Bàn về câu đối “DA TRẮNG VỖ BÌ BẠCH”

  BÀN VỀ CÂU ĐỐI “DA TRẮNG VỖ BÌ BẠCH”

     Bs Phan Thượng Hải biên soạn

bahuyenthanhquan

I. Câu đối nầy có sự tích từ năm 1930.

Năm 1930, ông Trúc Khê xuất bản ở Hà Nội quyển “Sự Tích Ông Trạng Quỳnh”, trong đó có những giai thoại văn chương lý thú giữa bà Đoàn Thị Điểm và ông Cống Quỳnh.

Theo ông Trúc Khê, có ông Nguyễn Quỳnh đậu Cử nhân (Hương cống) khoa Cảnh Hưng, đời vua Lê Hiển Tông.  Vì ông có văn chương hay và nhất là giỏi về khẩu tài nên người ta còn gọi ông là Trạng Quỳnh, thay vì là Cống Quỳnh (cho người đổ Hương Cống).

Đây là những giai thoại giữa bà Đoàn Thị Điểm và ông Cống Quỳnh (nguyên văn từ sách của ông Trúc Khê).

Một buổi tối, Thị Điểm rủ màn trải chiếu sắp đi ngủ, Quỳnh liền trước vào nằm giương cột buồm lên.  Thị Điểm lên giường vô tình sờ phải, giật mình ngỡ rắn, sau mới biết là Quỳnh, bèn đọc ngay một câu đối để chữa thẹn:

 Trướng nội vô phong phàm tự lập.  (nghĩa là: Trong trướng không có gió mà buồm dựng)

Quỳnh liền đối ngay rằng:

 Hung trung bất vũ thủy trường lưu.  (nghĩa là: Trong bụng không mưa mà nước chảy xiết)

Điểm lại đọc câu nữa:

 Cây xương giồng (rồng), giồng đất rắn, long vẫn hoàn long.(Long là rồng).

Quỳnh lại đối ngay:

 Quả dưa chuột, chuột thẳng gang, thử chơi thì thử.  (Thử là chuột).

Sau đó Quỳnh bỏ đi.

Hôm sau Thị Điểm tắm, Quỳnh gõ cửa đòi vào xem, Điểm dẫy nẫy không cho vào, Quỳnh cứ đứng kè nhè mãi.  Điểm tức mình mới đọc một câu bảo hễ đối được thì mở cửa cho vào xem:

            Da trắng vỗ bì bạch    (Bì bạch là da trắng)

Quỳnh nghĩ mãi không sao đối được.

II. Tại sao ông Cống Quỳnh không đối được?

Trước hết ta phải hiểu căn bản của phép Đối.  Trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, ông Dương Quảng Hàm viết:

Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho Ý và Chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.

– Đối Ý là tìm hai ý nghĩa cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.
– Đối Chữ thì vừa phải Đối Thanh vừa phải Đối Loại.

– Đối Thanh tức là Bằng đối với Trắc và Trắc đối với Bằng.
– Đối Loại là phải đặt một hay hai chữ cùng tự loại để đối nhau (như cùng Danh từ, Động từ, Tỉnh từ, Giới từ…).

 Thí dụ:

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà

 Đối Thanh:

Lom (B) khom (B) dưới (T) núi (T) tiều (B) vài (B) chú (T)
Lác (T) đác (T) bên (B) sông (B) rợ (T) mấy (T) nhà (B)

 Đối Loại Từ:

 “Lom khom” (tỉnh từ) đối với “Lác đác” (tỉnh từ).
“Dưới” (liên từ) đối với “Bên” (liên từ).
“Núi” (danh từ) đối với “Sông” (danh từ).
“Tiều” (danh từ) đối với “Rợ” (danh từ).
“Vài” (danh từ) đối với “Mấy” (danh từ).
“Chú” (danh từ) đối với “Nhà” (danh từ).

Câu “Da trắng vỗ bì bạch” là một câu văn xuôi gồm có chủ từ (là “da trắng”), động từ (là “vỗ”) và túc từ (là “bì bạch”).  Nhưng “bì bạch” (túc từ trong câu, gồm 1 danh từ là “bì” và 1 tĩnh từ là “trắng”) cũng là Hán ngữ có nghĩa là “da trắng” (chủ từ trong câu, gồm 1 danh từ là “da” và 1 tĩnh từ là “trắng”).   Thật ra Hán ngữ “bì bạch” (= da trắng) trật văn phạm Hán ngữ.

Do đó câu đối của Đoàn Thị Điểm, ngoài việc phải đúng theo phép Đối căn bản như của VNVHSY thì phải có những điểm đặc biệt kể trên.

Câu “Da trấng vỗ bì bạch”  còn có nghĩa là “Da trắng vỗ da trắng”.
Ông Cống Quỳnh không đối được vì câu đối phải còn có đặc điểm như vậy.

III. Tuy nhiên có người đối được.

Tui biết được câu đối nầy vào năm 1963 khi học lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ) ở trường Trung học Phan Thanh Giản ở Cần Thơ từ thầy Cảnh, dạy Việt Văn.  Tui về nhà khoe với Ba Má tui là câu không ai đối được.  Ba tui nói là có câu đối được câu nầy.  Ông liền đọc câu đối:

       “Vợ buồn than thê thảm”   (Thê thảm là vợ buồn)

Câu nầy đối đúng hoàn toàn theo phép đối căn bản của VNVHSY của Dương Quảng Hàm và nó cũng có tất cả những đặc điểm như câu “Da trắng vỗ bì bạch” của Đoàn Thị Điểm.

Câu “Vợ buồn than thê thảm” là câu văn xuôi gồm có chủ từ (là “vợ buồn”), động từ (là “than”) và túc từ (là “thê thảm”).  Nhưng “thê thảm” (túc từ trong câu, gồm 1 danh từ là “thê” và 1 tĩnh từ là “thảm”) cũng là Hán ngữ có nghĩa là “vợ buồn” (chủ từ trong câu, gồm 1 danh từ là “vợ” và 1 tĩnh từ là “buồn”).  Và Hán ngữ “thê thảm” (= vợ buồn) cũng trật văn phạm của Hán ngữ như “bì bạch” (= da trắng).

Câu “Vợ buồn than thê thảm” còn có nghĩa là “Vợ buồn than vợ buồn”.

Như vậy có người đối được.

Kết luận:

        Da trắng vỗ bì bạch
Đối:
      Vợ buồn than thê thảm

Câu “Vợ buồn than thê thảm” nầy thì tui nghe từ ba tui, thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ ở Cần Thơ.  Khi lớn lên tui có đọc nhiều sách trước đó (trước 1963) nhưng không thấy ai viết về câu nầy.  Ba tui không có nói xuất xứ của câu nầy từ đâu ra (vì tui không có hỏi) và ông qua đời vào năm 1966.  Do đó ngày nay, tui chủ quan cho rằng ba tui là tác giả câu nầy vậy!

Tui đã có viết về câu nầy (nhưng không nói tác giả là ai) 1, 2 năm về trước trong bài “Đoàn Thị Điểm và Chinh Phụ Ngâm” và bài nầy có đăng trong phanthuonghai. com mục Văn Hóa phần Đọc Thơ.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

Bài này đã được đăng trong Tin Tuc Nội Bộ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s