như, trụ sở các ty, sở cảnh sát ở các địa phương đã được mở rộng, tân trang hoặc xây mới với những hệ thống phòng thủ kiên cố và những trang thiết bị hiện đại và tân tiến. Nhiều giao lộ ở Sàigòn và các thành phố lớn đã có gắn đèn báo hiệu lưu thông, góp phần đáng kể vào việc điều hòa lưu thông tại các giao lộ đông đúc xe cộ. (Trong khi đó, tại Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam cộng sản, phải nhiều năm sau ngày “phỏng dế” 30/4/1975, họ mới có được hệ thống đèn báo hiệu lưu thông trong đó có một số là những “chiến lợi phẩm” chiếm đoạt được mang từ Sài Gòn ra Hà Nội). Ngoài ra, PSD cũng giúp phát triển lực lượng cảnh sát dã chiến để thay thế cho các đơn vị cảnh sát chiến đấu cũ đã lỗi thời, trở thành một lực lượng bán quân sự hùng mạnh được trang bị những vũ khí và các phương tiện, kỹ thuật hiện đại để hỗ trợ quân đội trong công tác bình định tại nông thôn cũng như trấn áp những cuộc bạo động (biểu tình) trong các thành phố góp phần đáng kể vào việc ổn định trật tự xã hội.

Nhằm mục đích ngăn ngừa việc chuyển vận vũ khí và hàng hóa của phiến quân cộng sản, PSD cũng giúp ngành cảnh sát thực hiện chương trình kiểm soát tài nguyên bằng cách hỗ trợ tăng cường các kỹ thuật khám xét khoa học và hữu hiệu. Các bến cảng và phi trường, nhất là tại Sàigòn (phi trường Tân Sơn Nhất), và những thành phố lớn đã được tăng cường các kỹ thuật kiểm soát chặt chẽ để ngăn ngừa việc chuyển vận, xâm nhập, xuất nhập cảnh bất hợp pháp các thành phần bất hảo cũng như những vật lực, vũ khí phi pháp gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Để việc kiểm soát được hữu hiệu, PSD còn giúp ngành cảnh sát thực hiện việc thống kê dân số và cấp phát thẻ căn cước bọc nhựa (plastic) cho khoảng 17 triệu người dân Miền Nam đến tuổi trưởng thành (16 tuổi trở lên), chưa kể các thẻ hành sự bọc nhựa cho hơn 120.000 nhân viên cảnh sát các cấp (nhân số tính đến ngày 30/4/1975). Loại thẻ này có những dấu hiệu đặc biệt (“code”) mà chỉ nhân viên cảnh sát mới biết nhận dạng và phân biệt để kịp thời phát hiện những thẻ căn cước hay thẻ hành sự gỉa mạo.      

Song song với các công tác trên, PSD-VN còn giúp nâng cao công tác huấn luyện và đào tạo nhân sự cho lực lượng CSQG bằng cách trợ giúp ngân khoản cho ngành cảnh sát xây dựng các cơ sở huấn luyện với những phương tiện trợ huấn cụ tân tiến. Các cơ sở này gồm có: một trường huấn luyện và đào tạo sĩ quan ở Thủ Đức (Học Viện CSQG), một trung tâm huấn luyện cảnh sát dã chiến ở Đà Lạt, và ba trung tâm huấn luyện cảnh sát căn bản ở Vũng Tàu (Rạch Dừa), Đà Nẵng và Biên Hòa (Tam Hiệp). Ngoài ra còn có các chi vụ huấn luyện tại thủ đô Sài Gòn và tại các bộ chỉ huy vùng hay khu. Chương trình huấn luyện còn được mở rộng ra ngoài lãnh thổ VNCH qua các khóa tu nghiệp huấn luyện cảnh sát ở Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Hoa Kỳ và một số quốc gia khác. Hàng ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan và các nhân viên cảnh sát quốc gia Việt Nam đã được đào tạo, huấn luyện, và tu nghiệp tại các cơ sở huấn luyện này.

 ***

Với hơn hai thập niên có mặt tại Việt Nam tính đến ngày 30/4/1975, không thể phủ nhận sự đóng góp to lớn của chương trình an toàn công cộng của Hoa Kỳ cho lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Chương trình này đã giúp cho ngành CSQG hoàn thiện về tổ chức cũng như tăng tiến trong nghiệp vụ, theo kịp đà phát triển của các quốc gia văn minh tân tiến. Có thể nói, trước năm 1975, miền Nam Việt Nam (VNCH) là một trong những quốc gia có lực lượng cảnh sát hùng hậu và tân tiến vào loại nhất ở Đông Nam Á. Hầu hết các cố vấn của PSD-VN, những phối trí viên làm việc bên cạnh lực lượng CSQG/VNCH, đã rất nhiệt tình sát cánh bên cạnh các đơn vị cảnh sát của Việt Nam. Trong một xứ sở mà hàng ngày phải đối mặt với chiến tranh và khủng bố ở khắp mọi nơi, các phối trí viên này cũng thường xuyên phải đương đầu với những hiểm nguy đang rình rập và một số đã bỏ mình trong khi thi hành nhiệm vụ tại Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số phối trí viên đã hoạt động có vẻ thiếu thân thiện, nếu không nói là giống như những ông quan thực dân kiểu mới ở những xứ thuộc địa. Thái độ đó đã tạo ra những va chạm, hiểu lầm đáng tiếc với một số cấp chỉ huy CSQG tại các địa phương. Mặc dù vậy, nhìn chung, những hoạt động của PSD dành cho CSQG Việt Nam vẫn rất đáng được tri ân và trân trọng. Nhưng thật đáng tiếc, do hệ qủa của hiệp định Paris ký kết ngày 27/1/1973, cơ quan PSD-VN đã phải chấm dứt hoạt động kể từ tháng 3-1973. Cho đến cuối tháng 3 của năm này, tất cả các phối trí viên cảnh sát đã phải từ biệt các bạn đồng nghiệp Việt Nam và lên đường về nước. Trong hai năm sau cùng trước ngày 30/4/1975, lực lượng CSQG Việt Nam đã hoạt động hoàn toàn độc lập không có sự cố vấn của các phối trí viên cơ quan PSD-VN.

TOÀN NHƯ

Tham khảo:

–          America’s Public Safety Program in Vietnam, by Lt. Col. Albert F. Robinson (ret.), Vietnam Mag. (Apr. 2004)

–          The Public Safety Program – Vietnam, by Charles A. Mann (USAID/VN Director) & Robert C. Lowe (Director for Public Safety/VN) (1966)

 
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CẢNH SÁT QUỐC GIA và CHƯƠNG TRÌNH AN TOÀN CÔNG CỘNG_ Toàn Như