NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?_Phương Trúc

NGÔ ĐÌNH DIỆM CÓ NÊN GIẾT BA CỤT ?

Phương Trúc – NHA

Bài nầy không nhằm mục đích phê bình hoặc chỉ trích chế độ dưới thời Tổng Thống NGô Đình Diệm có độc tài hay không? Kỳ thị tôn giáo hay không? Hoặc gia đình trị hay không? Tất cả những việc nầy để lịch sử minh định và phán xét. Riêng tôi viết bài nầy, nhằm mục đích tìm hiểu về cái lợi và cái hại. Khi Tổng Thống Ngô đình Diệm cùng những người cố vấn của ông quyết tâm kết liểu cuộc đời làm tướng của Lê Quang Vinh, tự Ba Cụt và một số nhân vật chánh trị và nhân sĩ quốc gia nặng lòng yêu nước. Triệt để chống thực dân Pháp và Cộng sản.
I. VÁI NÉT VỀ TIỂU SỬ TƯỚNG BA CỤT.

Inline image
Ba Cụt tên thật là Lê Quang Vinh, sinh năm 1923, tại rạch Bằng Tăng, xã Thới Long, quận Ô Môn, Cấn Thơ. Trong một gia đình nông dân, có 7 anh chị em, gồm có 2 gái và 5 trai. Trong số 5 anh em trai nầy có hai ngươòi đã hy sinh vì Tổ Quốc trước khi Ba Cụt bị chết dưới chế độ Ngô Đình Diệm.. Đó là các ông Lê Quang Tư tự Tư Đèo chết trong trận chiến với Việt Minh Cộng sản tại Cái Nứa,  tỉnh Long Xuyên vào tháng 5 năm 1952. Người em thứ 5 Lê Quang Hiếu tự Năm Giò chết trong trận phục kích tàu Pháp tại Sóc Chét, rạch Ông Chưởng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Nay là Tỉnh An Giang vào ngày 16 tháng 2 năm 1948, lúc còn rất trẻ. Sở dĩ Lê Quang Vinh có biệt danh là Ba Cụt do người đời ban tặng cho. Tại vì trong gia đình của Ba Cụt, Ba Cụt là thứ ba. Trong thời gian ban đầu, Ba Cụt tụ họp được một số anh em trong làng. Ba Cụt là người lảnh đạo trong nhóm đó. Thề trước anh em sẽ chống Pháp và Cộng sản cho đến cùng khi nào giành được độc lập cho nước nhà mới thôi. Ba Cụt tự nguyện cầm dao chặt đứt ngón tay út của mình để cắt máu ăn thề trước mặt anh em, như chuyện Đào Viên kết nghĩa.
Cha là Lê Văn Long, mẹ là bà Huỳnh thị Trân có 7 người con Ba Cụt là người con thứ ba trong gia đình. Ba Cụt kết hôn với bà Trần thị Hoa, tự Phấn sanh được 6 người con. Ngoài ra Ba Cụt còn có một người vợ nữa là bà Cao thị Nguyệt trong một gia đình danh giá. Sau khi Ba Cụt bị bắt chính thân phụ của bà Cao Thị Nguyệt bỏ tiền ra để mướn luật sư bào chữa cho Ba Cụt. Còn bà Trần Thị Hoa tự Phấn vợ lớn của Ba Cụt lúc đó đang sinh sống tại Nam Vanh (Phnom Penh) thủ đô của Cambodia cùng một số con. Bà chỉ được biết Ba Cụt bị bắt ở Việt Nam qua báo chí mà thôi. Sau ngày đảo chánh ông Diệm, ngày 1 tháng 11 năm 1963 bà mới trở về nước. Nhưng sự kết hôn của Ba Cụt với bà Cao Thị Nguyệt nặng vế chánh tri hơn là tình yêu. Chẳng khác chi chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu  Vì bà Cao thị Nguyệt lúc đó tuổi vừa tròm trèm trên dưới 20, đang du học tại Pháp. Sau Ba Cụt mất bà nối lại mối tình xưa với người yêu cũ cũng du học ở Pháp cùng thời kỳ với bà. Tướng Lê Quang Vinh là người tín đồ trung kiên của PGHH. Mới 20 tuổi tay không với dao gâm, mác vót, tầm vông giạt nhọn. Đánh Pháp, chụp đồn lấy súng. Thoạt từ ban đầu có vài ba cây súng rồi đến hàng chục cây, hàng ngàn cây. Đến năm 1954 lực lượng chiến binh tại ngũ của Ba Cụt lên đến 5.000 người với vũ khí đầy đủ và du kích địa phương cũng trên năm ngàn, tạo thành một lực lượng võ trang khá hùng hậu. Ba Cụt chính là người tạo nên thời thế. Và cũng chính thời thế tạo nên người anh hùng Lê Quang Vinh.

Ý nguyện của Ba Cụt là:
Đánh Tây giành độc lập cho đất nước
Đánh Cộng sản đề trả ơn Thầy
II. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ ÔNG NGÔ ĐÌNH DIỆM.
Ông Ngô Đình Diệm sanh ngày 3 tháng 01, năm 1901 Tại Huế. Người làng Đại Phong  huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình. Thân phụ là cụ Ngô Đình Khả, mẹ là bà Phạm thị Thân là vợ thứ nhì của Cụ khả. Cụ khả có một đời vợ trước tên là Chĩu đã qua đời. Cụ khả tái giá với bà Phạm Thị Thân sanh ra 9 người con, sáu trai ba gái. Trong số 6 anh em trai là:Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Cẩn, Cụ Khả là một nhà nho học, nhưng gia đình theo đạo Thiên Chúa. Ông Ngô Đình Diệm là người thành lập ra nền Đệ Nhất Cộng Hoà sau khi truất phế vua Bảo Đại năm 1954 và trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955. Trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà đầu tiên, ngày 26 tháng 10 năm 1955.
Vào khoảng tháng 6 năm 1954 Ông Ngô Đình Diệm được Toà Thánh Vatican và Mỹ hậu thuẫn đưa về nước để giữ chức Thủ Tướng với sự đồng ý của vua Bảo Đại. Ông Ngô Đình Diệm trở về nước ngày 25 tháng 6 năm 1954 tại phi trường Tân Sơn Nhất được dân chúng và các đảng phái chánh tri chào đón. Đến ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Ngô Đình Diệm được chánh thức giữ chức Thủ Tướng kiêm nhiệm luôn quốc phòng. Ông nắm cả hành chánh và quân sự. Lúc ban đầu các lực lương giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo đều hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Riêng Trung tướng Nguyễn văn Hinh Tổng Tư Lịnh quân đội quốc gia trong Liên Hiệp Pháp bất phục tòng. Nên vua Bảo Đại lúc đó đang công du bên Pháp đánh công điện khẩn, ra lịnh cho Tướng Hinh sang Pháp ngày 20 tháng 11 năm 1954. Bên Hoà Hảo thì tướng Nguyễn Giác Ngộ hợp tác chặt chẽ với Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ngay từ lúc ban đầu. Tổng Tư Lịnh lực lượng võ trang Hoà Hảo là Trung Tướng Trần Văn Soái, Tướng Lâm Thành Nguyên thì còn do dự. Nhưng sau cũng hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Riêng tướng Lê Quang Vinh Tự Ba Cụt bất mãn về Hiệp Định Genève ký kết giữa Việt Minh và Pháp tại Geneva, Thụy sĩ chia đôi đất nước nên kéo quân vào bưng để chống lại hai kẻ thù không đội trời chung là Pháp và Việt Minh. Còn ở Sài Gòn thì Tướng Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn Tư Lịnh Bình Xuyên thì cực lực chống lại ông Ngô Đình Diệm. Nên sau bị ông Diệm dùng Liên đoàn nhảy dù và lực lượng Cao Đài Liên minh của Trịnh Minh Thế tấn công Bình Xuyên vào ngày 29 tháng 3 năm 1955, sau mấy tháng chiến tranh xảy ra trên đường phố Sài Gòn và Rừng Sát, cuối cùng Bình Xuyên thảm bại, Bảy Viễn chạy trốn sang Pháp. Tại Tòa Thánh Tây Ninh tuy có những điều không bằng lòng với chánh phủ Ngô Đình Diêm nhưng sau cũng quay về hợp tác với chánh phủ quốc gia.
III. LỰC LƯỢNG NGHĨA QUÂN BA CỤT.
Ở miền Tây, sau khi hiệp định Genève được ký kết vào nửa đêm 20 tháng 7 năm 1954 giữa Việt Minh và Pháp chia đôi đất nước làm cho lực lượng Dân Xã Nghĩa Quân Hoà Hảo của tướng Lê Quang Vinh rất bất mãn. Lập trường của Nghĩa Quân Hoà Hảo là đất nước bất khả phân ly. Đất nước chỉ là một, không thể chia cắt Tổ Quốc ra làm hai miền Nam Bắc. Nên tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt lập tức kéo lực lượng võ trang dưới quyền của ông vào bưng, quyết trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn vô thần Cộng sản cho đến kỳ cùng. Kể từ năm 1954 đến năm 1956, lực lượng Nghĩa quân của Ba Cụt nhiều lần chạm trán nẩy lửa suốt ngày đêm, giao tranh ác liệt giữa Nghĩa Quân Ba Cụt ở miệt Đồng Tháp, dọc theo biên giới Việt Miên cho đến vùng Thất Sơn Bảy Núi, Phú Hữu, Cỏ Lau, Giồng Trà Dênh, Bình Di, Bắc Nam thuộc quận An Phú, tỉnh Châu Đốc. Tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng, U Minh Hạ. Trong thời gian đó, khi Nghĩa Quân di chuyển đến đâu thị lực lượng của Việt Cộng phải né tránh xa. Nên những năm trên, Việt Cộng ở các tỉnh miền Tây phải lánh mặt, không đất dung thân.
Hơn nữa Ba Cụt là người có lý tưởng, có lập trường quốc gia vững chắc quyết đánh đuổi thực dân Pháp, chống Cộng sản rõ ràng. Ông xuất thân từ nông dân yêu nước, những anh em Nghĩa quân của Ba Cụt cũng từ đó mà ra. Còn các cấp chỉ huy dưới quyền của Ba Cụt cũng xuất thân từ lòng yêu nước, từ nông dân mà ra. Họ hiểu rõ từng địa phương, từng đường đi nước bước của kẻ địch, họ mới trị được những tên nằm vùng du kích, những tên nón cối dép râu, khăn rằn mã tấu, quần cụt nón tai bèo cán bộ Cộng sản mà thôi. Hơn nữa họ là những người đã trải qua kinh nghiệm chiến tranh du kích, đánh du kích và diệt trừ du kích như thế nào? Đó là những bài học thực tế không môt ai một sớm, một chiều mà có được. Còn các sĩ quan chánh quy dầu được đào tạo ở những trường quân sự chánh quy nổi tiếng đi chăng nữa cũng đành chịu bó tay trước chiến thuật du kích. Vì chiến thuật du kích thay đổi muôn hình vạn trạng, biến hoá khôn lường. Không có sách vở nào chỉ dạy cho hết. Như ngày xưa, quân Tàu xâm lấn nước ta, Tàu ỷ người đông sức mạnh đánh ta nhưng Tổ Tiên ta là Dạ Trạch Vương Lý Bôn dùng chiến thuật du kích khiến Tàu phải thua xất bất, sang bang, thua dài dài.
Kể từ năm 1945 đến năm 1956, suốt hơn 10 năm những cuộc chiến đấu oai hùng của Nghĩa Quân Ba Cụt đánh chiếm tàu Tây ở Chân Đùng hay chỉ có vài trái lựu đạn với dao găm, lưỡi lê chiếm chiến xa nồi đồng của giặc, lấy đạn đại bác, đốt thiết giáp làm cho Pháp phải kinh hồn bạt vía mỗi khi chạm trán với lực lượng Nghĩa Quân Ba Cụt. Tại các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ, Sa Đéc, đồng Tháp Mười, Cà Mau Việt Minh phải nể mặt, chạy dài.
IV. NGÔ ĐÌNH DIỆM THỦ TIÊU NHỮNG THÀNH PHẦN QUỐC GIA CHÂN CHÍNH.
Ông Ngô Đình Diệm về nước nhận chức Thủ Tướng  vào ngày 7 tháng 7 năm 1954. Sau nầy được gọi là “Ngày Song Thất”. Các đoàn thể quốc gia đều hân hoan đón tiếp ông như là một tương lai cho đất nước dù ông là người sinh trưởng ra trong một gia đình Công giáo. Vì họ không phân biệt người Thủ Tướng thuộc về tôn giáo nào. Miễn là người đó có đầy lòng nhiệt huyết yêu nước, thương nòi, đưa đất nước và dân tộc ra khỏi vòng kềm tỏa ngặt nghèo, khát máu của chế độ thực dân Pháp. Không bị lệ thuộc vào sự thống trị độc đảng, độc quyền dưới chế độ Công sản là được.
Nên sau đó vài tháng có một buổi họp ở tại hội trường Diên Hồng. Gồm có các thành phần yêu nước ủng hộ ông Ngô Đình Diệm như sau: Ông Nguyễn Bảo Toàn tự Hoàng Bích, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn cùng một số nhân vật khác như Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trong đó có ký giả Nhị Lang. Trong lúc đang thảo luận, bỗng ông Hồ Hán Sơn la lên “ Truất phế Bảo Đại, suy tôn Ngô Đình Diệm.” Sau đó mọi người đồng nhất loạt la “Đả đảo Bảo Đại. Đả đảo Bảo Đại.” Hồ Hán Sơn chạy đến giựt chân dung vua Bảo Đại đang treo trên tường xuống. Ký giả Nhị Lang nhanh chân đạp giầy lên hình Bảo Đại, chà cho đến rách nát. Trong lúc đó ông Ngô Đình Diệm chợt xuất hiện, nghe tiếng hò hét ông chỉ mỉm cười rồi vội bước đi chỗ khác mà không nói gì hết. Đó là ngày khởi đầu truất phế vua Bảo đại. Cho đến ngày 23 tháng 10 năm 1955 là ngày trưng cầu dân ý để truất phế vua Bảo Đại vĩnh viễn. Đến ngày 26 tháng 10 năm 1955 ông Ngô Đình Diệm chánh thức đăng quang làm Tổng Thống đầu tiên của nước VNCH.
Sau khi ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống rồi. Ông chẳng những không chấp nhận ý kiến đối lập của những người quốc gia yêu nước, đã từng ủng hộ ông, khi ông mới trở về nước, đặt bước chân đầu tiên tại phi trường Tân Sơn Nhất sau một thời gian sống ở ngoại quốc để xây dựng một đất nước hoàn toàn dân chủ tự do, đoàn kết dân tộc để chiến thắng Cộng sản. Chính những lời phê bình chỉ trích đứng đắn ấy mà họ phải mang hoạ vào thân. Các ông Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn và một số các nhân vật khác bị bắt, bị thủ tiêu. Bằng cách hành hạ đánh cho đến chết, bỏ vào bao bố tời, neo đá, bỏ xuống sông Sài Gòn chết mất xác. Vợ con không biết chồng, cha mình chết ngày nào để mà làm lễ giỗ cúng cơm. Riêng ký giả Nhị Lang thì khôn khéo hơn, luồn lách hơn nên mới khỏi chết và sau được giữ chức Bộ Trưởng Bộ Thông Tin.
V. TƯỚNG TRỊNH MINH THẾ.
Tướng Trịnh Minh Thế là một tướng xuất thân từ lực lượng Liên Minh Cao Đài. Đã hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm trong buổi ban đầu, nên mới được giao cho nhiệm vụ chỉ huy đánh Bình Xuyên. Nhưng tiếc thay cuối cùng phải chết dưới tay của chế độ đó. Đưới đây là những nghi vấn về cái chết của tướng Trịnh minh Thế.
1. Theo chế độ Ngô Đình Diệm thì cho là tướng Trịnh Minh Thế chết ngoài chiến trường do địch (Bình Xuyên) bắn chết, bởi một viên đạn xuyên qua đầu khi ông ngồi trên xe Jeep đang trên đường hành quân chạy qua đầu cầu Tân Thuận
2. Nhưng theo lời của ông Lê Trọng Văn, Trịnh Minh Thế chết vì tướng Văn Thành Cao cho đàn em ngồi chung xe Jeep hạ sát theo lịnh của ông Ngô Đình Nhu.
3. Theo tài liệu bằng tiếng Pháp do ông Nhị Lang công bố thì tướng Trịnh Minh Thế chết là do Thiếu tá tình báo Pháp tên là Savani từ dưới tàu bắn lên, giết chết tướng Trịnh Minh Thế để trả thù cho tướng Chanson.
4. Theo gia đình của ông Trịnh Minh Thế bởi người con trai út của tướng Thế là Trịnh Minh Sơn công bố trên tờ Làng Văn số 232 vào tháng 12 năm 2002. Là cha ông bị giết tại dinh Độc Lập rồi chở xác đến cầu Tân Thuận để đánh lạc huớng dư luận đồn đãi là nhà Ngô giết tướng Trịnh Minh thế. Theo lời của bà Nguyễn thị Kim vợ của tướng Trịnh Minh Thế, thì chồng bà bị bắn, còn để lại hai vết đạn, chứ không phải một vết đạn như chánh quyền Ngô Đình Diệm công bố.
a. Một vết đạn vào ót trổ ra miệng làm văng mất hàm răng giả. Ám khói súng còn dính lại phía sau ót.
b. Vết đạn thứ hai vào sát lỗ tai mặt, đạn xuyên qua mắt trái, làm bể trồng mắt trái. Khói súng còn ám dính vào lỗ tai. Điều đó người giết Trịnh Minh Thế phải đứng gần và sát một bên của Trịnh Minh Thế. Trịnh Minh Thế bị hạ sát vào lúc 6 giờ chiều ngày 3 tháng 5 năm 1955.
Những người con và vợ của tướng Trịnh Minh Thế thuật lại thì khả tín hơn các phần nghi vấn khác. Vì chính họ nhìn thấy hai vết đạn từ sau ót và bên lỗ tai phải vẫn còn hằn dấu vết của thuốc súng. Vậy là chế độ Ngô Đình Diệm giết Trịnh Minh Thế chớ còn ai khác hơn nữa.
c. Đây tôi cũng xin mở ngoặc cần nói thêm những người quốc gia chân chính hay các Trị sự viên chuyên về việc tu hành cũng không thoát khỏi bàn tay giết người, thủ tiêu của chế độ Ngô Đình Diệm. Vào tháng 10 năm 1962. Tức là trước ngày ông Ngô Đình Diệm bị đảo chánh một năm và bị thảm sát một cách dã man rùng rợn, bởi bọn tay sai nịnh thần trước kia mà ông hết lòng tin cẩn và trọng dụng. Các ông Trần văn Tập, Lê Hoài Nam, Nguyễn văn Dành, Huỳnh Thiện Tứ, Huỳnh Hữu Thiện. Thừa lịnh Đức ông là thân sinh của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo sai đi công tác về giáo sự ở Sài Gòn. Trên đường về, trở lại Thánh Địa Hoà Hảo, đến mũi tàu Phú Lâm bị bọn mật vụ của ông Ngô Đình Nhu chận lại bắt, bị chế độ Ngô Đình Diệm thủ tiêu, mất xác làm cho vợ con không biết ngày chết chính xác để mà kỵ cơm. Sau nầy giòng họ Ngô Đình Diệm xảy ra những chuyện chẳng lành âu có phải là do sự oan oan tương báo chăng? Điều nầy chúng tôi không dám lạm bàn nhiều. Nhưng ai là người tín đồ Phật Giáo thì hiểu rõ hơn ai hết. Điều dữ cần phải tránh, điều lành cần phải làm dù là tôn giáo nào. Đó là cái gương chung cho những người làm chánh tri về sau nầy. Ngay trong cả gia đình Tổng Thống Hoa Kỳ là Kennedy cũng không thoát khỏi cái luật quả báo nhãn tiền ấy. Kennedy ra lịnh Cabot Lodge ở Sài Gòn mua chuộc các tướng phản tặc với giá ba triệu đồng đảo chánh ông Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963 và đồng loã để cho các tên phản tặc giết chết anh em ông ông Ngô Đình Diệm, Ngô đình Nhu. Thì chỉ có vỏn vẹn ba tuần lễ sau Kennedy bị ám sát chết tại Texas vào ngày 22 tháng 11 năm 1963. Âu đó cũng là một sự quả báo nhãn tiền ngay tức khắc.
Nên Đức Huỳnh Giáo Chủ Nói:
Đời xưa trả báo thì chầy,
Đời nay trả báo một giây nhãn tiền
Hay:
Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.
Trong Lục Vân Tiên cụ Đồ Chiểu cũng có viết.
Ai ai lẳng lặng mà nghe
Khá xem chuyện cũ mà dè thân sau.
Đó là những bài học nhãn tiền cho những ai làm chánh trị hay có quyền lực trong tay mà không có lòng nhân, độ lượng bao dung thứ tha cho kẻ khác. Coi việc giết người như là một trò chơi. Giết cho thỏa thích theo sở dục của mình.  Chính chế độ Ngô Đình Diệm đào tạo ra tên Đại Úy Nhung chặt thây của tướng Ba Cụt ra thành ba mảnh, bầm nát thây ông sau khi bị thọ hình. Chính tên nầy lại phản chủ đánh đập, kết liễu cuộc đời hai vị lãnh tu của mình là ông Diệm, ông Nhu trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu, từ nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn. Đó mới thấy bài học nhân quả của họ nhà Ngô. Sau cuộc chỉnh lý của Tướng Nguyễn Khánh tên Nhung cũng bị treo cổ trong BTL/KQ ở phi trường Tân Sơn Nhất
VI.  TRƯỜNG HỢP DỤ HÀNG TƯỚNG BA CỤT.

Inline image1. Dụ Hàng Lần Thứ Nhất:
Khi chánh phủ Ngô Đình Diệm mới về chấp chánh năm 1954. Ông Ngô Đình Diệm cho bào đệ của ông là ông Ngô Đình Nhu đến gặp Ba Cụt lần đầu tiên để chiêu dụ Ba Cụt về hàng, hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm. Nhưng Ba Cụt chưa nhận lời và chờ xem chế độ Ngô Đình Diệm cư xử với các đảng phái chánh trị quốc gia như thế nào và lập trường ra sao? Nhưng thời cuộc biến chuyển mau lẹ. Hiệp định Genève được ký kết vào lúc giữa đêm ngày 20 tháng 7 năm 1954 với Việt Minh và Pháp, chia đôi đất nước thành hai miền Nam Bắc lấy vĩ tuyến 17, sông Bến Hải làm biên giới chia đôi hai miền Nam Bắc. Ba Cụt bực mình vì hiệp định nầy nên bất mãn, ra lịnh cho toàn thể bộ hạ kéo vào bưng để đánh Pháp và diệt trừ cộng sản. Đó là cơ hội thứ nhất đã trôi qua làm cho Ba Cụt không hợp tác với chánh phủ Ngô Đình Diệm được như các tướng lãnh Hoà Hảo khác như Trung Tướng Trần văn Soái, Thiếu Tướng Nguyễn Giác Ngộ, Thiếu Tướng Lâm Thành Nguyên.
2. CHIÊU DỤ LẦN THỨ HAI.
Nói là chiêu dụ lần thứ hai như thế nầy là không đúng lắm, mà phải nói lần nầy là lần chế độ Ngô Đình Diệm lừa gạt Ba Cụt thì đúng hơn.
Ông Nguyễn Ngọc Thơ là đương kim đại sứ của chánh phủ VNCH đang nhận nhiệm sở bên Nhật. Được lịnh ông Ngô Đình Diệm triệu hồi về nước, lãnh nhiệm vụ đi chiêu hàng Ba Cụt.
Sở dĩ chế độ Ngô Đình Diệm dùng Nguyễn Ngọc Thơ là vì ông lập được thành tích thuyết phục được bà Lê Thị Gấm là vợ của Trung Tướng Trần Văn Soái tự Năm Lửa, nài nỉ ông Năm Lửa ra mặt với Chánh phủ ông Diệm vào ngày 19-2-1956. Ông Nguyễn Ngọc Thơ lại trở về làm con bài chiêu dụ Ba Cụt ra hàng là vì ông Nguyễn Ngọc Thơ là người quê quán ở Long Xuyên. Có lúc làm tỉnh trưởng Long Xuyên dưới thời Pháp thuộc. Là một tay Đốc phủ sứ của Pháp. Nguyễn Ngọc Thơ cho người tìm thân nhân Ba Cụt ở Bằng Tăng, quận Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Biết được ông thầy giáo tên Huỳnh Kim Hoành là cậu ruột của Ba Cụt. Tánh ông nầy thật thà hiền từ, chân chất, là người tín đồ PGHH. Đã từng dạy học cho Ba Cụt lúc Ba Cụt còn nhỏ. Ba Cụt rất kính mến cậu của mình. Nguyễn Ngọc Thơ cho người mời ông Huỳnh Kim Hoành đến để làm quen. Ông Thơ rất khôn khéo, thân mật với Tư Hoành, vì có dự mưu sẵn nên ông xuống nước gọi ông Hoành bằng anh Tư. Còn ông Hoành gọi ông Thơ bằng ông Đại Sứ. Ông Hoành khi nói chuyện với ông Thơ gọi Ba Cụt bằng “thằng cháu tôi”. Nên ông Thơ làm ra vẻ thân mật gọi Ba Cụt bằng “Chú Ba.” Chứ thực ra họ đâu có quen biết thân nhau gì từ trước. Từ chỗ thân mật giả tạo đó ông Thơ muốn ông Hoành làm mối lái trung gian, liên lạc giữa ông và Ba Cụt. Mục đích để dụ Ba Cụt ra hợp tác với chế độ Ngô Đình Diệm. Ông Hoành vì thật thà không biết nên nhận lời ngay mà không nghĩ đến cái hậu quả khủng khiếp sắp xảy đến cho người cháu của ông là tướng Ba Cụt và bao sinh mạng của anh em Nghĩa Quân Cách Mạng. về sau nầy.
a. Cuộc Gặp Gỡ Giữa Ông Thơ Và Ba Cụt Lần Thứ Nhất.
Vì nhận thấy các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng khai triển ngày 5 tháng 6 năm 1955 kết thúc tháng 12 năm 1955 và chiến dịch Nguyễn Huệ khởi đầu ngày 1 tháng 1 năm 1956 mà không đem lại kết quả mong muốn, không thể nào tiêu diệt được lực lượng Nghĩa Quân của Ba Cụt. Cứ bên phe chánh phủ mở cuộc hành quân lớn thì Nghĩa Quân Ba Cụt phân tán mỏng. Còn phe chánh phủ mở cuộc hành quân nhỏ thì Nghĩa Quân Ba Cụt tập trung lại cường kích, hoặc bắn sẻ, ám sát. Nên phía quân đội quốc gia bị tiêu hao không nhỏ. Có những trận đánh mà bên phe quốc gia bị thiệt hại gần nửa tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Khi hai bên đụng nhau tại vùng xóm Thầy, Cần Thơ vào ngày 10 tháng 1 năm 1956. Bên quân đội Quốc gia do Đại Uý Trần Hữu Hạnh chỉ huy tiểu đoàn 1/36 Thủy Quân Lục Chiến. Bên Nghĩa quân Bạ Cụt do ông Nguyễn Thời Rê chỉ huy trung đoàn Lê Quang là trung đoàn thiện chiến của Ba Cụt. Vì những lẽ nêu trên, nên phía chánh phủ nhận thấy nếu dùng quân sự giải quyết lực lượng của Ba Cụt không thể nào được, nên phải dùng giải pháp chiêu dụ Ba Cụt về hàng rồi sau sẽ tính như trường hợp của Tướng Trịnh Minh Thế, Cao Đài.
Cuộc gặp gỡ giữa ông Thơ và Ba Cụt do ông Tư Hoành mối lái với lời yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc Thơ. Ba Cụt và ông Thơ gặp nhau lần thứ nhất vào ngày 29 tháng 2 năm 1956 tại Cồn Tảo nằm trên sông Tiền Giang, thuộc quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong. Về phía Bắc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Lúc nầy BCH của Ba Cụt đang trú ẩn tại xã Thường Phước đối diện với chợ Tân Châu. Lần gặp nầy hai bên không hứa hẹn với nhau cái gì hết, không có lập biên bản tổng kết, hai bên chỉ nói với nhau bằng lời, có sự hiện diện của ông Tư Hoành. Cuộc họp nầy chỉ là sự thăm dò với nhau. Bên Ba Cụt thì muốn biết ý định của chánh phủ Ngô Đình Diệm nghĩ gì về lực lượng Nghĩa quân của mình. Còn bên ông Nguyễn Ngọc Thơ thì ý nhị sâu sắc hơn. Vừa thăm dò tinh thần của Ba Cụt và sự hoạt động của Nghĩa Quân của ông như thế nào? Vừa là tình báo vừa là ngoại giao. Nhưng Ba Cụt không nghĩ tới, tưởng lầm là bên phía chánh phủ Ngô Đình Diệm thật lòng muốn thương thuyết. Và ông Thơ cũng là người chỉ điểm những yếu tố quan trọng binh lược của Ba Cụt cho Tướng Dương Văn Minh, lúc đó là Tư Lịnh chiến dịch Đinh Tiên Hoàng và Nguyễn Huệ sẽ hành động về sau. Nếu sự hợp tác bất thành
b. Cuộc Gặp Gỡ Giữa Ông Thơ Và Ba Cụt Lần Thứ Hai.
Cũng do sự mối lái của ông Hùynh Kim Hoành, liên lạc với Ba Cụt hẹn ngày hai bên Ba Cụt và ông Thơ gặp nhau vào ngày 4 tháng 4 năm 1956. Trong cuộc gặp nầy ông Ba Cụt đưa ra 16 điều yêu sách. Ông Thơ lại hứa hẹn sẽ về trình lên chánh phủ. Lần nầy cũng nói với nhau bằng miệng, không lập biên bản gì trong buổi hội. Cũng không cam kết gì trên giấy tờ. Ông Thơ lại hứa suông và còn dặn rằng “chú Ba cứ yên tâm chờ đợi. Đừng quậy phá gây nên sự rắc rối mất lòng hai bên,” Và cũng không hứa hẹn gì để hai bên gặp lại nhau lần nữa. Có lẽ nhiệm vụ của ông Thơ đến đây đã đủ. Trong lúc đó thì bên phía chánh phủ âm thầm bố trí sẵn sàng tấn công Ba Cụt khi ông Nguyễn Ngọc Thơ rời khỏi địa điểm họp với Ba Cụt. Cuộc hành quân nầy họ gọi là hành quân Sở Hạ. Gồm có các đơn vị và bố trí như sau: Một trung đoàn bố trí trong khu Châu Phú Bắc. Trung đoàn 41 tấn công vào Thường Phước nơi đặt BCH của Ba Cụt. Một Trung đoàn từ Hồng Ngự tiến lên. Họ tiến quân làm ba cánh. Một từ Sở Thượng tiến lên để khóa vòng vây. Cánh thứ hai bọc hậu tiến theo sông Tiền càng quét vùng kinh Bùi Văn Bút. Cánh thứ ba tấn công thẳng vào kinh Thường Phước. Quân chánh phủ tiến theo ba mũi giáp công. Nhưng Nghĩa Quân Ba Cụt đã vượt khỏi vòng vây. Không đụng với nhau mạnh chỉ lẻ tẻ không đáng kể.
Trong lúc nầy Ba Cụt cứ tin tưởng vào lời hứa của ông Thơ “Chú Ba ráng chờ. Đừng quậy phá gây ra sự rắc rối thêm mất lòng cho cả hai bên.” Chờ mãi mà không thấy tin tức gì từ ông Thơ cũng như từ ông cậu ruột Hùynh Kim Hoành. Nên nóng lòng muốn tiếp xúc với ông Thơ để ra mặt. Nhưng ông nào có ngờ đâu đã lọt vào mưu kế của kẻ tiểu nhân và lưỡi hái tử thần đang rình rập ông ở phía trước ngày lẫn đêm. Mặc dầu sau các chiến dịch hành quân của quân đội quốc gia càn quét dữ dội. Nhưng lực lượng của Ba Cụt được phân tán mỏng nên sự thiệt hại không đến nỗi làm cho lực lượng nầy không còn hoạt động được. Các trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực của Ba Cụt vẫn còn hoạt động hữu hiệu.
Sự thất bại của Ba Cụt, đưa đến sự bị bắt về sau nầy ta thấy cũng dễ hiểu thôi. Một là những người trong Ban Tham Mưu của Ba Cụt, không có đủ những tài năng. Hai là Ba Cụt quá chủ quan về tài năng quán xuyến chỉ huy của mình từ trước đến nay mà không nghe theo những lời khuyên bảo từ Ban Tham Mưu của mình hoặc tự tiện quyết định lấy một mình mà không tham khảo ý kiến với những người chung quanh. Đó là một sự lầm lẫn đáng tiếc. Từ ngày Ba Cụt gặp Nguyễn Ngọc Thơ lần thứ hai tin tưởng vào tiếng “Chú đừng quậy nữa. . ..“Mà ngẫu nhiên ngầm  ra lịnh cho Nghĩa quân đừng mở các cuộc tấn công vào đồn bót của quốc gia nữa. Chỉ tự vệ mà thôi. Còn bên phía BTL hành quân của Dương Văn Minh thì cho rằng, nhờ các cuộc hành quân của ông mở ra mà lực lượng của Ba Cụt không còn sức để hoạt động được nữa. Thì ai đúng ai sai, ai thiệt ai giả. Đọc giả tự lòng mình phán xét.
VI. BA CỤT BỊ BẮT.
Danh từ Ba Cụt bị bắt như các báo chí và chánh phủ thời đó thường hay dùng không được chính xác đối với Ba Cụt. Mà phải nói rằng Ba Cụt ra nộp mình cho chánh phủ quốc gia để mong có sự hợp tác giữa hai bên, chống cộng sản thì đúng hơn. Chẳng khác chi Từ Hải ra nộp mình cho Hồ Tôn Hiến ngày xưa, Từ Hải lầm mưu nên chết đứng. Ba Cụt cũng thế. Nhưng khi Ba Cụt đã lọt vào tay của chánh phủ Ngô Đình Diệm rồi thì họ cứ nói gì cũng được. Lý lẽ của kẻ mạnh bao giờ cũng đúng. Họ vẽ vời chuyện phục kích của Trung sĩ Giàu là tiểu đội trưởng của một tiểu đội Bảo An đóng đồn ở Chắc Cà Đao. Điều nầy hoàn toàn là chuyện thêu dệt, bịa đặt thêm cho có nhưn có nhụy, có lý cớ để đưa Ba Cụt ra toà lãnh án tử hình. Chủ đích của anh em Ngô Đình Diệm trước sau gì cũng phải giết Ba Cụt cho bằng được.. Vậy ta thử xét qua bản báo cáo của Trung Sĩ Giàu rồi suy gẫm thực hư như thế nào và lời khai của Ba Cụt qua các phiên tòa ra sao? Thực ra đêm đó Trung sĩ Giàu không có đi phục kích gì hết. Chỉ là một toán lính nhỏ vào khoảng nửa tiểu đội đi mở đường buổi sáng thường xuyên mỗi ngày trên lộ, trong phạm vi trách nhiệm của khu vực phụ trách của đồn mà thôi. Toán lính của Ba Cụt và toán mở đường của Trung sĩ Giàu đụng mặt nhau trên đường lộ chứ không phải dưới bờ sông hay dưới ruộng tại Chắc Cà Đao. Trên đường đi Ba Cụt ra lịnh cho các cận vệ không được nổ súng khi gặp bất cứ toán lính nào của chánh phủ quốc gia. Do đó khi gặp toán mở đường của trung sĩ Giàu ông tự xưng ngay “ Tôi là Ba Cụt ra họp với chánh phủ, đừng bắn.” Trên đường di chuyển về Long Xuyên, ông cũng nói với hai người chèo ghe và 5 cận vệ của ông cũng như vậy.
Trung sĩ Giàu báo cáo rằng đêm 12 rạng sáng 13 tháng 4 năm 1956. Tiểu đội của ông đi phục kích vào khuya đêm 12 rạng 13 thì đến 6 giờ sáng ngày 13. Ông thấy một toán người từ một chiếc đò cập bến để bước lên bờ. Ông hô to.
– Ai đó! Đứng lại.
– Đừng bắn! Tôi là Ba Cụt đây. Tôi đầu hàng.
Vì thế BTL chiến dịch Nguyễn Huệ coi ông là một tù binh. Họ cho rằng trong thời gian đó không có cuộc thương thuyết nào với Ba Cụt cả. Việc báo cáo trên cũng do đám Dương văn Minh vạch đường chỉ lối cho trung sĩ Giàu. Để công trạng của họ được to thêm lên. Thực chất là như vậy. Nên 5 người cận vệ và hai người chèo ghe cho Ba Cụt sau nầy cũng bị thủ tiêu hết để phi tang, bịt miệng.
Căn cứ vào lời báo cáo của Trung sĩ  Giàu có những điểm trái ngược hoàn toàn với lời khai của Ba Cụt trước tòa án. Nếu là toán lính của Ba Cụt đi qua sông bằng đò thì chiếc đò đó ở đâu sao không thấy bị tịch thâu? Không thấy nhắc tới trong biên bản?. Người chủ đò là ai? Ai là người chèo đò? Sao không thấy xuất hiện ở tòa để làm chứng? Như vậy Ba Cụt qua sông không phải bằng đò mà bằng thuyền do hai người chèo thuyền vốn là hai Nghĩa quân của Ba Cụt tên là Phan Văn Hoành 45 tuổi, Trần Tấn Hạnh 42 tuổi và 5 cận vệ là Nguyễn văn Hộ, Nguyễn văn Phú, Nguyễn văn Thơ, Lê Văn Tóc, Võ văn Vinh. Ngay bản báo cáo của Trung sĩ Giàu còn không phân biệt được giữa “ thuyền ” và “ đò “ trung sĩ Giàu còn báo cáo trật huống hồ gì là những chuyện khác sẽ được thổi phòng lên để lập công to. Thực tế là không phải bắt sống được Ba Cụt như Trung sĩ Giàu nói. Nếu Ba Cụt không có ý định tin tưởng vào lời hứa huyễn hoặc của Nguyễn Ngọc Thơ ra đầu hàng thì 10 trung sĩ Giàu cũng chẳng bắt được Ba Cụt.  Ba Cụt là người từng vào sanh ra tử coi cái chết nhẹ như lông hồng, đã từng chụp tàu Tây lấy vũ khí tại Chân Đùng, vài ba anh em nghĩa quân với dao găm, lựu đạn còn cướp được xe nồi đồng của Pháp, lấy đại bác và đại liên trên xe. Chẳng lẽ đương nhiên trở nên hèn nhát để cho toán bảo an của trung sĩ Giàu có mấy người bắt một cách dễ dàng như vậy? Nếu Ba Cụt không có thực tâm, ý định ra đầu hàng chánh phủ theo lời đường mật, hứa hẹn hão huyền của Nguyễn Ngọc Thơ. Hơn thế nữa những người theo hộ vệ cho Ba Cụt là những cảm tử quân. Nếu họ được cho phép nổ súng thì chưa chắc gì toán Bảo An của trung sĩ Giàu được toàn thây. Đúng ra Ba Cụt bị lường gạt về Long Xuyên để họp nên mới bị bắt một cách dễ dàng như vậy.
VII. BA CỤT RA TÒA ÁN.
Theo báo cáo của BTL chiến dịch Nguyễn Huệ thì Ba Cụt bị bắt lúc 6 giờ sáng ngày 13 tháng 4 năm 1956, tại vàm Chắc Cà Đao bởi một toán Bảo An do Trung Sĩ Giàu chỉ huy cách Long Xuyên 15 cây số, về hướng Tây Bắc. BTL chiến dịch Nguyễn Huệ đưa Ba Cụt về Long Xuyên lấy lời khai sơ khởi. Xong giải về Cần Thơ để ra toà án đại hình và tòa án quân sự do Ngô Triều lập nên với thành phần chánh án, biện lý, công tố viên đều là những thành phần viên chức và tướng lãnh buôn dân, bán nước dưới thời Pháp thuộc còn lưu lại, thì còn chi là công lý, họ cũng chẳng ngần ngại chi mà không xử theo mật lịnh của Ngô Triều. Để được thăng quan tiến chức cho mau.
1. Ba Cụt Ra Toà Lần Thứ Nhất.
Theo sự tường thuật sơ lược của ông Trịnh Bá Lộc sĩ quan tùy viên của Tướng Dương Văn Minh. Tướng Lê Quang Vinh ra tòa Sơ Thẩm Đại Hình tại Cần Thơ vào ngày 11 tháng 6 năm 1956 với thành phần chánh án là Huỳnh Hiệp Thành, đại diện Công Tố là ông Biện Lý Francis Lâm Lễ Trinh. Luật sư biện hộ cho Ba Cụt là LS Vương Quang Nhường, Lê Ngọc Chấn.. Toà tuyên án tử hình Ba Cụt theo đề nghị của Biện Lý Francis Lâm Lễ Trinh. Sở dĩ ông Trịnh Bá Lộc để chữ Francis ở trước Lâm Lễ Trinh là hàm ý cho ta biết ông Lâm Lễ Trinh là người gốc Việt, nhưng dân Pháp hoặc đạo Thiên Chúa.
2. Ra Toà Lần Thứ Hai.
Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt nhờ các luật sư làm đơn cho ông ký tên chống án lên toà trên. Tức là Tòa Thượng Thẩm Đại Hình nhóm họp tại Cần Thơ vào ngàỵ 25, 26 tháng 6 năm 1956. Tức là chỉ có đúng 14 ngày sau. Với thành phần chánh án là ông Lê Văn Thụ. Công tố là ông Lê Văn Tuấn. Trong hai ngày xét xử 25 và 26, tòa y án tử hình của tòa sơ thẩm Đại Hình Cần Thơ.
Trong việc thành lập tòa thượng thẩm Đại Hình lần nầy có một điều phá lệ đặc biệt. Sở dĩ chúng tôi dùng chữ  “phá lệ đặc biệt ” ở đây là vì từ trước đến giờ tòa nầy chưa  bao giờ được nhóm họp ở tỉnh. Trụ sở chính của tòa nầy là ở Sài Gòn. Tòa nầy phải nhóm họp ở tại trụ sở chính thường trực ở Sài Gòn tức là Pháp Đình Sài Gòn theo Dụ số 18 tháng 10 năm 1949. Nhưng vì quá gấp rút, chế độ Ngô  Đình Diệm muốn giải quyết vụ Ba Cụt càng sớm càng tốt.. Nên Ngô Đình Diệm vội vàng ký Dụ số: 33 ngày 14-6-1956 để tòa nầy được di chuyển về tỉnh. Dụ số: 33 nầy chưa kịp đăng vào công báo thì ông Bộ Trưởng Tư Pháp cũng vội ký nghị định bổ nhiệm thành phần tòa Thượng Thẩm nhóm họp ở Cần Thơ để xử Ba Cụt. Đây là một việc làm bất hợp pháp. Vì họ quá gấp rút muốn giết Ba Cụt cho sớm được ngày nào hay ngày đó. Đến ngày 23-06-1956 Dụ số 33 mới được đăng vào công báo. Kể từ ngày 23-6-1956 về sau Bộ Tư Pháp mới có quyền bổ nhiệm các thành phần tòa thượng thẩm Đại Hình ở tỉnh mới hợp pháp. Còn bổ nhiệm trước ngày Dụ số: 33 được đăng vào công báo là bất hợp lệ.
3. Ra Tòa Lần Thứ Ba
Tòa án Quân Sự đặc biệt họp tại Cần Thơ ngày 3-7-1956 để xét về khía cạnh an ninh quốc gia. Với thành phần chánh án Vũ Tiến Tuân, Ủy viên chánh phủ Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân. Xử trong hai ngày, ngày 3 và 4 tháng 7 năm 1956. Tòa nầy cũng tuyên án tử hình Tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt, cộng thêm tước đoạt binh quyền và tịch thâu tài sản. Đặc biệt của tòa nầy là bản án ban ra rồi là chung cuộc, không được thượng tố. Phạm nhân (Nạn nhân Ba Cụt) bị thi hành bản án tức khắc trong một thời gian nhất định. Nếu đơn xin ân xá với Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm không được chấp thuận.
Như vậy chế độ Ngô Đình Diệm xử Ba Cụt một cách gấp rút. Giữa các phiên tòa sơ thẩm Đại Hình diễn ra ngày 11- 6 – 1956. Cho đến các phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình diễn ra ngày 25, 26-6-1956 chỉ cách nhau có 14 ngày. Giữa các phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình cho đến các phiên Tòa Án Quân Sự đặc biệt diễn ra ngày 3, 4 tháng 7 năm 1956 chỉ cách nhau có bảy ngày. Tổng cộng số ngày của ba lần xử Ba Cụt chỉ vỏn vẹn có trong vòng 22 ngày. Nếu tính trung bình thì mỗi tuần đều có một cuộc họp của tòa án diễn ra để xét xử Ba Cụt. Sự gấp rút nầy chứng tỏ chế độ Ngô Đình Diệm cố tình muốn giết chết Ba Cụt ngay tức khắc. Sự đưa ra tòa để xử Ba Cụt chẳng qua là một trò lừa dối, che mắt thế gian và tránh dư luận báo chí ở trong nước cũng như ngoại quốc. Chứ bản án tử hình của Ba Cụt đã được định sẵn từ dinh Độc Lập. Từ ngày bắt Ba Cụt 13-4-1956 đến ngày đem ba Ba Cụt ra tử hình tại nghĩa địa ở đại lộ Hòa Bình, ngày 13-7-1956 chỉ vỏn vẹn có ba tháng tức là 90 ngày.
Cũng trong chính tòa án Quân Sự đặc biệt nầy, Ba Cụt dõng dạc nói trước tòa” Thưa quý tòa trước đây tôi có biết ai là người quốc gia chính hiệu, ai là người tay sai thực dân đâu? Bây giờ tình thế nước nhà thấy yên, ai cũng xưng mình là quốc gia, là chống cộng, chống thực dân được hết. Còn trước đây tôi ở bưng vừa đánh thực dân, vừa đánh Cộng sản thì tôi bị không biết bao nhiêu lực lượng khác ráp đánh tôi, đánh ngang hông, đánh sau lưng, đánh tứ giăng. Thực dân Pháp dầy xéo nước tôi, đã xem hiệp ước vừa ký chưa ráo mực như tờ giấy lộn, nó phản bội nhiều chuyện động trời nên tôi phải đánh nó, đánh đến chết thì thôi. . . “
Đây tôi cũng xin nhắc lại là các luật sư bào chữa cho Ba Cụt. Gồm có bốn luật sư sau đây: Luật sư lão thành Vương Quang Nhường, Luật sư Lê Ngọc Chấn cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng của chánh phủ Ngô Đình Diệm đầu tiên, năm 1954 và cũng là một chánh trị gia. Luật sư Phạm Ngọc Thu. Luật sư Đinh Xuân Các. Bốn luật sư nầy thay phiên bào chữa cho tướng Lê Quang Vinh trước tòa. Các luật sư nầycó những lời bào chữa, lý luận rất sắc bén. Nhưng cũng không thể nào cứu được mạng sống của Ba Cụt vì chế độ nầy nhẩt tâm, quyết xử tử Ba Cụt, nên các luật sư có tài ba, lỗi lạc cách mấy đi chăng nữa cũng đành phải chịu thôi. Khi mà Ba Cụt lầm lỡ nghe theo lời chiêu dụ, phỉnh gạt của Nguyễn Ngọc Thơ. Đã sa cơ, thất thế vào tay của chế độ Ngô Đình Diệm.
VIII. LỜI KHAI CỦA BA CỤT và LỜI KHAI CỦA HAI NHÂN CHỨNG
Sở dĩ tôi thuật lại lời khai của Ba Cụt, lời khai của nhân chứng cùng những lời biện hộ của luật sư trước tòa để quý độc giả lượng định coi,  Ba Cụt có bị chế độ Ngô Đình Diệm cố tình lường gạt Ba Cụt qua con bài sứ giả Nguyễn Ngọc Thơ?
1.  Lời Khai Hay Sự Phản Ứng Của Ba Cụt Trước Tòa.
Chiều ngày 26-6-1956 trong phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình ở Cần Thơ. Ba Cụt bị cáo là tòng phạm trong vụ ám sát Huỳnh Văn Y. Do ông Trần văn Thân là cha vợ của Y đứng đơn tố giác. Nhưng ông Thân vắng mặt
– Ba Cụt xin tòa cho biết ai là người đầu đơn cáo ông về vụ nầy?
– Tòa đọc đơn của Trần văn Thân tố cáo ông..Ba Cụt mỉm cười mỉa mai
– Y theo đơn thưa thì Trần văn Thân là cha vợ của Huỳnh văn Y. Vậy cha vợ đứng đơn thưa rồi cho vợ làm chứng cho cha vợ, vậy cũng được hay sao? Làm cho tòa gượng gạo biện luận và giải thích lung tung.
Khi ông Chưởng lý hỏi về vụ thâu thuế của đại đội 21 của Ba Cụt thường đi bắt buộc người ta đóng thuế thì Ba Cụt trả lời.
– Thưa ông :” tố nghị viên.” Tôi là tướng lãnh, chiến sĩ của tôi tuy có tổ chức, song vì hoạt động bí mật, phân tán đóng quân khi có công tác thì họp lại, xong công tác thì ẩn. Vì vậy tôi làm sao kiểm soát hết đến cấp dưới.
Trong một  phiên tòa Thượng Thẩm Đại Hình Ba Cụt trả lời: “Đã không bắt được thủ phạm giết người, không biết thủ phạm là ai, tại sao lại nói chúng nó là của tôi tức là của Ba Cụt”
– Ông chánh án nói: “ Nhưng người ta thấy rõ những kẻ ấy mặc đồ  đen”
– Ba Cụt đáp: “ Trời ơi! Nếu mặc đồ đen đi làm bậy, rồi căn cứ vào bộ đồ đen đó nói là người của Ba Cụt, thì chết tôi rồi, ở quê không mặc đồ đen thì mặc đồ gì? Đến đây, những người dự thính để nghe xét xử Ba Cụt nghiêng về Ba Cụt 50 phần trăm. Vì trong các phiên tòa sơ thẩm Đại Hình. Khi tòa tuyên án tử hình Ba Cụt thì họ vỗ tay. Đến các phiên tòa án Quân Sự đặc biệt dư luận đã nghiêng về Ba Cụt đến 90 phần trăm. Vì họ hiểu rõ lập trường và tinh thần hy sinh chống Pháp và Việt Minh của Ba Cụt. Có nhiều người thở dài, phải thốt lên “ Ba Cụt đúng là một bông hoa xinh đẹp mọc trong đám cỏ dại mà kẻ làm vườn không biết đến nó.”
Trong suốt các phiên tòa và lời khai thẩm vấn của BTL chiến dịch Nguyễn Huệ trước sau gì Ba Cụt cũng quả quyết mình ra trình diện để hợp tác với chánh phủ quốc gia.
2.  Lời Khai Của Hai Nhân Chứng:
Trong các nhân chứng đáng lẽ ra ông Nguyễn Ngọc Thơ phảì ra tòa làm chứng, cung khai ra hết sự thật những gì ông hội đàm và hứa hẹn vơí Ba Cụt trong hai lần gặp gỡ Ba Cụt tại xã Thường Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong mới đúng công lý. Nhưng rất tiếc ông không có mặt trong các phiên tòa xử Ba Cụt. Vì chánh phủ Ngô Đình Diệm biết đưa ông ra để làm nhân chứng, khi bị luật sư của Ba Cụt chất vấn ông đuối lý phải khai ra sự thật thì bị bể mánh, còn gì là thể diện của chánh phủ Ngô Đình Diệm trước công luận và báo chí. Chỉ có thầy giáo Huỳnh kim Hoành cậu ruột Ba Cụt và người chèo thuyền cho Ba Cụt tên là Phan Văn Hoành ra làm nhân chứng cho Ba Cụt mà thôi.
a. Nhân chứng thứ nhất là ông Huỳnh Kim Hoành. Do luật sư Lê Ngọc Chấn thay mặt thân chủ cho đòi ông Huỳnh Kim Hoành ra làm chứng trước tòa cho Ba Cụt
Trước tòa ông Huỳnh kim Hoành khai hết tất cả sự thật.  Nhưng những lời khai của ông không được tòa lưu ý và báo chí cũng không được phép đăng tải. Thành ra lời khai của ông cũng như không có gì hết.
b. Nhân chứng thứ hai là ông Phan văn Hoành, người chèo thuyền cho Ba Cụt.
Ông chánh án hỏi tại sao hôm đó anh bị bắt với Ba Cụt?
– Dạ, hôm đó tôi đưa “Ông” vế Long Xuyên để hội nghị với ông Đại Sứ Thơ
Ông chánh án nghiêm nét mặt có ý hăm dọa, đàn áp tinh thần của ông Phan văn Hoành.
– Hội nghị gì bữa đó?
– Dạ, tôi nghe “Ông” nói
– Ông  nào?
– Dạ thưa ông Lê
– Có phải Lê Quang Vinh tự Ba Cụt không?
Phan văn Hoành gật đầu nhẹ. Khi trả lời một câu hỏi của ông chánh án tại sao anh không có vũ khí? Phan văn  Hoành trả lời là vì anh chỉ chèo thuyền nên anh không được phát vũ khí. Mà ví dầu anh có được “Ông“ phát súng thì anh cũng không bắn, vì “Ông” ra lịnh đừng bắn
Luật sư Chấn đặt câu hỏi” Lê Quang Vinh bị bắt ở trên lộ hay dưới ruộng?
– Dạ trên lộ
– Bên Lê Quang Vinh có bắn không?
– Dạ, khi ông đưa tay cản một cái thì anh em phòng vệ không bắn
– Anh có nghe Lê Quang Vinh nói đi về kỳ nầy là để trình diện không?
– Có, ông nói đi về trình diện với quốc gia là đem lợi ích cho đất nước.
Ông chánh án lại chen vào.” Lê Quang Vinh nói vậy hồi nào?”
– Da, ông nói hoài như vậy, nói lúc đi cũng như lúc về và khi gần tới Long Xuyên, đâm qua sông ông cũng còn nói như vậy nữa. Bởi vậy tôi mới thuộc câu nói của ông đó chớ!
– Ngày 20 tháng 5 vừa qua, Ba Cụt khai có đem theo 10 người thân tín. Vậy anh là một trong 10 người thân tín của ba Cụt chớ gì?
– Dạ không, không phải đâu. Tiếp theo đó ông chánh án dùng sở trường và kiến thức của mình để đi hỏi một câu hỏi gài bẫy đối với một anh nông dân tay lấm, chân bùn, dốt nát gọi là nghĩa quân
– Khi bị bắt lính quốc gia đi từ phía trước bắt hay đi từ phía sau bắt? Câu hỏi nầy có ý nghĩa nếu lính quốc gia từ phía trước đến bắt có nghĩa là Ba Cụt đến đồn để trình diện như lời Ba Cụt khai. Trái lại nếu như lính quốc gia từ sau đến bắt thì Ba Cụt bị toán lính trong đồn đuổi theo bắt. Câu hỏi nầy làm cho Phan văn Hoành không kịp suy nghĩ, trả lời một cách vội vã, gọn gàng.
– Lính quốc gia  từ sau đi tới bắt. Làm cho Mai Hữu Xuân chụp bắt cơ hội yêu cầu tòa ghi vào biên bản.
Nhưng Ba Cụt đứng lên từ băng bị cáo.
– Thưa quý tòa không phải vậy đâu! Tôi từ dưới ruộng lên lộ trước, đi lại bót ngó thấy trước mặt rồi lính từ trong bót đi tới hai bên đụng đầu nhau. Nhưng rất tiếc là lời nói của Ba Cụt không có giá trị trước tòa vì ông đâu phải là nhân chứng.
IX. CHẾ ĐỘ NGÔ ĐÌNH DIỆM NHẪN TÂM GIẾT BA CỤT
Sau khi tòa án Quân Sự đặc biệt tuyên án tử hình Ba Cụt, tước hết binh quyền, tịch thâu tài sản. Luật sư Lê Ngọc Chấn đại diên cho Ba Cụt nộp đơn xin ân xá lên Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm. Tổng Thống Ngô Đình Diệm bác đơn xin ân xá cho Ba Cụt
Tiếp theo Luật Sư thay mặt Lê Quang Vinh nguyên là Trung Tá thực thụ và là Đại Tá giả định của quân đội quốc gia kể từ ngàỳ 14-1-1954 dưới thời Thủ Tướng Bửu Lộc. Xin cho Ba Cụt được xử bắn thay vì bị chém đầu. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng bác đơn. Đàng nào cũng chết, giữa chết chém. và chết bắn, chế độ Ngô Đình Diệm không có một chút tình người. Đừng nói chi đến nhân bản. Chẳng những thế, sau khi khi Ba Cụt bị chém., xác của Ba Cụt bị chặt ra làm ba khúc, bằm nát do tên đại úy Nhung cận vệ Dương văn Minh. Vậy thử hỏi lịnh bằm thây Ba Cụt như vậy do Dương văn Minh truyền lịnh lại cho đại úy Nhung thi hành. Lịnh đó từ đâu tới? Từ Bộ Tư Pháp, từ Bộ Quốc Phòng hay từ dinh Độc lập mà ra? Dù từ đâu đến thì chế độ Ngô Đình Diệm  cũng phải chịu trách nhiệm. Người ta có ba cách báo oán:  Dĩ đức báo oán / Dĩ ân báo oán / Dĩ oán báo oán.
Ông Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo quốc gia mà “ Lấy oán báo oán.” Thật thất sách vô cùng. Đáng lẽ ra Ngô Đình Diệm phải noi theo gương xưa. Khổng Minh còn tha chết cho Mạnh Hoạch bảy lần. Lưu Bang khi đem quân vào chiếm Hàm Dương rồi. Vua Tần là Trần Tam Thế tức Tử Anh đem dưng ngọc tỷ cho Lưu Bang, Lưu Bang chẳng những tha tội chết mà còn trọng thưởng. Khi Hạng Võ vào sau, bội ước xưng vua xứ Tần, bắt Tử  Anh ra chém. và chôn sống hơn 20 vạn hàng binh của nhà Tần. Nên ai nghe qua cũng sợ. Không dám về hàng Hạng Võ, tìm đến Lưu Bang mà hàng. Nên hào kiệt dưới trướng của Lưu Bang càng lúc càng đông.. Còn Hạng Võ người tài càng ngày càng xa lánh. Sau Hạng Võ bị bại dưới tay của Lưu Bang phải tự cắt đầu mà chết, là vì Hạng Võ không phải là người không có tài. Tại vì thiếu đức, quá hung hăng tàn bạo ưa chém giết. Nên hậu quả là thế. Thì Triều đại nhà Ngô cũng không tránh khỏi số phận hẩm hiu sau nầy như Hạng Võ là đúng.
Còn riêng ông Francis Lâm Lễ Trinh là biện lý thì có trách nhiệm lập biên xác nhận tội phạm có đúng là Ba Cụt hay không? Trước khi tử tội lên máy chém.. Nhiệm vụ kế tiếp của ông là khi tội phạm đã bị chém rồi, ông phải lập biên bản thực sự tội phạm đã bị chém. và đã chết rôi. Cuối cùng ông có trách nhiệm một trong hai là:
1. Một là giao xác chết của Ba Cụt cho thân nhân, gia đình để an táng
2. Hai là giữ xác của ông Lê Quanh Vinh gồm đầu và thân mình, gồm cả hai phần rồi đi an táng một chỗ nào đó. Theo phong tục tập quán Á Đông, người chết mất xác, không mồ mả gia đình rất đau lòng. Thủ tiêu xác chết lại trái với luân thường đạo lý làm người nữa.
Tại sao ông không làm một trong hai điều trên để cho đúng thủ tục luật pháp mà để xác của ông Ba Cụt cho đại úy Nhung chặt làm ba, rồi bằm ra như vậy. Chắc chắn lịnh nầy từ đâu đưa đến ông biết rõ. Tại sao giờ nầy ông không đám nói sự thật? Tại sao ông phải đi che dấu. Chắc chắn là ông có liên can đến vụ thanh toán xác chết Ba Cụt một cách sâu đậm? Nên sau nầy ông Lâm Lễ Trinh được thăng thưởng, về giữ chức vụ Bộ Trưởng bộ nội vụ dưới chế độ Ngô triều. Còn Dương Văn Minh lên trung tướng là lẽ dĩ nhiên phải có. Chẳng những thế mà ông còn rất được tín cẩn dưới chế độ Ngô Đình Diệm. Thật chế độ Ngô Triều nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà. Nuôi một tên cán binh Cộng sản có hai em là Nhựt và Sơn ( Sơn là đại tá cs) là cán bộ cao cấp có hàng chục năm tuổi đảng, đang hoạt động trong miền Nam. Nên khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm giao nhiệm vụ Tư Lịnh các chiến dịch Hoàng Diệu, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ, Thoại Ngọc Hầu để đánh Bình Xuyên, tiêu diệt các lực lượng võ trang của các đảng phái chánh tri và tôn giáo chống cộng ở miền Nam là đúng theo kế hoạch của Hà Nội mong muốn. Nên Dương Văn Minh ra hết sức làm để chẳng những lập công với chế độ Ngô triều mà cho cả Hà Nội nữa.  Mượn người quốc gia đánh người quốc gia, mượn súng của người quốc gia để tiêu diệt người quốc gia mà Hà Nội không tốn một viên đạn. Hà Nội bất chiến tự nhiên thành, bất tranh tự nhiên thắng. Đó mới thấy sự mưu kế thâm độc của Cộng sản Hà Nội là thế.
X. SỰ HẸP HÒI ÍCH KỶ CỦA NGÔ ĐìNH DIỆM LÀ KHỞI ĐIỂM NGUY HẠI CHO MIỀN NAM
Sự hẹp hòi ích kỷ của Ngô Đình Diệm và NGô Đình Nhu cùng bộ tham mưu của ông là nguyên nhân khởi đầu cho sự sụp đổ miềm Nam. Chế độ Ngô Đình Diệm mưu mẹo khôn vặt với người thuộc phe quốc gia để tiêu diệt họ thì giỏi. Nhưng đối với kẻ thù cộng sản thì quá tệ. Hay chỉ biết lo củng cố địa vị của mình mà quên đi kẻ thù chánh là Cộng sản. Nhưng lại tin dùng những tên phản tướng Dương văn Minh có hai  người em ruột là Dương Văn Nhựt và Dương văn Sơn là sĩ quan cấp tá, cán bộ đảng viên đảng Cộng sản. Đã xâm nhập về hoạt động ở miến Nam  Đôi khi về xâm nhập vào Sài gòn trong nhà của Dương Văn Minh. Phạm Ngọc Thảo tên cán bộ cao cấp của Cộng sản chỉ biết lấy lòng, tâng bóc cha Ngô Đình Thục mà đương nhiên được mang lon sĩ quan cấp tá, làm tỉnh trưởng ở Kiến Hòa, làm Giám đốc Tổng nha Bảo An.  Đại Tá Đinh Văn Đệ sau trở thành dân biểu quốc hội của đệ nhị Cộng Hòa. Cũng là cán bộ, tai sai của Cộng sản, nhưng cũng được chế độ Ngô Đình Diệm nô nức chiều chuộng và những tên Châu, Nhuận cũng thế. Ngoài ra còn có nhóm tình báo như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Vũ Hữu Duật, Nguyễn Xuân Hòe, Huỳnh Văn Đồng, bà Cả Nhiễm len lỏi trong chánh quyền có từ thời Ngô Đình Diệm. Hai tên Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh văn Trọng còn lọt được vào dinh Độc Lập thời Đệ Nhị Cộng Hòa.  Phạm Xuân Ẩn, hoạ sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành. V. V . Để cho chúng nó được hoạt động công khai, hợp pháp. Sau ngày 30-4-1975 mới lòi ra mặt chuột.
Kể từ ngày 7-7-1954 đến ngày 1-11-1963 là ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Không một đoàn thể đảng phái chánh trị hay tôn giáo nào thoát khỏi bàn tay nhuộm máu của chế độ Ngô Đình Diệm, thủ tiêu, bắt cóc hay hạ sát. Như Trung tá Đầy chồng của đào hát Út Bạch Lan ra hợp tác với chế độ đã lâu, cuối cùng cũng bị ám sát giữa ban ngày ở trung tâm huấn luyện Quang Trung (Quán Tre). Đặc biệt là giết tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt. Chẳng những không đem lợi ích gì cho chế độ mà còn làm mất lòng của khối tín đồ PGHH hơn 2 triệu người lúc bây giờ. Là những người câm hờn Cộng sản bởi những quá trình lịch sử đã qua giữa khối tín đồ PGHH với Việt Minh từ năm 1945 đến năm 1947 và dài dài về sau nầy nữa. Tại sao không khôn khéo để khai thác họ? Ân xá cho Ba Cụt. Biến Ba Cụt thành một chiến sĩ tiền phong chống cộng. Giết một Ba Cụt chẳng có ích lợi gì cho đất nước quốc gia dân tộc. Nếu ân xá cho Ba Cụt. Họ sẽ thấy sự rộng lượng khoan dung của chế độ mà hợp tác chặt chẽ với chánh phủ. Nếu giết Ba Cụt chỉ vì lòng tự ái hay răn de hoặc sợ ba Cụt sau nầy sẽ làm loạn, kéo vào bưng lần nữa? Nếu nghĩ như vậy là quá kém khuyết của một người lãnh đạo quốc gia có tài. Từ chỗ mất lòng đó đưa đến khối tín đồ PGHH bất hợp tác với chánh phủ. Mặc dầu họ không ưa gì Việt Cộng, không theo Việt Cộng. Nhưng khi Việt Cộng về hoạt động trong các thôn xóm của họ, phá cầu, phục kích, chụp đồn lính quốc gia. Tổ chức đường dây tình báo và kinh tài họ biết được cũng làm ngơ. Không chỉ điểm cho chánh phủ vì họ coi đó là không phải nhiệm vụ của họ. Đó là việc của chánh quyền. Vì thế các tổ chức nằm vùng của Việt Cộng ở miền Tây mỗi lúc một đông. Chúng thành lập các mật khu Đồng Tháp, Thất Sơn, U Minh thượng, U Minh hạ, dọc theo biên giới Việt Miên tràn lan khắp nơi. Riêng đối với Ba Cụt tôi không có lời nào để phân minh. Tôi chỉ xin được mạn phép mượn lời của luật sư Vương Quang Nhường nói về Ba Cụt:
“ Trong vòng từ 10 năm trời nay, nếu tại miền Tây này không có một Lê Quang Vinh vào sanh ra tử, hứng chịu mọi gian nan, thử thách để đương đầu với Cộng sản, thử hỏi nay thế lực của Cộng sản bành trướng như thế nào tại vùng đất phì nhiêu nầy? Cho đến dù ngày nay không được áo mũ xuênh xoang, mà chỉ là một bộ đồ bà ba vải đen ngồi đây hứng chịu bao nhiêu lời buộc tội. Dù không có quyền cao chức lớn, trước sau chỉ có cái ”Ba Cụt” mà Cộng sản nghe tới phải nể nang dè dặt, tôi có thể nói Lê Quang Vinh tự hào mà ngâm rằng: “ Ai công hầu ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai?”
Còn Ba Cụt thì tự biện hộ cho mình “Tòa Cộng Hoà xử tôi là trật rồi. Tôi ra mặt với Pháp để lấy súng Pháp đánh lại Pháp, đánh Cộng Sản mà. Còn đối với quân đội quốc gia chẳng qua tôi chỉ tự vệ mà thôi.”
Dù các luật sư hết lòng bào chữa như thế nào, Ba Cụt minh oan đến cách mấy đi chăng nữa thì ngày nay Ba Cụt đã hóa ra người thiên cổ rồi, đi vào quá khứ của dòng lịch sử dân tộc. Có một Ba Cụt “phản loạn” dưới chế độ Ngô triều. Sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm. Dù ba bản án tử hình của Ba Cụt dưới thời họ Ngô được hủy bỏ bởi phòng tái thẩm tòa Thượng Thẩm Đại Hình Sài Gòn vào ngày 17-3-1964 cũng chỉ là một sự muộn màng, có còn hơn không, đó chỉ là về mặt tinh thần. Còn thân xác của Ba Cụt đã tiêu tan, vùi sâu dưới ba tấc đất đã tám năm về trước. Dù sao đi chăng nữa đó cũng là một điều an ủi cho gia đình và lấy lại thanh danh cho Ba Cụt. Đến ngày 14-7-1964 lễ truy điệu lần đầu tiên cố Trung tướng Lê Quang Vinh được tổ chức trong thể tại Thốt Nốt, số người tham dự lên đến năm ngàn người. Tại thành phố Long Xuyên để tưởng nhớ Ba Cụt cũng có một công trường mang tên Lê Quang Vinh trước năm 1975.
XI. KẾT LUẬN:
Tuy ông Ngô Đình Diệm là người có công xây dựng nên nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Nhưng không vì thế mà ra tay một cách quá mạnh mẽ và thủ tiêu đối lập một cách quá tàn nhẫn như vậy! Việc thống nhất các lực lượng võ trang quân sư của các đoàn thể đảng phái chánh trị, tôn giáo về một mối là việc làm cần thiết. Không vì thế mà bắt được ai thì cứ ra tay hạ sát hay đưa họ ra tòa, mượn cây dù luật pháp mà giết họ đồng thời để che đậy tội lỗi của mình. Như trường hợp của tướng Lê Quang Vinh tự Ba Cụt. Hay họ đã trở về qui hàng rồi mà tiếp tục tìm cách giết họ bằng cách nầy hay cách khác như trường hợp tướng Trịnh Minh Thế, Nguyễn Bảo Toàn, Vũ Tam Anh, Hồ Hán Sơn, nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam phải dùng độc dược để quyên sinh và nhiều người khác nữa phải chết trong tức tưởi. Xây dựng một chế độ thì dễ, giữ vững một chế độ thì khó. Không gì qua là lấy đức để trị dân, lấy độ lượng mà chinh phục lòng người, lấy từ bi, bác aí để chăng dân như lời của Phật Chúa đã dạy. Rất tiếc là chế độ Ngô Đình Diệm quá say mê quyền lực nên quên hết bốn chữ người xưa thường nói “ Minh Đức Tân Dân.” Hay như cụ Nguyễn Cư Trinh đã nói: “Tu minh đức để mà tân dân. Tu tề gia để mà trị quốc.” Ông Ngô Đình Diệm không nhìn rõ hết sự viêc nên để cho các tay quyền thần dưới trướng qua mặt thi hành bá đạo. Chẳng khác nào xô người dân hướng về phía cộng sản hay họ bất hợp tác với chánh phủ. Cộng sản đâu dễ gì bỏ lỡ cơ hội để tuyền truyền, lôi kéo người dân về phía họ. Các tổ chức của họ ở miền Nam càng ngày càng phình to lên. Vùng đất kiểm soát của chánh phủ càng lúc càng thu hẹp lại. Kết quả cuối cùng là gia đình ông Ngô Đình Diệm phải nhận lãnh hết hậu quả vào ngày 1-11-1963. Đó cũng chính là nguyên nhân sơ khởi đưa đến sự sụp đổ chánh phủ Ngô triều, mất cả miền Nam Việt Nam vào ngày 30-4-1975. Làm cho mấy chục triệu người dân vô tội phải sống trong khổ nhục, bất công, bất hạnh dưới một chế độ độc tài đảng tri cho đến ngày hôm nay. Và biết bao nhiêu quân cán  chính miền Nam phải tù tội, lao động khổ sai, không ngày ra và một số uất hận, không chấp nhận đầu hàng Cộng sản phải quyên sinh.
Cuối cùng là sự giết Ba Cụt và những thành phần quốc gia chân chính không mang lại một sự ích lợi gì cho đất nước cả, trái lại còn gây thêm chia rẽ hận thù giữa những thành phần quốc gia với nhau. Trong lúc đất nước rất cần sự đoàn kết chặt chẽ để chống kẻ thù chung là Cộng sản.  “Nghêu cò tranh nhau ngư ông đắc lợi.” Sự thiếu sáng suốt đó còn mang đến một hậu vô cùng tai hại cho non sông đất nước dân tộc như ta đã thấy. Rất tiếc thay, tiếc thay. Sai một ly đi ngàn dặm.
Sau hết, bài nầy đưọc viết ra để soi rọi một sự thật đau lòng phũ phàng đã qua, khó quên, là đầu dây mối nhợ đưa đến sự sụp đổ miền Nam và cũng  để tưởng niệm đến các chiến sĩ, anh hùng dân tộc quốc gia, các nam nữ liệt sĩ đảng phái chính trị quốc gia chân chính, các tu sĩ của các tôn giáo chân chính nặng lòng với tiền đồ tổ quốc, quốc gia dân tộc đã phải chết oan uổng, tù tội dưới chế độ Ngô Đình Diệm và Cộng sản từ trước cho đến nay. Các chiến sĩ, nam nữ anh hùng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải hy sinh để bảo vệ sự tự do, hạnh phúc ấm no của người dân miền Nam cho đến hết ngày 30-4-1975 và những người nạn nhân của chế độ Cộng sản, vượt biên vượt biển, từ chối không chấp nhận sống chung cùng Cộng sản, phải bỏ mình trong rừng sâu núi thẳm hay ngoài khơi bể cả, đại dương mênh mông. Cầu nguyện cho tất cả mọi linh hồn và những người quá cố trong gia đình của Tổng Thống Ngô Đinh Diệm sớm được vãng sanh về miền Phật cảnh hay được hầu kề bên chân Nhan Thánh Chúa và Đức Mẹ Maria.
Phương Trúc: Nguyễn Hoài Ân
Mùa Thanks Giving ngày 25-11-2013

Bài này đã được đăng trong Tin Tuc Nội Bộ. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.