Thằng Ngụy Con_Ngô Viết Trọng

Khi bị chuyển về khám đường Bà Rịa, tôi bị nhốt vào một căn phòng rất nhỏ. Trong phòng ấy đã có sẵn một người: ông Đoàn. Cửa phòng là một bửng sắt khá dày, bị sét rỉ toàn bộ, chứng tỏ nó đã khá lâu đời. Sét rỉ đã xoi tấm cửa này thủng nhiều lỗ cỡ đầu ngón tay. Đặc biệt có một lỗ dưới cùng rộng có thể thò lọt cả bàn tay. Những lỗ đó đã cho chúng tôi chút ánh sáng trong căn phòng ít khi được mở này.
Một hôm, tôi đang rầu rĩ bỗng nghe nhiều giọng nữ xôn xao bên ngoài. Tôi chạy lại cửa dán mắt vào mấy lỗ thủng. Thì ra phòng tù nữ ở gần phòng tôi được cho ra tắm giặt. Thật là một cảnh sinh hoạt rộn ràng. Tiếng gàu thau chạm nhau rổn rảng, tiếng người thúc giục nhau, chen lấn cãi cọ nhau ỏm tỏi. Họ giặt đồ, tắm rửa, chải tóc, phơi quần áo….trông ai cũng làm việc với vẻ gấp rút. Người quá đông mà chỉ có hai cái giếng, thì giờ cho phép lại giới hạn, nên họ sợ hết phần…
Tôi bỗng giật mình khi thấy một thằng nhỏ từ trong hiên nhảy ra. Nó chạy vụt lại phía hai con vịt xiêm đang rỉa lông cho nhau trước cửa phòng tôi làm chúng hoảng hốt bay xa một đoạn. Một người đàn bà gọi với:

– Không được nghịch, mẹ đánh đấy!

Thằng nhỏ đứng lại. Qua giây phút hoảng hốt, đôi vịt lại tiếp tục rỉa lông cho nhau. Thằng nhỏ khoảng chừng ba bốn tuổi, trắng trẻo, kháu khỉnh làm sao! Tại sao nó lại lọt vào chốn tù ngục này? Nó làm sao chịu được cảnh thiếu ăn, thiếu bạn bè, thèm khát đủ thứ, ngày ngày ru rú trong một căn phòng chật hẹp với không khí ngột ngạt, hôi hám ấy? Tâm tính nó sẽ ra sao về sau?

Thằng nhỏ có vẻ khoái đôi vịt xiêm lắm. Nó đang say sưa ngắm chúng thì mẹ nó gọi trở về phòng. Nó vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lui làm mẹ nó phải giục mấy lần. Tôi quay lại hỏi ông Đoàn:

– Bên phòng nữ có một thằng nhỏ dễ thương quá! Vì sao nó phải vô trong này ông biết không?

Ông Đoàn nói:

– Nghe đâu cha nó là một viên thiếu tá đã đi Mỹ còn mẹ nó là một nhân viên Thiên Nga. Khi tôi vô đây đã thấy có nó rồi! Lúc đó nó mới biết đi lẫm đẫm.

Tôi tức cười thốt lên:

– Sau này có thể nó phải ghi vào lý lịch: Mới một tuổi tôi đã phải sống trong lao tù khổ sai của bọn cộng sản man rợ…

Mấy hôm nay tôi chỉ được phát mỗi ngày hai vắt nhỏ bột sắn xay chia làm hai bữa với một ít canh cải bẹ xanh mặn chát. Không hiểu thằng nhỏ có được phát tiêu chuẩn khẩu phần không hay phải ăn vào phần của mẹ nó? Tôi nói:

– Thằng nhỏ mặc sức mà thèm đường thèm sữa!

Ông Đoàn cười:

– Ông khỏi lo! Mấy ngày thăm nuôi nó được cán bộ thả đi lung tung, người ta cho nhiều quà lắm. Ngay tại phòng nó lại có rất nhiều người đã từng làm mẹ, làm chị, chẳng ai nỡ để một đứa nhỏ dễ thương như thế đói đâu! Tôi đã từng thấy một con chó mẹ nằm cho mấy con mèo con bị mất mẹ bú. Thiên tính thương trẻ của các bà làm mẹ hẳn còn cao hơn nhiều!

Tôi cảm thán:

– Vậy sao? Hoá ra nó lại sướng hơn lũ con tôi! Tôi có ba thằng con, thằng út có lẽ cũng cỡ tuổi nó. Khi tôi đi tù nó mới vừa đúng một tuổi, chưa biết đứng. Trước kia mình đâu biết dành dụm lo xa, khi vào tù tôi chẳng có chút gì để lại cho vợ con cả. Nghĩ đến cảnh một người đàn bà chân yếu tay mềm phải chạy vạy để nuôi sống ba đứa con giữa lúc này tôi đau ruột lắm. Nhưng ăn năn cũng muộn mất rồi!

Mấy hôm sau phòng tù nữ lại được mở cho ra tắm giặt. Thằng nhỏ sau khi tắm rửa xong lại chạy sang trước phòng tôi. Không thấy đôi vịt, nó ngồi vào bậc thềm lưng dựa vào cửa phòng. Tôi thò ngón tay ra lỗ thủng chọt vào lưng nó một cái. Nó giật mình nhỏm dậy quay lại:

– Hết hồn!

Tôi lấy làm thú vị khi nghe một thằng tí hon lại dùng cái tiếng “hết hồn” có vẻ người lớn đó. Biết tôi đùa, thằng nhỏ lại ngồi xuống chỗ cũ. Tôi hỏi:

– Cháu tên gỉ?

– “Ngụy con”!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

– Chú hỏi cháu tên là gì?- “Ngụy con”!- Ai đặt tên ấy cho cháu? Mấy chú cán bộ!

– Thế mẹ cháu không đặt tên cho cháu à?

– Có, mẹ cháu đặt tên “con”, mấy chú cán bộ thì kêu “ngụy con” rồi các cô dì trong phòng cũng kêu cháu là “ngụy con”!Trời đất ơi! Cái tên này có thể tạo một ấn tượng khó đoán khi thằng nhỏ khôn lớn! Tôi định hỏi vài câu nữa nhưng nó đã bị mẹ nó gọi về phòng. Rồi ngày thăm nuôi đến – ngày đó coi như ngày Tết của khám đường. Các phòng giam đông người đều được mở cửa suốt thời gian cho thăm để người ta tiện đưa đồ thăm cũng như dẫn dắt những người được gặp mặt người thân ra vào. Những người được ra gặp người thân phải mặc đồ lành sạch. Ai không có phải đi mượn đồ của người khác. Vì vậy, ngày thăm nuôi tù vẫn ăn mặc sáng sủa khác hẳn ngày thường. Các tên cán bộ cũng giả dối dẹp bớt cái vẻ nghiêm khắc hàng ngày để hồ hởi thưởng thức những hơi khói thơm…Những người không được thăm cũng vui hơn vì ít nhất cửa phòng mở họ cũng hưởng được chút ánh sáng và không khí dễ thở. Họ cũng có thể hưởng ké được chút quà tươi hoặc sớt được phần ăn tiêu chuẩn của những người được thăm không dùng tới. Những phòng ít người phần nhiều đang bị kỷ luật, ít được thăm, cửa đóng im ỉm, nhưng ít nhất ngày đó họ cũng yên trí không bị cán bộ quấy rầy. Nói chung, trong ngày thăm nuôi, bất cứ ai đang sống tại khám đường cũng chia được ít nhiều niềm vui, dù chỉ là niềm vui tạm bợ giữa một hoàn cảnh bất hạnh. Kẻ hưởng được hạnh phúc thật sự hoạ chăng chỉ có một người: “thằng ngụy con”! Trong lúc cán bộ và tù trật tự bận rộn mang đồ thăm hoặc dẫn tù đi gặp người thân thì thằng nhỏ tung tăng chạy hết phòng này đến phòng khác. Nó rất khôn, cứ gặp cán bộ lại cất giọng lảnh lót “chào cán bộ” thật dễ thương. Vì thế không ai la rầy, cản trở nó cả.Tôi nghĩ chính thằng nhỏ là một nhân tố làm giảm bớt vẻ ngăn cách giữa cán bộ và tù. Đến đâu nó cũng được tiếp đón nồng hậu, quà cứ nườm nượp vào tay nó. Bao nhiêu lần nó sung sướng ôm đầy quà trên tay: bánh tráng, cốm bắp, kẹo… về giao cho mẹ nó. Trông nét mặt hớn hở của nó vào những lúc ấy ai mà chẳng vui lây!Rồi một tháng trôi qua, lại đến kỳ thăm nuôi. Hôm ấy trời mưa lâm râm và có gió hiu hắt. Tôi lại dán mắt trước cửa hưởng ké niềm vui của mọi người. Thằng nhỏ lại thả sức tung tăng đi nhận quà. Thấy trời hơi lạnh, lại sợ con bị ướt nên mẹ nó đã cẩn thận bận thêm cho nó một cái áo mưa bằng nylon khá gọn. Lần ấy, có lẽ vì quà tặng hơi nhiều, thằng nhỏ lại không biết sợ lạnh, nó cởi cái áo mưa làm đồ đựng. Khi nó đang ôm bọc quà hí hửng chạy về phòng thì gặp Sơn, một tên cán bộ hung ác, nghiêm khắc nhất khám đường. Gã tươi cười một cách đểu cáng đón nó lại:

-“Ngụy con” có nhiều quà quá, chia cho chú với nào!

Thằng nhỏ lính quýnh giẫm vào chỗ đất trơn, té oạch một cái làm quà văng lung tung. Tên Sơn cúi xuống lượm giùm. Xong, gã vờ bốc lấy một gói giấy, bảo:

– Gói này cho chú xin nghe!

Thằng nhỏ tưởng thật hoảng hốt:

– Không được đâu! Gói này không được đưa cho cán bộ coi!

Nghe thằng nhỏ nói hơi lạ tai, tên Sơn nghi ngờ mở cái gói ra xem. Gã bỗng trừng mắt đạp vào ngực thằng nhỏ một cái làm thằng bé ngã bật ngửa. Thằng nhỏ nằm lặng đi một hồi rồi mới khóc nấc ra tiếng. Ai nấy chới với chưa hiểu chuyện gì thì nghe tiếng tên Sơn nạt lớn:

– Đ.M. đồ cái giống nguỵ ra khác, chưa ráo máu đầu đã học phản động!

Quay lại phía tù trật tự, tên Sơn hét:

– Bắt nó quỳ dưới cột lưới bóng rổ!

Lập tức thằng nhỏ bị lôi dậy, kéo đi. Liền đó tên Sơn dẫn một anh tù trật tự khác đến phòng B5. Gã đứng trước cửa hoạnh hoẹ hỏi chuyện. Lát sau một anh tù vừa mới được thăm nuôi hồi sáng bước ra khỏi phòng. Tên Sơn bắt anh tù đứng nghiêm rồi tha hồ đấm đá người tù tội nghiệp. Anh tù nhiều lần bị ngã nhưng tên Sơn lại bắt đứng lên để đấm đá tiếp hết sức tàn bạo.Trong chốc lát anh tù đã xác xơ, rục rã. Nhưng tên Sơn vẫn chưa tha, gã còng cắp cánh tay anh ta lại rồi sai người đưa vào phòng kỷ luật. Trời vẫn mưa lâm râm, gió vẫn hiu hắt. Thằng nhỏ vẫn quỳ dưới chân cột lướí bóng rổ. Tên Sơn vẫn tiếp tục ra vào kiểm soát việc thăm nuôi. Quá nóng ruột, người mẹ phải liều vói mặt ra khỏi phòng van xin chéo véo. Nhưng tên Sơn cứ phớt lờ, cả giờ sau gã mới chịu cho thằng nhỏ tội nghiệp về phòng. Người nó lạnh như cục nước đá, run lập cập, nói không thành tiếng….Buổi tối, khi đưa cơm vào phòng tôi, tên Sơn còn ác độc cảnh cáo:

– Các anh coi chừng, chớ lợi dụng “thằng ngụy con” để thông tin tức với nhau! Dù là chỉ hỏi thăm sức khoẻ tôi cũng trị trắng máu ra!

Giờ thì tôi đã hiểu là anh bạn tù ở phòng B5 đã phạm nội quy của khám đường. Về sau tôi được biết rõ hơn là anh này đã gởi quà với mấy lời nhắn cho một người quen ở phòng tù nữ. Vụ trừng phạt ấy cứ lởn vởn ở trong đầu tôi suốt đêm. Tội nghiệp thằng nhỏ đã bị đòn lại phải chịu đựng ướt lạnh suốt mấy giờ. Sáng sớm hôm sau, tôi đã phải thức giấc bởi tiếng kêu cứu từ phòng tù nữ:

– Báo cáo cán bộ A5 có người bệnh nặng!

Tôi giật mình: biết đâu lại là thằng nhỏ? Tiếng từ phòng trực hỏi lại:

– Nặng bao nhiêu ký?

Tiếng kêu cứu từ phòng nữ có vẻ khẩn thiết hơn:

– Báo cáo cán bộ, phòng A5 có người sắp chết!

– Nghe rồi, đợi đó giải quyết!

Chừng nửa giờ sau tôi nghe có người nói chuyện ồn ào trước sân. Có lẽ cán bộ y tế đã đến. Rồi cả khám đường yên ắng trở lại. Gần sáng tôi lại bị ông Đoàn đánh thức:

– Ông nghe gì không?

Tôi lắng tai để nghe. Trời ơi, rõ là tiếng kêu khóc thảm thiết của một người đàn bà:

– Con ơi con, sao nỡ bỏ mẹ mà đi như thế con ơi! Con tôi chưa đầy ba tuổi đã biết gì đâu mà phản động, đau đớn lắm trời ơi!…

Tôi giật mình thở dài: Trời ơi, thằng nguỵ con! Liền đó tôi nghe có tiếng nạt nộ:

– Để con bị sưng phổi không chiụ lo báo cáo sớm, bây giờ không để người ta chôn cất còn khóc gào đổ thừa cho ai?

Tiếp đó, tôi lại nghe nhiều tiếng khóc nấc nghẹn ngào, đau khổ, uất hờn của người đàn bà tội nghiệp …

(Sài Gòn trong tôi – Ngô Viết Trọng/K3)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thằng Ngụy Con_Ngô Viết Trọng

Người Sè Goòng Giờ Ở Đâu?_Đỗ Thành

Cũng tình trạng giống như Hà Nội, sau 1954, số người xưa cũ Hà Nội lãng phai dần. Vì lý do này hay lý do khác, thời thế thế thời, nên đã có biết bao thay đổi xảy ra.

Tuy đường phố Hà Nội vẫn như cũ, thậm chí các bảng hiệu đắp xi măng chưa kịp tẩy xóa hết, nhưng chắc chắn những con người đã từng sinh sống và làm ăn ở đó không còn trụ lại nhiều.

Hà Nội vẫn còn làng nhàng những ký ức ngày trước, có thể người ta đôi khi còn nhắc đến cà phê Nhân ở phố Cầu Gỗ, gánh phở Tư Lùn ngoài rào trường Nguyễn Trãi, hay hàng bánh tôm bà Béo ở Bờ Hồ, song đích thực tìm lại được những người đó hẳn là quá khó.

Sè Goòng cũng không tránh được sự nhốn nháo do thời cuộc đẩy đưa. Những ngày cuối tháng Tư năm 75, người Sè Goòng thất sắc, ào ào rủ nhau chạy loanh quanh. Người lên Lăng Cha Cả, kẻ vào Tân Sơn Nhất, anh chạy ra Bạch Đằng, chị vào trong Tân Cảng, đông, rất đông, thi nhau leo rào vào khuôn viên tòa Đại sứ Mỹ ở Thống Nhất. Lúc ấy chưa hẳn tất cả nắm rõ sự tình đầu đuôi, nhưng ai cũng cố tìm cho mình, cho gia đình một sinh lộ mà không biết vì sao nữa.

Để rồi những phút cuối cùng đám đông ê chề thất vọng vì không sao leo lên được một chiếc trực thăng, một con tàu lớn hay nhỏ, một khoang phi cơ, đành ngơ ngác quay về, coi như chịu trận. Kết thúc cuộc chiến tranh, đầy đường của cải vứt tràn. Chẳng ai buồn nhặt, hốt, vì tất cả xem như không còn giá trị đích thực.

Lềnh khênh vứt khắp nơi nào là quần áo trận, giày, vũ khí, va ly Samsonite, xe Honda, Vespa, xe đạp, thậm chí cả ô tô, vì chủ nhân đã bỏ đi đâu đó, hay ê chề chẳng còn muốn vác về lại nhà. Trải qua nhiều tháng năm tiếp theo, người Sè Goòng tự ên tìm cho mình một phương cách đi khỏi thành phố.

Người trở lại quê, người dấm dúi sắm thuê thuyền vượt biển, hay bị chuyển về sống các vùng kinh tế mới. Người cũ Sè Goòng thưa thớt dần, có người ra đi biền biệt 40 năm, có người lâu thật lâu không thấy quay về thành phố, để rồi chẳng một ai biết rõ hiện giờ họ ở nơi đâu?

Thản hoặc đôi khi bất chợt có người từ đâu đến hỏi thăm về một cư dân nào đó đã sống ở phố này, nhà này, thì cũng ít ai biết để cung cấp một vài tin tức cỏn con. Đại để chỉ kháo với nhau “hình như nhà ấy dọn đi rồi,” hay tỏ ra không biết gì cả.

Bây giờ, nếu có một người Sè Goòng nào đã lâu không về thăm lại thành phố chắc sẽ ngạc nhiên và lạ lẫm biết bao. Bởi vì Sè Goòng thật sự thay đổi hoàn toàn khác. Phố xá rộng ra, nhà cửa cao lên, cầu treo cầu vượt nhằng nhịt, đường cao tốc tràn đầy, thậm chí các tên đường cũng nghe lạ hoắc.

Đối với khách, giờ muốn hỏi thăm hẻm ông Cọp, hay đường này đường kia mang tên ngày trước, có khi sẽ phải đón nhận sự hờ hững, vì những người tuy mang tiếng là cư dân thành phố hiện giờ, nhưng họ không nghe, không biết vì họ hoàn toàn là người mới đến sau 75.

Hiện người ta đã quen với những tên Trần Đình Xu, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Võ Văn Tần để đâu còn nhớ đến có một thời đó là đường Trương Minh Giảng, Trần Quí Cáp, Hiền Vương v..v… Thậm chí, nếu người ở thành phố cũ giờ có muốn tìm lại những nơi thân quen, xưa đã gửi gấm nhiều kỷ niệm thì cũng khó, hay không còn thấy lại được. Bến đò Thủ Thiêm, thương xá Tax, hành lang Eden, hiệu sách Xuân Thu, nhà sách Vĩnh Bảo, nhà hàng Brodard, Pagode, chợ Vườn Chuối, chợ Cầu Kho, chợ Thiếc, tất cả đều phế mất, đổi tên, hay quên bẵng, còn nói chi những cái tên nghe thân yêu như Cây Mai, Da bà Bầu, Cây Quéo thì lại càng bặt vô âm tín.

Có người đặt câu hỏi vậy thì người Sè Goòng giờ ở đâu? Lớp họ đã ra đi khắp các phương trời, hoặc gửi thân nơi biển cả, sau những lần “đường đi không đến,” hoặc là họ gặp nạn bị cướp, hiếp và bắt mất tích từ những năm nảo năm nào từ bọn hải tặc, để giờ không còn rõ họ sống chết ra sao.

Một số trải năm tháng cơ cực tuổi đời đã phủi tay từ giã trần gian trở về với cát bụi, yên nghỉ giấc thiên thu, hay vẫn còn nán sống nơi những miền nào đó ngay trên đất nước. Có người chợt một hôm nào được hỏi “Hồi xưa ở Saigon, anh/chị làm gì, sống ra sao thì cũng nghe người ấy thờ ơ, dường như mình không phải là người Sè Goòng cũ.”

Nước phèn, đồng ruộng, dầm mưa giãi nắng đã làm cho bao sắc nét của Saigon biến đi. Tóc trở nên cứng còng, da đen nhẻm và tay chân nhiều vết chai cứng. Đối với họ, chắc Saigon là một dư âm xa tít tắp, dù họ còn đang sống ngay trên quê hương mình mà vẫn thấy lạc lõng làm sao.

Nhiều người cũng quên mất xuất xứ, bởi vì cuộc sống “ngày bán mặt cho đất, tối bán mặt cho trời,” rồi trải qua bao phũ phàng sóng gió, chính họ cũng đánh rơi cái căn cước sống một thời ở Sè Goòng đi và chỉ còn mang máng thấy hình như mình đã bị gạt ra ngoài sổ sách của nơi cũ.

Thản hoặc có một hôm nào bất chợt được làm một chuyến trở lại chốn trước kia, họ cũng sẽ ngơ ngẩn tự hỏi có phải đây là Sè Goòng cũ chăng! Tôi thuộc vào hàng ngũ một trong những người như thế.

Theo trí nhớ và hiểu biết của tôi, dân nước tôi đã có đến 3 lần sống chuyển vùng, suốt từ thế kỷ 20 đến giờ. Đầu tiên là những người được nhà nước Phú Lang Sa gọi mời đi “tân thế giới.” Họ được tuyển mộ làm phu cho các đồn điền cao su do người Pháp mới mở khắp miền Đông Nam Bộ.

Có người tham gia một mình, có người đem theo cả vợ con, có ngưởi rủ rê nhau cả làng, cả họ vào sống chung cho có tình đông hương, đồng khói. Bố tôi là một trong những người được mộ đi khai phá, cạo mủ ở nơi đồn điền mới lập đó.

Dần dần những địa danh Xa Cam, Xa Cát, Bù Đăng, Bù Đốp, Hớn Quản, Bà Rá, Lộc Ninh, Quản Lợi kéo dài thành một chuỗi liên hoàn tài sản và nguồn lợi khổng lồ cho những quan tham gia việc mở đường đi lập nghiệp bày ra.

Những người phu như thế có thể sẽ lưu cữu mãn đời với cái nghề bạc bẽo, bán thân cho sốt rét ngã nước, chết dấm chết dúi và bị lãng quên đi. Một số lanh tay lẹ chân, có óc tháo vát, thông minh, khéo léo thì nhẫn nhục làm, tích cóp dần đồng ra đồng vào và thoát ra về Sè Goòng đổi đời sống kiểu khác.

Dần dần họ thành những hạt giống, ăn nên làm ra, đầu tư vào một số ngành nghề: guốc mộc, chạm trỗ, đồ gỗ, buôn bán để gây cơ sở và lôi kéo bà con, quen biết, người làng vào sinh sống đông thêm cho có bè có bạn. Có những khu phố rặc toàn người Bắc, như quanh quanh các con đường gần chợ Bến Thành, họ sống với nghề kim chỉ, rao mời tơ lụa Hà Đông, sản xuất bánh kẹo, bán hàng ăn, chụp ảnh, cũng để lại được ít tiếng tăm và sự tin cậy.

Cũng từ những bước đầu tiên đó, họ lập hội tương tế để cưu mang nhau, hoặc để tựu họp vào các ngày lễ truyền thống của làng, chia sẻ với nhau niềm vui nỗi buồn nơi đất mới. Họ lấy tên làng làm danh xưng của hội, hoặc họ lấy tên miền để gọi cho hội có vẻ bề thế hơn. Có một dạo người ta nghe các tên như Giác Quang tương tế, Bắc Việt tương tế, Phù Lưu Tương Tế, Vũ Bản Tương Tế (hay cái tên riêng biệt Nhà sách Vĩnh Bảo chẳng hạn).

Đến khi người Pháp thua trận Điện Biên Phủ phải rút đi, Hiệp ước Geneva chấp thuận chia đất nước thành 2 miền, chờ 2 năm sau sẽ có tổng tuyển cử thì lại một phen nhốn nháo di cư. Người Hà Nội có 300 ngày để chọn lựa nơi sinh sống của mình.

Tiếng là tự do chọn lựa muốn ở đâu thì ở, nhưng khi có bóng dáng chính trị đổ xô vào thì chuyện đi hay ở không dễ dàng như ta tưởng. Càng gần ngày hết hạn thì con đường 5 càng có những trạm kiểm soát gắt gao. Người ta dùng tình cảm ràng buộc nhau, hoặc ve vãn, hoặc gây khó khăn để hạn chế bớt số người gánh gồng rủ rê nhau tếch.

Những chuyến tàu há mồm, những chuyến vận tải cơ bay dồn dập, người ta choàng cho sự kiện đó cái tên “di cư 54,” hẳn nhiên cũng không khỏi bị kèm theo hay đánh giá mỉa mai, như chỉ có “tứ Công” mới bỏ quê hương đất nước như thế. Người ta gói gọn “4 Công” để ám chỉ: Công giáo, Công An, Công chức và Công nợ.

Ai nói cứ nói, ai dèm cứ dèm, nhưng một đi là cứ đi. Có người cũng vì tiếc căn nhà mới tậu hay còn thân nhân đau ốm thì ở lại, cứ tự nhiên. Lại một lần Sè Goòng giang tay ra đón, thu vén nơi ăn chốn ở, điều tiết việc ổn định gia cư. Những địa danh mới được đặt ra như Cái Sắn, Hố Nai, Tầm Vu, Gia Kiệm hoặc những cái tên kèm một loạt chữ Tân đứng đầu (Tân Bùi, Tân Hà, Tân Phát v..v…)

Bẵng đi 20 năm trôi theo nhau, chiến tranh vẫn ùng oàng, nhưng vết thương dần dần kín, tuy cái sẹo thì không sao xóa được. Người Sè Goòng hào hiệp, bao dung, khó giúp nhau lấy thảo. Những ngày đầu còn rải rác khích bác, cà khịa nhau, chọc trêu nhau kiểu “Bắc Kỳ dzón, ăn rau muống…,”  thế nhưng chẳng mấy chốc đã hòa tan vào nhau đến đỗi lằn ranh ngăn cách tự dưng bị lu mờ.

Người Sè Goòng chính thống không còn hiềm khich mà thậm chí người mới nhập cư cũng thấy mình bị loãng ra và loáng thoáng hình dáng Sè Goòng đã ngự trị trong người lúc nào chả biết nữa. Có người cũng đã tập dẻo giọng trêu đùa nhau: “Cô Hai, chèn ui, cô ngộ chi ngộ ác, giờ mà nghe cô câu dzọng cổ, chắc tui uên mất đường dzìa, cô ui!”

Có thể từ bản chất dễ dãi, ít câu mâu và sẵn lòng giúp đỡ, nên người Sè Goòng chủ động chóng xóa đi bờ vực ngăn cách giữa người Nam và Bắc Kỳ.

Cuộc di cư hàng triệu người có làm xáo trộn phần nào cuộc sống yên ả của miền Đồng Nai, Bến Nghé, bước đầu cũng có xảy ra dăm ba cuộc xô xát cỏn con, thế nhưng vốn tính mau hòa hợp, lằn ranh trên tự nhiên khép gần lại và xóa bỏ hồi nào không hay.

Thậm chí những gia đinh định cư nơi Tân Mai, Cái Sắn, Dốc Mơ, Tầm Vu lần lần còn được chính bà con sở tại cưu mang, giúp dựng lên những căn nhà, hay chỉ vẽ cho đường đi nước bước trong việc mưu sinh, hoặc phục hồi các nghề truyền thống.

 Một dạo, loại chiếu Bát Tràng, gỗ Vụ Bản hay bánh gai Hàng Than cũng đã chen chân vào sinh hoạt ẩm thực và đời sống của miền Nam. Những cánh đồng cò bay thẳng cánh lần lần xóa đi những lằn ranh chia cách và mặc nhiên trở thành tình nghĩa đồng bào thương yêu và lo lắng cho nhau.

  Đất lành chim đậu, cái nắng Sè Goòng làm nhạt phai chuyện nói móc, xỏ xiên nhau, cơn mưa sông Tiền sông Hậu làm phai đi giọng nói cưng cứng miền ngoài. Sự tiếp xúc tự nhiên làm cho tình làng nghĩa xóm tự ên kết tụ, lòng người miền Nam hào phóng vốn dĩ đã quen.

 Người Bắc Kỳ hết còn lạ về nghĩa cử truyền thống miền Nam, nhà nào ở miệt vườn cũng đều đặt sẵn cái khạp chứa nước và cái gáo dừa có cán ở đầu hè để trưa nắng bạn làm đồng ngoài kia từ ruộng bước lên có ngay hớp nước uống vô dễ thấy mát ngọt mà tan đi nỗi mệt nhọc.

 Sinh hoạt hằng ngày khiến cho người hai miền càng ngày càng sát lại gần hơn, chẳng mấy chốc sự ghẹo trêu nhau bị mất đi hồi nào cũng chẳng biết. Rồi tình cảm nảy sinh, gió mát trăng thanh, những bữa nhậu, những câu hò, vọng cổ làm cho ruột gan nhau thấm đậm tình người.

Cuộc di cư hàng triệu người một sớm một chiều bỗng tan đi chớp nhoáng. Đã có những cuộc tình đẹp thiệt đẹp nảy sinh, trai Bắc chọn gái Nam vì các cô hiền từ, ngoan, biết chiều chồng, giỏi bếp núc, và có giọng hò, thả câu lý, ca vọng cổ mượt mà hết xảy. Ngược lại anh trai Nam chọn chị gái Bắc vì cái nết hay làm, chịu đựng, hy sinh, sẵn sàng gánh vác công lênh nhà chồng như chính nhà mình.

 Chả thế mà chiều chiều đã có những chiếu rượu dưới gốc cây ô môi để nghe các cô em Nam Bộ rỉ rả câu tình lang lả lướt, và khối anh Bắc cũng mon men học bằng được món luyến láy của cách nói lối để vào câu “Vọng Cổ Dạ Lang” hay “Vọng Cổ Hoài Lang” rất ngọt ngào.

Ai dám cả quyết lòng mình không rung động khi nghe các nường thỏ thẻ gọi mời: “Anh Hai ui, có mệt dzô nghỉ chút cho phẻ, gồi đi típ.”  Và giữa bộn bề của cuộc sống, ai chẳng sẽ chùng lòng khi nghe câu lửng của cô em: “Nếu có thương nhau, anh dzìa thưa cha thưa mẹ, đừng để em mỏi mòn chờ đợi nhe anh.”

 Bảo sao các ông nhà thơ, nhà văn không thấy mình rạt rào vì đất nước Sè Goòng? Ta đã từng ngẩn ngơ vì câu hát nghe như giọng hò văng vẳng:

  Nhà Bè nước chảy chia hai,

Ai dzìa Gia Định, Đồng Nai thì dzìa.

  Hoặc

 Nắng Saigon em đi mà chợt mát,

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông…

 Cho đến nay, dù vật đổi sao dời thì mỗi lượt có dịp đi ngang Kẻ Sặt, Phương Lâm, Lâm Hà, Bình Phước ta vẫn còn bắt gặp dấu ấn của một thời người Bắc chuyển vùng vào sinh sống trong Nam. Ở những địa phương đó ít nhiều họ cũng góp phần vào dựng xây kinh tế và nét văn hóa đặc thù của cái nôi sông Hồng nơi mảnh đất đã rộng tay đùm bọc, cưu mang.

 Có nhiều người đơn giản nghĩ rằng đề cập đến Sè Goòng là chỉ khoanh vùng vào một địa giới cỏn con cũng đổi thay tên gọi trải qua thời thế. Chẳng hạn có người đã nhắc tới tên Sài Côn của một vương triều nào đó, có người ám chỉ vùng đất mới được khai phá vòng vòng quanh những khu phố được dựng xây từ những năm cuối thế kỷ 18, sau khi người Pháp chiếm Nam Kỳ.

 Riêng với tôi, Sè Goòng không chỉ hẹp như vậy, bởi vì tuy địa danh Saigon được khoanh vùng trong tâm tưởng là như thế, nhưng khi nói về người Sè Goong giờ ở đâu thì ta phải hình dung ra cái nghĩa rộng lớn vô cùng.

 Bởi vì nhiều người vì lẽ này hay lý nọ giờ không còn ở lại nơi đất nước mà phiêu bạt khắp các nơi thì trong trí óc họ Sè Goòng là tất cả, là Bến Tre, Cà Mau, Long Khánh, Bạc Liêu, là Bến Bạch Đằng, Cầu Ba Cẳng, là Phước Tỉnh, Phú Xuân v..v… và v..v… của những đêm hồi hộp nằm ém chờ chạy ồ ra biển, hay ngay cả Tân Sơn Nhất đĩnh đạc lên chuyến bay ra đi.

 Trong những cuộc chuyển vùng bất đắc dĩ đó, phải nói cuộc tháo chạy 75 là vô cùng bi thảm. Dư luận rêu rao lên án về một sự phản bội gì đó, về những sự khiếp sợ không rõ ràng, bởi vì chính thực những người xô đẩy nhau trốn chạy, hay đành ở lại cũng không hiểu nguyên do đã có lúc khiến họ hãi đến vậy.

Bây giờ có người xa Saigon đã 40 năm tròn, có người vẫn đi về năm một vài bận, nhưng Sè Goòng vẫn nằm đâu đó trong suy nghĩ của từng cá nhân. Con số hằng triệu người phân rải rác ở khắp nơi, chỗ nào mở rộng lòng nhân từ giơ tay cứu vớt họ, tạo cho họ một cơ hội sống, giúp họ lập lại cuộc đời từ bước đầu.

 Thấm thoắt giờ đã hình thành thế hệ 2 hoặc 3 của những người ra đi đó. Nơi đất tạm dung, họ đã có cuộc sống ổn định, con cái học hành đến nơi đến chốn, có công ăn việc làm, có tư hữu, có đóng góp công lao mọi mặt vào dòng chính. Một vài nơi họ còn lưu lại nhiều dấu tích về một nền văn hóa của dân tộc vì họ nghĩ rằng các vật thể này nói lên lòng biết ơn của họ với quê hương tạm dung.

 Phần lớn họ đã thành công dân của nước sở tại, thụ hưởng mọi quyền lợi như dân dòng chính. Có thể đời sống họ có khác đi, họ Tây hơn, Mỹ hơn, Úc hơn, song một phần hồn của họ vẫn chưa sao quên đi SAIGON của một thời đã sống.

 Đối với họ SAIGON vẫn là một ký ức chưa phai nhạt. Người ta có thể đùa gọi trệu tên của miền đất hồi nào, hoặc Sè Goòng, hoặc Sài Ghềnh, hoặc Sầu Thành, hay gì gì khác, nhưng nhất định lảng vảng những chiều thứ Bảy tay trong tay dạo phố, lần đầu tiên trao nụ hôn tình, hay một lần chờ đón nhau nơi cổng trường thì chắc chắn họ vẫn chưa quên.

Có một điều lạ khiến người viết băn khoăn là bất kỳ cuộc di dân chuyển vùng nào cũng bắt nguồn từ phía Bắc dồn vào Nam mà ít khi thấy ngược lại. Kể cả từ khi phong trào mộ phu đi tân thế giới, khổ chứ có sướng gì đâu thì việc ra đi vẫn là từ con đường ấy.

 Phải chăng vì Sè Goong có một sự vẫy gọi âm thầm nào đó mà không ai có thể dùng lời lẽ để phân tách ra được. Thôi thì cứ biết thế đi, vì dẫu có sao thì SÀIGÒN vẫn là một phần của giải đất hình chữ S kia mà.

 Đỗ Thành

Trần Văn Giang (ghi lại)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Sè Goòng Giờ Ở Đâu?_Đỗ Thành

Ý nghĩa tượng trưng của con giáp Sửu (con Trâu) trong phong thủy (ST)

Ý nghĩa tượng trưng của con giáp Sửu (con Trâu) trong phong thủy

Con trâu là con vật hiền lành, chăm chỉ, gắn liền với cuộc sống của người dân ở làng quê và là biểu tượng của nền văn minh lúa nước. Con Trâu cũng là con vật nằm trong số 12 con giáp với vị trí thứ 2, sau con Chuột. Vậy ý nghĩa của con trâu trong phong thủy như thế nào? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé!

1. Con trâu – một biểu tượng của văn hóa Việt Nam

Dân gian ta có câu “Con Trâu là đầu cơ nghiệp”. Chỉ một câu nói trên cũng đã đủ chứng tỏ vị trí và tầm quan trọng của con trâu trong mỗi gia đình cũng như trong nền văn hóa của dân tộc ta.

Con trâu gắn liền với cuộc sống của những người nông dân vùng quê, trở thành biểu tượng của nền văn minh lúa nước với hình tượng “con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Với bản chất hiền lành, chăm chỉ, cần cù, hòa đồng, con trâu đã trở nên phổ biến, gần gũi, thân thuộc với tất cả mọi người, từ già trẻ, lớn bé ở các vùng làng quê.

Hình tượng con Trâu gắn liền với cuộc sống của người dân vùng làng quê

Hình tượng con Trâu gắn liền với cuộc sống của người dân vùng làng quê

Hình tượng con trâu đã đi vào trong thơ ca, xuất hiện trong những câu tục ngữ, thành ngữ, những câu ca dao, bài hát đồng dao của các em nhỏ, trở thành nguồn cảm hứng để các tác giả sáng tác nên những bài hát về con trâu như: “tậu trâu cưới vợ, làm nhà…”, “ruộng sâu, trâu nái”, “chín đụn mười trâu”, “Trâu ơi ta bảo trâu này-Trâu ra ngoài ruộng cấy cày với ta-Cấy cày vốn nghiệp nông gia-Ta đây trâu đấy ai mà quản công-Bao giờ cây lúa còn bông-Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”, “Ai bảo chăn trâu là khổ – Chăn trâu sướng lắm chứ”.

Những câu trên đã nói lên vị trí, vai trò quan trọng của con trâu đối với sản nghiệp người nông dân cũng như mối quan hệ thân thiết của con trâu với con người. Con trâu gắn bó mật thiết với người nông dân. Từ lúc bé xíu, các cậu bé, cô bé đã biết chăn trâu, cắt cỏ giúp bố mẹ, vừa kết hợp mò cua bắt ốc hay đánh bài tam cúc, đánh thẻ. Lớn lên, các chàng trai, cô gái biết điều khiển trâu cày bừa, kéo xe, khi về già, sức khỏe suy giảm các cụ ông, cụ bà lại vẫn tiếp tục dắt trâu, chăn nghé giúp con cháu.

Hình tượng con trâu đã đi vào trong thơ ca, ca dao, tục ngữ, tranh Đông HồHình tượng con trâu đã đi vào trong thơ ca, ca dao, tục ngữ, tranh Đông Hồ

Sở dĩ giữa con người và con trâu có có sự gần gũi, mối quan hệ thân thiết như những người bạn thủy chung, gắn bó như vậy vì giữa con trâu và con người có những đức tính rất giống nhau. Trâu hiền lành, chăm chỉ, cần cù, vất vả một nắng hai sương như người nông dân. Trâu thật thà, chất phác, hay chịu thiệt thòi. Trâu cũng rất mạnh mẽ, khỏe mạnh, vững chãi, là loài vật dũng mãnh, thiện chiến, không dễ bắt nạt.

Có lẽ chỉ ở một vùng có nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời mới có những phong tục, lễ hội như chọi trâu, thi trâu, đâm trâu, tạ ơn trâu…như ở nước ta. Và như một lẽ tự nhiên, con trâu đã trở thành hình tượng trong các tác phẩm nghệ thuật, thơ ca. Trong kí ức của mọi người vẫn có một hình ảnh chú bé chăn trâu thổi sáo của bức tranh làng Hồ nổi tiếng, con trâu trong các bài thơ của các danh nhân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh.

2. Ý nghĩa của con trâu trong phong thủy

Trâu là con vật được biết đến rộng rãi, không chỉ vì bản tính ôn hòa, dễ dàng thích nghi với môi trường sống mà còn vì những ý nghĩa biểu trưng đặc biệt của loài vật này.

Trong văn hóa phương Tây, loài Trâu tượng trưng cho sức mạnh và tài lộc. Người ta coi những chiếc tù và làm từ sừng trâu là biểu tượng cho ngành bưu chính cổ đại. Họ thổi những chiếc tù và để thông báo mỗi khi giao hay nhận thư từ các buôn lái. Cặp sừng dài to, chắc khỏe của loài trâu xuất hiện nhiều trong thần thoại Hy Lạp hay Ai Cập, biểu tượng cho các vị thần bảo trợ với sự mạnh mẽ, sức mạnh khiến bao người phải sợ hãi.

Trong văn hóa phương Đông, đặc biệt ở Việt Nam, loài trâu biểu tượng cho sự hiền lành, cần cù, chăm chỉ, thật thà giống như bản chất tốt đẹp của con trâu. Qua hàng ngàn năm thay đổi và phát triển, sự quan trọng và ý nghĩa của con trâu vẫn không hề thay đổi.

Con trâu biểu tượng cho sự hiền lành, thật thà, chăm chỉ, cần cù, chịu thương chịu khóCon trâu biểu tượng cho sự hiền lành, thật thà, chăm chỉ, cần cù, chịu thương chịu khó

Hơn nữa, con trâu còn biểu tượng cho sự mưu trí, thông minh qua việc con trâu đã thông minh đánh bại cả chúa tể sơn lâm là con Hổ trong câu chuyện cổ tích “Trí khôn của ta đây” mà ông bà, cha mẹ thường hay kể cho các em nhỏ nghe.

Con Trâu cũng là một hình tượng trong mô típ trang trí truyền thống hay cầu may. Trâu mang ý nghĩa tâm linh kết nối với thần linh, thể hiện ước vọng của con người. Trâu còn mang biểu tượng của niềm hy vọng sung túc, giàu có, mong ước đến cuộc sống an lành.

Trong kinh tế, con trâu mang đến tài khí dồi dào, phát triển kinh tế, giúp thuận lợi, may mắn làm ăn trong các lĩnh vực kinh tế.

3. Người mang tuổi Sửu (tuổi Trâu) có đặc điểm gì?

Người mang tuổi Sửu (Trâu) sống tự tin trong mọi hoàn cảnh. Người tuổi Sửu có bản tính kiên định, thực tiễn, làm chủ bản thân, tự khép mình vào kỷ luật thép, không cho cơ hội khuất mình.

Người tuổi Trâu rất trung thực, thích giao du rộng rãi nhưng chỉ trong mối quan hệ đứng đắn và bền chặt, nhưng có nhược điểm là khó tự diễn đạt những tình cảm sâu kín và thích sống cô đơn, trọng danh dự hơn là yêu một người chưa tương xứng với mình.

Người mang tuổi Trâu rất điềm đạm, đang tin cậy và có ý chí caoNgười mang tuổi Trâu rất điềm đạm, đáng tin cậy và có ý chí cao

Người “cầm tinh” con Trâu có những ”phẩm chất” như: điềm đạm, kiên nhẫn, kiên định, có ý chí cao và đáng tin cậy. Họ là những người đạt được thành công nhờ vào sự cần cù và chăm chỉ. Là người sống thiên về lý trí hơn tình cảm, họ là người thường tự hào về bản thân mình và ít khi chịu thỏa hiệp.

Người tuổi Sửu lao động cần cù, làm ra tiền nhưng sống cần kiệm, tìm mọi cách để được cuộc sống an toàn, thanh thản. Ẩn mình sau bề ngoài khiêm nhường, nhưng không để ai nịnh bợ đánh lừa.

Người tuổi Trâu có tính cách thích hợp để trở thành một nhà khoa học. (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ý nghĩa tượng trưng của con giáp Sửu (con Trâu) trong phong thủy (ST)

Người Đầu Tiên Của Nhân Loại Vĩnh Viễn An Nghỉ Trên Mặt Trăng.

Câu chuyện cảm động về người
đầu tiên của nhân loại vĩnh viễn
an nghỉ trên Mặt trăng

(Theo Báo Khoa Học Online)

50 năm sau Sứ mệnh Apollo, đã có 12 người đặt chân lên Mặt trăng và hàng chục người được mai táng ngoài không gian. 

Trong đó đặc biệt hơn cả là Eugene Shoemaker – một trong những bộ óc vĩ đại nhất thế kỷ 20, và cũng là người duy nhất của nhân loại an nghỉ trên Mặt trăng.

Bia đá tưởng niệm ông trên Trái Đất ghi rõ: “Sống một lần, chôn cất 2 lần”, muốn nói đến việc Shoemaker được an táng nơi quê nhà, và cả trên Mặt Trăng xa xôi.

Eugene Shoemaker (hay còn được bạn bè và gia đình gọi bằng cái tên thân thương Gene), là một trong những bộ óc vĩ đại của thế kỷ 20.

Eugene-Shoemaker (1)

                     Người duy nhất được mai táng trên Mặt trăng

Ước mơ cháy bỏng lên Mặt trăng nhưng không thành

Tên tuổi của nhà khoa học này sớm đã không còn lạ lẫm trong cộng đồng khoa học. Ông cùng vợ Carolyn và đồng nghiệp David Levy là người đã phát hiện ra sao chổi Shoemaker-Levy 9 nổi tiếng với sự kiện va chạm với sao Mộc. Sự kiện từng làm mưa làm gió trên các tờ báo trên khắp thế giới năm 1994, đánh dấu lần đầu tiên con người chứng kiến cảnh tượng hai thiên thể trong Thái Dương Hệ va vào nhau.

Eugene-Shoemaker-1

                   Shoemaker từ lâu cũng đã rất yêu thích Mặt trăng.

Ông còn để lại nhiều đóng góp cho khoa học khi ứng dụng các kiến thức địa chất học của mình vào thiên văn, góp phần tạo nên ngành khoa học hành tinh. Một trong số đó là sự thành lập Chương trình Nghiên cứu Địa chất thiên văn (Astrogeology Research Program) – dự án thuộc cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ.

Các công trình nghiên cứu về hố thiên thạch của ông có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với việc tìm hiểu về sự tuyệt chủng của khủng long và đối với Sứ mệnh Apollo đưa con người lên Mặt trăng.

Shoemaker từ lâu cũng đã rất yêu thích Mặt trăng, và ước mơ được ngồi lên một chiếc phi thuyền để rồi đặt chân đến và nghiên cứu hành tinh nhỏ này. Đáng buồn thay, ông đã không bao giờ có cơ hội thực hiện điều đó. Ông mắc bệnh thận, và căn ăn bệnh đã dập tắt ước mơ của ông.

Vậy nên thay vào đó, ông tham gia đào tạo các phi hành gia của Sứ mệnh Apollo về các kiến thức địa chất phục vụ cho chuyến du hành Mặt trăng.

Eugene-Shoemaker-2

                                         Eugene Shoemaker.

Trở thành người đầu tiên được an nghỉ trên Mặt trăng

Sau khi Sứ mệnh Mặt trăng kết thúc, Gene (tên thân mật của Shoemaker) vẫn tiếp tục nghiên cứu và quan sát các hành tinh, thiên thể, vẫn đi khắp nơi trên thế giới để nghiên cứu về đất mẹ và đã có thêm nhiều đóng góp cho cả thiên văn học và địa chất học.

Bi kịch đã xảy ra. Trên đường khám phá miệng núi lửa ở Úc vào năm 1997, Gene gặp phải tai nạn xe hơi và qua đời vào ngày 18/7, để lại niềm tiếc thương cho rất nhiều người. Thế nhưng, cuộc phiêu lưu của ông có vẻ vẫn chưa kết thúc tại đó. Ước mơ ông đã không thể thực hiện khi còn sống, cuối cùng được “chấp cánh” khi ông qua đời.

Một đồng nghiệp thân thiết của Gene – Carolyn Porco muốn giúp đỡ bạn mình thực hiện ước mơ trở thành phi hành gia và đã tìm cách để có thể đưa ông lên Mặt trăng. May mắn thay, nhờ vào những thành tựu và đóng góp cho khoa học mà Gene đem lại, Carolyn Porco không mất quá nhiều công sức để thuyết phục NASA, họ đồng ý tôn vinh nhà khoa học quá cố bằng cách đưa tro cốt của ông lên Mặt trăng.

ve-tinh

Ngày 6/1/1998, NASA đưa tàu thăm dò lên cực nam của Mặt trăng cùng 28 gram tro cốt của Shoemaker. Phần tro được bao bọc cẩn thận trong một lá đồng thau có khắc tên, ngày tháng, hình ảnh sao chổi Hale-Bopp, hố thiên thạch Arizona (nơi ông đào tạo các phi hành gia Apollo) và một trích dẫn từ tác phẩm “Romeo và Juliet” của Shakespeare.

Lunar Prospector rời bệ phóng từ Trạm không quân Cape Canaveral, bang Florida, ngày 6/1/1998. Hơn một năm sau, khi kết thúc nhiệm vụ nghiên cứu, con tàu được điều khiển đâm xuống gần cực nam. Tro cốt của Shoemaker cũng theo đó lưu lại trên Mặt Trăng.

Celestis hy vọng có thêm người được chôn cất trên Mặt Trăng trong tương lai. Tuy nhiên, hiện Shoemaker là người duy nhất lịch sử yên nghỉ tại vùng đất xa xôi này. “Mỗi khi nhìn lên Mặt Trăng, chúng tôi sẽ luôn biết Eugene đang ở đó”, Carolyn Shoemaker chia sẻ trong một thông cáo báo chí năm 1998.

(Sưu tầm từ báo Khoa Học online)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Đầu Tiên Của Nhân Loại Vĩnh Viễn An Nghỉ Trên Mặt Trăng.

Rượu đế ở Mỹ_Ian Bùi

Rượu đế ở Mỹ

Lần đầu tiên nước Mỹ có một lò nấu rượu đế của người Việt, ngay trong vùng Dallas-Fort Worth. Nghe tiếng, chúng tôi lặn lội đến tận nơi để hỏi thăm, thám thính và … uống thử. Thành thật mà nói: Ngon!!

Lò rượu độc đáo này mang tên ‘SuTi Craft Distillery’. SuTi là chữ viết tắt lấy từ tên của hai nhà tiên phong Đinh Trọng Suý và Ngô Thời Tiến. Suý sang Mỹ năm 75 khi còn nhỏ. Gia đình ngày xưa là dân Nam Định, di cư vào Nam năm 54. Anh kể hồi ngoài Bắc Mẹ anh cũng biết nấu rượu như nhiều người trong làng. Nhưng anh thì dĩ nhiên không biết gì về việc đó. Qua Mỹ, anh đi học và ra trường kỹ sư, làm việc trong ngành viễn thông (telecom). Năm 2011 Suý quen một anh bạn gốc Cái Răng, nhà ở Cần Thơ có nghề nấu rượu. Anh tò mò học hỏi và bắt đầu thử nghiệm cất rượu lấy. Anh nói vì khi đi dự tiệc anh hay nghe mấy ông già thắc mắc sao cứ phải uống rượu Tây hoài, không tìm đâu ra rượu đế.

This image has an empty alt attribute; its file name is ruou-de-o-my1.jpg

Trong quá trình thử nghiệm, Suý tự lên Internet tìm hiểu thêm về các loại men, các loại gạo, những phương pháp nấu rượu khác nhau của nhiều dân tộc. Anh đặt mua đủ thứ men từ Việt Nam, Âu Châu cũng như Mỹ về để thí nghiệm. Anh bỏ nhiều năm trời tìm xem gạo nào làm rượu thơm ngon nhất. Vài năm sau tay nghề của Suý đã kha khá, anh bắt đầu tự tin đủ để mang rượu của mình đến các buổi tiệc để giới thiệu với bạn bè và nhận được nhiều phản hồi khích lệ. Một trong những người khuyến khích anh nên theo đuổi đam mê của mình là Tiến, người anh em cột chèo đồng thời là kiến trúc sư làm việc ở Dallas. Bắt đầu từ năm 2016, Suý và Tiến hùn vốn để xây lò rượu.

Sau khi tìm mua được miếng đất gần Fort Worth, họ mất nhiều tháng trời chỉ để được phép động thổ và khởi công. Khác với những hình thức kinh doanh thông thường như mở nhà hàng hay mở tiệm nails, lò rượu đòi hỏi vô số điều kiện liên quan đến luật liên bang, tiểu bang và thành phố rất khắt khe. Nhưng cuối cùng SuTi cũng thành hình và chính thức đi vào hoạt động cách đây vài tháng.

Hiện thời SuTi có hai sản phẩm chính là ‘Rượu Đế Ông Già’ (40%) và rượu mạnh ‘Lion 45’ (45%). Vì là một nhà nấu rượu bán lẻ, SuTi chỉ có thể bán tại chỗ chứ không thể gởi rượu qua đường bưu điện. Suý kể có người lái xe từ tận Houston lên chỉ để mua chục chai mang về. Nghe vậy chúng tôi cảm thấy mình còn quá may mắn vì ở cách lò đế độc nhất vô nhị này có … 60 dặm!

Ấn tượng đầu tiên khi bước vào phòng khách là một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu, và rất … Việt Nam. Cách trình bày nơi đây đơn sơ nhưng mỹ thuật, nhờ bàn tay khéo léo và con mắt nhà nghề của kiến trúc sư Tiến Ngô. Trong một góc là chiếc máy hát dĩa thuộc loại đồ cổ gần cả trăm năm nhưng vẫn còn chạy. Chẳng may hôm chúng tôi đến cây kim đã bị hư, chưa được thay.

Nhưng bù lại chúng tôi được nghe một thứ nhạc rất lạ mà quen, phát ra từ chiếc máy TEAC tuổi đời chắc cũng gần bằng của chủ nhân. Giọng hát Khánh Ly và Thanh Thuý thời trước 75 lâng lâng đưa ta vào một thế giới nửa của quá khứ nửa tương lai. Chưa kịp thử rượu đã muốn phê.

Toàn bộ diện tích phòng nấu rượu chiếm một không gian khiêm tốn không đầy 2000 sf nhưng đầy đủ mọi dụng cụ được sắp xếp gọn gàng. Cuối phòng là một cái nồi khổng lồ có thể nấu cả ngàn ký gạo một lúc. ‘Ông Già’ được làm từ một loại gạo thơm đặc biệt đến từ miền Nam Louisiana tên Jazzmen (ghép từ gạo jasmine Á châu và gạo vùng New Orleans, quê hương của jazz). Suý kể mất lâu lắm anh mới tìm được loại gạo này; nhờ nó mà ‘Ông Già’ có một cái hậu rất thơm.

Suý không dùng men từ Việt Nam vì theo anh nó có nhiều mùi thuốc Bắc, đã vậy anh không biết được thành phần gồm có những gì. Vì muốn chế biến một loại đế người Mỹ cũng uống được, anh dùng một loại men của Mỹ cho ‘Ông Già’, và một thứ men mới từ Âu Châu cho ‘Lion 45’. Những ai thích rượu mạnh như whiskey hay vodka bảo đảm sẽ ưng ‘Lion 45’, nhất là khi được ướp lạnh. Ai thích mùi gạo thơm sẽ khoái ‘Ông Già’. Sắp tới đây anh sẽ thí nghiệm làm rượu nếp than.

Rượu cất xong được nếm thử và đo nồng độ. Mỗi vụ rượu (batch) được đánh số và ghi ngày tháng cẩn thận. Chỉ những vụ nào đạt đúng tiêu chuẩn về hương vị cũng như nồng độ mới được giữ lại để bán. Luật liên bang quy định rượu được giữ để bán phải có phòng chứa riêng và phải nộp thuế trước, do đó SuTi phải kiểm tra chất lượng mỗi vụ thật kỹ trước khi quyết định dùng hay không.

Suý Đinh và Tiến Ngô là hai nhà khởi nghiệp ngành rượu đế trên nước Mỹ. Khách hàng của họ đa số thuộc thành phần trẻ, phụ nữ, dân sành rượu và thích rượu ngon. Với giá một chai chỉ khoảng $35-$45 (tuỳ theo vụ) rượu SuTi dễ dàng cạnh tranh với các nhãn hiệu nổi tiếng trên thị trường.

This image has an empty alt attribute; its file name is ruou-de-o-my6.jpg

Tết Ta cho đến Tết Tây

Tiệc tùng cưới hỏi lấy chi làm quà?

SuTi nức tiếng ‘Ông Già’

Uống ly rượu đế chạy ba quãng đồng!

Ian Bui

(Nguồn: Trẻ Magazine)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Rượu đế ở Mỹ_Ian Bùi

Tân Sửu Kể Chuyện Làm Trâu của TPK

Tân Sửu kể chuyện làm trâu

Kính thưa qúy NT, anh chị em đồng môn cùng thân hữu. Hôm nay là ngày mồng bốn tết Tân Sửu, hương vị những ngày đầu năm vẫn còn phảng phất quanh gia đình và người t̀hân. Riêng tôi, khi tết Tân Sửu về lại nhắc tôi về một thời bị làm trâu đi cày trong trại tù cải tạo Nam Hà

Ngày 19 tháng 6 năm 1976 tôi được chuyển từ trại tù An Dưỡng, Biên Hòa ra Bắc dưới hầm tàu địa ngục mang tên Hương Giang. Vừa đặt chân dưới hầm tàu tôi gặp Phạm Bá Lộc và Lê Việt Hằng, mừng lắm. Sống cả năm trời trong cùng một trại nhưng không hề gặp nhau vì khác khu trại giam. Suốt hai ngày hai đêm dưới hầm tàu tăm tối ngộp thở vì thiếu không khí và mùi xú uế của nước tiểu vá phân người. Từ cảng Hải Phòng người ta chuyển chúng tôi lên Yên Bái bằng một đoàn tàu lửa cổ lổ sĩ. Xuống tàu ba anh em chúng tôi bám nhau mà sắp hàng nên cùng được đưa vào trại 4 liên trại 1 ở xã Việt Hồng, Huyện Yên Bình tỉnh Hoàng Liên Sơn. Vùng đất nầy là nơi lưu đày những người dân Quỳnh Lưu chống nhà cầm quyền miền Bắc năm 1956. Sau đó chúng tôi bị chuyển qua trại 3 liên trạị 4 ở xã Cẩm Nhân bên bờ hồ Thác Bà. Sau mấy năm nếm mùi muỗi rừng và con vắc của miền thượng du Bắc Việt, ba anh em chúng tôi thuộc nhóm đầu tiên chuyển về trại Nam Hà và cùng ở chung trong đội 27 ở buồng số 15. chung với đội 28.

Về Nam Hà chúng tôi thóat khỏi nạn vắc cắn nhưng xuống đồng thì bị đỉa đeo. Cánh đồng cạnh trại tù Nam Hà A là vùng đất trũng có lẽ từ thuở tạo thiên lập địa không ai khai thác nên cỏ mục chồng chất lên nhau thành một lớp đất xập xình, vì thế mà người dân địa phương gọi là “Đầm Đùn“. Công An trại bắt tù đào đất đắp bờ phân ô làm đồng ruộng. Đến mùa cấy lúa, toàn trại đổ xô xuống đồng, đội thi bì bõm cuốc ruộng, đội thì dọn cỏ be bờ rồi cấy lúa. Vụ mùa thu đông năm 1978, đội của tôi đang cuốc ruộng thì tên trung úy Lự đặc trách nông nghiệp đến đứng trên bờ, hắn đếm từng đầu người rồi gọi đội trưởng lên bảo “đội của anh đủ nhân số để thành lập đội cày bừa cho trại”.
Đội của tôi trở thành đội làm trâu đầu tiên cuả trại tù Nam Hà. Chúng tôi lạ lẫm với chiếc bừa lần đầu tiên được thấy. Một hàng răng bừa bằng sắt dài chừng 50 cm, ba sợi dây thừng gấp đôi cột vào thân bừa. Ba người quàng dây thừng qua vai làm trâu đi trước, một người đi đằng sau cầm cáng bừa. Ăn đói nên ai cũng trơ xương vai, bị dây thừng cọ xát làm trầy da rướm máu, tốì về đau nhức ngủ không được. Đó là chưa nói đến cái răng bừa bị vướng vào một rễ cây còn sót dưới ruộng, ba người kéo cày như bị giật ngược trở lại khiến kêu trời oai oái đau.
Đó là hồi ức khó quên về thân phận làm trâu của tôi trong trại tù cải tạo

Dưới đây là bài thơ tôi viết sau khi Phạm Bá Lộc gọi chúc tết và nhắc tôi về quãng đời đen tối có liên quan đến con trâu với năm Tân Sửu nầy.
Xin mời qúy NT và thân hữu đọc giải trí.
144276-DD-TrauNguoi.400(Hình minh họa

KỂ CHUYỆN TRÂU

Mùa xuân vừa ló dạng
Chàng Sửu bước vào nhà
Hiền lành mà dũng lực
Đuổi con Tý đi xa

Năm trâu nhớ chuyện cũ
Trong ngục tối lao tù
Đời khổ sai biệt xứ
Đường về xa mịt mù

Bao thân người xơ xác
Dưới cơn nắng chang chang
Cuốc đất làm ruộng rẫy
Mồ hôi chảy từng hàng

Đến mùa đông lạnh giá
Nước sâu ngập tới mông
Áo quần không đủ ấm
Run rẩy dưới ruộng đồng

Đọa đày vầy chưa đủ
Thêm màn kịch trả thù
Bắt làm trâu cày ruộng
Tủi hận tới thiên thu

Sắn khoai chưa đầy chén
Gầy rạc trơ xương vai
Dây thừng,còng lưng kéo
Cứa da máu chảy dài

Lòng người sao tàn độc
Xỉ nhục kẻ sa cơ
Biến người thành súc vật
Thế giới chẳng ai ngờ

Tống Phước Kiên
Xuân Tân Sửu 2021

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tân Sửu Kể Chuyện Làm Trâu của TPK

COVID – HAPPY VALENTINE ‘S DAY

Nhân Ngày Lễ Tình Nhân (Valentine’s Day) CNN thân mến chúc các bạn một Ngày Lễ Tình Nhân ngập tràn hạnh phúc và nhất là Bình An vượt qua cơn đại dịch Covid-19. HAPPY VALENTINE’S DAY

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở COVID – HAPPY VALENTINE ‘S DAY

TẠI SAO MŨI CHÍCH NGỪA CORONA VI-RÚT LẦN THỨ HAI CÓ NHIỀU PHẢN ỨNG PHỤ? (St)

Vậy là cuối cùng bạn đã được chủng ngừa vắc-xin coronavirus. Phải mất hàng tuần chờ đợi, có thể là vài cú điện thoại trước khi bạn có thể làm được một cái hẹn với một trụ sở tiêm chủng dã chiến ngoài trời
(drive-through clinic). Hoặc có thể bạn là một nhân viên chăm sóc sức khỏe mà đã được chính ngừa tại nơi làm việc.
Bây giờ cái phần khó khăn bạn phải làm cho được — là bạn phải làm sao để được chích mũi thứ hai đúng thời hạn. Có nghĩa là bạn phải làm một cuộc hẹn khác, và theo dõi chặt chẽ lịch trình tiêm chủng của bạn.
Thêm vào đó, có lẽ là một chút lo lắng nữa.
Các bác sĩ đã cảnh báo mọi người rằng :
– Liều thuốc đầu tiên có thể có phản ứng phụ của nó. chỉ ở mức độ 3, cơ thể bạn phải tạo ra phản ứng miễn dịch từ số 0
– Liều thứ hai có thể gây ra nhiều phản ứng phụ hơn liều đầu tiên.
Các phản ứng phụ cấp độ 3 bao gồm :
– sưng tấy và đau ở nơi bị chích
– người rã rời và nhức mỏi
– đầu nhức
– và cơ thể nóng sốt nhẹ hoặc ớn lạnh
– muốn ói
ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ MỘT PHÁT HIỆN BẤT NGỜ
Ta hãy dùng ví dụ để giải thích trường hợp này.
Giáo sư sinh học tiến hóa Michael Worobey thuộc Đại học Arizona giải thích:
“Hãy tưởng tượng vào một đêm nào đó bạn nhìn ra ngoài cửa sổ thấy một người đang lởn vởn xung quanh khu xóm của bạn. Người đó trông thật đáng sợ, và bạn có thể hơi lo ngại, nhưng bạn không hoảng sợ.
Một vài tuần sau, bạn nghe thấy một tiếng động, nhìn ra cửa sổ và thấy cùng một khuôn mặt. Bạn có nhiều khả năng phản ứng mạnh mẽ lần này,
Trái tim của bạn đập mạnh, mồ hôi tay của bạn rịn ra, và đầu óc của bạn không ngừng hoạt đông
– Liều vắc-xin thứ nhất giống như lần đầu tiên bạn nhìn thấy người lạ, hệ thống miễn dịch của cơ thể bạn chú ý và thực hiện một số biện pháp phòng ngừa
– Liều thứ hai nó đã được chuẩn bị để dễ dàng nhận dạng và phản ứng mạnh mẽ hơn khi phát hiện cùng vật lạ ấy xâm nhập cơ thể.”
Nói chung, đây là cách hoạt động của vắc-xin, nó luôn luôn đặt hệ thống miễn dịch ở trong tình trạng báo động và cảnh giác, những loại vắc-xin ngăn ngừa bịnh tật tốt hơn với hai (hoặc nhiều hơn) liều thuốc được chích vào cơ thể cách quãng nhau – rút ra từ những phản ứng nêu trên.
Giáo sư Worobey nói:
– Khi được chính ngừa lần thứ nhứt: Cơ thể tạo ra kháng thể, nhưng cũng bắt đầu tạo ra các tế bào miễn dịch được gọi là tế bào B để tạo ra các kháng thể cho một mục tiêu nhất định. Điều này cần thời gian – một quá trình được gọi là trưởng thành. Bạn sẽ có một số lượng tế bào B đã được tinh luyện.
– Khi được chích ngừa lần thứ hai: Những tế bào B đã được tinh luyện đó sẽ hoạt động như là một đội quân (nhân bản và vô tính, a clone army) ngay lập tức có thể bắt đầu tạo ra một phản ứng miễn dịch rất lớn. Đó là những gì xảy ra khi bạn cảm thấy như bạn đang bị ai đánh cho nhừ tử vậy (nguyên văn: kicked in the teeth).
Thomas Geisbert, giáo sư và chuyên gia tại Đại học Y khoa Texas về các  mối đe dọa của các loại vi-rút mới đang nổi lên, cho biết rằng :
Có một số loại vắc-xin tạo ra nhiều phản ứng miễn dịch với chỉ một liều duy nhất. Nhưng sách lược (vắc-xin prime-boost, 2 lần chích) sẽ tạo dựng một lực lượng phòng thủ lâu bền hơn.
– Hệ thống miễn dịch của bạn đã được kích hoạt ngay từ liều đầu tiên.
– Vì vậy, với liều thứ hai: Bạn có xu hướng xây dựng phản ứng lâu hơn và bền hơn.
Các triệu chứng giống như cúm đi kèm với bất kỳ bệnh nhiễm vi-rút nào
– không phải là do vi-rút tự gây ra.
– Những triệu chúng đó được tạo ra bởi phản ứng của cơ thể.
– Sốt và đau nhức cơ bắp xuất phát từ tình trạng viêm
– là dấu hiệu cho thấy các tế bào miễn dịch được gọi là tế bào T đang phát ra báo động dưới dạng tín hiệu hóa chất gọi là cytokine.
Geisbert nói: “Bạn bị sưng ở chỗ tiêm. Bạn có thể cảm thấy ớn lạnh hoặc đau nhức, hoặc cảm thấy mệt mỏi.”
 Giám đốc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, Tiến sĩ Rochelle Walensky nói:
– Điều đó là một báo hiệu tốt cho việc dự đoán: liệu xem vắc-xin có cung cấp được một khả năng miễm nhiễm tốt hơn là sự miễn dịch tự nhiên hay không. Những triệu chứng này có nghĩa là hệ thống miễn dịch của bạn đang được tăng cường và vắc-xin thực sự đang hoạt động”.
Loại coronavirus mới này chỉ xuất hiện được khoảng một năm nay thôi, vì vậy vẫn chưa một ai có thể quả quyết rằng liệu nó sẽ giống như
– bệnh sởi, bệnh mà người ta mắc một lần trong đời rồi thôi
– hay giống như bệnh cúm người ta mắc đi mắc lại nhiều lần.
Các nghiên cứu cho thấy rằng khả năng miễn dịch đối với coronavirus dù sao cũng kéo dài:
– hàng tháng
– sáu tháng
– chín tháng
-hoặc thậm chí lâu hơn.
Điều đó không hẳn là đúng với 100% dân số :
– khả năng miễn dịch thay đổi rất nhiều từ người này sang người khác
– và một vài trường hợp đã được ghi nhận về những người bị nhiễm coronavirus hai lần.
Các nghiên cứu này theo dõi hệ thống miễn dịch
– ngay sau khi bị nhiễm trùng, hai loại kháng thể đột ngột tăng lên về số lượng
– và sau đó tan rã
– trong khi một loại kháng thể thứ ba tăng dần một cách chậm chạp hơn.
– Và sau đó các tế bào B, mà đã được HUẤN LUYỆN ĐỂ NHẬN BIẾT VIRUS bắt đầu sản xuất các kháng thể chuyên biệt, tích tụ trong máu.
Chủng ngừa có khả năng đẩy nhanh quá trình này – cung cấp cho mọi người sự bảo vệ nhanh hơn nhưng cũng có thể cung cấp mức độ bảo vệ rộng hơn so với nhiễm trùng tự nhiên.
Giáo sư Geisbert nói: “Bởi vì tất cả mọi việc đã diễn ra quá nhanh chóng, vì vậy các nghiên cứu và các dữ liệu quan trọng vẫn chưa có đầy đủ”. (ST)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TẠI SAO MŨI CHÍCH NGỪA CORONA VI-RÚT LẦN THỨ HAI CÓ NHIỀU PHẢN ỨNG PHỤ? (St)

Vợ Chồng Điệp Viên_Phạm Thành Châu

Vợ Chồng Điệp Viên

Học xong trung học, tôi thi vào Đại Học Sư Phạm ban Anh Văn. Trong thời gian là sinh viên tôi còn làm việc cho số 3 Bạch Đằng. Đó là cách nói gọn của phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi làm tình báo vì có máu phiêu lưu, thích chuyện mạo hiểm, sau nầy lại thêm mối thù Việt Cộng giết cha tôi. Ông già tôi là chủ một nhà máy xay lúa nhỏ ở vùng quê tỉnh Bạc Liêu. Vì là vùng mất an ninh nên phải đóng thuế cho việt cộng, ấy vậy mà cũng bị chúng nửa khuya đến gõ cửa đem ra đồng bắn bỏ. Cả mấy năm sau, tôi cố tâm điều tra mới biết rõ thủ phạm là một tên nằm vùng trong xóm, chỉ vì một xích mích nhỏ, hắn dẫn đồng bọn về giết người.

Dĩ nhiên tôi trả thù.

Sau khi tốt nghiệp sư phạm, trong lúc chờ sự vụ lệnh, tôi lẻn về nhà trốn trong phòng không cho hàng xóm biết, đến khuya tôi đến nhà hắn, nằm sau hè chờ. Ở thôn quê không có phòng vệ sinh trong nhà, khi cần thì ra sau vườn.

Qua đêm thứ hai hắn mở cửa ra đi tiểu, tôi chĩa súng vào lưng hắn.

– Đồng chí ra ngoài kia trả lời trước tổ chức về vài việc cần gấp.

Hắn sinh nghi định phản ứng, tôi giáng cho một bá súng vào đầu, hắn bất tỉnh, tôi cột chân tay hắn, cõng trên lưng, ì ạch băng đồng ra chỗ bọn chúng giết cha tôi.

Tôi khai thác tận tình cho đến khi hắn thú nhận tội giết cha tôi, lúc đó tôi mới cho hắn biết sự thật.

Hắn van lạy, nhưng vô ích, hình ảnh cha tôi chết oan ức, mắt vẫn mở trừng trừng khiến tôi sôi gan. Sau đó gia đình tôi bán nhà máy xay lúa, bán nhà lên Sài Gòn ở.

Tốt nghiệp xong tôi được điều đi các tỉnh dạy học. Sau mỗi công tác tình báo dù thành công hay thất bại tôi lại chuyển qua tỉnh khác.

Câu chuyện bắt đâu khi tôi được giao cho việc theo dõi một cô thợ may ở ngoại ô một thành phố ven biển miền Trung.

Nguyên nhân là thỉnh thoảng lại có truyền đơn rải vào buổi sáng trên con đường vào thị xã. Đây là con đường mà đa số nông dân thường đem nông sản vào chợ bán.

Họ chở bằng xe đạp, xe lam hay xe bò. Sáng sớm nào cũng có cảnh sát rình ở đó nhưng chẳng thấy ai đáng tình nghi cả.

Sau phải cho người nằm sát lề đường mới khám phá ra một cô gái đi xe đạp chở rau muống phía sau, dưới chân chỗ bàn đạp để mớ truyền đơn, cứ dỡ nhẹ chân là truyền đơn rơi xuống đường khó mà thấy được nhất là ở quãng đường tối.

Qua điều tra đây là cô thợ may nhà ở vùng ngoại ô, sát địa giới thành phố.

Sau nhà là một vạt ruộng nhỏ trồng rau muống, mỗi sáng cô chở rau vào chợ bán sỉ cho bạn hàng rồi về ngay.

Cô sống với một mẹ già hơn sáu mươi tuổi. Gọi là tiệm chứ thực sự là một bàn máy may phía trước, cách một tấm vách cót là giường ngủ của hai mẹ con vừa làm chỗ thử áo quần. Gia đình nầy mới từ một quận miền núi về hơn một năm nay. Theo báo cáo, trước đó cô là nữ sinh trung học, sau theo nghề may.

Tiệm của cô khá đông khách vì cô hiền lành, vui vẻ lại lấy công rất rẻ, có lẽ đây là trạm giao liên hơn là cơ sở kinh tài của địch.

Nhiệm vụ của tôi là tìm cách tiếp cận cô để theo dõi. Tôi sẽ đóng vai một kẻ si tình cô, gặp gỡ cô mà bọn chúng không thể nghi ngờ, hoặc tốt hơn nữa sẽ được móc nối làm việc cho chúng.

Một buổi sáng Chủ Nhật tôi chạy xe gắn máy gần đến nhà cô thì xe chết máy phải dừng lại sửa.

Tôi vào tiệm xin cô miếng giẻ rồi loay hoay mở máy ra chùi, thay bu gi, tháo bình xăng con… toát mồ hôi mà xe vẫn không nổ.

Tôi xin cô miếng nước uống và ngồi trước hiên nhà cô hỏi vài câu vơ vẩn rồi dẫn xe về.

Qua hôm sau tôi đem một xấp vải đến nhờ cô may cho một áo sơ mi. Lần nầy tôi được cô mời vào nhà vì tôi là khách.

Thế rồi, thỉnh thoảng tôi lại nhờ cô may một thứ gì đó và tôi ngập ngừng nói là tôi làm thế để được dịp gặp cô, không gặp tôi nhớ.

Cô có vẻ bất ngờ, nhưng yên lặng. Những lần sau cô lại càng giữ ý, nhưng tôi bắt gặp trên đôi mắt cô mỗi khi thấy tôi, long lanh niềm vui. Trong lúc trò chuyện tôi cho cô biết về gia đình tôi rằng ông già tôi tham gia mặt trận bị quân đội Quốc Gia hành quân bắn chết.

Thỉnh thoảng tôi đi chùa nghe thuyết pháp hoặc tham gia mít ting, tôi phát ngôn bừa bãi ra người bất mãn chế độ.

Sau một thời gian lạnh lùng, giữ kẽ, cô có vẻ thân thiện, vui vẻ hơn.

Kẻ thù trong bóng tối đang kéo dần con mồi về phía chúng, tôi biết mình đã được để ý, nhưng chỉ đến đấy thì hầu như bế tắc, tôi không biết được những gì chúng tôi cần.

Một sáng Chủ Nhật, như thường lệ tôi đến thăm cô, nhưng đến nơi chỉ thấy một đống tro tàn đang bốc khói. Thì ra, không hiểu vì sao lúc khuya lửa bắt cháy, hai mẹ con chỉ kịp chạy thoát thân. Tôi khuyên nhủ nhưng cô vẫn lắc đầu lo lắng.

– Tiền mua bàn máy may, mua miếng đất em trả chưa hết nợ, còn quần áo của khách nữa, họ nói bao nhiêu phải cố mà trả. Nhưng em còn đồng nào đâu!

Tôi hứa với cô là sẽ hết lòng tìm cách giúp đỡ. Thế rồi tôi về bán chiếc xe gắn máy. Nhờ bà con chung quanh phụ giúp nhặt nhạnh những miếng tôle còn xài được, mua ít vật liệu, dựng lại căn nhà mới cũng khang trang, ngoài ra còn mua được một bàn máy may mới nữa. Chỉ trong một tuần tôi lo toan cho cô chu toàn.

Từ đấy thái độ của cô đối với tôi thay đổi hẳn. Chúng tôi thường đưa nhau đi xem hát, ăn quà rong, đôi khi cô đến nhà trọ thăm tôi nữa.

Mỗi khi đi với nhau cô thường chải chuốt, thoa chút phấn hồng trên má, trông cô đẹp hẳn ra, như lột xác từ một cô thợ may lọ lem thành một nàng tiên, nhưng đối với tôi, đi bên cô, nhất là những chỗ vắng, tôi có cảm giác rờn rợn, tưởng như mình đang đứng trước đỉnh đầu ruồi của một họng súng nào đó trong bóng tối.

Vì nghề nghiệp, lúc nào tôi cũng cảnh giác, ngụy trang, dọ dẫm tìm một chỗ an toàn phía sau lưng.

Một lần cô ghé nhà trọ thăm tôi, có một bà hàng xóm biết cô là thợ may đến năn nỉ cho con gái học nghề may.

Cô là học sinh thi hỏng tú tài, muốn theo nghề may để phụ giúp gia đình.

Nghe tôi nói thêm vào cô ta có vẻ bằng lòng nhưng hẹn ít hôm nữa mới trả lời, có lẽ chờ quyết định của tên đầu sỏ, chỉ huy cô.

Tuần sau cô đồng ý nhận học trò. Được độ ba tháng nhờ sáng ý, cô bé học nghề khá tiến bộ. Tiệm may cũng đông khách hơn trước.

Một hôm tôi gọi riêng cô bé hàng xóm qua nói chuyện.

– Em học nghề may với chị Lan đến đâu rồi?

– Em cắt chưa vững nhưng may thì khá lắm, khách nào cũng khen đường chỉ em thẳng, mịn và đẹp.

– Có lẽ cần một máy may nữa mới phụ chị Lan kịp giao hàng cho khách.

– Em cũng nghĩ vậy nhưng không có tiền.

Tôi tâm sự với cô học trò.

– Như em biết, thầy và chị Lan yêu nhau, dự định sẽ làm đám cưới, nhưng thầy còn ngại hình như chị Lan đang yêu ai nên thầy nhờ em giúp thầy tìm hiểu chị Lan xem có ai đến thân mật chuyện trò với chị ấy không? Em sẽ chẳng làm gì cho chị ấy nghi ngờ. Thầy có cái máy nầy, sẽ giấu dưới xách tay của em, khi đến nơi, em chỉ cần mắc xách tay sau lưng chỗ ngồi của em sát vách với phòng thử áo quần. Chỉ thế thôi, đừng cho bất cứ ai biết chuyện nầy. Nếu chị Lan hay ai bắt gặp cứ bảo rằng đó là máy thu thanh, thầy sẽ chỉ em cách mở nghe đài phát thanh. Em cũng đừng cho chị ấy biết là thầy cho em mượn tiền mua máy may, sợ chị nghi ngờ, ghen tuông phiền phức.

Thế là chúng tôi nghe rõ những trao đổi, bàn bạc với nhau của bọn chúng trong phòng thử quần áo. Một bộ phận khác rình thu hình những khách hàng khả nghi và tiến hành điều tra.

Chúng tôi gần như nắm vững tất cả những tên nằm vùng, cơ sở kinh tài, nơi chứa chấp những tên xâm nhập nữa, nhưng tên đầu sỏ vẫn chưa tìm ra!?

Trong nghề nầy, một chút sơ ý là chết. Như cô thợ may, bị chúng tôi theo dõi mà không hay biết.

Cô với tôi như hai tay nhu đạo đang lừa nhau để vật đối thủ xuống, cô đã bị thất thế hoàn toàn, nhưng tôi chưa ra tay và chờ cô ra đòn.

Có thể cô làm bộ chuyện trò, hỏi han để tìm hiểu tôi hoặc rủ tôi một chiều nào đó ra vùng quê hóng gió tâm sự…

Nhưng tuyệt nhiên chuyện đó không xảy ra. Cô lúc nào cũng ít nói, dịu dàng, nhưng như thế lại càng làm tôi e ngại và thấy cô rất bản lĩnh, rất nguy hiểm.

Đi bên cô tôi cố làm vẻ sung sướng, hạnh phúc nhưng thật sự tôi có cảm tưởng cô như con rắn độc, chỉ một tích tắc cô hành động là đời tôi tàn ngay.

Mạng tôi đổi mạng cô thì không xứng. Thế nên tôi chẳng hứng thú gì trong vai trò nầy cả.

Tôi được lịnh phải tiến xa hơn tức là phải chung đụng xác thịt để giữ chặt con mồi, nhưng tôi không làm được. Dù cô có yêu tôi thực hay giả vờ tôi cũng quyết không đụng chạm đến nơi thiêng liêng đó của người con gái. Đó là nhược điểm của một tên tình báo non tay nghề như tôi.

Mùa Hè năm đó, đối phương lập phương án tấn công tỉnh. Mẻ lưới được tung ra. Chúng tôi dự định hành quân vào lúc khuya.

Buổi chiều cô bé học may về báo cho tôi biết là lúc trưa có một ông sư khất thực đến trước nhà, cô Lan ra cúng dường, ông sư lầm thầm tụng kinh chúc phúc như mọi khi, nhưng lúc quay vào, thấy mặt cô tái mét, người cứ run lên bần bật…

Chúng tôi đề nghị cảnh sát hành quân sớm hơn dự định. Thế là cả bọn bị tóm, kể cả chính tôi cũng bị cảnh sát đến gõ cửa, còng tay, đẩy lên xe cây.

Thường thì sau khi vở kịch đã hạ màn như thế, tôi thảnh thơi nghỉ ngơi rồi nhận công tác mới.

Nhưng không hiểu sao hình ảnh cô ta vẫn nguyên vẹn trong đầu tôi.

Khi cô bị bắt, bị giam giữ, lòng trắc ẩn của tôi lại nổi lên. Đàn bà, con gái, trẻ con không có chỗ trong chiến tranh, họ phải được ở hậu phương, phải được thường xuyên che chở, bảo vệ. Một cô gái vô ý vấp ngã thấy đã động lòng rồi, huống gì cô thợ may hiền lành, dịu dàng kia đang bị nhốt trong nhà giam sau những song sắt như một con thú đã bị săn bắt, chờ ngày bị đem xẻ thịt.

Tôi đã nhiều lần bí mật nhìn cô ủ rũ ngồi ở một góc phòng giam, héo úa như không có linh hồn, không còn cảm giác, suy nghĩ gì.

Tương lai là chết rũ trong tù, tình yêu, hy vọng của tuổi thanh xuân coi như đã chấm hết.

Đối với cô, tôi thấy thật bất nhẫn, lừa gạt một cô gái dù cô ta được điều khiển từ trong bóng tối. Và khi cảm tưởng cô không còn là kẻ thù của tôi nữa, sự cảnh giác đã được gạt bỏ, như bụi bặm trên một bức tranh đã được chùi sạch, để lộ ra hình ảnh trong sáng, dịu dàng của cô trong tâm trí tôi.

Thế nên tôi đề nghị thả cô ra để cho những con mồi khác đến móc nối lại với cô.

Từ phòng giam, tôi lại được gọi lên để đối chất về sự liên hệ giữa tôi và cô.

Chúng tôi xác nhận có yêu nhau nhưng chẳng biết gì về Việt Cộng cả và anh cảnh sát thẩm vấn (vờ) tin ngay là thật, anh hứa sẽ thả chúng tôi ra và anh cảnh sát bỏ đi làm giấy tờ.

Tôi đến ngồi gần cô cầm lấy tay cô, cô ngước nhìn tôi và lắc đầu, có lẽ cô cho rằng lời anh thẩm vấn viên chỉ là cái bẫy, nhưng tôi cố tình cho cô hiểu tôi là người có thẩm quyền, tôi cứu cô ra vì tôi yêu cô.

– Như em đã nghe lúc nãy, anh xin bảo lãnh em và chịu trách nhiệm liên đới về những hành động của em sau nầy. Nếu em thương yêu anh thực lòng thì em hãy lánh xa những gì có thể gây nguy hiểm cho em. Em còn mẹ già phải nuôi dưỡng, rồi em sẽ lập gia đình, có con cái, sống hạnh phúc như bao người bình thường khác. Đừng dại dột nữa, không phải anh sợ bị vạ lây nhưng nếu em gặp chuyện không may anh sẽ đau khổ lắm. Anh sẽ thu xếp cho em và mẹ em vào Sài Gòn sống lẫn trong đồng bào thì sẽ không có ai quấy rầy em nữa. Chúng mình sẽ làm đám hỏi và khi nào anh vận động xin về dạy gần Sài Gòn sẽ làm đám cưới.

Cô cúi đầu yên lặng nghe, rồi cô nắm tay tôi đặt lên đùi cô, siết nhẹ. Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cô đã hiểu ý tôi. Cô viết cho mẹ cô một lá thư, dặn bán nhà để chuẩn bị về quê, chỉ giữ lại bàn máy may.

Sau đó chúng tôi lặng lẽ về Sài Gòn.

Nhờ bạn bè giúp đỡ, tôi tìm mua được một căn nhà nhỏ ở chợ Cây Quéo, góc đường Hoàng Hoa Thám, Ngô Tùng Châu Gia Định. Dĩ nhiên việc theo dõi cô không phải đã chấm dứt.

Công tác của chúng tôi thường được tình báo Mỹ yểm trợ.

Người Mỹ rất hào phóng nhưng cũng rất nguyên tắc, họ đã vui vẻ trả lại tiền cho tôi mua lại chiếc xe gắn máy, trả cả những chi phí lặt vặt như đưa cô đi xem hát, ăn quà rong.

Nhưng sau cuộc hành quân, hồ sơ coi như đã đóng. Lần nầy tôi lại bán xe, vay mượn thêm để lo cho cô mà không biết khi nào mới có tiền mua lại xe khác.

Suốt mấy tháng hè, tôi về Sài Gòn với gia đình. Buổi chiều tôi thường ghé thăm cô, có khi tôi ăn cơm tối với gia đình cô.

Sau bữa ăn, bà mẹ dọn dẹp chén đĩa, còn cô thì xin phép đi tắm. Chợ Cây Quéo nằm trong một đường hẻm, sau khi tan chợ chiều, trở thành vắng lặng như ở một vùng quê.

Sau nhà cô có một sân vuông nhỏ, rào kín chung quanh, tôi thích ra đấy ngồi xuống một ghế gỗ dài để chờ cô. Cô có thói quen là sau khi tắm cô không mặc nịt ngực, nên qua lần vải mỏng, đồi ngực cô thẳng đứng lên, lồ lộ như hai mụt măng tre vừa chồi lên khỏi mặt đất.

Cô ngồi cạnh tôi, nghiêng đầu dùng khăn vò mái tóc cho khô, chải nhẹ cho tóc thẳng, xong cô ngửa người vuốt mái tóc về sau lưng, rồi cô nhìn tôi mỉm cười.

Tôi yên lặng ngắm cô, tưởng như thấy rõ làn da mịn màng, thơm tho của thân thể cô… Sau đó chúng tôi có một thứ quà rong như chè hay trái cây để vừa ăn vừa chuyện trò đến khuya mới chia tay.

Sau kỳ nghỉ hè tôi được chuyển ra Huế dạy học, tôi viết cho cô một lá thư dài và hẹn Tết sẽ về xin làm đám hỏi.

Tính cô ít nói, ngay cả thư trả lời chỉ vỏn vẹn mấy câu “Được thư anh, em khóc mấy hôm nay vì vui mừng. Cám ơn anh đã hiểu em và lời hứa của anh lần nầy em tin là thật, bằng trái tim và cả cuộc đời em”.

Khoảng cuối năm đó tôi xin phép về Sài Gòn, khi đến nhà cô tôi ngạc nhiên thấy nhà đã sửa sang lại tươm tất. Cô dẫn tôi ra phía sau khoe một căn phòng vừa mới được xây thêm.

– Mẹ ngủ phòng ngoài kia, em ngủ trong nầy.

– Còn anh thì nằm dưới đất?!

Cô đỏ mặt nhưng sung sướng.

– Anh với em phòng nầy chứ.

Lễ hỏi chúng tôi diễn ra đơn giản, kín đáo. Gia đình tôi cứ tưởng tôi sẽ lập gia đình với một cô nữ sinh nào đó, không ngờ là một cô thợ may. Chẳng phải họ kỳ thị hay giai cấp gì mà theo lệ thường, thầy giáo rất dễ chọn vợ đẹp trong trường mình dạy.

Nhưng khi gặp lần đầu, mọi người đều thích cô ngay. Cô vừa hiền vừa đẹp một cách thùy mị.

Mẹ tôi cứ mẹ mẹ con con với cô ngọt xớt, các cô em gái tôi thì tíu tít hỏi han, trò chuyện rất thân mật khiến cô bối rối, vụng về vì cảm động.

Từ đó gần như ngày nào tôi cũng đến nhà cô, đôi khi ngủ lại nữa, nhưng chúng tôi đã hứa với nhau phải giữ gìn, để dành cho ngày hôn lễ.

Cô có những suy nghĩ lẩm cẩm rất đàn bà. Cô thêu những áo gối có hình quả tim, tên tôi và tên cô lồng vào nhau, hình đôi chim đang bay, rồi cô phân vân về tên của những đứa con trong tương lai. Tôi chế giễu thì cô giận, nhưng thâm tâm cô rất vui sướng với giấc mơ đơn giản đó.

Tôi bàn với cô vài tháng nữa sẽ làm đám cưới, nhưng rồi đầu năm 1975 miền Nam bắt đầu sụp đổ từng mảng, tất cả tan rã như bọt nước.

Người ta ùn ùn chạy về phía Nam, tôi phải nấn ná lo tiêu hủy hồ sơ, phân tán mạng lưới nên vào đến Đà Nẳng lại đành quay về Huế vì miền Trung đã rơi vào tay đối phương rồi. Kẻ thù hình như chưa biết gì về tôi cả ngoài cái vỏ bọc thầy giáo trung học. VC bắt đầu gọi các cô thầy đến khai lý lịch và như đang sắp xếp mở cửa các trường học.

Thế rồi khoảng cuối tháng Năm, năm bảy lăm, nửa khuya, chúng đến vây nhà trọ, gõ cửa, còng tay tôi dẫn ra xe.

Thoạt nhìn, ngoài chiếc xe cảnh sát chở đầy bộ đội tôi còn thấy một xe mang số ẩn tế Sài Gòn, tôi biết ngay bọn chúng đã tìm ra chính xác tông tích tôi. Nhưng tại sao trung ương lại không hủy hồ sơ?

Ngồi kèm tôi là hai tên bộ đội còn trẻ mang súng AK. Phía trước, bên cạnh tài xế là một người đàn bà. Xe chạy ra khỏi cửa Thượng Tứ, qua cầu Trường Tiền đến đường Duy Tân, chiếc xe chạy trước quẹo vào ty cảnh sát (cũ), còn xe chở tôi chạy thẳng, hướng về quốc lộ. Tôi đoán chúng đưa tôi về Sài Gòn khai thác. Tôi dự định thoát thân, nhưng đến gần phía Nam tôi mới hành động. Nghĩ thế nên tôi buông thả, thiu thiu ngủ dưỡng sức.

Dọc đường xe phải ngừng ở các nút chặn, tên tài xế cũng là bộ đội trình giấy và nói gì đấy, ánh đèn loang loáng vào xe, rồi xe lại tiếp tục. Đến Quảng Ngãi trời đã rạng sáng, tôi lơ mơ mở mắt nhìn quanh. Bỗng tôi lạnh người khi nhận ra người đàn bà ngồi phía trước là cô thợ may, vợ sắp cưới của tôi.

Hóa ra chúng tôi đã lầm trong điệp vụ vừa kể, tên đầu sỏ là cô ta chứ không phải gã thầy tu khất thực.

Tôi cay đắng cười thầm mình thua trí một người đàn bà, cô đã ngụy trang một cách tài tình, không chỉ đánh lừa chúng tôi mà còn đánh lừa cả đến lũ chân tay của cô.

Nhớ lại những ngày chúng tôi bên nhau, tôi sượng sùng, xấu hổ với cô. Cô đã đóng một vai kịch rất xuất sắc, rất bản lĩnh, tôi vẫn chỉ là một con mồi ngây thơ.

Ấy vậy mà tôi cứ tưởng tình yêu chân thành của tôi đã cảm hóa được cô. Giờ đây cô ngồi đó, lạnh như tiền. Cô đang nghĩ gì về tôi, một tên điệp viên hạng bét, ngây ngô, lãng mạn tiểu tư sản?

Xe đến Bình Định, ghé vào một quán cơm bên đường, tôi được tên bộ đội mở còng nhưng dặn “Cần gì nói tôi, giữ khoảng cách năm bước, đến gần hay xa hơn, sẽ bị bắn bỏ”.

Tôi được dẫn vào ngồi một bàn ở một góc quán, mấy tên bộ đội ngồi hai bên, còn cô ta thì ngồi riêng.

Sau bữa ăn, lúc trả tiền cô lôi ra một xấp bạc mới tinh, rút vài tờ vất đấy, đứng dậy, không lấy tiền thối. Tôi cố tỏ ra sợ sệt và ngoan ngoãn để chúng tin, hy vọng đến chiều tối nếu cũng ăn uống như thế nầy tôi sẽ bỏ chạy rất dễ dàng và bóng đêm sẽ che chở cho tôi.

Nhưng tôi đã lầm, xe chạy suốt đến sáng, đến ngã ba Hàng Xanh theo đường Bạch Đằng, rồi Chi Lăng, Ngô Tùng Châu và vào hẽm chợ Cây Quéo.

Cô vào nhà một lúc lâu mới đi ra với bà mẹ. Hai mẹ con ngồi phía trước, xe lại tiếp tục trở ra xa lộ đến Biên Hòa quẹo hướng Vũng Tàu.

Tôi đoán chúng sẽ truy tôi về công tác ở Vũng Tàu, Long Hải trước đây hoặc giao cho lũ nằm vùng, nội tuyến đã bị tôi đưa đi tù, và chúng sẽ mặc sức trả thù.

Đến Vũng Tàu, ghé mua mấy ổ bánh mì thịt, xe vào một khách sạn hạng trung bình. Sau khi ăn uống, làm vệ sinh, tôi lại bị còng tay cho vào phòng riêng, phía ngoài là hai tên bộ đội canh cửa.

Tôi nghe cô ta dặn hai tên gác là phải cảnh giác cao độ với tên địch nguy hiểm đó (là tôi), và cô đến Ủy Ban Quân Quản có chuyện cần, sẽ về ngay.

Tôi mệt mỏi lăn ra ngủ một giấc lấy sức, dự định tối nay leo cửa sổ trốn đi. Cái còng không thành vấn đề, một cọng thép nhỏ là xong, và cọng thép đó đang nằm trong sợi dây đồng hồ mà tôi đã có được lúc tôi đòi đi tiểu ở hàng cơm ở Bình Định.

Nhưng đến gần tối, sau khi được ăn một ổ bánh mì nữa, chúng lại còng cả chân tôi vào giường và hai tên bộ đội ngồi ngay trong phòng tôi, thay phiên nhau lõ đôi mắt cú vọ canh chừng tôi.

Thế là hết đường trốn thoát! Nhớ lại thời gian hứa hôn chúng tôi sống bên nhau, cô đã dần dần hiểu tôi, trong sự săn sóc cô đón ý tôi rất tài.

Lúc đó tôi sung sướng nghĩ rằng mình có được cô vợ toàn tâm toàn ý, bây giờ chính cái toàn tâm toàn ý kia lại hại tôi.

Cô đã thấy được không sai chạy những gì tôi nghĩ trong đầu, dù chỉ vừa thoáng qua là cô đề phòng ngay.

Tối đó độ hơn mười giờ, tôi được dẫn ra xe, vẫn đủ sáu người như trước. Xe chạy loanh quanh trong thành phố một lúc rồi hướng ra Bãi Sau.

Trời đêm đầy mây, lạnh kinh khủng, miền Nam chưa bao giờ lạnh như năm đó, đường vắng tanh, lờ mờ ánh đèn, tiếng sóng vỗ rì rào, buồn bã. Xe chạy đến cuối bãi thì dừng lại. Cô ra lịnh bịt mắt tôi lại.

– Đồng chí đưa tôi khẩu AK. Cứ ở đây chờ, khi nào nghe tiếng súng nổ tôi sẽ ra.

Và cô nói với bà mẹ, giọng lạnh lẽo, hàm răng rít lại.

– Mẹ phải theo con, xem con trả thù kẻ đã giết hại gia đình mình và bao nhiêu đồng chí khác nữa.

Đúng là oan oan tương báo. Tôi đã xử tội tên nằm vùng giết cha tôi ra sao, bây giờ tôi sẽ gặp y như vậy.

Nhưng tôi không nhớ rõ mình đã làm gì để cô thù hận tôi đến độ giờ đây đem ra xử bắn tôi, không lẽ cô là con của tên nằm vùng kia?!

Cô lên đạn, chĩa súng vào lưng tôi, đẩy tôi đi trước. Cô đã phạm một sai lầm chết người. Cô dí súng vào lưng tôi là giúp tôi nắm được quãng cách giữa cô và tôi.

Tầm vóc cô thì tôi còn lạ gì. Chỉ cần tôi quay nhanh lại là mũi súng sẽ chệch ra ngoài và với một đòn chân, tôi có thể đá gãy cổ cô hay ít ra cũng hạ gục cô trong tích tắc.

Trong bóng tối thì bị bịt mắt hay không cũng mù như nhau.

Tôi lần tìm cọng thép trong dây đồng hồ và bắt đầu mở khóa còng tay.

Được một quãng, khi đoán đã xa tầm nghe ngóng của mấy tên bộ đội, tôi vừa định ra đòn thì cô mở băng bịt mắt tôi.

– Anh cõng mẹ được không? Nhanh lên! Nếu có chuyện gì, anh và mẹ cứ chạy thoát đừng lo cho em. ​​Có thuyền chờ sẵn đằng kia.

Cô ôm súng chạy phía trước, tôi cõng bà cụ men theo bờ rừng dương liễu mải miết theo cô. Độ một cây số, chúng tôi đến một thuyền nhỏ có người chờ sẵn. Thuyền được đẩy ra, nổ máy và nửa giờ sau chúng tôi ra thuyền lớn đi thẳng.

Hôm sau chúng tôi được tàu Mỹ vớt về đảo Guam.

PHẠM THÀNH CHÂU

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Vợ Chồng Điệp Viên_Phạm Thành Châu

Đôi Lời Cuối Năm của CNN

Cúng rước Ông Bà xong, mình post lên một lượt 4-5 bài thơ Xuân của các bạn. Bây giờ chuẩn bị đón giao thừa rồi nghỉ Tết, đến sau Tết sẽ gặp lại, hơn nữa ngày 17/2 mình chích ngừa mũi thừ hai, chưa biết nó hành hay không đây.
Nhân dip Xuân về CNN Kính chúc quý Niên Trưởng, Quý đồng môn Học Viện CSQG VNCH và tất cả anh chị K1 và gia đình sang năm Tân Sửu thật khỏe mạnh, hạnh phúc và Vạn Sự Như Ý.
Kính mời nghe ké nhạc Xuân cho vui ba ngày Tết.

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đôi Lời Cuối Năm của CNN

Chúc Mừng Năm Trâu_ LĐ

CHÚC MỪNG NĂM TRÂU

20160917080319-S027

Năm trâu là phải mạnh như trâu
Cày ruộng trong nhà lẫn ruộng sâu
Bất kể vuông tròn hay ruộng xéo
Ruộng nào cũng xứng đấng mày râu .

Lưỡi cày xới đất xới cho sâu
Sâu phải thật sâu , phải thật lâu
Dẫu ruộng nước trào sâu ngập lưỡi
Đất bùn tung tóe phủ đầy đầu .

LĐ

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Mừng Năm Trâu_ LĐ

Thơ LHN: Buông !

Buông !

Lụi hụi loay hoay Tết tới rồi
Vần xoay cần mẫn cái ông trời
Quê hương lối cũ còn biền biệt
Tổ quốc đường xưa mãi vợi vời
Vận nước tới đây đành nín tiếng
Cuộc đời đến lúc phải câm lời
Mấy mươi năm mỏi mòn xa xứ
Cắt rún vùi xương ở khác nơi .

LHN

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ LHN: Buông !

Đời Ta _ Thơ Trần Pháp

ĐƠÌ TA

Tân Sửu xuân nay tám bốn rồi
Mậu dần khối đứa đã xa trời
Chúa  thương mắt thấy còn trong trẻo
Phật độ tai nghe vẫn tuyệt vời
Mỹ quốc cưu mang cho thuốc chủng
Hoa Kỳ cậy ở miễn tiền lời
Trải bao dâu bể may chưa khuất
“Nắm đất bên đường” chuẩn bị nơi

TP

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đời Ta _ Thơ Trần Pháp

Thơ Xuân_ TPK

 MONG SAO

Tân Sửu rồi ra cũng đến rồi
Cầu cho hết thảy được ơn trời
Non sông gấm vóc xinh như mộng
Hoa lá xanh tươi đẹp tuyệt vời
Mừng tết bạn bè năm bảy đứa
Chúc xuân thân hữu một đôi lời
Mong sao trăm họ đầy phúc lộc
Thịnh vượng an lành khắp mọi nơi

TPK

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xuân_ TPK

Chúc Xuân Tân Sửu _ Phiến Nguyễn

 CHÚC XUÂN TÂN SỬU

Buồn vui Canh Tý đã qua rồi
Tân Sửu xôn xao rộ̣n đất trời
Đồng đội đồng môn hoài tưởng nhớ
Bạn bè thân hữu mãi trông vời
Nhìn về dĩ vãng mong đồng cảm
Hướng tới tương lai ước hợp lời
Cầu chúc người người An Phước Lạc
Thanh bình Hạnh Phúc khắp muôn nơi

Phiến Nguyễn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Xuân Tân Sửu _ Phiến Nguyễn

Khai Bút Đầu Xuân – LVT

 Năm mới Lão tôi thân kính chúc quí thi huynh, thi hữu, thân hữu cùng gia đinh :

   Những ngày Tết đoàn viên VUI VẺ,một năm mới SỨC KHỎE,AN KHANG,HẠNH PHÚC.

 Nhân đây kính tặng quí cụ già câu đối Tết để làm quà.

        Đuổi Chuột đi mang theo đại dịch CÔ-VIC toàn cầu tang tóc

        Đón Trâu về cùng với thần dược VAC-XIN  thế giới  bình an.

và đồng cảm,riêng tặng quí niên Lão đồng thuyền vong quốc bài thơ khai bút đầu Xuân

                   KHAI BÚT XUÂN TÂN SỬU

                Tuổi ta Lão cập tám mươi ba
                Minh mẫn còn như,vóc dáng già
                Gác mái – neo thuyền – nương bến vắng
                Chồn chân – khựng bước – ngại đường xa
                Tiếu đàm thế thái chừng thâm thúy
                Giao tiếp thân tình những thiết tha
                Canh cánh bên lòng thương cố lý
                Nỗi niềm vong quốc khó phôi pha

                     Mồng một tháng giêng Tân Sửu

                     (Feb 12.2021)
                     ĐẠT NHÂN

                     Trân trọng,

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Khai Bút Đầu Xuân – LVT

MẸ VÀ NỒI BÁNH CHƯNG TẾT_Lê Khánh Long

 (Nhớ Mẹ và kính tặng các Bà Mẹ miền Nam trong thời khốn khó của đất nước)

(bacaytruc): Khi toàn bộ một màn đen tối chụp lên miền Nam Việt Nam vào thời gian mà từ lúc ấy trở đi không ai có thể quên được dù có cố gắng quên, tất cả người dân đều cảm nhận được sự khó khăn đang chờ đón. Sự khó khăn không phải do từ nay phải cố gắng xây lại đất nước đã kết thúc được cuộc chiến vốn đã quá lâu và tàn bạo. Đất nước nào nếu đã phải trải qua thời chiến tranh đều như thế. Cuộc sống khó khăn. Thắt lưng buộc bụng. Làm việc nhiều hơn. Chịu đựng mạnh mẽ hơn.

Nhưng nếu chỉ có thế thì miền Nam và cả nước có thể vượt qua mà không phải mất mát quá nhiều và cho đến tận ngày hôm nay vẫn mang tiếng một đất nước chưa phát triển. Tài năng và tài nguyên cũng như các sự thuận lợi về thiên nhiên sẽ giúp đất nước phục hồi sự hùng mạnh dễ dàng nếu đất nước được dẫn dắt bằng một chính sách lãnh đạo đúng đắn.

Nhưng không! Chỉ sau một thời gian rất ngắn mọi người dân bắt đầu rơi vào guồng máy tra tấn dã man. Sự đói no được tính bằng ngày và đối với những gia đình lính và công chức của chính quyền cũ thì phải tính bằng từng bữa ăn. Không biết ngày mai, sáng mai hoặc trưa chiều tối mai có được ăn no. Dưới những lệnh học tập chính trị, lệnh ngăn sông cấm chợ, không cho tự do lưu thông hàng hóa và tập trung phân phối lương thực, “đánh” tư sản nhiều đợt và các cuộc đổi tiền, cào bằng cho nghèo như nhau…. Cuộc sống của người dân miền Nam như đang ở trong một trại giam khổng lồ. Mọi người, mọi gia đình cố gắng vùng vẫy, trốn chạy, mưu sinh tìm sự sống như bầy cá không may rơi vào rọ lưới.

Gia đình tôi rất đông anh em với người cha là sĩ quan cấp trung của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), Mẹ tôi chỉ là nội trợ và các chị tôi là công chức. Bố tôi vốn dĩ lại rất thanh liêm dù địa vị ông cũng có nhiều quyền hành có thể giúp ông có nhiều bổng lộc. Sự thanh liêm đó về sau này đã nhiều lần khiến ông ray rứt khi chứng kiến gia đình quá túng quẫn. Vì thế, sự khó khăn trong gia đình tôi rất lớn. Câu chuyện của tôi sẽ loãng ra nếu tôi kể quá nhiều về những khó khăn khi ấy. Tôi chỉ muốn kể về sự lo toan của Mẹ tôi khi năm hết tết đến trong gia đình và tôi nghĩ những bà mẹ khác cũng thế.

Với tình cảnh như thế, nguồn thực phẩm Tết trong gia đình tôi chỉ có thể kéo dài được dăm ngày hoặc một tuần mà vẫn còn chút hương vị Xuân chính là nồi bánh chưng. Năm nào gia đình tôi cũng gói bánh chưng và phải nấu một nồi to để có đủ bánh cúng Tổ tiên; biếu họ hàng và kéo dài các bữa ăn ngày xuân. Bánh chưng hoặc được gói với một khuôn gỗ hoặc chỉ bằng đôi tay trần. Bố tôi là người duy nhất trong nhà biết gói bánh, anh tôi và tôi cũng đã lớn nhưng không biết. Sự khó khăn đó là vì cách Bố tôi gói chỉ là gói tay trần. Tuy thế, chiếc bánh vẫn rất vuông vắn, rất đẹp. Bánh chưng được gói bằng tay với những chiếc lá dong mà mặt trong của lá bọc ra ngoài nom đẹp hơn nhiều so với chiếc bánh được gói trong khuôn. Gói bánh với khuôn, mặt ngoài của lá dong với gân lá cộm lên đưa ra ngoài, tạo góc vuông bén cạnh nhưng khi lá khô thì trở màu vàng úa. Chúng ta thường nói: Bánh chưng xanh – Dưa hấu đỏ. Bánh chưng gói bằng tay trần sẽ có màu xanh từ lá ngoài cho đến mặt bánh bên trong xanh mướt khi bóc.

Với trách nhiệm người lính và sự an ninh trong những ngày cuối năm cho người dân, kinh nghiệm năm Mậu Thân 1968, Bố tôi cố gắng thu xếp để sáng ngày 28 Tết ở nhà hoặc vào sở làm việc một chút rồi tranh thủ về nhà gói bánh. Những ngày trước đó, Mẹ tôi đã đi chợ chọn mua sẵn gạo và đậu xanh. Đêm trước ngày gói, gạo và đậu được nhặt kỹ các hạt đen, sâu, lép, mốc và ngâm nước. Bà cũng giành quyền mua lá dong. Vì bánh gói tay nên bà luôn chọn lá dong loại nhất. Chiếc lá phải to, lành lặn và non. Bà nói lá già thì giòn, khi gói dễ gẫy, rách. Bà cũng dặn hàng thịt quen để mua thịt heo ngon. Việc chọn mua nguyên liệu gói bánh rất quan trọng, quyết định phẩm chất của bánh.

Nhà tôi ở vùng Ông Tạ, Gia Định. Trong nhiều năm, mỗi dịp tết âm lịch đến, từ ngày 23 tháng Chạp, ngày mọi nhà đưa Ông Táo về trời báo cáo Ngọc Hoàng việc trần gian, cho đến sáng 30, đoạn đường Thoại Ngọc Hầu từ chỗ nhà tôi ở hẻm Cổng Bom – Chùa Khuông Việt – ra đến Ngã Ba đường Lê Văn Duyệt, được ngăn lại, không cho xe chạy để họp chợ Tết. Trên đường Lê Văn Duyệt phía ngoài ngã ba, chợ Tết Ông Tạ kéo dài đến quá trường Thánh Tâm phía bên phải hoặc quá nhà thờ Nam Thái phía bên trái. Nơi đây đã trở thành chỗ mua sắm có hương vị đậm đà ngày Tết Việt Nam nổi tiếng của Sàigòn.

Sáng sớm ngày gói bánh, chị Cả tôi là người quán xuyến việc đãi đậu xanh, đãi gạo và rửa lá. Chị rất tỉ mỉ, cẩn thận. Đậu xanh được đãi thật sạch để không còn một tí tẹo gì của vỏ, mày hoặc hạt đậu lép. Khi vớt lên khỏi mặt nước, hạt đậu xanh nở to đầy và màu vàng tươi trước khi đưa vào chõ hấp chín. Khi đậu chín, được đưa vào cối để giã nát, sau đó được nắm chặt lại thành từng viên to. Khi nguội, từng viên đậu lại được thái mỏng và vò tơi ra.

Lá dong cũng phải được rửa thật sạch. Chị tôi đặt lá lên chiếc mâm và lấy khăn dấp sũng nước để lau. Lau đi lau lại nhiều lần và tráng nước cho thật sạch. Lá được rửa thật sạch như thế sẽ giúp bánh không bị mốc và để được nhiều ngày.

Thịt heo dùng để gói bánh thì mẹ tôi hay dùng thịt nách. Bà bảo, thịt nách không nạc quá, da không quá dầy, mỡ lại dễ tan chảy và ngấm vào gạo khiến bánh dẻo và ngon hơn. Mẹ tôi thái thịt miếng nào miếng nấy to bằng lòng bàn tay, dầy đến 3 phân. Một chiếc bánh to nặng đến một ký rưỡi sau khi nấu cũng chỉ đặt 2 miếng. Thịt được ướp với một chút nước mắm ngon, hành tím băm nhỏ và nhiều tiêu.

Khi chuẩn bị cho Bố gói bánh, anh em chúng tôi dọn quang một chỗ trong nhà, trải chiếu và bày lên một chiếc mâm ngay giữa chiếu. Lá dong sau khi được rửa sạch, chặt cuống và tề một chút ở ngọn lá, xếp lớp trên một cái mẹt to cho ráo nước, được đặt một bên chỗ Bố tôi ngồi. Bó lạt chẻ từng sợi mỏng từ ống giang được ngâm nước cho mềm nằm kế bên. Gói bánh bằng tay trần thì sống lá dong luôn được tước mỏng bớt để khi gói việc xếp và gấp lá dễ dàng hơn.

Đậu xanh sau khi được thái tơi để trong một khay to đặt một bên. Rá gạo trắng ngần được mẹ tôi cho vào một ít muối rồi xóc đều lên đặt phía trước mặt cùng với nồi thịt. Em gái tôi không quên pha cho Bố tôi ấm trà nóng.

Ngày gói bánh chưng tết là ngày thú vị nhất trong năm của gia đình chúng tôi. Mỗi người một việc, lớn hay bé đều có việc cả và chúng tôi rất thích thú với công việc chung của gia đình. Mẹ tôi luôn quan tâm đến từng chút trong thời gian gói bánh. Bà nếm gạo sau khi xóc muối xem có nhạt hay mặn quá không.

Phải luôn luôn có hai rá gạo để khi gói gạo không quá ướt. Khi Bố tôi dùng đến rá thứ nhì thì Bà bảo chị tôi vớt ngay rá gạo khác và để sẵn đấy. Bà không cho thái đậu quá dầy, phải mỏng và bóp tơi ra. Bố tôi bắt tay vào việc gói bánh. Cả gia đình quan sát bàn tay của ông. Hai sợi lạt đặt trước hết, chiếc ngang chiếc dọc như chữ thập; hai chiếc lá dong đặt lên nằm ngang ngược chiều nhau, mặt trong của lá úp xuống, một cạnh của chiếc lá dưới được xếp lại để khi hoàn thành trở thành mặt ngoài của bánh trông đẹp hơn – khi gói chiếc bánh xong, nếu cạnh lá xếp nằm ngay giữa và vuông góc với 2 cạnh cũng như song song với 2 cạnh còn lại đồng thời chiếc lạt nằm chồng lên nếp lá xếp thì chiếc bánh trông cân đối -, chiếc lá trên đặt gác lên một phần của chiếc lá dưới; hai chiếc lá khác được tiếp tục đặt dọc và chồng lên nhau sao cho đủ chiều dài khi ta nắm hai đầu cuống lại với nhau để gói phần gạo, đậu thịt đã đặt lên, hai chiếc lá này lại đặt ngửa mặt trong của lá lên để khi nấu màu xanh của lá sẽ thấm dính vào gạo giúp mặt bánh có màu xanh.

Bố tôi đổ một bát gạo đầy mà Mẹ tôi múc sẵn lên mặt lá, ông lấy ngón tay san bằng lớp gạo còn dầy khoảng hơn 1cm rồi đổ lưng bát đậu xanh. Mẹ tôi đã chuẩn bị và gắp đặt lên mặt lớp đậu xanh cũng đã được san bằng bằng hai miếng thịt, phần da đưa ra ngoài, phần thịt đưa vào trong. Bà thái và lựa các miếng thịt khi gói rất khéo sao cho mọi chiếc bánh đều có nhân tương tự nhau. Bố tôi lại đổ lên một lớp đậu xanh rồi lại một chén gạo đầy. Thế là các miếng thịt đã nằm giữa lớp đậu và được bao phủ bởi lớp gạo.

Bố tôi khéo léo nắm hai đầu cuống của hai chiếc lá dọc xếp chồng lên nhau để che phủ lớp gạo. Một tay giữ hai chiếc lá ấy, một tay ông luồn xuống dưới hai lá to bên ngoài lật úp vào. Giữ yên khi ép lá xuống ông lại lấy tay kia luồn hai đầu lá bên kia và ép đè xuống. Gạo đậu đã nằm gọn trong bốn cạnh lá ép vào. Ông vừa giữ các chiếc lá vừa xoay chiếc bánh 90 độ để xếp hai cạnh lá còn lại. Trong lúc xếp các lớp lá, gạo đậu bên trong luôn được giữ không quá chặt cũng không quá lỏng cũng như cố gắng định hình vuông vức. Hai bàn tay người gói luôn cảm nhận được sự vuông vức của các góc cũng như sự cân bằng của lớp gạo đậu thịt bên trong mà điều chỉnh.

Khi xếp hai cạnh lá cuối cùng, Bố tôi kéo hai đầu của một chiếc lạt, so cho cân bằng, vuốt ngón tay theo sợi lạt và bấm chặt trên mặt lá, các ngón tay còn lại nắm chặt thân lạt và xoắn lại sau đó cài vào thân sợi lạt đã buộc chặt bánh. Lại xoay chiếc bánh và thắt nốt chiếc lạt còn lại. Thế là gói xong chiếc bánh chưng. Ông lật chiếc bánh lại, vừa xoay vừa dùng lòng bàn tay ấn đều toàn chiếc bánh để gạo đậu bên trong san đều ra. Bánh chưng gói bằng tay trần không có nhiều lớp lá và chỉ buộc bằng hai sợi lạt nhưng vẫn chắc chắn, nên đòi hỏi người gói phải thật khéo léo sử dụng đôi bàn tay sao cho vừa gói, vừa giữ bánh, rồi xoay, rồi buộc mà lá không bị bung sút ra làm gạo đậu bị lẫn lộn.

Cứ thế đến trưa, Bố tôi đã gói khoảng 40 chiếc bánh. Đôi khi còn sót lại một ít gạo đậu mà không thể gói thành một chiếc, Bố tôi gói cho các em tôi vài cái bánh tày trông giống như chiếc bánh ú to. Các em tôi rất thích và đưa các chị tôi luộc ngay. Bánh này luộc không lâu như những chiếc bánh chưng to kia. Chỉ vài tiếng đồng hồ là chúng có bánh ăn rồi. Bố tôi ăn cơm, nằm nghỉ một lúc rồi dậy đi làm. Khi đó đến phiên anh em tôi chuẩn bị bếp và nồi nấu bánh.

Bếp là ba hoặc bốn viên gạch thẻ xếp chồng lên nhau làm ba góc, đủ cao để đút các thanh củi to. Sau khi kê nồi bánh to đùng lên bếp cho ngay ngắn, cân bằng, các cuống lá dong chặt bỏ ban sáng được cho vào đáy nồi làm lớp lót để đỡ cho những chiếc bánh xếp phía dưới không bị hư lớp lá, các chiếc bánh chưng sau khi được đặt úp vào nhau và buộc thành từng đôi được đặt ngay ngắn vào thùng. Có năm nhà tôi phải dùng đến 2 thùng mới nấu hết số bánh gói được. Sau đó đổ nước vào ngập mặt bánh. Lửa bếp được đốt lên.

Bắt đầu từ lúc nước sôi bánh sẽ được nấu liên tục khoảng 12 tiếng đồng hồ. Anh tôi là người phụ trách việc đun bánh. Kỹ thuật đun bánh quan trọng nhất là giữ lửa trong bếp cháy đều, lửa không qúa to và cũng không được để lụi tàn đồng thời phải theo dõi mực nước trong nồi để châm thêm. Nước trong nồi phải luôn luôn ngập mặt bánh. Đêm nấu bánh chưng luôn là khoảng thời gian đầy thi vị Tết. Chúng tôi trải chiếu cạnh bếp rồi ngồi quây quần, vừa trông bếp vừa trò chuyện, ăn mứt, cắn hạt dưa hoặc đánh bài tam cúc hoặc đổ cá ngựa. Bạn bè của chúng tôi thường ghé lại và cùng thưởng thức thời khắc giao mùa.

Gia đình tôi thường bắt đầu nấu bánh vào khoảng 3 hay 4 giờ chiều và đến khoảng giờ ấy sáng hôm sau thì vớt. Chúng tôi chuẩn bị mặt bếp tráng men của nhà để nén bánh sau khi nấu. Bánh sau khi được vớt ra được nhúng vào rửa trong một chậu nước lạnh to. Sau đó xếp lớp cũng từng đôi trên mặt bếp. Chúng tôi lấy một miếng ván to đặt lên che toàn bộ các chiếc bánh và dùng các vật nặng đặt lên để nén. Việc làm này nhằm giúp bánh dẽ chắc.

Sau nhiều năm quan sát, Tết năm 1975 tôi được Bố hướng dẫn và tự tay mình gói được chiếc bánh chưng. Không ngờ việc đó giúp gia đình tôi vẫn còn có thể có được những chiếc bánh chưng ăn vào ngày Tết. Khi miền Nam lọt vào tay cộng sản, Bố tôi và tất cả các sĩ quan quân đội chính quyền VNCH bị cộng sản bắt tù đày. Tôi trở thành người duy nhất trong gia đình biết gói bánh chưng. Cứ thế trong nhiều năm sau đó khi Bố tôi vẫn còn bị tù đày, Mẹ tôi vẫn cố gắng nấu cho được nồi bánh chưng cho con cái ăn trong những ngày đầu năm mới.

Gia đình tôi ngày càng lâm vào tình cảnh khó khăn. Bố tôi phải đi tù thì chỉ vào tháng sau đến lượt anh tôi cũng vào tù vì tham gia hoạt động chính trị. Phần lo bữa cơm cho đàn con đông, phần lo dành dụm để đi thăm nuôi người thân bị tù. Mẹ tôi không biết buôn bán, một chút tài sản tiền bạc có được phải bán đi dần để sống và những cuộc đổi tiền khiến gia đình tôi kiệt quệ. Cái đói lãng vãng quanh nhà. Nồi bánh chưng muốn có cũng phải được chuẩn bị thật lâu.

Vài tháng trước khi hết năm Mẹ tôi đã chuẩn bị cho nồi bánh chưng truyền thống. Mẹ tôi và các chị chuẩn bị từng hạt đậu xanh, từng hạt gạo. Về thịt thì bà bảo chúng tôi quây một góc sân làm cái chuồng nhỏ. Bà mua một con heo con, giống heo mọi. Giống heo này khi lớn cũng chỉ nặng vào khoảng 30 đến 40 kg, ít mỡ, dễ nuôi, ít bệnh. Hàng ngày bà mua rau muống loại người ta cắt bán dành cho việc nuôi heo, bà mua thêm cám và kiếm các thức ăn thừa khác để làm thức ăn cho nó.

Cứ thế, năm tháng gần hết thì con heo cũng lớn dần. Mẹ tôi cứ đi ra chuồng vỗ về con heo mọi. Bà thương nó vì nó là tặng vật quý báu của mùa xuân cho gia đình tôi. Gần nhà tôi có một lò sát sinh, Mẹ tôi nhờ một anh hàng xóm làm việc trong đấy vào sáng sớm ngày 28 tháng chạp sang bắt con heo mọi để làm thịt dùm.

Hôm ấy, Mẹ tôi dậy rất sớm. Tôi không biết Bà thì thầm gì với con heo nhưng tôi biết chắc chắn với tấm lòng vô cùng nhân hậu, Bà sẽ cám ơn nó về sự hy sinh cho gia đình tôi. Bà sẽ cầu nguyện cho nó đã xong một kiếp loài vật trên đời. Nó sẽ đầu thai làm loài khác sung sướng hơn. Chỉ sau 30 phút, anh đã đưa lại cho Mẹ tôi một rổ thịt to đã được làm sạch sẽ. Nhờ nuôi con heo mọi, gia đình tôi không những có được thịt để gói bánh mà còn có thể làm nhiều thức ăn khác: đầu và tai thì làm giò thủ, chân giò thì nấu canh, bộ lòng thì giúp chúng tôi có được một nồi cháo huyết ngon lành.

Tết đầu tiên tôi ngồi vào chỗ Bố tôi vẫn thường ngồi gói bánh. Việc chuẩn bị vẫn được Mẹ tôi, các chị và anh em chúng tôi làm như mọi năm. Hạt gạo vẫn trắng ngần, hạt đậu vẫn vàng tươi mát mắt, Mẹ tôi vẫn chọn những chiếc lá dong loại hạng nhất. Nhất là khi người gói, là tôi, là một tay mơ. Mẹ tôi ngồi trước mặt tôi nhắc và giúp tôi từng chút một. Tôi cố gắng gói được từng chiếc bánh nhưng đến khâu xoắn những chiếc lạt buộc thì tôi không cách nào làm tốt được. Thế là Mẹ tôi lại xoắn giúp tôi sợi lạt. Bà buộc rất dễ dàng. Mỗi lần như thế tôi lại mỉm cười và đẩy chiếc bánh về phía Mẹ, giữ chiếc bánh cho bà so sợi lạt và xoắn tít rồi cài chặt lại.

Nhiều tháng trời Mẹ tôi tích lũy dần dần cho nồi bánh chưng ngày Tết. Tôi nhìn thấy trong những chiếc bánh của quãng thời gian khốn khó đó có bóng dáng của Bố tôi còm cõi trong trại tù, những ngày cuối năm giữa núi rừng mờ sương đau đáu lo lắng nhìn về chốn vợ con ở xa xôi; có bóng dáng của Mẹ tôi chăm chút, tảo tần lo cho con và chú heo mọi; có giọt mồ hôi của chị tôi bỏ dạy bươn chải chạy chợ mua từng lạng gạo, lạng đậu; có giọt mồ hôi của anh em tôi cặm cụi làm việc để có tiền đưa cho Mẹ. Buổi sáng khi chúng tôi bóc thưởng thức những chiếc bánh đầu tiên còn âm ấm nóng, mời Mẹ ăn chúng tôi thấy những giọt nước mắt lăn trên gò má gầy của Mẹ.

Lê Khánh Long

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở MẸ VÀ NỒI BÁNH CHƯNG TẾT_Lê Khánh Long

Mấy lời tâm sự của NT Trần Minh Công, Cựu Viện Trưởng Học Viện CSQG

Mấy lời tâm sự xin được gửi tới :

Quý vị cựu Giảng Sư , Sĩ Quan Cán Bộ, Các bạn Cựu SVSQ Học Viện CSQG-VNCH.

Thưa Quý Vị và Các Bạn :

Trong vài ngày nay tôi nhận được điện thoại và emails của một số Cựu SVSQ Học Viện CSQG yêu cầu tôi lên tiếng về việc đang có tranh luận giữa bạn Nguyễn Văn Diệp (K3) và một số đồng môn khác, liên quan đến việc Website “HọcVienCSQG” của bạn Nguyễn Văn Diệp đăng bài của một tác giả nào đó bênh vực cựu TT. Trump mà một số bạn khác cho rằng không nên đăng những bài có tính cách chính trị phe phái trên Website có danh xưng chung là Học Viện CSQG.

Tôi được biết tại hải ngoại này hiện có 2 Websites cùng có tên là Học Viện CSQG, một của bạn Nguyễn Văn Diệp (K3) trên vùng Seattle, tiểu bang Washington  và một của bạn Dư Quang Nê (k6) tại vùng San Jose, California.

Chúng ta là những người từng có liên hệ đến HV-CSQG : trong cương vị hoặc là Giảng Sư, hoặc là những SQ và Nhân viên từng phục vụ tại Học Viện, hoặc là những cựu SVSQ đã tốt nhiệp từ Học Viện. Mối liên hệ đó đã gắn bó chúng ta trong nhiều thập niên qua, nhất là từ sau ngày mất nước 1975. Ai trong chúng ta cũng thương nhớ về Học Viện. Tôi nghĩ rằng các bạn cựu SVSQ cũng hãnh diện vì mình đã là những SQ văn võ song tốt nghiệp từ Học Viện này, nơi được coi là một trong những Trường Sĩ Quan Cảnh Sát tân tiến nhất Đông Nam Á.

Chính sự hãnh diện và cảm tình đặc biệt mà chúng ta dành cho Học Viện buộc chúng ta phải luôn cùng nhau bảo vệ Danh Dự của ngôi trường thân yêu này. Từ những suy nghĩ đó tôi xin mạn phép đề nghị vài điều sau đây mong tât cả các bạn cựu SVSQ cứu xét :

1). Xin ngưng việc phê phán đang xẩy ra giữa một số bạn với bạn Diệp (K3) liên quan tới phương thức điều hành Website HocVienCSQG của Hôi Cựu SVSQ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ mà bạn Diệp là Moderator để chúng ta có dịp cùng trao đổi ý kiến, tránh lập lại một số sự việc đáng tiếc đã xẩy ra. Việc phê bình qua lại chỉ làm cho người ngoài nhìn thấy sự bất đồng và chia rẽ giữa chúng ta.

2). Hiện thời tôi thấy có 2 Websites cùng mang danh Học Viện, một là HVCSQG (của bạn Diệp K3) và một là HVCSQG_VNCH (của bạn Nê K6). Tôi nghe nói có một số “Hội Cựu SVSQ Học Viện CSQG” tại nhiều nơi trên thế giới. Tôi ước mong chúng thống nhất lại để chỉ có một Website chung do một “Liên Hội” Cựu SVSQ Học Viện CSQG điều hành, trong đó chúng ta chia sẻ những kỷ niệm, những vấn đề của quê hương VN, những vấn đề văn hóa xã hội, những thao thức và đề nghị cho tương lai VN, những hướng dẫn cho thế hệ con cháu  v..v.. Trên Websites mang danh Học Viện chúng ta sẽ khôn ngoan tránh đề cập đến những vấn đề nhạy cảm như tôn giáo và chính tri địa phương dễ gây tranh cãi làm mất hòa khí giữa những người con yêu cùng một Mẹ Học Viện. Về điều này tôi kêu gọi các bạn Quản Lý (Moderators) 2 Websites trên hy sinh những công lao đã có trước đây khi tạo lập ra các Websites này để cùng nhau hợp tác điều hành một Website mới chung cho tất cả các Cựu SVSQ Học Viện CSQG . Hy sinh công lao của mình là một điều khó nhưng nếu chúng ta cùng yêu thương Học Viện và cùng muốn bảo vệ Danh dự chung của Học Viện chúng ta có thể hy sinh và làm được. Cá nhân tôi và quý vị Giảng Sư từng cống hiến tâm sức cho Học Viện cũng như đa số các anh em cựu SVSQ chắc sẽ rất cám ơn và hoan nghênh sự hy sinh hợp tác của các bạn chủ trương 2 Websites trên.

3). Nếu vạn bất đắ dĩ chúng ta không thực hiện được ước mơ trên, thì xin 2 bạn Diệp (K3) và Nê (K6) sửa lại danh xưng Website của mình cho minh bạch rõ ràng thành: Website HocVien CSQG của Hội Cựu SVSQ Tây Bắc Hoa Kỳ (bạn Diệp K3) và Website của Hội Cựu SVSQ Miền Tây Hoa Kỳ (Bạn Nê K6). Như vậy các bạn nào thích liên hệ với Website nào thì tự ý tham gia vào Website đó.

Tuy nhiên vì cả 2 websites đều dùng danh xưng  Học Viện CSQG nên tất cả chúng ta đều có bổn phận phải bảo vệ Danh Dự Học Viện : Chỉ đăng những bài chọn lọc mà tôi đã đề nghị ở mục 2) , tránh đả phá cá nhân và không đụng chạm tới vấn đề Tôn giáo và Chính tri phe phái địa phương. Xin nhớ là danh xưng Học Viện hàm ý một tập thể gồm các Giảng Sư, SQ từng phục vụ tại Học Viện và tất cả các SQ đã từng thụ huấn hay tốt nghiệp từ Học Viện này. Đó là một tập thể nên danh xưng này không nên và không thể coi là của bất cứ một cá nhân nào.  Thiết nghĩ chúng ta cần cẩn trọng khi xử dụng danh xưng “Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia” một cách tổng quát.

Vì vậy tôi rất mong các bạn Cựu SVSQ cứu xét đề nghị của tôi trong mục 2) của thư này. Chúng ta cùng yêu mến Học Viện và cùng có trách nhiệm bảo vệ DANH DỰ của Trường Mẹ.

Xin chia sẻ với các bạn chút suy nghĩ của tôi. Chúng ta cùng quyết tâm bảo vệ Danh Dự Học Viện và duy trì tình đồng môn.

Thân kính chúc Quý Vị Giảng Sư, SQ Cán Bộ và các bạn Cựu SVSQ Học Viện Một Năm Mới Tân Sửu An Khang, Thịnh Vượng và Bình An trong mùa đại dịch này.

Thân kính,

Trần Minh Công.   California,  Feb-7-2021

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mấy lời tâm sự của NT Trần Minh Công, Cựu Viện Trưởng Học Viện CSQG

Nơi duy nhất trên Trái đất Covid-19 chưa “bén mảng” đến

tram-Rothera-696x392(HNPĐ): Nam Cực là lục địa duy nhất trên thế giới chưa có ca nhiễm nCoV vì áp dụng những quy định nghiêm ngặt đảm bảo không có nguy cơ lây nhiễm.

Đến nay, trong khi các châu lục khác đang phải chống chọi với đại dịch Covid-19 thì có một lục địa vẫn chưa ghi nhận ca nhiễm bệnh nào. Đó là Nam Cực lạnh giá cằn cỗi, nơi mà cái lạnh và bóng tối của mùa đông đang đến rất nhanh.

Nhiều người nói rằng Nam Cực từ chỗ là nơi “nguy hiểm” bậc nhất với mức nhiệt có thể giảm xuống gần -90 độ C và vận tốc gió lên tới 322 km/giờ, nay đã trở thành nơi “an toàn” nhất trước dịch Covid-19 tính đến thời điểm này. Trong vài tháng qua, khoảng 4.000 người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau đã theo dõi diễn biến dịch Covid-19 từ Nam Cực.

Nhà khoa học người Anh Michael Brian, người đứng đầu trạm nghiên cứu Rothera của Anh ở Nam Cực, cho biết trạm đã áp dụng những quy định nghiêm ngặt để bảo vệ 140 thành viên trong đoàn. Các nhà nghiên cứu có nguy cơ lây nhiễm cao nếu nCoV xuất hiện ở Nam Cực bởi họ dùng chung phòng ăn và sống gần nhau ở trạm, nơi nhiệt độ bên ngoài có thể giảm tới âm 20 độ C.

“Chúng tôi được bảo vệ tốt ở đây và áp dụng nhiều quy trình chặt chẽ để chăm lo sức khỏe. Nếu dịch Covid-19 tiếp tục leo thang và ảnh hưởng tới nguồn cung cấp nhiên liệu và thức ăn cho Nam Cực, trạm đã lập kế hoạch để “vượt bão’”‘, Brian chia sẻ.

Chia sẻ chi tiết về các biện pháp, Trạm khảo sát Nam Cực của Anh (BAS) cho biết nhân viên trở về trạm sau các chuyến bay tới vùng dịch sẽ được xét nghiệm. Những nhân viên có triệu chứng sẽ bị cách ly để hạn chế lây lan.

“Nếu một thành viên trong đoàn chuẩn bị về Nam Cực là đối tượng nghi nhiễm F1 hoặc F2, họ sẽ bị cách ly hai tuần trước khi lên tàu đi tới lục địa. Tàu mất 4 tuần để tới trạm Rothera. Khoảng thời gian này đủ cho bất cứ người nào ấp virus”, Steven Marshall, giám đốc quản lý rủi ro của BAS, cho biết.

Cầu nối giữa trạm nghiên cứu và thế giới là máy bay trực thăng a BAS Dash 7 bay tới đây quanh năm từ thủ đô Stanley trên quần đảo Falkland hoặc thành phố Punta Arenas ở Chile. Một tàu chở nhu yếu phẩm, nhiên liệu và thiết bị khoa học ghé qua trạm hai lần trong các tháng mùa hè từ tháng 12 tới tháng 3.

Ngoài ra, trên lục địa cũng có những chuyến bay nội bộ giữa các trạm nghiên cứu do những nước khác điều hành bao gồm Italy, Argentina, Ukraine, Đức, Nga và Ấn Độ. Vào mùa đông từ tháng 6 tới tháng 12, phần lớn chuyến bay tạm dừng. Sau khi dịch Covid-19 bùng phát, Trung Quốc là nước duy nhất rút nhân viên khỏi trạm nghiên cứu. Riêng Anh có 5 trạm nghiên cứu ở Nam Cực bao gồm trạm Rothera, Halley, Signy, cơ sở hậu cần Fossil Bluff và Sky Blu.

Nam Cực là nơi đặt các cơ sở nghiên cứu của 28 quốc gia trên thế giới. Đa số nhân viên đều ở lại đây từ một đến hai mùa để tiến hành hoặc hỗ trợ nghiên cứu khoa học.Dân số của lục địa này cao nhất vào mùa hè, từ tháng 10 đến tháng 2. Đến mùa đông, Nam Cực rơi vào bóng tối và nhiệt độ giảm mạnh, khiến nhiều trạm nghiên cứu đóng cửa. Trong thời gian này, ở nguyên trong trạm (dù có dịch bệnh hay không) là một việc được nhiều người thực hiện do điều kiện thời tiết quá khắc nghiệt.

Theo Khoa học

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Nơi duy nhất trên Trái đất Covid-19 chưa “bén mảng” đến

Chúc Xuân Tân Sửu- LTT

Chuc xuan LTT 2

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúc Xuân Tân Sửu- LTT