Thơ Xướng Họa K1_ Chuyện Tình An tenna

 

 

Xướng: NHẠC SĨ AN(TENNA) HỒI HƯƠNG

Nhạc sĩ An (ten) bước xuống ga,
Va ly đầy ắp đẩy khuân ra.
Cổ cồn áo thụng cười toe toét,
Giầy bóng quần đen hát lá la.
Trong túi sẵn bài ca nịnh boóc,
Trên tay có chút đô làm quà.
Phen này ắt hẳn ông vinh hiển,
Đi bán ăng ten sướng quá ta.

CX/NĐT

Họa 1:    Nhà Từ Thiện Antenna

Ông An nhạc sĩ tới nhà ga
Hành lý một xe mới đẩy ra
Vui sướng tay đưa chào hí hửng
Ung dung chân bước hát xồn la
Giả danh từ thiện thu nhiều bạc
Nịnh hót hải quan dúi ít quà
Có nhớ những ngày trong “cải tạo”
Chỉ vì cơm cháy hại phe ta
Cóc QT-TP

Họa 2:    Làm Từ Thiện

Lâu ngày bếp cũng cạn hơi ga
Làm thiện đâu cần xuất của ra
Gom góp bạc tiền không kẻ cản
Phát phân bao bị chẳng ai la
Lòng nhân biết mấy cung cầu đủ
Dạ xót bao nhiêu thỏa mãn quà
Cứ thế vô tình nuôi dưỡng ác
Giàu sang chúng nó chắc hơn ta

Cóc Ươn DNN

Họa 3:    Đội Vũ Lập Công

Đội Vũ hô hào cuốc hết ga
Tù nhân quá mệt thở không ra
Kiếm ăn cải thiện An ten báo
Đổi chát linh tinh quản giáo la
Lúc trước trong tù lo điếu đóm
Bây giờ từ Mỹ về dâng quà
Sơn Thương bức tử thù còn đó
Một ký khoai mì nỡ hại ta

Cóc Khô PQN

Họa 4:     Mặt Dày

Mặt dày họ Vũ xuống sân ga,
Tay đẩy va ly chân bước ra.
Dăm đứa hải quan tìm nhạc lậu,
Mấy con thuế vụ xét đô la.
Miệng cười nịnh bợ, khen ơn đảng,
Mắt liếc đong đưa, biếu chút quà.Quen thói gia nô nề nếp cũ,
Sớm đầu tối đánh hại phe ta.
Cóc Huế – TPK

Họa 5:    Áo Tu 

Nhìn ông hớn hở ở sân ga
Ái ngại lòng tôi nghĩ chẳng ra
Về nước cóc cần ai phản đối
Kiếm tiền bất kể kẻ hò la
Tu hành thực đức đừng khoe áo
Việc thiện thành tâm chớ ỷ quà
Tích cũ còn kia chưa gột sạch
Trăm năm bia miệng cõi người ta

Cóc Chầu Rìa NCM

Họa 6:  Bài “Không Tên” Lần Chót

Ngày về An Vũ đợi sân ga
Nhìn thấy người quen vội bước ra
Xuất ngoại đã gieo thù khắp chốn
Hồi hương nay gặt hận bao la
Niềm tin nào đổi bằng tiền bạc
Danh dự khó mua bởi cáp quà
Đa sĩ chẳng bù đơn sỉ nhục
Cung đàn âm điệu oán hờn ta

Cóc Biển LVT. (FL. 15.8.2017)

Họa 7 :    Dẹp Nó Đi

Hý hửng Thành An bước tới ga,
Chất đầy hành lý đẩy xe ra
Vẫy tay mặc kệ ai than vãn
Cười toét chẳng cần người chửi la
Bên Mỹ ẩn danh làm việc thiện
Quê nhà lộ diện hiến dâng quà
Hãy mau dẹp Việt gian thầy Sáu
Đừng để yên thân bách hại ta

Cóc Ớt TQN.

Họa 8:     Hỉ Xả

Một chuyến tàu đời biết mấy ga ,
Trạm nào vinh nhục khó lần ra !
La chê bợ đít oằn lưng ngựa ,
Ngựa mỉa đội quần thối tóc la .
Nghe được chung quanh bao mẩu chuyện ,
Hiểu gì sau trước những phần quà ?
Nhan Hồi Khổng Tử còn than thở ,
Hỉ xả cho người đức của ta .

Cóc Chát LHN

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Thơ Xướng Họa K1_ Chuyện Tình An tenna

Danh Sách Đồng Môn K1 Về Dự Hội Ngộ Hè 2017

Thưa các bạn,
BTC Hội Ngộ K1 Hè 2017 đã họp tổng kết vào hôm thứ Bảy 12/8/ vừa qua và cho biết có tất cả 102 bạn đồng môn K1 và gia đình đã ghi tên tham dự (không kể các bạn đã rút tên vì lý do sức khỏe hay riêng tư). Danh sách  sắp xếp theo từng địa phương được trình bày như dưới đây.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Thẻ | Chức năng bình luận bị tắt ở Danh Sách Đồng Môn K1 Về Dự Hội Ngộ Hè 2017

Lỗi Hẹn Thề_Nguyễn Phiến

Loi Hen The

LỖI HẸN THỀ

Tôi tìm em buổi cuối ngày hè
Thôn xóm im lìm chẳng tiếng ve
Nhà cũ xác xơ còng mái lá
Ngõ xưa xiêu vẹo trơ hàng tre
Ngoài sân hiu hắt cây cành rũ
Bên cửa lặng lờ rèm liếp che
Gõ cửa hỏi người đâu chẳng biết
Tìm em thôi đã lỗi lời thề

Nguyễn Phiến

Đăng tải tại Tác Giả, Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Lỗi Hẹn Thề_Nguyễn Phiến

Phỏng Vấn Ông NGUYỄN VĂN NGÂN (Nguyễn Đạt Thịnh)

  PHỎNG VẤN ÔNG NGUYỄN VĂN NGÂN

(Cựu Cố vấn TT Nguyễn Văn Thiệu)

Bài của Nguyễn Đạt Thịnh

Một Góc Khác của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Nhà văn Trần Phong Vũ vừa phỏng vấn ông Nguyễn Văn Ngân, phụ tá đặc biệt của tổng thống Nguyễn Văn Thiệụ Nội dung cuộc phỏng vấn giúp chúng ta hiểu thêm một vài góc cạnh khác của ông Thiệu, nhưng không trả lời được câu hỏi đau xót nhất là vai trò của ông trong việc phá tan hai quân đoàn 1 và 2, và để mất một nửa đất nước. Ông có thi hành mệnh lệnh của Hoa Kỳ không? Thái độ của ông, bỏ đất nước, bỏ dân chúng và quân đội để thoát thân chạy theo vợ, con ra ngoại quốc có là chỉ dấu cho thấy ông “mua” sự an toàn của bản thân và gia đình ông bằng cái giá dâng hiến đất nước cho Việt Cộng không?

Trung tướng Ngô Quang Trưởng, tư lệnh Quân Ðoàn 1, và thiếu tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Ðoàn 2, đã nêu lên nhiều nghi vấn về những mệnh lệnh rút quân của ông. Tôi trân trọng đề nghị nhà văn Trần Phong Vũ và ông Nguyễn Văn Ngân khai phá những điểm còn gói kín bí mật nàỵ Ông Ngân có thể không biết chi tiết, nhưng chắc chắn ông cũng có thể giúp đánh giá thái độ của ông Thiệu trong những ngày Việt Nam bị bức tử, có thể với sự đồng loã của ông Thiệụ Ông Vũ giải thích nguyên nhân ông thực hiện cuộc phỏng vấn, và giới thiệu ông Ngân, “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vai chính nắm giữ chìa khóa mở vào những bí ẩn của một giai đoạn lịch sử, đã vĩnh viễn ra đi ngày 29-9-2001 không để lại một vết tích nào, ít nữa là về phía ông. Không hồi ký. Không di chúc chính trị. Ông lặng lẽ trở về lòng đất mang theo một trời tâm sự u uẩn của một nhà lãnh đạo từng được dư luận đặt lên bàn cân với nhiều suy đoán, nhận định, lượng giá khác nhau, đôi khi đối nghịch nhaụ Một khuôn mặt thời cơ? Một kẻ tham quyền cố vị? Một lãnh tụ gan lỳ, nham hiểm, nhiều thủ đoạn? Một người yêu nước cô đơn? Một nhà lãnh đạo quốc gia thông minh, mưu trí, nhưng… sinh bất phùng thời

Do một trùng hợp tình cờ, 5 năm sau ngày TT Thiệu từ trần, chúng tôi đã gặp gỡ ông Nguyễn Văn Ngân, nguyên Phụ tá đặc biệt về chính trị của TT Nguyễn Văn Thiệu dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa để thực hiện cuộc phỏng vấn này trong nhiều ngày của tháng 9 năm nay (2006). Là một cộng sự viên lâu năm và là một Phụ tá trẻ tuổi nhất trong số những Phụ tá đặc biệt của TT Thiệu, ông Ngân thường được giới báo chí ngày đó coi là một khuôn mặt bí ẩn. Đối với các chính khách “vòng trong” thì ông là người đã nắm giữ nhiều quyền lực quan trọng trong hậu trường chính trị miền Nam bấy giờ.

Ông Nguyễn Văn Ngân khởi sự làm việc với TT Thiệu năm 1965, thời gian ông Thiệu giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng trong chính phủ Phan Huy Quát. Năm 1967, ông là đại diện của Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia trong liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ tại Hội đồng Tuyển cử Trung ương, trong cuộc chạy đua vào dinh Độc lập. Năm 1971, TT Thiệu ủy nhiệm ông chỉ đạo toàn bộ cuộc bầu cử tháng 10-71; ông là tác giả đạo luật bầu cử tổng thống với điều 10 khoản 7 đưa đến tình trạng độc cử. Năm 1974, ông là tác giả tu chính án Hiến pháp tháng 01-74 gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thống. Ông là người trách nhiệm điều hợp các cơ chế hiến định: Quốc hội, Tối cao Pháp viện, Giám sát viện… và có ảnh hưởng quan trọng đến sinh hoạt của các cơ chế này; đồng thời là người tổ chức đảng Dân Chủ là đảng cầm quyền của TT Thiệu gồm hệ thống quần chúng, chính quyền và quân độị Tháng 5-1974 ông bị TT Thiệu giải nhiệm và buộc phải rời khỏi Việt Nam. Cuối tháng 01-75, ông từ Mỹ và Gia nã đại về nước. Đầu tháng 4 năm ấy ông bị TT Thiệu hạ lệnh cho cơ quan an ninh “cô lập” và chỉ được trả tự do sau khi TT Thiệu rời Việt Nam đi Đài Loan tối ngày 25- 4-1975.

” Ông Vũ hỏi ông Ngân, “Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng như Tổng thống Thiệu, sự lãnh đạo đều có tính cách chuyên hoạnh cá nhân. Điều này có phải vì đầu óc độc tôn, tham quyền cố vị của lãnh tụ như hiện tượng phổ quát trong hầu hết các quốc gia chậm tiến?

Đ.- Tại miền Nam Việt Nam dưới thời Tổng thống Diệm và Tổng thống Thiệu có nhiều nguyên nhân đưa đến tình trạng lãnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân: nền dân chủ phôi thai, sinh hoạt chính đảng yếu kém, xã hội phân hóa, chiến tranh v.v..nhưng một trong những nguyên nhân chính có tính cách quyết định là chính sách can thiệp của người Mỹ.

Người Mỹ đã thay thế nguời Pháp với chánh sách thực dân mới Vào thế kỷ 19 người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt Nam trong việc thiết lập một tiền đồn chống Cộng tại Đông Nam Á của chủ thuyết Dominọ Người Mỹ đến Việt Nam không vì quyền lợi người Việt Nam mà vì quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ xiển dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, nội loạn…để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chánh và ám sát lãnh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ.

Chánh sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đã được xử dụng như lưỡi gươm Damoclès. Trong khi viện trợ của Nga-Tàu cho Bắc Việt nặng tính cách sản xuất thì viện trợ của Mỹ cho miền Nam Việt Nam hoàn toàn có tính cách tiêu thụ. Trong thời chiến Bắc Việt có khu kỹ nghệ nặng gang thép Thái Nguyên và cục quân giới của tướng Trần đại Nghĩa có khả năng cải tiến Sam 2 bằng cách ngăn chận hệ thống nhiễu sóng radar và đạt tầm cao hạ máy bay B52 của Mỹ bấy giờ đươc xem là loại máy bay bất khả xâm phạm có sức oanh tạc phá hoại ghê gớm – thì kỹ nghệ quốc phòng của miền Nam Việt Nam là con số không. Những dự án xây dựng cơ sở đúc súng đạn, nhà máy lọc dầu, phân bón… từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm đều bị người Mỹ ngăn chận.

Đối với một dân tộc, dù viện trợ có tính cách sản xuất, muốn xử dụng hữu hiệu cũng đòi hỏi phải có tinh thần tự lực, tự cường; huống hồ dân tộc đó vừa thoát khỏi ách đô hộ trăm năm của thực dân Pháp, chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ý chí đề kháng và nô lệ hóa Cùng với chính sách viện trợ có tính cách tiêu thụ và nhân danh dân chủ để can thiệp vào nội bộ quốc gia được viện trợ, chính quyền của quốc gia được viện trợ bị xem là công cụ của ngoại bang, đã đẩy một số quần chúng đi về phía cộng sản và dưới mắt thế giới Việt Nam Cộng Hòa đã bị cô lập, cuộc chiến đấu bảo vệ dân chủ và tự do của nhân dân miền Nam Việt Nam bị mất chánh nghĩa.

Những khó khăn thực sự của ông Diệm và ông Thiệu phát xuất từ chính sách can thiệp của người Mỹ, có thể nói nếu giải quyết được những khó khăn nầy thì sẽ giải quyết được 90% những khó khăn trong việc xây dựng đất nước và chống cộng. Để đối phó với chánh sách hai mặt của người Mỹ, ông Diệm và ông Thiệu bị dồn vào thế lãnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân, và như một vòng luẩn quẩn không lối thoát, sự lảnh đạo có tính cách chuyên hoạnh cá nhân đã làm mất hậu thuẫn rộng rãi trong quần chúng. Chính sách thực dân mới của người Mỹ là yếu tố có tính cách quyết định đã làm sụp đổ miền Nam Việt Nam. Sau thế chiến thứ I, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền đã đưa ra một bản cáo trạng lên án thực dân Pháp, thiết tưởng chế độ thực dân mới của Mỹ còn tàn bạo gấp nhiều lần so với thực dân cũ vì sau 30/4/75 Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn bị xóa sổ trên bản đồ thế giới.

H.- Ông có đồng ý rằng chế độ đệ I và đệ II Cộng hòa cũng như ông Diệm và ông Thiệu đã được Hoa Kỳ yểm trợ nếu không muốn nói là đã góp phần quyết định?

Đ.- Không ai phủ nhận điều đó. Cũng như chế độ miền Bắc với Hồ Chí Minh. Đó là hậu quả đương nhiên của một thế giới lưỡng cực sau thế chiến thứ hai mà Việt Nam là một điểm nóng trong cuộc tranh chấp giữa tư-bản và cộng-sản. Người ta có thể nói Hồ Chí Minh là công cụ của cộng-sản quốc tế nhưng ông Diệm và ông Thiệu trong thực tế không phải là tay sai của Mỹ.

Hồ Chí Minh đã áp đặt chế độ cộng sản trên đất nước, thay thế xiềng xích nô lệ thực dân, phong kiến bằng xiềng xích cộng sản; sự dã man và tàn bạọ như thế nào thì tất cả mọi người đều biết. Và hậu quả di lụy của tinh thần nô lệ đã khiến cho một dân tộc vốn giàu lòng hy sinh, siêng năng, nhẫn nại, đã chiến thắng trong chiến tranh nhưng đã thất bại trong hòa bình – đất nước tụt hậu trong đà tiến của nhân loạị Sau Hiệp Định Genève 1954, người Pháp rút lui để lại miền Nam Việt Nam hoàn toàn bị kiệt quệ vì chiến tranh – để chống lại cộng sản quốc tế và Bắc Việt, chúng ta chỉ còn tài nguyên nhân lực là máu để đánh đổi viện trợ Mỹ cùng với các điều kiện áp đặt, không còn một sự lựa chọn nào khác. Ông Diệm và ông Thiệu đã lảnh đạo đất nước trong những điều kiện vô cùng khó khăn: xây dựng chế độ dân chủ trên một xã hội băng hoại bởi phân hóa với lịch sử ngàn năm phong kiến, nô lệ ngoại bang, chưa hề kinh qua một giai đoạn quá độ có ý niệm về dân chủ, tự do – không phải là một công việc dễ dàng; đồng thời phải chống lại xâm lăng cộng sản và chánh sách thực dân mới của đồng minh Mỹ, những người quốc gia Việt Nam đã phải chiến đấu sinh tồn trong một hoàn cảnh nghiệt ngã, trong cái thế trên đe dưới búa, giữa gọng kềm tư bản và cộng sản.

Chế độ đệ I và đệ II Cộng Hòa của miền Nam trước 1975 dẫu có nhiều khuyết điểm nhưng không ai có thể phủ nhận rằng các cấu trúc chính trị, xã hội, kinh tế ngày đó đã đặt nền móng vững chắc làm bệ phóng dẫn đầu những con rồng Á Châu sau nầy để trở thành một quốc gia hùng cường tại Đông Nam Á. Tổng thống Ngô Đình Diệm là một nhà ái quốc, người của chủ nghĩa dân tộc, đã bị người Mỹ giết vì bảo vệ chủ quyền quốc gia. Chính biến 1/11/63 và cái chết của ông là sự thất bại chung cho tất cả mọi người quốc gia Việt Nam về một giải pháp quốc gia. Hậu quả là việc quân đội Mỹ trực chiến và sự sụp đổ miền Nam Việt Nam 30/4/75. Chúng ta đã bị lôi kéo vào một cuộc chiến hoàn toàn không cần thiết vì đã không làm chủ được số phận của mình và tất cả dân tộc Vịệt Nam đều là nạn nhân với hơn hai triệu thương vong, hơn bảy triệu tàn phế, hơn hai triệu người bỏ nước ra đi tị nạn với hàng vạn người vùi thân trong biển cả, đất nước đổ nát…

Thời Tổng thống Thiệu khó khăn hơn thời Tổng thống Diệm rất nhiều: hơn nửa triệu lính Mỹ trấn đóng; tòa Đại sứ Mỹ thực tế là một chánh phủ Mỹ tại hải ngoại với một hệ thống cố vấn dày đặc trong tất cả mọi lãnh vực sinh hoạt quốc gia từ trung ương tới địa phương; số lượng nhân viên CIA chỉ sau trụ sở trung ương (Langley), là chi nhánh có nhân viên đông nhất trên thế giới; và ông Thiệu đã phải đối phó với một nghịch lý: trong khi khối cộng sản quốc tế và Bắc Việt tiếp tục leo thang chiến tranh thì người Mỹ thực hiện giải kết bằng cách rút quân trên chiến trường và nhượng bộ chính trị trên sinh mạng miền Nam Việt Nam tại hội đàm Paris.

Trong cuộc chiến chống cộng và suốt thời gian lãnh đạo quốc gia, có thể nói 90% thời giờ của ông Thiệu được xử dụng trong nỗ lực không ngừng để tranh thủ và đối phó với người Mỹ mặc dầu phạm vi xoay sở của ông mỗi ngày một thâu hẹp; lý do giản dị là chánh sách của Mỹ sẽ quyết định sinh mạng cuả miền Nam Việt Nam chứ không phải cộng sản. Trong đời chánh trị của ông Thiệu có hai kẻ thù chính là cộng sản và Mỹ, và ông đã mang mối hận thù xương tủy người Mỹ đến tận cuối đờị Năm 1983, một buổi chiều ông lái xe cho tôi xem thành phố Londres, ông chỉ vào cái ảnh nhỏ của đứa con út sinh tại Londres sau 1975 gắn gần tay lái, ông nói: khi nó mới tập nói, tôi dạy cho nó: “kẻ thù của con là cộng sản và Mỹ…”. Lúc ông chết, ý nguyện của ông muốn hỏa táng để đem tro cốt về Việt Nam nếu có điều kiện, không thì sẽ rải xuống biển chứ không muốn chôn trong lòng đất Mỹ.

H.- Dù sao ông Thiệu đã cầm quyền 10 năm từ 1965-1975, -hòa đàm Paris kéo dài từ 1968 đến 1973– thời gian đủ để tiên liệu và thực hiện những biện pháp cần thiết hầu ứng phó với vấn đề giải kết của Hoa Kỳ nhưng ông Thiệu đã hoàn toàn thụ động. Theo ông, phải chăng tình trạng nầy đã đóng góp vào sự sụp đổ của miền Nam ngày30/4/75?

Đ.- Ông Thiệu thực sự cầm quyền qua cuộc bầu cử tháng 9/1967. Trong khi quân đội Mỹ còn đổ quân vào Việt Nam thì ông Thiệu đã đưa vấn đề giải quyết chiến tranh như một trong ba vấn đề căn bản của chương trình tranh cử: Xây dựng dân chủ – Giải quyết chiến tranh – Cải tạo xã hộị Sau vụ Tết Mậu thân 1968, ông Thiệu là người chủ động đưa ra đề nghị Hoa Kỳ có thể thực hiện việc rút quân từng giai đoạn trong mục tiêu tranh thủ thời gian đổi lấy viện trợ kinh tế và quân sự vì ông hiểu Việt Nam Cộng Hòa sẽ không có tư thế tại hội nghị hòa đàm nếu không chủ động trên chiến trường v…v…

Nếu cai trị là tiên liệu thì ông Thiệu là người có khả năng tiên liệu nhưng ông không có khả năng để thay đổi được chính sách của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu mà vị thế địa lý chánh trị của miền Nam Việt Nam không còn nằm trong quyền lợi ưu tiên của Mỹ, mặt khác, chúng ta không còn ở vào thời đại có thể dùng ” tầm vông vọt nhọn ” để chống trả với quân thù. Năm 1967 cùng với việc tiếp tục đổ quân vào Việt Nam đại sứ Bunker đã được tổng thống Johnson gởi sang Việt Nam với sứ mạng thực hiện việc giải kết để rút quân. Khi Nixon thắng cử 1968, đại sứ Bunker đã được yêu cầu lưu nhiệm cho đến tháng 5/1973 sau khi Mỹ đã thực hiện xong việc rút quân và lấy lại tù binh.

Chính sách của đảng Dân Chủ và Cộng Hòa Mỹ trong vấn đề giải kết chiến tranh Việt Nam hoàn toàn có tính cách nhất quán. Nếu sau Hiệp Định Genève 1954, người Mỹ ủng hộ ông Ngô Đình Diệm lật đổ Bảo Đại để thiết lập nền đệ I Cộng Hòa (1956 – 1963) như căn bản chánh trị để biện minh cho nhân dân Hoa Kỳ và thế giới về chính nghĩa của sự can thiệp vào Việt Nam nhằm ngăn chận sự bành trướng của cộng sản tại Đông Nam Á, thì năm 1967, người Mỹ đã áp lực chánh quyền quân nhân phải khai sinh nền đệ II Cộng Hòa, thực hiện chánh quyền dân chủ hợp hiến, hợp pháp để đưa Việt Nam Cộng Hòa vào bàn hội nghị và tạo bàn đạp cho Hoa Kỳ hòa đàm với cộng sản để rút quân, lấy lại tù binh, chấm dứt sự can thiệp và để miền Nam cho các phe phái chính trị tự giải quyết trên căn bản “dân tộc tự quyết”, điều mà hai thập niên trước đó Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận.

H.- Ông nghĩ sao về nỗi căm phẫn của đại đa số quần chúng đối với ông Thiệu sau 30/4/75?

Đ.- Quần chúng đánh giá lãnh đạo qua sự thành bại, họ có quyền căm phẫn vì họ là lớp người bị hy sinh nhiều nhất cho đất nước cũng như phải gánh chịu những hậu quả bi đát nhất sau 30/4/75 – nỗi căm phẫn của họ là chính đáng; hơn nữa người lãnh đạo cũng như thuyền trưởng một con tàu, dù tàu chìm bởi bất cứ lý do gì thì thuyền trưởng phải là người rời tàu sau cùng hoặc phải chết theo tàu; mặt khác họ không ở cương vị để có thể nhìn vào mặt trái của cuộc chiến – vừa có tính cách nội chiến vừa có tính cách ủy-nhiệm mà những yếu tố quyết định hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của người quốc gia.

Tôi nhớ vào khoảng 1990 ông Thiệu có buổi nói chuyện với một số đồng bào tại Westminster, California, một người đàn bà được một tổ chức chống đối sắp đặt đã cầm micro chửi bới ông Thiệu nặng nề. Ông Thiệu chỉ trả lời: tôi rất thông cảm với nỗi căm phẫn của bà. Tôi hiểu sự im lặng của ông, nỗi cô đơn và cay đắng ông đã mang theo đến cuối đờị Ông Thiệu đã chết chắc hẳn không cần tôi biện hộ. Tôi cũng không làm công việc biện hộ mà chỉ nói lên sự thực mà tôi biết – tôi không có bổn phận tranh luận với bất cứ ai và cũng không nhằm thuyết phục bất cứ người nào.

Đối với tôi, nói những điều tốt mà người ta không có cũng tệ hại như nói những điều xấu mà người ta không phạm phải vì tất cả đều là dối trá – nhất là đối với những người có đời sống công liên hệ đến vận mạng quần chúng thì còn là vấn đề trách nhiệm. Ông Thiệu có những lỗi lầm trầm trọng trong vấn đề lãnh đạo quốc gia cũng như có những sai phạm cá nhân ảnh hưởng đến uy tín lãnh đạọ Ông là một nhà chính trị thực tiễn mà hoàn cảnh và môi trường trưởng thành không thể tạo ông thành một kẻ tử đạọ Tuy nhiên đến nay tôi vẫn nghĩ rằng nếu sự hy sinh có thể cứu vãn tình thế thì ông sẽ không từ nan. Lần tôi gặp lại ông ở Londres, ông nói như tâm sự: làm một người lính ra trận và hy sinh là một hành động dũng cảm, nhưng làm sao có thể sống sót để tiếp tục cuộc chiến đấu thì thật là khó. Xét định một con người cần nhìn vào tổng thể và đặc biệt là những giờ phút nghiêm trọng sinh mạng bị thử thách. Không thể chỉ dùng những sự việc tiêu cực để tổng quát hóa mà phải xét đến các mặt tích cực của cá nhân đó. Tuy nhiên việc định công luận tội là côngviệc của lịch sử sau nầy.

H.- Nhiều hồi ký chánh trị nói rằng ông Thiệu luôn luôn bị ám ảnh bởi việc người Mỹ thảm sát các ông Diệm, Nhu nên thường thay đổi chỗ ngủ hàng đêm v.v… Điều này có thực không, và nếu thực thì đã ảnh hưởng như thế nào đến vấn đềlãnh đạo.

Đ.- Hàng năm đến 1/11, ông Thiệu có xin thánh lễ cầu hồn cho cố tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu tại dinh Độc-Lập. Ông Thiệu có kể cho tôi nhiều lần về sáng 2/11/63 sau khi thanh toán mục tiêu dinh Gia-Long, ông về trình diện Bộ Tổng –Tham- Mưu và sau đó có ra lệnh cho lính mở bửng thiết vận xa để chào thi hài ông Diệm, Nhu trước khi về nhà.

Tôi thường qua chỗ ở của ông Thiệu để làm việc những khi ông không qua văn phòng và có khi làm việc trong phòng ngủ khi ông bị đau, tôi không thấy dấu hiệu thay đổi chỗ ngủ hàng đêm như đồn đại sau nàỵ Có những biện pháp an ninh lúc ông đi ra ngoài, chẳng hạn mặc áo chắn đạn, hoặc cái podium ông đứng nói chuyện ngoài bằng gỗ nhưng trong có tấm thép chắn đạn, những biện pháp an ninh đặc biệt trong các cuộc diễn binh v.v…Tôi không để ý những chuyện nầy, đây là công việc của bộ phận an ninh. Chỉ có điều là những đề phòng nầy nhằm về phía Mỹ hơn là cộng sản.

Thực ra ông Thiệu đã sống trong sự đe dọa thường trực của người Mỹ về đảo chánh và ám sát suốt thời gian từ lúc cầm quyền 1967, đến lúc rời Việt Nam đi Đài Loan 1975. Đồng minh Mỹ là một đồng minh bất trắc, khó tiên liệu, và ông Thiệu luôn ở trong tình trạng của người làm xiếc đi dây nguy hiểm. Có lần tôi lưu ý ông Thiệu về trường hợp Tổng Thống Magsaysay, Lý Thừa Vãn, Ngô Đình Diệm…, ông Thiệu nói với tôi là ông không có an ninh…

Trong giai đoạn giải kết, quyền lợi của Hoa Kỳ và của Việt Nam Cộng Hòa tách rời đi đến đối nghịch, trong khi đó quyền lợi của Hoa Kỳ và của cộng sản xích lại gần nhau để đi đến thỏa hiệp chung. Nếu cộng sản áp dụng chính sách vừa đánh vừa đàm với Việt Nam Cộng Hòa và phối hợp cuộc đấu tranh trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao…thì chính sách của “đồng minh” Hoa Kỳ đối với “đồng minh” Việt Nam Cộng Hòa cũng tương tự: cà rốt và cây gậy đã được áp dụng triệt để với ông Thiệu trên mọi bình diện để buộc Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận đường lối thương thuyết nhượng bộ cộng sản của Mỹ. Người Mỹ đã tiếp tay với cộng sản trong việc cổ võ, ủng hộ các phong trào phản chiến, đòi hòa bình, hòa hợp hòa giải dân tộc, lực lượng thứ ba… mà thực chất là những tổ chức trá hình của cộng sản nhằm phá vở thế hợp hiến, hợp pháp của chế độ VNCH, và đã không ngần ngại đâm sau lưng những người lính VNCH đang chiến đấu trong cái gọi là chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh” để người Mỹ rút quân. Ông Thiệu nói với tôi vụ sư đoàn 3 rút bỏ Quảng- trị 1972 là một “sabotage politique”.

Nixon đã viết thư cho ông Thiệu nhắc đến ý đồ thanh toán ông Thiệu của chính quyền Johnson vào năm 1968 và vụ đảo chánh 1/11/63 như một đe dọa trực tiếp nếu ông Thiệu không tuân thủ những đòi hỏi của Mỹ. Vào những tháng cuối trước khi ký HĐ Paris, ông Thiệu nuôi ý định tự sát như một phương cách chống trả cuối cùng. Vào lúc căng thẳng nầy chúng tôi đã triệu tập đại hội nghị viên toàn quốc về Saigòn, tuần hành vào dinh Độc Lập cùng các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ lập trường “bốn không” của ông. Tài liệu của đại sứ Bunker đã ghi nhận ý định tự sát nầy của ông Thiệu qua một báo cáo của ông Trần Thiện Khiêm ghi âm cuộc đối thoại giữa ộng Thiệu, Khiêm. Chính ý định tự sát nầy đã khiến ông Thiệu “lì lợm” trước những đe dọa của Nixon và đã đưa đến những nhượng bộ của Nixon bằng những cam kết mật. Mỗi lần nhớ đến ông Thiệu, thực sự tôi không nghĩ đến những vinh quang bề ngoài của một Tổng Thống mà là những chuỗi ngày khó khăn của đất nước, những áp lực có tính cách quyết định ngày đó của Hoa Kỳ đã đè nặng lên ông, ông đã chiến đấu như một người lính đơn độc không vũ khí, bằng lòng dũng cảm và sinh mạng của chính mình. Tôi không có đức tin tôn giáo nhưng tôi vẫn cầu mong cho ông, một tín đồ ki-tô-giáo, được bình an và thanh thản nơi vĩnh hằng.

H.- Có phải tổng thống Thiệu nói với ông là việc sư đoàn 3 tháo chạy đã để lại “đại lộ kinh hoàng” và Quảng-trị thất thủ vào tháng 5/72 là một “sabotage politique” của người Mỹ?

Đ.- Đúng như vậỵ Hậu quả đã để lại hơn 20 ngàn thương vong trên “đại lộ kinh-hoàng.”

H.- Ông Thiệu đã nói với ông trong bối cảnh nào

Đ.- Ngay hôm Quảng-trị thất thủ. Hôm đó vào lúc xế chiều tôi đang họp trung ương đảng bộ Dân – Chủ tại lầu nhà trắng trong khuôn viên dinh Độc-Lập thì được điện thoại của nhân viên văn phòng cho biết đại tá Đỗ Đức Tâm, thuyết trình viên quân sự của Tổng-Thống đang có mặt tại Văn Phòng của tôi để thuyết trình về tình hình quân sự sau khi vừa thuyết trình cho Tổng-Thống xong.

Vì bận họp nên tôi yêu cầu đại tá Tâm gặp tôi tại lầu nhà trắng để thuyết trình cho tất cả cùng nghẹ Sau phần thuyết trình, tôi nhớ rõ câu hỏi sau cùng của nghị sĩ Trần Trung- Dung, nguyên Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng của tổng thống Diệm: “…liệu chúng ta có giữ được Quảng-trị không? ” Đại tá Tâm “…chắc chắn chúng ta giữ được.” Chừng nửa giờ sau, điện thoại trên bàn họp reo, tôi nhắc máy, đầu dây là đại tá Tâm cho biết trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh quân đoàn I vừa điện trình Tổng Thống là Quảng trị đã thất thủ trưa hôm naỵ Sự việc cho thấy là trung-tướng Lãm không biết sư đoàn 3 rút bỏ Quảng-trị và như vậy là đã có một “sự cố bất thường” xẩy ra nên tôi bỏ phòng họp đi gặp tổng thống Thịêu ngay lúc đó. Tôi thấy ông rất bình tĩnh. Ông nhìn tôi nói: tôi điện thoại gần như mỗi ngày cho ông Lãm về tình hình quân sự Quảng–trị, tối qua tôi còn nhắc ông Lãm phải coi chừng “thằng cộng sản” ngày 1/5, ông Lãm bảo đảm với tôi là không việc gì, thế mà như vậỵ Ông dằn mạnh: đây là một “sabotage politique”. Lúc bấy giờ chỉ có tôi và ông.

Những chuyện như vậy thuộc loại “cấm kỵ” không phải có thể nói với bất cứ ai và không bao giờ ông nói khi có sự hiện diện của người thứ ba. Đó là nguyên tắc ngăn cách ông vẫn thường áp dụng và cũng là cách để bảo đảm sựï an toàn cho chính ông. Trong trường hợp này, ông Thiệu là người duy nhất có đủ yếu tố chính trị để thẩm định, vì ông là người trực tiếp chịu các áp lực của Mỹ. Bấy giờ là tháng 5/1972, trong mật đàm Paris Mỹ và cộng sản đã đạt được các thỏa thuận căn bản, chỉ còn trở ngại về phía ông Thiệu. Gần đây tôi có đọc một chứng liệu của đại-sứ Bunker thuật lại phiên họp tại dinh Độc-Lập một ngày sau khi Quảng-trị thất thủ giữa đại-sứ Bunker, tướng Abrams và tổng thống Thiệụ Ông Thiệu đã không hề quy trách cho các giới chức quân sự Việt Nam, ông im lặng một cách khó hiểu và mãi đến phút cuối cùng “bật nói” :…” không có lý do gì Quảng trị lại bị thất thủ, tướng Giai phải chịu trách nhiệm về việc nầỵ”

Tướng Vũ văn Giai, Tư lệnh sư đoàn 3 giới tuyến, được di tản bằng trực thăng của Mỹ, bỏ lại binh sĩ và dân chúng với “đại lộ kinh hoàng” – đã bị đưa ra Tòa án quân sự, bị tước đoạt binh quyền và ở tù. Tổng thống Thiệu đã ra lệnh tái chiếm Quảng trị ngay sau đó mặc dầu biết rằng Quảng trị sẽ thành một đống gạch vụn, sẽ phải hy sinh những người lính thiện chiến của những đơn vị thiện chiến nhất mà tổn thất khó có thể bù đắp được trong thực tế bấy giờ – nhưng ông đã phải quyết định như vậy, một quyết định chính trị để chứng tỏ quyết tâm của quân dân miền Nam với thế giới, với nhân dân Hoa-Kỳ, nhằm chống trả các thỏa hiệp mật giữa cộng sản và Mỹ mà sau nầy được cụ thể trong Hiệp Định Paris 1973.

Cũng tương tự như vậy, việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa vào đầu năm 1974 đã được sự thỏa thuận ngầm của Mỹ để đặt cộng sản Hà Nội sau nầy trước một “fait accompli “. Ông Thiệu biết Hải Quân Việt Nam không đủ sức đương đầu với hải quân Trung Cộng và hạm đội 7 Hoa Kỳ sẽ không can thiệp nhưng ông vẫn ra lệnh tái chiếm như một chứng liệu về chủ quyền lãnh thổ sau nầỵ Bởi chính sách hai mặt của Hoa Kỳ, nhiều áp lực nặng nề riêng cá nhân ông phải chịu đựng không được chia sẻ và trong nhiều trường hợp ông phải đưa ra những quyết định chuyên độc mà không thể giải thích với đồng bào cùng chiến hữu của ông.

H.- Nhận định của ông Thiệu về vụ sư đoàn 3 tháo chạy có mâu thuẫn với các quyết định của người Mỹ mở rộng chiến tranh qua các cuộc tấn công của QLVNCH vào hậu cần của cộng sản tại Miên năm 1970 và hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào 1971 hay không?

Đ.- Không. Các cuộc tấn công vào hậu cần cộng sản tại Miên 1970 và Hạ Lào 1971 chỉ có tính cách nhất thời nhằm mục đích chính là dùng xương máu của quân đội VNCH để mở rộng hành lang an toàn cho việc triệt thoái quân đội Mỹ.

Ông Thiệu miễn cưỡng phải chấp nhận mở cuộc hành quân Lam Sơn 1971 vì Hạ Lào tiếp giáp với hậu phương lớn Bắc Việt. Khi có dấu hiệu sa lầy ông đã ra lệnh cho trung tướng Hoàng Xuân Lãm đưa ngay một đơn vị vào Tchepone “đái một bãi” (nguyên văn) và rút ra ngay lập tức. Cần lưu ý là chương trình rút quân của Mỹ không phụ thuộc vào khả năng thay thế của quân lực VNCH, và chương trình Việt Nam hóa thực chất chỉ nhằm yểm trợ cho việc rút quân của Mỹ chứ không phải để VNCH có đủ sức đề kháng và tồn tạị

H.- Sau này, nhiều người trong đó có những viên chức chính phủ của ông Thiệu cho rằng ông Thiệu đã dựa vào những cam kết mật của tổng thống Nixon nên đã chấp nhận ký kết Hiệp Định Paris vì không hiểu rõ tổ chức công quyền của Hoa Kỳ – thẩm quyền của hành pháp và lập pháp. Như tiến sĩ Kissinger đã nhận định: đó chỉ là những ý định của tổng thống Nixon, không có tính cách cam kết quốc gia vì không có phê- chuẩn của quốc-hộị

Đ.- Vào lúc bấy giờ ông Thiệu cũng hiểu như giải thích của Kissinger sau nầy, nhưng ông cũng hiểu rõ vị thế yếu kém của VNCH và giới hạn cuối cùng mà ông có thể đòi hỏi ở Nixon. Ông Thiệu có chủ định rõ ràng là mua thời gian còn lại của nhiệm kỳ Nixon trong hoàn cảnh “còn nước còn tát “.

Chúng ta cần nhớ rằng không hề có một hiệp ước Việt Mỹ nào về việc Mỹ đổ quân và tham chiến ở Việt Nam cũng như không có một văn kiện pháp lý nào về quy chế trấn đóng của quân đội đồng minh trên lãnh thổ Việt Nam bấy giờ. Những tiểu đoàn TQLC Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng đầu năm 1965 dưới thời chính phủ Phan Huy Quát, ông Thiệu là Tổng trưởng Quốc Phòng kiêm Phó Thủ tướng; ông nói với tôi: tình hình bấy giờ hơn hai phần ba lãnh thổ bị cộng sản ung thối, nếu quân đội Mỹ không can thiệp kịp thì miền Nam mất. Thời đệ I Cộng Hòa, tổng thống Diệm muốn có một hiệp ước hỗ-tương như ở Đại Hàn nhưng người Mỹ từ chốị Các cố vấn quân sự Mỹ đến và đi không qua sự kiểm soát của nhà chức trách Việt Nam. Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng sản hoàn toàn bị phụ thuộc Hoa Kỳ, chúng ta không ở vào vị thế có thể đặt điều kiện với họ. Quân đội Mỹ muốn đến là đến, muốn đi là đi, hậu quả là vấn đề đơn phương rút quân, Việt Nam hóa, Hiệp Định Paris… Tương quan Việt Mỹ là một tương quan thực tế mà người Mỹ cố tình không để bị ràng buộc vào những văn kiện pháp lý “giấy trắng mực đen” như ở Triều tiên, Nhật bản, Âu châu là những nơi Hoa Kỳ có mục tiêu dài hạn.

H.- Đến bao giờ thì ông Thiệu mất tin tưởng vào các cam kết mật của Nixon? Vụ ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long vào đầu năm 1975 có phải là một trắc nghiệm về những cam kết mật hay không?

Đ.– Ngay sau cuộc gặp gỡ Thiệu – Nixon tại San Clemente tháng 4/73. Về phương diện biểu kiến cuộc gặp gỡ mang nhiều ý nghĩa tích cực như là một sự xác nhận các cam kết mật, sự tiếp tục ủng hộ của Hoa Kỳ với VNCH và đặc biệt với ông Thiệu, nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược.

Cuộc gặp gỡ mặt đốimặt đã khẳng định cho ông Thiệu thấy không còn hy vọng vào các cam kết mật cũng như các viện trợ quân sự và kinh tế đã được hứa hẹn trước đâỵ Đây là lý do và thời điểm quyết định việc tu chính hiến pháp: gia tăng nhiệm kỳ 3 tổng thổng. Cuộc độc cử 1971 đã làm sút giảm uy tín chính trị của ông Thiệu; Hiệp Định Paris thừa nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam, ngưng bắn tại chỗ, chinh phủ liên hiệp ba thành phần đã hoàn toàn xóa bỏ lập trường bốn không của ông; người Mỹ đã hoàn tất việc rút quân và lấy lại tù binh; và nay là hiểm họa Hoa Kỳ bỏ rơi… khiến ông Thiệu bị lột truồng như câu chuyện ông vua không quần áo (the emperor without any chothes) và hoàn toàn trắng taỵ Tư thế lãnh đạo của ông Thiệu bị đặt trong hoàn cảnh thử thách nghiêm trọng và đây là lý do thực sự của vụ tu chính hiến pháp đã không bao giờ được tiết lộ. Nội dung tu chính bấy giờ được giữ mật vì phải chờ sau cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị viện tháng 10/73 mới đủ túc số thực hiện.

Việc tu chính không nhằm vào nhiệm kỳ 3 Tổng Thống mà mục đích thực sự là bày tỏ sự tín nhiệm của dân chúng qua Quốc Hội “để tái trang bị” tư thế lãnh đạo của ông Thiệu hầu đối phó với tình thế mớị Dù muốn hay không sinh mạng chính trị của ông Thiệu đã gắn liền với sự còn mất của chế độ và sau ông sẽ là trận hồng thủỵ Trong cuộc gặp các dân biểu, nghị sĩ ủng hộ tu chính Hiến Pháp tại hội trường khách sạn Majestic vào đêm trước hôm biểu quyết, tôi có nói rõ: “đây không phải là hành động ủng hộ cá nhân tổng thống Thiệu mà là hành động của mỗi chúng ta để tự cứu”. Có thể họ hiểu là tình hình nghiêm trọng nhưng không biết là đang bị Hoa Kỳ bỏ rơi và đất nước đã ở trên bờ vực thẳm.

Nếu Kissinger đã tiên liệu thời gian có thể coi được (decentinterval) từ HĐ Paris 1/73 đến lúc miền Nam sụp đổ là một năm rưỡi thì ông Thiệu đã tiên liệu một thời gian ngắn hơn. Đầu năm 1974 cũng là lúc Quốc Hội biểu quyết tu chính Hiến Pháp, ông Thiệu nói tại Hội đồng Tổng trưởng: “…các quan sát viên quốc tế rất ngạc nhiên khi thấy chúng ta còn ngồi ở đây hôm nay, tất cả đều nghĩ rằng miền Nam Việt Nam chỉ có thể tồn tại không quá sáu tháng sau HĐ Paris…”. Như một người chết đuối vớ bất cứ bèo bọt nào, ông ra lệnh mật cho Bộ Tổng Tham Mưu kiểm thính điện đài các dàn khoan để tìm hiểu trữ lượng dầu hỏa với hy vọng Mỹ sẽ không bỏ rơi Việt Nam, ông nói: tôi sẽ làm bộ trưởng dầu hỏa chứ không làm tổng thống. Ông chỉ thị cho chính phủ tạo điều kiện dễ dàng cho ngoại quốc đầu tư, ông nói với tôi: bây giờ cho không để bọn nó vào (đầu tư) cũng phải “cho không”.

Đối với cộng sản, cuộc tấn công chiếm Phước Long đầu năm 1975 là một trắc nghiệm về ý đồ tái can thiệp của Mỹ được mệnh danh là đòn “trinh sát chiến lược”, sau đó Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Tây Nguyên và tiếp theo là chiến dịch Hồ Chí Minh. Đối với ông Thiệu quyết định không tái chiếm Phước Long vì sẽ tổn thất rất nặng không thể bù đắp, có chiếm lại cũng không giữ được, lực lượng trừ bị không còn và phải bảo toàn lực lượng cho các cuộc tấn công sắp tới của cộng sản.

H.– Ngoài việc tu chính gia tăng ba nhiệm kỳ Tổng Thống, còn có việc gia tăng thời hạn mỗi nhiệm kỳ từ 4 năm lên 5 năm.

Đ.– Lý do được viện dẫn của tu chính là chương trình kinh tế ngũ niên nhưng sự thực là chúng tôi muốn có khoảng cách xa giữa cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ và Tổng Thống Việt Nam vì nhiệm kỳ Tổng Thống Mỹ cũng 4 năm, và cứ 4 năm thì nước Mỹ lại bị một cơn sốt chính trị ảnh hưởng nặng nề đến cuộc bầu cử Tổng Thống Việt Nam. Đây không phải là mục tiêu chính của tu chính Hiến Pháp nhưng nhân việc tu chính Hiến Pháp thì chúng tôi bỏ vào luôn.

H.- Ông Thiệu có tham khảo ý kiến của người Mỹ về việc tu chính Hiến Pháp hay không?

Đ.- Không.

Như tôi đã nói ở trên, nội dung tu chính Hiến Pháp đã được quyết định ngay sau khi tổng thống Thiệu ở San Clemente về nhưng được giữ mật cho đến sau cuộc bầu cử bán phần TNV tháng 10/73. Đại sứ Martin chỉ được tổng thống Thiệu thông báo sau khi dự luật tu chính được đệ nạp tại Quốc hội tức là vào khởi đầu giai đoạn công khai. Ông Thiệu nói với tôi: Ngày hôm qua tôi có mời ông Martin vào đây (dinh Độc Lập) để thông báo về việc chúng ta tu chính Hiến Pháp – tôi nói với ông Martin là tôi nhận thấy có bổn phận phải thông báo cho ông đại sứ vì Hoa Kỳ là đồng minh chính yếu đã giúp đỡ chúng tôi trong cuộc chiến… Cụ Hương được ông Thiệu thông báo vào lúc dự luật tu chính được đưa cho các dân biểu, nghị sĩ đứng tên tác giả v.v… Nội vụ hoàn toàn được giữ mật cho đến giờ cuối. ÔNG NGÂN NÓI NHIÊU về vai trò xấu xí của người Mỹ tại Việt Nam. Ðiều này không phải là một khám phá mới. Chúng ta cảm phục chế độ chính trị dân chủ và tổ chức kinh tế, xã hội công bằng và cổi mở của Hoa Kỳ, nhưng nhiều người bất mãn về ngoại chính của họ đối với Việt Nam ngày trước, và đối với nhiều nước khác hiện nay.

Ông Ngân cũng thành công trong việc vẽ ra một ông Thiệu sợ Mỹ hơn sợ Việt Cộng, ưu tư và toan tính đối phó với Mỹ hơn là tìm cách bảo vệ miền Nam bằng những phương tiện quân sự eo hẹp hơn, nhưng cũng thích hợp hơn với hoàn cảnh của đất nước. Nhưng ông không trả lời đúng vào câu hỏi thứ 3, về việc ông Thiệu không làm những điều cần phải làm để bảo vệ đất nước trong giả thuyết người Mỹ giải kết. Ông nói ông không bào chữa cho ông Thiệu, nhưng trút toàn bộ trách nhiệm làm mất Việt Nam cho Hoa Kỳ lại là cách bào chữa kiến hiệu nhất. Ông Thiệu sợ Mỹ nhưng cũng chính ông lại tuyên bố là “không có viện trợ Mỹ, tôi không làm tổng thống nữa”, xin ông Ngân giải thích mâu thuẫn nàỵ Quan trọng nhất vẫn là vai trò của ông Thiệu trong những ngày tháng cuối cùng của Nam Việt.

(Nguyễn Ðạt Thịnh)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phỏng Vấn Ông NGUYỄN VĂN NGÂN (Nguyễn Đạt Thịnh)

Video clip; Gà Mái Tre ca bài ” Không còn Mùa Thu”

Kính mời các bạn nghe gà Mái Tre ca bài ” Không Còn Mùa Thu”

Lỗi
Video không tồn tại
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Video clip; Gà Mái Tre ca bài ” Không còn Mùa Thu”

Tin Tức Liên Quan Đến Hội Ngộ K1 San Jose

Thưa các bạn.
Còn đúng một tháng nữa là đến ngày Hội Ngộ K1 Hè 2017 tại thành phố San Jose Bắc California.
Thứ Bảy ngày 12 /8 tới đây BTC sẽ có một buổi họp để tổng kết và kiện toàn tổ chức cho hai ngày Hội Ngộ K1 sắp tới. Đây là lời yêu cầu của BTC:

Thưa các bạn  k1 về San Jose tham dự họp mặt khóa 1 ngày 9/9/17.  
Thứ bảy này     12/8/17, BTC sẽ họp tổng kết công tác cho ngày  HỘI NGỘ.  Xin quý bạn cho biết:   GẤP:
 1/    Có cần BTC  giúp  đưa đón tại  Phi Trường—-bến  xe đò…..khách sạn…??    XIN CHO BIẾT GẤP…!!!

2/ Thời gian ở SJ quý vị ơ đâu….???    Có cần BTC Sắp xếp  ơ nhà các bạn  khóa 1 không ????   XIN CHO BIẾT GẤP…!! 

Khi hôm xem qua danh sách các bạn về tham dự, Vinh có ý kiến:

– Cách nay 5-6 tháng chị Tố Tâm có gọi phone  cho mình hỏi thăm sức khỏe và hỏi “ANH VINH CÓ ĐI DỰ HỘI NGỘ K1 Tại SAN JOSE KHÔNG” Mình trả lòi có và nghĩ rằng: Chị Tố Tâm sợ mình không đi nên không ai chụp hình cho Chị Tố Tâm. Hôm nay xem danh sách thấy Tố Tâm với con số “0” ở hàng tham dự. Là sao, là sao  ????. Đây là cơ hội cuối cùng đấy nhé. Mua vé còn kịp mà chị Tố Tâm.

– Bạn Lê Ngọc Thịnh ợi. Trong danh sách mình cũng thấy trường hợp của bạn cũng giống như Tố Tâm.
Nầy nhé, qua sự tiết lộ của bạn Vưu Hùng Kiến mình gặp tuần rồi  cho biết: Vì Vưu Hùng Kiến định qua thăm bạn trong thời điễm hội ngộ K1, nên vì tình bạn mà bạn cancel không đi San Jose. Nhưng nay bạn VHK  không bỏ tiệm phở vì người phụ nấu đã về Việt Nam có việc, nên bạn Kiến không qua thăm bạn Thịnh như đã hứa. Bạn Kiến nhờ mình nói với Lê Ngọc Thịnh mua vé về dự Hội Ngộ K1 với anh em cho vui.  Mà Thịnh ơi giá vé máy bay tới San Jose hiện nay đang on sale, mua đi là vừa.

Hẹn gặp các bạn

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin Tức Liên Quan Đến Hội Ngộ K1 San Jose

Người Phế Binh Bán Vé Số_ Các Bài Họa

Nhân dịp ngày mai 6/8/2017 Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh  Người Thương Binh VNCH tổ chức tai thành phố San Jose California. Kính mời quý NT và các bạn thưởng thức 6 bài họa của các nhà thơ Đường Cóc K1 dựa vào ý bài thơ  “Người Phế Binh Bán Vé Số” của nhà thơ Nguyễn Vô Cùng.

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Người Phế Binh Bán Vé Số_ Các Bài Họa

Yes, I Can_YouTube

Xem để khâm phục nghị lực phi thường của những người khuyết tật:

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Yes, I Can_YouTube

Mừng Sinh Nhật tháng 8

SN Thang 8happy birthday

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng Sinh Nhật tháng 8

Phân Ưu thân mẫu K1 Lê Thành Quang

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Phân Ưu thân mẫu K1 Lê Thành Quang

Ông Bà K1 Lê Phát Minh từ Houston ghé thăm GĐ K1 Nam California

Kính thưa Quý Anh Chị.
Lúc 7:30 PM ngày 30/7/2017, các AC cựu SVSQ Khóa I HV/CSQG/VNCH đã có tổ chức buổi họp mặt để đón mừng AC Lê Phát Minh đến từ Texas tham gia lể giổ GS Nguyễn Ngọc Huy.
Hình ảnh ghi lại được trong buổi tiệc nầy, xin kính chuyển đến Quý AC.

Trân trọng kính chào
Thieu Vo
https://photos.app.goo.gl/Y09wpd9bkNZMVPM13

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Ông Bà K1 Lê Phát Minh từ Houston ghé thăm GĐ K1 Nam California

Xây Cầu Thay Tường_Lê Phương Lan

Xay Cau

Mái ấm hay tổ ấm gia đình đã đuọc người Mỹ gọi một cách thân thương, ngọt ngào “Sweet Home” đúng nghĩa phải là nơi mà mọi thành viên được tận hưởng không khí vui vẻ, an hòa; là nơi mà cha mẹ sau những giờ làm việc căng thẳng, con cái sau những giờ học tập miệt mài sẽ cùng nhau thưởng thức những bữa ăn ngon, chia xẻ những mẩu chuyện để cho tinh thần được thư giãn, thoải mái. Thế mà không ít mái gia đình đã chỉ là nơi mỗi thành viên chỉ tự xây những bức tường bao quanh để tránh những khuôn mặt cau có, những lời nói gay gắt, hay những khuôn mặt lạnh lùng, không tha thiết đến sự hiện diện của nhau. Vì đâu nên nỗi? Thôi thì “Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn cứ để bóng tối bủa vây”. Chúng ta hãy cùng nhau tìm cách phá bỏ những bức tường ngăn cách mà xây nên những nhịp cầu tương thân tương ái nhé!

            Trong nỗ lực xây dựng nhịp cầu tri âm cho tình yêu vợ chồng là khởi đầu của một gia đình đầm ấm, bạn đọc sẽ cùng tôi tìm ra những nét tích cực trong văn hóa cổ truyền dân tộc cũng như trong lời dạy của các học thuyết, tôn giáo lớn. Đồng thời người viết cũng thu thập những nghiên cứu, những lời khuyên của các chuyên gia tâm lý để tìm cách làm gia tăng cái “duyên” mà cất bớt đi gánh “nợ nần” trong mối “duyên nợ” của đôi vợ chồng hầu kiến tạo một mái gia đình yên hàn, êm ấm rất cần thiết để tạo sức sống và hạnh phúc cho mọi người thân yêu và cho chính chúng ta.

            Xã hội Việt Nam từ xa xưa đã được tổ chức theo chế độ mẫu hệ – hình thái này vẫn còn tồn tại trong một số tổ chức xã hội của các nhóm dân tộc thiểu số – Vì vậy trong dân gian mới truyền khẩu những ca dao tục ngữ tuy có tính cách “thậm xưng” – nói quá sự thật – như : “Trong nhà nhất vợ nhì trời. Hai bên cha mẹ là người tầm phơ.” Hay “Làm trai rửa bát quét nhà, vợ gọi thì dạ bẩm bà con đây”.

           Tuy nhiên khi những tư tưởng, học thuyết của Lão giáo và Khổng giáo được áp đặt vào nước ta đã  gây ảnh hưởng sâu đậm đến việc điều hành trật tự trong xã hội và trong gia đình người Việt Nam. Là một nền kinh tế nông nghiệp cần có nhân lực trong công việc trồng trọt, canh tác nên dựng vợ gả chồng để có con cái nối dõi tông đường là một việc hết sức hệ trọng. Trong Lão giáo thì trời đất càn khôn được cho là hình thành do hai yếu tố âm và dương. Cho nên cụ Nguyễn Gia Thiều trong “Cung Oán Ngâm Khúc đã nhấn mạnh đến tính chất thiêng liêng, quan trọng trong việc kết hợp vợ chồng: “Có âm dương, có vợ chồng. Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê”. Hòa hợp với đất trời, người nam và người nữ thiết lập mối liên hệ để xây dựng một dòng dõi gia tộc vi` rằng “Chim có tổ. Người có tông” để rồi  họ sẽ cùng với nhau làm nên một tổ ấm và lưu truyền dòng giống. Tư tưởng và học thuyết Khổng giáo coi việc duy trì hương khói tông đường là vô cùng hệ trọng. Ông cha chúng ta luôn ghi nhớ lời dạy rằng: “Phụ mẫu quá cố. Sự tử như sanh. Hương án ghi danh. Tử tôn kính giỗ.” ( Khi cha mẹ qua đời thì dù khi còn sống cũng như khi đã chết. Con cháu phải lập bàn thờ ghi khắc tên tuổi để tưởng nhớ, kính giỗ).

            Những lời dạy về bổn phận của người phụ nữ trong Khổng giáo thì việc giữ “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử) được xem như quá khắt khe đặt người đàn bà vào vị trí bị lệ thuộc suốt đời. Nhưng việc giữ gìn “tứ đức” (công, ngôn, dung, hạnh) vẫn luôn luôn có giá trị tích cực làm nên nhân cách và phẩm hạnh của người phụ nữ.

            Trong văn học dân gian chúng ta thấy có những câu truyện đề cao tình nghĩa thủy chung như “Sự Tích Trầu Cau” trong đó anh em, vợ chồng nhà họ Cao dù chết đi nhưng vẫn để lại những biểu tượng mà khi hòa quyện vào nhau lại trở nên một màu máu đỏ thắm. Câu truyện “Phạm Công, Cúc Hoa”, Phạm Công được Cúc Hoa kết duyên vợ chồng và nuôi cho ăn học. Sau này chàng thi đỗ trạng nguyên nhưng thà bị tù đày, bị đe dọa xử trảm chàng vẫn một mực từ chối kết hôn với công chúa.  Công chúa cảm kích nên đã xin vua cha tha tội và phong chức thống soái cho chàng. Sau đó trên đường phụng mệnh giết giặc ngoại xâm, vì Cúc Hoa đã mất, Phạm Công đã đem theo hai con là Nghi Xuân và Tấn Lực cùng với bình tro cốt của vợ lên yên ngựa ra chiến trường! Tướng giặc thấy người nước Nam coi trọng tình nghĩa như vậy nên khâm phục mà bãi bỏ việc đao binh!           mai am gia dinh Từ xưa với ý thức hôn nhân là việc hệ trọng các cụ cũng đã khuyên con cháu phải cẩn thận trong việc chọn lựa người phối ngẫu: “Lấy vợ xem tông. Lấy chồng xem giống” vì: “Vợ chồng là chuyện trăm năm. Phải đâu mớ cá mà tay cầm tay buông!”  Thi hào Nguyễn Du trong “Kim Vân Kiều” truyện cũng đã dặn dò rằng: “Trăm năm tính cuộc vuông tròn, phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.” Người xưa cũng rất am hiểu tâm lý khi khuyên con cháu nên chấp nhận sự khác biệt, bất toàn của nhau bởi vì “Nhân vô thập toàn.” và rằng :”Thế gian được vợ hỏng chồng. Đâu phải như rồng mà được cả đôi.” Không cần phải đợi đến khi có Freud là cha đẻ của môn tâm lý học, các cụ ngày xưa cũng biết rằng so sánh là một trong những nhân tố phá vỡ hạnh phúc gia đình cho nên đã căn dặn con cháu :”Rõ ràng giấy trắng mực đen. Duyên ai phận nấy chớ ghen làm gì!” Vợ chồng cứ yên phận chung sống bên nhau: “Dù ai lên võng xuống dù, ta vui duyên phận cần cù nuôi nhau.” Vì vậy dưới mái nhà tranh đã có được niềm hạnh phúc rất đơn sơ: “Đầu tôm nấu với ruột bầu. Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon!” Đó là cảnh đôi vợ chồng: “Vợ chồng như đôi chim cu. Chồng đi trước, vợ gật gù theo sau.”  Tình yêu vợ chồng đã được dân tộc ta nâng thành đạo nghĩa. Đạo vợ chồng sở dĩ được bền vững một khi đã được xây dựng trên căn bản tình và nghĩa. Từ đó mới tồn tại những lời ca dao chí tình, chí nghĩa: “Đứt tay một chút còn đau. Huống chi tình nghĩa lìa nhau sao đành!” Hãy nghe những câu nói rất mộc mạc nhưng trọn vẹn thủy chung: “Muối ba năm muối hãy còn mặn. Gừng chín tháng gừng vẫn còn cay. Đạo vợ chồng chớ đổi đừng thay! Dẫu nên danh vọng, dẫu ăn mày cũng vẫn theo nhau!”

            Tình yêu thương trong giáo lý nhà Phật có phạm trù rất rộng lớn, bao quát tất cả sinh linh vạn vật. Bản thân ta là “ngã” và chung quanh ta là những”tăng thân” bao gồm tất cả mọi người, mọi vật trong vũ trụ. Tất cả mọi chúng sinh ngay cả những vật vô tri vô giác cũng chính là từ bản thân ta. Ta yêu chúng cũng chính là yêu ta. Ta ghét chúng cũng là ghét chính ta. Ta làm cho chúng nên tốt đẹp, hạnh phúc là cũng làm cho chính ta được trở nên tốt đẹp, hạnh phúc. Ta gây hậu quả làm cho chúng trở nên xấu xa, đau khổ cũng chính là làm cho bản thân ta trở nên đau khổ, xấu xa. Vì thế yêu mình một cách sáng suốt chính là biết yêu thương mọi người, mọi vật chung quanh ta. Trong mối tương quan với sinh linh thì vợ chồng là mối “tương thân” vì họ đến với nhau qua nghiệp duyên từ trong kiếp trước. Lời Phật dạy rằng: “Một ngày vợ chồng, ngàn năm ân nghiệp” với niềm tin: “Tu trăm năm mới chung thuyền. Tu ngàn năm mới nên duyên vợ chồng”. Vì thế nếu đã được xe duyên định phận thì hãy trân trọng và hóa giải tất cả để làm nên mối lương duyên hạnh phúc.

            Trong sách Sáng Thế Ký của đạo Công giáo thì công cuộc tạo dựng con người đã được hình tượng hóa qua hình ảnh người nữ được làm nên từ xương sườn của người nam cốt để nói lên tính chất “một xương một thịt” của đạo nghĩa vợ chồng với lời dạy của Thiên Chúa :”Từ nay người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ để gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ làm nên một xương một thịt. Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly.” Chính vì thế, phép hôn phối đã được Giáo Hội nâng lên hàng Bí Tích. Sau khi đã tìm hiểu nhau, đôi bạn nam nữ sẽ được giới thiệu để theo học khóa Dự Bị Hôn Nhân để chuẩn bị cho đời sống lứa đôi. Với ý thức hoàn toàn tự do chọn lựa nhau họ sẽ tiến lên bàn thờ để tuyên thệ lời hứa trung thành trước Thiên Chúa, Giáo Hội, gia đình và cộng đoàn: “Anh…/ Em… nhận Em… / Anh… làm vợ / chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với Em / Anh khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan; khi mạnh khỏe cũng như lúc bệnh tật để yêu thương và tôn trọng Em / Anh mọi ngày trong suốt đời Anh / Em.”

            Và đó là ngày đẹp nhất để bắt đầu cuộc sống chung đôi. Nhưng những ngày tháng đẹp đẽ, lãng mạn cũng sẽ qua đi và tình yêu cũng sẽ hao mòn khi đôi bạn bắt đầu va chạm thực tế cuộc sống. Khi chúng ta, những con người bất toàn mà lại không chịu tìm hiểu nhau để thông cảm, khắc phục và bổ túc cho nhau thì chỉ đem đến bất mãn, đau khổ, rồi chia lìa.

            Sự khác biệt căn bản đã được tiến sĩ Dr. John Gray PhD phân tích trong sách Men Are from Mars, Women Are from Venus (Đàn ông đến từ sao Hỏa, Đàn bà đến từ sao Kim). Tác giả cho rằng khi yêu chúng ta đã lầm lẫn khi cứ cho rằng người phối ngẫu sẽ phải hành xử theo phong cách ta đã có và đã làm. Chính thái độ mong đợi này đã ngăn cản chúng ta tiến đến sự thông cảm, đối thoại để tìm cách chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt đó. Theo tác giả thì vợ chồng chỉ có ý định tốt với nhau thì chưa đủ “Good intensions are not enough”. Nếu không có ý thức về sự khác biệt trong bản chất tự nhiên của hai người khác phái thì từ việc đòi hỏi người phối ngẫu phải thay đổi theo ý mình mong muốn sẽ đi đến thất vọng rồi lên án mà không khoan dung, tha thứ. Cứ thế vấn nạn gia đình tiếp tục xảy đến, hiểu lầm chồng chất mà không hề được hóa giải qua đối thoại. Dẫn đến từ chối sự hiện diện của nhau. Tình yêu huyền thoại tan nát!

            Người đàn ông theo tiến sĩ Gray thuộc về sao Hỏa vì bản chất của họ là “efficiency, power, and competence” – khả năng, uy lực, và quyền hạn _ điều này giải thích tại sao họ sẽ phản kháng mãnh liệt khi bị sửa sai hay bị  xem là thất bại. Xin nhớ “A man sense of self is defined through his ability to achieve results” – bản chất của đàn ông được chứng tỏ qua những thành công gặt hái trong công việc – Ngược lại đàn bà thuộc về sao Kim vì những giá trị cao đối với họ là love, communication, beauty, and relationships – tình yêu, sự cảm thông, vẻ đẹp và mối quan hệ với mọi người – “A woman sense of self is defined through her feelings and the quality of her relationships” – Bản chất của đàn bà được chứng tỏ qua cảm xúc, và phẩm chất của những mối quan hệ”. Do đó người đàn ông cảm thấy vui và hãnh diện khi được người khác cần đến họ. Trong khi người đàn bà được hài lòng, vui vẻ khi được săn sóc, thương yêu.

            Cùng với quan điểm này văn hào Victor Hugo, người đã từng khổ sở rất nhiều trong đời sống hôn nhân đã cho rằng :”Muốn có hạnh phúc thì với người đàn ông nên hiểu họ rất nhiều mà chỉ cần yêu chút ít. Với người đàn bà thì phải yêu họ thật nhiều mà không nên tìm hiểu họ!”

            Ngoài sự khác biệt về bản chất, sự khác biệt giữa hai người khác phái còn phải kể đến ảnh hưởng rất quan trọng của truyền thống và cách giáo dục trong gia đình, cũng như những ảnh hưởng của nền văn hóa và môi trường sinh sống của họ.

            mai am gia dinh 1Quả là có quá nhiều điểm dị biệt! Cho nên muốn sống chung hòa bình thì phải xây nhịp cầu thông cảm thay vì dựng bức tường ngăn cách. Để xây dựng cây cầu này cho tốt thì phải cân nhắc, tìm hiểu những rủi ro có thể làm hỏng công trình thiết kế để tìm phương thức hóa giải. Những khó khăn thì vô số nhưng những điểm chính thường liên quan đến tiền bạc, công ăn việc làm, hai bên gia đình nội ngoại, tính dục, sự khác biệt về sở thích, về niềm tin tôn giáo v…v… Nguyên vật  liệu chính cho việc xây cầu cần phải có là: tình yêu, sự tôn trọng, kiên nhẫn, tha thứ, và đối thoại tích cực.

  • Tình yêu: là chất liệu chủ yếu để dẫn đến các phẩm chất khác. Vì tình yêu chúng ta dám chấp nhận hy sinh cho nhau “Yêu nhau muôn sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.” Tình yêu có thể đến sau hôn nhân và càng vững mạnh khi trở nên tình nghĩa. Đó sẽ là chất keo sơn gắn bó mật thiết “hai người dưng khác họ” lại với nhau. Nhưng nếu hôn nhân hình thành do mục đích nào khác ngoài tình yêu thì thật là bất hạnh cho cả đôi bên mà còn gây nhiều hệ lụy cho con cái.

  • Sự tôn trọng: Hôn nhân là một giao ước để đôi bên trở thành người trợ tá cho nhau suốt đời. Trong đó sự phản bội cũng như mọi hình thức bạo hành bằng lời nói hay hành động đều không thể được chấp nhận. Trên căn bản tôn trọng lẫn nhau thì mọi đóng góp để xây dựng mái ấm gia đình đều phải được ghi nhận. Nếu cả hai vợ chồng đều phải đi làm thì công việc gia đình phải được chia nhau gánh vác. Trong trường hợp vì lo cho chồng, cho con mà người vợ phải ở nhà thì công việc nội trợ vất vả cũng phải được góp phần chia xẻ gánh nặng. Tổng thống Ronald Reagan khi được hỏi về việc chia xẻ trách nhiệm để có được cuộc sống hòa hợp có phải là chia đều cho mỗi bên 50% không? Câu trả lời của ông không phải là chia đều mỗi bên thi hành 50%, mà là 100%. Có nghĩa là cả hai đều sẵn lòng làm tất cả cho nhau và vì nhau.

  • Kiên nhẫn: Vợ chồng – ngay cả trong mọi liên hệ với nhau trong cuộc sống – cần kiên nhẫn để suy xét, đừng để cho sự nghi ngờ, xét đoán, lên án đến quá nhanh làm dập tắt những giải thích hoặc làm chết đi những dấu hiệu tỏa sáng trong tâm hồn người đối diện.

  • Tha thứ: là cách hành xử cao đẹp nhất để đừng cho hờn oán, hận thù làm chủ được mình. Tha thứ chính là hình thức chữa lành vết thương trong mối liên hệ khi tự nhổ đi những mũi tên độc cắm sâu trong tâm hồn mình. Lời Phật đã dạy: “Lấy oán báo oán, oán chất chồng; lấy ân báo oán, oán tiêu tan”. Chúa Giê Su cũng đã dạy: “Các con phải tha thứ cho nhau không phải bảy lần mà là bảy mươi lần bảy

  • Đối thoại tích cực: Nếu ngại gặp nhau mặt đối mặt, chúng ta có nhiều cách để “thông tin”như viết thư, email, điện thoại. Tuy nhiên cách hay và tích cực nhất là chọn một không gian và thời gian thích hợp để đối diện nhau. Có ba điều sẽ làm hỏng cuộc đối thoại mà theo tiếng Anh gồm ba chữ C: Criticizing (chỉ trích)Complaining (phàn nàn) – Comparing (so sánh). Lời nói với nhau ngoài việc điều chỉnh âm thanh, tần số cho thích hợp cũng nên có những ghi nhận tích cực về nhau trước đã. Ông bà ta đã dặn rằng: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” và rằng: “Chim khôn tiếng hót rảnh rang. Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe” đó sao? Và có lẽ cũng nên thêm vào những câu chuyện,lời nói vui, tiếu lâm – a sense of humor- cho bầu không khí thêm vui vẻ. Cố gắng hết sức để mong tìm sự hàn gắn khi có thể.

            Julie Andrews, một chuyên gia về tâm lý gia đình và cũng là nạn nhân của những cuộc ly dị rối loạn đã nhận định: “When you get married, you’d better forget about the word ‘divorce’. It’s a taboo! Divorce is not the best way to solve your problem. It’s a destruction of your marriage!” – Khi bạn kết hôn thì tốt nhất hãy quên đi chữ “ly dị”. Nó là điều cấm kỵ! Ly dị không phải là giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề. Nó là sự tàn phá cho cuộc hôn nhân của bạn! –

      Cùng với chu kỳ tuần hoàn của đất trời, chúng ta ai ai rồi cũng phải trải qua chu kỳ xuân, hạ, thu, đông của đời người. Mùa xuân chúng ta được sinh ra để tiếp nhận nhựa sống. Mùa hạ cho chúng ta tràn trề sinh lực. Nhưng rồi cũng sẽ đến mùa thu vàng lá rụng đợi chờ ngày tàn tạ của mùa đông! Chúng ta cần phải khôn ngoan như con kiến trong truyện ngụ ngôn của LaFontain khi còn đang xuân xanh và hè tươi sung mãn thì ngoài việc lo làm lụng để tích trữ tiền bạc, chúng ta cũng cần biết đến việc cho đi tình thương yêu để thu nhận lại tình cảm rất cần thiết cho tuổi đông tàn khi sức lực cạn kiệt! Khi sức đã tàn mà còn phải ân hận cho những gì mình đã gây ra cho nhau trong quá khứ thì quả là đau khổ! Hãy hấp hôn trước khi hấp hối! Hãy đến với nhau trước khi quá muộn!

LÊ PHƯƠNG LAN

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Xây Cầu Thay Tường_Lê Phương Lan

Trải Nghiệm về một cơn đau tim_Nguyễn Hưng K7

heart attackTrải Nghiệm về Một Cơn Đau Tim

Tối thứ ba tuần trước, sau khi gửi ý kiến về Lá Diêu Bông vào Diễn Đàn, tôi đi ngủ rất ngon đến hơn 6 giờ sáng, dậy đi tắm và sửa soạn đi làm, cảm thấy thoải mái bình thường, không có triệu chứng gì khác lạ. Khoảng 7 giờ hơn, khi với tay tắt ngọn đèn trên đầu tủ (hơi cao), tôi bỗng thấy mặt nóng bừng, mồ hôi toát ra, hai cánh tay rã rời như vừa khiêng vác vật nặng quá sức. Khi đó, tôi hơi nghi là bị stroke (đứt hoặc nghẽn mạch máu dẫn vào óc), liền lấy máy đo huyết áp, thấy rất cao, khoảng 180/100. Tôi vội lấy 2 viên thuốc chống cao máu uống liền một lúc. (Tiếc rằng nhà không có sẵn aspirin). Ngay sau đó, tôi xuống cầu thang thì bắt đầu thấy tức ngực, đau khoảng giữa lồng ngực, nửa như đau bao tử (xót bao tử khi đói), nửa như bị ai đấm vào chấn thủy. Nhìn vào gương, cười, nói, dơ tay lên xuống thì không thấy có gì biến đổi hay khó khăn, không nhức đầu chóng mặt, hát thử vài câu vẫn thấy dở như thường, nghĩa là không có những triệu chứng của stroke. Tôi liền nghĩ ngay đến heart attack (cơn đau tim), chứ không phải stroke. Không chần chờ nữa, tôi gọi số cấp cứu 911 ngay. Lúc đó vào khoảng 7 giờ 20, chỉ chừng 10 phút sau khi tôi nhận thấy triệu chứng khó chịu đầu tiên.
Qua điện thoại, nhân viên cấp cứu bảo tôi ngồi hoặc nằm ở tư thế nào thấy thoải mái nhất, nhờ người nhà lấy tất cả những thứ thuốc tôi đang uống để sẵn, và để ngỏ cửa vào nhà. Khi đó tôi vẫn tỉnh táo, đọc tên từng loại thuốc và liều lượng đang uống cho họ, nhưng rất khó thở và hai cánh tay rất mỏi. Vẫn không thấy nhức đầu và không nói líu lưỡi (không phải stroke). Chừng 5 phút sau, xe cấp cứu tới. Người paramedic (chuyên viên cấp cứu) cho tôi nhai ngay chừng 5 hay 6 viên baby aspirin (loại 81 mg), nhai rồi nuốt trửng chứ không chiêu với nước để cho thuốc thấm theo nước miếng vào các mạch máu nhỏ dưới lưỡi, mục đích là làm cho máu loãng ra. Đồng thời họ xịt Nitroglycerin lỏng vào dưới lưỡi tôi ba lần, mỗi lần cách nhau chừng 5 phút, để cho các mạch máu giãn nở (không được dùng quá 3 lần, kẻo sự giãn nở mạch máu quá đáng, có thể gây stroke). Tôi thấy bớt tức ngực, thở dễ hơn, nhưng hai cánh tay vẫn rã rời. Trái lại, đầu óc tỉnh táo, không nhức đầu, và chân đi vẫn vững vàng (không stroke).
Chừng 5 phút sau, xe cứu thương tới. Tôi đã cảm thấy dễ thở hơn và có thể tự đi ra trèo lên băng-ca cấp cứu. Trên đường vào vào bệnh viện, tôi để ý thấy xe không hụ còi – có nghĩa là không có gì khẩn cấp lắm. Trên xe, người paramedic hỏi chuyện tôi liên tục, mục đích là coi tôi có tỉnh táo, có bị stroke khiến nói ngọng không. Có người vừa bị heart attack vừa bị stroke, rất nguy hiểm.

Khoảng 15 phút sau đến bệnh viện, họ đưa tôi vào khu cấp cứu, có bác sĩ chăm sóc ngay lập tức. Họ tiếp “nước biển” hòa thuốc làm loãng máu và làm tan máu đông (blood clots), morphine làm bớt đau, chụp quang tuyến X lồng ngực để tìm dấu vết sưng phổi nếu có (pneumonia), đo tâm động đồ (EKG). Đồng thời họ cho thử máu để tìm chỉ số enzyme định bệnh tim. Khi tim bị thiếu máu, tim sẽ tiết ra loại enzyme này. Nếu chỉ số enzyme cao tức là bệnh nhân đã bị heart attack. Lần đầu, có lẽ vì thử nghiệm quá sớm, nên chỉ số không cao. Họ chờ 2 tiếng sau thử lại, thì mới rõ ràng là bị heart attack. Vì nhịp tim của tôi đập không quá nguy cấp, nên bác sĩ không mổ ngay. Trong thời gian đó, tuy vẫn nằm ở khu cấp cứu, nhưng tôi rất tỉnh táo, bớt đau ngực và tay, và còn có thể lấy smart phone ra trả lời ngắn gọn một hai emails.
Lạ một điều là tâm động đồ làm mấy lần đều không có dấu hiệu heart attack rõ ràng. Sau này bác sĩ giải thích rằng bắp thịt tim tôi chưa bị hư hại và còn hoạt động mạnh dù bị attacked, có lẽ nhờ vào việc tôi bơi lội thường xuyên (tôi thường bơi 40 đến 60 chiều dài hồ bơi trong một giờ, một hai lần mỗi tuần – nhưng từ sáu tháng nay bận nhiều việc quá nên chuồn, không bơi, không tập thể dục gì hết!).
Khoảng 3 giờ chiều thì bác sĩ chuyên khoa tim quyết định làm phẫu thuật thông mạch máu tim (angioplasty). Theo kỹ thuật này, bác sĩ cắt một lỗ rất nhỏ ở mạch máu gần háng hay cổ tay – trường hợp của tôi bác sĩ cắt ở cổ tay – rồi luồn một camera cực nhỏ ở đầu một catheter (ống mềm rất mảnh) đưa vào đến động mạch tim. Camera sẽ chiếu lên màn ảnh computer lớn như TV cỡ 60″ để cho thấy chỗ bị tắc nghẽn. Khi đó tôi vẫn tỉnh, chỉ hơi mơ mơ buồn ngủ do được chích thuốc an thần, không làm mê hoàn toàn, và không cảm thấy đau đớn gì hết. Khi tìm ra chỗ mạch máu nghẽn, bác sĩ sẽ “bắn” cho cục máu đông (blood clot) tan ra, rồi đẩy một “bong bóng” (balloon) vào chỗ đó, xong bơm cho bong bóng căng lên, làm phồng khúc mạch máu nghẹt khiến cho máu thông dễ dàng, trước khi xì hơi bong bóng, còn để lại một “giàn lưới” (stent) hình ống, nằm lót bên trong nhằm căng khúc mạch máu đó ra. Lưới sẽ nằm vĩnh viễn trong mạch máu tim, nên bệnh nhân sẽ phải uống thuốc làm loãng máu dài dài, nếu không, máu đông có thể kẹt vào đó làm heart attack nữa!
Cuộc giải phẫu, ban đầu dự tính chừng 45 phút, nhưng đúng hai giờ mới xong! Mà vẫn còn hai mạch máu nữa chưa được thông, nên vài tuần nữa tôi sẽ phải vào bệnh viện làm tiếp. Tuy nhiên, lần sau sẽ dễ dàng hơn nhiều, có thể làm xong trong ngày, trừ khi tôi để cho bị heart attack nữa. Sau khi mạch máu tim được thông, tôi cảm thấy dễ chịu ngay lập tức. Hai cánh tay hết mỏi rã rời, ngực hết tức, nhịp thở gần bình thường trở lại.

Bác sĩ đã mổ từ mạch máu ở cổ tay tôi, luồn vào tim, nên tôi mau hồi phục hơn là mổ từ dưới háng. Sau ba ngày, mở băng ra, cổ tay tôi chỉ còn vết đóng vảy cỡ như bị con kiến lửa cắn rồi mình gãi ra mà thôi! Tuy nhiên, dọc theo cánh tay có vết bầm phía bên trong, chắc là do đường ống luồn qua gây nên. Không đau đớn gì cả. Tim không có cảm giác gì mới lạ, vẫn yêu, thương, hờn, giận… như thường! Đặc biệt là sau khi được thông mạch máu tim, huyết áp của tôi xuống và nằm ở mức rất tốt, rất ổn định. Bác sĩ giải thích là do mạch máu được thông nên tim đỡ phải làm việc nhiều, không cần bơm máu mạnh như trước nữa, nên áp suất nén vào thành mạch máu cũng giảm đi. Thật là một công đôi việc!
Qua tai biến này, tôi rút ra được vài kinh nghiệm quý báu như sau, xin được chia sẻ cùng Diễn Đàn:
Thứ nhất: BÌNH TĨNH MÀ RUN ! Đúng vậy, ai mà không run khi nghĩ đùng một cái mình đang bị một trong hai chứng bệnh giết người nhiều nhất và nhanh chóng nhất: Heart attack đứng đầu, stroke thứ ba, chỉ sau ung thư. Nhưng phải thật bình tĩnh và tỉnh táo để không lãng phí từng giây phút và làm bệnh thêm trầm trọng.
Thứ hai: NGƯNG MỌI HOẠT ĐỘNG VÀ ĐỂ Ý NGAY KHI CÓ TRIỆU CHỨNG LẠ THỨ NHẤT (trường hợp tôi là toát mồ hôi dù buổi sáng khá lạnh). Nếu đang lái xe, cần phải tìm chỗ an toàn đậu lại ngay. Chú ý: Nếu có cell phone, luôn luôn mang bên mình, không để trong cặp hay giỏ đàng sau cóp xe.
Thứ ba: GỌI CẤP CỨU NGAY KHI CÓ NHIỀU HƠN MỘT TRIỆU CHỨNG LẠ CỦA STROKE HAY HEART ATTACK (thí dụ: cánh tay mỏi rã, tức ngực, ngay sau khi toát mồ hôi). Ở Mỹ: Không nên nhờ người nhà chở vô nhà thương, mà phải gọi 911. Lý do: bệnh viện có bổn phận phải cấp cứu ngay lập tức khi tiếp nhận một bệnh nhân do 911 đưa tới. Người paramedic đưa mình tới phải chờ cho đến khi thấy mình được chăm sóc bởi bác sĩ, rồi mới đi được. Nếu mình tự tới xin cấp cứu, trừ khi bị thương máu me đầm đìa như bị đụng xe, còn không sẽ phải làm nhiều thủ tục và chờ đợi trước khi được cấp cứu. Nếu bị stroke hay heart attack mà mất chừng 15 phút là nguy lắm rồi.
Thứ tư: CỐ GẮNG PHÂN BIỆT CÁC TRIỆU CHỨNG GIỮA STROKE VÀ HEART ATTACK. Khi chuyên viên cấp cứu đến nhà, cố gắng trả lời rõ ràng sao cho họ có thể hướng sự cấp cứu về một loại tai biến: Stroke hay Heart Attack. Lý do: những giây phút cấp cứu đầu tiên là cực kỳ quan trọng. Nếu không phải stroke vì máu nghẽn, mà vì đứt mạch máu, nhức đầu mạnh, mạch máu chính trên đầu bị bể, mà nhân viên cấp cứu cho thêm aspirin làm loãng máu, nitroglycerin làm giãn mạch… thì tiêu luôn tại chỗ! Theo các bác sĩ, khi thiếu máu vào nuôi, tế bào óc sẽ chết mau hơn tế bào tim nhiều. Do đó, nếu nhân viên cấp cứu tin là bệnh nhân bị stroke do đứt, bể mạch máu thì nhiều phần là họ sẽ lo chở bệnh nhân vào bệnh viện thật sớm (bây giờ ở Mỹ và các nước tiên tiến có thuốc chích có thể hồi phục stroke, nếu được chích trong vòng một, hai giờ kể từ khi có triệu chứng đầu tiên, càng sớm càng tốt.) Nếu tin là heart attack thì họ sẽ thử làm cho máu loãng và mạch nở tại chỗ, mất chừng 10 phút trước khi họ chở đi. Mười phút phù du đầu tiên đó quý giá bằng 10 năm hay có thể bằng cả quãng đời còn lại!
Thứ năm: Trong bệnh viện, cần TỈNH TÁO (khi còn có thể), NÓI CHUYỆN NHÌỀU với y tá, bác sĩ (không hiểu thì yêu cầu người thông dịch). Đặt câu hỏi mỗi khi nhân viên y tế làm bất cứ thủ thuật nào trên cơ thể mình. Thí dụ: Chích thuốc này làm gì? Tại sao cần chụp X-ray ngực hai lần trong vòng vài giờ khi tình trạng không có gì thay đổi? – Nhờ hỏi mà tôi tránh được 1 lần X-ray vô ích do lỗi của y tá, người ca trước đã làm, người ca sau lại định làm nữa!
Thứ sáu: Khi đã lên bàn phẫu thuật mà không bị đánh thuốc mê thì hãy quên hết mọi sự, mà chỉ NGHĨ VỀ CHUYỆN VUI, như chuyện trên Diễn Đàn THTĐ, mặc kệ họ làm gì thì làm! Chẳng có gì phải lo lắng nữa!
Vài hàng chia sẻ cùng thầy cô và anh chị em.
Kính chúc thầy cô và thân chúc ACE không ai đau ốm, mà có đau ốm (con người ai tránh được?) thì cũng sẽ mau lành.

Kính mến,
Nguyễn Hưng (K7)

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Trải Nghiệm về một cơn đau tim_Nguyễn Hưng K7

TRÁCH TUỔI GIÀ_Cóc Nhà NCV

TRÁCH TUỔI GIÀ_Cóc Nhà NCV

bc_truyen-cuoi-hay-4

Hơn 2 tháng về thăm quê nhà, tất bật bao nhiêu công việc, nào là thăm thân nhân, bè bạn; nào là hành hương và làm từ thiện; nhưng Cóc Nhà NCV vẫn không quên dành thời gian lo trình bày layout Lưu Bút K1 cho kịp ngày Họp Mặt K1 vào tháng 9 sắp tới. Vì bận rộn như vậy nên việc làm không khỏi xảy ra sai sót. Còn hơn 15 giờ nữa lên máy bay về nhà, Cóc Nhà ta mới hay cái Poster bạn làm cả tháng trước gởi cho  Cóc Xanh và BTC mà chẳng ai chịu xem, để đến ngày cuối xem thì mới thấy Poster có ngày mà thiếu tháng lúc đó mới báo cho biết.  Đúng  là (mấy bác) già lẩm cẩm thiệt.

Vì lý do này, Cóc Nhà NCV nổi hứng làm vội bài thơ nhưng niêm vần thì linh tinh, không có thì giờ để chỉnh sửa. Cóc Nhà đã chuyển cho CNN nhờ quý Cóc, nhất là Cóc Huế, thương tình đừng chê cười mà sửa lại cho đúng.

Hưởng ứng lời “cầu cứu” của Cóc Nhà, Cóc Khô và Cóc Xanh đã có bài chỉnh sửa như dưới đây:

TRÁCH TUỔI GIÀ 

Tuổi già lẫm cẫm quá đi thôi

Lưu bút lay out tưởng đã rồi

Xem lại biết ngay còn thiếu sót

Liếc qua trông rõ tốn công đôi

Ca – Li tháng chín đông bè bạn

Miền bắc ngày mười chắc có tôi

Hình thức Đặc San màu kỷ niệm

Nội dung thắt chặt nghĩa tô bồi

Cóc Nhà NCV

Bài sửa của CK và CX:

TRÁCH TUỔI GIÀ

Tuổi già cẩm cẩm quá đi thôi

Lưu bút lay-out tưởng được rồi

Xem lại hôm nay còn thấy thiếu

Mai ngày  sửa nữa mệt nhân đôi

Hô Dê hội ngộ sum vầy bạn

Tháng chin tao phùng chắc có tôi

Chan chứa Đặc San bao kỷ niệm 

Là tình bằng hữu ta vun bồi

Cóc Nhà (Cóc Khô chỉnh sửa)

Trách Tuổi Già

Tuổi già lẩm cẩm quá đi thôi

Lưu Bút layout tưởng được rồi

Xem lại hôm nay mới thấy thiếu

Sửa rồi mai lại mệt nhân đôi

Hô Dê hè tới vui cùng bạn

Miền Bắc Cali sẽ có tôi

Lần mở Đặc San bao kỷ niệm

Là tình đồng khóa Một vun bồi

Cóc Nhà (Cóc Xanh chỉnh sửa)

 

 

 

 

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở TRÁCH TUỔI GIÀ_Cóc Nhà NCV

Hai Tháng Hành Hương_Thơ Họa tiếp

Hai Tháng Hành Hương (tiếp theo)IMAG6429

Bài thơ 2 Tháng Hành Hương của Cóc QT (Trần Pháp) tiếp tục được các bạn Cóc K1 họa theo gởi về cho CNN như sau:

Họa: Thiện Tâm

Bao năm ty nạn khổ thân cò,

Dành dụm từng xu ai biết cho

Lúc ở quê nhà lo sốt vó

Khi sang hải ngoại chịu dày vò

Quan Âm cứu mạng mang ơn lớn

Phật tử toàn thân tich đức to

Việc thiện bôn ba tâm thấu đáo

Nhanh chân không để trễ con đò./

TQN.

Họa: Khúc Ruột

Bao năm lặn lội khổ thân cò

Đảng nói đừng lo để đảng cho

Lần lữa năm dài lòng thấp thỏm

Dằng dai tháng lụn dạ tơ vò

Quan trên đại yến còn chê nhỏ

Dân chúng ngô khoai lại bảo to

May mắn từ xa còn khúc ruột

Mang quà cứu đói chở đầy đò.

Cóc Huế TPK

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Hai Tháng Hành Hương_Thơ Họa tiếp

2 Tháng Hành Hương_Thơ Xướng Họa

2 Tháng Hành Hương_Thơ Xướng Họatu thien

Trong 2 tháng vừa qua, giám đốc CNN Thiện Tâm.NCV đã trở về VN để vừa thăm thân nhân, vừa để đi hành hương viếng các cảnh chùa và làm từ thiện. Công việc này đã là nguồn cảm hứng cho các bạn Cóc K1 tức cảnh làm thơ Xướng Họa như sau:

2 THÁNG HÀNH HƯƠNG 

Hai tháng hành hương của cựu cò

Đi làm từ thiện, bạc tiền cho

Lần nầy vẫn nhớ thăm Đà Lạt

Lượt tới không quên viếng Lấp Vò

Lúc giã từ- cơm chay phát dạo

Mai quay lại- gạo trắng rao to

Anh về bên nớ, bên ni đợi

Bạn hữu chờ mong… chớ trễ đò

Cóc QT-TP 

Họa: Làm Từ Thiện 

Về quê viếng cảnh lặn thân cò

Xuất quỹ trong nhà biếu lẫn cho

Mấy đủ cung cầu dân thống khổ

Bao nhiêu cũng thiếu gạo trơ vò

Bạc tiền quan chức thu không nhỏ

Chay bữa thiện nam dọn chẳng to

Từ thiện bởi tâm sinh phát nguyện

Lòng nhân giúp đỡ kẻ nương đò

ĐNN 

Họa: Việc Thiện Thành Tâm 

Dài cổ trông mong mấy bạn cò

Gạo tiền mắm muối đói ai cho?

Nhìn người ăn nhậu tôm nguyên ký

Ngắm kẻ lai rai rượu cả vò

Áo gấm về “Long Bình” nổ lớn

Kiều bào khoe trống Mỹ kêu to

Thương dân nhớ nước đau lòng thật

Việc thiện thành tâm chớ giả đò

CÓC KHÔ PQN 

Họa: Cò Vinh Làm Phước Thiện 

Tưởng ai trông lại hóa ông cò

Góc phố bưng cơm mãi đứng cho

Chẳng dám tiêu trừ bao bể khổ

Chỉ mong an ủi chút tơ vò

Người trao hoan hỉ quà không tệ

Kẻ nhận tươi cười gói cũng to

Làm phước chắc là vui lắm nhỉ

Đường sang bến giác một con đò

Cóc Chầu Rìa NCM

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở 2 Tháng Hành Hương_Thơ Xướng Họa

Cơm Chay Từ Thiện_Thiện Tâm.NCV

Bữa Cơm Chay Từ Thiện Cuối Cùng tại VN

(Tường trình của Thiện Tâm.NCV từ VN): Sau hơn 2 tháng về thăm quê hương, viếng chùa và làm từ thiện được sự hỗ trợ của quý đồng hương Phật tử ở hải ngoại nên chuyến đi nầy thật viên mãn.

Trước khi chấm dứt chuyến hành hương về quê mẹ lần nầy và cũng để tạm biệt Sài Gòn, chúng tôi cùng gia đình đã thực hiện thêm một bữa cơm chay từ thiện. Theo yêu cầu của đồng bào nghèo đến nhận cơm, hy vọng chúng tôi sẽ có ngày trở lại.

 Bữa cơm chay từ thiện đã thực hiện xong lúc 10:30 AM sang ngày thứ Sáu 21/7/2017. Dưới đây là những hình ảnh trong buổi phát cơm từ thiện này. Vì thời gian còn lại của chúng tôi quá ngắn nên hẹn khi về lại Seattle sẽ tường trình tiếp đầy đủ hơn.

(Thiện Tâm và Hoa Thiện)

 

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Cơm Chay Từ Thiện_Thiện Tâm.NCV

Đường Chiều_TPK

Duong Chieu

ĐƯỜNG CHIỀU

Thiều quang bóng xế thoáng mau qua
Mới đó mà nay đã hóa già
Chán lúc răng long cùng gối mỏi
Tiếc thời cá lặn với chim sa
Mây mù lãng đãng chân quờ quạng
Gió thổi vi vu tóc tuyết pha
Lững thững đường chiều mờ cánh nhạn
Hoàng hôn buông xuống có bao xa.

Tống Phước Kiên

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Đường Chiều_TPK

Tin thêm về K1 Lê Đức Thanh

Như đã thông báo đến các bạn tin buồn v/v K1 Lê Đức Thanh đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 3 PM ngày 11/7/2017 tại Westminster, Nam CA, hưởng thọ 74 tuổi. Qua lời chị Sáng, người bạn cuối đời của bạn Lê Đức Thanh, cho biết, theo di nguyện của người quá cố, bạn Lê Đức Thanh chỉ muốn tang lễ làm trong phạm vi gia đình, thân xác được hỏa táng rồi đem tro cốt rải xuống biển. Do đó, Ban Đại Diện K1 cũng như các bạn K1 ở Nam CA lấy làm tiếc rằng đã không thể đến tiễn biệt lần cuối người bạn đồng khóa Lê Đức Thanh. Gia đình bạn Thanh gởi lời cám ơn các bạn đã đến thăm và cầu nguyện cho bạn lúc bạn còn trong bệnh viện cũng như lúc đã chuyển về nhà. Xin các bạn tiếp tục dâng lời cầu nguyện cho hương linh bạn ta Lê Đức Thanh sớm được siêu thoát về cõi Phật.
Xin kính báo và cám ơn các bạn,
TM Ban Đại Diện K1
Nhữ Đình Toán
Le Duc Thanh
Di ảnh K1 Lê Đức Thanh
Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Tin thêm về K1 Lê Đức Thanh

Mừng SN Ng~Công Vinh_Nguyễn Phiến

Happy B'day

Đăng tải tại Tin Tuc Nội Bộ | Chức năng bình luận bị tắt ở Mừng SN Ng~Công Vinh_Nguyễn Phiến