Hãy Nhớ Lấy Ngày Này: 30/4/1975

Thang Tu 75
Người VN tị nạn cộng sản nhớ đến ngày này (ngày 30/4/1975) là phải nhớ đến đám dân biểu, TNS đảng Dân Chủ đã cố gắng ngăn chặn người tị nạn từ Việt Nam vào Hoa Kỳ !!!

Một hồ sơ lịch sử cho thấy đảng Dân Chủ đã chặn những người tị nạn Việt Nam, bao gồm cả trẻ mồ côi, khi hàng triệu người đang cố gắng trốn thoát khỏi miền Nam Việt Nam khi nó rơi vào tay những người cộng sản từ phía bắc.

Nhóm này, dẫn đầu bởi Thống đốc California  Jerry Brown, bao gồm những người cấp tiến như Thượng nghị sĩ Dân chủ Joe Biden, cựu ứng cử viên  Tổng thống, ông George McGovern, và Nữ Dân biểu New York Elizabeth Holtzman.

Thời báo Los Angeles đưa tin Brown thậm chí đã cố gắng ngăn máy bay chở người tị nạn Việt Nam hạ cánh xuống căn cứ không quân Travis bên ngoài San Francisco.

Democrats Tried To Block Refugees From Vietnam From Entering The U.S.

A brief history lesson will show that the Democrats blocked Vietnamese refugees, including orphans, when millions were trying to escape South Vietnam as it fell to the communists from the north.. South Vietnam was our ally and we had little to nothing to fear from this group of people. The south Vietnamese weren’t beheading people, blowing themselves up, throwing homosexuals off buildings, and drowning people in steel cages.

As The Daily Caller reports, it was actually the Republicans who were leading the charge to help out the refugees. They even opposed orphans.

The group, led by California’s Gov. Jerry Brown, included such liberal luminaries as Delaware’s Democratic Sen. Joe Biden, former presidential “peace candidate” George McGovern, and New York Congresswoman Elizabeth Holtzman.

The Los Angeles Times reported Brown even attempted to prevent planes carrying Vietnamese refugees from landing at Travis Air Force Base outside San Francisco. About 500 people were arriving each day and eventually 131,000 arrived in the United States between 1975 and 1977.

These people arrived despite protests from liberal Democrats. In 2015, the Los Angeles Times recounted Brown’s ugly attitude, reporting, “Brown has his own checkered history of demagoguery about refugees.”

On Sunday The Gateway Pundit published an article which highlighted how liberal Democrats put Japanese-American citizens in interment camps after just one attack.

Follow Ryan Saavedra On Twitter @NewsRevoltRyan

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hãy Nhớ Lấy Ngày Này: 30/4/1975

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản_Hoàng Thị Tố Lang

Image result for nguyễn thị di tảnCHUYỆN MỘT NGƯỜI MANG TÊN NGUYỄN THỊ DI TẢN

* Hoàng Thị Tố Lang

Tên tôi là Nguyễn Thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.

Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời.

Tôi là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 44 năm qua…

Đã 44 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người Di Tản Buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ.. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:

“Chiều nay có một người đôi mắt buồn

Nhìn xa xăm về quê hương rất xa

Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha

Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa

Bạn ơi đó là người di tản buồn

Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau

Rồi đêm khuya hằn lên đôi mắt sâu

Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu

Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ

Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương

Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát

Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa

Chiều nay có một người di tản buồn

Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai?

Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu?

Và bao nhiêu nằm trong những lao tù?

Ở đây có những chiều mưa rất nhiều!

Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa

Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom

Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn

Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ

Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau

Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêu người đã khuất

Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi!”

Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi, mẹ đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác, các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ:
– Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc?

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói:
– Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao.

Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:

– Con là người gì?
– Dạ thưa con là người Việt nam
– Con tên gì?
– Con tên là Di Tản
– Con có yêu nước Việt Nam không?
– Con yêu Việt Nam lắm!

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường Tiểu Học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái Apartment (chung cư) mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt Nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.

Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về, tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi:
– “What is your name?” (Tên con là gì?)

Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”. Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “Your name is Đaithen”. Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.

Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không”. Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, tôi òa lên khóc và bảo:

– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con? Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải.

Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không?

Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của người Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.

Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
– Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi! Mẹ chỉ còn cái tên Việt Nam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không?

Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu được hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn mẹ, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ?

Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.

Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào High school (Trung Học) tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời mẹ. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp Mẫu Giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.

Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ hoắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”.. Cả lớp ồ lên một loạt “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:

– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.

Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặc đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.

Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây, Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.

Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ.

Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”.

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi lại đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản, Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.
Rồi mẹ tỉnh lại.
Mẹ biếng cười, biếng nói.
Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.

Ngoài giờ ở sở, về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ.

Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn Khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm”… v.v… và v..v…

Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.

Mẹ cười thật dễ thương.

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ, song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.

Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 44 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.

Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con: “Bố sung sướng lắm, con biết không? Con yêu dấu!”

Hoàng Thị Tố Lang

Nguồn: http://www.nguoivietdallas.com

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản_Hoàng Thị Tố Lang

Đêm Du Ca và Quốc Hận 30/4_Toán Phạm (YouTube)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đêm Du Ca và Quốc Hận 30/4_Toán Phạm (YouTube)

Dinh Độc Lập Ngày 30/4/1975_Võ Đăng Ngọc

Related imageDinh Độc Lập: ngày 30 tháng 4 năm 1975

VÕ ĐĂNG NGỌC

     Mặc dù đã hơn ba mươi ba năm trôi qua, nhưng cứ mỗi độ tháng tư trở lại, không ai bảo ai, muôn người dân của chế độ Việt Nam Cộng Hòa như một – không phân biệt thành phần dân quân cán chính; trong mọi hoàn cảnh dù nhọc nhằn sinh sống ở trong nước hay bôn ba nơi hải ngọai – đều có những phút giây bâng khuâng, bàn hoàn hồi tưởng về ngày 30 tháng 4 năm 1975 với biết bao kỹ niệm đau thương, tràn đầy nước mắt cùng những ngậm ngùi, xót xa và luyến tiếc cho chuỗi ngày tươi đẹp đã qua. Thật vậy, ngày 30 tháng 4 năm 1975 mà chúng ta thường gọi ngày quốc hận hay ngày mất nước là ngày mà cả miền Nam thân yêu của chúng ta rơi vào tay Cộng Sản. Ngày mà chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bị bức tử bởi bọn Cộng Sản miền Bắc xâm lược. Không những nền độc lập, tự do, dân chủ đã chết tức tưởi cùng chính thể Cộng Hòa mà cuộc sống ấm no, hạnh phúc của toàn dân miền Nam cũng bắt đầu sa sút thãm hại chết dần, chết mòn từ đó. Hệ lụy của ngày 30 tháng 4 năm 1975 đối với người dân Việt Nam Cộng Hoà quả thật hết sức nghiêm trọng, to tát và xót xa không bút mực nào tả xiết. Cá nhân tôi, hệ lụy của ngày này cũng đớn đau, chua xót không kém vì đã khiến tôi thành một người tù “cải tạo” gần 13 năm. Xác thân bị lưu đày từ Nam ra Bắc, chịu đựng những ngày dài lạnh lẽo, đói khổ ở tận Quảng Ninh, miền địa đầu tổ quốc: cô đơn trong gông cùm kềm kẹp ở Trại 5 Lý Bá Sơ, Thanh Hoá: cùng những nhọc nhằn, trăn trở trong chốn kiên giam cheo leo, heo hút nơi Trại Thanh Cẩm gần biên giới Lào Việt.. Thật vậy, ngày 30 tháng 4 năm 1975 này vĩnh viễn hằn lại một ấn tượng sâu đậm khó quên trong ký ức tôi dù ngày dài năm tháng. Sở dĩ khó quên vì sáng ngày 30 thàng 4 năm 1975, chính tôi lại là một trong những chứng nhân hiếm hoi đã hiện diện trong Dinh Độc Lập chứng kiến những giây phút lịch sử sang trang quá đớn đau cùa miền Nam Việt Nam thân yêu. Tôi xin ghi lại trung thực những giờ phút lịch sử ấy nhằm góp phần khôi phục sự thật khách quan đã bị bộ máy tuyên truyền gớm ghiếc của Cộng Sản trắng trợn xuyên tạc cũng như từ đó có thể rút ra một bài học lịch sữ nhớ đời cần thiết cho những người vẫn hằng quan tâm đến nền tự do, dân chũ cho đất nước quê hương và dân tộc Việt Nam.

      Chúng tôi đến dinh Độc Lập sau 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tình hình lúc bấy giờ tương đối yên tỉnh và vắng vẻ vì ít người qua lại trong dinh. Được biết trước đó không lâu, một số anh em binh sĩ và sĩ quan thuộc lưc lượng Lôi Hỗ đã đến tập họp ở sân cỏ, trong vòng rào sắt, nằm ở mặt tiền dinh, với ý định quyết tử thủ cùng Cộng quân đến giọt máu cuối cùng. Nhưng vì phải tuân lệnh buông súng của thượng cấp, số anh em binh sĩ này chuyển ý và định dùng lựu đạn tự sát tập thể. Sau khi chất vấn và được Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, với tư cách Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng, giải thích, số quân nhân Lôi Hổ này đã bất mản tự ý bỏ đi. Chiếc trực thăng ứng trực, duy nhất và sau cùng cũng vừa được lệnh của Tổng Thông Dương văn Minh cho di tản và đã cất cánh bay đi.

            Trung Tá Chánh Văn Phòng của Tổng Thống Minh cũng cho biết thêm là đất nước hiện đang trải qua một tình huống thật hết sức nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thê thảm. Các Tướng lảnh cũng như các Đơn vị trưởng quân đội cấp trung ương hầu như không ai có mặt tại đơn vị. Ngay như Tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu Trưởng vùa được chỉ định bởi Tổng Thống Minh, cũng đã được Mỹ bốc đi đêm qua.

            Vào khoảng 11 giờ sáng, Thủ Tướng Vũ văn Mẫu đuợc đoàn mô-tô hộ tống đưa vào dinh để gặp Tổng Thống Minh. Trong phòng khánh tiết bên cánh trái dinh Độc Lập lúc này cũng khá đông, trên dưới ba mươi người, mà tôi còn nhớ một ít vị là thành viên nội các cũ như các ông Nguyễn văn Hảo, Nguyễn văn Diệp, Chủ Tịch Giám Sát Viện Bùi Hòe Thực, một số thành viên thuộc nội các Vũ văn Mẫu như các ông Bùi Tường Huân, Bùi Thế Dung, Lý Quý Chung, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh và một số sĩ quan, binh sĩ tùy tùng.

            Chừng mấy mươi con người tập trung tại đây, mặc dầu có mục đích, suy nghĩ cá biệt nhưng nói chung mọi người đều an lòng chờ đợi một biến cố quan trọng đang đến sẽ quyết định cho số phận cá nhân mình cũng như cho vận mệnh tương lai của đất nước thân yêu. Thật sự, cho đến giờ phút này bao nhiêu con người ấy, kể cả Tổng Thống Minh, Thủ Tướng Mẫu đều không biết được rồi đây sự việc sẽ diễn biến như thế nào, tắm máu hay không, một khi Cộng quân tiến vào Dinh Độc Lập, nơi tập trung đầu nảo cuối cùng của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà.

            Trong lúc mọi người đang chờ đợi, Phó Tổng Thống Nguyễn văn Huyền đi vào vừa nói lời xin lổi vì đến trê. Ông cho biết đúng ra đã đến sớm hơn, nhưng vì bị kẹt xe nên không thể đến đúng giờ như đã hứa được. Có một chi tiết nhỏ mà tôi thấy cũng nên đề cập đến trong khoảng thời gian nầy là khi đi vệ sinh, tôi có gặp Chuẩn Tướng Hạnh, người duy nhất còn mặc quân phục bộ binh Việt Nam Cộng Hòa, màu ô-liu với một ngôi sao trắng năm cánh đính trên cổ áo. Tôi hỏi: “Thiếu Tướng có thường phục không? Nếu có thì nên mặc thường phục vì khi Việt Cộng vào có thể họ sẽ lăng nhục bộ quân phục của chúng ta.” Sau đó, tôi thấy Chuẩn Tướng Hạnh đã thay thường phục và khi vào phòng vệ sinh tôi thấy bộ quân phục nằm dưới sàn gạch ở góc phòng và ngôi sao bạc trên cổ áo đã được tháo gở đi.

            Đến khoảng hơn 12 giờ trưa, hai chiếc xe tăng mang cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam theo đại lộ Thống Nhất lao vào, ủi sập cổng sằt phía trước và tiến vào sân dinh. Một nhóm Cộng quân, chừng năm, sáu tên mặc quân phục không đeo cấp bậc, trang bị vũ khí cá nhân chạy lên những bậc thang ở tiền đình, tiến vào dinh. Khi vào đến bên trong, tên đi đầu, có vẻ là tên chỉ huy, tay cầm súng ngắn chỉa thẳng vào nhóm chúng tôi đang đứng đợi ở hành lang, điệu bộ rất hung hăng, hách dịch quát hỏi:”Thằng nào là Dương văn Minh”. Tướng Minh bước ra khỏi đám đông, trả lời:”Tôi đây, chúng tôi đang chờ các anh đến để nói chuyện.” Tên cầm súng ngắn với thái độ trịch thượng, bước nhanh tới, một tay chộp áo Tướng Minh, tay kia cầm súng ngắn chỉa thẳng vào ngực Tướng Minh và bảo:”Không có nói chuyện gì cả”. Tướng Minh rất điềm tỉnh, ôn tồn trả lời:”Từ từ, chúng tôi chờ đợi các anh ở đây mà.” Trước sự điềm tỉnh của Tướng Minh, tên cầm súng bớt hống hách, dịu đi phần nào, liền buông tay ở ngực áo Tướng Minh xuống. Ngay lúc đó, một tên lính Việt Cộng khác, tay cầm cây cờ Mặt Trận Giải Phóng, chạy đến hỏi có ai biết đường đưa hắn lên nóc dinh để cắm cờ. Nếu tôi nhớ không lầm thì dường như Đại Tá Chiêm, Chánh Võ Phòng của Tổng Thống Thiệu, người rành địa thế trong dinh nhất trong số những người có mặt lúc bấy giờ, đã phải hướng dẫn tên lính lên nóc dinh cắm cờ. Trong khi đó, Tướng Minh hỏi tên cầm súng ngắn:”Tôi muốn gặp người chi huy các anh.”. Tên cầm súng gằn giọng: ”Không có ai để gặp cả, chúng tôi là kẻ chiến thắng.” Sau đó, hắn bảo tất cả chúng tôi đi vào căn phòng lớn kế bên ngay tầng hai và chỉ thị là không ai đựơc ra khỏi phòng, nếu muốn đi vệ sinh hoặc uống nước phải báo cáo với hai tên bộ đội gác ở phía ngoài.

            Gian phòng, khá rộng cho trên dưới ba mươi người chúng tôi, tọa lạc ở tầng hai, bên cánh trái dinh Độc Lập cách hành lang giữa và đối diện với phòng làm việc của Tổng Thống Thiệu nằm bên cánh mặt. Trừ tấm vách cuối phòng bên trái, phần còn lại toàn bằng khung kính trong suồt có màn phủ chung quanh. Nghe nói đây là phòng họp nội các hay phòng khánh tiết gì đó. Tuy bị giữ ở trong phòng, nhưng chúng tôi rất thoải mái, kẻ ngồi trên ghế, người nằm dài trên thảm. Nhóm này tụ tập nói chuyện ồn ào, nhóm khác ngồi hoặc nằm trầm ngâm, suy tưởng. Khác với mọi người, ông Nguyễn văn Hão lân la ra phía hành lang giữa gợi chuyện cùng tên cán binh Việt Cộng đứng gác. Tên cán binh này rất trẻ, mặt non choẹt, mặc quân phục, không cấp bậc và đeo khẩu AK trên vai, nói giọng miền Bắc. Tôi còn nhớ nội dung cuộc đối thoại giữa hai người đại khái như sau, xin kể ra đây để quý vị đôc giã cùng thưởng thức nghệ thuật nói láo của Vẹm:
– Anh ở ngoài Bắc vào?
– Đúng vậy.
– Trước khi đến đây, anh có đi ngang quaThủ Đức không?
– Có.
– Thế anh có thấy nhà máy biến điện thật lớn ở Thủ Đức không?
– Có.
– Thế ở ngoài Bắc, các anh có nhà máy biến điện như thế không?
– Thiếu chi, cứ vài trăm mét là có một cái.
Thế đấy, đó là lần đầu tiên mà chúng tôi được biết sự nghiệp giáo dục cao qúy của Bác và Đảng đã khéo dạy cho các cháu thiếu niên miền Bắc tài nói …láo thật là siêu việt.

            Đến khoảng 3 giờ chiều, bầu không khí trong phòng vẫn yên tỉnh vâ trầm lắng vì cho đến giờ phút này vẫn chưa có người nào bên đối phương đến tiếp xúc cả. Thình lình, cả tòa nhà bị rung chuyễn do những tiếng nổ chát chúa khá lớn và rất gần, không thể phân biệt được do đạn pháo kích hay tiếng bom do phi cơ oanh kích. Đang lúc chúng tôi còn hoang mang, không biết việc gì xảy ra, một cán binh Việt Cộng, mặc quân phục nhưng không đeo cấp bậc, bước vào phòng hỏi: “Có ai biết hầm trú ẩn trong dinh ở đâu? Hảy đưa tất cả các anh ở đây tạm thời xuống đấy lánh nạn.” Có tiếng trả lời:”Không biết hầm trú ẩn, nhưng có biết một tầng hầm”. Thế là chúng tôi được hướng dẫn bởi một vị nào đó mà tôi không nhớ rỏ là ai trong chúng tôi, đi xuống tầng hầm. Tuy nói là tầng hầm nhưng thật ra đây chỉ là một gian phòng nhỏ, kích thước mỗi bề khoảng năm thước, nằm dưới mặt đất, bên cánh mặt, liền ngay phía sau dinh và được dùng làm nơi chứa vật dụng cá nhân của các quân nhân thuộc đơn vị bảo vệ Tổng Thống Phủ. Sở dỉ chúng tôi suy đoán như thế là nhờ có những ngăn tủ bằng cây dựng chung quanh vách phòng cùng những áo quần và lương khô vương vãi trong phòng. Vì phòng này tương đối hẹp và nóng nực do không có máy điều hòa không khí nên chúng tôi phải chen chúc nhau, kẻ ngồi người nằm, một vài người còn cởi áo ngoài chỉ mặc đơn độc chiếc áo thun. Tướng Minh trầm ngâm ngồi tựa lưng vào cửa ngăn tủ, còn ông Hảo chỉ mặc áo thun và nằm dài trên sàn gạch. Mọi người đều đinh ninh đây là phòng giam mà bọn Việt Cộng dành cho chúng tôi sau khi chúng bắt giữ được hầu hết những thành phần lảnh đạo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa còn nán lại ở Sàigòn. Nhằm làm giảm bớt phần nào căng thẳng, một vài người nghịch ngợm lục lọi các ngăn tủ không khóa, bắt gặp vài bao gạo xấy khô hay một vài bao mì ăn liền. Thế là chúng tôi phân phát và chia nhau những mẫu mì khô nho nhỏ nhai cho vui miệng và chờ thời gian trôi qua. Tuy nhiên, trái với những suy nghĩ của chúng tôi, đến xế chiều chúng tôi lại được đưa lên trở lại phòng khánh tiêt trên tầng hai. Trên đường trở lại phòng khánh tiết, chúng tôi có hỏi dò xem lý do tại sao lại có những tiếng nổ đó và được tên cán binh trả lời ngắn gọn và qua loa là: “quân ta bắn nhầm, không có chi.”

            Đến tối khuya, chúng tôi, ngoại trừ các ông Minh, Huyền, Mẫu cùng thân nhân bị giữ ở lầu ba, được đưa xuống phòng ăn để dùng cơm tối. Người đưa chúng tôi đến phòng ăn, như anh ta tự giới thiệu là Thượng Sĩ Mười, tài xế của Tổng Thống Thiệu và là Việt Cộng nằm vùng. Phòng ăn này khá lớn, chiếm nguyên cánh mặt của tầng một, là nơi dành để chiêu đải quan khách của Tổng Thống Thiệu. Khi chúng tôi bước vào, việc đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là một chiếc bàn lớn, dài nằm giữa và chiếm gần hết căn phòng với hai dãy ghế chạy dài hai bên. Chiếc bàn được phủ bằng một chiêc khăn trải bàn trắng rầt sang trọng, bên trên muổng, niã, và diã ăn đã được bày sẳn. Cơm và thức ăn cũng đã được dọn sẳn trong những tô lớn và diã bàn lớn. Nói chung, cách thức trang hoàng và trình bày cho bửa ăn rất là hào nhoáng và sang trọng, nhưng phần thức ăn thì trái ngược vì chỉ toàn là mỗi cơm hẩm và cá khô mốc mà thôi. Được Thượng Sĩ Mười cho biết đây là nổ lực của anh ta và các nhân viên, binh sĩ cũ đến trình diện trong ngày đã dùng những hàng tồn kho kiếm được trong dinh nấu nướng để “đải các ông thầy”. Sau bửa ăn chúng tôi lại được đưa trở lên phòng khánh tiết ở tầng hai để qua đêm.

            Sau khi trở lại phòng khánh tiết, như đã nói ngoại trừ quý ông Minh, Huyền, Mẫu và thân nhân của ông Minh vẫn bị giữ ở tầng lầu ba, mỗi người chúng tôi liền tự động tìm chỗ nghĩ ngơi cho mình. Rải rác đây đó, người thì nằm trên ghế dài hoặc ngay trên thảm, kẻ thì ngồi trên ghế, người thì vẫn mặc nguyên áo quần, kẻ thì chỉ mặc áo thun hoặc ở trần. Chỗ này tập họp năm ba người ngồi nói chuyện vớ vẩn, góc kia vài ba người nằm riêng rẽ, suy tư chờ giấc ngủ qua đêm. Bên ngoài phòng vẫn túc trực hai cán binh Việt Cộng với khẩu AK trên vai đứng canh gác. Vì phòng vệ sinh và máy nước uống nằm bên ngoài phòng khánh tiết, nên mỗi khi có người nào trong chúng tôi cần đi vệ sinh hay uống nước thì phải báo cáo với một trong hai cán binh trên. Suốt đêm tuyệt nhiên không một người lạ nào bước vào phòng phiền nhiễu chúng tôi cả.

            Hôm sau nhằm ngày lể Lao Động mồng 1 tháng 5, nhưng buổi sáng tình hình ở đây vẫn yên lặng và không có gì. Thỉnh thoảng xuất hiện một vài cán binh Việt Cộng, mặc quân phục xanh lá cây, có vẻ là cấp chỉ huy nhưng không đeo cấp bậc, đến đứng bên ngoài cửa kính nhìn vào và nói chuyện với những người tháp tùng rồi đi mất.

            Mãi đến khoảng 10 giờ sáng, một cán binh bộ đội bước vào phòng hỏi chúng tôi về việc ẫm thực. Anh cho biết có ba giải pháp về việc ăn trưa và chiều cho ngày hôm đó mà chúng tôi phải chọn một:
– thứ nhất là gia đình mỗi người chúng tôi sẽ được thông báo để mang thực phẩm đến.
– thứ hai là chúng tôi phải xuất tiền túi và họ sẽ cử người đi mua thức ăn ở những tiệm gần đó.
– thứ ba là họ vẫn cung cấp bửa ăn cho chúng tôi, nhưng giống như tối hôm qua, chỉ là cơm hẩm và khô mốc mà thôi.
Sau khi bàn thảo, chúng tôi đã đi đến quyết định chung là chọn giải pháp thứ nhất, thông báo gia đinh mang phần ăn đến cho chúng tôi. Sở dĩ chúng tôi chọn giải pháp này vì nó đáp ứng được nổi lo âu chung là muốn thông báo đến gia đình là mình vẫn còn sống. Thế là chúng tôi mỗi người tìm một mảnh giấy để viết điạ chỉ của minh rồi gom lại chuyển cho tên cán binh.

            Một lúc sau, tên cán binh trở lại và phổ biến quyết định mới nhất là vì không đũ người đi đến từng gia đình để thông báo nên chúng tôi phải đưa tiền để họ đi mua thức ăn. Biết được đây cũng chỉ là mưu ma chước quỹ của Việt Cộng nên chúng tôi không thắc mắc gì, cùng nhau chung tiền lại để họ đi mua thức ăn. Một lúc sau thức ăn được mang về gồm bánh mì, thịt nguội và bánh ngọt. Lần này, thay vì được xuống phòng ăn, Thuợng Sĩ Mười cho người quét dọn và lau sạch sàn gạch của hành lang phía sau phòng khánh tiết và bày thức ăn trên sàn cho chúng tôi tự dùng. Khi “bửa ăn” gần xong, ông Minh thình lình xuất hiện, đi về phía chúng tôi và hỏi có còn thức ăn không vì các cháu bé trên lầu đói lắm. Nhân tiện, tôi có hỏi ông tình hình có biến chuyển mới lạ gì không, và được trả lời vẫn không có gì thay đổi vì đến lúc bấy giờ phía đối phương cũng vẫn chưa ai đến gặp ông cả, và đó là lần gặp gở và tiếp chuyện sau cùng giữa ông Minh và tôi. Sau đó, chúng tôi gói ghém và trao những thức ăn và bánh ngọt chưa dùng cho ông ta mang lên lầu để các người bị giữ trên ấy dùng bửa.

            Rồi một ngày và một đêm nữa lại trôi qua, tình hình vẫn yên tĩnh và không có gì mới lạ xãy ra. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 2 tháng 5, từng người một trong chúng tôi lần lượt được “mời đi làm việc”và được trả tự do liền sau đó. Khi được “mời đi làm việc” vào khoảng 11 giờ, tôi được hướng dẫn đến gặp một cán binh Việt Cộng, mặc quân phục không đeo cấp bậc, ngồi chờ sẳn tại bàn làm việc của nguyên Tổng Thống Thiệu. Hắn không xưng tên họ cũng như cấp bậc hay chức vụ, chỉ hỏi tên họ và địa chỉ của tôi rồi điền vào những khoảng trống trên một mảnh giấy đánh máy, kích thước nhỏ bằng bàn tay và trao cho tôi rồi bảo tôi có thể đi về nhà. Nếu tôi nhớ không lầm thì mảnh giấy này có nội dung là chứng nhận đã trình diện và do Cao Đăng Chiếm ký thay mặt Uỹ Ban Quân Quản Thành Phố.

                Dù tôi đã cố gắng ghi lại toàn bộ và khách quan những sự việc xảy ra vào giây phút lịch sữ khổ đau này, nhưng với chuổi thời gian hơn ba mươi ba năm qua, chắc hẳn bài viềt này cũng không tránh khỏi sai sót, do đó mong quý độc giã tha thứ cho. Ngoài ra, vì muốn giữ tính trung thực cho bài viết, tôi đã mạo muội nêu danh tánh của một số quý vị mà tôi không thể liên lạc để xin phép trước. nhân đây tôi cũng xin quý vị ấy niệm tình thứ lổi. Ước mong lớn nhất của tôi là được quý vị đã cùng tôi hiện diện vào những giây phút lịch sữ đen tối này sửa sai và bổ khuyết cho bài viết thêm phần toàn vẹn; cùng nhau góp phần khiêm tốn vào công cuộc khôi phục lại sự thật cho lịch sữ, đánh đổ những xuyên tạc chánh trị bất chính cũng như giúp những người thật sự còn quan tâm đến tiền đồ dân tộc và đất nước có thể rút ra một bài học hữu ích cho việc quang phục lại quê hương Việt Nam mai sau.
Los Angeles, Tháng 9/2008
Võ Đăng Ngọc

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Dinh Độc Lập Ngày 30/4/1975_Võ Đăng Ngọc

Gặp nhau thêm lần nữa

Mời các bạn xem lại Video nầy Vinh thực hiên năm 2014. Bây giờ nhì lại thấy có vài bạn đã bỏ chúng ta đi rồi.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Gặp nhau thêm lần nữa

Video Tang Lễ Anh Hùng Lý Tống

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Video Tang Lễ Anh Hùng Lý Tống

Tên Việt kiều phản động_FB Son Nguyen

HinhTên Việt kiều phản động

(FB Son Nguyen/Germany): Ngồi trên chuyến bay từ Mã lai về Đức. Trong chuyến bay, ngồi chung hàng ghế với một cán bộ cs. Ông ta tự giới thiệu là cán bộ đi công tác.“ Vì là người Việt Nam, và tánh tôi hay thích tìm hiểu nên mới trò chuyện. Trông điệu bộ ông cán này tỏ ra là người có hiểu biết trong xã hội chủ nghĩa cs. Hay xưng bác và tôi. Bác đi du lịch đó hả, bác làm cơ quan nào? Tôi trả lời không , tôi đi thăm người thân ở Úc, máy bay ghé qua Mã Lai rồi về Đức, tôi hiện nay sống ở Đức. Ông ta nói. À thế bác là Việt kiều. Tôi nhanh miệng nói. Vâng Việt kiều yêu nước, để coi ông ta nói gì. ( Việt kiều yêu nước là những người sống ở nước ngoài nhưng làm tay sai cho cs) Ông ấy nói thì ra không phải là Việt kiều phản động. Tôi cười và nói, Việt kiều phản động là sao vậy ông? Ông ta trả lời bác có biết họ là một lũ ngụy đánh thuê cho thằng Mỹ, bị quân dân ta đánh một trận sấm sét cho Mỹ chạy ngụy nhào, rồi bỏ chạy ra nước ngoài, quay lại đánh phá nhà nước ta. Tôi chỉ nói, họ có đánh gì đâu, súng ống đâu mà đánh? Ấy bác không biết, súng ống làm gì mà đánh lại quân dân anh hùng ta. Chúng đánh phá là hô hào, viết và nói xấu đảng ta trên Internet đó.

Tôi nói họ nói đúng thì đảng phải biết sửa chữa chứ. Tôi có đọc, thấy họ nói cán bộ đảng viên hiện nay ăn hối lộ, họ nói đúng, thì thế nào là phản động? Họ nói miền bắc nghèo đói, miền nam giầu sang, vào miền nam ăn cướp mà gọi là giải phóng. Tôi nghĩ cái đảng csvn chỉ vì qúa ngu lại thích làm anh hùng, thích chiến thắng, nên đã đánh mất đi một cơ hội lớn để xây dựng Nước Việt Nam sau chiến tranh do hiệp định đình chiến ký tại Paris. Là xây dựng và tái thiết Việt Nam sau chiến tranh tàn phá. Đảng có nói cho ông biết không?

Ông ta nhìn tôi có vẻ tức tối và nói bác láo thật, nếu bác nói là đảng ta ngu, thì tất cả trí thức và nhân dân miền nam còn ngu hơn đảng. Tại sao họ nghe theo đảng, và cùng với đảng đứng lên để giải phóng miền nam. Những người trí thức như BS Dương Huỳnh Hoa, Bs Huỳnh Tấn Mẫn v…v…

Tôi nói họ không phải là những người Trí Thức. Ông lầm rồi. Họ là những người khoa bảng. Ông ta hỏi khoa bảng là gì? Tôi trả lời là những người có bằng cấp cao. Ông nói thì bằng cấp cao là người trí thức. Tôi nói không. Người Trí Thức phải có hội đủ 3 điều kiện ắt có và đủ để trở thành người Trí thức là Bằng cấp cao và kiến thức sâu rộng cùng với Đạo đức tốt. Có đủ 3 điều kiện này mới trở thành người Trí Thức.

Ông ta hỏi kiến thức là cái gì? Tôi cười và nói là người thấy sâu hiểu rộng, người từng trải trong cuộc sống, đi đó đây để tự học hỏi và tìm hiểu tra cứu, tự tìm hiểu về khoa học kỹ thuật, văn hóa xã hội, Nghệ thuật v…v…

Bác nói lung tung qúa, người có bằng cấp cao là họ biết hết tất cả. Tôi nói ông lầm rồi. Họ học cái nghành nghề của họ mà thôi, để có bằng cấp đi làm. Nếu họ về hưu thì bằng cấp ấy cũng hết gía trị.
Tôi mới chứng minh cho ông ấy biết là:

Nếu người có bằng cấp cao mà không có kiến thức và Đạo đức. Thì ông biết người đó như thế nào không?

Người đó hay tự phụ, và tự cao và coi ta đây là người học cao, nếu có quyền chức thì xem những người khác không ra gì. Thích thị uy và đánh đập người khác, ăn hối lộ. Ám hại người nếu chống lại.
Còn người có bằng cấp cao, mà lại có kiến thức rộng mà không có Đạo đức. Loại này ỉ vào mình học cao hiểu rộng , nên rất khôn khéo biết luồn lách pháp luật để làm những điều gian ác. Nếu có chức phận quyền hành thì xảo quyệt, lưu manh, hại người.

Còn loạn người có bằng cấp cao, có Đạo đức tốt mà không có kiến thức sâu rộng. Là những người hay bị kẻ khác dụ dổ như. Bs Huỳnh Tân Mẫn, Bs Dương Huỳnh Hoa v..v… Vì thiếu kiến thức rộng nên không phân biệt được đâu là tà, đâu là đúng và đâu là sai.

Còn một loại này nữa. Là người không bằng cấp, không đạo đức chỉ có kiến thức nhưng không cao, không sâu, và không rộng. Thứ này rất nguy hiểm. Là hồ chí minh., khôn vặt, lém, láo cá. xảo quyệt.
Ông ta không nghe nữa, bỏ đi chỗ khác, tìm chỗ có ghế trống ngồi. Sau khi nghe người tiếp viên nói đã tới Đức, xin đừng tháo giây an toàn chờ máy bay ngừng hẳn…… Rồi mới thấy ông ấy tới lấy hành lý và thòng theo một câu. Nếu mà mày ở Việt Nam tao sẽ cho mày nhừ xương, và ở tù không có ngày ra. Thằng Việt kiều phản động.

Nguyễn Sơn Germany.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tên Việt kiều phản động_FB Son Nguyen

SAO KHÔNG “BẾ” NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH_Nam Lộc

SAO KHÔNG “BẾ” NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH

Nam Lộc

Tôi nhận được bài viết có tựa đề “Thượng nghị sỹ Mỹ kể về cái hôn bất ngờ ở Việt Nam và câu chuyện khiến Tổng thống Bush rơi nước mắt” do một người bạn trẻ ở Houston, Texas chuyển lại kèm theo lời nhắn dễ mến của cô: Câu chuyện cảm động quá chú ơi!

Đọc xong bài viết nói trên với cuộc phỏng vấn TNS Patrick Leahy, do tờ báo điện tử Trí Thức Trẻ ở trong nước thực hiện, nhân chuyến đi công tác tại Nam Hàn và VN của một phái đoàn TNS lưỡng đảng hôm đầu tháng Tư vừa qua, quả thật tôi cũng vô cùng “xúc động”, nhưng rất tiếc là nó hoàn toàn khác biệt với nỗi xúc động của cô cháu gái, khi nói về hành động biết ơn của một người đàn ông tàn tật, què quặt, lê lết hơn nửa đời người, giờ mới nhận được “chiếc xe lăn”, hỏi sao mà ông ta không ôm chầm vị ân nhân để “hôn”!

Thế nhưng, có lẽ cô cháu tôi còn quá trẻ, lại sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ, nơi mà lòng nhân đạo thật chan chứa. Nơi mà tình người được thể hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào. Và cũng là nơi mà người ta ôm nhau hay hôn nhau để cám ơn là chuyện tự nhiên và thường tình. Còn câu chuyện mà tờ báo điện tử ở VN tường thuật lại, rõ ràng chỉ là một màn đóng kịch rẻ tiền được nhà cầm quyền VN dựng lên để “lấy nước mắt” vị TNS cao niên nhất tại quốc hội HK hiện nay trong một buổi trao tặng tiền bạc và xe lăn cùng bao dụng cụ y khoa cho những người khuyết tật do nhà nước tổ chức!

Related imageTại sao tôi lại gọi đây là một màn đóng kịch rẻ tiền? Bởi vì phong cách xã giao của người Việt ít khi có chuyện “ôm hôn” người chưa quen! Nhất là “nụ hôn” ấy lại đến từ một người nông dân, què quặt vì đạp phải mìn, và lại càng không thể là hành động của một anh bộ đội quê mùa và hủ lậu. Tuy nhiên để đánh động lòng từ tâm của những người Mỹ giầu lòng nhân đạo, chắc chắn là nhà nước CSVN đã sắp đặt vở “bi kịch” này, và dù thật là buồn cười, nhưng nó đã thành công! Bằng cớ là “Quỹ Nạn Nhân Chiến tranh Patrick Leahy”, cộng với ngân khoản tài trợ trong cùng mục đích đó đã lên đến hàng trăm triệu dollars kể từ khi ngài TNS và người phu nhân y tá đầy lòng nhân ái thành lập từ năm 1989, tức là từ 30 năm về trước!

TNS Patrick Leahy là người chưa bao giờ cầm súng chiến đấu, nên ông xem chiến tranh là một điều gì khủng khiếp và “nạn nhân chiến tranh” là những người đáng thương nhất trên cuộc đời này. Chính vì thế nên khi người đàn ông tàn tật nhận được chiếc xe lăn do quỹ trợ giúp mang tên TNS Leahey trao tặng, ngỏ ý nhờ ông “bế” lên xe, rồi kéo cổ xuống hôn, thì hỏi sao mà ông không rơi nước mắt? Không những chỉ mình ông Leahy mà cả ngài TNS John Glenn cũng được một người đàn ông tàn tật VN khác…“ôm hôn”! Khiến cho Tổng Thống Bush khi nghe được câu chuyện này thì ngài cũng …khóc!Image result for thương phế binh VNCH

Đọc xong bài phỏng vấn trên, thì chính tôi cũng…khóc. Tôi khóc vì sự vô tình của những người “bạn đồng minh Hoa Kỳ” của chúng tôi! 30 năm qua, kể từ ngày thành lập ngân quỹ đó, đã bao lần ngài TNS Mỹ và các phái đoàn nhân danh Quỹ Nạn Nhân Chiến tranh Patrick Leahy, cũng như của Cơ quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) mang tiền bạc và xe lăn, như nguyên văn bài báo viết “Chính phủ Hoa Kỳ đã đóng góp hơn 100 triệu đô la cho các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam. Trong hơn 30 năm qua, hỗ trợ của USAID đã giúp cải thiện cuộc sống cho hàng trăm ngàn người khuyết tật Việt Nam…”! Thử hỏi trong số hàng trăm ngàn người đó có bao giờ họ nghĩ đến hoặc gởi tặng một đồng xu hay chỉ một cái bánh xe lăn cho người bạn đồng minh của mình, đó là các Thương Phế Binh QLVNCH, những người “khuyết tật”, mà khi còn lành lặn họ đã cầm súng chiến đấu sát cánh bên cạnh quân đội Hoa Kỳ, để bảo vệ tiền đồn cho thế giới tự do? Nhà cầm quyền CSVN đã giấu trọn ngân quỹ này và chỉ lo cho bộ đội của họ, đảng viên của họ hoặc những người CS, chẳng may bị tàn tật, nhưng không phải vì chiến tranh!

Sau tháng Tư, 1975, hơn nửa triệu TPB/VNCH đã bị nhà nước CSVN cố tình quên lãng, bỏ rơi, những người tàn tật không có đến cả đôi nạng để mang, bao năm tháng sống lê lết cuộc đời. Nhiều vị chịu bệnh hoạn do các vết thương chiến tranh gây ra đã lần lượt qua đời. Hơn 44 năm qua, kể từ khi chiến tranh chấm dứt, cả hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam đều không hề có một chính sách hay chương trình nào giúp đỡ họ, dù từ các ngân quỹ công cũng như tư. Niềm an ủi duy nhất là sự trợ giúp khiêm nhường từ các đồng hương của họ nơi xứ người. Và chuyện này cũng chỉ vừa được chú tâm từ hơn 10 năm qua, vì trước đó những người tỵ nạn vẫn phải lo ổn định cho cuộc sống của chính họ và gia đình!

Nhưng trách người thì cũng phải nghĩ đến ta! Có thể TNS Patrick Leahy không biết đến điều này, có thể Cơ quan Phát Triển Quốc Tế HK cũng chẳng nghe ai nói đến sự đối xử bất công của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN nhằm vào các cựu quân nhân thuộc “chế độ cũ”! Thế nhưng tại sao chúng ta lại không nhắc nhở những người có trách nhiệm điều hành các ngân quỹ hoặc các chương trình trợ giúp nói trên? Tại sao các hội đoàn cựu quân nhân, các ban đại diện cộng đồng người Việt ở khắp mọi nơi, các tổ chức xã hội, tương trợ, không thu thập tin tức, để rồi làm những cuộc vận động nhằm tranh đấu cho các TPB VNCH cũng được hưởng quyền lợi dành cho “người khuyết tật” và “nạn nhân chiến tranh” với nguồn tài nguyên dồi dào vừa kể? Chắc chắn là vẫn chưa muộn, hãy bắt đầu từ bây giờ, hãy chia sẻ với các vị dân biều, nghị sĩ của chúng ta ở khắp các địa phương trên đất Hoa Kỳ, khởi đi bằng những vị dân cử người Mỹ, gốc Việt. Hãy tổ chức các chuyến đi vận động ở Hoa Thịnh Đốn, gõ cửa văn phòng những người đang đại diện chúng ta ở quốc hội Hoa Kỳ và nói cho họ biết nỗi khổ hạnh cùng sự thiệt thòi của các TPB QLVNCH của chúng ta từ suốt 44 năm qua.

Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến tập thể Hậu Duệ VNCH tại hải ngoại đã thành lập và vừa được ra mắt một cách rầm rộ tại Houston, Texas vào đầu tháng Ba, 2019 vừa qua, với những bài diễn văn nẩy lửa, nức lòng và tràn đầy hy vọng. Mong các cháu sẽ không quên để trong hành trang hoạt động của mình một phần đấu tranh cho quyền lợi của các chú, các bác TPB QLVNCH, những người đã hy sinh một phần thân thể cho các cháu được sống tự do, được thành đạt nơi xứ người. Các cháu hãy bắt đầu cùng nhau lên Thượng Viện và gõ cửa văn phòng TNS Patrick Leahy, để cám ơn và nói cho ông ấy biết rằng, tại sao ngài lại QUÊN “BẾ” MỘT NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH QUÈ QUẶT CỦA MÌNH? Đó là người lính VNCH năm xưa, mà khi chiến đấu, máu của họ đã hòa với máu của các chiến binh HK cùng trang lứa với ngài, họ đã cùng nhau cầm súng chiến đấu để bảo vệ tự do. Có thể khi ngài TNS mang chiếc xe lăn đến cho họ, họ sẽ không biết hôn, hay cũng chẳng còn đủ tứ chi để bắt tay ngài, nhưng chắc chắn là họ sẽ tự động tìm cách để leo lên chiếc xe mà không cần ngài phải ‘BẾ”!

Nam Lộc

Tháng Tư, 2019

Viết cho những thằng bạn…què!

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở SAO KHÔNG “BẾ” NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH_Nam Lộc

30 THÁNG TƯ, 1975 Thái Bá Tân, Apr. 19, 2019

30 THÁNG TƯ, 1975

Bộ đội Miền Bắc chết
Một triệu một trăm nghìn.
Số lính Miền Nam chết –
Hai trăm tám hai nghìn.

Vì chiến tranh, dân chết –
Trên dưới hai triệu người.
Lính Miền Nam cải tạo,
Ngồi tù – một triệu người.

Trong số một triệu ấy, 
Một trăm sáu lăm nghìn
Chết vì đói, lao lực,
Vì không còn niềm tin.

Trốn chạy khỏi cộng sản –
Hơn một triệu rưỡi người.
Hai trăm nghìn đã chết,
Bỏ xác ngoài biển khơi.

Từ đấy, dẫu đất nước
Hết chiến sự, bình yên,
Chín mươi triệu người Việt
Mất tự do, nhân quyền.

Vậy xin hỏi các vị:
Ngày ấy là ngày gì?
Vui mừng và kỷ niệm?
Nhưng vui mừng cái gì?



Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 30 THÁNG TƯ, 1975 Thái Bá Tân, Apr. 19, 2019

CHIÊU HỒN TỬ SĨ (Tháng Tư Đen)

CHIÊU HỒN TỬ SĨ (Tháng Tư Đen)

Ơn tử sĩ tấc lòng thành kỉnh
vong linh chiến sĩ về đây
Hương đăng trà quả trưng bày
Cầu trên chứng giám lòng nầy chúng tôi.

Ngày ba mươi tháng tư đen tối
Năm bảy lăm hấp hối miền Nam
Sa trường vong mạng cũng cam
Ngăn quân cộng sản hiên ngang liều mình
Vì dân chúng hy sinh nào ngại
Vì an dân nào nại lao tù
Vì tổ quốc ngửa nghiêng mệnh bạc
Vì non sông con Lạc cháu Hồng
Chết cho tổ quốc núi sông
Chết cho dân tộc Lạc Long trường tồn

Hồn tử sĩ rạng danh muôn thuở
Công ơn kia sách vở lưu truyền
Lạc Hồng giống Việt Rồng Tiên
Chết trong danh dự giặc kiêng nể vì
Hồn tử sĩ linh thiêng hiển hách
Dù quyên sinh khí phách vẫn còn
Dẫu cho bể cạn non mòn
Còn quân bán nước ta còn đấu tranh
Gương các tướng hùng anh tuấn kiệt
Nguyễn Khoa Nam tiết liệt oai hùng
Phạm Văn Phú vì nước thủy chung
Cùng các tướng kiêu hùng không hàng giặc
Không chạy trốn cũng không đành bị bắt
Các tướng Hưng, Hai, Vỹ chết vinh quang
Nguyễn Văn Long thác cũng huy hoàng
Hồ Ngọc Cẩn hiên ngang khi hành quyết
Người chết đi mà toàn dân thương tiếc
Lưu sử xanh bia đá khắc ngàn đời
Ó Đen kia Lý Tống cũng tuyệt vời
Đồng nguyện cầu tử sĩ khắp nơi nơi
Hãy an giấc muôn đời trong hạnh phúc

*  *  *

Hương linh tử sĩ bấy lâu
Khắp trong các cõi khẩn cầu về đây
Bắc Nam hội ngộ sum vầy
Lòng thành kính thỉnh dạ nầy ghi ơn
Xin phù hộ giang sơn gấm vóc
Bọn cộng nô ngu ngốc bạo tàn
Làm cho đất nước lầm than
Đem dâng lãnh thổ ngoại bang giặc Tàu
Hãy trợ giúp đồng bào thoát nạn
Đưa giang san khỏi hoạ diệt vong

Toàn dân nhất dạ đồng lòng
Đứng lên lật đổ cộng quyền Việt gian
Ba mươi bóng tối xoá tan
Thay vào ánh sáng huy hoàng tháng tư
Tự do dân chủ về chừ
Cộng gian biến mất chào người Quốc gia.

 24 / 04 / 2019
Phương Trúc

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở CHIÊU HỒN TỬ SĨ (Tháng Tư Đen)

ĐỘNG ĐẤT RUNG CHUYỂN SPACE NEEDLE ?_Lâm Nguyễn

ĐỘNG  ĐẤT  RUNG CHUYỂN  SPACE  NEEDLE ?

Nguyễn Thanh Lâm (K1)

blank

Space Needle được khởi công xây dựng vào ngày 14 tháng 4 năm 1961 vaø dịp khánh thành vào ngày 21 tháng 4 năm 1962 cũng là ngày khai mạc Hội Chợ Thương mại Quốc Tế World’s Fair với kinh phí 4 triệu 500.  Tháp cao 605 feet (184m) tính từ mặt đất tới đỉnh cần anten được cắm trên một ngọn đuốc cao 40 feet. Tấng quan sát dành cho du khách muốn thưởng ngoạn tòan cảnh thành phố Seattle từ độ cao 520 feet. Nhà hàng sang trọng quay từ khỏang độ cao 500 feet để thực khách có thể vừa  thưởng thức các món ăn vừa có thể quan sát 360 độ nhất là cảnh Seattle by night tuyệt đẹp vớ muôn ngàn ánh đèn lấp lánh như các vì sao. It lâu sau đã xây thêm một nhà hàng ăn nữa từ độ cao 100 feet cách mặt đất gọi là Skyline Banquet Facility để xử dụng cho những buổi hội họp, đình đám kể cả cưới hỏi.
Nền móng Space Needle quả thật rất kiên cố. Vì ngọn tháp khá cao nên càc nhà thiết kế ñoà aùn nhất định phải thực hiện một công trình hòan hảo có nghĩa là ngọn tháp Space Needle phải có sức chịu đựng trước mọi thiên tai như động đất, bão tố hay lụt lội. Chân tháp đã được chôn sâu dưới 30 feet tính tứ mặt đất, dùng tới 28,000 square yards xi măng, 250 tấn cốt sắt và phải xử dụng tới 470 chuyến xe để chuyên chở liên tục trong 12 tiếng đồng hồ. Các đinh bù loong để xiết các chân tháp mỡi chiếc dài 32 feet có đường kính 4 inches và phải dùng tớ 72 chiếc. Rieâng các sợi dây cáp caêng ñeå giữ các chân tháp được xiết bằng 24 chiếc bù loong mỗi chiếc dài 12 feet có đường kính 3 inches. Toàn khối nền móng có sức nặng 5,850 tấn. Cả kiến trùc đã dùng tới 147,000 pounds sắt nung chảy và 74,000 chiếc bù loong có tính đàn hồi rất cao. Tòan bộ kiến trúc có sức nặng 3,700 tấn. Ngòai 3 chiếc thang máy, mỗi cái có sức nặng 14,000 pound và có sức chứa 4,500 pound, ở chính giữa ngọn thàp chạy từ mặt đất lên tới đỉnh còn có hai cầu thang thường gồm 832 bậc để xử dụnïg trong trường hợp cấp cứu hoặc khi thang máy bị tê liệt.

blank
Vào lúc 8 giờ 30 sang ngày 29 tháng 4 năm 1965 ( 3 năm sau ngày khánh thành) một trận động đất với sức mạnh 6.5 ( mạnh hơn trận động đất ngày 2/7/99)  đã xảy ra nhưng đã chẳng gây ra một thiệt hại nào cho Space Needle ngọa trừ một số nhân viên làm việc tại đây đã vì quá hốt hỏang nên đã dùng 832 nấc thang thường ừø trên cao chạy xuống để thóat thân và sau đó đã không trở lại làm việc nữa. Rồi  vào ngay 21 tháng 1 năm 1993 đúng vào lùc Tổng Thống Clinton đang cử hành lễ Nhậm Chức thì một cơn bão với sức gió thổi 90 mph đã quét ngang thành phố Seattle và đã gây rất nhiều thiệt hại về vật chất cho tòan vùng Tây Bắc nhưng Space Needle vẫn mình đồng da sắt chẳng hề bị “trầy da tróc vảy” chỉ tạm ngừng trong 1 giờ rồi trở lại sinh hoạt bình thường.
Rồi vào lúc 10 giờ 55 ngày 28 tháng 2 năm 2001 một trận động dất với chấn động 6.8 đã làm rung chuyển Seattle và nhiều thành phố trong tiểu bang Washington gây thiệt hại khá nặng về vật chất  và gây tử vong cho một người đang bị bệnh đau tim và khoảng 200 người khác bị thương nhẹ. Riêng Space Needle vẫn đứng vững và chỉ gây hoảng sợ cho hơn 30 du khách đang quan sát phong cảnh Seattle từ đỉnh tháp.

Lâm Nguyễn

(Việt Báo)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở ĐỘNG ĐẤT RUNG CHUYỂN SPACE NEEDLE ?_Lâm Nguyễn

Hội Ngộ K1 2017

Mời các bạn xem lại hình Hội Ngộ K1 Hè 2017 tại San Jose. Đẹp quá phải không các bạn

https://photos.app.goo.gl/M2Do2Zf6FUD3jXar1

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hội Ngộ K1 2017

Danh Sách Các Bạn Đồng Môn K1 đã từ trần

Bạn Toán Nhữ vừa gởi cho CNN danh sách các bạn K1 đã từ trần. Trong danh sách nầy có gần 25 bạn mất trước sau năm 2013, nhưng hy vong có đầy đũ hình. Nhờ Cẫm Y gởi hình Lê Phi. Nhờ Bửu Hổng gởi hình Lê Thị Hường. Nhờ bạn Ngưu và TN gởi cho hình của Đinh Phước Hồng và Vũ gia cát Long. Ngoài ra nếu có hình của các bạn khác thì càng tốt. Danh sách các bạn K1 từ trần , mình đã edit lại. Chữ in đậm là mất trước sau năm 2013.

DANH SÁCH K1 ĐÃ TỪ TRẦN

  1. Ngô Đình Anh (2014)
  2. Hà Mộng Anh
  3. Trương Công Ân (2017)
  4. Nguyễn Văn Ba (???)
  5. Hồ Xỹ Báu (2010)
  6. Nguyễn Ngọc Bé (2011)
  7. Nguyễn Văn Biên
  8. Phạm Văn Bổn (2018)
  9. Nguyễn Ngọc Cẩn
  10. Phan Văn Châm
  11. Lý Thị Chấm
  12. Hồ Đăng Chánh (1982)
  13. Lê Ngọc Châu (29/4/75)
  14. Võ Công Châu
  15. Phan Cháu (1968)
  16. Phạm Hữu Chí (2016)
  17. Vũ Văn Chính
  18. Trần Kim Chung (2011)
  19. Nguyễn Văn Chuyên (2010)
  20. Lê Văn Chương
  21. Nguyễn Duy Cơ (2017)
  22. Phạm Văn Cư (9/2018)
  23. Nguyễn Văn Dữ
  24. Huỳnh Diễn (12/2015)
  25. Nguyễn Tấn Dược (9/2018)
  26. Trương Văn Đằng
  27. Trần Chánh Định (1966)
  28. Trần Ngọc Điều
  29. Nguyễn Minh Đường (2018)
  30. Nguyễn Văn Hạ
  31. Đỗ Thị Hồng Hải (1970)
  32. Trần Minh Hải (2006)
  33. Hà Thị Hạnh (2016)
  34.  Võ Hảo (12/2013)
  35. Trương Hè
  36. Trần Công Hiển (2016)
  37. Trần Văn Hiển
  38. Bùi Thị Khánh Hòa (1989)
  39. Nguyễn Thái Hoan (1990 SG)
  40. Đinh Phước Hồng (3/2012)
  41. Võ Văn Hổ (2009)
  42. Đinh Cộng Huệ
  43. Lê Thị Hường (2008)  
  44.  Lê Văn Hướng (2014)
  45. Hoàng Khê (1968)
  46. Nguyễn Linh Khanh (2008)
  47. Nguyễn Văn Khìa (USA)
  48. Nguyễn Kim Khôi
  49. Phạm Phước Kiến (1968)
  50. Trần Văn Kỷ
  51. Trần Ngọc Kiêm (1982/VN)
  52. Phạm Thị Lan
  53. Đinh Văn Lễ
  54. Vũ Gia (Cát) Long (2012)
  55. Trần Tráng Long (9/2018)
  56. Nguyễn Văn Lợi (1968)
  57. Trần Văn Lư
  58. Huỳnh Mãng (1990 ?)
  59. Lê Quang Minh (1973)
  60. Ngô Đình Mua
  61. Huỳnh Thị Năm
  62. Lê Thành Nhiên
  63. Vũ Văn Nghi
  64. Nguyễn Quang Nhựt
  65. Phan Hữu Ngọc (2018)
  66. Lê Văn Phi (2009) 
  67. Trần Hữu Phổ (1968)
  68. Phạm Hồng Phước (2010)
  69. Nguyễn Thanh Phụng (3/2019 Canada)
  70. Lâm Văn Quận (khoảng 2008/2009 ?)
  71. Đinh Văn Rạng
  72. Đoàn Văn Ri
  73. Phạm Ngọc Rớt (nữ)
  74. Lê Văn Sanh (trước 1975)
  75. Lê Văn Sâm (1968)
  76.  Võ Thành Tâm (12/2013)
  77. Nguyễn Văn Tạo (9/2018)
  78. Đỗ Thám (2015)
  79. Lê Đức Thanh (2017)
  80. Triệu Tấn Thanh
  81. Lý Đức Thạnh
  82. Hồ Văn Thắng
  83. Võ Văn Thêm
  84. Lê Văn Thô (1971)
  85. Nguyễn Văn Thống
  86. Lê Đăng Thu (1987)
  87. Nguyễn Hữu Thượng
  88. Trần Trung Tiến (1975 ?)
  89. Huỳnh Minh Trí (1991)
  90. Nguyễn Hữu Trí (2011)
  91. Trương Văn Tư (2003)
  92. Nguyễn Văn Tựu (2017)
  93. Trần Công Văn (1968)
  94. Đỗ Văn Việt
  95. Nguyễn Văn Vọng
  96. Nguyễn Đăng Vỹ (1968)
  97. Phạm Vạn Xuân (USA-2008)
  98. Lâm Song Xưởng
  99. Nguyễn Văn Xên (9/2018)

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Danh Sách Các Bạn Đồng Môn K1 đã từ trần

Về Hội Ngộ K1 Hè 2019_ Thương Nhớ các Bạn Đã Ra Đi

Vừa rồi mình có hồi âm mail của bạn Toán Phạm và thấy phản hồi của bạn Bửu Hồng, mình đoán được rằng trong ngày vui Hội Ngội sắp tới, chúng ta muốn nhìn lại hình ảnh của các đồng môn K1 đã ra đi. Bắt đầu từ hôm nay mình sẽ cho chiếu lại các video slideshow thực hiện từ năm 2013 để các bạn xem và lấy bút ghi ra tên các bạn đã về bên khia thế giới nhé.
Slideshow đầu tiên mình chiếu lại hôm nay được thực hiện để chúc mừng bạn Huỳnh Vĩnh Hưng đã tìm được một nửa yêu thương mới. Mời các bạn thưởng thức hai bản nhạc tình và nhìn lại hình ảnh của chính mình 6 năm về trước nhé. Mến chúc các bạn vui và khỏe.

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Về Hội Ngộ K1 Hè 2019_ Thương Nhớ các Bạn Đã Ra Đi

Happy Easter – From Tuyên Đinh

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Happy Easter – From Tuyên Đinh

Thêm một người bạn vào nhà thương

Hi các bạn, Sáng nay, thứ sáu 19/4/2019, tôi và bạn Huỳnh Vĩnh Hưng đã vào bệnh viện Fountain Valley thăm K1 Trần Văn Dũ sau khi hay tin anh bị bệnh đã phải vào cấp cứu. Trước khi vào BV thăm anh Dũ, chúng tôi đã đến nhà riêng của anh để thăm hỏi. Được biết, anh Dũ bị stroke phải vào bệnh viện từ ngày 13/4 cho đến nay. Sau vài ngày ở ER và ICU, anh đã được đưa ra ngoài, hiện ở phòng 137.
Các bạn có thể ĐT thăm hỏi con gái K1 Trần Văn Dũ ở số
# (310) 279-6023. Địa chỉ nhà riêng: 15322 Balboa St, Westminster, CA 92683
Toán Như.

Cầu mong cho bạn Trần văn Dũ sớm bình phục, CNN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thêm một người bạn vào nhà thương

Video Từ Bao Giờ & Còn gì Đâu của LHN

Kính mời quí bạn thân hữu CSQG/VNCH nghe 2 bài hát Còn Gì Đâu và Từ Bao Giờ của K1 Lê-hữu-Nghĩa .
Chúc sức khỏe .

Lê-hữu-Nghĩa

1.TỪ BAO GIỜ:

2. CÒN GÌ ĐÂU

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Video Từ Bao Giờ & Còn gì Đâu của LHN

Con Đường Việt Nam_ Thơ Lê Tấn Tuyến

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Con Đường Việt Nam_ Thơ Lê Tấn Tuyến

Sàigòn, Ngày Cuối Cùng_Toàn Như lược dịch

Sài Gòn, Ngày Cuối Cùng

(Hồi ức của một phóng viên Mỹ về ngày 30/4/1975 ở Saigon)

Loren Jenkins – Toàn Như lược dịch – Nguồn: NPR (National Public Radio)

Loren JenkinsLoren Jenkins, nguyên phóng viên của Newsweek, đang đứng tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Saigon khi một chiếc trực thăng di tản cất cánh trên mái nhà trong ngày cuối cùng của chiến tranh VN.

            Điều mà tôi nhớ sau 30 năm cách xa cái ngày cuối cùng đó ở Việt Nam là khi thức giấc vào lúc trước bình minh bởi những tiếng nổ nghe không rõ và, trong lúc còn ngủ chập chờn, tôi lăn vội xuống sàn nhà kéo tấm nệm phủ lên người và tiếp tục ngủ gật (Ghi chú của người dịch: Bài này tác giả viết vào năm 2005, 30 năm sau ngày 30/4/1975). Cái phản ứng như bản năng, kiểu như phản xạ Pavlov, để tránh những mảnh kính vỡ khi những tiếng nổ có thể gần hơn.

            Nhưng rồi tôi thức dậy và nhận ra rằng những tiếng nổ là tiếng súng pháo binh bắn chặn ở phi trường Tân Sơn Nhứt. Lực lượng Bắc Việt đang tiến về phía nam trong những tuần qua cùng với một làn sóng người chạy loạn ở phía trước họ, cuối cùng đã đến Saigon. Sau một thập niên, chiến tranh đã đến hồi kết thúc.

            Trong khi những sư đoàn Việt cộng đến gần, đã có những cuộc bàn cãi vào lúc nửa đêm không ngừng nghỉ trong cái hiên của Khách sạn Continental cũ kỹ, nơi đang có nhiều ký giả cư trú. Chúng tôi có nên ở lại để tường thuật cảnh quân đội (cộng sản) Việt Nam  cuối cùng chiếm lấy cái thành phố nơi chúng tôi đã cư ngụ khá lâu không? Hay chúng tôi nên theo những kế hoạch của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ di chuyển bằng xe buýt tới Tân Sơn Nhứt để kịp những chuyến bay di tản tới Guam đã có từ nhiều tuần trước?

            Kế hoạch di tản của Hoa Kỳ đã lặng lẽ diễn ra giống như toàn bộ cuộc phiêu lưu của Mỹ ở Việt Nam. Khi quyết định cuối cùng rút ra khỏi Việt Nam được bật đèn xanh, bản nhạc “Giáng Sinh Trắng” (White Christmas) đã được phát ra trên Đài Phát Thanh Quân Đội (Mỹ). Đó là cái tín hiệu cho hàng ngàn người Mỹ còn ở Sài Gòn đi nhanh đến những chỗ hẹn quanh thành phố để đón những chiếc xe buýt đến đón họ và đưa họ đến Tân Sơn Nhứt.

            Nhưng vì là một phóng viên cho Newsweek phụ trách phần tin tức sốt dẻo cuối cùng của cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam, nên đi tới phi trường để ra đi khi thành phố sụp đổ là chuyện mà tôi muốn làm sau cùng. Thay vì, đi theo cuộc di tản khỏi Sài Gòn đã được khởi sự theo lệnh của Tổng Thống Ford, vì có cuộc tấn công vào lúc rạng sáng ở phi trường, tôi đã chọn cách tường thuật lại những phút cuối cùng sự hiện diện của Mỹ ở Việt Nam nơi Tòa Đại Sứ Mỹ ở trung tâm Sài Gòn.

            Related imageBức tường bê tông màu trắng cao 15 bộ (foot) được bao bọc ở trên bởi những cuộn dây thép gai, tòa nhà tòa đại sứ 6 tầng như một pháo đài hiện đại vượt lên trên những căn nhà thấp ở chung quanh. Nó là nơi chính sách của Hoa Kỳ đã được thi hành từ rất lâu, và đó là cũng nơi Đại Sứ Graham Martin có thể sau cùng sẽ có quyết định vào giờ chót.

            Tôi nhớ lại buổi họp với David Greenway của tờ The Washington Post sáng hôm đó tại quầy tiếp tân Khách sạn Continental. Từ tốn gỡ một đống tiền đồng Việt Nam sắp trở thành vô dụng để trả tiền hóa đơn, anh ta lẩm bẩm rằng “người lịch sự” không bao giờ rời khách sạn mà không trả tiền phòng!

            Chúng tôi lái chiếc xe Toyota của tờ Post mà David đã bỏ lại để tới tòa đại sứ với cái chìa khóa xe có sẵn trong ổ cắm, đi dọc theo một đại lộ ít xe cộ một cách bất thường, đầy những đồ phế thải là những bộ quân phục và giầy trận của những người lính Nam VN đã rã ngũ. Vào lúc chúng tôi đến tòa đại sứ, các cánh cổng đã khép lại và các người lính TQLC (Mỹ) đang đứng gác trên những bức tường bê tông trong khi hàng ngàn người Việt bắt đầu bao vây tòa nhà khẩn cầu được ra đi với những người Mỹ. Chúng tôi xô đẩy đám đông, xuất trình thông hành Hoa Kỳ và thẻ báo chí tại cổng. Có người mở cổng để chúng tôi len vào.

            Bên trong là sự hỗn độn. Một cảnh tượng đa sắc màu gồm các lính gác an ninh TQLC, các nhân viên CIA và các thiện nguyện viên Bộ Ngoại Giao đi lại trên sân và canh gác bức tường với đủ loại vũ khí từ loại súng Tommy cũ kỹ tới những con dao săn bên thắt lưng. Hàng ngàn người Việt Nam vô vọng, đang kêu gào và khẩn cầu, cố gắng trèo qua bức tường vượt qua những vòng kẽm gai, nhưng bị đẩy ra ngoài bởi những báng súng không được êm dịu lắm.

            Cây me lớn che bóng cho chiếc xe của ông đại sứ vừa được đốn xuống và kéo về một bên để chuyển cái bãi đậu xe trải nhựa đường làm bãi đáp trực thăng. Ngoài cái đó, bên cạnh một cái hồ bơi, hàng trăm người Việt đã được cho vào vì có sự liên hệ hoặc làm việc với người Mỹ, đã tụ tập giữa những đống va li, thùng giấy cạc-tông và những túi quần áo. Có ít nhất ba vị tướng của Nam Việt Nam mặc quân phục cùng với gia đình họ, một số chính khách, một cựu đô trưởng Sàigòn, ông chánh sở cứu hỏa thành phố cùng với khoảng một chục nhân viên của ông vẫn còn mang cái mũ cứu hỏa. Những người Việt khác đã lẻn vào trong cafeteria của tòa đại sứ tìm kiếm nước lạnh để uống và hoặc thứ thức ăn gì đó.

            Từ những tầng trên của tòa nhà, nơi những tài liệu tối mật được lưu trữ, những dải tài liệu bị cắt vụn đã tuôn ra khỏi những cửa sổ cuồn cuộn như một cuộc diễn hành. Có khói bốc ra từ một vài văn phòng nơi mà những tài liệu khác đang bị đốt và ở một chỗ kia có ba nhân viên CIA lực lưỡng mặc áo jacket thường, đẩy một cái xe cút kít có bánh xe đầy những tờ giấy bạc một trăm đô la trút chúng vào trong một cái lò đốt ở bên ngoài đang tỏa khói.

            Thế rồi từ trên trời xanh ngột ngạt nặng nề có tiếng gầm rú của những rô-to trực thăng đáp xuống. Những chiếc trực thăng Sea Knight CH-46 to lớn, kềnh càng từ Hạm Đội 7 ngoài Biển Đông bắt đầu đến nối tiếp nhau – một cái đáp xuống bãi đậu xe trong khi cái thứ hai đáp xuống nóc tòa đại sứ. Với tiếng động cơ vần vũ và những rô-to đang quay, những người trưởng toán TQLC hối thúc những hàng người Việt và Mỹ đang chờ đợi lên tàu. Tiếp đó tiếng động cơ tăng tốc và chiếc Sea Knight bay lên, nhường chỗ cho cái kế tiếp đến.

            Cả một ngày cứ như vậy cho đến tối. Sự lộn xộn bất ngờ vào buổi sáng đã mau chóng trở lại bình thường. Những chiếc trực thăng đến rồi đi. Những hàng người di tản, kiên nhẫn đến giờ này đã phải bỏ đi, gây ồn ào ở phía cửa sau đã tản mác. Và ngay cả tiếng huyên náo của đám đông hoảng loạn trên đường phố bên ngoài dường như cũng đã tắt lịm lúc mặt trời lặn.

            Cuối cùng, khoảng 18 giờ sau khi cuộc di tản được tiến hành, Tổng Thống Ford đã ra lệnh chấm dứt nó. Phi đội 80 chiếc trực thăng đã bay 495 phi xuất đã mệt mỏi. Đêm đã xuống từ lâu trên sân tòa đại sứ và có tin âm thầm rỉ tai rằng chỉ những người Mỹ còn lại sẽ được di tản từ trên mái nhà. Các TQLC trên những bức tường đã rút vào bên trong tòa nhà tòa đại sứ, những cửa đã bị chận, và bọn chúng tôi ở bên trong di chuyển qua từng tầng lầu để lên trên sân thượng.

            martinSau cùng, vào khoảng 4 giờ sáng, đến lượt ông đại sứ. Ông xuất hiện ở trên mái nhà với ban tham mưu thân cận của ông, lặng lẽ và mệt mỏi, ôm lá cờ (Mỹ) của tòa đại sứ đã xếp lại dưới tay ông. Tôi đã nhập vô đi cùng với viên bí thư của ông cùng con chó xù đen Nitnoy của ông, lên chiếc trực thăng ở trên mái nhà. Ông đại sứ là người tiếp theo.

            Khi chiếc trực thăng chở ông cất cánh, cảnh tượng cuối cùng của đất nước mà ông đã làm việc như một quan thày Mỹ là nhìn thấy những chùm pháo hoa khổng lồ chào mừng cùng với tiếng đạn nổ ở Biên Hòa nơi phía bắc thành phố…

TOÀN NHƯ

(Lược dịch từ “Saigon, The Last Day”, nguồn NPR)

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Sàigòn, Ngày Cuối Cùng_Toàn Như lược dịch

Tin nhắn của Nguyễn Văn Suốt

Vừa qua, nghe tin K1 Nguyễn Văn Suốt ở Mỏ Cày/Bến Tre (VN) bị bệnh nặng, các bạn ta đã mau mắn quyên góp được một số tiền tổng cộng là $2060 USD để gởi về cho bạn Suốt qua trung gian bạn Trần Ngọc Bửu ở VN.

Dưới đây là mẩu tin nhắn qua ứng dụng “Messenger” gởi qua FB của Bửu Hồng & Mai Hương:

Hello Anh, Chị Hương và Toàn thể Các Bằng Hữu!!. Anh Tư Bửu đã gởi thêm cho tôi một nghìn nữa (lần trước là một nghìn thêm sáu chục lẻ). Hiện bệnh của tôi nay đã đỡ nhiều rồi!!.mỗi tháng đi tái khám thôi,! Chỉ còn uống thuốc trợ tim, cao huyết áp và dưỡng não thôi!!. Rất mừng vì đã hồi phục khá,!!. Vợ chồng tôi chân thành tri ân Anh Chị và các Bằng hữu đã lo cho tôi. Kính chúc Anh Chị, các Bằng hữu cùng Gia quyển luôn được bình an, khỏe mạnh và hạnh phúc! Kính Chào!.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin nhắn của Nguyễn Văn Suốt